THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

VO THUONG

A. DẪN NHẬP Vô thường là một hiện tượng phổ quát tác động lên mọi mặt của hiện hữu. Mỗi năm mỗi mùa liên tục nối tiếp nhau, mỗi mùa có những thay đổi đặc trưng: sự chuyển đổi của nhiệt độ, xuân xanh, hạ nóng, thu tàn, đông lạnh. Và chu kỳ cứ thế lại bắt đầu,những thay đổi ấy không thể tránh, dù có thích mùa xuân ấm áp, nhưng cái lạnh của mùa đông cũng tới. Về con người thì theo quy luật sanh, lão, bệnh, tử. Khi nghe đến hai chữ vô thường, người ta thường cho đó là về sự phù du mỏng manh của kiếp người. Hơn nữa, đời người là thứ quá bấp bênh, sống chết không kiểm soát được cho nên vô thường cũng gắn liền với chềt chóc. Nhưng thật sự có phải vô thường mang hình ảnh ảm đạm như vậy không? Trong tất cả mọi sự vật hiện tượng luôn luôn có hai mặt đối lập và chúng hiện hữu cùng một lúc như: mặt trái mặt phải, cái thiện cái ác, cái cao cái thấp, ưu điểm và nhược điểm…. thì vô thường không thể nằm ngoài quy luật này. Vô thường không phải là một điều xấu, nó cũng có mặt tốt: nếu hạnh phúc không tồn tại mãi mãi, thì sự bất hạnh cũng không vĩnh cửu. Khi hết hạnh phúc, người ta bất hạnh; và người ta cũng trở nên hạnh phúc khi hết bất hạnh. Đi từ trạng thái này qua trạng thái kia xảy ra tự nhiên. Không phải hãm lại sự chuyển động và biết nắm lấy những sự vật như chúng đến, chấp nhận chúng như vậy, dù cho những xúc tình chúng khơi dậy nơi chúng ta....Nếu như mọi người chấp bản ngã của ta, chấp các vật tồn tại mãi mãi và từ chối sự hiện hữu của vô thường, vô ngã nên thấy khổ; nhưng chính sự có mặt của vô thường cũng làm cho mọi người vui khi biết vận dụng được mặt tốt của nó, thậm chí có một vẻ đẹp vĩ đại trong sự biến chuyển thường hằng này. Chính vì vô thường cho nên con người mới nỗ lực, mới tìm ra cái khả năng biến hóa hướng thượng. Chính vì mọi thứ biến hóa từng khắc cho nên không thể xao lãng phút giây nào. Vô thường trình bày nhân sinh quan nền tảng của Phật giáo mà cũng là trụ cột chống đỡ cho chủ nghĩa nỗ lực của Phật giáo. Cho nên hôm nay người viết xin gởi đến quý độc giả một cách nhìn mớitrongtriết lý đời sống qua lăng kính Phật giáo mang tựa đề “tri ân vô thường”,chỉ mong làm sáng tỏ những người có cái nhìn sai lệch về vô thường. Sống trên đời ít nhiều gì ai cũng có lòng biết ơn đối với những ai đã giúp ích ta, như biết ân người sanh thành dưỡng dục, biết ân người thầy cô, rồi đến bạn bè thân quen .v.v.. Rộng hơn nữa là tri ân đến toàn thế giới nhân sinh quan và vũ trụ quan. Vì trong sự sống có mối tương quan chặt chẽ với nhau, nương tựa nhau mà tồn tại, trong đạo Phật thường gọi là mười hai nhân duyên cái này có thì cái kia mới có, cái này sanh thì cái kia mới sanh. Tri ân là một cử chỉ thể hiện lòng yêu thương sự sống.Để tri ân vô thường trước hết chúng ta phải nhận ra được ưu điểm của nó, và có một cách nhìn đúng đắng hơn khi tìm hiểu về bản chất sự thật của cuộc đời, rồi suy nghiệm định hướng cho đời sống được hạnh phúc bình an. Sau đây người viết xin gởi đến quý độc giả một nội dung bao hàm những hiện tượng xung quanh cuộc sống mang tính chất vô thường như vô thường là thường, lợi ích vô thường.v.v..   B.NỘI DUNG 1. Khái quát vô thường Vô thường có nghĩa là không thường còn, không bền chắc lâu dài, dù nhỏ bé như hạt bụi, hoặc lớn như mặt trời, mặt trăng, cũng phải chịu sự chi phối thay đổi, tan rã, chuyển biến theo thời gian, hoặc chậm hay mau. Nó hoạt động khắp nơi, vì tất cả thay đổi không ngừng nghỉ một khoảnh khắc. Không có sự vật nào mãi mãi ở yên trong một trang thái nhất định mà luôn luôn thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã. Các giai đoạn thay đổi đó gọi là: Thành, trụ, hoại, không hay sanh, trụ, dị, diệt. Tất cả các sự vật trong vũ trụ từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả, nên gọi là Vô thường. Vô thường gồm tâm vô thường, thân vô thường và hoàn cảnh vô thường. Thân luôn có sự sanh già chết hằng ngày, bốn đại đất nước gió lửa luôn chuyển biến chống đối nhau sanh ra bệnh. Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng, trong thân thể ta, các tế bào thay đổi luôn, và trong mỗi thời kỳ bẩy năm, là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi ấy làm cho thân người chóng lớn, chóng già và chóng chết. Thân năm trước không phải là thân năm nay, thân ban mai không phải là thân buổi chiều, mỗi phút giây trong thân ta đều có sanh và có chết. Tâm con người như con khỉ chuyền cành, nghĩ suy lo lắng đủ điều trong từng sát na. Hoàn cảnh bất bình không ai giống ai, khi giàu lúc nghèo, vui buồn vinh nhục trong chóc lác.Cho nên đừng tự hào với bất cứ cái đẹp giả tạo nào mà mình đang có trên thân thể này, vì chỉ cần một sự cố xảy ra, nó sẽ hư xấu và bị hủy hoại hoàn toàn…Nó là giả! Đôi chân có thể mất đi, đôi mắt có thể mù lòa, trí não sẽ không còn minh mẫn…Tiền bạc, cơ ngơi sự nghiệp, của cải, vật chất có đórồi mất đó,sinh đó rồi diệt đó, hoa nở rồi lại tàn, trăng tròn rồi lại khuyết. 2. Đời là vô thường Đời là vô thường! Cuộc đời là vô thường! Vạn vật vô thường, chúng sanh vô thường, con người thân xác cũng vô thường. Chúng ta mỗi người đều là vô thường, nếu chỉ gặp một nghịch cảnh nào đó thì hồn lìa khỏi xác. Thế mà hầu hết mọi người đều sống trong trạng thái đua chen về danh vọng, sắc dục, tiền tài, chẳng qua vì mỗi con người sinh ra sống chung trong một xã hội vô cùng phức tạp và hỗn loạn, ganh đua cũng chỉ vì cái tâm Tham, Sân, Si, Mạn nghi, Ác kiến. Sanh sanh diệt diệt diễn ra trong từng sát na, luôn thay đổi biến dạng. Con người sanh ra lớn lên rồi già, chết không ai có thể tránh khỏi điều này. Vì thế cho nên mọi người phải chấp nhận vô thường là sự thật hiển nhiên, vì tất cả những gì có bản chất phát sanh ắt có bản chất hoại diệt.TrongKinh Thất Nhật, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: “Tất cả các hành đều vô thường, là pháp không vĩnh cửu, pháp chóng đổi thay, pháp không thể nương tựa. Các hành như vậy không nên tham đắm mà phải ghê sợ nhờm tởm, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải thoát.” Thật vậy cuộc sống con người vốn đầy dẫy những biến động, dịch chuyển. Trong đó, không ít những đổi thay bất lợi, không như ý khiến chúng ta tuyệt vọng. Không ít người, chỉ sau một đêm thức dậy, cơ nghiệp tích trữ gom góp bấy lâu bỗng chốc hóa thành mây khói, những người thân thiết thì ngoảnh mặt quay lưng, còn chăng là chết lặng, cay đắng và ngậm ngùi. Thường vô thường mâu thuẫn với lòng tham chấp của con người nên sự thay đổi biến hoại đã làm cho ai cũng nghĩ vô thường là khổ.Nhưngnhờ vô thườngmà bậc đại nhân đã quán sát rõ rồi dần dần rời được sự sinh tử như:kinh Bát Đại Nhân Giác đã diễn tả toàn bộ sự vô thường của nhân sinh quan và vũ trụ quan là điều đầu tiên mọi sự vật trong cuộc đời vốn không mãi mãi tồn tại một cách cố định; các cõi nước đều mong manh; bốn yếu tố (đất, nước, gió, lửa) tạo nên hình sắc con người thực chất là trống không và chỉ mang lại khổ não; năm yếu tố tạo nên một chúng sinh không hề mang lại một bản ngã chắc thực; tất cả đều được sinh ra rồi diệt mất, thay đổi khác lạ, chỉ là những thứ giả dối không có chủ; tâm chúng sinh chính là nguồn ác còn hình sắc của chúng sinh là nơi tập trung mọi tội lỗi.Từ những nỗi thống khổ của kiếp người đó,mọi người có cơ hội quán xét thức tĩnh tìm tới chơn hạnh phúc. 3.Vô thường là thường Quan niệm vô thường của người bi quan qua vạn vật và qua những tình cảnh của cuộc đời: “Hoa đẹp . . .Hoa thơm . . . Hoa vẫn tàn Tình nặng . . . Tình sâu . . . Tình vẫn tan Hoa nở . . . . . . .hoa rơi . . . . . hoa lại tàn Tuyết rơi . . . . . .tuyết phủ . . . tuyết lại tan Tình đẹp . . . . . .tình sâu . . . . .tình lại tan ! Trăng lên . . . trăng tròn . . . trăng lại khuyết Rượu đắng . . . Rượu cay . . . Rượu vẫn hết Người đẹp….. . người xấu…... rồi cũng chết.” Đời người cũng như một chiếc lá, thật mong manh nhỏ bé giữa phong ba bão tố cuộc đời. Không biết từ đâu đến và chết sẽ đi về đâu. Cất tiếng khóc chào đời chúng ta được ví như búp trên cành, như lộc non xanh biếc, hứng lấy những mật ngọt của nắng xuân, hút lấy nhựa sống của thân cây rồi lớn dần lên theo năm tháng. Bao lá vàng rơi rồi cả lá non xanh cũng rơi rụng tả tơi trong giông gió, bao tiếng khóc than, bao nhiêu nước mắt nào có đong đầy được những đắng cay sầu khổ ở đời. Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật, từ thân, tâm cho đến mọi hoàn cảnh. Hiểu lý vô thường chúng ta đã có một phương thuốc thần diệu để trừ bệnh tham ái, mê mờ. Chúng ta đã đau khổ vì mầu sắc tốt xấu, vì tiếng khen chê, mùi vị ngọt bùi, cay đắng. Nay chúng ta uống thuốc “giáo lý vô thường”, để trừ bệnh tham ái và tiến tới sự an tịnh của tâm hồn. Không có vô thường đời sẽ ra sao, khi trẻ không lớn, bịnh không thể lành, vạn vật không sinh trưởng, xã hội không phát triển... thì xã hội trở thành bất thường. Như vậy vô thường không thể thiếu, và không có gì là mới lạ và nó rất bình thường. Biết chấp nhận vô thường thì không ngại gì việc sanh diệt, Đức Phật đã dạy: “Tất cả các pháp hữu lậu đều vô thường, phát sanh và hoại diệt là bản chất thiên nhiên của chúng. Được sanh ra rồi tan biến Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng.” Có lẽ những gì có hình tướng đều hư vọng,nên tất cả những pháp hữu lậu ở thế gian đều sẽ bị vô thường chi phối. Biết thế gian vô thường thì chúng ta không còn tham đắm, dễ giữ được bình tĩnh đổi thay bất ngờ,và có thể lạnh lùng trước cảnh ân ái chia ly. Biết vô thường, con người dám hy sinh tài sản, sanh mạng để làm việc nghĩa. 4. Áp dụng vô thường trong đời sống “Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời người Cha lành chung bốn loại.” Thật vậy: Đức Thế Tôn là bậc đạo sư của cả trời, người, nên hệ thống triết học Phật giáo rất thậm thâm vi diệu. Và quy luật vô thường già-bệnh-chết không hẹn cùng ai, giống như đoá hoa phù dung sớm nở, tối tàn. Đây là sự thật nên mọi người hãy chấp nhận một cách bình thản, và từ bỏ mọi tham chấp thì hạnh phúc chính là đây. Đã vô thường thì không có một kết luận nào cho vị thế nào trên cuộc đời này đau khổ hay vui sướng, vòng xoáy thời gian cuốn ta không ngừng. Không phải giàu có cao sang là hạnh phúc, không phải nghèo hèn túng thiếu là khổ đau. Đôi khi người giàu lại lo giữ của và luôn luôn sợ mất nên thấy khổ; ngược lại người không có vật chất nhưng lại có niềm tin chánh tín, có chánh kiến, có chánh nghiệp, chánh niệm nên họ thấy an vui. Do tham ái, luyến tiếc, bám víu, cho rằng cái gì cũng là thật có, từ đó chúngta sinh tâm chấp giữ, bảo thủ, bám víu vào đó, khi được thì càng thêm tham, tham không được thì đau lòng, khốn khổ mà sinh ra hận thù, oán giận.Nhưng trên thế gian, cái gì có được rồi cũng sẽ mất, không có cái gì bền chắc, lâu dài mãi mãi, thương yêu mà xa lìa là một nỗi khổ, niềm đau của kiếp con người. hiểu được điều này, chúng ta sẽ từ bỏ chấp trước không bám víu vào thân, không còn oán trời trách đất sao quá bất công. Mỗi người thử tác ý nhìn nhận riêng cho cuộc sống phù du, dẫu vui buồn hay có thương đau cũng chôn vùi nơi chốn mộ sâu, mai ta về đâu khi các bụi vô thường, có nghĩa trang nào giới hạn cho người già hay chỉ là bóng hoàng hôn? Đức Phật dạy điều giác ngộ thứ nhất là quán chiếu để thấy rõ pháp ấn: Vô thường, khổ , không, vô ngã ở nơi thân tâm của con người với mục đích bỏ những vướng mắc tham đắm, chấp thủ đối với con người và cuộc đời. Duy trì sự quán chiếu ấy trên đối tượng thân, tâm, hoàn cảnh của mình ; mình sẽ có thái độ ứng xử thích hợp với chân lý. Đây không phải là lối nhìn bi quan yếm thế đời sống, là lối nhìn tiêu cực, mà chính là cách nhìn của tuệ nhãn đầy tích cực, nó có tác dụng mang lại sinh lực cho chúng ta. Con người đau khổ mất mát sinh lực chính là do nhìn đời ngược lại. Thành tựu các "niệm xứ" như Thế Tôn bảo cácvị Tỳ kheo rằng: “Ta nay vì các ông, nói pháp môn Tứ niệm xứ, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Cái gì gọi là Tứ niệm xứ? Nghĩa là đối với nội thân an trú trong chánh niệm và quán sát một cách cần mẫn với chánh tri và chánh niệm, nhờ quán như vậy, Tỳ kheo đoạn trừ những tham ưu ở đời; Đối với ngoài thân, trong và ngoài thân quan sát một cách cần mẫn với chánh tri và chánh niệm, nhờ quán sát như vậy, Tỳ kheo đoạn trừ được những tham ưu ở đời. Đối với Thọ, Tâm và Pháp cũng quán sát như vậy. Đây gọi là Tỳ kheo tu tập Tứ niệm xứ”. Nhãn quan của Đức Phật về cuộc đời quá rõ như kinh Kim cương dạy: " Nhứt thiết hữu vi pháp Như mộng huyễn bào ảnh Như lộ diệc như điện Ưng tác như thị quán". Khi ta biết rõ thế gian này là vô thường, mình sẽ có cái nhìn sáng suốt và chín chắn hơn, mình không bi quan yếm thế, không chán nản, không thất vọng. Chúng ta phải tự tin hơn nữa để làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời bằng sự ý thức làm lành, lánh dữ. 5. Lợi ích vô thường Đời vô thường nhưng không phải vì vậy mà đời không đáng sống. Chính vì quán chiếu được tự tính vô thường của vạn vật mà ta biết trân quý sự sống trong giờ phút hiện tại. Nếu sống sâu sắc giờ phút hiện tại và biết xử lý một cách có trách nhiệm giờ phút hiện tại, ta sẽ không phải hối tiếc trong tương lai. Ta sẽ biết chăm sóc những người thân của ta, làm cho họ có hạnh phúc trong ngày hôm nay. Chứng thực tự tánh vô thường của sự vật, ta sẽ không bị khổ đau quật ngã khi sự vật tàn hoại. Ta có thể giữ được thái độ an nhiên tự tại trước mọi biến thiên, hưng phế, thịnh suy và thành bại. Một lý do lớn để góp phần cho động lực thúc đẩy thái tử Tất Đạt Đa đi xuất gia, là khi thái tử đi dạo chơi ngoài cổng thành đã đối diện trước cảnh tượng sanh, già, bệnh, chết. Tiếp cận thực tế với hoàn cảnh ấy, thái tử đã đặt ra những câu hỏi bí ẩn mà không ai giải quyết. Mọi người cho rằng sự sanh, già, bệnh, chết là điều tất nhiên ai cũng phải trãi qua và thái tử cũng không nằm ngoài quy luật vô thường này. Có thể nói nhờ cái khổ của vô thường sanh, già, bệnh, chết mà thái tử Tất Đạt Đa dần bước tìm đến cái vĩnh hằng đó là giác ngộ giải thoát. Nhờ vô thường ta có niềm tin trong cuộc sống có thêm hy vọng, nhờ vô thường ta chuyển hóa khổ đau chuyển hóa đời ta ngày một lớn khôn, nhờ vô thường hướng đến hạnh phúc cho nhau, và vạn vật luôn luôn sinh trưởng tiến lên. Cũng nhờ vô thường mà chúng ta khôn lớn lên, hiểu biết cải thiện đời sống tốt đẹp hơn…, chính vô thường làm nền tản cho niềm tin ước mơ cho hạnh phúc để con người hướng đến chân thiện mỹ. Do đó Vô thường rất cần trong cuộc sống. Khi mới sanh ra đời con người chưa biết nói, chưa biết đi, chưa biết mọi thứ, thì vô thường đã làm cho ta thay đổi lớn khôn lên theo thời gian và biết tiếp nhận cái hay cái tốt. Nhờđó mà những hành giả của Như Lai có chánh kiến, chánh niệm, chuyển mê khai ngộ.   C. KẾT LUẬN Trên mối quan hệ tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, thì không có một cái gì tách rời một cách độc lập để tồn tại. Cho nên kể cả con sâu cái kiến, một hạt các, bụi cây, ngọn cỏ.v.v.. cũng đã có ân với chúng ta. Vì không thể nói rằng chúng ta sống không cần ăn, hoặc bịnh không cần thuốc, hít thở không cần oxy và không có cái gì là ngẫu nhiên hay tự nhiên mà chúng luôn gắng kết hổ tương nhau như mắt xích.Bản chất cuộc đời là vô thường, do đó không có gì là trường cửu bất biến, vạn sự vạn vật trên đời đều luôn đổi thay trong từng giây từng phút. Vì thế, nếu niềm vui và hạnh phúc của con người được xây dựng dựa trên những nhân tố vô thường sinh diệt thì bản chất những niềm vui và hạnh phúc đó cũng không trường cửu, chúng cũng luôn đổi thay, vô thường sinh diệt. Hạnh phúc mà đa phần thế gian đang mong cầu tìm kiếm chính là thứ hạnh phúc mong manh, tạm bợ này, thứ hạnh phúc đó đến rồi đi khiến cho cuộc đời là những ngày tháng buồn vui xen lẫn. Tri ân vô thường nhằm tỏ lòng biết ơn đối với thế giới quan và nhân sinh quan. Từ đó chúng ta có thể cùng chung tay bảo vệ sự sinh tồn của các loài vật, bảo vệ sự trong lành cho bầu trời. Đặt biệt khi chúng ta hiểu được mặt tốt của vô thường thì trong cuộc sống sẽ có hành động tốt, suy nghĩ, lời nói đúng đắng. Đây là nhân tố quyết định cho thế giới hòa bình hạnh phúc, không chiến tranh, không hận thù, không giết chóc mà nhân loại hiện nay đang mong ước, khát vọng nóng bỏng.   TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Mạnh Thác,Triết học Thế Thân,Nxb. Tổng Hợp, TP. HCM, 2006. 2. Đoàn Trung Còn, Triết lý nhà Phật. Nxb Phật Học Tòng Thơ, Sài Gòn, 1931. 3. Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2010. 4. Thích Hạnh Bình, Tủ Sách Tuệ Chủng, Những vấn đề cốt lõi trong Kinh Trung A Hàm, 2013. 5. Phạm Kim Khánh Dịch,Phật giáo nhìn toàn diện, Nxb. Phương Đông. 6. Thích Hạnh Bình, Tìm Hiểu Giáo Lý Phật Giáo Nguyên Thủy, VI. Tu tập – Quán Tứ niệm xứ, Nxb. Phương Đông, 2007. 7. Trần Tuấn Mẫn dịch,Đạo Phật ngày nay, Nxb. Thuận Hóa, TP Huế, 1999. 8. Thích Viên Trí, Phật giáo qua lăng kính xã hội, Nxb. Phương Đông, TP. HCM, 2013. 9. Thích Chơn Thiện, Bàn Về Tây Du Ký Của Ngô Thừa Ân,Nxb.Tôn Giáo, 2000.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét