THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
TU TUONG THIEN HOC PHAP LOA
MỤC LỤC :……………………………………………………………………Trang
I). DẪN NHẬP :………………………………………………………………….2
II). PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP :…………………………………………….3
III). PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN :…………………………………………4
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :……………………………………..5
V). THIỀN SƯ PHÁP LOA :……………………………………………………6
VI). NỘI DUNG :……………………………………………………………….8
1). TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA PHÁP LOA :………………………….….8
2). PHƯƠNG PHÁP THAM CỨU THOẠI ĐẦU :………………………..……9
3). THIỀN SƯ PHÁP LOA VÀ PHÁP CHỈ THẲNG :……………………..…11
4). PHƯƠNG THỨC HÀNH THIỀN :…………………………………………13
5). LỢI ÍCH TU THIỀN :……………………………………………………….14
VII). KẾT LUẬN :………………………………………………………………15
TÀI LIỆU THAM KHẢO :……………………………………………………..17
TÌM HIỂU NỘI DUNG TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA TỔ PHÁP LOA TRONG THIỀN ĐẠO TINH YẾU ĐƯỢC GHI TRONG TÁC PHẨM TAM TỔ THỰC LỤC
NHỊ TỔ PHÁP LOA
(1284 - 1330)
I). DẪN NHẬP :
Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời vì một đại sự nhân duyên “KHAI THỊ NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN CHO CHÚNG SANH” – Ngọn đuốc trí tuệ đó Đức Phật đã thắp lên từ hơn 25 thế kỷ qua vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay. Để tiếp nối hạnh nguyện cao cả của Đức Phật, các Thiền sư thời Lý – Trần đã sống và hành động theo lời dạy của Đức Phật:
“ Này chư Tỳ Kheo ! Hãy du hành vì lợi ích, vì an lạc, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”. Đồng thời, các Thiền sư đã cụ thể hóa lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Các Ngài đã đến với cuộc đời một cách tự tại, vì lợi ích cho đất nước, cho con người, không vì vụ lợi riêng tư mà bằng tinh thần “Vô ngã vị tha”, kết hợp với tinh thần nhân bản, bằng giáo lý tư,ụ bi, hỷ, xả, hài hoà tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, làm nên một tư tưởng sống “phụng sự” đạo pháp – dân tộc và chúng sanh.
Ngày nay, cách buổi đầu Thời Lý – Trần hàng ngàn năm, bài học khách quan lịch sử đã khắc họa đậm nét hình ảnh nhập thế của các vị Thiền sư thời Lý – Trần, những hình ảnh đó không còn hạn cuộc bởi không gian, thời gian. Tất cả đã trở thành “những ngôi sao sáng” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong lòng con người Việt Nam đã qua, hiện tại và mãi về sau.
Vì vậy, bất cứ người Việt nào, khi đọc lại những trang sử nước nhà, không ai không tự hào về đất nước mình – đất nước đã sản sinh ra những vị Thiền sư, hy sinh lợi ích cá nhân, hòa nhập vào lợi ích chung của đất nước, sẵn sàng xả thân khi đất nước lâm nguy. Và khi xong việc, các Ngài thong dong tự tại quay gót trở về với núi rừng sơn thủy, chọn am tranh làm chốn tu hành. Song, ở nơi đây, những con người ấy không chỉ chuyên lo tu Thiền mà lại một lần nữa các vị đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học Việt Nam, với những áng thơ Thiền bất hủ. Vì thế, có thể nói mỗi Thiền sư là một thi nhân. Thông qua tác phẩm của mình, các vị đã gởi gấm tâm tư, những trải nghiệm qúy báu trong qúa trình tu tập.
II). PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP :
Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Như chúng ta biết: Việt Nam nằm trong bán đảo Indochina (Đông Dương), là cái gạch nối địa lý giữa hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Vì thế, Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh cổ xưa Ấn Độ và Trung Hoa.
Từ thời xa xưa trước Công nguyên, thương nhân Ấn Độ đã giao thương với các nước Phương Tây và để có đủ hàng cung cấp cho họ, thương nhân Ấn Độ giong thuyền theo gió mùa Tây Nam đi về phía Đông Nam Á, đến Mã Lai, quần đảo Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển Đông, đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản.
Trong những năm đầu của Công nguyên, các thương nhân của Ấn Độ qua miền Viễn Đông để mua các thứ gia vị, hương liệu, gỗ, trầm hương, vàng v.v…. Đạo Phật đã theo những đoàn khách buôn, bằng ngã đường thủy băng qua Srilanka, Java, Indonésia và Trung Quốc. Ở những địa phương nào mà thương nhân ghé lại, nơi thừa tự được thiết lập để nguyện cầu bình an, may mắn. Từ đó, tư tưởng tôn giáo được gieo rắc cho nhân dân địa phương. Như vậy, Phật giáo Việt Nam đã có từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch.
Còn nhiều sử liệu khác cho biết đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm, sớm hơn Trung Quốc rất nhiều. Như theo Thiền Uyển Tập Anh, một tác phẩm được hoàn thành vào đời Trần, trong đó có Thiền sư Thông Biện viết về Thái Hậu Linh Nhân (Ỷ Lan), mẹ vua Lý Nhân Tông có hỏi Thiền sư về đạo Phật vào Việt Nam từ lúc nào? Thiền sư tâu với Thái Hậu chuyện Đàm Thiên Pháp sư, người Trung quốc, trả lời vua Tùy Cao Tổ là Tùy Văn Đế về Phật giáo ở Giao Châu. Ngay từ khi mới lên ngôi, nhà vua đã báo ân Phật bằng cách hỗ trợ Tam Bảo khắp nơi. … Nhà vua đã xây tháp thờ xá lợi Phật, với 49 tháp, xây 150 ngôi chùa. Để thêm phước đức, lợi lạc quần sinh, nhà vua ngỏ ý với Pháp sư Đàm Thiên, muốn làm chùa tháp ở Giao Châu, nhưng qúa xa xôi. Vua nói rằng: “Xứ Giao Châu tuy nội thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị ràng buộc mà thôi. Vậy ta nên chọn các Sa môn có danh đức, sai sang để giảng hóa. May chi sẽ làm cho tất cả nhân dân được phép Bồ Đề”. Pháp sư bèn tâu với nhà vua là xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Do đó, khi Phật pháp đến Giang Đông chưa đầy đủ, thủ đô Giao Châu đã có đến 20 ngôi chùa, có hơn 500 vị Tăng, kinh đã dịch được 15 cuốn. Như thế cho thấy Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Trung Quốc.
III). PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN :
Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý – Trần Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinh thần an lạc, hòa hợp và thuần từ.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng. Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Như vậy, hai triều đại Lý – Trần tồn tại gần 400 năm. Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Thêm vào đó, họ đã thấm nhuần lời chỉ bảo của Thiền sư Pháp Thuận:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô cư như điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch:
Vận nước như giây quấn,
Trời Nam ôm thái bình.
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh.
Muốn đất nước thái bình, thịnh trị. Chính nơi bản thân các vua đã tự trau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật. Các vua không ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõ giáo lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ, không khép kín mà phổ biến khắp nơi trong dân chúng, khiến họ cùng học tập theo và sống đúng. Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến chân – thiện – mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phải nơi một thế giới xa xăm nào khác. Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Nam đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sáng thuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánh kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng. Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa. … Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành một quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộc sống.
Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của Phật giáo. Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con người và trong công cuộc xây dựng đất nước như cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Để đánh thắng một kẻ thù có sức mạnh về vật chất và quân sự gấp hàng trăm lần chúng ta, dân quân ta dưới sự lãnh đạo của các ông vua Phật tử đã áp dụng những đường lối chiến lược và chiến thuật đầy trí tuệ, cho phép triển khai mọi ưu thế của một cuộc chiến tranh nhân dân, đánh địch ngay trên đất nước của mình.
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 939 và đặc biệt sau khi nhà Lý ra đời (1010) nền độc lập nước ta dần dần được củng cố. Đạo Phật ở giai đoạn này cũng khá phát triển và đóng góp một cách tích cực trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nhưng vào thời điểm này, Phật giáo Việt Nam do ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, cho nên tư tưởng Phật giáo Việt Nam còn mang sắc thái Ấn Độ hay Trung Hoa, hoặc cả hai dung hòa với nhau chứ chưa phải là Phật giáo Việt Nam theo đúng nghĩa của nó. Tình hình này có thể vẫn kéo dài nếu như Trần Nhân Tông không sáng lập ra Phật giáo Trúc Lâm. Kể từ đó Phật giáo Việt Nam mới có diện mạo riêng, cái chất Việt Nam được thực hiện trong tư tưởng, trong tổ chức. Giờ đây, Phật giáo Việt Nam mà tiêu biểu là Phật giáo Trúc Lâm là Phật giáo nhập thế, liên hệ mật thiết với chính trị, phong hóa và xã hội. Đúng như tác giả Mạn Đà La đã nhận định trong bài viết của mình: “Tư tưởng của Trần Nhân Tông là một thể hiện nhất quán của đạo và đời, xuất thế và nhập thế. Vì vậy tinh thần của thiền học Trúc Lâm là một thiền học dân tộc. Nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người, giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác không ngừng tích cực xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước hết phục vụ cho đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa trong cuộc sống của mình”.
Đối với bản thân Nhân Tông – Điều Ngự, trước sau là một, chẳng bao giờ tách ra làm hai. Khi ở ngôi vua thì là “bậc nhân minh anh vũ” như Ngô Sĩ Liên đã nhận định, chiến công hai lần dẹp giặc ngoài lừng lẫy, trong thì gần tình người, cùng nhau xây dựng đất nước quy cũ, bề thế vững vàng. Ngoài việc nước, có giờ phút nào rảnh rỗi lại trao đổi nghiên cứu học tập Phật lý. Lúc đã là Thiền sư vẫn giúp vua con điều hành “quốc sự”, đồng thời rất có ý thức phát triển Phật giáo, và thành lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền mang sắc thái Việt Nam, gạt bỏ những ảnh hưởng lai tạp từ bên ngoài đưa vào. Đạo và đời, đời và đạo trong con người Nhân Tông – Điều Ngự hòa nhập với nhau rất tự nhiên và Phật giáo đời Trần nhập thế rất rõ nét.
Với sức sống và đặc thù của dân tộc Việt Nam bất khuất dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một con người nổi bật trong giới Phật giáo đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ, người được tán tụng như một Thiền sư tuyệt vời trong lớp áo cư sĩ, và cũng chính trí tuệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nun đúc, vun vén trí tuệ cho Trần Nhân Tông đi tu, thống nhất các dòng Thiền, thành lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử.
V). THIỀN SƯ PHÁP LOA :
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước. Đó là vài nét nổi bật của Thiền sư Pháp Loa.
*Gia thế :
Sư tên tục là Đồng Kiên Cương. sinh ngày 7 tháng Năm năm Giáp Thân (tức 23 tháng 5 năm 1284), quê ở hương Cửu La, huyện Chí Linh, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Cha tên là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.
Tương truyền, mẹ ông nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó mang thai. Trước đó bà đã sinh 8 người con gái, nên khi có ông, tưởng sẽ là gái nữa, nên thất vọng uống thuốc phá thai. Phá tới bốn lần mà thai không hư, vì thế khi sinh, ông được đặt tên là Kiên Cương, có nghĩa là "cứng rắn".
*Cơ duyên :
Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.
Năm 1304, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: "Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí" và cho theo về thụ giới Sa-di. Điều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Điều Ngự.
Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Điều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Điều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Đầu-đà.
Năm sau, Điều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Điều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Điều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lợi về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.
Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 quyển. Vua Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Đại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe. Tiếc rằng về sau kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá hủy, ngày nay không còn.
“Sư tịch năm 47 tuổi, được nối dòng sau 23 tuổi theo tông môn của Dương Kỳ, nắm chỉ ý của Viên Ngộ, ngày ngày đàm thiền thuyết pháp trong tinh thần “vô nhất pháp nhi khả đắc”, nơi nơi tiếp xúc độ sinh, theo tinh thần “phi chúng sinh nhi bất lợi”. Khi đi thì thấy trâu đã rống mặt trăng, khi đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió; ngôi thì dựa vào gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ lưng nơi không giường chiếu, nào ai có thể biết được sự tuyệt với của đời ngài. Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông chợ sáng” tức là nếu gặp ý chỉ ngoài ngôn ngữ ngữ thì không nên dính vao kiến văn, chứo kẹt vào nghĩa huyền diệu trong văn cú. Hãy khai mở tư duy một cách thong thả, nhiên hậu mới có thể hướng về tông môn, đạt tới chuyển ngộ, mới có thể nắm tay tổ cùng đi... Nếu không thì cũng chỉ làm một cuốn sách mọt gặm mà thôi vậy... Tôi tuy có duyên may kim cải, được gặp sách báu này, vẫn hổ thẹn là không có tài thổ phụng, để lạm biên vào thánh tích. Nhưng nhờ ở chút công đức nhỏ mọn {khắc bản)} này mà mong báo được từ ân, và phụ mẫu nhiều đời.. Mong nhờ một câu nói huyền diệu mà tất cả đều được thành chính giác. Ôi! Gươm kiavì bất bình mà ra khỏi vỏ báu, thuốc kia vì trị bệnh mà giốc khỏi bình vàng, cho nên có kệ rằng:
Ma cường pháp nhược, đạo suy vi
Phật tổ xưa kia đã liệu kỳ
Còn có lời vàng làm mẫu mực
Ai người đạt ngộ khỏi tìm chi”.
VI). NỘI DUNG :
1). TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA PHÁP LOA :
Trong lời Khuyến lệ kẻ xuất gia tinh tấn hành đạo, Pháp Loa có nói về việc tìm thầy học đạo, phân biệt chân ngụy và thiện ác. Trong bài “Kể lại một buổi khai đường đại tham của Trúc Lâm năm 1304”, Pháp Loa chỉ thuật lại những lời của Trúc Lâm khai thị đại chúng về tự tính thanh tịnh sẵn có của mọi người và ghi lại vài mẫu vấn đáp ngắn giữa Trúc Lâm và môn đệ. Bài lời khuyến cáo đại chúng về Tam Học của Thượng Thừa có thể nói là tư tưởng của Pháp Loa về Thiền học. Trong bài này ông đề cập đến vấn đề kiến tính, về vấn đề có không của tâm ý, về vấn đề tham cứu thoại đầu và đưa ra những lời khuyến lệ tu tập. Bài Yếu Thuyết Về Ðại Thừa là một bài ngắn nói về trình tự nghe đạo, tư duy đạo và thực hành đạo (văn, tư, tu). Bài Phải Am Tường Học Thuật nói về nhu yếu phải học trước khi hành động và những điều thiết yếu thực tiễn trong đời thu đạo: chọn bạn tốt để thân cận, học kinh pháp tìm nơi thu học thuận lợi.
Tuy nhấn mạnh đến nhu yếu tìm học kinh điển nhưng Pháp Loa vẫn không quên đặt vấn đề kiến tính lên hàng đầu. Và theo đúng truyền thống Tuệ Trung, ông đặt vấn đề kiến tính trên căn bản Không chủ thể không đối tượng:
“Người học Phật phải chú trọng trước hết đến vấn đề kiến tính (thấy được bản tính mình). Thế nào gọi là thấy tính? Thấy đây là thấy cái không thể thấy. Cho nên thấy được cái thấy-không-thấy tức là chân tính hiện ra. Cái thấy về thể tính vốn vô sinh cho nên không có sự phát sinh của cái thấy ấy. Tính cách thực hữu của Tính chính cũng là không, nhưng cái thấy chân thực lại không thay đổi, cho nên nói là thấy tính một cách chân thực”.
Những lời trên cho ta thấy người viết đã có cái may mắn gặp được cuốn Thiền Ðạo Yếu Học của Pháp Loa (Pháp Loa mất năm 47 tuổi được đắc pháp năm 23 tuổi) trong một thời đại Phật pháp suy vi (có lẽ cuối thế kỷ thứ mười bốn hay trogn thế kỷ thứ mười lăm). Ông ta mong công đức khắc bản cuốn sách này sẽ báo được bốn ân, và hy vọng đời sau có những người đọc sách của Pháp Loa mà đạt ngộ. Tiếc là ta không thấy nghe tên người khắc bản và ngày tháng mà người ấy viết những dòng trên.
2). PHƯƠNG PHÁP THAM CỨU THOẠI ĐẦU :
“Tham thoại đầu thì chớ để gián đoạn, phải nên tham cứu liên tục không xen kẻ một ý niệm nào khác. Giữ đừng để nghiêng ngã, không trạo cử cũng không hôn trầm, hoạt bát như ngọc lăn bàn thạch, sáng sủa như gương chiếu trên đài. Ðạt đến chỗ đó thì đi cũng vậy mà đứng cũng vậy, ngồi cũng vậy mà nằm cũng vậy, nói cũng vậy mà lặng thinh cũng vậy, không lúc nào mà không ở trong trạng thái thiền. Như vậy mới giải phẩu tam cú, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tìm hiểu tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng và những điểm thiết yếu khác của các vị thiền tổ”.
Pháp Loa có làm nhiều bài thơ và kệ tụng. Nhưng tất cả bài kệ tụng của ông viết trong Thạch Thất Mị Ngữ Niêm Tụng đã mất theo tác phẩm. Chỉ còn lại ba bài thơ: Một bài ca tụng Tuệ Trung thượng sĩ còn tìm thấy ở Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, một bài Thị Tịch còn ghi chép ở sách Tam Tổ Thực Lục và bài “Lưu Luyến Cảnh Núi Xanh” còn được chép ở trong Toàn Việt Thi Lục. Bài ca tụng Tuệ Trung của Pháp Loa có thể gọi là ngắn gọn và hay nhất trong những bài khác cùng ca ngợi Tuệ Trung mà ta thấy ở Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục - Bài ấy như sau:
A!
Gang ròng nhồi lại
Sắt ống đúc thành
Thước trời đất
Gió mát trăng thanh
A!
Bài thơ Lưu Luyến Cảnh Thanh Sơn như sau:
Dòng thu gầy hun hút
Núi cáo soi nước trong
Ngững đầu nhìn bất tận
Ðường trước nối muôn từng.
Bài kệ Thị Tịch ông viết trước khi qua đời hồi năm 47 tuổi:
Vạn giây cắt đứt tấm thân nhàn
Hơn bốn mươi năm mộng đã tàn
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.
(Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập niên dư mộng huyễn gian
Trân trọng! chư nhân hưu tá vấn
Ná biên phong nguyệt cánh man khoan).
Thiền sư Pháp Loa dạy:
“Đại đạo rỗng suốt nào có buộc, nào có ràng, bản tánh lặng trong không thiện không ác. Bởi do lựa chọn cho nên sinh ra tắt ngang lắm nẻo; chỉ cần quáng mắt, cũng thành cách xa trời đất. Thánh phàm vốn cùng chung một lối, phải quấy nào phải hai đường. Cho nên biết rằng, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Mọi người đầy đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh với thân như hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt ở phía trên mắt, nhưng không dễ gì nhìn thấy. Cần phải truy tầm, chẳng thấy nói sao: “Ba ngàn pháp môn cùng về vuông tấc, hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm.” Nên bảo ba cửa Giới Định Tuệ các ông không thiếu, cần phải quán nơi chính mình. Phàm những tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, đó là tánh gì? Khi biết được tánh này rồi thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng. Vậy cái nào phải, cái nào chẳng phải?”
Qua những lời dạy này, Thiền sư Pháp Loa đã nói lên được hai mặt một thực tại, mà trong cuộc sống chúng ta luôn luôn thể hiện, qua cử chỉ, hành động cùng lời nói, chỗ nào bị vướng và chỗ nào không bị vướng. Ở đây, rõ ràng Thiền sư Pháp Loa dùng lý Duyên khởi làm phương pháp phủ định luật nhân quả nhị nguyên như: Đúng sai, thiện ác, phàm thánh, tội phúc, v.v… do vọng tâm phân biệt đẻ ra, và chúng ta chấp nhận nó như là một cứu cánh cho tư duy hành động, mà chúng ta không biết rằng, những việc làm này là sai lầm; nên luôn luôn bị chúng lôi kéo chạy theo, để rồi một ngày nào đó tự mình bỏ quên chính mình; chính trong cuộc sống qua tiếng ho, tiếng tằng hắng, hay trong những động tác nhướng mày, chớp mắt, tay cầm, chân đi, đó là tánh gì? Khi đã biết được tánh này rồi, thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng.
Vì sao ở đây ngài Pháp Loa chỉ những động tác hằng ngày mà chúng ta coi thường không bao giờ để ý đến nó, bảo chúng ta phải tư duy nó? Phải nhìn thấy nó, phải biết nó là gì? Ở đây, nếu chúng ta nhận ra những động tác như: tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày, chớp mắt, tay cầm, chân đi, v.v… cho là Chân tâm, là Bản lai diện mục, thì cái thấy này sẽ làm mù mắt chúng ta, vì tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày, chớp mắt, tay nắm chân đi, không phải là chân tâm, không phải là diện mục. Cái được gọi là Chân tâm, là Bản lai diện mục nó chỉ thể hiện bên trong, hay ở đằng sau tiếng ho tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay nắm chân đi, v.v… vậy thì cái thể hiện qua các động tác đó, vì sao gọi là Chân tâm, là Bản lai diện mục? Chúng ta hãy tự tìm hiểu, tự tư duy nơi sự thể hiện của chúng. Ngược lại, nếu chúng ta bảo nó không phải là chân tâm, không phải là bản lai diện mục, thì cũng không được. Vì sao? Vì tất cả những thi vi động tác nơi chúng ta thể hiện ra bên ngoài không ngoài tự tâm. Đây là hai vấn đề mà ngài Pháp Loa muốn đánh thức cái tâm chân thật nơi chúng ta, và phải nhìn như thật chính nó. Nghĩa là cái được thể hiện trong những động tác đó không khác với cái thấy nơi chúng ta.
3). THIỀN SƯ PHÁP LOA VÀ PHÁP CHỈ THẲNG :
Thiền sư Pháp Loa dạy: “Mọi người nếu hướng vào Đệ nhất nghĩa mà nói thì suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm. Vậy thì làm sao sinh Đế, làm sao sinh Quán? Nay thử căn cứ vào đầu.
Nói về pháp dạy người, thật sự đối với các Thiền sư, xưa nay các ngài không có bất cứ một pháp nào khả dĩ làm tiêu chuẩn để trao cho mọi người cả. Bởi vì pháp dạy người đó luôn luôn tùy thuộc vào căn bệnh của người đối thoại mà các Ngài cho thuốc. Như tăng Chí Thành hỏi Lục tổ Huệ Năng về pháp dạy người, Tổ dạy:
“Nếu bảo rằng ta có pháp để trao cho người, thì ta nói dối với nhà ngươi. Ở đây, chỉ tùy thuộc vào chỗ bị trói mà cởi mở, tạm gọi là Tam muội”.
Như vậy, rõ ràng ở đây các Ngài chỉ làm một công việc là cho thuốc hay mở trói mà thôi. Đây là phương pháp đối trị bệnh chấp ngã, chấp pháp do vọng tâm điên đảo, phân biệt sinh ra, và tùy theo căn nghiệp của mỗi chúng sanh mà các Ngài cho pháp mở trói.
Ngoài phương pháp này ra, các Thiền sư cũng thường sử dụng phương pháp chỉ thẳng. Đây là cốt tủy của Thiền tông trong: “Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật.” Cả hai phương pháp này đều nhằm vào đầu Đệ nhị mà sử dụng; vì trong cuộc sống của chúng ta, từ lời nói, cử chỉ, hành động, mọi thi vi động tác đều phát xuất từ tự tâm của mọi người. Do đó, trong cuộc sống của chúng ta, các Ngài y cứ vào sự thể hiện bên ngoài mà mở trói, mà chỉ thẳng. Cũng trong chiều hướng này, Thiền sư Pháp Loa tuy biết rằng đối với Đệ nhất nghĩa đế suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm, nhưng Ngài vẫn đặt ra và tìm hướng giải quyết theo chỗ thấy của Ngài. Thật sự việc này đối với những người chưa ngộ đạo như chúng ta, thì khi khởi tâm suy nghĩ để mở miệng, hay bất cứ thi vi động tác nào đi chăng nữa, thì việc làm đó đều sai lầm. Đối với cảnh giới thực chứng của người đạt đạo, cảnh giới này không lệ thuộc vào suy nghĩ, ngôn thuyết của thế giới phân biệt chấp trước, thuộc vào hệ thống nhân quả đối đãi nhị nguyên của chúng ta. Thế giới thực chứng này không tùy thuộc vào hệ thống nhân quả mà chúng chỉ được nhận biết nếu qua hệ thống duyên khởi mà thôi, vì tất cả mọi thi vi động tác ở đây đều biểu thị trí vô phân biệt. Do đó, đối với thế giới thực chứng của người ngộ đạo, chúng ta không thể dùng luật tắc nhân quả mà đánh giá được. Gần đây, chúng tôi nhận thấy có một số người có tham vọng muốn dùng ngôn ngữ phân biệt tri thức để khám phá thế giới thực chứng của Thánh trí, đây là một việc làm sai lầm tai hại. Sai lầm vì những kiến giải của chúng ta, những người chưa đạt đạo khác nào kiến giải của bọn mù!? Ở đây, người chưa đạt đạo khi diễn tả thế giới thực chứng của các bậc Thánh trí, cũng giống như người mù bẩm sanh khi diễn tả thế giới quanh họ mà thôi, vì họ chỉ nghe nói mà tưởng tượng theo cái tư duy trừu tượng để rồi thủ đắc chứ không phải chính mắt họ nhìn thấy.
Vì vậy, Sư đã chinh phục được lòng tin và sự cảm phục của mọi người, từ giới thượng lưu trí thức đến các tầng lớp nhân dân, từ giới Tăng, Ni đến quần chúng Phật tử, ai ai cũng yêu thương kính mến. Khả năng của Sư thật đa dạng, vừa giữ vai trò của một giới Sư thanh tịnh, vừa là một kinh Sư đạo mạo, một giảng Sư điêu luyện, một nhà trước thuật nghiêm túc, một hành giả tinh chuyên, một bậc giáo phẩm uy nghi, và một nhà hoạt động xã hội tích cực. Có thể nói, Sư là một người toàn diện, về mặt nào cũng tỏ ra đầy đủ bản lĩnh. Không những lưu tâm đến việc trao truyền giới pháp, thuyết giảng luật luận, soạn thuật kinh sách, mà Sư còn chăm lo đào tạo Tăng tài, mở mang tòng lâm thắng cảnh, lưu tâm đến việc cứu tế xã hội v.v… Người xưa nói, có ba việc bất hủ để tiếng thơm lại cho muôn đời, đó là: lập đức, lập công và lập ngôn. Nghĩa là để lại gương sáng đức hạnh, sự nghiệp lợi tha và công trình trước tác. Trong ba điều ấy, quả thực, Sư đều gồm đủ. Nhưng, công lao nổi bật nhất của Sư là in Đại Tạng kinh và xây dựng Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm. Dù Đại Tạng kinh ấy không còn lưu lại, nhưng bằng tấm lòng thiết tha, Sư kêu gọi Tăng Ni, Phật tử hiến máu để in một bộ Đại Tạng riêng cho Việt Nam, điều đó chứng tỏ Sư có một nhãn quang nhìn xa thấy trước những viễn ảnh tương lai của Phật giáo Việt Nam. Với Giáo hội Trúc Lâm, tuy Điều Ngự là người vạch ra phương hướng và đặt viên đá đầu tiên, nhưng người đứng ra hoàn thành xuất sắc hoài bảo ấy chính là Sư. Dẫu rằng công việc đó tiến hành thuận lợi, một phần là nhờ vào uy tín và ảnh hưởng của Điều Ngự, nhưng, chính bản thân Sư nếu không đủ đức độ và tài năng thì làm sao cảm hóa được các tầng lớp vương tôn quý tộc và Tăng Ni, Phật tử răm rắp tuân theo. Con người ấy đã phát nguyện dũng mãnh, quyết tâm thực hiện cho kỳ được sự nghiệm hoằng dương Chánh pháp, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam. Giáo hội này nhằm mục đích thống nhất các hệ phái Phật giáo, mang bản sắc và đặc tính dân tộc, dựa trên tinh thần nhập thế hành động, và thể nghiệm tu chứng ngay giữa lòng đời. Nhắc đến thời kỳ cực thịnh của Phật giáo đời Trần nói chung, và một tổ chức có kỷ cương quy mô của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, thiết tưởng công lao của Sư không ít.
4). PHƯƠNG THỨC HÀNH THIỀN :
Công Cuộc cách mạng toàn diện cuộc sống con người trong lãnh vực Thiền học, dù phương pháp kỹ thuật của người hướng dẫn có khéo léo đến đâu, hành giả cũng cần phải ý thức 5 điều khó là : biết khó, thực hành khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó. Như thế nghĩa là sao ? Tại sao cần phải chứng mà lại bỏ, và tại sao bỏ lại khó ?
Thực ra, nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng, chẳng qua chỉ là nhắm vào khối vọng tâm mà nói vậy thôi. Kỳ thực, Đạo vốn y nguyên, từ xưa vốn thế, muôn thuở thường hằng, không tăng không giảm, lấy đâu để nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng? Thế mới biết, nói biết là biết cái không biết, nói thực hành là nói làm cái không làm, nói chứng là chứng cái không chứng, nói bỏ là bỏ cái không bỏ, nói dụng là dụng cái không dụng. Như thế mới gọi là biết diệu, làm diệu, chứng diệu, bỏ diệu và dụng diệu.
Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là phải đi đến chỗ lúc nào cũng như lúc nào, đều phải tuyệt diệu một cách tự nhiên như nhiên. Vì thế nên mới có chuyện công phu hàm dưỡng.
Ta vẽ một hình tròn, dù nhỏ bằng đầu kim đi nữa, nếu đã tròn, thì mở ra bao lớn cũng tròn, nếu méo, thì càng mở rộng ra càng thêm méo. Đã là con sư tử, dù ở trong thai vẫn là sư tử, cho nên không thể có chuyện nuôi con dê già lâu năm cho thành sư tử. Tuy nhiên, con sư tử mới lọt lòng mẹ được mấy hôm, dù có biết vươn vai gào thét chăng nữa cũng vẫn còn phải được tiếp dưỡng bằng sữa mẹ đến bao giờ được trưởng thành. Cho nên, từ nhân tướng đến quả tướng, quãng đường dài nầy, công phu hàm dưỡng có một giá trị to tát bao trùm.
Đã trót có cái thùng đựng rác, rác chưa đến nỗi đầy tràn, mà có chủ ý đập vỡ thùng, thủ tiêu cả rác, mặc dù khi đập vỡ chắc chi rác rến không tung tóe ? Nhưng thùng đã vỡ, thì không còn cái để đựng, rác rến tung tóe cũng được thu xếp lần hồi. Việc làm nầy trông có phần táo bạo và đột ngột.
Cũng một cái thùng rác, với một thời gian dài, rác đựng đầy nhóc tràn ra ngoài, cái thùng cũng được cũng cố lại cho bền chắc hơn. Nay muốn thủ tiêu cho dứt khoát mà phương pháp trên không thể áp dụng, thì chỉ còn có cách tuần tự trút hết rác mang vứt đi, rồi theo đó sẽ phá vỡ cái thùng cho mất tích. Hai việc làm, hai đường lối, hai kết quả, mỗi mỗi đều có khôn ngoan và kỹ thuật khác nhau.
5). LỢI ÍCH TU THIỀN :
Tâm thiền là vắng lặng nhưng không phải là sự yên lặng mà tư tưởng có thể nhận thức được. Thiền không phải là cái vắng lặng của một buổi tối. Nó thật sự vắng lặng khi tất cả những tư tưởng, lời nói và nhận thức hoàn toàn ngừng bặt. Tâm thiền này là tâm tôn giáo mà không bị quản thúc bởi một tôn giáo hay bất cứ một hình thức lễ nghi nào.
Tâm tôn giáo là sự bột phát của tình yêu. Một thứ tình yêu hoàn toàn không có sự phân biệt. Ðối với nó xa là gần. Nó không phải là một mà cũng chẳng phải là nhiều, hay nói đúng hơn là một thứ tình yêu mà tất cả sự phân biệt đã dứt bặt. Giống như cái “đẹp” không thể diễn tả bằng lời nói. Từ sự yên lặng này tâm Thiền phát khởi.
Thiền là một trong những nghệ thuật tuyệt vời trong cuộc sống. Có lẽ là tuyệt vời nhất và không ai có thể dạy cho bất cứ ai. Ðó là cái đẹp của Thiền. Tự nó không có kỹ thuật cho nên không có người thiện xảo. Khi bạn tìm hiểu về chính mình, nhìn vào chính mình, nhìn vào những bước đi của bạn, bạn ăn như thế nào, nói cái gì, ghét hay thương... Nếu như bạn biết được tất cả những cái đó trong bạn mà không có sự phân biệt thì đó chính là một phần của Thiền.
Do đó Thiền có thể xảy ra trong lúc bạn đang ngồi trên xe buýt hay đang đi trong cánh rừng rợp bóng mát, hoặc đang lắng nghe chim hót hay đang nhìn vào gương mặt của vợ con bạn.
Thật sự bạn muốn biết tại sao Thiền trở nên quan trọng như thế! Nó không có sự khởi đầu cũng không có sự chấm dứt. Nó giống như giọt mưa, trong nó hàm chứa tất cả những sông hồ và biển cả. Hạt mưa ấy nuôi dưỡng trái đất và con người. Không có nó, trái đất sẽ trở nên sa mạc. Không có Thiền thì tâm sẽ trở thành khô cằn, một vùng đất hoang tàn.
Thiền sẽ tìm thấy trong tâm với tất cả những hoạt động hay những kinh nghiệm của nó có thể hoàn toàn vắng lặng. Không nỗ lực nhưng hiện tại bạn nỗ lực, đó là nhị nguyên. Bạn có thể nói rằng: “Tôi thích có một kinh nghiệm phi phường, cho nên tôi phải bắt tâm tôi vắng lặng. Bạn sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó cả. Nhưng nếu như bạn bắt đầu tìm kiếm quan sát, lắng nghe tất cả những hoạt động của tư tưởng, tình trạng của nó, mục đích của nó, những sợ hãi và những cảm giác của nó, hãy theo dõi tâm của bạn hoạt động như thế nào rồi bạn sẽ thấy tâm của mình trở nên vắng lặng một cách phi thường. Sự vắng lặng đó không phải là sự ngủ yên mà là một cách hoạt động tích cực và do đó nó yên lặng. Một máy phát điện lớn chạy tốt hầu như không hề có tiếng động, chỉ khi nào có sự va chạm thì khi đó có tiếng động.
Sự yên lặng và không gian đi cùng với nhau. Sự bao la của yên lặng là sự bao la của tâm thức mà trong đó không có điểm trung tâm.
Thiền là việc làm khó khăn. Nó đòi hỏi hình thức cao nhất của giới luật mà không phải là sự tuân thủ, cũng không phải là sự bắt chước. Thiền chỉ là giới luật mà chỉ đến hoàn toàn bằng sự tỉnh thức không những vấn đề bên ngoài và còn cả những vấn đề bên trong của bạn. Do đó, Thiền không phải là hành động xa vời mà ngay chính trong cuộc sống hằng ngày, nó đòi hỏi sự cộng tác, sự nhạy cảm và sự thông minh. Không có nền tảng của một đời sống chân chánh thì Thiền sẽ không có giá trị đối với bất cứ ai. Một đời sống chân chánh là không tuân theo những đạo đức xã hội mà là thoát khỏi sư ghen tỵ, ham muốn và tìm kiếm quyền lực. Thoát ly khỏi những thứ này sẽ không phải bằng ý muốn mà là sự tỉnh thức. Không biết những hoạt động của tự ngã, Thiền sẽ trở nên sự ham thích cảm giác và nó trở nên vô nghĩa.
Thiền là một thứ tình yêu. Nó không phải là tình yêu của một người cũng không phải của nhiều người. Nó giống như nước mà người ta uống trong bất kỳ loại chai nào cho dù là nó được làm bằng vàng hay bằng đất nung: Nó là vô tận. Và một điều quan trọng xảy ra là nó không phải là ma túy cũng không phải là sự thôi miên nhưng nó đã xảy ra và một điều quan trọng xảy ra khi tâm thể nhập vào chính nó, bắt đầu từ khởi đầu và thể nhập sâu dần cho đến khi ý niệm về sâu – cao mất đi ý nghĩa của nó và mọi hình thức của sự đo lường hoàn toàn đoạn diệt. Ðó là trạng thái hoàn toàn an tịnh- không thỏa mãn những gì xảy ra bằng sự hài lòng, chỉ là sự an tĩnh một cách quy củ, đẹp và mãnh liệt. Tất cả có thể bị hủy diệt như bạn hủy một bông hoa và chính sự tổn thương này nó bất diệt. Bạn không thể học phương pháp Thiền này từ người khác. Bạn phải bắt đầu từ số không và bắt đầu loại bỏ dần dần vô minh.
VII). KẾT LUẬN :
Là người học Phật, trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì Chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới nầy, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập Thiền. Cái yếu chỉ của Thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.
Người tu tập Thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong trẻo như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của Thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên, chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng Diệu Huệ, chiếu soi không cùng. Đối với Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ vô úy, Bát chánh đạo, Thập lực của Phật, Mười tám pháp bất cọng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
• Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
• Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
• Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
• Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Tập 1, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 234.
• Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, Học Viện Phật Giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, 2008, tr.9
• Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, tập 1, NXB TP. HCM, 2001
• Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Thực Hiện 1999, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh
• Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, Thiền Uyển tập Anh, Nhà xb Văn học Hà Nội 1993
• Việt Nam Phật giáo Sử Lược, Thích Mật Thể, Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2548 – DL. 2004
CHÙA PHÁP VÂN
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Môn học
DANH LAM CỔ TỰ VIỆT NAM
Đề tài tiểu luận
CHÙA PHÁP VÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện
THS. VÕ VĂN TƯỜNG THÍCH LỆ DANH
Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG
TP. HỒ CHÍ MINH
2012
MỤC LỤC :
I. DẪN NHẬP :
Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa"
II. LỜI NÓI ĐẦU :
III. NỘI DUNG :
1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA :
2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM
3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN
3.1. THÂN THẾ :
3.2. XUẤT GIA & TU HỌC :
4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.1. THÂN THẾ :
4.2. XUẤT GIA :
4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG :
4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU :
5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI :
6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN :
7. BẬC THẦY TINH THẦN :
8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN :
9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN :
10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM :
IV. LỜI KẾT :
V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN :
CHÙA PHÁP VÂN
TRỤ TRÌ : HT. Thích Trí Khả
244 Nguyễn Văn Ðậu
Q. Bình Thạnh, TP. HCM
ÐT: (08) 8 417 117
I. DẪN NHẬP :
Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa"
Những ngôi chùa Việt Nam xuất hiện từ bao giờ? Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Tất nhiên khi đạo Phật truyền báở đâu thì nhiều chùa chiền xuất hiện tại đó. Song sự thật không còn một ngôi chùa nào cổ đến thế kỷ II- III sau Công nguyên. Chùa là kiến trúc Phật Giáo phục vụ cho nghi lễ và tu hành.
Kiến trúc chùa chịu ba ảnh hưởng khác nhau: kiến trúc Việt, kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Ấn. Chùa Việt xuất phát từ danh từ "Saitya", chữ Hán âm là "chi đề",hay "chế đề", dịch nghĩa là "phúc tự". Nhưng cũng thường kết hợp với "Vihâra" để trở thành một quần thể kiến trúc phức hợp. "Vihâra" chữ Hán âm là "Tì Kha La", hay "Tỵ Kha La".
Ngài Nghĩa Tịnh trong cuốn "Cầu Kinh Cao Tăng Truyện" có viết: Tỳ Kha La thị trú xứ nghĩa, thử vân "tự" giai bất thị chính dịch" (Tì Kha La cónghĩa là chỗ ở, gọi là "Tự" là dịch không chính xác).Thực ra trong nguyên nghĩ thì "Tự" vốn không có nghĩa là Chùa (Khang Hy Tự Điển), tức là không đề cập đến kiến trúc Phật Giáo.Điều có những tương quan đến vấn đề kiến trúc. Nhưng "Tự" trong Hán văn có nghĩa là gì? Căn cứ theo Từ Điển Thuyết Văn thì giải thích như sau: Tự có nghĩa là đình (nghĩa làthuộc về triều đình), là có pháp độ (tức là khuôn phép của nhà nước).
Phần chú thích trong "Hán Thư" có ghi rằng: Phàm phủ đình sở trú giai vị chi "tự". (Phàm nơi ở của cơ quan nhà nước đều gọi là"Tự"). Tài liệu khai triển thêm rằng: Theo chế độ quan chức thời nhà Hán ở Trung Hoa thì có Cửu Khanh; đến đời nhà Ngụy, gọi nơi làm việc của Cửu Khanh là "tự"; cho nên được đổi tên là Cửu Tự. Những đời sau, cứ theo đó để dùng đến danh từ nầy. Theo những giải thích trên thì "Tự" có nghĩa là cơ quan của nhà nước. Có người đã dịch lầm "quan tự" là "chùa công". Cửu Tự theo nguyên nghĩa là "chín bộ" trong triều đình. Đến đời Hán Minh Đế, có nhà sư ở Tây Vực là Nhiếp Ma Đằng dùng ngựa trắng để chở kinh Phật đến vùng đất Lạc Dương, vì khách là người "tứ di" cho nên được bố trí ở "Hồng Lô Tự" (nhà khách của cơ quan ngoại giao).
Về sau, có dựng lên một công trình kiến trúc khác cho nhà sư. Nhân việc ngựa trắng chở kinh mà đặt tên là Bạch Mã, vì đã từng ở Hồng Lô Tự nên gọi là Bạch Mã Tự. Từ đó về sau, "Tự" có nghĩa là "Phù đồ", để chỉ nơi tu hành của nhà sư. Xem như vậy, Saitya (Chi đề) là nơi thờ Phật, tụng kinh, thuyết pháp. Vihâra (Tăng Phòng) là nơi cư trú của chư tăng. "Chi đề" vốn chỉ là một kiến trúc hình ống phía sau tròn, có một "Stupa" hay một tượng Phật, hay cả hai làm đối tượng cúng dâng, tụng niệm. Chư tăng vừa đi vòng quanh biểu tượng Phật, vừa tụng niệm hay ngồi trước biểu tượng Phật.
II. LỜI NÓI ĐẦU :
Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã, Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy. "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc. Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái.
Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói... Nhưng người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân cư, gọi là của "công đức". Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa. Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp. Ngoài ra các tên này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân đèn... trong một danh sách dài.
Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau. Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau. Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa.
Kiến trúc chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và không gian khác nhau, ở các phong cách kiến trúc địa phương. Chùa kiểu chữ Tam phổ biến hơn miền Nam hơn ở miền Bắc.
Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa Việt Nam, là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có nhiều chùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại. Tầng trên của Tam quan có thể dùng làm gác chuông.
III. NỘI DUNG :
1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA :
Chùa Pháp Vân, số 244, Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là ngôi chùa cố kính, khang trang, lâu đời với nhiều giá trị uy nghiêm, quý giá. Chùa do HT Thích Trí Khả làm trụ trì. Chùa Pháp Vân từ lâu đã là biểu tượng tuyệt vời về hình ảnh chân tu và hoạt động từ thiện xã hội của các thầy và phật tử tại đây.
• Năm thành lập: 1964
• Người sáng lập: HT Thích Huyền Thâm
• Hệ phái: BẮC TÔNG
• Đặc điểm: Có phòng phát hành Kinh Sách
• Chư vị trụ trì tiền nhiệm: HT Thích Huyền Thâm (1964-1974)
• Trụ trì hiện nay: HT Thích Trí Khả
• Các ngày lễ lớn trong năm: 15-4 ÂL đến 16-7 ÂL: Mùa ACKH của đại chúng Chùa Pháp Vân; 17-11 ÂL vía Di Đà; Hàng Tháng vào mùng 1 và rằm có tổ chức thọ Bát quan trai.
2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM
Việt Nam hiện nay có khoảng 14.500 ngôi tự viện Phật giáo trên khắp đất nước của ba Hệ phái chính là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Ở miền Bắc chỉ có ngôi chùa Phật giáo Bắc tông. Ở miền Trung (từ Quảng Trị trở vào) và miền Nam, ngoài ngôi chùa Phật giáo Bắc tông, còn có ngôi chùa Phật giáo Nam tông Việt, Nam tông Khmer và ngôi tịnh xá Phật giáo Khất sĩ.
Các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Trung Quốc có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa. Đó là kiểu chữ Đinh, kiểu chữ Công, kiểu chữ Tam và kiểu chữ nội Công ngoại Quốc. Tên những kiểu chùa này chỉ dựa vào cụm kiến trúc chính. Trong chùa, còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, nhà tăng, gác chuông, tháp, tam quan … Ngoài người Kinh, còn có chùa ở một số dân tộc thiểu số. Chùa của người Mường làm bằng tranh tre đơn giản. Chùa người Khmer được xây dựng đẹp, có bộ mái ảnh hưởng Campuchia và Thái Lan. Chùa người Hoa cũng có sắc thái kiến trúc riêng. Tính đa dạng của kiến trúc chùa Việt Nam càng tăng khi xuất hiện những ngôi chùa hiện đại được xây dựng gần đây.
Chùa Pháp Vân nằm trên một khuôn viên rộng 3000m2 (Tổng diện tích lúc đầu là 7000m2) giữa một khu phố khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Văn Đậu, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh (trước đây là đường Ngô Tùng Châu, Gia Định, Sài Gòn).
Chùa do HT Thích Huyền Thâm xây dựng vào năm 1964. Nguyên mảnh đất xây dựng chùa này do gia đình đạo hữu Võ Doãn Ất và bà Đặng Thị Nhãn hỷ cúng cho Thượng Tọa Huyền Thâm để kiến tạo ngôi già lam này.
Vào năm 1974, HT Huyền Thâm về trụ trì Tổ Đình Long Hưng ở Phan Rang, chùa Pháp Vân được HT Thích Huyền Vi kế nhiệm trụ trì (lúc đó HT đang giữ chức tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng Pháp thuộc GHPGVNTN sau 10 năm du học ở Ấn Độ về) và phát triển thành cơ sở hoằng pháp của Giáo hội. Trong thời gian này có chư Đại đức Nhựt Minh, Đại Đức Tâm Tựu và Đại Đức Trí Khả hỗ trợ với Hòa Thượng để chăm sóc cơ sở này và đến năm 1977, Thượng Tọa Thích Trí Khả được HT Thích Huyền Vi chính thức bổ nhiệm giữ chức trụ trì cho đến ngày nay.
Cấu trúc ngôi chùa Pháp Vân gồm có chánh điện, nhà tổ, trai đường, giảng đường, phòng khách, phòng tăng, nhà thờ cốt ...
* Chánh điện: Xây dựng vào năm 1964 dài 25m2 và ngang 9m2.
* Cổng Tam Quan: Phía trước sân, mặt tiền đường Nguyễn Văn Đậu, cao 6m, rộng 7m, bê tông cốt thép xây dựng năm 1964.
* Phòng Tăng: Gồm mười hai phòng.
* Phòng khách: Hai phòng, một dành cho khách Tăng, một dành cho khách cư sĩ (phòng nằm bên hông chánh điện, xây cất năm 1995).
* Chuông Đại Hồng Chung: đường kính 01m, nặng 330kg, được đúc tại chùa Pháp Vân vào năm 1992 do nghệ nhân Thanh Thảo đảm trách.
* Tượng bổn sư bằng xi măng ngồi, cao 2m5, thếp vàng, thờ tại chánh điện.
* Tượng Quán Âm Lộ Thiên, cao 3m, thiết trí trước sân chánh điện vào năm 1977.
* Nhà thờ cốt: rộng 8m, dài 6m, phía sau chánh điện, sữa chữa lại năm 1996, hiện thờ gần 200 hủ cốt.
3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN
3.1. THÂN THẾ :
Hòa thượng THÍCH HUYỀN THÂM thế danh Nguyễn Khắc Kim, sinh năm 1930 tại Tuy Phước. tỉnh Bình Định.
Thân phụ là Nguyễn Phục và thân mẫu là Nguyễn Thị Nhãn, cả hai vị đều đã mãn phần.
Ngài là người con thứ trong một gia đình nho giáo thanh bần trung nông. Ngài có 2 anh trai và 2 chị em gái và 1 em trai (nay còn 1 chị và Ngài).
3.2. XUẤT GIA & TU HỌC :
Ngài xuất gia năm 1941 với Hòa Thượng Thích (thượng) Trí (hạ ) Thắng, trụ trì Tổ đình Thiên Hưng thuộc thị xã Phan Rang.
- Năm 1948, Ngài thọ Sa di giới.
- Năm 1952 Ngài thọ Cụ túc giới.
- Năm 1950-1956, Ngài theo học tại Tùng Lâm Ấn Quang, Sài Gòn.
4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.1. THÂN THẾ :
Hòa Thượng Thích Trí Khả, pháp hiệu Đức Siêu, thế danh Phạm Văn Xích Châu, sinh năm 1944 (Giáp Thân).
Chánh quán: làng Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Thân phụ là cụ Phạm Văn Pháp (PD Thiện Pháp) và thân mẫu là bà Võ Thị Nhung (PD Diệu Thiện), cả hai vị đều đã mãn phần.
Ngài là người con thứ tám trong gia đình thanh bần trung nông, ngài có 10 anh chị em, 7 trai, 3 gái.
4.2. XUẤT GIA :
Xuất gia năm 1969, y chỉ sư là Hòa Thượng Thích (thượng) Thiên (hạ) Thành, trụ trì chùa Thoại Sơn, Núi Sập, Châu Đốc.
Năm 1971 thọ sa di giới.
Năm 1972 thọ cụ túc giới.
Năm 1973-1975 đã theo học khóa “Sứ giả Như Lai" (khóa học đào tạo giảng sư cho ban hoằng pháp thuộc GHPGVN) mở tại chùa Phật Quang, Chợ Lớn.
4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
Năm 1975, Thượng tọa về tĩnh tu tại chùa Pháp Vân Q. Bình Thạnh, TP HCM (Nguyên là cơ sở của HT. Thích Huyền Vi).
Năm 1977: Hòa Thượng chính thức đảm nhận chức trụ trì chùa Pháp Vân do Hòa thượng Thích Huyền Vi (hiện đang ở tại Pháp, bổ nhiệm).
Năm 1978-1980: Tu bổ lại chùa và ổn định tăng chúng nội tự.
Năm 1981: Hòa Thượng tổ chức mở trường hạ cho chư tăng nội tự và các tỉnh có cơ hội để tu học. Trường hạ đầu tiên này đã trở thành một truyền thống tốt đẹp mà đến nay chùa Pháp Vân vẫn duy trì Khóa hạ đầu tiên đó gồm có 45 vị (30 vị tỳ kheo và 15 vị sa di)
Năm 1982-1996: Tiếp tục mở các khóa hạ tập trung hoặc nội bộ cao tăng chúng tu học. Đặc biệt vào các năm 1984, 1985, 1989 và 1990 là những năm mở trường hạ cấp quận cho tăng chúng trong thành phố và các tỉnh lân cận về tu học.
4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG :
Như là một hạnh nguyện trong cuộc đời hành đạo của mình, Hòa Thượng đã gạt bỏ tư tưởng địa phương, vùng, miền, mà tiếp nhận bất cứ vị tăng lớn nhỏ nào đến xin tá túc tu học tại chùa Pháp Vân. Do đó, chúng ta không có gì ngạc nhiên khi thấy chư tăng tại Pháp Vân có mặt đủ cả 3 miền Nam, Trung, Bắc. Hai mươi năm qua đã có biết bao lượt tăng chúng đến tu học rồi ra đi làm Phật sự ở trong và ngoài nước.
4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU :
Hằng năm, từ ngày mùng một tháng tám đến ngày mười bảy tháng mười một Âm lịch (01/08-17/11/AL) là thời gian Thượng tọa nhập thất tĩnh tu trong ba tháng, sau chín tháng làm Phật sự ở ngoài. Đây là một công hạnh tốt đẹp mà thượng tọa đã duy trì trong hai mươi năm qua.
5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI :
Bắt đầu những năm tám mươi trong cương vị của mình, Hòa Thượng thường tổ chức các chuyến đi ủy lạo đến các vùng kinh tế mới, để giúp đỡ cho người dân nghèo từng miếng cơm, manh áo, khám bệnh phát thuốc, góp phần làm giảm bớt nỗi đau khổ cho cuộc đời. Trên con đường từ thiện xã hội, Hòa Thượng đã cùng với Hòa Thượng Chơn Phương (viện chủ Pháp Hoa Tịnh Viện, Huyện Nhà Bè). Quý Linh Mục Đạt, LM Quý, BS Nguyễn Quý Hoạt, Má Năm Cầu Muối, cô Diệu Kim, cô Thanh Liêm, anh Quang, BS Liêm ... đến với các trại phong như Thanh Bình (Thủ Thiêm), Bến Sắn (Sông Bé), Bình Minh (Long Thành) ... để an ủi, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong suốt 20 năm qua. Công tác từ thiện của Thượng tọa không dừng ở chỗ cho cơm áo mà tiếp đó là hướng dẫn cho họ tu tập theo đạo lý nhà Phật. Công tác từ thiện của Thượng Tọa vẫn đang tiếp tục và mở rộng đến các tỉnh Tây Nguyên, và các tỉnh phía Bắc ...
6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN :
Trên con đường làm từ thiện xã hội, một vấn đề khác lại nảy sinh, đó là nhu cầu tu học của người Phật tử tại các vùng kinh tế, vùng ven, tỉnh lỵ ... Hòa Thượng đã cùng với nhân dân Phật tử địa phương xây dựng các ngôi tự viện để có nơi cho họ tu học và giữ gìn truyền thống văn hóa của nước Việt. Tính đến nay Thượng tọa đã góp phần xây dựng các ngôi tự viện .
1. Chùa Pháp Tràng (Thừa Đức III. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
2. Chùa Bảo Minh (Cẩm Đường VI, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
3. Chùa Quan Âm (Ấp VIII, Cẩm Đường, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
4. Chùa Pháp Linh (Ông Quế II, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
5. Chùa Pháp Quang (Ông Quế III, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
6. Chùa Hoa Lâm (Mépu I, Đức Linh, tỉnh Bình Thuận).
7. Chùa Quảng Hương (Đức Chính, Đức linh, tỉnh Bình Thuận).
8. Chùa Phước Sơn (Đức Phú, Tánh Linh, Tỉnh Bình Thuận).
9. Chùa Huê Nghiêm (Đức Tân, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
10. Chùa Quảng Hương (Nghị Đức, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
11. Chùa Bảo Lâm (Huy Khiêm, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
12. Chùa Quảng Đức (Đức Bình, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
13. Chùa Huệ đức (Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận).
14. Chùa Phước Điền (125 Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
15. Chùa Phật Bửu (tỉnh Long An).
16. Chùa Phật Bửu (Vĩnh Bình).
17. Chùa Đại Minh (Hải Phòng, Bắc Việt).
18. Chùa Viên Quang (Đội 6, Hòa Bình, Vũng Tàu).
19. Chùa Niệm Phật Đường (Đội 2, Hòa Bình, Vũng Tàu).
20. Chùa Pháp An (Đội 3, Hòa Bình, Vũng Tàu).
21. Chùa Bảo Quang (Cẩm Đường, Long Khánh, Đồng Nai).
22. Chùa Mục Đồng (Giồng Trôm, Bến Tre).
23. Chùa Quy Thuận (Giồng Trôm, Bền Tre).
24. Chùa Liên Sơn (Thị Trấn Bến Tre)
25. Chùa Long Hà (Sông Bé).
26. Chùa Long Hưng (Sông Bé).
27. Chùa Thanh Trí (Sông Bé).
28. Chùa Báo Ân (Xuân Hòa, Xuân Lộc Đồng Nai).
29. Chùa Nghiêm Phúc (Thái Bình, Bấc Việt).
30. Chùa Hưng Phước (Bình Đại, Bến Tre).
Và những chùa thường được Thượng tọa lui tới thăm viếng, hỗ trợ kinh sách, tượng Phật và tổ chức, hướng dẫn Phật tử vào các ngày đại lễ như Phật Đản, Vu Lan ... gồm có các chùa:
1 Chùa Huệ Ân (Bến Tre).
2. Chùa Hiếu Huệ (Bến Tre).
3. Chùa Quảng Minh (Đức Linh).
4. Chùa Quảng Chánh (Tánh Linh).
5. Chùa Khánh Sơn (Đắc Lắc).
6. Chùa Niệm Phật Đường (Đắc Lắc).
7. Chùa Bình Quang (Bà Rịa Vũng Tàu).
8. Chùa Vũ Lao. (Hà Nam Ninh, Bắc Việt).
7. BẬC THẦY TINH THẦN :
* Truyền Tam Quy Ngũ Giới :
Tính đến nay đã có hơn 5000 cư sĩ tại gia trọng thành phố và các tỉnh thành được Thượng tọa truyền thọ Tam Quy Ngũ Giới để tu học.
8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN :
Để cho thiền môn được nghiêm tịnh, tất cả đại chúng đều phải chấp hành đúng nội quy sau đây:
Y theo tinh thẩn giáo luật và lục hòa mà sinh hoạt.
SINH HOẠT CƠ BẢN:
Gồm 3 phần: Tu - Học - Hạnh
Tu: Gồm tụng kinh và ngồi thiền.
9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN :
cứ mỗi mùa hạ trở về sau ngày Đức Từ Phụ đản sinh, những người con Phật khoát áo ca sa từ tứ phương lại trở về an trú với nhau để cùng tu học, ôn lại giáo pháp Như Lai, ngỏ hầu trưởng dưỡng đạo tâm, tài bồi giới hạnh.
Với ý nguyện đó, mong muốn nơi đạo tràng Pháp Vân này sẽ lại là nơi dừng chân tu học của hàng tăng lữ, cũng là nơi để hàng Phật tử nương nhờ hình bóng Tăng già tu tập Pháp lành, gieo ruộng phước điền cầu quả phúc mai hậu. Chính vì ý nguyện đó mà Ban đại diện Phật Giáo quận Bình Thạnh và chùa Pháp Vân đứng ra tổ chức khóa an cư kiết hạ tại trú xứ Pháp Vân tự để chư Tăng có nơi tu học.
Việc chùa Pháp Vân tổ chức khóa an cư kiệt hạ, là niềm vui mừng cho hàng tử bổn tự và khắp nơi gần xa, và đó là nỗi hoan lạc tự hào cho chư tăng nói chung và chùa Pháp Vân nói riêng. Nhờ công đức tu tập của Chư Tăng thúc liễm trong ba tháng, hy vọng đạo tràng sẽ rạng rỡ, hưng thịnh hơn trong tương lai, cũng nhờ "đức chúng như hải”, chư Tăng sẽ có thêm sự gia bị để hoàn thành sứ mạng hoằng truyền giáo pháp, báo Phật ân đức.
10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM :
Từ thiện Đồng Tâm (TTĐT) là Hội thiện nguyện hoạt động phi lợi nhuận, phi chính trị và không phân biệt tôn giáo với mục đích giúp đỡ và chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn cùng làm cuộc sống tốt đẹp hơn.
TTĐT mong muốn ngày càng phát triển hoạt động từ thiện để trở thành điểm đến đáng tin cậy của vô lượng tình thương kết nối tấm lòng từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đến với người nghèo khó.
Thời gian hoạt động từ tháng 8-2008. Tình nguyện viên của nhóm ở nhiều lứa tuổi, đa dạng các ngành nghề và phần lớn sống tại TP.HCM. Website ra mắt hoạt động vào 12/12/2009.
IV. LỜI KẾT :
Lướt sơ qua những công tác Phật của HT kể từ khi HT về trụ trì chùa Pháp Vân thật không thể nghĩ bàn, đó là công việc Phật sự ớ ngoài, còn ở trong chùa thì HT thường tuyên bố "vị nào có duyên, muốn đến thì cứ đến, HT không từ nan, mà hết duyên đi HT cũng không cản, nhưng phần đông chúng ở đây là những vị đang theo học các trường cơ bản và cao đẳng Phật học - tính ra số chúng của chùa cũng hơn 40 vị kể cả Tỳ kheo và chúng diệu, ngoài ra HT nuôi 6 bà đã già yếu không ai nuôi dưỡng hoặc nương vào ân đức của HT cho đến khi mãn phần.
Với công hạnh của HT viện chủ chùa Pháp Vân là “Phụng sự chúng sanh cúng dường chư Phật” cho nền HT không từ nan một việc làm nào, dù là nhỏ nhặt như: Cơm nước hàng ngày, củi đuốc, sửa sang phòng ốc, đích thân HT làm không phải sai bảo ai, nếu ai thấy việc cứ phụ tiếp với HT thì tốt, bằng không HT cũng vẫn làm với tấm lòng vô chấp, vô ngã, còn vần đề ăn mặc của HT thì quá đơn giản, ăn cùng ăn với chúng, làm thì làm không cần chúng. Cho nên lắm lúc có những Phật tử ở xa đến chùa lần đầu, thấy HT đang làm công việc bên đến hỏi "Bạch thầy cho em gặp HT trụ trì ...” HT liền ân cần mời họ vào chỗ tiếp khách và nói: "Đạo hữu ngồi đây tôi vào mời thầy trụ trì cho: Khi ra HT mặc áo tràng hỏi: “gặp thầy trụ trì có việc gì không?”, lúc đó Phật tử mới bàng hoàng, khi nhận tôn nhan của HT thì họ quá ăn năn và xin đảnh lễ sám hối HT. Sau đó họ có nguyện vọng gì để lo cho Phật sự thì HT tùy duyên mà chỉ giáo và trợ lực.
CHIẾC ÁO NÂU SÒNG
Kính dâng Thầy trụ trì chùa Pháp Vân, TP HCM.
Con chưa đến chùa
Chưa một lần
Biết nơi thầy ở
Nhưng ngưỡng mộ Thầy
Qua chiếc áo cà sa
Vỗ vào lòng con
Những đợt sóng hiền hòa
Thổi vào lòng con
Ngọn gió lành mát rượi
Con muôn quì
Dưới chân Thầy
Sám hối
Chẳng quá lời đâu
Chùa Pháp Vân
Con chưa hề tới
Nhưng ngưỡng mộ Thầy
Qua chiếc áo nâu sòng
Bạc màu, dân dã
Đi đến nơi đâu
Cảm hóa được lòng người
Từ Bắc, Trung, Nam
Từ Nam ra Bắc
Ở đâu đâu
Cũng có gót chân Thầy
Nghèo đói miền Trung
Bão lụt miền Tây
Trại hủi, trại cùi, nơi cô nhi viện ...
Ở đó tôn tạo chùa
Nơi đây xây chánh điện ...
Đều có bàn tay Thầy
Giúp đỡ, trợ duyên
Thầy là người cao cả, người hiền
Là hàng Bồ Tát hiện tiền, hiện thân
Dẫu con chưa được một lần
Cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Người
Nhưng trong giấc ngủ nụ cười
Trên môi Thầy nở những lời Từ bi
Dạy rồi, Thầy lại ra đi
Bâng khuâng con vẫn chân quì, mãi trông
Từ Trung, Nam, Bắc, Tây, Đông,
Phất phơ tà áo nâu sòng gió bay.
V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN :
Cổng tam quan chùa khi xưa
Cổng tam quan chùa hiện nay
Phía Trước chánh điện
Giảng đường tu tập nằm phía tây đối diện chánh điện
Thời khóa tụng kinh tu bát quan trai
Chánh điện chùa pháp vân mặt hướng về phía tây
Thời khóa tụng kinh 8h sáng : chùa pháp vân tụng kinh chú dạ lục thời
Lễ sám hối ở chùa pháp vân
Hồng chung nặng 350k đúc ngày 3 tháng 7 năm 1992
Mõ gia trì hằng ngày tụng niệm
Chuông gia trì tụng niệm hằng ngày
Phía sau chánh điện là hậu tổ, nơi tôn thờ các Vị Tiền Bối Cao Tăng
Nơi thờ chư vong linh, đối diện hậu tổ
Quả đường nơi chư Tăng độ chay
Đây là quà lưu niệm khi HT ra thất hằng năm 1/8 AL đến 17/11
Đài Quan Âm lộ thiên, chánh giữa khung viên chùa hướng về phía bắc
Vườn lâm tỳ ni phía nam từ chánh điện
Điện Di Lặc nằm bên hông phía bắc từ chánh điện
Tháp thờ Ngài Huyền vi nằm phía sau điện di lạc
Bức phù điệu Đức Bổn Sư thuyết pháp phía sau lưng điện Di Lặc
Tổ đường cũng là nơi HT nhập thất hằng năm
HT và tăng chúng
Di ảnh Ngài Huyền Vi trong bảo tháp
Đức Bổn Sư Thích Ca tôn nghiêm nơi chánh điện
HT khai sơn chùa pháp vân
HT trụ trì chùa pháp vân
HT Từ Hòa tri sự chùa pháp vân
Hội Từ thiện đồng tâm chùa pháp vân
Chương trình tiếp sức mùa thi hằng năm của chùa pháp vân
HT trao học bổng tại chùa
Cầu xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình (Vĩnh Long) do từ thiện đồn tâmg thực hiện
căn nhà đại đoàn kết tại xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29-5-2011
Tặng quà cho các em người dân tộc xã Tà Lài, huyện Tân Phú (Đồng Nai)
Trao học bổng tại chùa pháp vân
huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang khởi công xây cầu bê-tông tại ấp Bình Hòa, xã Phương Phú.
Ngày 30-6, Từ thiện Đồng Tâm (chùa Pháp Vân, Q.Bình Thạnh) đến bàn giao cầu và đường tại ấp Xẻo Sâu, xã Tân Hưng, huyện Ba Tri (Bến Tre).
Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012
LUAN VAN BAO CHI PGVN
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Môn học
LỊCH SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Đề tài tiểu luận
TẠP CHÍ TỪ QUANG
Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện
HT. THÍCH GIÁC TOÀN THÍCH LỆ DANH
Đ Đ. THÍCH TÂM HẢI
Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG
TP. HỒ CHÍ MINH
2012
MỤC LỤC :
I. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
1. Tự do báo chí ở Việt Nam-thực tiễn sinh động :
II. DẪN NHẬP :
1. Sơ lược về Báo chí PG Việt Nam 1920 -1951 :
2. Truyền thông Liên văn hoá và Truyền giáo lý :
III. NỘI DUNG CHÍNH :
1). Tạp chí Từ Quang :
1.1). Về Phật học
1.2).Về văn học :
1.3). Tiểu thuyết :
1.4). Truyện ký :
1.5). Thi ca :
1.6). tin tức trong nước và nước ngoài :
2). Nhận định Báo chí Phật giáo Việt Nam :
3). Một số suy nghĩ về hướng phát triển của báo chí Phật giáo Việt Nam :
4.) Là thời kì hoạt động đặc biệt của Báo chí Việt Nam :
5). Báo chí hoạt động với nhiều khuynh hướng khác nhau :
III. KẾT LUẬN :
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO :
LỊCH SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
I. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
“ Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng và là một loại hình hoạt động nghề nghiệp sáng tạo, với tính chất chính trị xã hội rõ ràng” Trong lịch sử vận động lịch sử văn hóa nhân loại, báo chí ra đời khá muộn. Phải đến cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, những tờ báo đầu tiên mới xuất hiện ở một số nước châu Âu.
Chúng là tiền đề, là điều kiện cho sự nảy sinh, sự vận động của các bộ phận trong hệ thống báo chí, quy định quy mô, bản sắc và vai trò của báo chí đối với mỗi thời kì lịch sử, mỗi hình thái kinh tế- xã hội. Các yếu tố chi phối ở đây, đầu tiên cần nói đến đó là nhu cầu thông khách quan của xã hội về giao tiếp- thông tin, sau đó có thể kể đến đó là trình độ phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội và tính chất đặc thù của mỗi dân tộc; bên cạnh đó báo chí còn chịu tác động rất lớn từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, của giao lưu quốc tế, thể chế chính trị, hành lang pháp lí…
Báo chí Việt Nam tuy mới phát triển trên hơn 1 thế kỉ nhưng thực sự đã có nhiều thành tựu, với những chặng đường lịch sử đáng ghi nhớ. Khoảng thời gian giữa 2 cuộc Thế chiến từ 1918-1939 là thời kì phát triển khá thịnh vượng đầu tiên của báo chí Việt Nam Thời kì trước Cách mạng tháng Tám, báo chí phát triển với nhiều khuynh hướng khá phức tạp. Có khuynh hướng tiến bộ đấu tranh cho công bằng và sự phát triển của xã hội; có khuynh hướng cải lương, thỏa hiệp, xoa dịu mâu thuẫn xã hội; và cũng có khuynh hướng nô dịch làm công cụ phát ngôn cho chế độ thực dân thống trị .
Tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện vào giữa thế kỉ XIX, khởi đầu là tờ Gia Định báo (ra số đầu tiên vào ngày 1/4/1865). Đây là phương tiện truyền thông đầu tiên hoàn toàn mới mẻ, làm cho tiếng Việt có cơ hội phổ biến trong dân, chấm dứt thời kỳ e dè, trì trệ mấy trăm năm về trước. Trước đó, năm 1862 đã ra đời tờ báo công khai của quân đội viễn chinh Pháp ở Nam kỳ bằng tiếng Pháp. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, và nhất là những năm 20 của thế kỉ XX, báo chí Việt Nam đã có những sự phát triển quan trọng vượt bậc.
Báo chí Việt Nam ngày càng giữ vai trò đặc biệt trong việc nâng cao trình độ mọi mặt của nhân dân. Báo chí đảm bảo thông tin cho nhân dân về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội và đời sống xung quanh với một phạm vi rộng lớn, tham gia vào việc hình thành dư luận đúng đắn. Mặt khác, báo chí tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện những con đường, phương pháp hợp lí nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống.
Tiểu luận này không đi sâu nghiên cứu từng thời kì phát triển của báo chí phật giáo Việt Nam giai đoạn chấn hưng phật giáo chỉ nêu và phân tích khái quát những nét đặc điểm tiêu biểu của báo chí giai đoạn này, từ đó mà tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm trong cách làm báo. Đồng thời gắn những bài học đó với thực tiễn phát triển báo chí trong thời kì đổi mới.
1. Tự do báo chí ở Việt Nam-thực tiễn sinh động :
Thời gian gần đây, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí bịa đặt, xuyên tạc, cho rằng Việt Nam “bóp nghẹt” tự do ngôn luận, tự do báo chí, hạn chế và ngăn cấm sử dụng mạng internet... Đó là sự vu cáo trắng trợn nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa. Nhằm giúp bạn đọc có một cái nhìn đúng đắn về bức tranh đa sắc màu, phong phú của nền báo chí cách mạng và hoạt động báo chí, internet đang diễn ra hết sức sôi động ở Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu vệt bài “Tự do báo chí ở Việt Nam - thực tiễn sinh động”.
Không phải bây giờ, mà từ nhiều năm qua, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến phát triển báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Tính đến tháng 3-2012, cả nước có gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề (tăng gấp 3 lần so với năm 1986) và hàng nghìn phóng viên đang hoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ; 786 cơ quan báo chí in với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh-truyền hình Trung ương và cấp tỉnh... Mục tiêu chung của hoạt động báo chí là làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.
II. DẪN NHẬP :
Báo chí Phật Giáo Việt Nam thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào chấn hưng Phật Giáo vào thập niên 1930. Sự đóng góp to lớn của những tạp chí, nguyệt san nầy đều được các vị sư lãnh đạo các hội Phật Giáo điều hành.
1. Sơ lược về Báo chí PG Việt Nam 1920 -1951:
Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, được gợi hứng từ phong trào chấn hưng Phật giáo thế giới và trong điều kiện nền văn học báo chí quốc ngữ đã có những phát triển nhất định. Vì báo chí Phật giáo là một trong những phương tiện quan trọng làm lan tỏa tư tưởng chấn hưng Phật giáo, do đó, sự phát triển báo chí Phật giáo Việt Nam gắn liền với diễn trình chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam. Trong lúc phục vụ cho việc đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo, báo chí Phật giáo Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ hoằng pháp, xây dựng nền văn học Phật giáo trong văn học chữ quốc ngữ, bảo tồn di sản văn hóa cổ Việt Nam vì phần lớn nền văn hóa đó mang nội dung Phật giáo.
2. Truyền thông Liên văn hoá và Truyền giáo lý :
Truyền thông Truyền giáo liên hệ rất mật thiết với lãnh vực Truyền thông Liên văn hoá, một lãnh vực đang phát triển rất nhanh trong ngành truyền thông xã hội. Việc chia sẻ đức tin với những người khác rất thường diễn ra xuyên qua các biên giới văn hoá và trên thực tế, làm công việc này là một phần thiết yếu của giáo hội phật giáo được sai đi truyền giáo.
Truyền thông liên văn hoá quan tâm tới việc truyền thông giữa những con người hai hay nhiều nền văn hoá khác nhau. Các nhận thức, qui luật và kinh nghiệm của lãnh vực này cũng có vai trò quyết định rất lớn đối với việc truyền thông truyền giáo. Thành ngữ truyền thông ‘xuyên văn hoá’ đôi khi được dùng với cùng một ý nghĩa này. Nhưng nếu xét kỹ hơn chúng ta sẽ thấy rằng thành ngữ ‘liên văn hoá’ thì thích hợp với truyền thông truyền giáo hơn. Đối với nhiều người, thành ngữ ‘truyền thông xuyên văn hoá’ hàm ý ‘vượt qua một biên giới’ nhằm áp đặt hay thậm chí sủ dụng nền văn hoá khác cho mục đích riêng của mình như tiếp thị hay bán hàng hoá trong nền văn hoá ấy. Tôi ‘vượt biên’ để vào một nền văn hoá khác không phải để hiểu rõ hơn và tích hợp nhưng để ‘sử dụng’ nền văn hoá ấy cho mục đích riêng của tôi như “Làm thế nào để bán được hàng trong nền văn hoá Nhật?” để tăng lợi nhuận của tôi.
Phương thức ‘xuyên văn hoá’ có vẻ như mang tính thống trị nhiều hơn và ít quan tâm thực sự hơn đối với các văn hoá khác. Ngược lại, truyền thông ‘liên văn hoá’ cố gắng cư xử bình đẳng với người khác và nhằm mục đích chia sẻ các mối quan tâm và kinh nghiệm chung, mặc dù chúng có thể được diễn tả bằng những cách thức văn hoá khác nhau.
Nội dung thường phản ảnh thực tế Phật Giáo trong từng giai đoạn. Có những cuộc kết hợp một số báo chí thời đó, nhưng đồng thời cũng có những cuộc tranh luận, đặc biệt là báo chí Phật Giáo ở một số tỉnh miền Nam Nam Bộ (Hội Lưỡng Xuyên và hội Kiêm Tế). Sau đây là lịch sử tiến triển báo chí PG quan trọng.
III. NỘI DUNG CHÍNH :
1). Tạp chí Từ Quang :
Với Giáo hội Tăng già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt Tại Nam Phần, nhiều Phật học đường được lập lại ngay từ năm 1946. Đến năm 1950, các Phật học đường hợp nhất thành Phật học đường Nam Việt đặt trụ sở tại chùa Ứng Quang, sau đổi tên thành chùa Ấn Quang. Trong số những người ủng hộ việc thành lập Phật học đường Nam Việt, có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền vận động thành lập hội Phật Học Nam Việt, ra đời ngày 25.2.1951 tại Sài Gòn. Hội cho xuất bản tạp chí Từ Quang làm cơ quan ngôn luận chính.
Ngày 5.6.1951 một cuộc đại hội của chư tăng tại chùa Hưng Long đã đi đến sự thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Thiền sư Đạt Từ làm trị sự trưởng của Giáo Hội và thiền sư Nhật Liên đảm nhận trách vụ tổng thư ký. Thiền sư Đạt Thanh (chùa Giác Ngộ) được suy tôn làm pháp chủ lâm thời. cùng ra đời là tờ tập chí giác ngộ.
TẬP CHÍ TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT
Năm thứ XVI- số 184 - tháng 12 năm 1967 ( P.L 2511 )
Chủ nhiệm kiêm chủ bút CHÁNH TRÍ
Quản lý : ông Lâm Văn Tượng
TẠI Chùa Xá Lợi
89, Đườn bà huyện thanh quan-saigon ĐT : 22.465 giá 12$00
Khổ : 23x16
Nhà in hòa khánh, 16 cống quỳnh- saigon- ĐT : 25.336
Kiểm duyệt số 077/T.T.BC./KD. Ngày 25-368
Năm 1958 hội Phật Giáo Nam Việt xuất bản tạp chí Từ Quang do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền chủ bút và Thích Quang Minh làm chủ nhiệm, Lê Bá Cảnh làm thư ký.
Báo ra số 1 đầu tiên ngày 8 tháng 4 năm Tân Mão ( 13/5/1951 )
Báo ra 3 tháng 1 kỳ.
Khổ 145x230 mm.
Bìa in 4 màu. Dày 42 Trang, in tại nhà in Việt Hùng, 86 đường Đại Tá Boudonnet saigon, sau in tại Hòa Chánh, số 16 Cống Quỳnh.
Năm 1973 cư sĩ Mai Thọ Tuyền qua đời, Mai Lai Võ Văn Phùng và Tâm Bảo Tống Anh Nghĩ (Tố Hồ Cầm) chuyên trách. Báo ra được 265 lần, tháng 4/1975 đình bản.
Tờ báo có số Trang từ 40 đến 60 Trang, năm thứ nhất 40 đến 46 Trang, năm thứ 5 tăn 48 đến 70 Trang, từ năm 1974 đến 1975 vẫn bình thường 60 đến 76 Trang.
Những cây bút thường có là Tống Anh Nghị, Trí Không, Chánh Trí, Minh Đức, Nhất Hạnh Nhưt Quang, Minh Châu, Mãn Giác, Thanh Từ, Sư cô Diệu Thuận, Thiện Diệu. . .
Nội dung tạp chí từ quang thường gồm các mục:
Bàn luận về Phật giáo; 2. Dịch thuật các kinh Phật; 3. Lịch sử chư tăng, chư bồ tát; 4. Truyện các cao tăng; 5. Ký những nơi danh lam thắng cảnh; 6. Văn thơ; 7. Giải đáp; 8. Chú thích; 9. Tin tức trong nước và thế giới.
1.1). Về Phật học :
Tạp chí từ quang có nhiều bài viết hoặc dịch về kinh, luật, luận:
Kinh
Tạp chí từ quang đã đăng tải bản dịch và giảng nghĩa các bộ kinh: Bách dụ; Giảng nghĩa kinh bát đại nhân giác; Thập thiện; Phật nói kinh năm mới; Phật thuyết Tu Ma Đề trưởng giả kinh; Phật thuyết Hiếu tử kinh; Bát nhã tâm kinh trực giải; Diệu pháp liên hoa kinh; Phật nói kinh phúc báo bố thí; Phật nói kinh ông trùng tính; Kinh Thiện sinh diễn ca; Kinh báo ơn cha mẹ diễn ca, Kinh Địa tạng diễn âm của các dịch giả Nguyễn Văn Ngọc, Thiều Chửu, Tố Liên, Nguyễn Thiện Chính, Nguyễn Nhún, Viên Quang.
Luật
Ngoài các bài viết về ngũ giới, tạp chí đăng nhiều kỳ chuyên đề Phật luật học: “Tư tưởng xương minh Phật giáo" của tỷ khiêu Thích Trí Quang từ số 132 ra 15.05.1958 đến số 163 - 164 ra ngày 01 và 15.09.1958.
Luận
Đuốc tuệ đăng nhiều bài luận, xin dẫn một số bài tiêu biểu: Phật giáo đối với cuộc nhân sinh của Trần Trọng Kim; Vì lẽ gì tôi tin Phật giáo; Nghĩa chữ “Không” trong đạo Phật của Bùi Kỷ; Phật giáo tân luận; Luận về Khóa hư của Nguyễn Trọng Thuật.
1.2).Về văn học :
Có thể nói tạp chí từ quang là tờ báo có nhiều bài viết về văn học Phật giáo nhất với nhiều thể loại phong phú:
Những bài quốc văn cổ trong Phật học
Tạp chí từ quang thường xuyên đăng những bài văn Nôm do các thiền sư Việt Nam sáng tác hay phóng tác trên các nguyên bản Hán văn. Các thiền sư Thái Hòa, Đắc Nhất thường làm công việc ấy.
1.3). Tiểu thuyết :
Dựa vào Thần phả Siêu Loại và các truyện xung quanh bà Ỷ Lan nguyên phi, Nguyễn Trọng Thuật viết Cô con gái Phật hái dâu, giới thiệu về cô con gái làm nghề trồng dâu nuôi tằm, sau này là Nguyên phi Ỷ Lan, một Phật tử thuần thành có công lao to lớn thời Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông.
1.4). Truyện ký :
Nhật ký đi du học ở Trung Quốc và bài ký sự Qua thăm Xiêm, Ai Lao của thượng tọa Trí Hải đăng nhiều kỳ trên Đuốc tuệ năm 1938, đã giúp độc giả hiểu thêm về Phật giáo các nước láng giềng của Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm trong tổ chức đào tạo tăng tài, xây dựng Hội Phật giáo.
1.5). Thi ca :
Ngoài nhiều bài thơ, phú, hát nói, tạp chí từ quang đăng Nhàn Vân Đình tham thiền thi thảo gồm 25 bài thơ của cư sĩ Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn ở Hải Hậu, Nam Định ghi lại cảm xúc của ông khi đến vãng cảnh các động, chùa ở miền Bắc, xin đơn cử :
1.6). tin tức trong nước và nước ngoài :
Các tin vắng trong nước hay những phật sự chư tăng hành đạo với đời và những diễn biến các tôn giáo bạn trên thế giới.
2). Nhận định Báo chí Phật giáo Việt Nam :
Nhìn toàn cục, từ khi có báo chí Phật giáo đến nay, chúng ta chỉ mới có “chí” mà hầu như chưa có “báo” đúng nghĩa. Chỉ một trường hợp ngoại lệ là tờ Nhật báo – Chánh Đạo phát hành một thời gian trước năm 1975.
Còn lại thì Phật giáo chỉ có tạp chí, tập văn, tập san, nội san…
Tin tức trên báo, đối với một số nhà tu hành, là chuyện đời, chuyện làm động tâm, chuyện không đem lại lợi ích. Do đó, Phật giáo không tham gia trên lãnh vực báo cũng là điều dễ hiểu. Có một ấn phẩm Phật giáo được gọi là “báo”, nhưng thực chất, đó cũng là dạng tuần san, mang nội dung chính là một tạp chí. Tin tức thu hẹp trong phạm vi nội bộ và cũng rất hạn chế.
Còn lại, nhiều tờ tạp chí Phật giáo, tuy gọi là tạp chí, nhưng dấu ấn báo chí (theo hướng trình bày ở trên) rất mờ nhạt. Cũng có thể coi đó là những series tuyển tập phát hành định kỳ. Trong đó, những người viết hầu như chỉ đóng cửa bàn việc đạo, khó mà tìm thấy dấu tích của thời sự, ngoại trừ bài viết nhân dịp các ngày lễ lớn trong đạo. Các tạp chí như vậy hầu như không có thời gian tính. Để nhiều năm sau lật ra đọc vẫn không thấy vấn đề trở ngại gì lớn cả.
Đây là một điểm đặc thù, nhưng theo ý kiến chủ quan của người viết bài này, lại là một nhược điểm của báo chí Phật giáo Việt Nam.
Nói là nhược điểm vì Phật giáo Việt Nam, cả trong nước lẫn ngoài nước, đã tự đóng khung trong một dạng hoạt động báo chí phiến diện. Báo chí Phật giáo Việt Nam tồn tại như một dòng chảy tách biệt với báo chí hiện đại.
Như đã nói, Phật giáo Việt Nam chỉ có “chí” mà không có báo.
Không nói gì đến báo chí Phật giáo Việt Nam hiện đại, mà sự phát triển cục bộ và lạc hậu đã quá rõ ràng, báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1975 cũng thế. Các tờ như Phật giáo Việt Nam, Từ Quang, Liên Hoa, Hải Triều Âm, Tư Tưởng… nhiều bài, đến bây giờ đọc vẫn như mới. Nghĩa là, nó mang tính chất sách tuyển tập nhiều hơn, trong khi tính báo chí rất mờ nhạt.
Hạn chế này của báo chí Phật giáo Việt Nam trong thời điểm 40 – 45 năm trước, khi sự phát triển báo chí không đến mức như bây giờ, là vẫn có thể còn chấp nhận được. Nhưng đến nay, trước sự phát triển như vũ bão của báo chí hiện đại, thì với cung cách làm báo như hiện nay của Phật giáo Việt Nam, với những tạp chí, nội san, tập san, tập văn… kiểu tháp ngà, thì hạn chế đó tất nhiên tăng lên nhiều lần.
3). Một số suy nghĩ về hướng phát triển của báo chí Phật giáo Việt Nam :
Đầu tiên, chúng ta xét báo chí Phật giáo trong nước về mặt tỷ lệ, số lượng.
Trước năm 1975, cả miền Nam Việt Nam có vài chục tờ báo và tạp chí. Số lượng báo chí Phật giáo có tới 5, 6 tờ, kể cả một tờ Nhật báo.
Hiện nay, cả nước có đến gần 600 tờ báo và tạp chí, gần cả trăm kênh phát thanh truyền hình. Bước phát triển của báo chí nước ta là hết sức lớn lao. Trong khi đó, sự phát triển của báo chí Phật giáo hết sức mất cân đối với sự phát triển chung của báo chí nước nhà.
Chùa tháp xây nhiều, lễ hội tổ chức rình rang, mà báo chí lại phát triển èo uột. Đó là vấn đề của báo chí Phật giáo Việt Nam chúng ta.
Nhiều tờ báo của các cơ quan đoàn thể, có tờ được xếp vào loại báo địa phương hạng 3, từ mức ra 2-3 số/tuần, nay đã trở thành nhật báo, cộng với tuần san, phụ bản…
Còn tờ tuần báo của Phật giáo TP.HCM vẫn dừng lại ở giới hạn tuần báo trong suốt mấy chục năm.
Trang web Phật giáo gần đây xuất hiện nhiều. Nhưng thử so sánh với số lượng các trang web tiếng Việt trên mạng internet, chúng ta sẽ thấy tỷ lệ khiêm nhường của trang web Phật giáo.
Đây là vấn đề trường kỳ. Còn vấn đề trước mắt có thể sớm khắc phục là việc báo chí Phật giáo Việt Nam còn thiếu tính báo chí.
Nghĩ đến một tờ báo Phật giáo đậm tính báo chí như tờ Chánh Đạo, trong bối cảnh hiện nay là điều chưa thể. Nhưng việc cố gắng nâng cao tính báo chí đối với báo chí Phật giáo Việt Nam là điều trong tầm tay, miễn là nhận ra được vấn đề và cố gắng giải quyết.
Báo chí Phật giáo Việt Nam không phải đi tìm kiếm tính thời sự cho mình bằng cách đăng những tin tức như các tờ nhật báo ngoài đời. Tính báo chí ở báo chí Phật giáo Việt Nam có thể được gia tăng nếu báo chí Việt Nam bước ra khỏi cái “tháp ngà” cố hữu của mình, nhưng trên đôi chân Phật giáo.
Quan điểm cho rằng tin tức thời sự, đối với người tu hành, đều là chuyện đời, chuyện gây nhiễm tâm, vô ích… không thể được coi là đúng một cách tuyệt đối. Một tu sĩ sống trên núi cao, hay trên đảo vắng có thể không cần biết đến tin tức, không cần đọc báo. Nhưng đại đa số Tăng, Ni, nhất là Phật tử, đang sống giữa đời thường, không thể không cần biết đến những chuyện quanh mình qua báo chí.
4.) Là thời kì hoạt động đặc biệt của Báo chí Việt Nam :
Đây là thời kì báo chí nước ta nằm trong hoàn cảnh lịch sử biến động với nhiều bước ngoặt quan trọng. Yếu tố này tác động rất nhiều đến sự hình thành và phương pháp phát triển nền báo chí.
Giai đoạn 1908-1918:
- Sau khi Thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong thời gian này là sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục.
Đông Du là phong trào sang Nhật Bản để học, du nhập Phương Đông, phong trào bắt đầu từ Quảng Nam và kéo dài trong hai năm.
Đông Kinh Nghĩa Thục là một hệ thống giáo dục mà người ta chủ trương học để biết với khẩu hiệu là “Giáo dục quần chúng để cách tân xứ sở” sử dụng 2 biện pháp chính đó là mở trường dạy học và giáo dục thông qua báo chí.
Mục tiêu của những nhà yêu nước là học chữ Quốc ngữ để khai hóa, xây dựng một nền văn hóa có thể nâng cao mức sống của một xứ chậm tiến thành một xứ phát triển bằng việc đọc sách báo. Vì vậy, đối với báo chí, các nhà hoạt động chính trị yêu nước muốn các tờ báo tiếng Việt phải giảm giá tới mức thấp nhất để mọi người tiếp cận thuận lợi; đồng thời chủ bút phải được lựa từ trong hàng ngũ tri thức. Nhờ đó mà hệ thống trường học được mở rộng, phổ cập giáo dục tiểu học, sự truyền bá chữ Quốc Ngữ được gia tăng. Đây là cách chuẩn bị lực lượng bạn đọc cho Báo chí Việt Nam, tạo ra một lớp người trẻ tuổi có chí tiến thủ, nhạy cảm với cái mới…
Giai đoạn 1919-1930:
- Trong nước giai đoạn này xuất hiện nhiều Đảng phái chính trị theo những khuynh hướng khác nhau như Đảng Lập hiến, Tân Việt, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội…Chính những tổ chức này đã khai sinh ra ở nước ta một dòng báo chí bí mật và cách mạng. Điều đáng lưu ý là các Đảng phái trên đều có hệ thống báo chí riêng của mình, các dòng báo chí đó luôn luôn đấu tranh với nhauddeer tuyên truyền và tập hợp lực lượng cho mình, khiến cho hoạt động báo chí ở nước ta trở nên khá sôi động.
- Đứng trước những phong trào chính trị đang diễn ra sôi nổi, chính phủ Pháp cho thực hiện chính sách mới nhằm xoa dịu không khí chính trị căng thẳng này. Đó là chính sách “Pháp- Việt đề huề”, tác giả của nó chính là Anbe Srraut. Người Pháp hứa hẹn: Sẽ trả quyền độc lập cho các quốc gia ở Đông Dương; người dân bản xứ sẽ trở thành công dân, đặt ngạch bậc cho người dân bản xứ có chức vị tương đương với công chức người Pháp; “làm cho dân bản xứ được sống thái bình, cùng thương nghiệp, học thức mở mang, xã hội tiến bộ…” Chính sách này đã trở thành nội dung chính cho các tờ báo công khai, lừa bịp một số nhà báo có tinh thần yêu nước trước đây. Báo chí Việt Nam lúc này vì vậy mà chia thành 2 khuynh hướng khác nhau đó là phái ca ngợi tư tưởng Pháp- Việt đề huề và phái chống lại tư tưởng đó.
5). Báo chí hoạt động với nhiều khuynh hướng khác nhau :
Chính những ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, cụ thể ở đây là hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra một thời kì phát triển của báo chí Việt Nam với phong phú thể loại đề tài, đa dạng khuynh hướng.
Trong giai đoạn này, báo chí việt nam đang còn ở trong tình trạng phôi thai, kĩ thuật làm báo còn non nớt, kinh tế đất nước chưa phát triển. Bên cạnh đó, số lượng độc giả giả hạn chế vì trình độ dân trí người dân còn thấp; báo chí là một thứ hoàn toàn mới lạ với người dân bản xứ, mặt khác lại phát hành với giá quá đắt nên gây khó khăn cho việc tiếp cận của người dân; đội ngũ nhà báo thiếu phương tiện máy móc và kinh nghiệm làm việc, dời sống khiêm nhường khi hoàn toàn phụ thuộc vào trợ cấp của chính phủ…Những yếu tố này cũng tạo ra nhiều khó khăn cho sự phát triển của báo chí.
Báo chí công khai, hợp pháp: là những tờ báo được chính phủ Pháp và nhà nước bảo hộ và cho phép in ấn và phát hành như tờ Nam Phong, báo Đông Pháp…. Những tờ báo này có khuynh hướng chính trị rõ ràng, nó thường phản ánh tình hình xã hội một cách khách quan và đưa tin các vụ án theo công bố của tòa án, phòng thông tin báo chí hoặc của chính quyền; hay nhân những cuộc đàn áp cách mạng mà đả kích cách mạng, chống cộng sản, ca ngợi chính sách khai hóa của Pháp…
III. KẾT LUẬN :
Hoạt động báo chí Phật giáo đã làm phong trào chấn hưng Phật giáo trở nên sôi nổi hơn và nung nấu trong tâm tưởng mọi Tăng Ni, cư sĩ và Phật tử một ý thức về sự thống nhất Phật giáo trên cả nước. Khi Phật Tăng Ni Phật tử của mỗi miền đã quy tụ vào một tổ chức Tăng-già và một tổ chức cư sĩ của miền đó thì cơ duyên của việc thống nhất Phật giáo toàn quốc đã tới. Đây chính là một thành quả của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt nam mà báo chí Phật giáo Việt Nam có những đóng góp hết sức quan trọng.
Năm 1950, Hoà thượng Tố Liên được ủy nhiệm gặp chư tôn đức lãnh đạo các hiệp hội Phật giáo miền Trung và miền Nam để bàn chuyện thống nhất Phật giáo trong cả nước. Nhân đó, ngài được ủy nhiệm tham dự Đại hội Hội Phật giáo Liên hữu Thế giới tổ chức tại Colombo với tư cách đại diện Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam trở thành hội viên sáng lập của tổ chức Phật giáo quốc tế này. Trong đại hội đó, lá cờ năm màu do Henry Steel Olcott vẽ kiểu được công nhận là cờ Phật giáo.
Trong năm 1951, lá cờ Phật giáo đã tung bay trên nền trời Việt Nam lần đầu tiên tại chùa Từ Đàm ở Huế nhân dịp cuộc đại hội Phật giáo toàn quốc được triệu tập từ ngày 6 đến ngày 9-5-1951 (từ mùng 1 đến mùng 4 tháng Tư năm Tân Mão)
Đại hội toàn quốc Phật giáo Việt Nam quy tụ 51 đại biểu gồm Tăng sĩ và cư sĩ tiêu biểu đại diện cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam khắp ba miền Nam Trung Bắc, mỗi miền có một phái đoàn đại diện Tăng-già và một phái đoàn đại diện cư sĩ, đã nhiệt liệt tán thành việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Đại hội cung thỉnh hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và bầu ra một Ban Tổng Trị sự để điều hành Phật sự trên cả nước.
Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong bối cảnh cả nước phát động và hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngoài nhiệm vụ làm công tác hoằng pháp, với sự tích cực của những người làm báo Phật giáo, cuối cùng vào năm 1951, Phật giáo Việt Nam đã thực sự có một bộ mặt thống nhất ban đầu. Có thể khẳng định phong trào chấn hưng Phật giáo với sự góp sức tích cực của báo chí Phật giáo Việt Nam đã hoàn thành được một phần nhiệm vụ tự đảm nhiệm. Tổng Hội Phật giáo Việt Nam sau khi thành lập đã có những hoạt động tích cực về việc phát triển Phật giáo, lấy tờ nguyệt san Phật giáo Việt Nam làm cơ quan ngôn luận chính thức.
Điều quan trọng là những người làm báo đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu từ thời kỳ phát triển báo chí trước cách mạng cho nên báo chí Việt Nam thời kì này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Báo chí giai đã có những bước nhy vọt trong việc chuyển tải nội dung thông tin, sự đổi mới hình thức trong mỗi trang báo; đặc biệt các thiết bị máy móc kĩ thuật được sử dụng nhiều hơn, nâng cao chất lượng cuãng như tăng sức hấp dẫn cho tờ báo. Thời gian này, báo chí đã trở thành một phương tiện chuyển tải thông tin quen thuộc và lhoong thể thiếu đối với quần chúng nhân dân.
Chính sách đổi mới của Đảng đã tạo những điều kiện thuận lợi để báo chí phát triển. Chỉ trong khoảng 20 năm đổi mới, nền báo chí đã lớn lên cả chục lần, đã có những bước phát triển chưa từng thấy về công nghệ và kĩ thuật, về quy mô ảnh hưởng cũng như trình độ tác nghiệp. Oử một số mặt, báo chí đã bắt kịp trình độ phát triển hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế..
Báo chí được phát hành rộng rãi trong cả nước, mạng lưới thông tin rộng khắp. Nội dung của báo chí cũng được thay đổi phong phú hơn và thực tế hơn; ngôn ngữ báo chí đã có sự thay đổi rõ rệt, lớp ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ chính trị đã xuất hiện trên mỗi trang viết. Nhiều khái niệm, thuật ngữ mới trong các lĩnh vực đều được đề cập và giải thích rõ ràng.
Quy mô, chất lượng, số lượng báo chí cũng phát triển tăng vọt. Cuối 2007, cả nước có 702 tờ báo và tạp chí với 830 ấn phẩm, 68 đài PT-TH, trong đó có 3 đài Trung ương; trên 600 đài PT cấp huyện, xã và các tổ chức cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện….Cuối 2009, đội ngũ người làm báo ở nước ta phát triển lên hơn 17 hội viên hội Nhà báo. Đội ngũ nhà báo ngày càng được trẻ hóa, được đào tạo bài bản, có hệ thống, có chất lượng và trình độ nghiệp vụ.
Nhìn lại chặng đường đã qua để thấy được rằng trên mỗi bước trưởng thành của báo chí luôn gắn liền với lịch sử dân tộc. Chính trong thực tiễn đời sống lịch sử đó mà báo chí mới có thể làm nên những điều kì diệu. Mỗi thời kì phát triển, báo chí lại có những sắc thái riêng và đặc trưng riêng. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám 1945 là thời kì đặc biệt của báo chí Việt nam, bởi lẽ, đây là thời kì báo chí nước nhà vừa mới xuất hiện, còn trong giai đoạn “trứng nươc”, đồng thời đây cũng là thời kì sảy ra nhiều biến động lịch sử trong nước cũng như thế giới. Vì thế, có thể nói rằng đây là thời kì phát triển khó khăn của báo chí khi các yếu tố kinh tế, cơ sở vật chất còn yếu kém; kinh nghiệm làm báo ở nước ta còn chưa có. Nhưng, cũng chính từ hoạt động của các tờ báo và cơ quan báo chí trong thời kì này đã để lại cho nền báo chí nước nhà nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá, góp phần xây dựng một nền báo chí vững mạnh sau này. “Vạn sự khởi đầu nan”, “Thất bại là mẹ thành công” từ trong khó khăn đó mà những người làm báo Việt trong thời kì đầu đã hoạt động rất đa dạng, sáng tao “cái khó ló cái khôn”, đã liên tục có nhiều ý tưởng mới mẻ và những cách tân trong hoạt động nghề nghiệp.
Những điều trên đây đã cho thấy rằng việc tổng hợp và đúc ruta ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động báo chí trước cách mạng là vô cùng quan trọng, đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng nền báo chí Việt Nam hiện đại, phát triển ngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế giơi.
HÌNH ẢNH TẠP CHÍ TỪ QUANG :
Tờ tạp chí từ quang.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. Bát Nhã Âm (1936-1943), Bà Rịa, Nguyệt san, Chủ nhiệm: Đỗ Phước Tâm.
2. Từ Bi Âm (1932 - 1943), Sài Gòn, bán nguyệt san, Tổng biên tập: Lê Khánh Hòa.
3. Viên Âm (1934 - 1944), Huế, Tổng biên tập: Lê Đình Thám.
4. Phật Pháp Chỉ Niết Bàn (1941), Sài Gòn, Tổng biên tập: Hồ Ngọc Sung.
5. Quan Âm Tạp chí (1941-1942), Hà Nội, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút: Lương Văn Tuân.
6. Bồ Đề Tạp chí (1936), Sóc Trăng, Tổng biên tập: Lê Phước Chí.
7. Tam Bảo Tạp chí (1937 - 1938), Nam Định, Nguyệt san, Tổng biên tập: Trần Văn Uyển.
8. Tiến hóa Tạp chí (1938-1939), Hội Phật học Kiêm Tế - Rạch Giá, Chánh Hội trưởng: Đỗ Kiết Triệu.
9. Nguyễn Đại Đồng (2008), Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008), Nxb. Tôn giáo, 244 tr.
10. Trần Văn Giàu, Triết học và tư tưởng (1988), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 543 tr.
11. Duy Tâm Phật Học, Trà Vinh (1935 - 1941), Tổng biên tập: Nguyễn Văn Au.
12. Tiếng Chuông Sớm (1935-1936), Hà Nội, bán nguyệt san, Chủ nhiệm: Đỗ Văn Hỷ, Quản lý: Đinh Xuân Lạc.
13. Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 (2000), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 530 tr.
14. Đuốc Tuệ (1935 - 1941), Pagode Quán Sứ, Hà Nội, Tổng biên tập: Nguyễn Năng Quốc.
TIEU LUAN VAN LAM THANG CANH
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Môn học
DANH LAM CỔ TỰ VIỆT NAM
Đề tài tiểu luận
CHÙA PHÁP VÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện
THS. VÕ VĂN TƯỜNG THÍCH LỆ DANH
Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG
TP. HỒ CHÍ MINH
2012
MỤC LỤC :
I. DẪN NHẬP :
Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa"
II. LỜI NÓI ĐẦU :
III. NỘI DUNG :
1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA :
2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM
3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN
3.1. THÂN THẾ :
3.2. XUẤT GIA & TU HỌC :
4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.1. THÂN THẾ :
4.2. XUẤT GIA :
4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG :
4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU :
5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI :
6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN :
7. BẬC THẦY TINH THẦN :
8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN :
9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN :
10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM :
IV. LỜI KẾT :
V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN :
CHÙA PHÁP VÂN
TRỤ TRÌ : HT. Thích Trí Khả
244 Nguyễn Văn Ðậu
Q. Bình Thạnh, TP. HCM
ÐT: (08) 8 417 117
I. DẪN NHẬP :
Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa"
Những ngôi chùa Việt Nam xuất hiện từ bao giờ? Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Tất nhiên khi đạo Phật truyền báở đâu thì nhiều chùa chiền xuất hiện tại đó. Song sự thật không còn một ngôi chùa nào cổ đến thế kỷ II- III sau Công nguyên. Chùa là kiến trúc Phật Giáo phục vụ cho nghi lễ và tu hành.
Kiến trúc chùa chịu ba ảnh hưởng khác nhau: kiến trúc Việt, kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Ấn. Chùa Việt xuất phát từ danh từ "Saitya", chữ Hán âm là "chi đề",hay "chế đề", dịch nghĩa là "phúc tự". Nhưng cũng thường kết hợp với "Vihâra" để trở thành một quần thể kiến trúc phức hợp. "Vihâra" chữ Hán âm là "Tì Kha La", hay "Tỵ Kha La".
Ngài Nghĩa Tịnh trong cuốn "Cầu Kinh Cao Tăng Truyện" có viết: Tỳ Kha La thị trú xứ nghĩa, thử vân "tự" giai bất thị chính dịch" (Tì Kha La cónghĩa là chỗ ở, gọi là "Tự" là dịch không chính xác).Thực ra trong nguyên nghĩ thì "Tự" vốn không có nghĩa là Chùa (Khang Hy Tự Điển), tức là không đề cập đến kiến trúc Phật Giáo.Điều có những tương quan đến vấn đề kiến trúc. Nhưng "Tự" trong Hán văn có nghĩa là gì? Căn cứ theo Từ Điển Thuyết Văn thì giải thích như sau: Tự có nghĩa là đình (nghĩa làthuộc về triều đình), là có pháp độ (tức là khuôn phép của nhà nước).
Phần chú thích trong "Hán Thư" có ghi rằng: Phàm phủ đình sở trú giai vị chi "tự". (Phàm nơi ở của cơ quan nhà nước đều gọi là"Tự"). Tài liệu khai triển thêm rằng: Theo chế độ quan chức thời nhà Hán ở Trung Hoa thì có Cửu Khanh; đến đời nhà Ngụy, gọi nơi làm việc của Cửu Khanh là "tự"; cho nên được đổi tên là Cửu Tự. Những đời sau, cứ theo đó để dùng đến danh từ nầy. Theo những giải thích trên thì "Tự" có nghĩa là cơ quan của nhà nước. Có người đã dịch lầm "quan tự" là "chùa công". Cửu Tự theo nguyên nghĩa là "chín bộ" trong triều đình. Đến đời Hán Minh Đế, có nhà sư ở Tây Vực là Nhiếp Ma Đằng dùng ngựa trắng để chở kinh Phật đến vùng đất Lạc Dương, vì khách là người "tứ di" cho nên được bố trí ở "Hồng Lô Tự" (nhà khách của cơ quan ngoại giao).
Về sau, có dựng lên một công trình kiến trúc khác cho nhà sư. Nhân việc ngựa trắng chở kinh mà đặt tên là Bạch Mã, vì đã từng ở Hồng Lô Tự nên gọi là Bạch Mã Tự. Từ đó về sau, "Tự" có nghĩa là "Phù đồ", để chỉ nơi tu hành của nhà sư. Xem như vậy, Saitya (Chi đề) là nơi thờ Phật, tụng kinh, thuyết pháp. Vihâra (Tăng Phòng) là nơi cư trú của chư tăng. "Chi đề" vốn chỉ là một kiến trúc hình ống phía sau tròn, có một "Stupa" hay một tượng Phật, hay cả hai làm đối tượng cúng dâng, tụng niệm. Chư tăng vừa đi vòng quanh biểu tượng Phật, vừa tụng niệm hay ngồi trước biểu tượng Phật.
II. LỜI NÓI ĐẦU :
Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã, Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy. "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc. Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái.
Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói... Nhưng người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân cư, gọi là của "công đức". Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa. Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp. Ngoài ra các tên này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân đèn... trong một danh sách dài.
Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau. Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau. Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa.
Kiến trúc chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và không gian khác nhau, ở các phong cách kiến trúc địa phương. Chùa kiểu chữ Tam phổ biến hơn miền Nam hơn ở miền Bắc.
Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa Việt Nam, là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có nhiều chùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại. Tầng trên của Tam quan có thể dùng làm gác chuông.
III. NỘI DUNG :
1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA :
Chùa Pháp Vân, số 244, Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là ngôi chùa cố kính, khang trang, lâu đời với nhiều giá trị uy nghiêm, quý giá. Chùa do HT Thích Trí Khả làm trụ trì. Chùa Pháp Vân từ lâu đã là biểu tượng tuyệt vời về hình ảnh chân tu và hoạt động từ thiện xã hội của các thầy và phật tử tại đây.
• Năm thành lập: 1964
• Người sáng lập: HT Thích Huyền Thâm
• Hệ phái: BẮC TÔNG
• Đặc điểm: Có phòng phát hành Kinh Sách
• Chư vị trụ trì tiền nhiệm: HT Thích Huyền Thâm (1964-1974)
• Trụ trì hiện nay: HT Thích Trí Khả
• Các ngày lễ lớn trong năm: 15-4 ÂL đến 16-7 ÂL: Mùa ACKH của đại chúng Chùa Pháp Vân; 17-11 ÂL vía Di Đà; Hàng Tháng vào mùng 1 và rằm có tổ chức thọ Bát quan trai.
2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM
Việt Nam hiện nay có khoảng 14.500 ngôi tự viện Phật giáo trên khắp đất nước của ba Hệ phái chính là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Ở miền Bắc chỉ có ngôi chùa Phật giáo Bắc tông. Ở miền Trung (từ Quảng Trị trở vào) và miền Nam, ngoài ngôi chùa Phật giáo Bắc tông, còn có ngôi chùa Phật giáo Nam tông Việt, Nam tông Khmer và ngôi tịnh xá Phật giáo Khất sĩ.
Các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Trung Quốc có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa. Đó là kiểu chữ Đinh, kiểu chữ Công, kiểu chữ Tam và kiểu chữ nội Công ngoại Quốc. Tên những kiểu chùa này chỉ dựa vào cụm kiến trúc chính. Trong chùa, còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, nhà tăng, gác chuông, tháp, tam quan … Ngoài người Kinh, còn có chùa ở một số dân tộc thiểu số. Chùa của người Mường làm bằng tranh tre đơn giản. Chùa người Khmer được xây dựng đẹp, có bộ mái ảnh hưởng Campuchia và Thái Lan. Chùa người Hoa cũng có sắc thái kiến trúc riêng. Tính đa dạng của kiến trúc chùa Việt Nam càng tăng khi xuất hiện những ngôi chùa hiện đại được xây dựng gần đây.
Chùa Pháp Vân nằm trên một khuôn viên rộng 3000m2 (Tổng diện tích lúc đầu là 7000m2) giữa một khu phố khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Văn Đậu, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh (trước đây là đường Ngô Tùng Châu, Gia Định, Sài Gòn).
Chùa do HT Thích Huyền Thâm xây dựng vào năm 1964. Nguyên mảnh đất xây dựng chùa này do gia đình đạo hữu Võ Doãn Ất và bà Đặng Thị Nhãn hỷ cúng cho Thượng Tọa Huyền Thâm để kiến tạo ngôi già lam này.
Vào năm 1974, HT Huyền Thâm về trụ trì Tổ Đình Long Hưng ở Phan Rang, chùa Pháp Vân được HT Thích Huyền Vi kế nhiệm trụ trì (lúc đó HT đang giữ chức tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng Pháp thuộc GHPGVNTN sau 10 năm du học ở Ấn Độ về) và phát triển thành cơ sở hoằng pháp của Giáo hội. Trong thời gian này có chư Đại đức Nhựt Minh, Đại Đức Tâm Tựu và Đại Đức Trí Khả hỗ trợ với Hòa Thượng để chăm sóc cơ sở này và đến năm 1977, Thượng Tọa Thích Trí Khả được HT Thích Huyền Vi chính thức bổ nhiệm giữ chức trụ trì cho đến ngày nay.
Cấu trúc ngôi chùa Pháp Vân gồm có chánh điện, nhà tổ, trai đường, giảng đường, phòng khách, phòng tăng, nhà thờ cốt ...
* Chánh điện: Xây dựng vào năm 1964 dài 25m2 và ngang 9m2.
* Cổng Tam Quan: Phía trước sân, mặt tiền đường Nguyễn Văn Đậu, cao 6m, rộng 7m, bê tông cốt thép xây dựng năm 1964.
* Phòng Tăng: Gồm mười hai phòng.
* Phòng khách: Hai phòng, một dành cho khách Tăng, một dành cho khách cư sĩ (phòng nằm bên hông chánh điện, xây cất năm 1995).
* Chuông Đại Hồng Chung: đường kính 01m, nặng 330kg, được đúc tại chùa Pháp Vân vào năm 1992 do nghệ nhân Thanh Thảo đảm trách.
* Tượng bổn sư bằng xi măng ngồi, cao 2m5, thếp vàng, thờ tại chánh điện.
* Tượng Quán Âm Lộ Thiên, cao 3m, thiết trí trước sân chánh điện vào năm 1977.
* Nhà thờ cốt: rộng 8m, dài 6m, phía sau chánh điện, sữa chữa lại năm 1996, hiện thờ gần 200 hủ cốt.
3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN
3.1. THÂN THẾ :
Hòa thượng THÍCH HUYỀN THÂM thế danh Nguyễn Khắc Kim, sinh năm 1930 tại Tuy Phước. tỉnh Bình Định.
Thân phụ là Nguyễn Phục và thân mẫu là Nguyễn Thị Nhãn, cả hai vị đều đã mãn phần.
Ngài là người con thứ trong một gia đình nho giáo thanh bần trung nông. Ngài có 2 anh trai và 2 chị em gái và 1 em trai (nay còn 1 chị và Ngài).
3.2. XUẤT GIA & TU HỌC :
Ngài xuất gia năm 1941 với Hòa Thượng Thích (thượng) Trí (hạ ) Thắng, trụ trì Tổ đình Thiên Hưng thuộc thị xã Phan Rang.
- Năm 1948, Ngài thọ Sa di giới.
- Năm 1952 Ngài thọ Cụ túc giới.
- Năm 1950-1956, Ngài theo học tại Tùng Lâm Ấn Quang, Sài Gòn.
4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
4.1. THÂN THẾ :
Hòa Thượng Thích Trí Khả, pháp hiệu Đức Siêu, thế danh Phạm Văn Xích Châu, sinh năm 1944 (Giáp Thân).
Chánh quán: làng Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Thân phụ là cụ Phạm Văn Pháp (PD Thiện Pháp) và thân mẫu là bà Võ Thị Nhung (PD Diệu Thiện), cả hai vị đều đã mãn phần.
Ngài là người con thứ tám trong gia đình thanh bần trung nông, ngài có 10 anh chị em, 7 trai, 3 gái.
4.2. XUẤT GIA :
Xuất gia năm 1969, y chỉ sư là Hòa Thượng Thích (thượng) Thiên (hạ) Thành, trụ trì chùa Thoại Sơn, Núi Sập, Châu Đốc.
Năm 1971 thọ sa di giới.
Năm 1972 thọ cụ túc giới.
Năm 1973-1975 đã theo học khóa “Sứ giả Như Lai" (khóa học đào tạo giảng sư cho ban hoằng pháp thuộc GHPGVN) mở tại chùa Phật Quang, Chợ Lớn.
4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN :
Năm 1975, Thượng tọa về tĩnh tu tại chùa Pháp Vân Q. Bình Thạnh, TP HCM (Nguyên là cơ sở của HT. Thích Huyền Vi).
Năm 1977: Hòa Thượng chính thức đảm nhận chức trụ trì chùa Pháp Vân do Hòa thượng Thích Huyền Vi (hiện đang ở tại Pháp, bổ nhiệm).
Năm 1978-1980: Tu bổ lại chùa và ổn định tăng chúng nội tự.
Năm 1981: Hòa Thượng tổ chức mở trường hạ cho chư tăng nội tự và các tỉnh có cơ hội để tu học. Trường hạ đầu tiên này đã trở thành một truyền thống tốt đẹp mà đến nay chùa Pháp Vân vẫn duy trì Khóa hạ đầu tiên đó gồm có 45 vị (30 vị tỳ kheo và 15 vị sa di)
Năm 1982-1996: Tiếp tục mở các khóa hạ tập trung hoặc nội bộ cao tăng chúng tu học. Đặc biệt vào các năm 1984, 1985, 1989 và 1990 là những năm mở trường hạ cấp quận cho tăng chúng trong thành phố và các tỉnh lân cận về tu học.
4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG :
Như là một hạnh nguyện trong cuộc đời hành đạo của mình, Hòa Thượng đã gạt bỏ tư tưởng địa phương, vùng, miền, mà tiếp nhận bất cứ vị tăng lớn nhỏ nào đến xin tá túc tu học tại chùa Pháp Vân. Do đó, chúng ta không có gì ngạc nhiên khi thấy chư tăng tại Pháp Vân có mặt đủ cả 3 miền Nam, Trung, Bắc. Hai mươi năm qua đã có biết bao lượt tăng chúng đến tu học rồi ra đi làm Phật sự ở trong và ngoài nước.
4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU :
Hằng năm, từ ngày mùng một tháng tám đến ngày mười bảy tháng mười một Âm lịch (01/08-17/11/AL) là thời gian Thượng tọa nhập thất tĩnh tu trong ba tháng, sau chín tháng làm Phật sự ở ngoài. Đây là một công hạnh tốt đẹp mà thượng tọa đã duy trì trong hai mươi năm qua.
5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI :
Bắt đầu những năm tám mươi trong cương vị của mình, Hòa Thượng thường tổ chức các chuyến đi ủy lạo đến các vùng kinh tế mới, để giúp đỡ cho người dân nghèo từng miếng cơm, manh áo, khám bệnh phát thuốc, góp phần làm giảm bớt nỗi đau khổ cho cuộc đời. Trên con đường từ thiện xã hội, Hòa Thượng đã cùng với Hòa Thượng Chơn Phương (viện chủ Pháp Hoa Tịnh Viện, Huyện Nhà Bè). Quý Linh Mục Đạt, LM Quý, BS Nguyễn Quý Hoạt, Má Năm Cầu Muối, cô Diệu Kim, cô Thanh Liêm, anh Quang, BS Liêm ... đến với các trại phong như Thanh Bình (Thủ Thiêm), Bến Sắn (Sông Bé), Bình Minh (Long Thành) ... để an ủi, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong suốt 20 năm qua. Công tác từ thiện của Thượng tọa không dừng ở chỗ cho cơm áo mà tiếp đó là hướng dẫn cho họ tu tập theo đạo lý nhà Phật. Công tác từ thiện của Thượng Tọa vẫn đang tiếp tục và mở rộng đến các tỉnh Tây Nguyên, và các tỉnh phía Bắc ...
6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN :
Trên con đường làm từ thiện xã hội, một vấn đề khác lại nảy sinh, đó là nhu cầu tu học của người Phật tử tại các vùng kinh tế, vùng ven, tỉnh lỵ ... Hòa Thượng đã cùng với nhân dân Phật tử địa phương xây dựng các ngôi tự viện để có nơi cho họ tu học và giữ gìn truyền thống văn hóa của nước Việt. Tính đến nay Thượng tọa đã góp phần xây dựng các ngôi tự viện .
1. Chùa Pháp Tràng (Thừa Đức III. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
2. Chùa Bảo Minh (Cẩm Đường VI, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
3. Chùa Quan Âm (Ấp VIII, Cẩm Đường, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
4. Chùa Pháp Linh (Ông Quế II, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
5. Chùa Pháp Quang (Ông Quế III, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai).
6. Chùa Hoa Lâm (Mépu I, Đức Linh, tỉnh Bình Thuận).
7. Chùa Quảng Hương (Đức Chính, Đức linh, tỉnh Bình Thuận).
8. Chùa Phước Sơn (Đức Phú, Tánh Linh, Tỉnh Bình Thuận).
9. Chùa Huê Nghiêm (Đức Tân, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
10. Chùa Quảng Hương (Nghị Đức, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
11. Chùa Bảo Lâm (Huy Khiêm, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
12. Chùa Quảng Đức (Đức Bình, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận).
13. Chùa Huệ đức (Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận).
14. Chùa Phước Điền (125 Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
15. Chùa Phật Bửu (tỉnh Long An).
16. Chùa Phật Bửu (Vĩnh Bình).
17. Chùa Đại Minh (Hải Phòng, Bắc Việt).
18. Chùa Viên Quang (Đội 6, Hòa Bình, Vũng Tàu).
19. Chùa Niệm Phật Đường (Đội 2, Hòa Bình, Vũng Tàu).
20. Chùa Pháp An (Đội 3, Hòa Bình, Vũng Tàu).
21. Chùa Bảo Quang (Cẩm Đường, Long Khánh, Đồng Nai).
22. Chùa Mục Đồng (Giồng Trôm, Bến Tre).
23. Chùa Quy Thuận (Giồng Trôm, Bền Tre).
24. Chùa Liên Sơn (Thị Trấn Bến Tre)
25. Chùa Long Hà (Sông Bé).
26. Chùa Long Hưng (Sông Bé).
27. Chùa Thanh Trí (Sông Bé).
28. Chùa Báo Ân (Xuân Hòa, Xuân Lộc Đồng Nai).
29. Chùa Nghiêm Phúc (Thái Bình, Bấc Việt).
30. Chùa Hưng Phước (Bình Đại, Bến Tre).
Và những chùa thường được Thượng tọa lui tới thăm viếng, hỗ trợ kinh sách, tượng Phật và tổ chức, hướng dẫn Phật tử vào các ngày đại lễ như Phật Đản, Vu Lan ... gồm có các chùa:
1 Chùa Huệ Ân (Bến Tre).
2. Chùa Hiếu Huệ (Bến Tre).
3. Chùa Quảng Minh (Đức Linh).
4. Chùa Quảng Chánh (Tánh Linh).
5. Chùa Khánh Sơn (Đắc Lắc).
6. Chùa Niệm Phật Đường (Đắc Lắc).
7. Chùa Bình Quang (Bà Rịa Vũng Tàu).
8. Chùa Vũ Lao. (Hà Nam Ninh, Bắc Việt).
7. BẬC THẦY TINH THẦN :
* Truyền Tam Quy Ngũ Giới :
Tính đến nay đã có hơn 5000 cư sĩ tại gia trọng thành phố và các tỉnh thành được Thượng tọa truyền thọ Tam Quy Ngũ Giới để tu học.
8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN :
Để cho thiền môn được nghiêm tịnh, tất cả đại chúng đều phải chấp hành đúng nội quy sau đây:
Y theo tinh thẩn giáo luật và lục hòa mà sinh hoạt.
SINH HOẠT CƠ BẢN:
Gồm 3 phần: Tu - Học - Hạnh
Tu: Gồm tụng kinh và ngồi thiền.
9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN :
cứ mỗi mùa hạ trở về sau ngày Đức Từ Phụ đản sinh, những người con Phật khoát áo ca sa từ tứ phương lại trở về an trú với nhau để cùng tu học, ôn lại giáo pháp Như Lai, ngỏ hầu trưởng dưỡng đạo tâm, tài bồi giới hạnh.
Với ý nguyện đó, mong muốn nơi đạo tràng Pháp Vân này sẽ lại là nơi dừng chân tu học của hàng tăng lữ, cũng là nơi để hàng Phật tử nương nhờ hình bóng Tăng già tu tập Pháp lành, gieo ruộng phước điền cầu quả phúc mai hậu. Chính vì ý nguyện đó mà Ban đại diện Phật Giáo quận Bình Thạnh và chùa Pháp Vân đứng ra tổ chức khóa an cư kiết hạ tại trú xứ Pháp Vân tự để chư Tăng có nơi tu học.
Việc chùa Pháp Vân tổ chức khóa an cư kiệt hạ, là niềm vui mừng cho hàng tử bổn tự và khắp nơi gần xa, và đó là nỗi hoan lạc tự hào cho chư tăng nói chung và chùa Pháp Vân nói riêng. Nhờ công đức tu tập của Chư Tăng thúc liễm trong ba tháng, hy vọng đạo tràng sẽ rạng rỡ, hưng thịnh hơn trong tương lai, cũng nhờ "đức chúng như hải”, chư Tăng sẽ có thêm sự gia bị để hoàn thành sứ mạng hoằng truyền giáo pháp, báo Phật ân đức.
10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM :
Từ thiện Đồng Tâm (TTĐT) là Hội thiện nguyện hoạt động phi lợi nhuận, phi chính trị và không phân biệt tôn giáo với mục đích giúp đỡ và chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn cùng làm cuộc sống tốt đẹp hơn.
TTĐT mong muốn ngày càng phát triển hoạt động từ thiện để trở thành điểm đến đáng tin cậy của vô lượng tình thương kết nối tấm lòng từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đến với người nghèo khó.
Thời gian hoạt động từ tháng 8-2008. Tình nguyện viên của nhóm ở nhiều lứa tuổi, đa dạng các ngành nghề và phần lớn sống tại TP.HCM. Website ra mắt hoạt động vào 12/12/2009.
IV. LỜI KẾT :
Lướt sơ qua những công tác Phật của HT kể từ khi HT về trụ trì chùa Pháp Vân thật không thể nghĩ bàn, đó là công việc Phật sự ớ ngoài, còn ở trong chùa thì HT thường tuyên bố "vị nào có duyên, muốn đến thì cứ đến, HT không từ nan, mà hết duyên đi HT cũng không cản, nhưng phần đông chúng ở đây là những vị đang theo học các trường cơ bản và cao đẳng Phật học - tính ra số chúng của chùa cũng hơn 40 vị kể cả Tỳ kheo và chúng diệu, ngoài ra HT nuôi 6 bà đã già yếu không ai nuôi dưỡng hoặc nương vào ân đức của HT cho đến khi mãn phần.
Với công hạnh của HT viện chủ chùa Pháp Vân là “Phụng sự chúng sanh cúng dường chư Phật” cho nền HT không từ nan một việc làm nào, dù là nhỏ nhặt như: Cơm nước hàng ngày, củi đuốc, sửa sang phòng ốc, đích thân HT làm không phải sai bảo ai, nếu ai thấy việc cứ phụ tiếp với HT thì tốt, bằng không HT cũng vẫn làm với tấm lòng vô chấp, vô ngã, còn vần đề ăn mặc của HT thì quá đơn giản, ăn cùng ăn với chúng, làm thì làm không cần chúng. Cho nên lắm lúc có những Phật tử ở xa đến chùa lần đầu, thấy HT đang làm công việc bên đến hỏi "Bạch thầy cho em gặp HT trụ trì ...” HT liền ân cần mời họ vào chỗ tiếp khách và nói: "Đạo hữu ngồi đây tôi vào mời thầy trụ trì cho: Khi ra HT mặc áo tràng hỏi: “gặp thầy trụ trì có việc gì không?”, lúc đó Phật tử mới bàng hoàng, khi nhận tôn nhan của HT thì họ quá ăn năn và xin đảnh lễ sám hối HT. Sau đó họ có nguyện vọng gì để lo cho Phật sự thì HT tùy duyên mà chỉ giáo và trợ lực.
CHIẾC ÁO NÂU SÒNG
Kính dâng Thầy trụ trì chùa Pháp Vân, TP HCM.
Con chưa đến chùa
Chưa một lần
Biết nơi thầy ở
Nhưng ngưỡng mộ Thầy
Qua chiếc áo cà sa
Vỗ vào lòng con
Những đợt sóng hiền hòa
Thổi vào lòng con
Ngọn gió lành mát rượi
Con muôn quì
Dưới chân Thầy
Sám hối
Chẳng quá lời đâu
Chùa Pháp Vân
Con chưa hề tới
Nhưng ngưỡng mộ Thầy
Qua chiếc áo nâu sòng
Bạc màu, dân dã
Đi đến nơi đâu
Cảm hóa được lòng người
Từ Bắc, Trung, Nam
Từ Nam ra Bắc
Ở đâu đâu
Cũng có gót chân Thầy
Nghèo đói miền Trung
Bão lụt miền Tây
Trại hủi, trại cùi, nơi cô nhi viện ...
Ở đó tôn tạo chùa
Nơi đây xây chánh điện ...
Đều có bàn tay Thầy
Giúp đỡ, trợ duyên
Thầy là người cao cả, người hiền
Là hàng Bồ Tát hiện tiền, hiện thân
Dẫu con chưa được một lần
Cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Người
Nhưng trong giấc ngủ nụ cười
Trên môi Thầy nở những lời Từ bi
Dạy rồi, Thầy lại ra đi
Bâng khuâng con vẫn chân quì, mãi trông
Từ Trung, Nam, Bắc, Tây, Đông,
Phất phơ tà áo nâu sòng gió bay.
V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN :
Cổng tam quan chùa khi xưa
Cổng tam quan chùa hiện nay
Phía Trước chánh điện
Giảng đường tu tập nằm phía tây đối diện chánh điện
Thời khóa tụng kinh tu bát quan trai
Chánh điện chùa pháp vân mặt hướng về phía tây
Thời khóa tụng kinh 8h sáng : chùa pháp vân tụng kinh chú dạ lục thời
Lễ sám hối ở chùa pháp vân
Hồng chung nặng 350k đúc ngày 3 tháng 7 năm 1992
Mõ gia trì hằng ngày tụng niệm
Chuông gia trì tụng niệm hằng ngày
Phía sau chánh điện là hậu tổ, nơi tôn thờ các Vị Tiền Bối Cao Tăng
Nơi thờ chư vong linh, đối diện hậu tổ
Quả đường nơi chư Tăng độ chay
Đây là quà lưu niệm khi HT ra thất hằng năm 1/8 AL đến 17/11
Đài Quan Âm lộ thiên, chánh giữa khung viên chùa hướng về phía bắc
Vườn lâm tỳ ni phía nam từ chánh điện
Điện Di Lặc nằm bên hông phía bắc từ chánh điện
Tháp thờ Ngài Huyền vi nằm phía sau điện di lạc
Bức phù điệu Đức Bổn Sư thuyết pháp phía sau lưng điện Di Lặc
Tổ đường cũng là nơi HT nhập thất hằng năm
HT và tăng chúng
Di ảnh Ngài Huyền Vi trong bảo tháp
Đức Bổn Sư Thích Ca tôn nghiêm nơi chánh điện
HT khai sơn chùa pháp vân
HT trụ trì chùa pháp vân
HT Từ Hòa tri sự chùa pháp vân
Hội Từ thiện đồng tâm chùa pháp vân
Chương trình tiếp sức mùa thi hằng năm của chùa pháp vân
HT trao học bổng tại chùa
Cầu xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình (Vĩnh Long) do từ thiện đồn tâmg thực hiện
căn nhà đại đoàn kết tại xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29-5-2011
Tặng quà cho các em người dân tộc xã Tà Lài, huyện Tân Phú (Đồng Nai)
Trao học bổng tại chùa pháp vân
huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang khởi công xây cầu bê-tông tại ấp Bình Hòa, xã Phương Phú.
Ngày 30-6, Từ thiện Đồng Tâm (chùa Pháp Vân, Q.Bình Thạnh) đến bàn giao cầu và đường tại ấp Xẻo Sâu, xã Tân Hưng, huyện Ba Tri (Bến Tre).
Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

