THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

TIEU LUAN VAN LAM THANG CANH

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM Môn học DANH LAM CỔ TỰ VIỆT NAM Đề tài tiểu luận CHÙA PHÁP VÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện THS. VÕ VĂN TƯỜNG THÍCH LỆ DANH Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG TP. HỒ CHÍ MINH 2012 MỤC LỤC : I. DẪN NHẬP : Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa" II. LỜI NÓI ĐẦU : III. NỘI DUNG : 1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA : 2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM 3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN 3.1. THÂN THẾ : 3.2. XUẤT GIA & TU HỌC : 4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN : 4.1. THÂN THẾ : 4.2. XUẤT GIA : 4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN : 4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG : 4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU : 5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI : 6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN : 7. BẬC THẦY TINH THẦN : 8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN : 9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN : 10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM : IV. LỜI KẾT : V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN : CHÙA PHÁP VÂN TRỤ TRÌ : HT. Thích Trí Khả 244 Nguyễn Văn Ðậu Q. Bình Thạnh, TP. HCM ÐT: (08) 8 417 117 I. DẪN NHẬP : Vấn đề ngữ nghĩa về "chùa" Những ngôi chùa Việt Nam xuất hiện từ bao giờ? Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Tất nhiên khi đạo Phật truyền báở đâu thì nhiều chùa chiền xuất hiện tại đó. Song sự thật không còn một ngôi chùa nào cổ đến thế kỷ II- III sau Công nguyên. Chùa là kiến trúc Phật Giáo phục vụ cho nghi lễ và tu hành. Kiến trúc chùa chịu ba ảnh hưởng khác nhau: kiến trúc Việt, kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc Ấn. Chùa Việt xuất phát từ danh từ "Saitya", chữ Hán âm là "chi đề",hay "chế đề", dịch nghĩa là "phúc tự". Nhưng cũng thường kết hợp với "Vihâra" để trở thành một quần thể kiến trúc phức hợp. "Vihâra" chữ Hán âm là "Tì Kha La", hay "Tỵ Kha La". Ngài Nghĩa Tịnh trong cuốn "Cầu Kinh Cao Tăng Truyện" có viết: Tỳ Kha La thị trú xứ nghĩa, thử vân "tự" giai bất thị chính dịch" (Tì Kha La cónghĩa là chỗ ở, gọi là "Tự" là dịch không chính xác).Thực ra trong nguyên nghĩ thì "Tự" vốn không có nghĩa là Chùa (Khang Hy Tự Điển), tức là không đề cập đến kiến trúc Phật Giáo.Điều có những tương quan đến vấn đề kiến trúc. Nhưng "Tự" trong Hán văn có nghĩa là gì? Căn cứ theo Từ Điển Thuyết Văn thì giải thích như sau: Tự có nghĩa là đình (nghĩa làthuộc về triều đình), là có pháp độ (tức là khuôn phép của nhà nước). Phần chú thích trong "Hán Thư" có ghi rằng: Phàm phủ đình sở trú giai vị chi "tự". (Phàm nơi ở của cơ quan nhà nước đều gọi là"Tự"). Tài liệu khai triển thêm rằng: Theo chế độ quan chức thời nhà Hán ở Trung Hoa thì có Cửu Khanh; đến đời nhà Ngụy, gọi nơi làm việc của Cửu Khanh là "tự"; cho nên được đổi tên là Cửu Tự. Những đời sau, cứ theo đó để dùng đến danh từ nầy. Theo những giải thích trên thì "Tự" có nghĩa là cơ quan của nhà nước. Có người đã dịch lầm "quan tự" là "chùa công". Cửu Tự theo nguyên nghĩa là "chín bộ" trong triều đình. Đến đời Hán Minh Đế, có nhà sư ở Tây Vực là Nhiếp Ma Đằng dùng ngựa trắng để chở kinh Phật đến vùng đất Lạc Dương, vì khách là người "tứ di" cho nên được bố trí ở "Hồng Lô Tự" (nhà khách của cơ quan ngoại giao). Về sau, có dựng lên một công trình kiến trúc khác cho nhà sư. Nhân việc ngựa trắng chở kinh mà đặt tên là Bạch Mã, vì đã từng ở Hồng Lô Tự nên gọi là Bạch Mã Tự. Từ đó về sau, "Tự" có nghĩa là "Phù đồ", để chỉ nơi tu hành của nhà sư. Xem như vậy, Saitya (Chi đề) là nơi thờ Phật, tụng kinh, thuyết pháp. Vihâra (Tăng Phòng) là nơi cư trú của chư tăng. "Chi đề" vốn chỉ là một kiến trúc hình ống phía sau tròn, có một "Stupa" hay một tượng Phật, hay cả hai làm đối tượng cúng dâng, tụng niệm. Chư tăng vừa đi vòng quanh biểu tượng Phật, vừa tụng niệm hay ngồi trước biểu tượng Phật. II. LỜI NÓI ĐẦU : Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc về cộng đồng làng xã, Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy. "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc. Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái. Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói... Nhưng người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân cư, gọi là của "công đức". Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa. Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp. Ngoài ra các tên này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân đèn... trong một danh sách dài. Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau. Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau. Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa. Kiến trúc chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và không gian khác nhau, ở các phong cách kiến trúc địa phương. Chùa kiểu chữ Tam phổ biến hơn miền Nam hơn ở miền Bắc. Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa Việt Nam, là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có nhiều chùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại. Tầng trên của Tam quan có thể dùng làm gác chuông. III. NỘI DUNG : 1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ VỀ NGÔI CHÙA : Chùa Pháp Vân, số 244, Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là ngôi chùa cố kính, khang trang, lâu đời với nhiều giá trị uy nghiêm, quý giá. Chùa do HT Thích Trí Khả làm trụ trì. Chùa Pháp Vân từ lâu đã là biểu tượng tuyệt vời về hình ảnh chân tu và hoạt động từ thiện xã hội của các thầy và phật tử tại đây. • Năm thành lập: 1964 • Người sáng lập: HT Thích Huyền Thâm • Hệ phái: BẮC TÔNG • Đặc điểm: Có phòng phát hành Kinh Sách • Chư vị trụ trì tiền nhiệm: HT Thích Huyền Thâm (1964-1974) • Trụ trì hiện nay: HT Thích Trí Khả • Các ngày lễ lớn trong năm: 15-4 ÂL đến 16-7 ÂL: Mùa ACKH của đại chúng Chùa Pháp Vân; 17-11 ÂL vía Di Đà; Hàng Tháng vào mùng 1 và rằm có tổ chức thọ Bát quan trai. 2. TỔNG QUÁT VỀ KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT NAM Việt Nam hiện nay có khoảng 14.500 ngôi tự viện Phật giáo trên khắp đất nước của ba Hệ phái chính là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ. Ở miền Bắc chỉ có ngôi chùa Phật giáo Bắc tông. Ở miền Trung (từ Quảng Trị trở vào) và miền Nam, ngoài ngôi chùa Phật giáo Bắc tông, còn có ngôi chùa Phật giáo Nam tông Việt, Nam tông Khmer và ngôi tịnh xá Phật giáo Khất sĩ. Các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Trung Quốc có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa. Đó là kiểu chữ Đinh, kiểu chữ Công, kiểu chữ Tam và kiểu chữ nội Công ngoại Quốc. Tên những kiểu chùa này chỉ dựa vào cụm kiến trúc chính. Trong chùa, còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, nhà tăng, gác chuông, tháp, tam quan … Ngoài người Kinh, còn có chùa ở một số dân tộc thiểu số. Chùa của người Mường làm bằng tranh tre đơn giản. Chùa người Khmer được xây dựng đẹp, có bộ mái ảnh hưởng Campuchia và Thái Lan. Chùa người Hoa cũng có sắc thái kiến trúc riêng. Tính đa dạng của kiến trúc chùa Việt Nam càng tăng khi xuất hiện những ngôi chùa hiện đại được xây dựng gần đây. Chùa Pháp Vân nằm trên một khuôn viên rộng 3000m2 (Tổng diện tích lúc đầu là 7000m2) giữa một khu phố khá yên tĩnh trên đường Nguyễn Văn Đậu, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh (trước đây là đường Ngô Tùng Châu, Gia Định, Sài Gòn). Chùa do HT Thích Huyền Thâm xây dựng vào năm 1964. Nguyên mảnh đất xây dựng chùa này do gia đình đạo hữu Võ Doãn Ất và bà Đặng Thị Nhãn hỷ cúng cho Thượng Tọa Huyền Thâm để kiến tạo ngôi già lam này. Vào năm 1974, HT Huyền Thâm về trụ trì Tổ Đình Long Hưng ở Phan Rang, chùa Pháp Vân được HT Thích Huyền Vi kế nhiệm trụ trì (lúc đó HT đang giữ chức tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng Pháp thuộc GHPGVNTN sau 10 năm du học ở Ấn Độ về) và phát triển thành cơ sở hoằng pháp của Giáo hội. Trong thời gian này có chư Đại đức Nhựt Minh, Đại Đức Tâm Tựu và Đại Đức Trí Khả hỗ trợ với Hòa Thượng để chăm sóc cơ sở này và đến năm 1977, Thượng Tọa Thích Trí Khả được HT Thích Huyền Vi chính thức bổ nhiệm giữ chức trụ trì cho đến ngày nay. Cấu trúc ngôi chùa Pháp Vân gồm có chánh điện, nhà tổ, trai đường, giảng đường, phòng khách, phòng tăng, nhà thờ cốt ... * Chánh điện: Xây dựng vào năm 1964 dài 25m2 và ngang 9m2. * Cổng Tam Quan: Phía trước sân, mặt tiền đường Nguyễn Văn Đậu, cao 6m, rộng 7m, bê tông cốt thép xây dựng năm 1964. * Phòng Tăng: Gồm mười hai phòng. * Phòng khách: Hai phòng, một dành cho khách Tăng, một dành cho khách cư sĩ (phòng nằm bên hông chánh điện, xây cất năm 1995). * Chuông Đại Hồng Chung: đường kính 01m, nặng 330kg, được đúc tại chùa Pháp Vân vào năm 1992 do nghệ nhân Thanh Thảo đảm trách. * Tượng bổn sư bằng xi măng ngồi, cao 2m5, thếp vàng, thờ tại chánh điện. * Tượng Quán Âm Lộ Thiên, cao 3m, thiết trí trước sân chánh điện vào năm 1977. * Nhà thờ cốt: rộng 8m, dài 6m, phía sau chánh điện, sữa chữa lại năm 1996, hiện thờ gần 200 hủ cốt. 3. ĐÔI NÉT VỀ HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA PHÁP VÂN 3.1. THÂN THẾ : Hòa thượng THÍCH HUYỀN THÂM thế danh Nguyễn Khắc Kim, sinh năm 1930 tại Tuy Phước. tỉnh Bình Định. Thân phụ là Nguyễn Phục và thân mẫu là Nguyễn Thị Nhãn, cả hai vị đều đã mãn phần. Ngài là người con thứ trong một gia đình nho giáo thanh bần trung nông. Ngài có 2 anh trai và 2 chị em gái và 1 em trai (nay còn 1 chị và Ngài). 3.2. XUẤT GIA & TU HỌC : Ngài xuất gia năm 1941 với Hòa Thượng Thích (thượng) Trí (hạ ) Thắng, trụ trì Tổ đình Thiên Hưng thuộc thị xã Phan Rang. - Năm 1948, Ngài thọ Sa di giới. - Năm 1952 Ngài thọ Cụ túc giới. - Năm 1950-1956, Ngài theo học tại Tùng Lâm Ấn Quang, Sài Gòn. 4. ĐÔI NÉT VỀ THƯỢNG TỌA TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN : 4.1. THÂN THẾ : Hòa Thượng Thích Trí Khả, pháp hiệu Đức Siêu, thế danh Phạm Văn Xích Châu, sinh năm 1944 (Giáp Thân). Chánh quán: làng Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Thân phụ là cụ Phạm Văn Pháp (PD Thiện Pháp) và thân mẫu là bà Võ Thị Nhung (PD Diệu Thiện), cả hai vị đều đã mãn phần. Ngài là người con thứ tám trong gia đình thanh bần trung nông, ngài có 10 anh chị em, 7 trai, 3 gái. 4.2. XUẤT GIA : Xuất gia năm 1969, y chỉ sư là Hòa Thượng Thích (thượng) Thiên (hạ) Thành, trụ trì chùa Thoại Sơn, Núi Sập, Châu Đốc. Năm 1971 thọ sa di giới. Năm 1972 thọ cụ túc giới. Năm 1973-1975 đã theo học khóa “Sứ giả Như Lai" (khóa học đào tạo giảng sư cho ban hoằng pháp thuộc GHPGVN) mở tại chùa Phật Quang, Chợ Lớn. 4.3.TRỤ TRÌ CHÙA PHÁP VÂN : Năm 1975, Thượng tọa về tĩnh tu tại chùa Pháp Vân Q. Bình Thạnh, TP HCM (Nguyên là cơ sở của HT. Thích Huyền Vi). Năm 1977: Hòa Thượng chính thức đảm nhận chức trụ trì chùa Pháp Vân do Hòa thượng Thích Huyền Vi (hiện đang ở tại Pháp, bổ nhiệm). Năm 1978-1980: Tu bổ lại chùa và ổn định tăng chúng nội tự. Năm 1981: Hòa Thượng tổ chức mở trường hạ cho chư tăng nội tự và các tỉnh có cơ hội để tu học. Trường hạ đầu tiên này đã trở thành một truyền thống tốt đẹp mà đến nay chùa Pháp Vân vẫn duy trì Khóa hạ đầu tiên đó gồm có 45 vị (30 vị tỳ kheo và 15 vị sa di) Năm 1982-1996: Tiếp tục mở các khóa hạ tập trung hoặc nội bộ cao tăng chúng tu học. Đặc biệt vào các năm 1984, 1985, 1989 và 1990 là những năm mở trường hạ cấp quận cho tăng chúng trong thành phố và các tỉnh lân cận về tu học. 4.4. TIẾP NHẬN ĐỒ CHÚNG : Như là một hạnh nguyện trong cuộc đời hành đạo của mình, Hòa Thượng đã gạt bỏ tư tưởng địa phương, vùng, miền, mà tiếp nhận bất cứ vị tăng lớn nhỏ nào đến xin tá túc tu học tại chùa Pháp Vân. Do đó, chúng ta không có gì ngạc nhiên khi thấy chư tăng tại Pháp Vân có mặt đủ cả 3 miền Nam, Trung, Bắc. Hai mươi năm qua đã có biết bao lượt tăng chúng đến tu học rồi ra đi làm Phật sự ở trong và ngoài nước. 4.5. NHẬP THẤT TĨNH TU : Hằng năm, từ ngày mùng một tháng tám đến ngày mười bảy tháng mười một Âm lịch (01/08-17/11/AL) là thời gian Thượng tọa nhập thất tĩnh tu trong ba tháng, sau chín tháng làm Phật sự ở ngoài. Đây là một công hạnh tốt đẹp mà thượng tọa đã duy trì trong hai mươi năm qua. 5. THAM GIA CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI : Bắt đầu những năm tám mươi trong cương vị của mình, Hòa Thượng thường tổ chức các chuyến đi ủy lạo đến các vùng kinh tế mới, để giúp đỡ cho người dân nghèo từng miếng cơm, manh áo, khám bệnh phát thuốc, góp phần làm giảm bớt nỗi đau khổ cho cuộc đời. Trên con đường từ thiện xã hội, Hòa Thượng đã cùng với Hòa Thượng Chơn Phương (viện chủ Pháp Hoa Tịnh Viện, Huyện Nhà Bè). Quý Linh Mục Đạt, LM Quý, BS Nguyễn Quý Hoạt, Má Năm Cầu Muối, cô Diệu Kim, cô Thanh Liêm, anh Quang, BS Liêm ... đến với các trại phong như Thanh Bình (Thủ Thiêm), Bến Sắn (Sông Bé), Bình Minh (Long Thành) ... để an ủi, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong suốt 20 năm qua. Công tác từ thiện của Thượng tọa không dừng ở chỗ cho cơm áo mà tiếp đó là hướng dẫn cho họ tu tập theo đạo lý nhà Phật. Công tác từ thiện của Thượng Tọa vẫn đang tiếp tục và mở rộng đến các tỉnh Tây Nguyên, và các tỉnh phía Bắc ... 6. THIẾT LẬP TỰ VIỆN : Trên con đường làm từ thiện xã hội, một vấn đề khác lại nảy sinh, đó là nhu cầu tu học của người Phật tử tại các vùng kinh tế, vùng ven, tỉnh lỵ ... Hòa Thượng đã cùng với nhân dân Phật tử địa phương xây dựng các ngôi tự viện để có nơi cho họ tu học và giữ gìn truyền thống văn hóa của nước Việt. Tính đến nay Thượng tọa đã góp phần xây dựng các ngôi tự viện . 1. Chùa Pháp Tràng (Thừa Đức III. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). 2. Chùa Bảo Minh (Cẩm Đường VI, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). 3. Chùa Quan Âm (Ấp VIII, Cẩm Đường, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). 4. Chùa Pháp Linh (Ông Quế II, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). 5. Chùa Pháp Quang (Ông Quế III, Long Khánh, tỉnh Đồng Nai). 6. Chùa Hoa Lâm (Mépu I, Đức Linh, tỉnh Bình Thuận). 7. Chùa Quảng Hương (Đức Chính, Đức linh, tỉnh Bình Thuận). 8. Chùa Phước Sơn (Đức Phú, Tánh Linh, Tỉnh Bình Thuận). 9. Chùa Huê Nghiêm (Đức Tân, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). 10. Chùa Quảng Hương (Nghị Đức, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). 11. Chùa Bảo Lâm (Huy Khiêm, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). 12. Chùa Quảng Đức (Đức Bình, Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). 13. Chùa Huệ đức (Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận). 14. Chùa Phước Điền (125 Tân Phú, tỉnh Đồng Nai). 15. Chùa Phật Bửu (tỉnh Long An). 16. Chùa Phật Bửu (Vĩnh Bình). 17. Chùa Đại Minh (Hải Phòng, Bắc Việt). 18. Chùa Viên Quang (Đội 6, Hòa Bình, Vũng Tàu). 19. Chùa Niệm Phật Đường (Đội 2, Hòa Bình, Vũng Tàu). 20. Chùa Pháp An (Đội 3, Hòa Bình, Vũng Tàu). 21. Chùa Bảo Quang (Cẩm Đường, Long Khánh, Đồng Nai). 22. Chùa Mục Đồng (Giồng Trôm, Bến Tre). 23. Chùa Quy Thuận (Giồng Trôm, Bền Tre). 24. Chùa Liên Sơn (Thị Trấn Bến Tre) 25. Chùa Long Hà (Sông Bé). 26. Chùa Long Hưng (Sông Bé). 27. Chùa Thanh Trí (Sông Bé). 28. Chùa Báo Ân (Xuân Hòa, Xuân Lộc Đồng Nai). 29. Chùa Nghiêm Phúc (Thái Bình, Bấc Việt). 30. Chùa Hưng Phước (Bình Đại, Bến Tre). Và những chùa thường được Thượng tọa lui tới thăm viếng, hỗ trợ kinh sách, tượng Phật và tổ chức, hướng dẫn Phật tử vào các ngày đại lễ như Phật Đản, Vu Lan ... gồm có các chùa: 1 Chùa Huệ Ân (Bến Tre). 2. Chùa Hiếu Huệ (Bến Tre). 3. Chùa Quảng Minh (Đức Linh). 4. Chùa Quảng Chánh (Tánh Linh). 5. Chùa Khánh Sơn (Đắc Lắc). 6. Chùa Niệm Phật Đường (Đắc Lắc). 7. Chùa Bình Quang (Bà Rịa Vũng Tàu). 8. Chùa Vũ Lao. (Hà Nam Ninh, Bắc Việt). 7. BẬC THẦY TINH THẦN : * Truyền Tam Quy Ngũ Giới : Tính đến nay đã có hơn 5000 cư sĩ tại gia trọng thành phố và các tỉnh thành được Thượng tọa truyền thọ Tam Quy Ngũ Giới để tu học. 8. BẢN NỘI QUY SINH HOẠT CỦA CHÙA PHÁP VÂN : Để cho thiền môn được nghiêm tịnh, tất cả đại chúng đều phải chấp hành đúng nội quy sau đây: Y theo tinh thẩn giáo luật và lục hòa mà sinh hoạt. SINH HOẠT CƠ BẢN: Gồm 3 phần: Tu - Học - Hạnh Tu: Gồm tụng kinh và ngồi thiền. 9. LỄ KHAI HẠ KHÓA AN CƯ TẠI CHÙA PHÁP VÂN : cứ mỗi mùa hạ trở về sau ngày Đức Từ Phụ đản sinh, những người con Phật khoát áo ca sa từ tứ phương lại trở về an trú với nhau để cùng tu học, ôn lại giáo pháp Như Lai, ngỏ hầu trưởng dưỡng đạo tâm, tài bồi giới hạnh. Với ý nguyện đó, mong muốn nơi đạo tràng Pháp Vân này sẽ lại là nơi dừng chân tu học của hàng tăng lữ, cũng là nơi để hàng Phật tử nương nhờ hình bóng Tăng già tu tập Pháp lành, gieo ruộng phước điền cầu quả phúc mai hậu. Chính vì ý nguyện đó mà Ban đại diện Phật Giáo quận Bình Thạnh và chùa Pháp Vân đứng ra tổ chức khóa an cư kiết hạ tại trú xứ Pháp Vân tự để chư Tăng có nơi tu học. Việc chùa Pháp Vân tổ chức khóa an cư kiệt hạ, là niềm vui mừng cho hàng tử bổn tự và khắp nơi gần xa, và đó là nỗi hoan lạc tự hào cho chư tăng nói chung và chùa Pháp Vân nói riêng. Nhờ công đức tu tập của Chư Tăng thúc liễm trong ba tháng, hy vọng đạo tràng sẽ rạng rỡ, hưng thịnh hơn trong tương lai, cũng nhờ "đức chúng như hải”, chư Tăng sẽ có thêm sự gia bị để hoàn thành sứ mạng hoằng truyền giáo pháp, báo Phật ân đức. 10. CÂU LẬP BỘ TỪ THIỆN ĐỒNG TÂM : Từ thiện Đồng Tâm (TTĐT) là Hội thiện nguyện hoạt động phi lợi nhuận, phi chính trị và không phân biệt tôn giáo với mục đích giúp đỡ và chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn cùng làm cuộc sống tốt đẹp hơn. TTĐT mong muốn ngày càng phát triển hoạt động từ thiện để trở thành điểm đến đáng tin cậy của vô lượng tình thương kết nối tấm lòng từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đến với người nghèo khó. Thời gian hoạt động từ tháng 8-2008. Tình nguyện viên của nhóm ở nhiều lứa tuổi, đa dạng các ngành nghề và phần lớn sống tại TP.HCM. Website ra mắt hoạt động vào 12/12/2009. IV. LỜI KẾT : Lướt sơ qua những công tác Phật của HT kể từ khi HT về trụ trì chùa Pháp Vân thật không thể nghĩ bàn, đó là công việc Phật sự ớ ngoài, còn ở trong chùa thì HT thường tuyên bố "vị nào có duyên, muốn đến thì cứ đến, HT không từ nan, mà hết duyên đi HT cũng không cản, nhưng phần đông chúng ở đây là những vị đang theo học các trường cơ bản và cao đẳng Phật học - tính ra số chúng của chùa cũng hơn 40 vị kể cả Tỳ kheo và chúng diệu, ngoài ra HT nuôi 6 bà đã già yếu không ai nuôi dưỡng hoặc nương vào ân đức của HT cho đến khi mãn phần. Với công hạnh của HT viện chủ chùa Pháp Vân là “Phụng sự chúng sanh cúng dường chư Phật” cho nền HT không từ nan một việc làm nào, dù là nhỏ nhặt như: Cơm nước hàng ngày, củi đuốc, sửa sang phòng ốc, đích thân HT làm không phải sai bảo ai, nếu ai thấy việc cứ phụ tiếp với HT thì tốt, bằng không HT cũng vẫn làm với tấm lòng vô chấp, vô ngã, còn vần đề ăn mặc của HT thì quá đơn giản, ăn cùng ăn với chúng, làm thì làm không cần chúng. Cho nên lắm lúc có những Phật tử ở xa đến chùa lần đầu, thấy HT đang làm công việc bên đến hỏi "Bạch thầy cho em gặp HT trụ trì ...” HT liền ân cần mời họ vào chỗ tiếp khách và nói: "Đạo hữu ngồi đây tôi vào mời thầy trụ trì cho: Khi ra HT mặc áo tràng hỏi: “gặp thầy trụ trì có việc gì không?”, lúc đó Phật tử mới bàng hoàng, khi nhận tôn nhan của HT thì họ quá ăn năn và xin đảnh lễ sám hối HT. Sau đó họ có nguyện vọng gì để lo cho Phật sự thì HT tùy duyên mà chỉ giáo và trợ lực. CHIẾC ÁO NÂU SÒNG Kính dâng Thầy trụ trì chùa Pháp Vân, TP HCM. Con chưa đến chùa Chưa một lần Biết nơi thầy ở Nhưng ngưỡng mộ Thầy Qua chiếc áo cà sa Vỗ vào lòng con Những đợt sóng hiền hòa Thổi vào lòng con Ngọn gió lành mát rượi Con muôn quì Dưới chân Thầy Sám hối Chẳng quá lời đâu Chùa Pháp Vân Con chưa hề tới Nhưng ngưỡng mộ Thầy Qua chiếc áo nâu sòng Bạc màu, dân dã Đi đến nơi đâu Cảm hóa được lòng người Từ Bắc, Trung, Nam Từ Nam ra Bắc Ở đâu đâu Cũng có gót chân Thầy Nghèo đói miền Trung Bão lụt miền Tây Trại hủi, trại cùi, nơi cô nhi viện ... Ở đó tôn tạo chùa Nơi đây xây chánh điện ... Đều có bàn tay Thầy Giúp đỡ, trợ duyên Thầy là người cao cả, người hiền Là hàng Bồ Tát hiện tiền, hiện thân Dẫu con chưa được một lần Cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Người Nhưng trong giấc ngủ nụ cười Trên môi Thầy nở những lời Từ bi Dạy rồi, Thầy lại ra đi Bâng khuâng con vẫn chân quì, mãi trông Từ Trung, Nam, Bắc, Tây, Đông, Phất phơ tà áo nâu sòng gió bay. V. HÌNH ẢNH SINH HOẠT CHÙA PHÁP VÂN : Cổng tam quan chùa khi xưa Cổng tam quan chùa hiện nay Phía Trước chánh điện Giảng đường tu tập nằm phía tây đối diện chánh điện Thời khóa tụng kinh tu bát quan trai Chánh điện chùa pháp vân mặt hướng về phía tây Thời khóa tụng kinh 8h sáng : chùa pháp vân tụng kinh chú dạ lục thời Lễ sám hối ở chùa pháp vân Hồng chung nặng 350k đúc ngày 3 tháng 7 năm 1992 Mõ gia trì hằng ngày tụng niệm Chuông gia trì tụng niệm hằng ngày Phía sau chánh điện là hậu tổ, nơi tôn thờ các Vị Tiền Bối Cao Tăng Nơi thờ chư vong linh, đối diện hậu tổ Quả đường nơi chư Tăng độ chay Đây là quà lưu niệm khi HT ra thất hằng năm 1/8 AL đến 17/11 Đài Quan Âm lộ thiên, chánh giữa khung viên chùa hướng về phía bắc Vườn lâm tỳ ni phía nam từ chánh điện Điện Di Lặc nằm bên hông phía bắc từ chánh điện Tháp thờ Ngài Huyền vi nằm phía sau điện di lạc Bức phù điệu Đức Bổn Sư thuyết pháp phía sau lưng điện Di Lặc Tổ đường cũng là nơi HT nhập thất hằng năm HT và tăng chúng Di ảnh Ngài Huyền Vi trong bảo tháp Đức Bổn Sư Thích Ca tôn nghiêm nơi chánh điện HT khai sơn chùa pháp vân HT trụ trì chùa pháp vân HT Từ Hòa tri sự chùa pháp vân Hội Từ thiện đồng tâm chùa pháp vân Chương trình tiếp sức mùa thi hằng năm của chùa pháp vân HT trao học bổng tại chùa Cầu xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình (Vĩnh Long) do từ thiện đồn tâmg thực hiện căn nhà đại đoàn kết tại xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29-5-2011 Tặng quà cho các em người dân tộc xã Tà Lài, huyện Tân Phú (Đồng Nai) Trao học bổng tại chùa pháp vân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang khởi công xây cầu bê-tông tại ấp Bình Hòa, xã Phương Phú. Ngày 30-6, Từ thiện Đồng Tâm (chùa Pháp Vân, Q.Bình Thạnh) đến bàn giao cầu và đường tại ấp Xẻo Sâu, xã Tân Hưng, huyện Ba Tri (Bến Tre).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét