THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

LUAN VAN BAO CHI PGVN

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM Môn học LỊCH SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM Đề tài tiểu luận TẠP CHÍ TỪ QUANG Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện HT. THÍCH GIÁC TOÀN THÍCH LỆ DANH Đ Đ. THÍCH TÂM HẢI Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG TP. HỒ CHÍ MINH 2012 MỤC LỤC : I. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI : 1. Tự do báo chí ở Việt Nam-thực tiễn sinh động : II. DẪN NHẬP : 1. Sơ lược về Báo chí PG Việt Nam 1920 -1951 : 2. Truyền thông Liên văn hoá và Truyền giáo lý : III. NỘI DUNG CHÍNH : 1). Tạp chí Từ Quang : 1.1). Về Phật học 1.2).Về văn học : 1.3). Tiểu thuyết : 1.4). Truyện ký : 1.5). Thi ca : 1.6). tin tức trong nước và nước ngoài : 2). Nhận định Báo chí Phật giáo Việt Nam : 3). Một số suy nghĩ về hướng phát triển của báo chí Phật giáo Việt Nam : 4.) Là thời kì hoạt động đặc biệt của Báo chí Việt Nam : 5). Báo chí hoạt động với nhiều khuynh hướng khác nhau : III. KẾT LUẬN : DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO : LỊCH SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM I. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI “ Báo chí là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng và là một loại hình hoạt động nghề nghiệp sáng tạo, với tính chất chính trị xã hội rõ ràng” Trong lịch sử vận động lịch sử văn hóa nhân loại, báo chí ra đời khá muộn. Phải đến cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, những tờ báo đầu tiên mới xuất hiện ở một số nước châu Âu. Chúng là tiền đề, là điều kiện cho sự nảy sinh, sự vận động của các bộ phận trong hệ thống báo chí, quy định quy mô, bản sắc và vai trò của báo chí đối với mỗi thời kì lịch sử, mỗi hình thái kinh tế- xã hội. Các yếu tố chi phối ở đây, đầu tiên cần nói đến đó là nhu cầu thông khách quan của xã hội về giao tiếp- thông tin, sau đó có thể kể đến đó là trình độ phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội và tính chất đặc thù của mỗi dân tộc; bên cạnh đó báo chí còn chịu tác động rất lớn từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, của giao lưu quốc tế, thể chế chính trị, hành lang pháp lí… Báo chí Việt Nam tuy mới phát triển trên hơn 1 thế kỉ nhưng thực sự đã có nhiều thành tựu, với những chặng đường lịch sử đáng ghi nhớ. Khoảng thời gian giữa 2 cuộc Thế chiến từ 1918-1939 là thời kì phát triển khá thịnh vượng đầu tiên của báo chí Việt Nam Thời kì trước Cách mạng tháng Tám, báo chí phát triển với nhiều khuynh hướng khá phức tạp. Có khuynh hướng tiến bộ đấu tranh cho công bằng và sự phát triển của xã hội; có khuynh hướng cải lương, thỏa hiệp, xoa dịu mâu thuẫn xã hội; và cũng có khuynh hướng nô dịch làm công cụ phát ngôn cho chế độ thực dân thống trị . Tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện vào giữa thế kỉ XIX, khởi đầu là tờ Gia Định báo (ra số đầu tiên vào ngày 1/4/1865). Đây là phương tiện truyền thông đầu tiên hoàn toàn mới mẻ, làm cho tiếng Việt có cơ hội phổ biến trong dân, chấm dứt thời kỳ e dè, trì trệ mấy trăm năm về trước. Trước đó, năm 1862 đã ra đời tờ báo công khai của quân đội viễn chinh Pháp ở Nam kỳ bằng tiếng Pháp. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, và nhất là những năm 20 của thế kỉ XX, báo chí Việt Nam đã có những sự phát triển quan trọng vượt bậc. Báo chí Việt Nam ngày càng giữ vai trò đặc biệt trong việc nâng cao trình độ mọi mặt của nhân dân. Báo chí đảm bảo thông tin cho nhân dân về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội và đời sống xung quanh với một phạm vi rộng lớn, tham gia vào việc hình thành dư luận đúng đắn. Mặt khác, báo chí tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện những con đường, phương pháp hợp lí nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống. Tiểu luận này không đi sâu nghiên cứu từng thời kì phát triển của báo chí phật giáo Việt Nam giai đoạn chấn hưng phật giáo chỉ nêu và phân tích khái quát những nét đặc điểm tiêu biểu của báo chí giai đoạn này, từ đó mà tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm trong cách làm báo. Đồng thời gắn những bài học đó với thực tiễn phát triển báo chí trong thời kì đổi mới. 1. Tự do báo chí ở Việt Nam-thực tiễn sinh động : Thời gian gần đây, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí bịa đặt, xuyên tạc, cho rằng Việt Nam “bóp nghẹt” tự do ngôn luận, tự do báo chí, hạn chế và ngăn cấm sử dụng mạng internet... Đó là sự vu cáo trắng trợn nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa. Nhằm giúp bạn đọc có một cái nhìn đúng đắn về bức tranh đa sắc màu, phong phú của nền báo chí cách mạng và hoạt động báo chí, internet đang diễn ra hết sức sôi động ở Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu vệt bài “Tự do báo chí ở Việt Nam - thực tiễn sinh động”. Không phải bây giờ, mà từ nhiều năm qua, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến phát triển báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Tính đến tháng 3-2012, cả nước có gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề (tăng gấp 3 lần so với năm 1986) và hàng nghìn phóng viên đang hoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ; 786 cơ quan báo chí in với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh-truyền hình Trung ương và cấp tỉnh... Mục tiêu chung của hoạt động báo chí là làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. II. DẪN NHẬP : Báo chí Phật Giáo Việt Nam thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào chấn hưng Phật Giáo vào thập niên 1930. Sự đóng góp to lớn của những tạp chí, nguyệt san nầy đều được các vị sư lãnh đạo các hội Phật Giáo điều hành. 1. Sơ lược về Báo chí PG Việt Nam 1920 -1951: Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, được gợi hứng từ phong trào chấn hưng Phật giáo thế giới và trong điều kiện nền văn học báo chí quốc ngữ đã có những phát triển nhất định. Vì báo chí Phật giáo là một trong những phương tiện quan trọng làm lan tỏa tư tưởng chấn hưng Phật giáo, do đó, sự phát triển báo chí Phật giáo Việt Nam gắn liền với diễn trình chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam. Trong lúc phục vụ cho việc đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo, báo chí Phật giáo Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ hoằng pháp, xây dựng nền văn học Phật giáo trong văn học chữ quốc ngữ, bảo tồn di sản văn hóa cổ Việt Nam vì phần lớn nền văn hóa đó mang nội dung Phật giáo. 2. Truyền thông Liên văn hoá và Truyền giáo lý : Truyền thông Truyền giáo liên hệ rất mật thiết với lãnh vực Truyền thông Liên văn hoá, một lãnh vực đang phát triển rất nhanh trong ngành truyền thông xã hội. Việc chia sẻ đức tin với những người khác rất thường diễn ra xuyên qua các biên giới văn hoá và trên thực tế, làm công việc này là một phần thiết yếu của giáo hội phật giáo được sai đi truyền giáo. Truyền thông liên văn hoá quan tâm tới việc truyền thông giữa những con người hai hay nhiều nền văn hoá khác nhau. Các nhận thức, qui luật và kinh nghiệm của lãnh vực này cũng có vai trò quyết định rất lớn đối với việc truyền thông truyền giáo. Thành ngữ truyền thông ‘xuyên văn hoá’ đôi khi được dùng với cùng một ý nghĩa này. Nhưng nếu xét kỹ hơn chúng ta sẽ thấy rằng thành ngữ ‘liên văn hoá’ thì thích hợp với truyền thông truyền giáo hơn. Đối với nhiều người, thành ngữ ‘truyền thông xuyên văn hoá’ hàm ý ‘vượt qua một biên giới’ nhằm áp đặt hay thậm chí sủ dụng nền văn hoá khác cho mục đích riêng của mình như tiếp thị hay bán hàng hoá trong nền văn hoá ấy. Tôi ‘vượt biên’ để vào một nền văn hoá khác không phải để hiểu rõ hơn và tích hợp nhưng để ‘sử dụng’ nền văn hoá ấy cho mục đích riêng của tôi như “Làm thế nào để bán được hàng trong nền văn hoá Nhật?” để tăng lợi nhuận của tôi. Phương thức ‘xuyên văn hoá’ có vẻ như mang tính thống trị nhiều hơn và ít quan tâm thực sự hơn đối với các văn hoá khác. Ngược lại, truyền thông ‘liên văn hoá’ cố gắng cư xử bình đẳng với người khác và nhằm mục đích chia sẻ các mối quan tâm và kinh nghiệm chung, mặc dù chúng có thể được diễn tả bằng những cách thức văn hoá khác nhau. Nội dung thường phản ảnh thực tế Phật Giáo trong từng giai đoạn. Có những cuộc kết hợp một số báo chí thời đó, nhưng đồng thời cũng có những cuộc tranh luận, đặc biệt là báo chí Phật Giáo ở một số tỉnh miền Nam Nam Bộ (Hội Lưỡng Xuyên và hội Kiêm Tế). Sau đây là lịch sử tiến triển báo chí PG quan trọng. III. NỘI DUNG CHÍNH : 1). Tạp chí Từ Quang : Với Giáo hội Tăng già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt Tại Nam Phần, nhiều Phật học đường được lập lại ngay từ năm 1946. Đến năm 1950, các Phật học đường hợp nhất thành Phật học đường Nam Việt đặt trụ sở tại chùa Ứng Quang, sau đổi tên thành chùa Ấn Quang. Trong số những người ủng hộ việc thành lập Phật học đường Nam Việt, có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền vận động thành lập hội Phật Học Nam Việt, ra đời ngày 25.2.1951 tại Sài Gòn. Hội cho xuất bản tạp chí Từ Quang làm cơ quan ngôn luận chính. Ngày 5.6.1951 một cuộc đại hội của chư tăng tại chùa Hưng Long đã đi đến sự thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Thiền sư Đạt Từ làm trị sự trưởng của Giáo Hội và thiền sư Nhật Liên đảm nhận trách vụ tổng thư ký. Thiền sư Đạt Thanh (chùa Giác Ngộ) được suy tôn làm pháp chủ lâm thời. cùng ra đời là tờ tập chí giác ngộ. TẬP CHÍ TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT Năm thứ XVI- số 184 - tháng 12 năm 1967 ( P.L 2511 ) Chủ nhiệm kiêm chủ bút CHÁNH TRÍ Quản lý : ông Lâm Văn Tượng TẠI Chùa Xá Lợi 89, Đườn bà huyện thanh quan-saigon ĐT : 22.465 giá 12$00 Khổ : 23x16 Nhà in hòa khánh, 16 cống quỳnh- saigon- ĐT : 25.336 Kiểm duyệt số 077/T.T.BC./KD. Ngày 25-368 Năm 1958 hội Phật Giáo Nam Việt xuất bản tạp chí Từ Quang do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền chủ bút và Thích Quang Minh làm chủ nhiệm, Lê Bá Cảnh làm thư ký. Báo ra số 1 đầu tiên ngày 8 tháng 4 năm Tân Mão ( 13/5/1951 ) Báo ra 3 tháng 1 kỳ. Khổ 145x230 mm. Bìa in 4 màu. Dày 42 Trang, in tại nhà in Việt Hùng, 86 đường Đại Tá Boudonnet saigon, sau in tại Hòa Chánh, số 16 Cống Quỳnh. Năm 1973 cư sĩ Mai Thọ Tuyền qua đời, Mai Lai Võ Văn Phùng và Tâm Bảo Tống Anh Nghĩ (Tố Hồ Cầm) chuyên trách. Báo ra được 265 lần, tháng 4/1975 đình bản. Tờ báo có số Trang từ 40 đến 60 Trang, năm thứ nhất 40 đến 46 Trang, năm thứ 5 tăn 48 đến 70 Trang, từ năm 1974 đến 1975 vẫn bình thường 60 đến 76 Trang. Những cây bút thường có là Tống Anh Nghị, Trí Không, Chánh Trí, Minh Đức, Nhất Hạnh Nhưt Quang, Minh Châu, Mãn Giác, Thanh Từ, Sư cô Diệu Thuận, Thiện Diệu. . . Nội dung tạp chí từ quang thường gồm các mục: Bàn luận về Phật giáo; 2. Dịch thuật các kinh Phật; 3. Lịch sử chư tăng, chư bồ tát; 4. Truyện các cao tăng; 5. Ký những nơi danh lam thắng cảnh; 6. Văn thơ; 7. Giải đáp; 8. Chú thích; 9. Tin tức trong nước và thế giới. 1.1). Về Phật học : Tạp chí từ quang có nhiều bài viết hoặc dịch về kinh, luật, luận: Kinh Tạp chí từ quang đã đăng tải bản dịch và giảng nghĩa các bộ kinh: Bách dụ; Giảng nghĩa kinh bát đại nhân giác; Thập thiện; Phật nói kinh năm mới; Phật thuyết Tu Ma Đề trưởng giả kinh; Phật thuyết Hiếu tử kinh; Bát nhã tâm kinh trực giải; Diệu pháp liên hoa kinh; Phật nói kinh phúc báo bố thí; Phật nói kinh ông trùng tính; Kinh Thiện sinh diễn ca; Kinh báo ơn cha mẹ diễn ca, Kinh Địa tạng diễn âm của các dịch giả Nguyễn Văn Ngọc, Thiều Chửu, Tố Liên, Nguyễn Thiện Chính, Nguyễn Nhún, Viên Quang. Luật Ngoài các bài viết về ngũ giới, tạp chí đăng nhiều kỳ chuyên đề Phật luật học: “Tư tưởng xương minh Phật giáo" của tỷ khiêu Thích Trí Quang từ số 132 ra 15.05.1958 đến số 163 - 164 ra ngày 01 và 15.09.1958. Luận Đuốc tuệ đăng nhiều bài luận, xin dẫn một số bài tiêu biểu: Phật giáo đối với cuộc nhân sinh của Trần Trọng Kim; Vì lẽ gì tôi tin Phật giáo; Nghĩa chữ “Không” trong đạo Phật của Bùi Kỷ; Phật giáo tân luận; Luận về Khóa hư của Nguyễn Trọng Thuật. 1.2).Về văn học : Có thể nói tạp chí từ quang là tờ báo có nhiều bài viết về văn học Phật giáo nhất với nhiều thể loại phong phú: Những bài quốc văn cổ trong Phật học Tạp chí từ quang thường xuyên đăng những bài văn Nôm do các thiền sư Việt Nam sáng tác hay phóng tác trên các nguyên bản Hán văn. Các thiền sư Thái Hòa, Đắc Nhất thường làm công việc ấy. 1.3). Tiểu thuyết : Dựa vào Thần phả Siêu Loại và các truyện xung quanh bà Ỷ Lan nguyên phi, Nguyễn Trọng Thuật viết Cô con gái Phật hái dâu, giới thiệu về cô con gái làm nghề trồng dâu nuôi tằm, sau này là Nguyên phi Ỷ Lan, một Phật tử thuần thành có công lao to lớn thời Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. 1.4). Truyện ký : Nhật ký đi du học ở Trung Quốc và bài ký sự Qua thăm Xiêm, Ai Lao của thượng tọa Trí Hải đăng nhiều kỳ trên Đuốc tuệ năm 1938, đã giúp độc giả hiểu thêm về Phật giáo các nước láng giềng của Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm trong tổ chức đào tạo tăng tài, xây dựng Hội Phật giáo. 1.5). Thi ca : Ngoài nhiều bài thơ, phú, hát nói, tạp chí từ quang đăng Nhàn Vân Đình tham thiền thi thảo gồm 25 bài thơ của cư sĩ Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn ở Hải Hậu, Nam Định ghi lại cảm xúc của ông khi đến vãng cảnh các động, chùa ở miền Bắc, xin đơn cử : 1.6). tin tức trong nước và nước ngoài : Các tin vắng trong nước hay những phật sự chư tăng hành đạo với đời và những diễn biến các tôn giáo bạn trên thế giới. 2). Nhận định Báo chí Phật giáo Việt Nam : Nhìn toàn cục, từ khi có báo chí Phật giáo đến nay, chúng ta chỉ mới có “chí” mà hầu như chưa có “báo” đúng nghĩa. Chỉ một trường hợp ngoại lệ là tờ Nhật báo – Chánh Đạo phát hành một thời gian trước năm 1975. Còn lại thì Phật giáo chỉ có tạp chí, tập văn, tập san, nội san… Tin tức trên báo, đối với một số nhà tu hành, là chuyện đời, chuyện làm động tâm, chuyện không đem lại lợi ích. Do đó, Phật giáo không tham gia trên lãnh vực báo cũng là điều dễ hiểu. Có một ấn phẩm Phật giáo được gọi là “báo”, nhưng thực chất, đó cũng là dạng tuần san, mang nội dung chính là một tạp chí. Tin tức thu hẹp trong phạm vi nội bộ và cũng rất hạn chế. Còn lại, nhiều tờ tạp chí Phật giáo, tuy gọi là tạp chí, nhưng dấu ấn báo chí (theo hướng trình bày ở trên) rất mờ nhạt. Cũng có thể coi đó là những series tuyển tập phát hành định kỳ. Trong đó, những người viết hầu như chỉ đóng cửa bàn việc đạo, khó mà tìm thấy dấu tích của thời sự, ngoại trừ bài viết nhân dịp các ngày lễ lớn trong đạo. Các tạp chí như vậy hầu như không có thời gian tính. Để nhiều năm sau lật ra đọc vẫn không thấy vấn đề trở ngại gì lớn cả. Đây là một điểm đặc thù, nhưng theo ý kiến chủ quan của người viết bài này, lại là một nhược điểm của báo chí Phật giáo Việt Nam. Nói là nhược điểm vì Phật giáo Việt Nam, cả trong nước lẫn ngoài nước, đã tự đóng khung trong một dạng hoạt động báo chí phiến diện. Báo chí Phật giáo Việt Nam tồn tại như một dòng chảy tách biệt với báo chí hiện đại. Như đã nói, Phật giáo Việt Nam chỉ có “chí” mà không có báo. Không nói gì đến báo chí Phật giáo Việt Nam hiện đại, mà sự phát triển cục bộ và lạc hậu đã quá rõ ràng, báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1975 cũng thế. Các tờ như Phật giáo Việt Nam, Từ Quang, Liên Hoa, Hải Triều Âm, Tư Tưởng… nhiều bài, đến bây giờ đọc vẫn như mới. Nghĩa là, nó mang tính chất sách tuyển tập nhiều hơn, trong khi tính báo chí rất mờ nhạt. Hạn chế này của báo chí Phật giáo Việt Nam trong thời điểm 40 – 45 năm trước, khi sự phát triển báo chí không đến mức như bây giờ, là vẫn có thể còn chấp nhận được. Nhưng đến nay, trước sự phát triển như vũ bão của báo chí hiện đại, thì với cung cách làm báo như hiện nay của Phật giáo Việt Nam, với những tạp chí, nội san, tập san, tập văn… kiểu tháp ngà, thì hạn chế đó tất nhiên tăng lên nhiều lần. 3). Một số suy nghĩ về hướng phát triển của báo chí Phật giáo Việt Nam : Đầu tiên, chúng ta xét báo chí Phật giáo trong nước về mặt tỷ lệ, số lượng. Trước năm 1975, cả miền Nam Việt Nam có vài chục tờ báo và tạp chí. Số lượng báo chí Phật giáo có tới 5, 6 tờ, kể cả một tờ Nhật báo. Hiện nay, cả nước có đến gần 600 tờ báo và tạp chí, gần cả trăm kênh phát thanh truyền hình. Bước phát triển của báo chí nước ta là hết sức lớn lao. Trong khi đó, sự phát triển của báo chí Phật giáo hết sức mất cân đối với sự phát triển chung của báo chí nước nhà. Chùa tháp xây nhiều, lễ hội tổ chức rình rang, mà báo chí lại phát triển èo uột. Đó là vấn đề của báo chí Phật giáo Việt Nam chúng ta. Nhiều tờ báo của các cơ quan đoàn thể, có tờ được xếp vào loại báo địa phương hạng 3, từ mức ra 2-3 số/tuần, nay đã trở thành nhật báo, cộng với tuần san, phụ bản… Còn tờ tuần báo của Phật giáo TP.HCM vẫn dừng lại ở giới hạn tuần báo trong suốt mấy chục năm. Trang web Phật giáo gần đây xuất hiện nhiều. Nhưng thử so sánh với số lượng các trang web tiếng Việt trên mạng internet, chúng ta sẽ thấy tỷ lệ khiêm nhường của trang web Phật giáo. Đây là vấn đề trường kỳ. Còn vấn đề trước mắt có thể sớm khắc phục là việc báo chí Phật giáo Việt Nam còn thiếu tính báo chí. Nghĩ đến một tờ báo Phật giáo đậm tính báo chí như tờ Chánh Đạo, trong bối cảnh hiện nay là điều chưa thể. Nhưng việc cố gắng nâng cao tính báo chí đối với báo chí Phật giáo Việt Nam là điều trong tầm tay, miễn là nhận ra được vấn đề và cố gắng giải quyết. Báo chí Phật giáo Việt Nam không phải đi tìm kiếm tính thời sự cho mình bằng cách đăng những tin tức như các tờ nhật báo ngoài đời. Tính báo chí ở báo chí Phật giáo Việt Nam có thể được gia tăng nếu báo chí Việt Nam bước ra khỏi cái “tháp ngà” cố hữu của mình, nhưng trên đôi chân Phật giáo. Quan điểm cho rằng tin tức thời sự, đối với người tu hành, đều là chuyện đời, chuyện gây nhiễm tâm, vô ích… không thể được coi là đúng một cách tuyệt đối. Một tu sĩ sống trên núi cao, hay trên đảo vắng có thể không cần biết đến tin tức, không cần đọc báo. Nhưng đại đa số Tăng, Ni, nhất là Phật tử, đang sống giữa đời thường, không thể không cần biết đến những chuyện quanh mình qua báo chí. 4.) Là thời kì hoạt động đặc biệt của Báo chí Việt Nam : Đây là thời kì báo chí nước ta nằm trong hoàn cảnh lịch sử biến động với nhiều bước ngoặt quan trọng. Yếu tố này tác động rất nhiều đến sự hình thành và phương pháp phát triển nền báo chí. Giai đoạn 1908-1918: - Sau khi Thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong thời gian này là sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục. Đông Du là phong trào sang Nhật Bản để học, du nhập Phương Đông, phong trào bắt đầu từ Quảng Nam và kéo dài trong hai năm. Đông Kinh Nghĩa Thục là một hệ thống giáo dục mà người ta chủ trương học để biết với khẩu hiệu là “Giáo dục quần chúng để cách tân xứ sở” sử dụng 2 biện pháp chính đó là mở trường dạy học và giáo dục thông qua báo chí. Mục tiêu của những nhà yêu nước là học chữ Quốc ngữ để khai hóa, xây dựng một nền văn hóa có thể nâng cao mức sống của một xứ chậm tiến thành một xứ phát triển bằng việc đọc sách báo. Vì vậy, đối với báo chí, các nhà hoạt động chính trị yêu nước muốn các tờ báo tiếng Việt phải giảm giá tới mức thấp nhất để mọi người tiếp cận thuận lợi; đồng thời chủ bút phải được lựa từ trong hàng ngũ tri thức. Nhờ đó mà hệ thống trường học được mở rộng, phổ cập giáo dục tiểu học, sự truyền bá chữ Quốc Ngữ được gia tăng. Đây là cách chuẩn bị lực lượng bạn đọc cho Báo chí Việt Nam, tạo ra một lớp người trẻ tuổi có chí tiến thủ, nhạy cảm với cái mới… Giai đoạn 1919-1930: - Trong nước giai đoạn này xuất hiện nhiều Đảng phái chính trị theo những khuynh hướng khác nhau như Đảng Lập hiến, Tân Việt, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội…Chính những tổ chức này đã khai sinh ra ở nước ta một dòng báo chí bí mật và cách mạng. Điều đáng lưu ý là các Đảng phái trên đều có hệ thống báo chí riêng của mình, các dòng báo chí đó luôn luôn đấu tranh với nhauddeer tuyên truyền và tập hợp lực lượng cho mình, khiến cho hoạt động báo chí ở nước ta trở nên khá sôi động. - Đứng trước những phong trào chính trị đang diễn ra sôi nổi, chính phủ Pháp cho thực hiện chính sách mới nhằm xoa dịu không khí chính trị căng thẳng này. Đó là chính sách “Pháp- Việt đề huề”, tác giả của nó chính là Anbe Srraut. Người Pháp hứa hẹn: Sẽ trả quyền độc lập cho các quốc gia ở Đông Dương; người dân bản xứ sẽ trở thành công dân, đặt ngạch bậc cho người dân bản xứ có chức vị tương đương với công chức người Pháp; “làm cho dân bản xứ được sống thái bình, cùng thương nghiệp, học thức mở mang, xã hội tiến bộ…” Chính sách này đã trở thành nội dung chính cho các tờ báo công khai, lừa bịp một số nhà báo có tinh thần yêu nước trước đây. Báo chí Việt Nam lúc này vì vậy mà chia thành 2 khuynh hướng khác nhau đó là phái ca ngợi tư tưởng Pháp- Việt đề huề và phái chống lại tư tưởng đó. 5). Báo chí hoạt động với nhiều khuynh hướng khác nhau : Chính những ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, cụ thể ở đây là hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra một thời kì phát triển của báo chí Việt Nam với phong phú thể loại đề tài, đa dạng khuynh hướng. Trong giai đoạn này, báo chí việt nam đang còn ở trong tình trạng phôi thai, kĩ thuật làm báo còn non nớt, kinh tế đất nước chưa phát triển. Bên cạnh đó, số lượng độc giả giả hạn chế vì trình độ dân trí người dân còn thấp; báo chí là một thứ hoàn toàn mới lạ với người dân bản xứ, mặt khác lại phát hành với giá quá đắt nên gây khó khăn cho việc tiếp cận của người dân; đội ngũ nhà báo thiếu phương tiện máy móc và kinh nghiệm làm việc, dời sống khiêm nhường khi hoàn toàn phụ thuộc vào trợ cấp của chính phủ…Những yếu tố này cũng tạo ra nhiều khó khăn cho sự phát triển của báo chí. Báo chí công khai, hợp pháp: là những tờ báo được chính phủ Pháp và nhà nước bảo hộ và cho phép in ấn và phát hành như tờ Nam Phong, báo Đông Pháp…. Những tờ báo này có khuynh hướng chính trị rõ ràng, nó thường phản ánh tình hình xã hội một cách khách quan và đưa tin các vụ án theo công bố của tòa án, phòng thông tin báo chí hoặc của chính quyền; hay nhân những cuộc đàn áp cách mạng mà đả kích cách mạng, chống cộng sản, ca ngợi chính sách khai hóa của Pháp… III. KẾT LUẬN : Hoạt động báo chí Phật giáo đã làm phong trào chấn hưng Phật giáo trở nên sôi nổi hơn và nung nấu trong tâm tưởng mọi Tăng Ni, cư sĩ và Phật tử một ý thức về sự thống nhất Phật giáo trên cả nước. Khi Phật Tăng Ni Phật tử của mỗi miền đã quy tụ vào một tổ chức Tăng-già và một tổ chức cư sĩ của miền đó thì cơ duyên của việc thống nhất Phật giáo toàn quốc đã tới. Đây chính là một thành quả của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt nam mà báo chí Phật giáo Việt Nam có những đóng góp hết sức quan trọng. Năm 1950, Hoà thượng Tố Liên được ủy nhiệm gặp chư tôn đức lãnh đạo các hiệp hội Phật giáo miền Trung và miền Nam để bàn chuyện thống nhất Phật giáo trong cả nước. Nhân đó, ngài được ủy nhiệm tham dự Đại hội Hội Phật giáo Liên hữu Thế giới tổ chức tại Colombo với tư cách đại diện Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam trở thành hội viên sáng lập của tổ chức Phật giáo quốc tế này. Trong đại hội đó, lá cờ năm màu do Henry Steel Olcott vẽ kiểu được công nhận là cờ Phật giáo. Trong năm 1951, lá cờ Phật giáo đã tung bay trên nền trời Việt Nam lần đầu tiên tại chùa Từ Đàm ở Huế nhân dịp cuộc đại hội Phật giáo toàn quốc được triệu tập từ ngày 6 đến ngày 9-5-1951 (từ mùng 1 đến mùng 4 tháng Tư năm Tân Mão) Đại hội toàn quốc Phật giáo Việt Nam quy tụ 51 đại biểu gồm Tăng sĩ và cư sĩ tiêu biểu đại diện cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam khắp ba miền Nam Trung Bắc, mỗi miền có một phái đoàn đại diện Tăng-già và một phái đoàn đại diện cư sĩ, đã nhiệt liệt tán thành việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Đại hội cung thỉnh hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và bầu ra một Ban Tổng Trị sự để điều hành Phật sự trên cả nước. Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong bối cảnh cả nước phát động và hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngoài nhiệm vụ làm công tác hoằng pháp, với sự tích cực của những người làm báo Phật giáo, cuối cùng vào năm 1951, Phật giáo Việt Nam đã thực sự có một bộ mặt thống nhất ban đầu. Có thể khẳng định phong trào chấn hưng Phật giáo với sự góp sức tích cực của báo chí Phật giáo Việt Nam đã hoàn thành được một phần nhiệm vụ tự đảm nhiệm. Tổng Hội Phật giáo Việt Nam sau khi thành lập đã có những hoạt động tích cực về việc phát triển Phật giáo, lấy tờ nguyệt san Phật giáo Việt Nam làm cơ quan ngôn luận chính thức. Điều quan trọng là những người làm báo đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu từ thời kỳ phát triển báo chí trước cách mạng cho nên báo chí Việt Nam thời kì này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Báo chí giai đã có những bước nhy vọt trong việc chuyển tải nội dung thông tin, sự đổi mới hình thức trong mỗi trang báo; đặc biệt các thiết bị máy móc kĩ thuật được sử dụng nhiều hơn, nâng cao chất lượng cuãng như tăng sức hấp dẫn cho tờ báo. Thời gian này, báo chí đã trở thành một phương tiện chuyển tải thông tin quen thuộc và lhoong thể thiếu đối với quần chúng nhân dân. Chính sách đổi mới của Đảng đã tạo những điều kiện thuận lợi để báo chí phát triển. Chỉ trong khoảng 20 năm đổi mới, nền báo chí đã lớn lên cả chục lần, đã có những bước phát triển chưa từng thấy về công nghệ và kĩ thuật, về quy mô ảnh hưởng cũng như trình độ tác nghiệp. Oử một số mặt, báo chí đã bắt kịp trình độ phát triển hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế.. Báo chí được phát hành rộng rãi trong cả nước, mạng lưới thông tin rộng khắp. Nội dung của báo chí cũng được thay đổi phong phú hơn và thực tế hơn; ngôn ngữ báo chí đã có sự thay đổi rõ rệt, lớp ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ chính trị đã xuất hiện trên mỗi trang viết. Nhiều khái niệm, thuật ngữ mới trong các lĩnh vực đều được đề cập và giải thích rõ ràng. Quy mô, chất lượng, số lượng báo chí cũng phát triển tăng vọt. Cuối 2007, cả nước có 702 tờ báo và tạp chí với 830 ấn phẩm, 68 đài PT-TH, trong đó có 3 đài Trung ương; trên 600 đài PT cấp huyện, xã và các tổ chức cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện….Cuối 2009, đội ngũ người làm báo ở nước ta phát triển lên hơn 17 hội viên hội Nhà báo. Đội ngũ nhà báo ngày càng được trẻ hóa, được đào tạo bài bản, có hệ thống, có chất lượng và trình độ nghiệp vụ. Nhìn lại chặng đường đã qua để thấy được rằng trên mỗi bước trưởng thành của báo chí luôn gắn liền với lịch sử dân tộc. Chính trong thực tiễn đời sống lịch sử đó mà báo chí mới có thể làm nên những điều kì diệu. Mỗi thời kì phát triển, báo chí lại có những sắc thái riêng và đặc trưng riêng. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám 1945 là thời kì đặc biệt của báo chí Việt nam, bởi lẽ, đây là thời kì báo chí nước nhà vừa mới xuất hiện, còn trong giai đoạn “trứng nươc”, đồng thời đây cũng là thời kì sảy ra nhiều biến động lịch sử trong nước cũng như thế giới. Vì thế, có thể nói rằng đây là thời kì phát triển khó khăn của báo chí khi các yếu tố kinh tế, cơ sở vật chất còn yếu kém; kinh nghiệm làm báo ở nước ta còn chưa có. Nhưng, cũng chính từ hoạt động của các tờ báo và cơ quan báo chí trong thời kì này đã để lại cho nền báo chí nước nhà nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá, góp phần xây dựng một nền báo chí vững mạnh sau này. “Vạn sự khởi đầu nan”, “Thất bại là mẹ thành công” từ trong khó khăn đó mà những người làm báo Việt trong thời kì đầu đã hoạt động rất đa dạng, sáng tao “cái khó ló cái khôn”, đã liên tục có nhiều ý tưởng mới mẻ và những cách tân trong hoạt động nghề nghiệp. Những điều trên đây đã cho thấy rằng việc tổng hợp và đúc ruta ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động báo chí trước cách mạng là vô cùng quan trọng, đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng nền báo chí Việt Nam hiện đại, phát triển ngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế giơi. HÌNH ẢNH TẠP CHÍ TỪ QUANG : Tờ tạp chí từ quang. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO : 1. Bát Nhã Âm (1936-1943), Bà Rịa, Nguyệt san, Chủ nhiệm: Đỗ Phước Tâm. 2. Từ Bi Âm (1932 - 1943), Sài Gòn, bán nguyệt san, Tổng biên tập: Lê Khánh Hòa. 3. Viên Âm (1934 - 1944), Huế, Tổng biên tập: Lê Đình Thám. 4. Phật Pháp Chỉ Niết Bàn (1941), Sài Gòn, Tổng biên tập: Hồ Ngọc Sung. 5. Quan Âm Tạp chí (1941-1942), Hà Nội, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút: Lương Văn Tuân. 6. Bồ Đề Tạp chí (1936), Sóc Trăng, Tổng biên tập: Lê Phước Chí. 7. Tam Bảo Tạp chí (1937 - 1938), Nam Định, Nguyệt san, Tổng biên tập: Trần Văn Uyển. 8. Tiến hóa Tạp chí (1938-1939), Hội Phật học Kiêm Tế - Rạch Giá, Chánh Hội trưởng: Đỗ Kiết Triệu. 9. Nguyễn Đại Đồng (2008), Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008), Nxb. Tôn giáo, 244 tr. 10. Trần Văn Giàu, Triết học và tư tưởng (1988), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 543 tr. 11. Duy Tâm Phật Học, Trà Vinh (1935 - 1941), Tổng biên tập: Nguyễn Văn Au. 12. Tiếng Chuông Sớm (1935-1936), Hà Nội, bán nguyệt san, Chủ nhiệm: Đỗ Văn Hỷ, Quản lý: Đinh Xuân Lạc. 13. Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 (2000), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 530 tr. 14. Đuốc Tuệ (1935 - 1941), Pagode Quán Sứ, Hà Nội, Tổng biên tập: Nguyễn Năng Quốc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét