THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
TU TUONG THIEN HOC PHAP LOA
MỤC LỤC :……………………………………………………………………Trang
I). DẪN NHẬP :………………………………………………………………….2
II). PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP :…………………………………………….3
III). PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN :…………………………………………4
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :……………………………………..5
V). THIỀN SƯ PHÁP LOA :……………………………………………………6
VI). NỘI DUNG :……………………………………………………………….8
1). TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA PHÁP LOA :………………………….….8
2). PHƯƠNG PHÁP THAM CỨU THOẠI ĐẦU :………………………..……9
3). THIỀN SƯ PHÁP LOA VÀ PHÁP CHỈ THẲNG :……………………..…11
4). PHƯƠNG THỨC HÀNH THIỀN :…………………………………………13
5). LỢI ÍCH TU THIỀN :……………………………………………………….14
VII). KẾT LUẬN :………………………………………………………………15
TÀI LIỆU THAM KHẢO :……………………………………………………..17
TÌM HIỂU NỘI DUNG TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA TỔ PHÁP LOA TRONG THIỀN ĐẠO TINH YẾU ĐƯỢC GHI TRONG TÁC PHẨM TAM TỔ THỰC LỤC
NHỊ TỔ PHÁP LOA
(1284 - 1330)
I). DẪN NHẬP :
Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời vì một đại sự nhân duyên “KHAI THỊ NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN CHO CHÚNG SANH” – Ngọn đuốc trí tuệ đó Đức Phật đã thắp lên từ hơn 25 thế kỷ qua vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay. Để tiếp nối hạnh nguyện cao cả của Đức Phật, các Thiền sư thời Lý – Trần đã sống và hành động theo lời dạy của Đức Phật:
“ Này chư Tỳ Kheo ! Hãy du hành vì lợi ích, vì an lạc, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”. Đồng thời, các Thiền sư đã cụ thể hóa lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Các Ngài đã đến với cuộc đời một cách tự tại, vì lợi ích cho đất nước, cho con người, không vì vụ lợi riêng tư mà bằng tinh thần “Vô ngã vị tha”, kết hợp với tinh thần nhân bản, bằng giáo lý tư,ụ bi, hỷ, xả, hài hoà tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, làm nên một tư tưởng sống “phụng sự” đạo pháp – dân tộc và chúng sanh.
Ngày nay, cách buổi đầu Thời Lý – Trần hàng ngàn năm, bài học khách quan lịch sử đã khắc họa đậm nét hình ảnh nhập thế của các vị Thiền sư thời Lý – Trần, những hình ảnh đó không còn hạn cuộc bởi không gian, thời gian. Tất cả đã trở thành “những ngôi sao sáng” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong lòng con người Việt Nam đã qua, hiện tại và mãi về sau.
Vì vậy, bất cứ người Việt nào, khi đọc lại những trang sử nước nhà, không ai không tự hào về đất nước mình – đất nước đã sản sinh ra những vị Thiền sư, hy sinh lợi ích cá nhân, hòa nhập vào lợi ích chung của đất nước, sẵn sàng xả thân khi đất nước lâm nguy. Và khi xong việc, các Ngài thong dong tự tại quay gót trở về với núi rừng sơn thủy, chọn am tranh làm chốn tu hành. Song, ở nơi đây, những con người ấy không chỉ chuyên lo tu Thiền mà lại một lần nữa các vị đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học Việt Nam, với những áng thơ Thiền bất hủ. Vì thế, có thể nói mỗi Thiền sư là một thi nhân. Thông qua tác phẩm của mình, các vị đã gởi gấm tâm tư, những trải nghiệm qúy báu trong qúa trình tu tập.
II). PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP :
Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Như chúng ta biết: Việt Nam nằm trong bán đảo Indochina (Đông Dương), là cái gạch nối địa lý giữa hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Vì thế, Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh cổ xưa Ấn Độ và Trung Hoa.
Từ thời xa xưa trước Công nguyên, thương nhân Ấn Độ đã giao thương với các nước Phương Tây và để có đủ hàng cung cấp cho họ, thương nhân Ấn Độ giong thuyền theo gió mùa Tây Nam đi về phía Đông Nam Á, đến Mã Lai, quần đảo Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển Đông, đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản.
Trong những năm đầu của Công nguyên, các thương nhân của Ấn Độ qua miền Viễn Đông để mua các thứ gia vị, hương liệu, gỗ, trầm hương, vàng v.v…. Đạo Phật đã theo những đoàn khách buôn, bằng ngã đường thủy băng qua Srilanka, Java, Indonésia và Trung Quốc. Ở những địa phương nào mà thương nhân ghé lại, nơi thừa tự được thiết lập để nguyện cầu bình an, may mắn. Từ đó, tư tưởng tôn giáo được gieo rắc cho nhân dân địa phương. Như vậy, Phật giáo Việt Nam đã có từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch.
Còn nhiều sử liệu khác cho biết đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm, sớm hơn Trung Quốc rất nhiều. Như theo Thiền Uyển Tập Anh, một tác phẩm được hoàn thành vào đời Trần, trong đó có Thiền sư Thông Biện viết về Thái Hậu Linh Nhân (Ỷ Lan), mẹ vua Lý Nhân Tông có hỏi Thiền sư về đạo Phật vào Việt Nam từ lúc nào? Thiền sư tâu với Thái Hậu chuyện Đàm Thiên Pháp sư, người Trung quốc, trả lời vua Tùy Cao Tổ là Tùy Văn Đế về Phật giáo ở Giao Châu. Ngay từ khi mới lên ngôi, nhà vua đã báo ân Phật bằng cách hỗ trợ Tam Bảo khắp nơi. … Nhà vua đã xây tháp thờ xá lợi Phật, với 49 tháp, xây 150 ngôi chùa. Để thêm phước đức, lợi lạc quần sinh, nhà vua ngỏ ý với Pháp sư Đàm Thiên, muốn làm chùa tháp ở Giao Châu, nhưng qúa xa xôi. Vua nói rằng: “Xứ Giao Châu tuy nội thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị ràng buộc mà thôi. Vậy ta nên chọn các Sa môn có danh đức, sai sang để giảng hóa. May chi sẽ làm cho tất cả nhân dân được phép Bồ Đề”. Pháp sư bèn tâu với nhà vua là xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Do đó, khi Phật pháp đến Giang Đông chưa đầy đủ, thủ đô Giao Châu đã có đến 20 ngôi chùa, có hơn 500 vị Tăng, kinh đã dịch được 15 cuốn. Như thế cho thấy Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Trung Quốc.
III). PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN :
Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý – Trần Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinh thần an lạc, hòa hợp và thuần từ.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng. Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Như vậy, hai triều đại Lý – Trần tồn tại gần 400 năm. Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Thêm vào đó, họ đã thấm nhuần lời chỉ bảo của Thiền sư Pháp Thuận:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô cư như điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch:
Vận nước như giây quấn,
Trời Nam ôm thái bình.
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh.
Muốn đất nước thái bình, thịnh trị. Chính nơi bản thân các vua đã tự trau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật. Các vua không ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõ giáo lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ, không khép kín mà phổ biến khắp nơi trong dân chúng, khiến họ cùng học tập theo và sống đúng. Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến chân – thiện – mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phải nơi một thế giới xa xăm nào khác. Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Nam đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sáng thuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánh kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng. Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa. … Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành một quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộc sống.
Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của Phật giáo. Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con người và trong công cuộc xây dựng đất nước như cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Để đánh thắng một kẻ thù có sức mạnh về vật chất và quân sự gấp hàng trăm lần chúng ta, dân quân ta dưới sự lãnh đạo của các ông vua Phật tử đã áp dụng những đường lối chiến lược và chiến thuật đầy trí tuệ, cho phép triển khai mọi ưu thế của một cuộc chiến tranh nhân dân, đánh địch ngay trên đất nước của mình.
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 939 và đặc biệt sau khi nhà Lý ra đời (1010) nền độc lập nước ta dần dần được củng cố. Đạo Phật ở giai đoạn này cũng khá phát triển và đóng góp một cách tích cực trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nhưng vào thời điểm này, Phật giáo Việt Nam do ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, cho nên tư tưởng Phật giáo Việt Nam còn mang sắc thái Ấn Độ hay Trung Hoa, hoặc cả hai dung hòa với nhau chứ chưa phải là Phật giáo Việt Nam theo đúng nghĩa của nó. Tình hình này có thể vẫn kéo dài nếu như Trần Nhân Tông không sáng lập ra Phật giáo Trúc Lâm. Kể từ đó Phật giáo Việt Nam mới có diện mạo riêng, cái chất Việt Nam được thực hiện trong tư tưởng, trong tổ chức. Giờ đây, Phật giáo Việt Nam mà tiêu biểu là Phật giáo Trúc Lâm là Phật giáo nhập thế, liên hệ mật thiết với chính trị, phong hóa và xã hội. Đúng như tác giả Mạn Đà La đã nhận định trong bài viết của mình: “Tư tưởng của Trần Nhân Tông là một thể hiện nhất quán của đạo và đời, xuất thế và nhập thế. Vì vậy tinh thần của thiền học Trúc Lâm là một thiền học dân tộc. Nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người, giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác không ngừng tích cực xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước hết phục vụ cho đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa trong cuộc sống của mình”.
Đối với bản thân Nhân Tông – Điều Ngự, trước sau là một, chẳng bao giờ tách ra làm hai. Khi ở ngôi vua thì là “bậc nhân minh anh vũ” như Ngô Sĩ Liên đã nhận định, chiến công hai lần dẹp giặc ngoài lừng lẫy, trong thì gần tình người, cùng nhau xây dựng đất nước quy cũ, bề thế vững vàng. Ngoài việc nước, có giờ phút nào rảnh rỗi lại trao đổi nghiên cứu học tập Phật lý. Lúc đã là Thiền sư vẫn giúp vua con điều hành “quốc sự”, đồng thời rất có ý thức phát triển Phật giáo, và thành lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng Thiền mang sắc thái Việt Nam, gạt bỏ những ảnh hưởng lai tạp từ bên ngoài đưa vào. Đạo và đời, đời và đạo trong con người Nhân Tông – Điều Ngự hòa nhập với nhau rất tự nhiên và Phật giáo đời Trần nhập thế rất rõ nét.
Với sức sống và đặc thù của dân tộc Việt Nam bất khuất dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một con người nổi bật trong giới Phật giáo đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ, người được tán tụng như một Thiền sư tuyệt vời trong lớp áo cư sĩ, và cũng chính trí tuệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nun đúc, vun vén trí tuệ cho Trần Nhân Tông đi tu, thống nhất các dòng Thiền, thành lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử.
V). THIỀN SƯ PHÁP LOA :
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước. Đó là vài nét nổi bật của Thiền sư Pháp Loa.
*Gia thế :
Sư tên tục là Đồng Kiên Cương. sinh ngày 7 tháng Năm năm Giáp Thân (tức 23 tháng 5 năm 1284), quê ở hương Cửu La, huyện Chí Linh, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Cha tên là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.
Tương truyền, mẹ ông nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó mang thai. Trước đó bà đã sinh 8 người con gái, nên khi có ông, tưởng sẽ là gái nữa, nên thất vọng uống thuốc phá thai. Phá tới bốn lần mà thai không hư, vì thế khi sinh, ông được đặt tên là Kiên Cương, có nghĩa là "cứng rắn".
*Cơ duyên :
Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.
Năm 1304, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: "Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí" và cho theo về thụ giới Sa-di. Điều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Điều Ngự.
Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Điều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Điều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Đầu-đà.
Năm sau, Điều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Điều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Điều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lợi về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.
Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 quyển. Vua Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Đại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe. Tiếc rằng về sau kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá hủy, ngày nay không còn.
“Sư tịch năm 47 tuổi, được nối dòng sau 23 tuổi theo tông môn của Dương Kỳ, nắm chỉ ý của Viên Ngộ, ngày ngày đàm thiền thuyết pháp trong tinh thần “vô nhất pháp nhi khả đắc”, nơi nơi tiếp xúc độ sinh, theo tinh thần “phi chúng sinh nhi bất lợi”. Khi đi thì thấy trâu đã rống mặt trăng, khi đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió; ngôi thì dựa vào gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ lưng nơi không giường chiếu, nào ai có thể biết được sự tuyệt với của đời ngài. Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông chợ sáng” tức là nếu gặp ý chỉ ngoài ngôn ngữ ngữ thì không nên dính vao kiến văn, chứo kẹt vào nghĩa huyền diệu trong văn cú. Hãy khai mở tư duy một cách thong thả, nhiên hậu mới có thể hướng về tông môn, đạt tới chuyển ngộ, mới có thể nắm tay tổ cùng đi... Nếu không thì cũng chỉ làm một cuốn sách mọt gặm mà thôi vậy... Tôi tuy có duyên may kim cải, được gặp sách báu này, vẫn hổ thẹn là không có tài thổ phụng, để lạm biên vào thánh tích. Nhưng nhờ ở chút công đức nhỏ mọn {khắc bản)} này mà mong báo được từ ân, và phụ mẫu nhiều đời.. Mong nhờ một câu nói huyền diệu mà tất cả đều được thành chính giác. Ôi! Gươm kiavì bất bình mà ra khỏi vỏ báu, thuốc kia vì trị bệnh mà giốc khỏi bình vàng, cho nên có kệ rằng:
Ma cường pháp nhược, đạo suy vi
Phật tổ xưa kia đã liệu kỳ
Còn có lời vàng làm mẫu mực
Ai người đạt ngộ khỏi tìm chi”.
VI). NỘI DUNG :
1). TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC CỦA PHÁP LOA :
Trong lời Khuyến lệ kẻ xuất gia tinh tấn hành đạo, Pháp Loa có nói về việc tìm thầy học đạo, phân biệt chân ngụy và thiện ác. Trong bài “Kể lại một buổi khai đường đại tham của Trúc Lâm năm 1304”, Pháp Loa chỉ thuật lại những lời của Trúc Lâm khai thị đại chúng về tự tính thanh tịnh sẵn có của mọi người và ghi lại vài mẫu vấn đáp ngắn giữa Trúc Lâm và môn đệ. Bài lời khuyến cáo đại chúng về Tam Học của Thượng Thừa có thể nói là tư tưởng của Pháp Loa về Thiền học. Trong bài này ông đề cập đến vấn đề kiến tính, về vấn đề có không của tâm ý, về vấn đề tham cứu thoại đầu và đưa ra những lời khuyến lệ tu tập. Bài Yếu Thuyết Về Ðại Thừa là một bài ngắn nói về trình tự nghe đạo, tư duy đạo và thực hành đạo (văn, tư, tu). Bài Phải Am Tường Học Thuật nói về nhu yếu phải học trước khi hành động và những điều thiết yếu thực tiễn trong đời thu đạo: chọn bạn tốt để thân cận, học kinh pháp tìm nơi thu học thuận lợi.
Tuy nhấn mạnh đến nhu yếu tìm học kinh điển nhưng Pháp Loa vẫn không quên đặt vấn đề kiến tính lên hàng đầu. Và theo đúng truyền thống Tuệ Trung, ông đặt vấn đề kiến tính trên căn bản Không chủ thể không đối tượng:
“Người học Phật phải chú trọng trước hết đến vấn đề kiến tính (thấy được bản tính mình). Thế nào gọi là thấy tính? Thấy đây là thấy cái không thể thấy. Cho nên thấy được cái thấy-không-thấy tức là chân tính hiện ra. Cái thấy về thể tính vốn vô sinh cho nên không có sự phát sinh của cái thấy ấy. Tính cách thực hữu của Tính chính cũng là không, nhưng cái thấy chân thực lại không thay đổi, cho nên nói là thấy tính một cách chân thực”.
Những lời trên cho ta thấy người viết đã có cái may mắn gặp được cuốn Thiền Ðạo Yếu Học của Pháp Loa (Pháp Loa mất năm 47 tuổi được đắc pháp năm 23 tuổi) trong một thời đại Phật pháp suy vi (có lẽ cuối thế kỷ thứ mười bốn hay trogn thế kỷ thứ mười lăm). Ông ta mong công đức khắc bản cuốn sách này sẽ báo được bốn ân, và hy vọng đời sau có những người đọc sách của Pháp Loa mà đạt ngộ. Tiếc là ta không thấy nghe tên người khắc bản và ngày tháng mà người ấy viết những dòng trên.
2). PHƯƠNG PHÁP THAM CỨU THOẠI ĐẦU :
“Tham thoại đầu thì chớ để gián đoạn, phải nên tham cứu liên tục không xen kẻ một ý niệm nào khác. Giữ đừng để nghiêng ngã, không trạo cử cũng không hôn trầm, hoạt bát như ngọc lăn bàn thạch, sáng sủa như gương chiếu trên đài. Ðạt đến chỗ đó thì đi cũng vậy mà đứng cũng vậy, ngồi cũng vậy mà nằm cũng vậy, nói cũng vậy mà lặng thinh cũng vậy, không lúc nào mà không ở trong trạng thái thiền. Như vậy mới giải phẩu tam cú, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tìm hiểu tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng và những điểm thiết yếu khác của các vị thiền tổ”.
Pháp Loa có làm nhiều bài thơ và kệ tụng. Nhưng tất cả bài kệ tụng của ông viết trong Thạch Thất Mị Ngữ Niêm Tụng đã mất theo tác phẩm. Chỉ còn lại ba bài thơ: Một bài ca tụng Tuệ Trung thượng sĩ còn tìm thấy ở Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, một bài Thị Tịch còn ghi chép ở sách Tam Tổ Thực Lục và bài “Lưu Luyến Cảnh Núi Xanh” còn được chép ở trong Toàn Việt Thi Lục. Bài ca tụng Tuệ Trung của Pháp Loa có thể gọi là ngắn gọn và hay nhất trong những bài khác cùng ca ngợi Tuệ Trung mà ta thấy ở Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục - Bài ấy như sau:
A!
Gang ròng nhồi lại
Sắt ống đúc thành
Thước trời đất
Gió mát trăng thanh
A!
Bài thơ Lưu Luyến Cảnh Thanh Sơn như sau:
Dòng thu gầy hun hút
Núi cáo soi nước trong
Ngững đầu nhìn bất tận
Ðường trước nối muôn từng.
Bài kệ Thị Tịch ông viết trước khi qua đời hồi năm 47 tuổi:
Vạn giây cắt đứt tấm thân nhàn
Hơn bốn mươi năm mộng đã tàn
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.
(Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập niên dư mộng huyễn gian
Trân trọng! chư nhân hưu tá vấn
Ná biên phong nguyệt cánh man khoan).
Thiền sư Pháp Loa dạy:
“Đại đạo rỗng suốt nào có buộc, nào có ràng, bản tánh lặng trong không thiện không ác. Bởi do lựa chọn cho nên sinh ra tắt ngang lắm nẻo; chỉ cần quáng mắt, cũng thành cách xa trời đất. Thánh phàm vốn cùng chung một lối, phải quấy nào phải hai đường. Cho nên biết rằng, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Mọi người đầy đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh với thân như hình với bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt ở phía trên mắt, nhưng không dễ gì nhìn thấy. Cần phải truy tầm, chẳng thấy nói sao: “Ba ngàn pháp môn cùng về vuông tấc, hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm.” Nên bảo ba cửa Giới Định Tuệ các ông không thiếu, cần phải quán nơi chính mình. Phàm những tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, đó là tánh gì? Khi biết được tánh này rồi thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng. Vậy cái nào phải, cái nào chẳng phải?”
Qua những lời dạy này, Thiền sư Pháp Loa đã nói lên được hai mặt một thực tại, mà trong cuộc sống chúng ta luôn luôn thể hiện, qua cử chỉ, hành động cùng lời nói, chỗ nào bị vướng và chỗ nào không bị vướng. Ở đây, rõ ràng Thiền sư Pháp Loa dùng lý Duyên khởi làm phương pháp phủ định luật nhân quả nhị nguyên như: Đúng sai, thiện ác, phàm thánh, tội phúc, v.v… do vọng tâm phân biệt đẻ ra, và chúng ta chấp nhận nó như là một cứu cánh cho tư duy hành động, mà chúng ta không biết rằng, những việc làm này là sai lầm; nên luôn luôn bị chúng lôi kéo chạy theo, để rồi một ngày nào đó tự mình bỏ quên chính mình; chính trong cuộc sống qua tiếng ho, tiếng tằng hắng, hay trong những động tác nhướng mày, chớp mắt, tay cầm, chân đi, đó là tánh gì? Khi đã biết được tánh này rồi, thì đó là tâm gì? Tâm tánh đều rỗng sáng.
Vì sao ở đây ngài Pháp Loa chỉ những động tác hằng ngày mà chúng ta coi thường không bao giờ để ý đến nó, bảo chúng ta phải tư duy nó? Phải nhìn thấy nó, phải biết nó là gì? Ở đây, nếu chúng ta nhận ra những động tác như: tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày, chớp mắt, tay cầm, chân đi, v.v… cho là Chân tâm, là Bản lai diện mục, thì cái thấy này sẽ làm mù mắt chúng ta, vì tiếng ho, tiếng tằng hắng, nhướng mày, chớp mắt, tay nắm chân đi, không phải là chân tâm, không phải là diện mục. Cái được gọi là Chân tâm, là Bản lai diện mục nó chỉ thể hiện bên trong, hay ở đằng sau tiếng ho tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay nắm chân đi, v.v… vậy thì cái thể hiện qua các động tác đó, vì sao gọi là Chân tâm, là Bản lai diện mục? Chúng ta hãy tự tìm hiểu, tự tư duy nơi sự thể hiện của chúng. Ngược lại, nếu chúng ta bảo nó không phải là chân tâm, không phải là bản lai diện mục, thì cũng không được. Vì sao? Vì tất cả những thi vi động tác nơi chúng ta thể hiện ra bên ngoài không ngoài tự tâm. Đây là hai vấn đề mà ngài Pháp Loa muốn đánh thức cái tâm chân thật nơi chúng ta, và phải nhìn như thật chính nó. Nghĩa là cái được thể hiện trong những động tác đó không khác với cái thấy nơi chúng ta.
3). THIỀN SƯ PHÁP LOA VÀ PHÁP CHỈ THẲNG :
Thiền sư Pháp Loa dạy: “Mọi người nếu hướng vào Đệ nhất nghĩa mà nói thì suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm. Vậy thì làm sao sinh Đế, làm sao sinh Quán? Nay thử căn cứ vào đầu.
Nói về pháp dạy người, thật sự đối với các Thiền sư, xưa nay các ngài không có bất cứ một pháp nào khả dĩ làm tiêu chuẩn để trao cho mọi người cả. Bởi vì pháp dạy người đó luôn luôn tùy thuộc vào căn bệnh của người đối thoại mà các Ngài cho thuốc. Như tăng Chí Thành hỏi Lục tổ Huệ Năng về pháp dạy người, Tổ dạy:
“Nếu bảo rằng ta có pháp để trao cho người, thì ta nói dối với nhà ngươi. Ở đây, chỉ tùy thuộc vào chỗ bị trói mà cởi mở, tạm gọi là Tam muội”.
Như vậy, rõ ràng ở đây các Ngài chỉ làm một công việc là cho thuốc hay mở trói mà thôi. Đây là phương pháp đối trị bệnh chấp ngã, chấp pháp do vọng tâm điên đảo, phân biệt sinh ra, và tùy theo căn nghiệp của mỗi chúng sanh mà các Ngài cho pháp mở trói.
Ngoài phương pháp này ra, các Thiền sư cũng thường sử dụng phương pháp chỉ thẳng. Đây là cốt tủy của Thiền tông trong: “Trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật.” Cả hai phương pháp này đều nhằm vào đầu Đệ nhị mà sử dụng; vì trong cuộc sống của chúng ta, từ lời nói, cử chỉ, hành động, mọi thi vi động tác đều phát xuất từ tự tâm của mọi người. Do đó, trong cuộc sống của chúng ta, các Ngài y cứ vào sự thể hiện bên ngoài mà mở trói, mà chỉ thẳng. Cũng trong chiều hướng này, Thiền sư Pháp Loa tuy biết rằng đối với Đệ nhất nghĩa đế suy nghĩ là sai, mở miệng là lầm, nhưng Ngài vẫn đặt ra và tìm hướng giải quyết theo chỗ thấy của Ngài. Thật sự việc này đối với những người chưa ngộ đạo như chúng ta, thì khi khởi tâm suy nghĩ để mở miệng, hay bất cứ thi vi động tác nào đi chăng nữa, thì việc làm đó đều sai lầm. Đối với cảnh giới thực chứng của người đạt đạo, cảnh giới này không lệ thuộc vào suy nghĩ, ngôn thuyết của thế giới phân biệt chấp trước, thuộc vào hệ thống nhân quả đối đãi nhị nguyên của chúng ta. Thế giới thực chứng này không tùy thuộc vào hệ thống nhân quả mà chúng chỉ được nhận biết nếu qua hệ thống duyên khởi mà thôi, vì tất cả mọi thi vi động tác ở đây đều biểu thị trí vô phân biệt. Do đó, đối với thế giới thực chứng của người ngộ đạo, chúng ta không thể dùng luật tắc nhân quả mà đánh giá được. Gần đây, chúng tôi nhận thấy có một số người có tham vọng muốn dùng ngôn ngữ phân biệt tri thức để khám phá thế giới thực chứng của Thánh trí, đây là một việc làm sai lầm tai hại. Sai lầm vì những kiến giải của chúng ta, những người chưa đạt đạo khác nào kiến giải của bọn mù!? Ở đây, người chưa đạt đạo khi diễn tả thế giới thực chứng của các bậc Thánh trí, cũng giống như người mù bẩm sanh khi diễn tả thế giới quanh họ mà thôi, vì họ chỉ nghe nói mà tưởng tượng theo cái tư duy trừu tượng để rồi thủ đắc chứ không phải chính mắt họ nhìn thấy.
Vì vậy, Sư đã chinh phục được lòng tin và sự cảm phục của mọi người, từ giới thượng lưu trí thức đến các tầng lớp nhân dân, từ giới Tăng, Ni đến quần chúng Phật tử, ai ai cũng yêu thương kính mến. Khả năng của Sư thật đa dạng, vừa giữ vai trò của một giới Sư thanh tịnh, vừa là một kinh Sư đạo mạo, một giảng Sư điêu luyện, một nhà trước thuật nghiêm túc, một hành giả tinh chuyên, một bậc giáo phẩm uy nghi, và một nhà hoạt động xã hội tích cực. Có thể nói, Sư là một người toàn diện, về mặt nào cũng tỏ ra đầy đủ bản lĩnh. Không những lưu tâm đến việc trao truyền giới pháp, thuyết giảng luật luận, soạn thuật kinh sách, mà Sư còn chăm lo đào tạo Tăng tài, mở mang tòng lâm thắng cảnh, lưu tâm đến việc cứu tế xã hội v.v… Người xưa nói, có ba việc bất hủ để tiếng thơm lại cho muôn đời, đó là: lập đức, lập công và lập ngôn. Nghĩa là để lại gương sáng đức hạnh, sự nghiệp lợi tha và công trình trước tác. Trong ba điều ấy, quả thực, Sư đều gồm đủ. Nhưng, công lao nổi bật nhất của Sư là in Đại Tạng kinh và xây dựng Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm. Dù Đại Tạng kinh ấy không còn lưu lại, nhưng bằng tấm lòng thiết tha, Sư kêu gọi Tăng Ni, Phật tử hiến máu để in một bộ Đại Tạng riêng cho Việt Nam, điều đó chứng tỏ Sư có một nhãn quang nhìn xa thấy trước những viễn ảnh tương lai của Phật giáo Việt Nam. Với Giáo hội Trúc Lâm, tuy Điều Ngự là người vạch ra phương hướng và đặt viên đá đầu tiên, nhưng người đứng ra hoàn thành xuất sắc hoài bảo ấy chính là Sư. Dẫu rằng công việc đó tiến hành thuận lợi, một phần là nhờ vào uy tín và ảnh hưởng của Điều Ngự, nhưng, chính bản thân Sư nếu không đủ đức độ và tài năng thì làm sao cảm hóa được các tầng lớp vương tôn quý tộc và Tăng Ni, Phật tử răm rắp tuân theo. Con người ấy đã phát nguyện dũng mãnh, quyết tâm thực hiện cho kỳ được sự nghiệm hoằng dương Chánh pháp, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam. Giáo hội này nhằm mục đích thống nhất các hệ phái Phật giáo, mang bản sắc và đặc tính dân tộc, dựa trên tinh thần nhập thế hành động, và thể nghiệm tu chứng ngay giữa lòng đời. Nhắc đến thời kỳ cực thịnh của Phật giáo đời Trần nói chung, và một tổ chức có kỷ cương quy mô của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, thiết tưởng công lao của Sư không ít.
4). PHƯƠNG THỨC HÀNH THIỀN :
Công Cuộc cách mạng toàn diện cuộc sống con người trong lãnh vực Thiền học, dù phương pháp kỹ thuật của người hướng dẫn có khéo léo đến đâu, hành giả cũng cần phải ý thức 5 điều khó là : biết khó, thực hành khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó. Như thế nghĩa là sao ? Tại sao cần phải chứng mà lại bỏ, và tại sao bỏ lại khó ?
Thực ra, nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng, chẳng qua chỉ là nhắm vào khối vọng tâm mà nói vậy thôi. Kỳ thực, Đạo vốn y nguyên, từ xưa vốn thế, muôn thuở thường hằng, không tăng không giảm, lấy đâu để nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng? Thế mới biết, nói biết là biết cái không biết, nói thực hành là nói làm cái không làm, nói chứng là chứng cái không chứng, nói bỏ là bỏ cái không bỏ, nói dụng là dụng cái không dụng. Như thế mới gọi là biết diệu, làm diệu, chứng diệu, bỏ diệu và dụng diệu.
Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là phải đi đến chỗ lúc nào cũng như lúc nào, đều phải tuyệt diệu một cách tự nhiên như nhiên. Vì thế nên mới có chuyện công phu hàm dưỡng.
Ta vẽ một hình tròn, dù nhỏ bằng đầu kim đi nữa, nếu đã tròn, thì mở ra bao lớn cũng tròn, nếu méo, thì càng mở rộng ra càng thêm méo. Đã là con sư tử, dù ở trong thai vẫn là sư tử, cho nên không thể có chuyện nuôi con dê già lâu năm cho thành sư tử. Tuy nhiên, con sư tử mới lọt lòng mẹ được mấy hôm, dù có biết vươn vai gào thét chăng nữa cũng vẫn còn phải được tiếp dưỡng bằng sữa mẹ đến bao giờ được trưởng thành. Cho nên, từ nhân tướng đến quả tướng, quãng đường dài nầy, công phu hàm dưỡng có một giá trị to tát bao trùm.
Đã trót có cái thùng đựng rác, rác chưa đến nỗi đầy tràn, mà có chủ ý đập vỡ thùng, thủ tiêu cả rác, mặc dù khi đập vỡ chắc chi rác rến không tung tóe ? Nhưng thùng đã vỡ, thì không còn cái để đựng, rác rến tung tóe cũng được thu xếp lần hồi. Việc làm nầy trông có phần táo bạo và đột ngột.
Cũng một cái thùng rác, với một thời gian dài, rác đựng đầy nhóc tràn ra ngoài, cái thùng cũng được cũng cố lại cho bền chắc hơn. Nay muốn thủ tiêu cho dứt khoát mà phương pháp trên không thể áp dụng, thì chỉ còn có cách tuần tự trút hết rác mang vứt đi, rồi theo đó sẽ phá vỡ cái thùng cho mất tích. Hai việc làm, hai đường lối, hai kết quả, mỗi mỗi đều có khôn ngoan và kỹ thuật khác nhau.
5). LỢI ÍCH TU THIỀN :
Tâm thiền là vắng lặng nhưng không phải là sự yên lặng mà tư tưởng có thể nhận thức được. Thiền không phải là cái vắng lặng của một buổi tối. Nó thật sự vắng lặng khi tất cả những tư tưởng, lời nói và nhận thức hoàn toàn ngừng bặt. Tâm thiền này là tâm tôn giáo mà không bị quản thúc bởi một tôn giáo hay bất cứ một hình thức lễ nghi nào.
Tâm tôn giáo là sự bột phát của tình yêu. Một thứ tình yêu hoàn toàn không có sự phân biệt. Ðối với nó xa là gần. Nó không phải là một mà cũng chẳng phải là nhiều, hay nói đúng hơn là một thứ tình yêu mà tất cả sự phân biệt đã dứt bặt. Giống như cái “đẹp” không thể diễn tả bằng lời nói. Từ sự yên lặng này tâm Thiền phát khởi.
Thiền là một trong những nghệ thuật tuyệt vời trong cuộc sống. Có lẽ là tuyệt vời nhất và không ai có thể dạy cho bất cứ ai. Ðó là cái đẹp của Thiền. Tự nó không có kỹ thuật cho nên không có người thiện xảo. Khi bạn tìm hiểu về chính mình, nhìn vào chính mình, nhìn vào những bước đi của bạn, bạn ăn như thế nào, nói cái gì, ghét hay thương... Nếu như bạn biết được tất cả những cái đó trong bạn mà không có sự phân biệt thì đó chính là một phần của Thiền.
Do đó Thiền có thể xảy ra trong lúc bạn đang ngồi trên xe buýt hay đang đi trong cánh rừng rợp bóng mát, hoặc đang lắng nghe chim hót hay đang nhìn vào gương mặt của vợ con bạn.
Thật sự bạn muốn biết tại sao Thiền trở nên quan trọng như thế! Nó không có sự khởi đầu cũng không có sự chấm dứt. Nó giống như giọt mưa, trong nó hàm chứa tất cả những sông hồ và biển cả. Hạt mưa ấy nuôi dưỡng trái đất và con người. Không có nó, trái đất sẽ trở nên sa mạc. Không có Thiền thì tâm sẽ trở thành khô cằn, một vùng đất hoang tàn.
Thiền sẽ tìm thấy trong tâm với tất cả những hoạt động hay những kinh nghiệm của nó có thể hoàn toàn vắng lặng. Không nỗ lực nhưng hiện tại bạn nỗ lực, đó là nhị nguyên. Bạn có thể nói rằng: “Tôi thích có một kinh nghiệm phi phường, cho nên tôi phải bắt tâm tôi vắng lặng. Bạn sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó cả. Nhưng nếu như bạn bắt đầu tìm kiếm quan sát, lắng nghe tất cả những hoạt động của tư tưởng, tình trạng của nó, mục đích của nó, những sợ hãi và những cảm giác của nó, hãy theo dõi tâm của bạn hoạt động như thế nào rồi bạn sẽ thấy tâm của mình trở nên vắng lặng một cách phi thường. Sự vắng lặng đó không phải là sự ngủ yên mà là một cách hoạt động tích cực và do đó nó yên lặng. Một máy phát điện lớn chạy tốt hầu như không hề có tiếng động, chỉ khi nào có sự va chạm thì khi đó có tiếng động.
Sự yên lặng và không gian đi cùng với nhau. Sự bao la của yên lặng là sự bao la của tâm thức mà trong đó không có điểm trung tâm.
Thiền là việc làm khó khăn. Nó đòi hỏi hình thức cao nhất của giới luật mà không phải là sự tuân thủ, cũng không phải là sự bắt chước. Thiền chỉ là giới luật mà chỉ đến hoàn toàn bằng sự tỉnh thức không những vấn đề bên ngoài và còn cả những vấn đề bên trong của bạn. Do đó, Thiền không phải là hành động xa vời mà ngay chính trong cuộc sống hằng ngày, nó đòi hỏi sự cộng tác, sự nhạy cảm và sự thông minh. Không có nền tảng của một đời sống chân chánh thì Thiền sẽ không có giá trị đối với bất cứ ai. Một đời sống chân chánh là không tuân theo những đạo đức xã hội mà là thoát khỏi sư ghen tỵ, ham muốn và tìm kiếm quyền lực. Thoát ly khỏi những thứ này sẽ không phải bằng ý muốn mà là sự tỉnh thức. Không biết những hoạt động của tự ngã, Thiền sẽ trở nên sự ham thích cảm giác và nó trở nên vô nghĩa.
Thiền là một thứ tình yêu. Nó không phải là tình yêu của một người cũng không phải của nhiều người. Nó giống như nước mà người ta uống trong bất kỳ loại chai nào cho dù là nó được làm bằng vàng hay bằng đất nung: Nó là vô tận. Và một điều quan trọng xảy ra là nó không phải là ma túy cũng không phải là sự thôi miên nhưng nó đã xảy ra và một điều quan trọng xảy ra khi tâm thể nhập vào chính nó, bắt đầu từ khởi đầu và thể nhập sâu dần cho đến khi ý niệm về sâu – cao mất đi ý nghĩa của nó và mọi hình thức của sự đo lường hoàn toàn đoạn diệt. Ðó là trạng thái hoàn toàn an tịnh- không thỏa mãn những gì xảy ra bằng sự hài lòng, chỉ là sự an tĩnh một cách quy củ, đẹp và mãnh liệt. Tất cả có thể bị hủy diệt như bạn hủy một bông hoa và chính sự tổn thương này nó bất diệt. Bạn không thể học phương pháp Thiền này từ người khác. Bạn phải bắt đầu từ số không và bắt đầu loại bỏ dần dần vô minh.
VII). KẾT LUẬN :
Là người học Phật, trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì Chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới nầy, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập Thiền. Cái yếu chỉ của Thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: Thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.
Người tu tập Thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong trẻo như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v... các cơ quan của Thiền tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên, chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng Diệu Huệ, chiếu soi không cùng. Đối với Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ vô úy, Bát chánh đạo, Thập lực của Phật, Mười tám pháp bất cọng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
• Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
• Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
• Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
• Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Tập 1, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 234.
• Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, Học Viện Phật Giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, 2008, tr.9
• Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, tập 1, NXB TP. HCM, 2001
• Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Thực Hiện 1999, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh
• Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, Thiền Uyển tập Anh, Nhà xb Văn học Hà Nội 1993
• Việt Nam Phật giáo Sử Lược, Thích Mật Thể, Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2548 – DL. 2004
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét