THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
TRUC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH
DÀN BÀI
A. DẪN NHẬP.
B. NỘI DUNG.
1.Khái Quát Bối Cảnh Lịch Sử , Tư Tưởng Của Thế Kỷ XVIII.
2.Khái Quát về Tác Gĩa, Tác Phẩm Của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
2.1.Khái Quát Về Các Tác Giả Tham Gia Viết “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh”.
2.2. Giới Thiệu Tác Phẩm, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
3.Nghệ Thuật Thể Hiện Trong Tác Phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
4. Chương 19 :Túc Thanh ( Tiếng Động).
4.1. Tiếng Đọng Là Gì ?.
4.2. Phật Lưu Giử Xá Lợi.
4.3. Mục Đích Của Tháp .
5. Chương 20: Bất Qủa Thanh : ( Tiếng Không Thanh).
5.1. Ý Của Như Lai (ý trời).
5.2. Ý Chúng Sanh Phân Biệt .
5.3. Ý Chúng Sanh Bình Đẳng ,Và Thực Tập Tu Tâm Ý Bình Đẳng .
6. Chương 21: Tàng Thanh : ( Tiếng Ẩn Giấu).
6.1. Bàn Về Đạo Dấu Kín.
6.2. Trời Đất, Thần ,Phật, Thánh Hiền Khéo Dụng Âm Như Thế Nào.
6.3. Sự Gian Tà Hay Tráo Trở Lật Lọng, Cho Nên Không Kịp Thánh Hiền.
6.4. Người Quân Tử Học Đạo Quý Ở Chổ Có Âm Đức .
7.Ứng Dụng Tư Tưởng Nghệ Thuật Thể Hiện Trong Tác Phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
C.KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÌM HIỂU NỘI DUNG TỬ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CỦA TÚC THANH, BẤT QUẢ THANH, TÀNG THANH TRONG TÁC PHẨM TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH.
A. DẪN NHẬP.
Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, khởi nguồn từ Ấn Độ, và nó ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân loại nói chung, ở các quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa nói riêng, với bề dày lịch sử mấy ngàn năm, cùng hệ thống triết lý uyên áo, uẩn súc. Tư tưởng Phật giáo nằm trong Tam tạng kinh điển ,Kinh, Luật, Luận, bao gồm rất nhiều tông phái khác nhau, mà phổ biến hiện nay là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông, Luật Tông, Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông, Câu Xá Tông, Thành Thật Tông v.v..
Bên cạnh đó tư tưởng nghệ thuật thể hiện qua các chương trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, đã góp thêm một phần tô điểm cho thiền tông, mặc dù tác giả dùng rất nhiều phương pháp nghệ thuật thể hiện để mong sao người đọc hiểu được và áp dụng vào cuộc sống hiện thực và nói lên điểm chính của Thiền tông chính là cốt tủy, xương sống, linh hồn của Phật giáo và Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh phần Chính văn của Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng) là một tác phẩm thuộc thể loại luận thuyết tôn giáo, mang tính tư tưởng triết học vi diệu, thuộc loại hình văn triết bất phân độc đáo vào cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam, với hình thức kiểu công án Thiền gắn với cảm quan và mỹ học Tam giáo Phật ,Đạo , Nho.
Trong tác phẩm, tác giả thật sự đã đích thân trải nghiệm và thể hiện vô cùng sâu sắc những tinh hoa của cả ba hệ tư tưởng cổ đại lớn của nhân loại bằng nghệ thuật ngôn từ một cách mới mẻ, độc đáo mà xưa nay hiếm thấy. Trong đó, tư tưởng Phật giáo Thiền tông được tập trung thể hiện khá đậm nét và xuyên suốt các tác phẩm liên kết với nhau . Muốn hiểu được vấn đề này chúng ta đi tìm hiểu nội dung tư tưởng các chương sau: Như ở chương 19 nói lên Tiếng Động, thì chương 20 nói đến Bất Qủa Thanh và chương 21 nói đến Tiếng Ẩn Dấu.
Vậy qua đây cho chúng ta thấy rằng tư tưởng nghệ thuật của tác giả thật là uyên thâm giáo lý Phật giáo một cách sâu sắc .
Với phương pháp nghiên cứu những tài liệu sẵn có của các bậc tiền bối cùng với những bài viết đề cập đến tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm Trúc Lâm Tông chỉ Nguyên Thanh người viết chỉ trình bày nội dung tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, của Ngô Thị Nhậm với phương pháp phân tích, giải thích mong sao người đọc tiếp nhận dễ dàng .Mặc dù đây là đề tài người viết rất tâm đắc, nhưng với sự am hiểu còn nông cạn. Thế nên trong quá trình nghiên cứu không sao tránh khỏi những thiếu xót ngoài ý muốn, ngưỡng mong chư vị tôn túc ,giáo thọ sư hướng dẫn cùng thiện hữu tri thức gần xa ân cần chỉ giáo để bài viết lần sau trình bày một cách tốt hơn.
B. NỘI DUNG.
1.Khái Quát Bối Cảnh Lịch Sử , Của Thế Kỷ XVIII.
Về Tư Tưởng: Bối cảnh lúc bấy giờ là Tam giáo đây là một xu hướng mạnh của tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII, tầng lớp trí thức Nho học, lực lượng hộ trì tư tưởng Nho gia thời kỳ này có những hoạt động thực tiễn và thảo luận tư tưởng có phần xa rời tinh thần của Nho gia chính thống, dung hợp đạo Phật một cách tự nhiên . Bên cạnh đó Ngô Thì Sĩ, một người từng dâng lên chúa Trịnh nhiều bản điều trần mong muốn chấn hưng nho phong sĩ khí, cầu thực học, theo đuổi kinh thế đúng theo lý tưởng trí quân trạch dân của nhà nho lại là người lập tượng thờ cả ba vị Khổng tử, Thích Ca và Lão tử, viết bài “Ký động Nhị Thanh và bài Ký trùng tu đền Tam giáo, lại viết Sớ hợp tế Tam giáo với tinh thần hoà hợp Tam giáo rất rõ rệt” .
Ngoài ra, có thể thấy các tư tưởng luân hồi quả báo, nghiệp chướng tình oan, bàn bạc khắp trong các truyện Nôm tài tử giai nhân, truyền kỳ chí quái do các nhà nho đương thời sáng tác. Rõ ràng, các nhà nho thế kỷ XVIII đã có phần rời xa tư tưởng Nho gia chính thống một bước, dung hợp Tam giá. Việc hội nhập Tam giáo diễn ra một cách có tuyên bố, có lý luận và nhà nho là người đứng ra làm công việc hội nhập. Điểm quy kết, chỗ dựa và cách thức tiến hành hội nhập cũng có những điểm khác với các giai đoạn trước đó.
Về Chính Trị: Đến giai đoạn Lý Trần, Nho giáo còn đang ra sức tạo ảnh hưởng, cố vươn lên vị trí độc tôn. Bối cảnh Tam giáo quân bình thời đó là sự buộc phải chấp nhận đối với Nho gia khi mà nó chưa đủ sức để cải thiện vị trí của mình cả trên trường chính trị cũng như xã hội. Tư tưởng tam giáo đồng nguyên, Tam giáo thịnh hành thời kỳ Lý- Trần được thực hiện với bản vị là Phật giáo. Các nhà sư thực hiện việc hội nhập và lưu hành cả Tam giáo.
Người ta có thể dễ dàng nhận thấy những cái mới trong tinh thần kẻ sĩ thế kỷ XVIII. Trong tư tưởng của họ xuất hiện những “mối dị đoan”, đan xen cái chính thống. Nền chung của tư tưởng Nho gia là tự cường tự lạc trong khuôn khổ việc tu tâm dưỡng tính.
Về Văn Hóa: Tư Tưởng Phật, Lão ,Nho, nổi bật nhất là Nho, theo xu hướng chính cư Nho Mộ Thích, sống theo kiểu nhà Nho còn tâm hướng theo nhà Phật. Tư tưởng Nho gia nó đồng môn, nhưng nó dung hợp nên bao dung đời Trần , Giai đoạn này họ hướng về danh vọng không lo cho dân nên nạn đói xảy ra.
Về Văn Học: Các tác phẩm văn học của Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Khản, Nguyễn Du... Vấn đề nhân sinh được các nhà nho thời kỳ này đặc biệt quan tâm, vấn đề nổi bật tương tự như vấn đề nhân cách đối với nhà nho thế kỷ XV-XVI. Nhưng cái gọi là giải phóng cá nhân, cá tính, những nhu cầu nhân sinh cần thỏa mãn, ở ta chủ yếu chỉ diễn ra và được làm thỏa mãn bằng cách điều chỉnh trong nội bộ tương quan tam giáo mà thôi. Sự mở rộng từ chuẩn mực tu dưỡng lý tính, đạo lý, khuôn mẫu, hiện thực của Nho gia sang tiêu dao, tự do, theo mô thức Lão Trang đã phần nào đạt tới sự thỏa mãn. Sự siêu thoát tĩnh tịnh của Phật giáo cũng đã có thể bổ sung cho những nhu cầu thoát khỏi ràng buộc của nhân tình hiện thực và những bi kịch của nhà Nho nảy sinh trong trường chính trị cùng các mâu thuẫn không thể giải quyết trong nội bộ tư tưởng của nho sĩ. Đây là một lý do quan trọng khiến Nho sĩ thế kỷ XVIII chủ động hội nhập Tam giáo.
Thời loạn, thân phận con người trở lên nhỏ bé. Con người với những buồn vui trần tục hơn, sống động hơn. Tinh thần tự lạc, tự cường tha thiết với việc tu dưỡng của Nho gia không phát huy được ảnh hưởng mạnh (đây cũng chính là một lý do khiến Nhà nho thời này kêu ca về Nho phong sĩ khí, kêu gọi chấn chỉnh phong thái Nhà Nho, phục hưng phong khí nhà Nho thời Hồng Đức- khôi phục học phong thời Hồng Đức cũng là khôi phục tinh thần nho gia chính thống, lý tính, mẫu mực, trọng cộng đồng, xã hội, gánh vác và hy sinh. Người ta gọi thế hệ các nhà Nho thời Hồng Đức là thế hệ dấn thân yêu đời). Bối cảnh đó chính là mảnh đất màu mỡ nảy mầm những tư tưởng Phật Lão, là cơ sở cho việc hội nhập Tam giáo thế kỷ XVIII.
2. Khái Quát Về Tác Giả, Tác Phẩm “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh”.
2.1. Khái Quát Về Các Tác Giả Tham Gia Viết “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh”
- Hải Lượng Thiền Sư Ngô Thì Nhậm Với Phần Chính Văn.
Ngô Thì Nhậm là một tài năng tổng hợp đa dạng, một danh nhân lớn trong lịch sử văn hóa của dân tộc ta. Ông đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc Việt nam trên nhiều lĩnh vực: văn hóa, triết học, văn học, giáo dục, chính trị, ngoại giao…Ông xứng đáng được tôn làm thiên tài dưới bầu trời đất Việt thế kỷ XVIII.
Ngô Thì Nhậm sinh ngày 25/10/1746 và mất ngày 9/3/1803, người xã Tả Thanh Oai, trấn Sơn Nam, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông trong một “thế gia vọng tộc” có truyền thống đạo đức, khoa bảng và văn học. Ông vốn được sự dạy dỗ nhiêm khắc của Ngô Thì Sĩ(1726- 1780) một nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị, quân sự, tư tưởng gia nổi tiếng thời Lê Trung hưng nên Ngô Thì Nhậm sớm đã mang trong mình trách nhiệm nặng nề của dòng họ Ngô Thì và một bầu nhiệt huyết, hoài bão kinh bang tế thế.
“Theo các tác giả bộ sách Ngô Thì Nhậm toàn tập, Ông lập thiền viện Trúc Lâm khoảng từ năm Kỷ Mùi (1789) đến năm Canh Thân (1800). Tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh hoàn thành năm 1796. Đại chân viên giác thanh là phần chính văn của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh do Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm viết xong vào năm 1796” , các phần còn lại của tác phẩm dựa vào cái trục chính này để hình thành. Phầm Chính văn này được chia thành hai mươi bốn thanh nên có khi được gọi là Nhị Thập Tứ Thanh.
Năm 1802 Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, Tây Sơn hoàn toàn sụp đổ. Ngày 9/3/1803, Ngô Thì Nhậm qua đời sau trận đòn trả thù ở Văn Miếu.
- Ngô Thì Hoàng Với Thanh Dẫn.
Ngô Thì Hoàng pháp danh Hải Huyền, trụ trì Trúc Lâm thiền viện, là em trai của Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm. Ông không ra làm quan, chỉ thích việc dạy học và sống ẩn dật. Ông thích nghiên cứu và tu tập theo thiền phái Trúc Lâm Phật giáo do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Tác phẩm của Ông không nhiều, nhưng có nét hay riêng của Ngô gia văn phái. Tập Thạch Ổ di chương gồm thơ, văn xuôi, phú và phần thanh dẫn trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là những gì chúng ta hiện có của Ông.
- Vũ Trinh với thanh chú 1.
Vũ Trinh pháp hiệu là Hải Âu hòa thượng, sinh năm 1759-1828, tự Duy Chu, hiệu Lai Sơn. Ông ở làng Xuân An, huyện Lương Tài, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, xuất than trong một gia đình trí thức quan lại, có vợ và con gái Nguyễn Khản, anh cùng cha khác mẹ với đại thi hào Nguyễn Du. Ngòi bút Vũ Trinh là ngòi bút phê phán nghiêm khắc sự thoái hóa của con người trong xã hội. Nếu như trong quan điểm chính trị, Vũ Trinh là người nặng về bảo thủ thì trong sáng tác của Ông, ông lại là một cây bút khá nhạy bén với cái mới, những yêu cầu tình cảm tư tưởng có phần táo bạo.
- Nguyễn Đăng Sở với thanh chú 2.
Kiên Trai là tên hiệu của Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở, quê ở Bắc Ninh.Ông sinh ngày 16/9/1754 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Những lời đàm Đạo của ông ghi trong sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” chứng tỏ ông là người am hiểu Phật pháp sâu sắc, đồng thời là nhà tư tưởng của phái Trúc Lâm. Năm 1840 ông qua đời, thọ 87 tuổi.
- Nguyễn Đàm với thanh tiểu khấu.
Nguyễm Đàm có tên là Hành, tự là Tử Kính, hiệu là Ngọ Nam, Nhật Nam, sinh năm 1771- 1824 quê ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Nguyễn Đàm là người thông minh, học rộng giỏi thơ. Những tác phẩm của ông như Quan Đông Hải, Minh Quyên thi tập và Đại chân viên giác thanh tiểu khấu trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, đều viết bằng chữ hán là những gì ông lưu lại cho đời.
- Phan Huy Ích với lời tựa.
Ông tên chính là Phan Công Huệ nhưng sau đổi thành Phan Huy Ích, tự Dụ Am, hiệu Bảo Chân đạo nhân. Ông sinh năm 1750- 1822, tại tỉnh Sơn Tây, Hà Tây. Ông nổi tiếng thông minh, là con rễ Ngô Thì Sĩ, em rễ của Ngô Thì Nhậm. Phan Huy Ích là dòng họ nổi tiếng vùng Sài Sơn.
Phan Huy Ích là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học Việt nam thế kỷ XVIII, lưu lại cho đời nhiều tác phẩm hay cả chữ hán lẫn chử Nôm. Hai tập Dụ Am ngâm lục và Dụ Am văn tập ra đời khoảng từ năm 1778, 1814, tất cả gồm 600 bài thơ và 400 bài văn gồm đủ các thể tấu, biểu, chiếu, thư, bạt, văn bia…
2.2. Giới Thiệu Tác Phẩm, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, thuộc loại hình văn- sử- triết bất phân độc đáo vào cuối thế kỷ thứ XVIII, với thể loại luận thuyết triết lý đặc sắc, mang đậm tư tưởng phương Đông trong văn học Việt nam nói chung và văn học Phật giáo nói riêng. Tác phẩm ra đời năm 1796 tại Thiền viện Trúc Lâm, Phường Bích Câu, Hà Nội. Tác phẩm chính là sự kết tinh tinh hoa trí tuệ của nhiều tác giả xếp vào hàng danh sĩ tiếng tăm bậc nhất trong thời đại đó.
Tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh còn có tên Đại chân viên giác thanh bởi gọi theo phần chánh văn của tác phẩm. Cũng gọi là Nhị thập tứ thanh, Nhị thập tứ kinh vì nội dung chính của tác phẩm gồm hai mươi bốn chương. Hay gọi đơn giản là Kinh Viên Giác vì kế thừa và tiếp thu tư tưởng kinh Viên giác của Phật Thích Ca. Tiên đề sách “Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh” nghĩa đen là những âm thanh đầu tiên của tông chỉ Trúc Lâm. Chúng ta có thể hiểu nghĩa của tiêu đề sách này là cốt tủy giáo lý đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm, vì chữ “Thanh” nghĩa là âm thanh, lời nói, ý là chỉ giáo lý.
Về thơ Ngô Thì Nhậm có một số tập thơ nổi tiếng, như “Bút Hải Tùng Đàm, Thủy Vân Nhàn Đàm (Thủy vân nhàn vịnh), Ngọc Đường Xuân Khiếu, Cúc Hoa Thi Trận, Thu Cận Dương Ngôn, Cẩm Đường Nhàn Thoại, Hy Doãn Công Thi Văn Tập, Hoàng Hoa Đồ Phả, Sứ Trình Thi Họa, Yên Đài Thu Vịnh” .
Về phú ông có 17 bài chép ở tập Kim mã hành dư. Về văn, ông có một số tác phẩm lớn, như Hàn Các Anh Hoa, Bang Giao Hảo Thoại, Xuân Thu Quản Kiến, Kim Mã Hành Dư và đặc biệt, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh được coi là tác phẩm thể hiện nổi bật nhất tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm. Ông viết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh Hải Âu thì gọi ông là Hải Lượng đại thiền sư. Ông đặt tên Kinh này là Đại Chân Viên Giác Thanh. Nhị Thập Tứ Chương Kinh, mỗi chương là một thanh ( Thanh là lời nói, thanh cũng là giáo lý), mỗi thanh gồm ba phần là Thanh dẫn, Chính văn và Thanh chú. với ý muốn xây dựng thành kinh sách để thuyết pháp, trong đó nội dung thể hiện rõ sự kết hợp giữa Nho, Phật và Lão, nhằm kế tục Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Do vậy, người ta gọi ông là tổ thứ tư của Thiền phái Trúc Lâm. Còn sư Hải Hòa và Hòa Thượng Kinh chia làm 24 chương .
Tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm hình thành và phát triển gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII, cùng với đó là sự kế thừa những quan điểm của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và tư tưởng của Tống Nho cũng như ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng của cha mình là Ngô Thì Sĩ. Tư tưởng triết học của Ngô Thì Nhậm thể hiện rõ ba phương diện cơ bản của triết học là bản thể luận, nhận thức luận và triết lý nhân sinh xã hội với những nét độc đáo khác nhau, tạo nên một tư duy mới cho dòng tư tưởng lúc bấy giờ.
Về mặt bản thể luận, trước hết, Ngô Thì Nhậm cho rằng, bản thể vũ trụ là hoá công, chính hoá công đã làm cho vũ trụ có một hình hài tương đối hoàn chỉnh và chất chứa những điều kỳ diệu. Ngoài tư tưởng bản thể là hoá công, ông còn coi bản thể là trời. Theo ông, nhờ có trời mà vạn vật được sinh sôi nảy nở, cũng nhờ có trời mà vạn vật có một trật tự ổn định. Tuy nhiên, đôi khi ông không đề cao vai trò của trời và hoá công mà cho rằng, việc vạn vật tồn tại trong thế giới này chỉ là sự tồn tại một cách tự nhiên, không do ai sắp đặt.
Trong tư tưởng về bản thể, Ngô Thì Nhậm còn tiếp thu quan điểm Thiền tông. Ông coi bản thể là Phật tính (buddha - svabhava), Phật tính cũng được gọi là Chân như. Chân như theo Thiền tông là cái bất sinh, bất diệt, vô thỉ, vô chung, là chí nhất và chí đa, chí tĩnh và chí động, chí nhu và chí cương, Chân như này giống như phạm trù Đạo của Lão Trang và phạm trù Thái cực “bất dịch mà biến dịch” của Chu dịch. Trong triết học của Ngô Thì Nhậm, Chân như được tượng trưng bằng hình ảnh của mây và nước, vận động không ngừng và bao trùm cả vũ trụ. Theo ông, bình thường thì nước trông có vẻ nhu nhược, song chính nó lại là cái công phá được những vật cứng mạnh, vì nước còn có cái lực bên trong mà bằng mắt thường không thể thấy được, đó chính là chí nhu và chí cương của vật.
Bản thể vũ trụ ở Ngô Thì Nhậm là u huyền, lặng lẽ, nhưng cũng rất lưu động, biến thiên. Ngô Thì Nhậm đã nhận thấy thế giới này là một thể thống nhất hoàn chỉnh, tất cả đều bắt nguồn từ một mối nhất định.
Vẫn là sự tiếp thu tư tưởng Thiền tông, Ngô Thì Nhậm đã xuất phát từ âm thanh của cái không để làm rõ hơn tư tưởng, quan điểm của mình về bản thể. Theo ông: “Trong cái không mà có thanh thì thanh ấy không biết từ đâu đến, cũng không biết nó đi đâu, đón trước thì cũng không biết chỗ nó bắt đầu, theo sau nó thì không biết chỗ nó chung kết, sang sảng, oang oang không dừng lại một giây. Như vậy, theo ông, sự xuất hiện của tiếng không là điểm xuất phát của vạn vật trong vũ trụ và khi thời cơ chưa đến thì tiếng không còn ở trong sự hỗn độn, mịt mờ. Trong Ẩn thanh, ông viết: “Từ một luồng khí thông thoáng hỗn độn chưa chia, muôn vàn hiện tượng sinh ra từ cái không, cái không cũng chính là Thái cực”
Ở đây, nếu đứng ở góc độ Phật học, chúng ta thấy không là thể tính của vạn hữu, bất sinh bất diệt, không từ đâu tới cũng không đi về đâu, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, khái niệm. Trong triết học Phật giáo thì không cũng là một khái niệm đa nghĩa, không có nghĩa là bản thể, khởi nguyên, cội nguồn của vũ trụ, vạn vật. Tuy nhiên, ở Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy có bước phát triển mới hơn. Ông không chỉ giải thích vấn đề ở một góc độ tản mạn, không chỉ dựa vào kiến thức Phật học, mà còn đứng trên cả lập trường của Nho giáo để phát triển tư tưởng của mình không, không chỉ là thể tính của vạn hữu, bất sinh, bất diệt mà đứng về phía Nho học thì không còn là thái cực, là khí hỗn nguyên. Ngô Thì Nhậm đã tán đồng với những quan điểm của các nhà Nho đời Tống, khi ông xác định vạn vật của vũ trụ này đều sinh ra từ Thái cực.
Như vậy, có thể nói bản thể luận trong tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm không chỉ mang sắc thái quan điểm Phật giáo, mà còn chứa đựng triết lý Nho và Lão, cho thấy rõ mong muốn dung hoà “tam giáo” của ông. Nhìn chung, khuynh hướng chủ đạo trong bản thể luận của Ngô Thì Nhậm là hướng đến sự dung hoà “tam giáo”. Ông không phải là người đầu tiên theo xu hướng này, nhưng sự hòa hợp của ông không giống như các nhà tư tưởng khác. Ông đã không bê y nguyên các phạm trù về bản thể luận của Phật, Nho, Lão dung hợp thành các phạm trù của mình như các học giả đời Tống, mà chỉ sử dụng các phạm trù Tống Nho đã tạo dựng, như tâm, tính, lý, dục để giải thích trở lại các quan điểm triết học của Phật giáo.
Là một người thấm nhuần triết lý Thiền tông, đồng thời luôn có khuynh hướng dung hoà “tam giáo”, nên các vấn đề trong nhận thức luận của Ngô Thì Nhậm luôn chứa đựng những yếu tố mới mẻ. Tư tưởng của ông thể hiện khá rõ nét về đối tượng nhận thức, mục đích nhận thức, đặc điểm và phương pháp nhận thức. Ông đã hướng con người vào nhận thức lý để có thể đi sâu, hiểu cả hình lẫn ý của sự vật, tức là không chỉ nhìn thấy cái mặt bên ngoài, mà còn phải thấu đáo cái bản chất ẩn giấu bên trong của sự vật. Chính việc nhận thức lý đã quy định nên mục đích nhận thức là tịch diệt và đặc điểm nhận thức là trực giác, nhận thức đuợc lý chung quy là để con người hiểu được sự vật mà không sai lầm, đạt đến cái tâm tĩnh lặng, không chứa dục vọng, vô minh. Ngô Thì Nhậm cố gắng đưa con người đến tịch diệt bằng nhiều phương pháp khác nhau, từ chỗ mong muốn con người thực hiện được sự phát tưởng, ông hướng họ đến việc thực hiện hành tàng, thiện, tinh tiến, tinh nhất, khắc kỷ, sát hại,… đồng thời không bỏ qua phương pháp giáo dục và học hỏi. Ông đã kế thừa tư tưởng của cả Nho, Phật và Lão trong cách giải quyết vấn đề của mình. Do vậy, nhận thức luận trong tư tưởng triết học của ông mang phong cách độc đáo riêng. Ông đã tiếp thu tư tưởng của các bậc thiền sư đời trước, nhưng không phải là sự sao chép, rập khuôn, mà trong đó có sự chọn lọc, phát huy theo một tinh thần mới, phù hợp với tư tưởng của thời đại lúc bấy giờ.
Kế thừa tư tưởng của Nho gia, ông coi trọng lễ trong cách giáo dục, giúp con người bỏ được danh lợi, xa lìa tham sân. Cho thấy, tư tưởng nhân sinh xã hội ở Ngô Thì Nhậm không xa rời lý tưởng nhân sinh của Phật giáo và Nho giáo. Con người khổ phần lớn và chủ yếu là do chính hoàn cảnh sống đã dẫn dắt họ vào con đường lợi dục. Với quan niệm này, ông luôn kêu gọi con người xa lìa danh lợi, hoặc đạo để sáng suốt trong từng hành động, suy nghĩ. Ông còn tin vào quan điểm của Nho gia, khi coi số phận con người là do mệnh trời quyết định. Ông khuyên con người cần phải biết “đợi mệnh” và tuân theo mệnh. Là một người đã từng nếm trải những khổ ải trong cuộc sống, nên ông càng hiểu rõ hơn những số phận ngặt nghèo. Ông cố gắng tìm mọi cách để hướng con người tới một chân lý cao đẹp hơn. Tư tưởng nhân sinh xã hội của ông thắm đượm màu sắc của Phật giáo và Nho giáo. Đây chính là tư tưởng điển hình cho xu hướng dung hoà Nho Phật của ông.
Điều đó cho thấy tư tưởng triết học Ngô Thì Nhậm đã thể hiện rõ sự linh hoạt và sáng tạo trong cách kế thừa, chọn lọc những tinh hoa của nhân loại để lại, đặc biệt là sự kế thừa tư tưởng của các bậc tiền bối. Với tư tưởng triết học này, ông đã có đóng góp lớn, tạo tiền đề lý luận mới cho việc khôi phục Thiền phái Trúc Lâm lúc bấy giờ
3.Nghệ Thuật Thể Hiện Trong Tác Phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
Ngôn ngữ nghệ thuật, nghệ thuật thiền ngữ, ngôn ngữ biểu tượng, nghệ thuật lạ hóa, nghệ thuật điển cố, nghệ thuật ẩn dụ, nghệ thuật thí dụ, không gian nghệ thuật, Thời gian nghệ thuật.
Ngôn ngữ nghệ thuật: Mở đầu tác phẩm, tác giả đã chỉ ra cách nhìn để thấy được chân tướng của vạn vật, thấu rõ các phạm trù Sắc, Không, đạt đến cảnh giới vô ngại, không bị ràng buộc bởi ngoại cảnh, không chấp trước vào ngã và pháp. Đây chính là quan niệm nền tảng, là xương sống để triển khai các Thanh khác. Từ cái Chân Không (cái không chân thật) này sản sinh ra cái Diệu Hữu (cái có vi diệu) nhằm đập tan mọi sự si mê, u tối khai thông trí tuệ, mở ra con đường sáng cho người nghe.
Không Thanh không phải là phủ nhận sự tồn tại của âm thanh, mà là cảnh giới tịch tĩnh của Chân Tâm thanh tịnh, không còn tạp âm, tạp niệm như ánh sáng của mặt không bị mây đen che khuất, trời chiếu soi tất cả mọi chỗ. Khi nội tâm con người thông suốt, sáng rõ thì tự nhiên sẽ nhận chân được bản chất của vạn vật, chân tướng của vạn pháp, thoát ra ngoài mọi định kiến, chấp trước, được an nhiên tự tại. Liễu ngộ được cái lý Không Thanh trong muôn vàn âm thanh tạp loạn của cuộc sống chính là Giải thoát, là Niết Bàn theo ngôn ngữ nhà Phật.
Nghệ thuật hóa: Ở chương 4 được tác giả nghệ thuật hoá một cách rất sinh động bằng hình ảnh “đang ăn bị nghẹn”. Phải chăng, tác giả tự nhận mình chưa tu đến cảnh giới phi phi tưởng, hay là do thấy căn cơ của học trò mình chưa thể lãnh hội được triết lý cao siêu, hoặc ông vẫn chuộng hướng thực tiễn tu cõi Nhân thừa, tu thân làm gốc.
Nghệ thuật biểu tượng : Ở chương Hoán Thanh, lý luận về nhân quả, nghiệp báo, luân hồi được triển khai và lý giải sâu sắc: “Hải Lượng đại thiền sư nói: “Người là người, ma là ma, súc sinh là súc sinh” . Đồ đệ bạch với thầy rằng: Phật nói người chết thì làm dê, dê chết thì làm người, là thế nào? Thầy trả lời rằng: Nho nói thấy lợn đội bùn, chở ma một xe, thì nhà ngươi cho đó là ma thật, lợn thật hay sao? Mắt vốn sáng mà hoa, tai vốn tỏ mà ù, mắt hoa thì không có bóng, tai ù thì không có vang”
Nghệ thuật thí dụ : Như kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, kinh Viên Giác, kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm...Ví dụ như Kinh Lăng Nghiêm có câu, đức Phật dùng âm thanh của tiếng chuông mà khai ngộ cho toàn thể các vị đệ tử của ngài, mà đại diện là A Nan : “Khi đó Phật liền bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng : ‘Ông có nghe không ? A Nan thưa : ‘Nghe’. Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi : ‘Ông có nghe không ?’ A Nan thưa : ‘Không nghe’. Phật lại bảo La Hầu La đánh lại một tiếng chuông nữa và hỏi : ‘Ông có nghe không ?’ A Nan đáp : ‘Nghe’. Phật hỏi : ‘Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?’ A Nan thưa : ‘Vì đánh chuông có tiếng ngân nên con nghe, đến khi tiếng chuông hết ngân thì con không nghe’. Phật dạy : ‘A Nan ! khi tiếng chuông hết ngân ông nói rằng không nghe ,nếu ông thật không có cái nghe thì ông đồng như cây đá, tại sao đánh tiếng chuông thứ hai ông lại nghe? Vậy cho biết cái tiếng (cảnh) khi có khi không, chứ cái nghe (tâm) của ông thì lúc nào cũng có. Nếu cái nghe của ông thật không, thì cái gì biết được không nghe đó. Thế nên biết cái tiếng nó tự sinh và diệt, chứ cái nghe (tâm) của ông không phải vì tiếng sinh mà nó có, tiếng diệt thì nó không. Tại ông điên đảo, hôn mê nhận cái thường (tính nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chứ không phải rời sáu trần cảnh sắc, thanh, hương, v.v.. mà các giác quan thấy nghe hay biết của ông không có” .
Nghệ thuật ẩn dụ: Ở chương 21 như sau, Đạo của trời đất giấu kín ở chổ có nói gì đâu câu này cho chúng ta thấy rằng trời và đất không nói gì cả nhưng bốn mùa vẫn chuyển, trăm vật vẫn nảy nở sinh sôi. Nếu thực chất không nói gì sao chúng ta thấy 4 mùa xuân ,hạ, thu, đông. cứ xoay chuyển mãi thế, mỗi khi mùa xuân về cây cối xanh tươi, cỏ mọc um tùm,khi mùa hạ đến làm cho cây cối heo hắt làm cho con người cảm giác khó chụi vì sự nóng bức,khi mùa thu đến cho ta cảm giác âm thanh xào xạc trước sân báo hiệu mùa thu đã về, khi mùa đông đến làm cho ta cảm giác lạnh. Đây là một thông điệp mà tác giả muốn truyền đến người đọc một ẩn dụ rất tinh vi trong các hình ảnh biểu tượng, từ đó thâm nhập vào người đọc một cách tự nhiên mà sâu sắc qua con đường cảm xúc, bởi vậy chúng ta không để ý thì không có thể nhận ra ẩn ý bên trong đây là một sự sáng tạo nghệ thuật mang lĩnh vực tinh tế.
Nghệ thuật điển cố: Được Hải Hòa diễn đạt bằng hai câu thơ đầy hình tượng và sinh động.
“Vạn thuỷ giai đông Nhược thuỷ tây,
Cúc hoa bất dữ bách hoa tề ”
Tất cả các con sông đều chảy về đông, riêng Nhược thủy chảy về tây, Hoa cúc không nở cùng lúc với trăm hoa. Nước của các dòng sông chảy xuôi về hướng đông là thiên kinh địa nghĩa, nhưng Nhược thuỷ lại chảy ngược về Tây. Tây phương là cõi Phật, đất Thánh, chỉ có nước hoàn toàn thanh khiết, không nhơ bợn thì mới chảy ngược dòng.
Ở đây Nhược thuỷ chỉ cho người tu hành thanh tịnh, tâm không ngũ dục làm cho mê mờ, đắm nhiễm. Cũng như trăm hoa đua nở vào mùa Xuân tiết trời trong lành ấm áp, mùa Thu sương gió rét lạnh thì trăm hoa héo tàn, chỉ có hoa cúc mới chịu đựng được nên mới có thể nở hoa làm đẹp cho đời. Phải chăng thiền sư chỉ cho người học thấy được rằng những người nhẫn nại tu tâm dưỡng tính, thân tâm thanh tịnh, làm đẹp cho cuộc đời, mới về được cảnh Tịnh độ ở Tây phương cực lạc. Cần lưu ý rằng Nhược thủy là nơi chốn của Đạo, là Tiên cảnh, trong cụm từ Bồng sơn Nhược thủy (Non Bồng nước Nhược). Bên cạnh dung hợp giữa Phật và Nho thì chi tiết này đã chứng tỏ trong tác phẩm còn có sự dung hợp giữa Thiền và Đạo.
Không gian nghệ thuật: Là một phạm trù của hình thức nghệ thuật phương thức tồn tại, triển khai thế giới nghệ thuật, là một phương tiện cơ bản tư duy nghệ thuật. Hình thức tồn tại hình tượng nghệ thuật, nó đánh dấu trình độ chiếm lĩnh thế giới con người, có nghĩa là dưới con mắt nhà thiền không gian được nhìn trong tính bản thể của nó.
Thời gian nghệ thuật: Thể hiện phương thức tồn tại triển khai của thế giới nghệ thuật chỉ tồn tại trong không gian và thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không chỉ đơn giản là quan điểm của tác giả về thời gian, mà hình tượng thời gian sinh động.
Tìm hiểu thời gian nghệ thuật chính là tìm hiểu cách cảm nhận cuộc sống một cách nghệ thuật, thẩm mỹ của tác giả dưới con mắt của nhà thiền nhìn thời gian trong chính bản thể của nó.
Nghệ thuật thiền ngữ: Hải Lượng nói “Lý giống như lý lẽ của cây có đốt” , tức là chỉ ra quy luật của tự nhiên, cái đạo của tự nhiên. Đốt cây sinh ra, thể hiện ra bên ngoài cho chúng ta nhìn thấy được, đương nhiên là do sự vận hành, sinh trưởng và phát triển ở bên trong. Nghĩa là nó có thứ tự đầu đuôi; có trong, có ngoài; có cái thấy được và cái không thấy được. Hải Lượng nói tiếp“Lý không thể nào theo hết được”, là muốn cho người nghe thấy được Lý có tương đối và tuyệt đối. Nếu thiền sư muốn xiển dương cái Lý tuyệt đối thì đã không ngồi thuyết pháp và giải thích cho người học
Bởi vì, ngôn ngữ thông thường không thể diễn đạt được cái Lý tuyệt đối. Các vị thiền sư hay dùng những phương pháp đặc biệt, dùng nghệ thuật thiền ngữ dồn thúc đệ tử vào đường cùng của tư duy lôgic, giúp họ bừng vỡ chân lý tuyệt đối, ngộ được chân tâm, Phật tính. Trong khi đó thì Hải Lượng từ từ dẫn dắt người học vào con đường tu nhân đạo, tu tâm dưỡng tính, nên mới nói cái Lý tương đối.
4. Chương 19 :Túc Thanh ( Tiếng Động).
4.1. Tiếng Đọng Là Gì ?.
Tiếng đọng là tiếng được quy tụ lại ,mà quy tụ lại sao lại có tiếng nghĩa là . Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra âm thanh của tiếng như sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được. Ngược lại cái đọng nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân .
Đây chẳng phải là thủ pháp dựng dậy những mối quan hệ đối lập gợi liên tưởng được dùng phổ biến trong Đường thi ,có thể nó tiếng đọng là một không gian bao la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng. Tất cả điều đó càng làm tăng cảm giác về sự bao la vô hạn của không gian. Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không. Nó biểu trưng cho cái "Không" của Thiền. Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ. Đây là không gian được lọc qua con mắt Thiền, tức mọi vật đều không có thanh, còn đọng là con người tìm về chổ tối nghĩ ngơi, để định được chổ râm mát, quy tụ lại một cách trang nghiêm như vậy gọi là tiếng đọng.
Còn chữ Thanh không phải là phủ nhận sự tồn tại của âm thanh, mà là cảnh giới tịch tĩnh của Chân Tâm thanh tịnh, không còn tạp âm, tạp niệm như ánh sáng của mặt trời không bị mây đen che khuất, trời chiếu soi tất cả mọi chỗ. Khi nội tâm con người thông suốt, sáng rõ thì tự nhiên sẽ nhận chân được bản chất của vạn vật, chân tướng của vạn pháp, thoát ra ngoài mọi định kiến, chấp trước, được an nhiên tự tại. Liễu ngộ được cái lý Không Thanh trong muôn vàn âm thanh tạp loạn của cuộc sống chính là Giải thoát, là Niết Bàn theo ngôn ngữ nhà Phật.
4.2. Phật Lưu Giử Xá Lợi.
Tinh thuộc thủy, thuộc huyết, về loại thì thuộc âm, cho nên thích hợp với sự cất giấu. Thần thuộc hỏa, thuộc khí, về loại thì thuộc dương. Ý muốn nói trong cuộc sống tu tập chúng ta luôn luôn buông xả, không nên cố chấp thì mới có thể giử được cái thân tướng của mình. Phật lưu giử Xá Lợi ở đây nói đến công năng tu tập, tu tập làm sao mà giử được bản tính thanh tịnh chính mình không bị ngoại cảnh chi phối ,bởi mỗi con người đều có sẳn Xá Lợi trong mình nhưng đòi hỏi tự bản thân của họ có biết nhận ra hay không, khi nhận ra thì phải biết nổ lực tu tập .
Như Đức Phật và các vị Tổ của chúng ta trong suốt quãng đời nghiêm trì giới Luật các Ngài đã giử được Xá Lợi , và để lại làm hành trang cho các thế hệ sau lấy đó làm điểm tựa để tu tập. Hơn thế, Xá Lợi còn biểu tượng cho hạnh nguyện từ bi cứu khổ của chư Phật cũng như chư vị Thánh Tăng. Dù hóa thân không còn nữa, nhưng vì lòng thương, quý Ngài đã hoại thân thành những Xá Lợi bất diệt, làm lợi ích cho nhân sinh.
4.3. Mục Đích Của Tháp .
Mục đích của tháp là chỗ thờ phải cao ráo, nơi hội tụ công đức, ngôi mộ lớn, lăng mộ, linh miếu v.v..Vậy , tháp thường dùng để chỉ cho những chỗ được kiến tạo để thờ Xá Lợi của Phật. Sau khi Phật nhập diệt, Xá Lợi của Phật được thờ nơi thoáng mát cao ráo nơi tôn nghiêm để tỏ lòng cung kính với những người đã khuất. Và mục đích xây tháp là ý muốn nói đến khi sống thì chúng ta nghiêm trì giới Luật, và giử được cái tinh ấy để không bị hủy hoại, còn việc xây tháp là để khi chết, giử cho được cái thần ấy, để không bị tan đi. Qủa thật thân này cùng một thể với trời đất, nếu chúng ta biết giử gìn trang nghiêm thì được lâu dài mãi mãi với trời đất. Cho nên khi sống thì giử cho trang trọng khi chết thì giử cho trang nghiêm, đó cũng là giử cái tinh thần vậy.
Qua chương này cho chúng ta thấy cách giải thích của nhà nho và nhà phật như sau , về nhà Phật họ cho rằng giới sắc, nho viễn sắc ,sở dĩ như vậy là để tụ lại tinh thần, có lẽ vì tinh thần cất chứa bên trong thân, thân là cùng một thể với trời đất. Cho nên, khi sống thì giử cho trang trọng, khi chết thì giử cho trang nghiêm, không dám không giử nó, đó cũng là giử cái tinh thần vậy. Còn nhà Nho họ dùng âm dương phong thủy để làm chổ cầu phú cầu quý, cố nhiên là giống như đúng mà thực là sai.
5. Chương 20: Bất Qủa Thanh : ( Tiếng Không Thanh).
Chương này muốn nói đến ý trời và ý người, Ý trời không chắc cái nó nhận được là to lớn, không có hạn định nào cả. Ý người là chắc cái nó nhận được là nhỏ bé, do đó ý trời và ý người không giống nhau. Nói đến trời thì không gì là không che chở được , không gì là không bao hàm được, vậy chúng ta tìm hiểu các ý sau:
5.1. Ý Của Như Lai (ý trời).
Phật là giác, theo Phật là tỉnh giác, không sống mê, gột rửa hết tam độc u mê trong tâm, gìn giữ thân khẩu ý không tạo ác, là nuôi dưỡng lòng từ, phát huy trí tuệ. Ta có khả năng thành thánh, nhưng lại quen làm theo phàm. Trong ta có hạt giống xấu lẫn tốt, thánh thiện lẫn uế trược. Tu theo Phật, là phát triển nhân tốt, làm mất đi tất cả hạt giống xấu. Là khai triển Bồ đề tâm để làm lợi mình lợi người, mở kho từ bi , khéo dùng trí tuệ quán chiếu để đối cảnh không bị khổ làm điên đảo, không để tham sân si mê hoặc, khiến tính tật bành trướng hành mình, hành người. Thế thì càng tin Phật, càng học pháp, càng hành theo giáo lý Ngài, ta càng thu được ích lợi... chứ chẳng phải mê tín không đâu. Phật luôn xác nhận. Nếu tu đúng đường (chánh đạo), thì càng tu phước trí, đức hạnh càng tăng, càng được người ái kính, vì tâm hạnh Bồ tát, lòng vị tha rộng lớn tỏa lan. Phật cũng là chủ thể, Phật cũng là đối tượng. ý Phật sẽ là gốc rễ đưa ta nhận biết ra mọi thứ ở thế gian. Không có sự hiện hữu của Phật tánh, chắc hẳn tính giác sự giác ngộ của loài người đều bị hạn hẹp và cái thấy cũng bị chướng ngại. Vì bản chất của Phật là vắng lặng. Các duyên, các pháp cũng từ đó mà sinh khởi lớn dần lên....
Chỉ có Phật và Phật mới có đủ thẩm quyền để hiểu nhau, ngoài Phật không có ai có thẩm quyền để hiểu được Phật một cách toàn vẹn. Ý của Phật ta không thể luận bàn được, hạnh của Phật ta không thể đong lường được, tình thương của Phật ta không thể diễn tả được và công đức của Phật ta không thể nói hết được, nhưng niềm tin tưởng của ta đối với Ngài, ta có quyền thể hiện được ngay trong điều kiện hiểu biết của ta.Ta tin rằng, đức Phật là bậc toàn giác đối với mọi sự hiện hữu, đó là quyền của ta, nhưng không phải vì do ta tin mà Ngài trở thành bậc Toàn giác, hay do ta không tin mà Ngài không phải là bậc Toàn giác.
Sự Toàn giác của đức Phật là chính ở nơi ý và trí của Ngài, chứ không phải ở nơi tâm và trí của ta, vì vậy ta có tin tưởng và ca ngợi hết lời về Ngài, thì sự toàn giác nơi Ngài chẳng phải vì sự tin tưởng và ca ngợi của ta mà tăng thêm và cũng không phải vì ta hủy báng Ngài đến hết cả lời, mà sự toàn giác ở nơi đức Phật bị thiểu giảm.Ý của bậc Giác ngộ không hề sinh ra bởi sinh và không hề bị diệt mất bởi diệt, nên mới gọi là tâm của bậc Giác ngộ hoàn toàn.Ý ấy mọi người đều có, nhưng không nhận ra, nên sống với ý chúng sanh và bị ràng buộc ở trong sanh tử, những bậc có trí trong đời nhận ra ý ấy và thường sống với ý ấy, nên thong dong giữa đôi bờ sanh tử.
5.2. Ý Chúng Sanh Phân Biệt .
Tất cả chúng ta đã huân tập nhiều hành động ô nhiễm và phiền não. Ví dụ phiền não là tham, sân, si. Ðây là những mức độ khác nhau của phiền não những phiền não vi tế, phiền não bậc trung và phiền não thô. Những phiền não không xuất hiện trong tâm, nhưng chúng là những khuynh hướng tiềm ẩn đã được huân tập và ngủ ngầm trong tâm. Khi chúng ta ngủ không mơ mộng, không có những tâm bất thiện, nhưng có những khuynh hướng tiềm ẩn bất thiện. Khi chúng ta thức dậy thì những tâm bất thiện xuất hiện trở lại. Nếu không có tâm bất thiện ngủ ngầm thì làm sao chúng có thể xuất hiện được? Ngay khi tâm thiện phát sinh vẫn có tâm bất thiện ngủ ngầm chừng nào chúng chưa được diệt trừ bằng trí tuệ. Phiền não bậc trung thì khác với phiền não vi tế bởi vì nó phát sinh cùng với tâm. Phiền não bậc trung phát sinh cùng với tâm bất thiện đã có nguồn gốc tham, sân, si. Ví dụ phiền não bậc trung là tham đắm vào điều gì mà người ta thấy, nghe hoặc suy nghĩ do thân căn, hoặc là sân hận với những đối tượng mà mình không thích. Phiền não bậc trung thì không thúc đẩy tạo những ác nghiệp. Phiền não thô thúc đẩy nghiệp bất thiện do thân, khẩu, ý như sát sinh, trộm cắp. Thực ra tác ý là nghiệp; nó có thể thúc đẩy hành động thiện và hành động ác. Nghiệp là danh pháp và do đó nó được huân tập hành động. Người ta tạo tác những phiền não và nghiệp khác nhau.
Mỗi tâm sinh diệt hoàn toàn thì tiếp tục một tâm khác phát sinh. Làm thế nào có thể huân tập được kinh nghiệm sống và huân tập hành động thiện ác? Lý do là mỗi tâm diệt tiếp theo là tâm khác sinh. Ðời sống chúng ta là một chuỗi tâm không gián đoạn và mỗi tâm trợ duyên cho tâm sau và tâm này trợ duyên cho tâm kế nữa, và như vậy quá khứ có thể trợ duyên cho hiện tại. Ðiều thực tế là tâm thiện và tâm bất thiện của chúng ta trong quá khứ trợ duyên cho hành động cho chúng ta ngày hôm nay. Như vậy hành động thiện và bất thiện đã được huân tập.
5.3. Ý Chúng Sanh Bình Đẳng Và Thực Tập Tu Tâm Ý Bình Đẳng .
Tư tưởng bình đẳng được vị thiền sư khơi nguồn cho dòng thiền Trúc Lâm đời Trần là Tuệ Trung Thượng sĩ, người đã triệt ngộ, sống trọn vẹn với con người thật trong mỗi con người, đã khẳng định rằng :
“Mi mao tiêm hoành tỵ khổng thuỳ,
Phật dữ chúng sinh đô nhất diện.”
Nghĩa là:
Cũng nét mày ngang đường mũi dọc
Phật với chúng sinh mặt khác nào
Quan niệm Phật và chúng sinh hoàn toàn bình đẳng đều có cùng bộ mặt thật với lông mày ngang, đường mũi dọc thật là hy hữu hiếm thấy trong thời trung đại, thời kỳ mà ý thức hệ phong kiến với các thế lực siêu nhiên chi phối bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những lực lượng bất khả xâm phạm này được nhìn nhận là đấng siêu nhiên, bậc bề trên của con người. Sự thống nhất của ý thức hay ý chí là sự thống nhất có giới hạn. Vì ý thức chỉ hoạt động khi ta ý thức và ý thức không thể hoạt động khi ta không ý thức, nghĩa là khi ta ngủ. Và ý thức không phải lúc nào cũng ý thức, vì có nhiều khi ta đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, nói cười, làm việc không có ý thức. Ý thức là ý thức đối với một cái gì và nếu không có cái gì, thì ý thức không thể biểu hiện để có mặt. Vì vậy, tự thân của ý thức là giới hạn. Nên, những gì do ý thức đem lại cũng bị giới hạn như chính nó.
Vì vậy, sự thống nhất của thân thể không phải là sự thống nhất của ý thức mà sự thống nhất tự bản chất hay từ tánh thể của chính nó. Sự thống nhất như vậy là sự thống nhất mầu nhiệm của thân thể.Thân thể không phải chỉ thống nhất với đồng loại mà còn thống nhất với phi loại. Thống nhất đồng loại, nghĩa là thân thể cùng liên kết, hỗ dụng và thống nhất với nhau trong những cấu trúc sinh học vật lý. Thống nhất phi loại, nghĩa là trong quá trình tiếp xúc với những phi loại, tự thân của thân thể chế tác ra những phi loại tương ứng, để cộng thông với những phi loại ấy và cùng với những phi loại ấy, tạo ra những tương tác thống nhất trong mâu thuẫn và mâu thuẫn trong thống nhất.Khi tâm ta vui, ta thấy thân ta nhẹ nhàng, thanh thoát, mặt mày tươi nhuận, làn da bóng láng khi tâm ta buồn, ta thấy thân ta nặng nề, ủ dượi, mặt mày hốc hác, bơ phờ, làn da xù xám. Như vậy, ta thấy rằng, thân thể và tâm hồn không phải chỉ gắn bó với nhau mà còn thống nhất với nhau rất mực tự nhiên. Tự nhiên đến nỗi ta không thể nào biết được đâu là lằn mức của chúng. Bản thể thống nhất của chúng là Không. Thân không có bất cứ một cái ta nào cho chính nó và tâm cũng không có bất cứ một cái ta nào cho chính nó. Chính không có cái ta ấy, là bản thể thống nhất của thân và tâm, và là cốt lõi cho mọi sự hòa điệu.
Qua chương 20 thì cho chúng ta thấy cái đẹp sáng trong là vật báu của trời, tùy lúc mà phát ra, cái đẹp sâu kín, mà ẩn dấu của trời đất tùy lúc mà sinh ra. Theo cách nghĩ của Nghiêu, Thuấn, Khổng Tử…Cho rằng cai trị thiên hạ bằng chính sự, hoặc giáo hóa thiên hạ bằng đạo đức, điều là cái đẹp sáng trong vậy. theo cách nghĩ của nhà phật và Liên , Kim, Nguyên thì dùng lời nói để thức tỉnh thiên hạ, hoặc dùng tài trí để giành thiên hạ, đều là tiếp thu cái đẹp sâu kín, đều là bậc thánh nhân theo vận mà sinh ra , có lẽ ý trời không chổ nào là không có, nơi nào ý tới thì khí cũng tới, có sự vận hành mười phương, thì sinh ra sự vận hành tương ứng.
6. Chương 21: Tàng Thanh : ( Tiếng Ẩn Giấu).
6.1. Bàn Về Đạo Dấu Kín.
Đạo của trời đất giấu kín ở chổ có nói gì đâu câu này cho chúng ta thấy rằng trời và đất không nói gì cả nhưng bốn mùa vẫn chuyển, trăm vật vẫn nảy nở sinh sôi. Nếu thực chất không nói gì sao chúng ta thấy bốn mùa xuân ,hạ, thu, đông. cứ xoay chuyển mãi thế, mỗi khi mùa xuân về cây cối xanh tươi, cỏ mọc um tùm,khi mùa hạ đến làm cho cây cối heo hắt làm cho con người cảm giác khó chụi vì sự nóng bức,khi mùa thu đến cho ta cảm giác âm thanh xào xạc trước sân báo hiệu mùa thu đã về, khi mùa đông đến làm cho ta cảm giác lạnh.
Đây là một thông điệp mà tác giả muốn truyền đến người đọc một ẩn dụ rất tinh vi trong các hình ảnh biểu tượng, từ đó thâm nhập vào người đọc một cách tự nhiên mà sâu sắc qua con đường cảm xúc, bởi vậy chúng ta không để ý thì không có thể nhận ra ẩn ý bên trong đây là một sự sáng tạo nghệ thuật mang lĩnh vực tinh tế nhất khiến con người phải tò mò vì chúng ta thấy rõ thời gian luôn vận hành biến đổi, xuân hạ thu đông, rồi lại xuân hạ thu đông, xoay vòng mãi không ngừng, thời gian vùn vụt trôi qua, cái già nua kéo đến ,cái vinh hoa phú quý gác tía lầu son bị thời gian thiêu hủy, nhìn lại chỉ giấc mộng đêm qua, tháng năm đến dồn chứa những nỗi đau khổ chồng chất trong lòng, mai kia còn trôi dạt trên mọi nẽo khổ đau trong kiếp luân hồi, lặn hụp trong biển sanh ái, như những hòn bọt chợt hợp chợt tan trên mặt nước muôn kiếp luân hồi khó ra được. Do đó ý câu này muốn nói đến nơi mình đã có sẳn chơn tâm muôn đời, mà chúng ta không hề hay biết, nay gặp cơ hội tốt không chụi thức tỉnh dạy ngay, thử hỏi còn đợi lúc nào,ngay lúc này chúng ta không thức tỉnh thì bao nhơn duyên tốt lành đành thả trôi sông, thế là uổng đi một kiếp người.
Còn đạo của thánh nhân giấu kín trong chữ vô vi như thế nào ?.
Vô vi của Lão Giáo nghĩa là không làm gì hết, nhưng theo cách nghĩ của người Trung Hoa, danh từ vô vi nghĩa là không làm gì cả, mà hoạt động một cách tự nhiên, không hoạt động có tính giã tạo, gò ép, và không làm mất cái đức tính tự nhiên, thuần phác vốn có của vạn vật.
Ngoài ra Lão giáo chủ trương sống ẩn dật, thuận theo lẽ thiên nhiên của trời đất. Do đó, vô vi nghĩa là không làm gì trái với thiên nhiên luật trời không làm một cái gì thuộc về nhân tạo, còn Lão giáo đi ngược với khổng giáo vì khổng giáo đặt ra luật lệ để cai trị nước bao gồm tam cương ngũ thường.
Vô vi theo Phật giáo: Có nghĩa là không tạo tác, chỉ cho pháp lành thường trụ, không do nhân duyên tạo tác, không có sanh diệt biến hoại, cho nên pháp vô vi chính là tên gọi khác của niết bàn. Qua hai ý trên cho chúng ta thấy rằng đạo dấu kín ở đây có nghĩa là không phải là không làm mà không có việc gì là không làm nhưng làm với sự kín đáo chứ không phải là sự khoe khoang. Và bên cạnh đó tác giả đánh thức chúng ta quay về để nhận ra thể tánh của mình mà bấy lâu chúng ta đã đánh mất chính mình, phật tánh hay đạo là thể chân thật của mình, một khi chúng ta trực nhận phật tánh hay bản lai diện mục của mình, chừng đó nơi nào chốn nào cũng là phật cũng là đạo,dù bốn mùa có thay đổi. Nói đông nói tây cuối cùng quý ngài chỉ cho chúng ta thấy được phật tánh nơi chính mình mà thôi.
6.2. Trời Đất, Thần ,Phật, Thánh Hiền Khéo Dụng Âm Như Thế Nào.
Âm ở đây chính là trong bản thể chân như Phật tánh của mình chứ không phải là cái ở bên ngoài, Phật tính, tuy nó không lệ thuộc vào điều kiện thời gian và không gian, siêu việt lên trên, mà mặt khác nó cũng đồng thời tiềm tàng linh động trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ sự vật, biến hoá không ngừng. Vì bản thể chung của nhân loại, mà đã là con người thì bất cứ ở thời nào hay ở đâu cũng đều có tính bản nhiên thanh tịnh ấy. Mỗi con người, từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây đang thể hiện tính Phật dưới một dạng nào đó, mà ta không biết thôi
Vd “Kinh Kim Cương Tam Muội “ vua Trần Thái Tông có dịp chú giải thì ta phải liễu tri “tâm tính chúng sanh không khác nhau về chân tính” . Cho nên, đi tìm Phật ở một nơi nào đó sẽ không bao giờ tìm thấy được, ngược lại tìm Phật nên tìm ngay trong đời hiện tại của mình, tức hướng vào nội tại tâm thức mà tìm . Do đó Đức Phật ví tâm tính của chúng ta như vượn chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài đồng ruộng, chẳng khác nào từng đợt sóng vỗ ngoài biển khơi có rồi mất ,mất rồi có. Con người ta buồn đó rồi vui đó, thương đó giận đó, phút trước ta nhớ chuyện này, phút sau ta nghĩ chuyện khác, hôm qua tinh tấn tu hành, hôm nay ưu phiền thối chuyển, cũng chính ngay tâm sanh diệt biến đổi này là hiện diện của tham sân si, làm cho tâm tánh chúng ta chạy theo trần cảnh bên ngoài mà bỏ mất đi bản tâm vốn thanh tịnh của mình,trong sáng thường trụ bất sanh diệt, nếu xa lìa những ý niệm điên đảo, trở về sống với chơn tánh sáng suốt thanh tịnh thì sẽ không còn nữa.
Và chúng ta biết được cái ở bên ngoài là những thứ tạm bợ giã trá, và sáng suốt cái vui chân thật ấy nó nằm bên trong cái lớp giả dối tạm bợ của cỏi đời này, khi chúng ta quyết định gạt bỏ cái võ giả dối ấy thì cái giá trị chơn thật, cái hạnh phúc chơn chánh, cái phật tánh sáng suốt chắc thật muôn đời sẽ hiện ra. Khi chúng ta hiểu được phật tánh rồi thì hãy nỗ lực tu tập để trở về với nguồn chơn hạnh phúc. Như vậy gọi là khéo dụng âm, do vậy đạo của trời đất là quý cái tối, cái nhỏ, cái kín, cái bí ẩn, mà cái gì cùng cực thì cuối cùng là sự nhỏ nhiệm nhất. Đây là quy luật trường tồn từ bao lâu nay không thay dổi được. VD như chúng ta ở trong bóng tối lấy đèn pin rọi thì bất chợt ta thấy trong bóng tối ánh sáng đó tỏa thật là sáng,càng tối thì ánh sáng càng lan tỏa như thế cái gì nó nằm ở bên trong gọi là âm, còn ở bên ngoài gọi là dương. đây cũng là một thông điệp mà tác giả muốn gởi đến cho tất cả mọi người học đạo.
6.3. Sự Gian Tà Hay Tráo Trở Lật Lọng, Cho Nên Không Kịp Thánh Hiền.
Như trong cuộc sống chúng ta đã biết cái thiện lúc nào cũng thắng cái tà , hoặc có nhiều lúc chúng ta làm một việc gì đó mà muốn người khác không biết làm một cách gian dối, nhưng đối với bậc thánh nhân thì chúng ta không thể che dấu được.
Cũng như qua câu chuyện có một vị Tỳ Kheo ở trong chúng do phá giới nên bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn, trong khi đó ở bên bọn quỷ cũng có một con quỷ bị đuổi. Do vì không có ai cúng dường nên vị Tỳ kheo buồn rầu, khi tâm bất định con quỷ hiện ra và nói rằng ta sẽ giúp ông có sự cúng dường và cung kính ông , nên vị tỳ Kheo đồng ý nhưng với điều kiện khi được sự cúng dường phải chia hai, vị này đồng ý. Do đó mỗi ngày con quỷ đội vị Tỳ Kheo đi khất thực do mắt phàm nên không nhìn thấy quỷ, dân chúng tưởng rằng vị tỳ Kheo tu chứng nên cúng dường rất nhiều. Nhưng một hôm có vị Thánh Tăng thực tu đi ngang qua, do vậy con quỷ lực yếu sợ vị này đành thả vị tỳ kheo này ra nên dân chúng xúm lại nói rằng vị tỳ kheo bị đức thần thông.
Qua câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng thần , phật là những vị tu chứng quý ngài có thần thông quảng đại, mà chỉ dùng khi nào vì phương tiện cứu giúp chúng sanh thì mới hiện thần thông mà thôi, chứ không như chúng sanh tu tập thì đang còn kém cỏi, phước đức thì không có mà dùng những phép yêu thuật lừa dối mọi người thật là một chuyện không nên làm, làm sao chúng ta lấy vải thưa che mắt thánh được, cho nên kẻ gian tà hay tráo trở lật lọng cho nên không kịp thánh hiền là vậy.
6.4. Người Quân Tử Học Đạo Quý Ở Chổ Có Âm Đức .
Có hai người làm việc thiện, một người làm thì muốn được mọi người biết đến, muốn được trời báo trả như thế gọi là dương đức, mà có dương đức thì tức
có âm như vậy người ta gọi là không khéo dụng âm, còn người kia làm việc thiện suốt đời mà không cần người khác biết đến, cũng không muốn được trời báo trả, như vậy có âm đức tức là có dương báo như vậy gọi là khéo dụng âm.
Mà âm đức khiến người ta kín đáo chụi ơn ở đây có nghĩa là không thấy mình là người thí, vật thí và người thọ thí. Hay nói một cách khác là bố thí ba la mật. Còn như trong kinh kim cang nói: Nếu vị Bồ Tát tu tướng bố thí thì dù phước đức không thể nghĩ lường, trong khi bố thí ta phải quan sát nổi khổ của chúng sanh, phát đại bi tâm, sẵn sàng đem tài sản, trí tuệ làm tàng lọng che mát cho đời, xoa dụi đi nổi đau của chúng sanh, tặng vật của chúng ta dù lớn hay nhỏ đều hàm chứa lại trong lòng người một cảm tình kính trọng thâm sâu khiến họ âm thầm cảm mếm, tìm đến gần gủi với ta, nương vào đó ta dùi dắt họ đi trên con đườngchân, thiện, mỹ.
7.Ứng Dụng Tư Tưởng Nghệ Thuật Nghệ Thuật Thể Hiện Qua Tác Phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
Sau khi học xong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh cho chúng ta thấy rằng con người vì ham mê hưởng thụ vật chất và những phát minh khoa học cao độ mà đánh mất chính mình. Bên ngoài thì say sưa cuồng loạn, bên trong lại sầu muộn hoang mang. Không tự mình nỗ lực tu tập, và không nhận ra con đường chơn chánh.
Vậy hôm nay, chúng ta học được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm Ngô Thị Nhậm thì ý thức được một cách thấm thía từ lời nói ấy như một lời cảnh tỉnh sâu rộng, mãi vang dội trong thâm tâm của mỗi con người. Tuy nhiên, trong tác phẩm các tác giả đã dùng nhiều nghệ thuật để diễn giải mong sao người học Phật hiểu và nắm bắt được để áp dụng vào cuộc sống .Vì con người luôn đi tìm những vật chất ở bên ngoài mà bên đi bản tâm thanh tịnh chính mình, với những lời dạy trên không ngoài mục đích xác định hạt giống Phật trong mỗi con người, và khơi dậy niềm tin sâu xa trong con người. Qua đó, ta thấy các tác giả khẳng định giá trị vai trò của chúng sanh có đầy đủ các đức tính Phật. Dù con người có cuồng si nhưng vẫn có năng lực tối thượng tiềm ẩn, cho nên có thể thần tựu Phật quả tuy nhiên vấn đề là làm thế nào để khai thác kiến tánh thành Phật trong mỗi chúng sanh . Nếu chúng ta biết vun bồi khơi dậy, làm thức tỉnh Phật tánh thanh tịnh ban sơ sáng suốt mà vốn dĩ bị vô minh che lấp, thì chúng ta sẽ giác ngộ giải thoát .
Như vậy, việc chuyển hóa thân tâm là bức đột phá quan trọng trong quá trình tu tập, cho nên chúng ta phải có đủ niềm tin nơi chính mình, niềm tin nơi tri kiến Phật có sẵn trong mỗi con người. Để nỗ lực chuyễn hóa thân tâm mình trở nên thanh tịnh, lúc ấy tánh sẽ hiễn lộ mới hết đau khổ chấm dứt, nhưng điều quan trọng phải phát khởi tri kiến nơi chính mình.
C.KẾT LUẬN.
Tóm lại qua đây cho chúng ta thấy rằng Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh phần Chính văn của Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng) là một tác phẩm thuộc thể loại luận thuyết tôn giáo, mang tính tư tưởng triết học vi diệu, thuộc loại hình văn triết bất phân độc đáo ,với hình thức kiểu công án Thiền gắn với cảm quan và mỹ học Tam giáo Phật, Đạo, Nho.Qua các chương gắn liền vời nhau để nói lên sự trải nghiệm và thể hiện vô cùng sâu sắc những tinh hoa của cả ba hệ tư tưởng cổ đại lớn của nhân loại bằng nghệ thuật ngôn từ một cách mới mẻ, độc đáo làm cho người học có sự tìm tòi trong học tập cũng như trong nghiên cứu .
Trong đó, tư tưởng Phật giáo Thiền tông được tập trung thể hiện khá đậm nét như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Kim Cang… Tông là một trong những nét đặc trưng của giáo lý nhà Phật, chữ Thanh là chữ rất quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, cũng là mấu chốt để thâm nhập vào toàn bộ nội dung tác phẩm. Cho nên , qua chương 19- 20- 21 này tác giã đã cho chúng ta thấy được bản tâm thanh tịnh nơi chính mình Và chúng ta biết được cái ở bên ngoài là những thứ tạm bợ giã trá, và sáng suốt cái vui chân thật ấy nó nằm bên trong cái lớp giả dối tạm bợ của cỏi đời này, khi chúng ta quyết định gạt bỏ cái võ giả dối ấy thì cái giá trị chơn thật, cái hạnh phúc chơn chánh, cái phật tánh sáng suốt chắc thật muôn đời sẽ hiện ra. Khi chúng ta hiểu được phật tánh rồi thì hãy nỗ lực tu tập để trở về với nguồn chơn hạnh phúc. Như vậy gọi là khéo dụng âm, do vậy đạo của trời đất là quý cái tối, cái nhỏ, cái kín, cái bí ẩn, mà cái gì cùng cực thì cuối cùng là sự nhỏ nhiệm nhất. Cũng như tiếng đọng là tiếng được quy tụ lại ,mà quy tụ lại sao lại có tiếng nghĩa là . Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra âm thanh của tiếng như sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được. Ngược lại cái đọng nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân .
Đây chẳng phải là thủ pháp dựng dậy những mối quan hệ đối lập gợi liên tưởng được dùng phổ biến trong Đường thi ,có thể nó tiếng đọng là một không gian bao la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng. Tất cả điều đó càng làm tăng cảm giác về sự bao la vô hạn của không gian. Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không. Nó biểu trưng cho cái "Không" của Thiền. Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ. Đây là không gian được lọc qua con mắt Thiền, tức mọi vật đều không có thanh, còn đọng là con người tìm về chổ tối nghĩ ngơi, để định được chổ râm mát, quy tụ lại một cách trang nghiêm như vậy gọi là tiếng đọng. Đọng ở đây cũng nói lên bản tâm thanh tịnh của chính mình.
Sự kế thừa tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm, Ngô Thì Nhậm triển khai nó qua tinh thần yêu thương con người và vạn vật một cách không phân biệt trên nền tảng triết lý tính không ở chương đầu tiên, quán triệt, thể nghiệm sâu sắc, có cơ sở hơn khi thể hội vào Phật tính bình đẳng trong mọi chúng sinh ở chương 19- 20- 21 và cũng như các chương khác không những vậy, ông còn thực tiển hoá tinh thần bình đẳng của nhà Phật qua việc dung hoà cái nghĩa đại đồng trong tinh thần Phật, Đạo ,Nho gia vào trong tư tưởng bình đẳng của Phật gia.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thì Nhậm Tác phẩm Toàn Tập 3 , NXB Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, HN, 2001.
2. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Nxb Hà Nội 1988.
3. Cao Xuân Huy- Thạch Lan ( Chủ Biên ), Tuyển Tập Ngô Thị Nhậm, Tập 2, Nxb KHXH,Hà Nội, 1978.
4. Mai Quốc Liên ( Chủ biên và khảo luận ), Ngô Thị Nhậm Tác Phẩm Tập 3, Nxb Văn Học, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Hà Nội, 2001.
5. Ngô Thị Nhậm, Toàn Tập Tập V, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Nxb KHXH, 2001.
6. Trần Thị Băng Thanh, Ngô Thị Nhậm Một Tấm Lòng Thiền Chưa Viên Thành, Nxb Hà Nội, 1995.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét