THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

TRÌNH BÀY CHỦ NGHĨA BÀI NGOẠI VÀ CHỦ NGHĨA BAO DUNG TRONG TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

TRÌNH BÀY CHỦ NGHĨA BÀI NGOẠI VÀ CHỦ NGHĨA BAO DUNG TRONG TRIẾT HỌC TÔN GIÁO I. DẪN NHẬP Tôn giáo chính là một phần trọng yếu của con người. Bởi lẽ cuộc sống của con người bao gồm hai mặt: vật chất và tâm linh. Tôn giáo chính là phần tâm linh để con người có thể nương tựa. Tuy nhiên trong diễn trình lịch sử, tôn giáo xuất hiện với những màu áo khác nhau tùy theo từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử. Xưa kia tôn giáo ra đời là nhằm để đáp ứng sự bạt nhược của con người, vì con người thời ấy rất là sơ khai, họ không có tư duy khoa học, không có tư duy trong cuộc sống nên họ lầm tưởng những gì mà thiên nhiên mang lại cho họ may mắn hay thất mùa, thì họ đều cho rằng có một đấng siêu nhiên nào đó chi phối đến cuộc sống của mình, họ đâm ra sợ thiên nhiên, sợ thần linh giáng họa cho mình, cho nên tôn giáo xuất hiện là để họ cầu nguyện một vị thần nào đó ban phước hay giáng họa cho họ. Cho đến khi tư duy triết học bắt đầu khơi nguồn thì Kinh thánh của các giáo phụ trở nên độc quyền, chiếm lãnh một thời, lúc đó thì đầu óc con người sặc mùi thần thánh, thời kỳ triết học kinh viện trở nên độc tôn trong xã hội. Mãi đến khi thời kỳ triết học ánh sáng ra đời thì triết học kinh viện không còn chổ đứng độc tôn nữa mà là nhường chổ cho chủ nghĩa duy lý, con người lúc bấy giờ bắt đầu hoài nghi về Kinh thánh, hoài nghi về Thượng đế, và trãi dài cho đến hôm nay, Thượng đế luôn là mối tranh cãi lớn nhất của các giáo phụ và các nhà triết học, khoa học. Trong khi một số tôn giáo thuộc hệ thống nhân cách thần đang bị lung lay chao đảo thì Phật giáo lại đứng vững hơn bao giờ hết, Phật giáo đã đứng vững từ ngàn xưa đến ngàn sau, vì Phật giáo có một hệ thống giáo lý siêu xuất vượt không gian và thời gian, luôn đúng trong mọi hoàn cảnh, điều này đã khiến các nhà khoa học rất bất ngờ, vì tất cả giáo lý của Đức Phật đã được Đấng đạo sư thuyết giảng cách đây hơn 2500 năm mà cho đến bây giờ những giáo lý đó luôn phù hợp với khoa học, có thể nói, Phật giáo luôn đi trước khoa học, những gì khoa học khám phá ra đều nằm trong Phật giáo, đôi khi có những hiện tượng trên thế giới này các nhà khoa học không thể giải thích nổi thì trong Phật giáo lại giải thích một cách rất rõ ràng, chẳng hạn như hiện tượng thần đồng, các nhà ngoại cảm… rõ ràng những phát minh khoa học luôn là điểm so sánh giữa các tôn giáo, khoa học đi tìm sự thật nơi bản chất của thế giới và con người và đem ra so sánh với các tôn giáo khác, trong các tôn giáo được so sánh thì chỉ có Phật giáo mới lọt vào tầm ngắm của khoa học, vì nó quá giống với khoa học. Trong tương lai nếu nói có một tôn giáo nào dành cho nhân loại thì chắc chắn đó là Phật giáo vì được khoa học xác nhận và đặc biệt hơn hết là niềm tin và lòng kính ngưỡng của các tín đồ theo chủ trương chánh kiến. Chính vì muốn nghiên cứu về vấn đề này nên người viết đã chọn đề tài cho bài nghiên cứu của mình đó là “ tôn giáo tương lai”. Để tìm hiểu điều này người viết đã tham khảo rất nhiều tác phẩm về triết Đông và triết Tây. Chẳng hạn như: Tạp Chí Nghiên Cứu Về Vấn Đề Tôn Giáo, Lịch Sử Văn Minh Phương Tây, Tôn Giáo Là Gì, Triết Phương Tây… để làm tài liệu nghiên cứu. Ở bài này người viết sẽ dùng phương pháp so sánh, liệt kê để làm phương pháp nghiên cứu. Với sự nghiên cứu này nhất định sẽ mang đến những kiến thức thật bổ ích cho bản thân người viết. Đó chính là kết quả của việc học ở trường và nghiên cứu ở nhà. II. NỘI DUNG 1. Sơ lược về tôn giáo: 1.1. Các định nghĩa Tôn Giáo: Từ điển Oxford ghi rằng: “Tôn giáo là hệ thống của niềm tin và sự tôn thờ, là sự trực nhận của con người về năng lực chế ngự siêu nhiên, đặc biệt là, về một ngôi vị Thượng đế có quyền uy được tuân phục, là kết quả của sự trực nhận như thế trong cách ứng xử … (… System of faith and worship; human recognition of super human controlling powger and especially of a personal God entitled to obedience, effect of such recognition on conduct ete…). Carlyle thì cho rằng: “Tôn giáo là điều mà con người thực sự tin tưởng, thực sự ghi khắc trong lòng và hiểu biết chắc chắn, có liên quan đến các mối tương hệ sống còn của con người và vũ trụ u huyền này, cũng như bổn phận và định mệnh của con người trong vũ trụ”. (The thing a man does practically to heart and knows for certain, concerning his vital relations to this mysterious universe and his duty and destiny therein). J.S.Mill thì bảo rằng: “Yếu tính của tôn giáo là sự hướng dẫn một cách mạnh mẽ và nhiệt thành những cảm xúc và ước vọng hướng đến một đối tượng lý tưởng được xem là tuyệt hảo, là đỉnh cao tột cùng để vượt qua mọi đối tượng ích kỷ của dục vọng” (The essence of religion is the strong and earnest direction of the condions and desires towards an ideal object recognized as of the highest excellence, and as rightly paramount over all selfish objects of desire). Aldous Huxley thì cho rằng: “Tôn giáo là một hệ thống giáo dục mà qua đó, con người có thể tự rèn luyện, trước hết là để tạo ra những thay đổi cần thiết trong bản thân con người và xã hội, rồi sau đó, để nâng cao ý thức nhằm kiến tạo những quan hệ thích đáng hơn giữa họ và vũ trụ mà họ là một thành phần” (Religion is, among many other things, a system of education, by means of which human beings may train themselves, first to make desirable changes in their own personalities and, at one remove, in society, and in the second place, to heighten consciousness and to establish more adequate relations between themselves and the universe of which they are parts). Từ những định nghĩa trên cho thấy, Tôn giáo có thể được phân làm hai khuynh hướng: Một là định nghĩa tôn giáo như một hệ thống luân lý đạo đức mà qua đó, bằng lý trí con người có thể trực nhận được. Hai là quan niệm tôn giáo theo một thể cách nhiệm mầu, mà ở đây đòi hỏi một sự cảm nhận và suy tưởng. Bên cạnh đó, còn có những quan niệm thuần lý về tôn giáo như phát biểu của Thomas Paine, ông đã thốt lên trong giây phút cuối cùng của cuộc đời rằng: “Thế giới là quê hương tôi, nhân loại là anh em của tôi, và làm lành là tôn giáo của tôi“. Hay, trong một số trường hợp, khi bàn về tôn giáo và giá trị của nó, các triết gia Ấn hiện đại thường quan niệm rằng, tôn giáo không phải là một chuỗi các học thuyết uyên áo, mà là kinh nghiệm nội tại, kinh nghiệm này luôn luôn được đặt trên căn bản của sự trực nhận cái hiện hữu thánh thiện trong con người. Từ đây, có một giao điểm giữa các tôn giáo Đông phương và Tây phương hay tôn giáo nhân loại nói chung. Và đặc tính Thiện mà Thomas Paine, một triết gia nhân bản người Anh, nói một cách hùng hồn”…Làm lành là tôn giáo của tôi”. 1.2. bản chất của tôn giáo: Dựa trên cơ sở của quan niệm duy vật về lịch sử , cũng như những quan niệm của C.Mác về tôn giáo , Ph. Ăng-ghen đã đưa ra một định nghĩa có tính chất kinh điển từ góc độ triết học về tôn giáo như sau : “Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế[8]” . Định nghĩa này không những đã chỉ ra được bản chất của tôn giáo mà còn chỉ ra con đường hình thành ý thức hay niềm tin tôn giáo. Ở định nghĩa trên chúng ta thấy rằng ,Ph. Ănghen đã tiếp tục luận điểm cho rằng con người sáng tạo ra tôn giáo (tất nhiên con người ở đây là con người của hiện thực lịch sử ).Sự sáng tạo ra tôn giáo của con người được thực hiện thông qua con đường nhận thức . Chủ thể tạo ra tôn giáo là con người , đối tượng của sự phản ánh mà con người sáng tạo ra tôn giáo là sức mạnh ở bên ngoài thống trị cuộc sống hàng ngày của con người ,còn phương thức nhận thức để tạo ra tôn giáo là phương thức hư ảo .Với chủ thể , đối tượng và phương thức của nhận thức như trên thì kết quả là con người tạo ra cái siêu nhiên thần thánh trong đầu óc của mình thuộc lĩnh vực ý thức ,niềm tin. Nhiều người đã tranh luận về việc con người có lấy động vật làm đối tượng của sự sùng bái hay không, ý nghĩa và cơ sở của điều đó ra sao. Về vấn đề đầu tiên, nói về ngay chính việc tôn thờ động vật, thì nó được người ta chú ý luận bàn khi nghiên cứu tôn giáo của người Ai Cập thời cổ, và người ta đã giải đáp nó bằng cả “có” và “không.” Nhưng nếu chúng ta cho rằng những gì mà những nhà du lịch mới gần đây nhất đã thuật lại cho chúng ta được biết với tư cách là một người từng được nhìn thấy tận mắt, thì ta sẽ thấy rằng rất có thể là ngay đến cả người Ai Cập cổ xưa, nếu như không có những sự kiêng cữ đặc biệt nào đó, cũng đã sùng bái hoặc ít ra có thể sùng bái động vật hết như là các dân tộc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ đã sùng bái chúng cách đây không lâu và ngay cả đến bây giờ vẫn còn. Chẳng hạn như, theo lời kể của Mac-xi-út-xơ trong cuốn “ Tình trạng luật pháp của những cư dân đầu tiên của Brésih”, thì giống đà mã châu Phi được nhiều người dân Pérou tôn thờ như là những con vật linh thiêng, một số khác thì lại cầu khẩn cây bắp. Cũng vậy, con bò đực là đối tượng tôn sùng của người Hindon. “Hằng năm người ta bày tỏ niềm tôn kính đối với con bò đực như thể đối với một vị thần, người ta tô điểm cho nó bằng những chiếc dãi và hoa, người ta sụp lạy trước nó. Ở nhiều làng người ta nuôi giữ con bò đực như là một thần tượng sống, và nếu như con vật chết đi thì người ta đem chôn cất nó với những nghi lễ rất long trọng.” Cũng hệt như vậy, “tất cả mọi loại rắn đều là linh thiêng đối với người Hindu. Có những người chuyên thờ các tượng thần, họ là những kẻ nô lệ mù quáng đối với các định kiến của mình đến mức mà họ coi việc bị rắn cắn là một niềm hạnh phúc ; may mắn. Họ cho rằng lúc đó là có sự tiền định đối với họ và sau đấy thì họ chỉ còn nghĩ đến việc làm sao có thể chấm hết cuộc đời mình một cách vui sướng hơn, vì họ tin rằng ở cái thế giới bên kia họ sẽ giữ được một vị trí rất quan trọng nào đó trong cung đình của vị thần rắn”. Sau khi đã xác nhận qua một số thí dụ về sự kiện thần thánh hóa và tôn thờ loài vật, chúng ta xin chuyển sang nói về nguyên nhân và ý nghĩa của những hiện tượng đó. Loài vật là những sinh vật cần thiết đối với con người. Không có chúng thì nó không thể tồn tại được, chứ chưa nói là tồn tại với tư cách là con người. Sự cần thiết chính là cái điều mà chúng ta bị phụ thuộc vào đó; vì vậy nên, chừng nào mà thiên nhiên nói chung, với tư cách là nguyên lí cơ bản của của sự tồn tại của con người, được biến thành đối tượng của sự sùng bái tôn giáo, thì chừng đó sự sùng bái giới động vật cũng có thể và phải là đối tượng của sự sùng bái tôn giáo. Bởi vậy nên cúng ta chủ yếu nghiên cứu sự sùng bái động vật có liên quan với các thời kì trong đó nó đã có được sự biện minh về mặt lịch sử của nó, liên quan với thời kì của nền văn minh đang được khởi đầu lúc mà động vật đã có được một tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với con người. Nhưng há động vật lại có một tầm quan trọng nhỏ bé đối với ngay cả chúng ta giờ đây, những kẻ đang chế giễu sự sùng bái động vật? Người thợ săn có thể làm được gì được nếu không có chó, người chăn súc vật nếu không có chó béc-giê, người nông dân nếu không có bò đực? Phân chuồng chẳng phải là linh hồn của nền kinh tế, và do đó, ngay đối với chúng ta, cũng như đối với các dân tộc cổ xưa, con bò đực chẳng phải là nguyên lí tối cao, là vị thần của nghề nông hay sao? Vậy cớ sao chúng ta lại chế giễu những dân tộc cổ xưa nếu như họ sùng bái với một thái độ tôn giáo những gì mà đối với chúng ta, những con người có quan điểm duy lý, vẫn cứ còn có một giá trị hết sức to lớn? Ngay trong nhiều trường hợp chúng ta chẳng đem đặt loài vật cao hơn con người đấy sao? Ngay trong nhiều nhà nước Đức theo đạo Kitô con ngựa chiến còn có giá trị to lớn hơn người cỡi ngựa, và đối với người nông dân, con bò đực còn có giá trị to lớn hơn người công nhân nông nghiệp đấy hay sao? Chúng ta có được một thí dụ dẫn chứng cho việc con người, trong khi tôn sùng loài vật, chính đã tôn sùng bản thân mình, qua việc con người ngày nay vẫn cứ còn xem trong loài vật. Người đi săn chỉ quý trọng những con vật có ích cho việc săn bắn của mình, người nông dân quý trọng những con vật cần cho công việc canh tác, có nghĩa người đi săn đánh giá cao qua con vật quá trình săn bắt đang tạo nên bản chất riêng của anh ta; người nông dân quý trọng qua con vật chỉ nền kinh tế, vốn là linh hồn của chính mình và vị thần thực tế đó của anh ta. Bởi vậy cho nên ngay cả trong sự sùng bái động vật chúng ta cũng có được một bằng chứng và một thí dụ xác nhận cho cái ý kiến cho rằng trong tôn giáo con người cũng chỉ khách thể hóa cái bản chất riêng của chính mình mà thôi. Con người rất đỗi khác nhau, những nhu cầu của họ rất đỗi khác nhau, quan điểm cơ bản của họ nói lên bản tính cơ bản của họ rất đỗi khác nhau, thì cũng vậy, những con vật mà họ chủ yếu tôn thờ cũng rất đỗi khác nhau – hay ít ra ở các dân tộc đã thuộc lịch sử văn hóa – thành thử ra qua các đặc tính của những con vật được dùng làm đối tượng của sự tôn thờ, người ta có thể đánh giá được về ngay chính phẩm chất của những con người tôn thờ chúng. 1.3. Nguồn gốc của Tôn Giáo: Lê-nin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo .Nguồn gốc đó bao gồm : Nguồn gốc xã hội ,nguồn gốc nhận thức ,nguồn gốc tâm lý. 1.3.1. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo: Là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo .Trong đó có một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với con người .Chúng ta thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của bản thân giới tự nhiên mà được quyết định bởi tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội mà trước hết là công cụ lao động. Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo mà là mối quan hệ đặc thù của con người với tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định .Trong tất cả các hình thái xã hội trước Cộng sản Chủ Nghĩa ,những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát . Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng ,trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ .Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên. 1.3.2. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá ,sự cương điệu mặt chủ thể của nhận thức con người(hay hình thức chủ quan của nó),biến nó thành cái không còn nội dung khách quan , không còn cơ sở “thế gian” , nghĩa là thành cái siêu nhiên thần thánh. 1.3.3. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Theo L.Phơbách không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc sợ hãi ,không thoả mãn , đau khổ ,cô đơn ,..)mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui ,sự thoả mãn,tình yêu ,sự kính trọng …) không chỉ những tình cảm ,mà cả những điều mong muốn , ước vọng ,nhu cầu khắc phục những tình cảm tình cảm tiêu cực muốn được đền bù hư ảo. 1.4. Tôn Giáo Trong Xã Hội Chưa Có Giai Cấp: Ăng nghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế – xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau: 1.4.1. Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoăïc một đối tượng nào đó. Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó. 1.4.2. Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển. Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay. 1.4.3. Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa… Vật linh giáo : Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa. Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại 1.5. Tôn Giáo Có Giai Cấp: Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới. 1.5.1. Tôn giáo dân tộc : Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi… 1.5.2. Tôn giáo thế giới : Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới. 1.6. Các giá trị tinh thần và tôn giáo trong cuộc sống con người: Ngôn ngữ mà tín hữu dùng phải là một thứ ngôn ngữ rõ ràng, một thứ ngôn ngữ không kỹ thuật, có thể đến với tất cả mọi người. Ngôn ngữ kỹ thuật hay ngôn ngữ bên trong giáo hội là một thứ ngôn ngữ thường không hiểu nổi đối với những người khác. Nó là một thứ ngôn ngữ có một truyền thống, một sức mạnh biểu tượng, một gia tài tích tụ trong bao thế kỷ, được làm bởi biết bao nhiêu ý niệm khác nhau, mà người ta thường không biết, người ta không biết các văn bản kinh thánh, và thực tế là người ta “mù chữ biểu tượng”, một người mù không thể đọc hiểu được ý nghĩa của nó. Vì thế ngôn ngữ phải rất rõ ràng. Nó phải là thứ ngôn ngữ đi từ các điều nòng cốt nhất của Đức tin, Nhất là trong việc giảng dậy của Người, Chúa Giêsu đã nói qua các dụ ngôn, các biểu tượng, bằng cách tìm tới với tất cả mọi người qua các hình ảnh, kể cả những người không được học hành, không biết đọc biết viết. Ngôn ngữ mà tín hữu dùng phải là thứ ngôn ngữ như vậy, một thứ ngôn ngữ thích hợp với con người ngày nay. Cảm giác nuối tiếc, ước mong hạnh phúc, sự cần thiết đối chiếu và nỗi sợ hãi là các kinh nghiệm hàng ngày của tất cả mọi người, khiến cho chúng ta trở thành anh em với nhau trong cuộc sống. chúng ta nghĩ tôn giáo là tương quan vượt cao hơn chính mình, gắn liền con người với một thực tại khác, mà chúng ta gọi là mầu nhiệm tuyệt đối. Trong đối thoại tín hữu khám phá ra nhiều yếu tố rất hay. Trước hết họ nhận ra rằng các người không tin làm thành một thế giới rất khác nhau. Có những người thờ ơ, nhưng cũng có những người rời xa, có những người chủ trương vô ngộ nhưng vẫn tìm kiếm hiểu biết, nhưng cũng có những người đầy uất hận, rất hay chỉ trích tôn giáo vì các lý do tiểu sử. Trong cuộc đối thoại với những người không tin, tín hữu bị bắt buộc diễn tả điều nòng cốt và tinh tuyền nhất của lòng tin. Ngoài ra, cần phải làm điều đó một cách rất rõ ràng và khiêm tốn, với các từ vựng đời, vì đó là cách duy nhất tìm ra một môi trường được chia sẻ. Sự tự do được tìm thấy trong việc giải phóng khỏi cái tôi, bằng cách sống dưới suối nguồn của lòng tốt, hiện diện trong nơi sâu thẳm của từng người. Nó có nghĩa là nộp mình cho tha nhân, mà không tính toán cũng không hy vọng gì cả. Sự trao ban chính mình thực là con đường của niềm hạnh phúc. Hạnh phúc không hệ tại chỗ chiếm hữu, cũng không hệ tại hoạt động tập trung vào chính mình và thực hiện các ước mong của riêng mình: đó là sự phóng đãng chứ không phải tự do. Tự do là người sống mà không có các thành kiến, và mẫu sẵn, không bị thúc đẩy bởi tính toán lợi lộc, nhưng bởi sự trao ban, trao ban lớn hơn là tình yêu thương chia sẻ 1.7. Diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại: Tôn giáo là một thực thể khách quan của xã hội loài người. đối tượng của tôn giáo tựu trung có thể là thế giới của các lực lượng vô hình, mang tính thiêng liêng được chấp nhận một cách trực giác và tác động một cách siêu thực với con người nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Tôn giáo được biểu hiện và thay đổi theo quá trình lịch sử xuyên thời gian và đa dạng tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý, văn hóa của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau. Đó là bản chất của tôn giáo, đã được nhừng nguyên lý của C. Mác và Ph. Awngghen khẳng định dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. diễn trình của tôn giáo qua lịch sử rất phức tạp, vừa có tính phản ánh, vừa có tính phản kháng xã hội đã sản sinh và cho tôn giáo tồn tại. C Mác viết: “ Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo”. Vì thế, qua thời gian và không gian, tôn giáo không thể không thay đổi, mặc dầu bản chất cơ bản có thể vẫn giữ nguyên. Nếu nhìn lịch sử xuyên suốt loài người, về phương diện vĩ mô, ta thấy có những thời kỳ mang tính chuyển tiếp lớn tác động đến sự thay đổi toàn diện bộ mặt xã hội, con người từ sản xuất, lao động, tổ chức xã hội, đến ý thức hệ, văn hóa, trong đó có tôn giáo. Như vậy, những diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại, nêu lên 5 mốc lớn với những thay đổi lớn của bộ mặt tôn giáo. Thứ nhất, thời kỳ xã hội loài người xuất hiện Thứ hai, thời kỳ xã hội loài người bước vào ngưỡng cửa văn minh: các quốc gia dân tộc hình thành Thứ ba, thời kỳ xuất hiện các đế chế xuyên quốc gia của từng khu vực. Thứ tư, thời kỳ xã hội công nghiệp xuất hiện. Thứ năm, thời kỳ hiện nay- thế giới đang bắt đầu tiến triển theo xu thế toàn cầu hóa. 1.8. Hệ thống thần và phi nhân cách thần trong tôn giáo: Thần có nghĩa là có một vị thần theo quan điểm của một số tín đồ dặt niềm tin vào một tôn giáo nào đó. Nhân cách thần là vị thần đó có khả năng sáng tạo ra thế giới và con người, còn gọi là tôn giáo hữu thần. Phi nhân cách thần tức là tôn giáo không đề cập đến sự sáng tạo của thượng đế. Vô thần không phải là không có thần mà là vị thần ấy không có khả năng sáng tạo ra thế giới và con người, cho nên gọi tôn giáo đó là phi nhân cách thần. Trong tất cả các Tôn giáo lớn như hiện nay, chúng ta có thể chia thành hai nhóm, đó là nhóm tôn giáo theo nhân cách thần và phi nhân cách thần. Hệ thống Nhân cách Thần gồm: Thiên Chúa; Tin Lành; Hồi Giáo và Do Thái. Hệ thống Phi nhân cách Thần gồm: Phật Giáo; Nho; và Ấn Độ Giáo. 1.9. Tầm quan trọng của Tôn giáo hiện nay: Theo như ngành xã hội học nghiên cứu về tôn giáo trong xã hội thì nhìn chung, xã hội học cho rằng tôn giáo đem lại cảm xúc liên kết lẫn nhau và tính đồng nhất của một nhóm người. Nếu xã hội không có cơ sở tôn giáo thì khả năng tan rã của nó sẽ cao hơn, vì nó thiếu hụt khả năng biểu thị các giá trị và tâm thể chung đối với mọi người- đó chính là khả năng mà tôn giáo bảo đảm. Khoa học gia Matthieu Ricard cho rằng một nền văn minh chỉ chuyên chú vào tiến bộ vật chất rõ ràng là thiếu sót một điều căn bản mà vật chất không thể đem đến được. Bằng cớ là, theo ông, điều thiếu sót ấy xã hội Tây phương cảm nhận được và cố gắng đôi khi rất vụng về để tìm hiểu sự minh triết của phương Đông hay là của quá khứ. Sự thiếu sót ấy xuất hiện rõ rệt trong sự bấn loạn tâm trí của rất nhiều người, trong các cuộc bạo hành giữa các thành phố, trong sự ích kỷ của cá nhân trong khi giao tiếp, trong sự nhẫn nại chịu đựng của các cụ già trong các nhà dưỡng lão, trong sự tuyệt vọng của những người muốn kết liễu cuộc đời. Theo Matthieu, nếu những giá trị tâm linh không còn ảnh hưởng lên xã hội thì sự tiến bộ vật chất trở thành một bức bình phong che dấu cái hư ảo của cuộc sống. Như chúng ta đã biết cuộc sống mà mình đang sống là cơn thác lũ vật chất, con người cứ mãi mê chạy theo vật chất và văn minh mà quên đi phần tâm linh của mình. Cuộc sống hối hả, con người cũng hối hả chạy theo. Cuộc sống càng văn minh thì con người càng lâm vào những chứng bệnh khó lành như stress, lãnh cảm, trầm cảm… làm cho họ rơi vào trạng thái chán chường mệt mõi mà không sao thoát ra khỏi thảm cảnh khó chịu đó. Trước những cơn lốc vật chất và cuộc sống thời hiện đại mà khoa học đã mang lại có đem đến hạnh phúc thật sự cho con người hay không? Câu trả lời này quá dễ dàng với chúng ta, cuộc sống vật chất không thể mang đến hạnh phúc thật sự cho con người được, mà bắt buộc họ phải quay về cuộc sống tâm linh để giải quyết các vấn nạn của thời đại như khủng hoảng tinh thần, khủng hoảng con tim, khủng hoảng giáo dục…. một khi đã giải quyết được các vấn nạn này và phát triển tuệ giác thì chắc hẳn con người sẽ đạt được hạnh phúc thật sự. Như vậy, muốn có được cuộc sống thoải mái và an lạc thì bên cạnh vật chất con người còn phải quy hướng về tôn giáo. Nhưng tôn giáo nào mới có thể đáp ứng được nhu cầu an lạc thật sự cho con người, chỉ có tôn giáo mang chủ nghĩa nhân văn, một tôn giáo tương lai mới có thể đáp ứng được những nhu cầu này. Và tôn giáo được tin tưởng là có khả năng mang lại cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho con người đó chính là tôn giáo của tương lai. Vậy tôn giáo tương lai là tôn giáo nào và tôn giáo đó đã được các nhà trí thức đánh giá như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu ở phần trình bày sau. “Hiện nay có nhiều dấu hiệu cho ta thấy rõ có một khoảng trống lớn về mặt tinh thần trong cuộc sống của con người. Tại Tây Phương, sau mười mấy thế kỷ thống trị gần như độc tôn, Ki Tô Giáo đặc biệt là Công Giáo, đã bắt đầu suy thoái một cách lần mòn, do sự thiếu thích nghi của Tòa Thánh La Mã trước những biến đổi của cuộc sống. Chỉ còn lại Hồi giáo với sự tăng trào của khuynh hướng quá khích, đang trở thành một hiểm nguy lớn cho tất cả các phần tử ôn hòa” Gần đây có xuất hiện một số bài suy tư về thời đại, tác giả là những nhà khoa học, xã hội học, văn hóa có tên tuổi. Hầu hết đều nhận định rằng nhân loại đang sống trong khúc quanh cực kỳ quan trọng, có thể gọi là một cuộc khủng hoảng văn minh. Theo họ, những vấn đề khúc mắc đặt ra cho thế giới không thể nào giải quyết được, nếu con người còn tiếp tục đi theo chiều hướng hiện tại. Như đức Đạt Lai Lạt Ma có nói: “ tôi cảm thấy một cách sâu đậm rằng chúng ta sẽ phải cùng nhau tìm ra một giá trị tinh thần mới. khái niệm mới đó. Một giá trị tinh thần thế tục, sẽ phải được xây dựng bên cạnh các tôn giáo, để cho tất cả những người có thiện chí có thể tham gia được. Chúng ta phải xúc tiến khái niệm mới đó cùng với các nhà khoa học, cho một tương lai thế giới tốt đẹp hơn”. Như vậy, giá trị tinh thần đó phải là một giá trị tinh thần phổ biến, thế tục và phù hợp với khoa học. Trong công cuộc xây dựng giá trị tinh thần này, Đạo Phật đã đáp ứng được 3 điều kiện trên, và đóng vai trò không nhỏ. Bởi vì đó vừa là một truyền thống đạo lý cổ xưa đã in sâu vào tâm hồn người Châu Á, vừa là một con đường, một lối sống đang được người Tây Phương phát hiện và ưa chuộng. Đạo Phật thêm một đặc điểm so với các tôn giáo khác: đó là sự phù hợp với khoa học. Như vậy, Đạo Phật phù hợp với khoa học như thế nào chúng ta cũng sẽ tìm hiểu ở phần sau. 2. Chủ Nghĩa Cực Đoan Đang Khiêu Chiến với các Giá Trị của Nhân Loại: Lời người dịch: Sự kiện những người cuồng tín Taliban phá huỷ các tượng Phật ở Babiyan vào ngày 5-6 tháng 3 năm 2001 đã tạo ra một làn sóng phản kháng mãnh liệt của giới chức có thẩm quyền và giới báo chí ở khắp mọi nơi. Sự kiện phá huỷ những công trình căn hoá, nghệ thuật, lịch sử đó không phải là một cơ hội giành cho các giới báo chí khai thác trong một hai ngày, mà thực sự vấn đề này đã làm cho không biết bao nhà tri thức thuộc mọi tôn giáo và cả không tôn giáo, đặc biệt là tín đồ Phật giáo không khỏi đau lòng và nó liên tục được phản ánh trên các tờ báo tại Ấn Độ, và một số nước khác cho tới ngày 18-03-2001 vẫn chưa chấm dứt. Hành động cuồng tín phá huỷ các công trình văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật của Phật giáo nói riêng và là di sản văn hoá, lịch sử của nhân loại nói chung đã làm cho những thức giả, những người làm văn hoá không khỏi phải suy nghĩ, chấn động vì những mất mát lớn lao của bao thế hệ tiền nhân đã đổ công tạo dựng. Những người cực đoan tôn giáo thường thường chống lại việc nghiên cứu triết học và khoa học, đó là điều hết sức rõ ràng. Vì vậy, khi thế giới đang mở tầm nhìn trước những điều kỳ diệu của tư tưởng Hy Lạp vào thời Trung Cổ, thì những người cực đoan lại khép kín tâm trí của họ lại trước tất cả hình thái học vấn. Do đó, khi châu Âu đi qua giai đoạn Cải Cách lớn (great Reformation), giai đoạn Phục Hưng (the Renaisance) và thời kỳ Biện Chứng (the Age of Reason) , thì thế giới Hồi giáo vào những ngày đó, nói chung vẫn trơ trơ trước những tư tưởng mới. Thật là một điều đáng tiếc, một vài yếu tố phá hoại đã phủ nhận tất cả những gì của người Hồi giáo về sự sáng tạo và vẻ đẹp trong nền văn minh nhân loại. Ngày nay chủ nghĩa cực đoan của nguời Taliban trông giống như chủ nghĩa cực đoan của thời Trung Cổ (Middle Ages fanaticism), đáng lý là không có chân đứng trong thế kỷ XXI này. Một vài học giả Hồi giáo nói rằng không có chỗ cho một chính thể thuộc chính trị thần quyền trong kinh Qu’ran. Một vài người khác nói rằng, Không có chỗ cho một chủ nghĩa thế tục (secularism) tồn tại trong xã hội Hồi giáo. Chân lý là gì? Thật là khó xác định. Nói chung, về phía một số nhà trí thức Hồi giáo và những người trông có vẻ có khuynh huớng giác ngộ không chấp nhận điều ngớ ngẩn trên. Ở đây, cũng cần nên biết rằng, Phật giáo là tôn giáo duy nhất xuất phát từ nỗi thống khổ của con người. Chàng thanh niên Siddhartha đã chấn động vì nỗi khổ đau đó. Người đã từ bỏ ngôi báu. Không có tôn giáo nào có lẽ có được niềm cảm hứng tuơng tự. Việc bạo hành đối với một tôn giáo thánh thiện như vậy cho chúng ta thấy bản chất thật của người Taliban. Họ là những người phá hoại các công trình văn hoá vô tâm của thời đại chúng ta. Chủ nghĩa phá huỷ các công trình văn hoá trắng trợn này làm cho ta thấy sự bất lực của những lực lượng dân chủ của thế giới và các cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc. Các cơ quan và lực lượng này thường được khoác chiếc áo giá trị của nhân loại, dòng chảy văn hoá không biên giới và sự bảo tồn các di sản chung, như: nghệ thuật, văn học, kiến trúc, chùa tháp,v.v…, nói chung là tất cả những gì thuộc đại loại như vậy. Tại sao họ lại bó tay? "Không cần đặt lại vấn đề nữa, Phật giáo là một trong những sản phẩm vĩ đại của trái tim người Mẹ Ấn Độ" Thi hào Rabindranath Tagore đã từng phát biểu một cách cô đọng như vậy. Ông cũng đã từng tuyên bố: "Tôn giáo vĩ đại của Đức Phật đã từng truyền bá tinh thần hợp nhất sống động trên một phần lớn mảnh đất Á châu. Nó hoàn toàn rút khỏi các cuộc chạy đua và phục hồi niềm hy vọng và niềm tin của người châu Á, thoát khỏi sự rối loạn và tìm kiếm bản ngã." Bạo hành là một trong những thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt ngày nay. Dĩ nhiên, giận dữ và trả thù bằng các phương tiện bạo lực không phải là đáp án. Cũng vậy, những người và những quốc gia đã văn minh hãy tự hỏi lại chính mình về những lầm lạc này và hãy suy nghĩ các phương thức và các phương tiện để đánh bại những tư tưởng của quỷ dữ Satan này và các việc làm gây mâu thuẫn, làm ly khai chân lý, ly khai các giá trị của nhân loại, tình thương yêu đại đồng và tình hữu nghị. Trong bối cảnh này, sự thất bại của người Taliban và thiếu niềm tin trong tôn giáo méo mó của họ, thì ta có thể hiểu. Họ thật sự đáng được thương xót, và mảnh đất của những bậc Đạo Sư vĩ đại và các tôn giáo siêu phàm, thánh thiện và hợp nhất có thể đấu tranh và chăm sóc họ như một phần của ngươì Ấn, không, đó là những giá trị của nền văn minh nhân loại! 2.1. Hệ tư tưởng nguy hiểm nhất của thế giới là gì? Chủ Nghĩa Hồi Giáo là một hệ tư tưởng toàn trị theo cơ chế tự nhiên: chính quyền kiểm soát tất cả mọi thứ. Cũng giống như Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Hồi Giáo luôn muốn bành trướng. Nó luôn luôn tìm cách để trở nên lớn hơn, xuyên biên giới, và đem càng nhiều người vào hệ tư tưởng đó càng tốt. Và, như Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản, rất nhiều tín đồ cuồng của Chủ Nghĩa Hồi Giáo sẵn sàng tiêu diệt để đạt được mục tiêu. Các mục tiêu đó thường trái ngược với tất cả những gì Tây Phương và các xã hội tự do khác tôn vinh: tự do ngôn luận, thị trường tự do (chủ nghĩa tư bản), tự do để theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, tự do tụ họp, tự do báo chí và, đương nhiên, những quyền lợi công dân và dân sự căn bản cho tất cả công dân. Chủ Nghĩa Hồi Giáo hoàn toàn bác bỏ nguyên tắc tách biệt tôn giáo từ chính phủ của Tây Phương. Theo quan niệm của nó, chính phủ chỉ hợp pháp khi họ cai trị dựa theo luật tôn giáo – trong trường hợp của Chủ Nghĩa Hồi Giáo, Sharia, những bộ luật thiên liêng của Hồi Giáo. 3. thế giới về nạn không bao dung về mặt tôn giáo: Không phải chỉ ở đất Hồi giáo mà các tín hữu Kitô giáo mới bị bách hại và họ cũng không phải là những người duy nhất bị. Từ Ấn Độ đến Việt Nam, một vòng chân trời các nước nơi các tín hữu bị bách hại vì đức tin của họ. Hồi giáo bạo lực là nguyên do chính khiến các tín hữu Kitô giáo bị bách hại hôm nay. Nhưng họ không phải là những người duy nhất. Chế độ cộng sản vẫn là một trong những tác nhân bách hại quan trọng nhất. Dù cho có các tiến bộ ở Trung quốc và Việt Nam, nhưng sự đàn áp trong các nước cộng sản vẫn có nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào cho các Giáo hội. Chế độ độc tài của Bắc Triều Tiên vẫn là chế độ bài Kitô hữu hung bạo nhất trong tất cả các chế độ. Mặt khác, tín hữu Kitô giáo là nạn nhân trong tất cả các loại chế độ bộ lạc và lạm dụng quyền lực như chủ nghĩa dân tộc của người Hinđu ở Ấn Độ. 3.1. Ấn Độ: Các cuộc trở lại đạo đi ngược với chỉ thị: Đại đa số dân Ấn Độ là người Hinđu (Ấn Độ giáo), tín hữu Kitô chỉ chiếm 2 % dân số, khoảng 24 triệu người. Đối với Đảng Dân tộc Ấn (BJP), đảng nắm chính quyền từ năm 2014 thì cốt tủy của quốc gia Ấn Độ phải là người hinđu hoàn toàn: và do đó, vì nguồn gốc nước ngoài của mình, tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo có nguy cơ đe dọa cho căn tính dân tộc này. Bảy trong 29 bang thuộc Liên bang Ấn Độ có luật cấm theo đạo, nhân danh ổn định chung, họ phạt các vụ theo đạo «vì bắt buộc» hay bằng các «phương cách gian lận». Nhưng ngược lại chiến dịch Ghar Wapsi («trở về nhà») lại được phát triển trong nước. Đây là các nghi thức hinđu cho phép những ai đã theo Kitô giáo và Hồi giáo trở lại đạo hinđu công khai và tập thể. Hàng ngàn người trong số họ trở lại đạo hinđu. Các cuộc trở lại này thường kèm theo các lời hứa: cho mở trường học, kết hợp vợ chồng. Năm nay tại New Dehli, trong vòng hai tháng đã có năm nhà thờ bị phá hoại và cuộc đi bộ chống các sự phá hoại này kết thúc với việc bắt giữ 200 tín hữu Kitô giáo. 3.2. Bắc Hàn: Tín hữu sống che giấu để được sống còn: Bắc Hàn là một trong những nước có chế độ độc tài khép kín nhất thế giới, nạn bách hại tín hữu Kitô giáo có từ triều đại họ Kim thống trị đất nước này sau Thế Chiến Thứ Nhì. Trước năm 1945, có 500 000 tín hữu ở Bắc Hàn, thủ đô Bình Nhưỡng lúc đó còn được gọi là «Giêrusalem của Đông phương» vì có rất nhiều nhà thờ ở đây. Nhưng chỉ trong vòng mười năm, mọi chứng tích của Kitô giáo đã bị xóa sạch. Ngày nay có khoảng từ 200 000 đến 400 000 tín hữu phải giữ đức tin của họ một cách thầm lặng để sống còn. Nếu họ bị khám phá, họ sẽ bị gởi đi trại cải tạo và thường là bị chết vì kiệt sức. Trong một nước mà mọi cử hành theo nghi thức tôn giáo mà không nhằm mục đích là thờ Kim Đại Trọng và các người kế vị ông là một chuyện nguy hiểm, Kitô giáo bị xem là chướng ngại đe dọa quốc gia vì các quan hệ có thể có của đạo này với Tây phương, sẽ làm hại cho sự phát triển của chế độ cộng sản cuối cùng theo Stalin này. 3.3. Sri Lanka: Các công dân hạng hai: Sau cuộc nội chiến giữa người Cingha và Tamoul năm 2009, các nhóm cực đoan phật tử đã nổi dậy và bắt đầu lên án các tôn giáo khác, các tín hữu Kitô giáo, Hinđu giáo, Hồi giáo bị xem như công dân hạng hai. Tín hữu Kitô giáo chỉ chiếm 8 % dân số, nhưng là cộng đoàn tôn giáo giữ một vai trò then chốt vì đó là cộng đoàn duy nhất có các thành viên thuộc nhiều sắc dân thiểu số khác nhau. Gần đây tình trạng của họ hình như được cải thiện, chính quyền mới đã có những biện pháp tích cực để chống lại nạn bất dung thứ tôn giáo. Cuối tháng tư vừa qua, tổng thống Maithripala Sirisena đã chuẩn chi một dự luật nhằm phạt các vụ kỳ thị các sắc dân thiểu số và tôn giáo ở Sri Lanka. Qua quyết định này, chính quyền cũng đã cho phép các cơ quan pháp luật có biện pháp để chống lại các vụ tấn công các nơi thờ phượng của người Kitô giáo và Hồi giáo. 3.4. Miến Điện: Liên tục vi phạm tự do tôn giáo: Trong vòng gần 50 năm, nước Miến Diện bị cai quản bởi một loạt các chế độ độc tài quân sự. Chế độ này đã bách hại tín hữu Kitô giáo của dân tộc ở miền Tây Miến Điện. Dưới chế độ quân sự do đảo chánh, các binh linh Miến đã phá hủy các nơi thờ phượng, làng mạc, nhà cửa của các tín hữu. Năm 2011, chế độ quân đội đã chính thức nhường quyền lực cho chính phủ dân sự. Dù ngày nay tín hữu Kitô ít bị bách hại hơn nhưng họ vẫn là mục tiêu hàng đầu. Bản báo cáo của tổ chức nhân quyền CHRO (Chin Human Rights Organization) công bố năm 2014, tố cáo các vụ vi phạm tự do tôn giáo của các tín hữu người Chin, họ đòi hỏi chính quyền phải can thiệp. Hàng ngàn người Chin đã phải đi trốn qua Mã Lai hay Ấn Độ vì nạn kỳ thị và nghèo đói. Các cứu trợ nhân đạo không đến được ở một phần lớn Nhà nước Chin. Nạn đói, suy dinh dưỡng, bệnh tật là những đau khổ hàng ngày của người dân của quốc gia này, một quốc gia được xem là nghèo nhất Đông Nam Á. ngày nay, chế độ Miến Điện lại đi bách hại người Rohingya, một cộng đồng thiểu số Hồi giáo, nạn nhân của một vụ thanh trừng sắc tộc năm 2012. 3.5. Trung quốc: các bạn hãy giấu các cây thánh giá này đi: Trong những năm 1960 và 1970, chế độ cộng sản đã có những biện pháp khắt khe đối với tín hữu Kitô chưa bao giờ từng thấy trong lịch sử của sự bách hại. Năm 1980 khi cuộc bách hại điên cuồng này được nới lỏng thì đã có hàng chục triệu dân trở lại Kitô giáo, hiệp hội những Cánh Cửa Mở cho đây là sự «thức tỉnh lớn nhất chưa bao giờ có trên thế giới». Ngày nay có khoảng từ 80 đến 100 triệu Kitô hữu trên 1.4 tỷ dân, đa số thuộc phái Phúc Âm. Thế mà sự bách hại, tuy ít nhưng không thể lường trước được lại có thể xảy ra bất cứ lúc nào trên các cộng đoàn khác nhau. Ở bang Chiết Giang, nhà cầm quyền đã cấm dựng các cây thánh giá trên đỉnh nhà thờ và tháp chuông, hiện nay nhà cầm quyền đang hạ bỏ xuống! Mục đích là không để sự hiện diện khả thị của tín hữu Kitô ở một tỉnh mà con số tín hữu ngày càng gia tăng, đe dọa hiệu lực của Đảng cộng sản. Ở Chiết Giang vì có rất nhiều cuộc trở lại đạo, cho nên đơn giản và thuần túy, các nhà thờ phải bị triệt hạ. Tuy nhiên cùng một lúc, các nhóm Kitô hữu có thể có một cuộc sống bình dị. Theo hiệp hội Cánh Cửa Mở, các tín hữu có thể bị bách hại khi Giáo hội của họ được xem là quá mạnh hoặc quá chính trị, nhất là khi các dịch vụ của họ bị cho là ganh đua với các dịch vụ của quốc gia. Còn về phần Giáo hội Công giáo, một Giáo hội có 20 triệu tín hữu thì nhà nước vẫn tìm cách áp đặt sự lựa chọn giám mục riêng của họ, điều mà Vatican không chấp nhận. 3.6. Êrythê: Canh chừng và bách hại: Từ khi độc lập với quốc gia Êtiôpia năm 1993, sự bách hại đè nặng trên tín hữu Kitô ngày càng gia tăng. Trong số các nhánh tín hữu Kitô, chỉ có các Giáo hội Chính thống, Luther và Công giáo là được công nhận, nhưng họ cũng bị canh chừng rất kỹ và tất cả mọi quyết định của họ đều phải được nhà cầm quyền duyệt. Các Giáo hội khác như Giáo hội Phúc Âm, Hiện Xuống, Chứng nhân Giêhôva đều bị cấm từ năm 2002. Các tín đồ của các nhóm này bị vây bủa và bị thám thính thường xuyên. Họ trở nên mục tiêu của những cuộc bắt bớ và giam giữ trong những điều kiện vô nhân đạo, bị tra tấn, bị ngược đãi vì đã giữ đạo mà không được phép, bị xem như làm mất an ninh quốc gia. Có đến 3 000 người bị tù vì lý do tôn giáo ở Êrythê. Các tín hữu đa số là người trẻ tiếp tục bỏ xứ đi hàng loạt. 3.7. Lào: Đuổi các nhân viên ngoại quốc: Xứ cộng sản nhỏ bé này đa số là phật tử Đại Thừa. Tín hữu Kitô rất thiểu số (2,5, khoảng 160 000 người) và bị áp lực của Đảng cộng sản cầm quyền. Theo Cánh Cửa Mở họ là nạn nhân bị các phật tử xách nhiễu nhất. Các tín hữu một nửa là Công giáo một nửa là Tin lành thường bị xem là những người «ngoại bang» chống cộng sản. Nếu họ thuốc nhóm dân tộc thiểu số Katin hoặc Hmong thì họ còn bị bách hại gấp đôi. Một vài Giáo hội được nhà cầm quyền chấp nhận và họ có quyền hội họp. Đó là trường hợp của những người Công giáo, Giáo hội Phúc Âm và Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm. Rất nhiều tín hữu của những Giáo hội khác không được công nhân như giáo phái Mêthôđista, các Giáo hội độc lập thường là mục tiêu của những vụ bắt bớ tùy tiện. 3.8. Việt Nam: Lịch sử của một Giáo hội mang dấu tích của bách hại: Năm 1988, Đức Gioan-Phaolô II đã phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam: lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam mang dấu ấn của những vụ bách hại. Trong đất nước cộng sản này, việc giữ đạo của nhóm thiểu số vẫn còn bị nhà cầm quyền theo dõi và nghi ngờ. Đặc biệt trường hợp của tín hữu Kitô giáo bị xem như theo ngoại quốc và phương Tây. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 bảo đảm quyền tự do tôn giáo nhưng hàng năm các Giáo hội phải trình một chương trình sinh hoạt chi tiết cho hội đồng nhân dân. Luật ấn định không được lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống đối quốc gia. Một dự án luật mới được trình ngày 22 tháng 4 vừa qua còn kiểm soát gắt gao hơn, dự án luật này đã tạo ra nhiều phản ứng rất mạnh trong hàng giáo phẩm Việt Nam. Nếu các tín hữu ở thành phố vẫn còn lo lắng cho các tổ chức sinh hoạt không khai báo của họ thì ở miền Cao nguyên, các tín hữu thuộc các bộ lạc miền núi như Hmong vẫn còn là mục tiêu cho các cuộc bách hại có tính cách chính trị. 3. Tôn giáo tương lai là tôn giáo phù hợp với khoa học: Bàn về thuyết tiến hóa của Darwin với hệ thống thần ( Ki Tô Giáo, Thiên Chúa Giáo) và phi nhân cách thần (Phật Giáo). Một bên đại diện cho khoa học và một bên đại diện cho tôn giáo. Đề cập đến Tôn giáo tương lai là một tôn giáo như thế nào đang là vấn đề đau đầu nhức óc của các triết gia và các nhà xã hội học nghiên cứu về Tôn giáo. Chính vì thế mà Hegel lên án những đề xuất (và những dự báo) liên quan đến tương lai. “Các triết gia ít nhất phải hạn chế mình để chỉ nhận thức quá khứ và hiện tại mà thôi”. Nhưng theo ý kiến về một số quan điểm của các triết gia thì Tôn giáo tương lai là Tôn giáo phù hợp với khoa học. Vậy thì Tôn giáo nào là Tôn giáo phù hợp với khoa học? Thiên Chúa Giáo, Ki Tô Giáo hay là Phật Giáo? Chúng ta sẽ khảo sát quan điểm này như thế nào? Như chúng ta đã biết Thiên Chúa Giáo là Tôn giáo mang tính nhất thần với quan niệm Đức Chúa Trời đã làm mọi sự hoàn tất trong 6 ngày và tới “ngày thứ 7 là đã hoàn thành mọi sự, nên Chúa dạy lấy ngày thứ 7 làm ngày lễ lạy. Không được làm việc xác để tạ ơn đức Chúa Trời.” Nếu Thiên Chúa và một số tôn giáo thuộc Nhất thần cho rằng có một Thượng Đế tạo ra vạn vật thì sẽ không còn chổ đứng trong thế giới hiện nay và đặc biệt trái ngược với học thuyết tiến hóa của Dacwin, nếu như xưa kia ở thời Cổ đại hay vào thời Trung cổ nói như thế thì con người sẽ tin tưởng bởi vì do thiếu hiểu biết và do sự bạc nhược của họ. thuyết tiến hóa của Darwwin cho rằng sự tiến hóa của con người là từ loài vượn. “Darwin đưa ra khái niệm cho rằng sự đa dạng của loài là sự vô tận tiềm tàng (loại bỏ các tư tưởng cổ điển và Ki Tô giáo về các hình thái bất biến trong thiên nhiên). Ông lý luận rằng có sự biến đổi hầu như liên tục của loài không ngừng thay đổi, mỗi loài đều được thử thách trong cuộc đấu tranh sinh tồn của thế giới vạn vật. Không những ông đưa ra các bằng chứng chi tiết về sự tiến hóa mà còn diễn tả cơ cấu của nó: Chỉ những cá thể nào thích ứng tốt với môi trường xung quanh mới tồn tại sinh sản và truyền lại những đặc tính đó cho con cháu của chúng. Trãi qua hàng triệu năm và qua quá trình chọn lọc tự nhiên, dạng phức tạp hơn hay “bậc cao hơn” của hình thái sinh tồn xuất hiện, mỗi dạng sinh sôi nảy nở phù hợp với môi trường xung quanh nó và phù hợp với việc cạnh tranh để giành thức ăn cũng như để sống còn”. Học thuyết này ra đời đã gây nên những cuộc tranh cãi ở Tây âu, trong thế giới Tây phương vào giữa thế kỷ 19, một thế giới ngự trị bởi Ki Tô Giáo trong hơn 1000 năm, một thế giới mà Ki Tô Giáo tự cho là mình nắm chân lý trong tay, một thế giới mà tuyệt đại đa số người dân, dưới sự cai trị độc tài của Thần quyền và thế quyền Ki Tô, bắt buộc phải tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, thuyết Tiến Hóa đã trở thành một cái gai đâm vào tim óc của các nhà thần học Ki Tô Giáo. Vì thuyết Tiến Hóa, tuy không chống bất cứ niềm tin nào, nhưng hiển nhiên những ý tưởng khoa học trong đó đã làm cho mọi điều trong Thánh Kinh, nhất là thuyết Sáng Tạo của Ki Tô Giáo, trở thành vô giá trị. Do đó, Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, vô cùng hoảng sợ, và đã hợp sức chống đối thuyết Tiến Hóa. Charles Darwin là người Anh nên sự chống đối bắt đầu từ bên Anh với giám mục Samuel Wilberforce ở Oxford. Giám mục Wilberforce lên án Darwin phạm tội “có khuynh hướng giới hạn sự vinh quang của Thần Cha (God) trong sự sáng tạo; rằng “nguyên lý chọn lọc tự nhiên thì tuyệt đối không tương hợp với lời của Thần Cha”; rằng nguyên lý này “đối ngược với sự mạc khải về những mối liên hệ giữa sự sáng tạo và đấng sáng tạo”; rằng thuyết này “không phù hợp với sự tràn đầy vinh quang của Thần Cha” ; rằng có một “giải thích đơn giản hơn về sự hiện diện của những dạng kỳ lạ trong những tác phẩm của Thần Cha – sự giải thích đó là “sự sa ngã của Adam””. Rõ ràng là đầu óc của ông giám mục này, và có lẽ của đa số các giám mục khác trong thời đó, cũng như đầu óc của những tín đồ hạ căn cuồng tín ngày nay, không chứa được cái gì khác ngoài những điều tin nhảm tin nhí vào Thánh Kinh, cho rằng tất cả những lời “mạc khải” của Thần Cha, do con người trong thời bán khai viết trong Thánh Kinh, tất nhiên phải là những chân lý. Có một câu đối thoại rất thú vị giữa giám mục Wilberforce và Thomas Henry Huxley, một khoa học gia thời đó ủng hộ thuyết Tiến Hóa của Darwin. Sau một bài nói trước công chúng để phê bình thuyết Tiến Hóa của Darwin, trong đó giám mục Wilberforce tự khen mình là không phải là dòng dõi của một con khỉ, rồi ông quay sang Huxley và hỏi một cách giễu cợt là “theo phía ông nội hay bà nội mà Huxley là dòng dõi của một con khỉ?”. Huxley đứng lên trả lời là tất cả những gì Wilberforce vừa phê bình không có gì mới lạ, trừ câu hỏi về dòng dõi của Huxley. Và về câu hỏi này Huxley đã trả lời như sau: “Nếu hỏi là tôi thà có một con khỉ khốn khổ làm ông nội hay là một người có nhiều khả năng thiên nhiên và có nhiều phương tiện và ảnh hưởng nhưng chỉ sử dụng những khả năng và ảnh hưởng đó với mục đích đem sự chế giễu vào trong một cuộc thảo luận khoa học nghiêm chỉnh thì tôi không do dự mà khẳng định là tôi sẽ chọn con khỉ” Cả cử tọa phá ra cười, và câu trả lời này đã vang dội khắp nước Anh và lẽ dĩ nhiên, lan sang nhiều nước khác. Rồi đến Hồng y Manning lên tiếng tuyên bố “căm thù quan điểm mới về thiên nhiên” , và mô tả quan điểm này là “một triết lý thô bạo – nghĩa là, không làm gì có Thần Cha, và con khỉ là Adam của chúng ta”. Một mục sư Tin Lành, phó giám đốc viện “chống khoa học “nguy hiểm”” , tuyên bố là lý thuyết của Darwin là“một toan tính truất ngôi Thần Cha”. Nhiều vị lãnh đạo Ki Tô Giáo khác đã lên án Darwin là chủ trương “Thần Cha đã chết”.“Nếu thuyết của Darwin đúng thì chuyện sáng thế là láo khoét, toàn thể cuốn sách về sự sống tan ra từng mảnh, và sự mạc khải của Thần Cha cho con người, mà người Ki Tô chúng ta biết, là một ảo tưởng và một cái bẫy” . Giới giáo sĩ Ki Tô Giáo ở khắp nơi tiếp tục lên tiếng chống đối thuyết Tiến Hóa trong nhiều năm liền, và sự chống đối này lan sang nhiều nước Ki Tô khác ở Âu Châu như Pháp, Đức, Ý v..v..và lan sang cả Mỹ và Úc. Sự chống đối của các nhà thần học về thuyết tiến hóa của Darwin mãi hoài cũng không giải quyết được gì, bởi vì chân lý cũng vẫn là chơn lý không thể thay đổi khác đi, chính vì thế mà Thánh kinh của họ đã không còn giá trị trong thế giới ngày nay. Và đơn nhiên giáo lý này cũng không phù hợp với khoa học, không còn phù hợp trong sự tiến bộ vượt bậc của nền văn minh thế giới hiện nay. Như vậy, chúng ta thấy rằng thuyết tiến hóa của Darwin đã làm cho nhiều tôn giáo bị sụp đổ nhất là Thiên Chúa Giáo, Ki Tô giáo và những tôn giáo thuộc nhất thần nhưng nó vẫn không gây tổn thương hay bất lợi gì cho Phật giáo vì Phật giáo không chủ trương có một đấng God tạo dựng nên mà tất cả vạn vật vũ trụ có là do duyên sinh, trùng trùng duyên khởi. Và theo như chơn lý “võ trụ quan” của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang có nói rõ về vấn đề này: Khi chúng ta đọc tựa đề và hiểu được nội dung thì bài chơn lý “Võ Trụ Quan” thì Đức Tổ Sư đã mượn hình ảnh của Võ trụ để nói lên vấn đề hết sức quan trọng và hết sức tập trung, đó là con đường tiến hóa của chúng sanh. Bởi vì Tổ Sư cho rằng tất cả vạn vật trong vũ trụ cũng từ cái không mà sinh ra cái có, từ cái có là đất nước lửa, gió mới tiến lên cỏ cây thú người, Trời, Phật. Ngài nói chúng sanh sanh ra và tiến hóa theo Lý Duyên Sinh, do các duyên giả hợp mà thành. Đây là tư tưởng nhất quán mà đức Tổ Sư đã khám phá ra. Tư tưởng này hết sức thuyết phục và Ngài cho rằng đây chính là chơn lý của võ trụ. Tư tưởng này cũng đã bài bác thuyết Thượng Đế sanh ra muôn loài, vạn vật và thao túng tất cả mọi việc làm hành động của con người. Và như chúng ta đã trình bày về thuyết tiến hóa của Darwin và các nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm hiểu rằng nguồn gốc của con người là từ các loài động vật và đến lớp người thì dừng lại. Người ta cho rằng con người là động vật duy nhất tối cao hơn bất cứ loài động vật nào khác, người ta không thể nghiên cứu lên trên lớp người được. Như vậy, chúng ta thấy rằng hệ tư tưởng của các nhà khoa học và của Đức Tổ Sư có giống nhau nhưng cũng khác nhau, giống nhau là cùng nói về sự tiến hóa của các loài động vật nhưng bị hạn chế, và nếu đem ra giải thích thì các nhà khoa học cũng không thể nào lý giải được vì đâu mà các động vật và thực vật được sanh ra? Nhưng ở đây Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang đã giải thích được nguồn gốc của động vật, của cỏ cây, của tứ đại từ đâu mà có ( từ cái không sinh ra cái có, có rồi lại không, thay qua đổi lại) và vạn vật đều sinh thành theo Lý Duyên Sinh. Tổ sư chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng vị trí của ta đang đứng là ở lớp người và Ngài chỉ cho chúng ta con đường đi tới (tiến hóa) nữa là Trời, Phật. Đây chính là sự tiến hóa của nhân loại trên quả địa cầu và thuyết tiến hóa này rất phù hợp với học thuyết của Darwin. 3.1. Sự tương đồng giữa Phật giáo và Khoa học: Nếu có một tôn giáo nào có thể gọi là phù hợp với khoa học thì chắc hẳn là Phật giáo. Bởi vì khác với các tôn giáo khác, Đạo Phật không mang tính chất giáo điều và không dựa trên đức tin; Đạo Phật chưa bao giờ tìm cách thay thế khoa học giải thích mọi hiện tượng; và trong quá trình phát triển của loài người, các tổ chức Phật giáo chưa từng kết án một phát minh hay một nhà khoa học nào 3.1.1. Một nền tảng chung: trí tuệ Điểm gặp gỡ căn bản giữa Đạo Phật và khoa học là nền tảng dựa lên trên trí tuệ. Khoa học dựa lên trên sự hiểu biết xây dựng bởi lý trí con người. Đạo Phật cũng dựa trên trí tuệ con người. Trong khoa học cũng như trong Đạo Phật không có đức tin và cũng không cần tới đức tin. Tiếng Anh “ believe”( tin tưởng) phát nguồn từ tiếng đức cổ xưa “liebe” có nghĩa là yêu. Do đó, có thể nói rằng đức tin thuộc vào phạm vi tình cảm chứ không phải là lý trí. Và đa số vấn đề đặt ra, đa số bât đồng giữa tôn giáo và khoa học xảy ra cũng chỉ vì các tôn giáo thần khải đều đặt nền tảng vào đức tin, vào tình cảm chứ không phải vào lý trí, Đạo Phật không vướng mắc vào điều đó. 3.1.2. Điểm tương đồng thứ hai, chủ thể là con người: Trên con đường trí tuệ, khoa học cũng như Đạo Phật, khẳng định chủ thể là con người. cả hai đặt trọng tâm vào con người, vì vậy, có thể nói rằng Đạo Phật và khoa học đều là những con đường nhân bản. Theo khoa học, tất cả sự hiểu biết đều tùy thuộc bản chất và kinh nghiệm của con người, và ai ai cũng có thể nâng cao trình độ học thức, nhờ sự nổ lực của chính mình. Chân lý đạt được không phải là chân lý thần khải do Thượng Đế ban cho, mà là chân lý do con người phát hiện. Theo Đạo Phật, tự con người làm cho mình mê muội, gây khổ đau cho mình và cũng tự con người giác ngộ, giải thoát cho mình. Không có ai tác động vào con người, không có sự cứu rỗi hay thưởng phạt bởi thượng đế hay một Đấng Thần Linh nào. Không có định mệnh cũng không có ngẫu nhiên, chỉ có luật nhân quả. Hơn nữa, ai ai cũng có thể giác ngộ, ai ai cũng có thể thành Phật được. Như vậy, khoa học cũng như Đạo Phật, mang lại cho con người tinh thần trách nhiệm, lòng tự tin ở khả năng của chính mình, quyền tự do lựa chọn và tinh thần bình đẳng trên con đường trí tuệ. 3.1.3. tinh thần phê phán, cởi mở và khoan dung: Đặc biệt với khoa học là tinh thần phê phán của Đạo Phật. Tất cả chúng ta ai ai cũng nhớ những lời dạy của Đức Phật cho người dân làng Kalama, khuyên họ luôn giữ tinh thần phê phán, không chấp nhận một sự thật nào trước khi tự mình kiểm chứng bằng lý trí và thực nghiệm. Tinh thần khoa học cũng chính là tinh thần phê phán, và cũng là tinh thần thực chứng, chối từ những cảm tưởng chủ quan, những truyền thuyết, tin tưởng, những giải thích huyền bí siêu hình. 3.1.4. tinh thần thực tiển và thực nghiệm: Thái độ của Đức Phật Thích Ca không khác gì thái độ của một người thầy thuốc. Chúng ta có thể nhận thấy qua bài giảng đầu tiên của Ngài về Tứ Diệu Đế, một trình tự khoa học hợp lý và thực dụng, một phương pháp y học gồm 4 giai đoạn: chẩn đoán bệnh, tìm nguyên nhân bệnh, tiên lượng và điều trị bệnh bằng một liều thuốc hữu hiệu. Đạo Phật chính là đạo thực nghiệm, bởi vì từ cái khổ cho tới cái diệt khổ đều là những kinh nghiệm của cuộc sống và tu theo Đạo Phật chính là tìm cách đi theo con đường Đức Phật đã đi qua. Tại Tây Phương sở dĩ nghiên cứu y học phát triển mạnh mẽ cũng là nhờ phương pháp khoa học thực nghiệm, được đề xướng bởi Francis Bacon và Claude Bernard, theo một trình tự gồm 4 giai đoạn: từ quan sát các hiện tượng, rút ra một số sự kiện, rồi tìm ra những định luật giải thích các sự kiện và sau cùng xét nghiệm để kiểm soát những định luật đó. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng tinh thần thực tiễn và thực nghiệm là những đặc điểm làm cho Đạo Phật và khoa học áp dụng gần gũi với nhau. 3.1.5. Phật giáo có những nhận định phù hợp với khoa học: luật nhân quả, vô thường, vô ngã, lý duyên khởi: Trong những nguyên lý căn bản của Đạo Phật, những điểm cốt yếu như luật nhân quả, vô thường, vô ngã và lý duyên khởi, đều được khoa học kiểm chứng hay ít ra công nhận là có căn cứ. Về luật nhân quả: Tất cả những bước tiến của khoa học đều nhằm thiết lập những tương quan từ nguyên nhân đến kết quả giữa các hiện tượng quan sát . Vô thường là gạch nối giữa Đông và Tây, bởi vì đồng thời với Đức Phật Thích Ca, triết gia người Hy Lạp Heraclite, cũng đã nhấn mạnh vào khía cạnh lưu chuyển không ngừng của sự vật “ không ai tắm hai lần trên một dòng sông” vì dòng sông luôn luôn biến đổi. Và ngay trong cuộc sống hằng ngày vô thường là điều được thực nghiệm hiển nhiên nhất. Sinh học cho ta biết mỗi giây phút có vô số biến chuyển trong mỗi động vật, thực vật và ngay cả khoáng vật. Hàng triệu tế bào sinh ra và chết đi trong mỗi khoảnh khắc, trong da thịt, trong từng bộ phận cơ thể chúng ta. Có thể nói rằng vô thường chính là biểu hiện của thời gian, của sự sống. Về vô ngã: khoa học mang lại nhiều luận chứng cho quan niệm vô ngã của đạo phật. chẳng hạn như: cơ thể con người bao gồm hàng chục cơ quan, hàng ngàn bộ phận, hàng tỉ tế bào, càng đi sâu vào phân tích càng không biết đâu là cái “ta”. Ngay cả những tư tưởng, những cảm xúc cũng không biết cái nào có thể gọi là cái “ta”. Như vậy, có thể khẳng định rằng Đạo Phật và khoa học trong những nét chính phù hợp và bổ túc cho nhau. Những kinh nghiệm của Đạo Phật không mảy may chống đối với khoa học mà còn có thể giúp cho khoa học phát triển, đặc biệt về khoa học tâm thần. Còn những hiểu biết của khoa học cũng không phủ nhận những nguyên lý căn bản của Đạo Phật, mà giúp cho đạo Phật hiện đại hóa, thích hợp với thời đại. Con người vừa cần đến khoa học vừa cần đến một con đường hướng dẫn tâm linh. Cách đây 500 năm khi con người bắt đầu đi vào con đường khoa học, nhà văn Rabelais đã mượn lời của nhân vật Pantagruel để cảnh giác “ khoa học mà không có lương tri chỉ đi tới sự phá sản của tâm hồn”. Như chúng ta đã biết, bước sang thế kỷ XX, sự phát triển của xã hội kéo theo những mâu thuẩn diễn ra gay gắt trong nhiều lĩnh vực triết học, khoa học, kinh tế, chính trị… tôn giáo cũng không thuộc ngoại lệ. Người ta cũng chứng kiến những “cuộc chiến tôn giáo” diễn ra không kém phần sôi động so với thời kỳ trước. Ngay từ giữa thế kỷ XX, giáo hội đã bị đe dọa ở nhiều mặt. Uy hiếp đè nặng hơn cả là giáo hội phải đối mặt với những tiến bộ khoa học, tức phong trào duy lý vì thánh kinh của giáo hội không còn giá trị với thời đại khoa học nữa. Trong khi những mâu thuẩn giữa khoa học và tôn giáo nảy sinh trong văn cảnh của truyền thống tôn giáo phương Tây. Nhưng, ngược lại khoa học không bao giờ tạo ra một vấn đề nào cho Phật giáo bởi vì Phật giáo là một tôn giáo luôn luôn phù hợp với khoa học và đi theo thời đại. 4. Ảnh hưởng của tôn giáo tương lai về vấn đề thế tục hóa, văn hóa hóa và triết học hóa: Như trên đã trình bày tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo mang đậm tính nhân văn và phù hợp với sự phát triển của khoa học, và người viết muốn trình bày tôn giáo tương lai ở đây chính là Phật giáo. Chính vì thế mà dưới đây người viết xin trình bày ảnh hưởng của Phật giáo về các mặt thế tục hóa, văn hóa hóa và triết học hóa. 4.1. Vấn đề thế tục hóa: Thế tục hóa Tôn giáo có nghĩa là tôn giáo đó đi gần với con người, xã hội và thế gian, bên cạnh đó tôn giáo phải vận dụng được ngành khoa học, triết học, sinh vật học, thiên văn học. Còn vấn đề siêu nhiên của Tôn giáo thì ít đề cập đến. Chẳng hạn như khi quý Thầy Cô đi hoằng pháp, khi thuyết giảng cho Phật tử thì chỉ nói về phước báu nhân thiên mà thôi, còn những vấn đề cao hơn nữa thì không nên nói, chẳng hạn như nói về Bát Nhã… chỉ nói những vấn đề siêu nhiên ấy khi có yêu cầu mà thôi, nếu nói nhiều về vấn đề siêu nhiên thì người tiếp nhận sẽ khó nghe, đến lúc ấy thì chúng ta sẽ bị thất bại. Bên cạnh đó, khi chúng ta đem Phật pháp vào nhân sanh thì phải khai phương tiện, chứ không được giữ khư khư cứng nhắc. Nếu chúng ta cứ giữ các truyền thống theo tôn giáo của mình thì sẽ không có sự thu hút tín đồ, trong tương lai tôn giáo của chúng ta sẽ bị giảm tín đồ, vì thời xưa và thời nay khác nhau hoàn toàn, tùy theo hoàn cảnh xã hội mà chúng ta phải thay đổi cho phù hợp. Tinh thần phương tiện này cũng được Đức Phật sử dụng trong Kinh Pháp Hoa. Chúng ta phải sử dụng phương tiện đúng cách và không đi ngược với bản hoài của chư Phật. Cái này trong Phật giáo gọi là tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên Như chúng ta đã biết Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo không phù hợp với khoa học, và nó không còn giá trị gì đối với các học giả trí thức, nhưng nó vẫn tồn tại đối với những người có niềm tin mù quáng, mà những niềm tin đó nó đã ăn sâu vào thâm căn cố đế của họ. Chính vì lẽ ấy cho nên, hiện nay có một số ít nhà thờ phải bán đi cho nhà chùa, các Thầy mua nhà Thờ để thiết lập nhà Chùa. Tuy là một tôn giáo không hợp với thời đại nhưng nó là một Tôn giáo truyền thống xuất hiện từ rất xưa nên con người không thể nào loại trừ được, mặc dù nó không hợp với người này nhưng nó lại phù hợp với một số người khác, tôn giáo này vẫn tồn tại nhưng tầm ảnh hưởng của nó không cao. Nếu chúng ta muốn tôn giáo có nền ảnh hưởng sâu rộng thì phải đáp ứng được thời đại và khoa học. Cho nên thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiện những dạng tôn giáo thích nghi với xu thế toàn cầu hóa, tương ứng với thời kỳ hậu công nghiệp. “Thời kỳ chúng ta đang sống vì tính toàn cầu hóa tăng lên với một vận tốc rất nhanh, nhanh đến chóng mặt. sự giác ngộ về vai trò cá nhân, về thắng lợi của dân chủ, tự do và chủ nghĩa xã hội, trình độ học vấn và hiểu biết của quần chúng nhân dân được nâng cao và đặc biệt là những thành tựu của khoa học công nghệ đã quyết định thái độ đối với vai trò tôn giáo trong đời sống. Con người thế tục hóa tôn giáo, kéo theo tính đa dạng trong đời sống Tôn giáo. Từ đấy xuất hiện ý kiến khác nhau trong một tôn giáo, dẫn đến sự phân rẽ của các tôn giáo có tổ chức, bùng nổ các giáo phái, kéo theo sự ra đời các tôn giáo mới” Phật giáo có thể chứng minh cho quan điểm này, ví dụ như thời kỳ phân chia bộ phái, điển hình nhất là cuộc kết tập thứ hai, vì thời đại lúc bấy giờ khác xa Đức Phật nên nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ là những người trẻ tuổi đã đề xướng ra 10 điều phi pháp, bên nhóm các vị Trưỡng lão thì không chấp nhận một tư tưởng bị thế gian hóa như thế này nên mới phân thành 2 phái Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Đại chúng bộ chính là nhánh mới của Thượng Tọa Bộ, phát sanh sau này, nhưng cũng cùng một thân cây là đạo Phật. Lịch sử đã chứng minh sự phân phái này đã làm tăng thêm những bông hoa đầy màu sắc cho Phật giáo. Đây chính là nói về mặt tích cực của các giáo phái phát sinh từ tôn giáo gốc. Nhưng bên cạnh đó sự phát sinh các giáo phái, các tôn giáo mới cũng có những phần tiêu cực của nó. Ví dụ như trong bài viết “ Diễn trình tôn giáo qua lịch sử nhân loại”, GS Đặng Nghiêm Vạn có viết như sau: “ Châu Âu chứng kiến hiện tượng thế tục hóa của đạo Công giáo. Số người Công giáo không tăng. Số người theo đạo nhưng không hành đạo ngày càng đông. Số người chạy đi tìm niềm tin ở các đạo khác, nhất là các đạo từ phương Đông ( trong đó có Phật giáo) ngày càng nhiều. Đạo Tin Lành ở Mỹ phân rẽ thành nhiều giáo phái, lắm khi xa rời giáo lý đi đến chổ cực đoan. Đạo Hồi đang có hiện tượng xung đột trong nội bộ và với các đạo khác, phân rẽ thành những bộ phận cấp tiến, ôn hòa và cực đoan. Tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh đương diễn ra sự trở lại của đạo dân tộc cùng vơi sự truyền bá của các đạo ngoại sinh, sự xâm nhập của các “hiện tượng tôn giáo mới” xa lạ từ Phương Tây với nhiều dụng ý phi tôn giáo.” Như vậy, chúng ta thấy rằng sự thế tục hóa tôn giáo có thể xảy ra 3 vấn đề sau đây: Thứ nhất, khi tôn giáo tiến hành tự điều chỉnh bản thân mình, tạo ra sự thay đổi tương đối phù hợp với nhu cầu xã hội, sẽ gây ra sự chống đối của các thành viên, những người không muốn bất cứ một sự cải cách, một sự thay đổi nào Ý nghĩa thứ hai của tôn giáo thế tục hóa là vì sự tồn tại của tôn giáo mình mà không thể không biến đổi theo sự tiến hóa của xã hội, sự biến đổi này thể hiện càng rộng càng sâu hơn ý nghĩa của từ thế tục hóa. Thứ ba là chống lại hai quan điểm thế tục hóa Tôn giáo như đã nói trên. Những hình thức chống lại này có thể là cải cách tôn giáo, hoặc lập riêng giáo phái khác, hoặc thậm chí lập riêng một tôn giáo mới. Và theo như quan điểm bài viết “ từ góc độ xã hội xem xét sự phát triển của tôn giáo” của CAO SHI NING (bản dịch của Trần Nghĩa Phương từ nguyên bản tiếng Trung) có nói như sau: “ Nếu quay ngược thời gian lại 500 năm, tức là từ thế kỷ XV, để quan sát sự phát triển của Tôn giáo gần 500 năm qua, chúng ta thấy rằng, hướng phát triển của tôn giáo là không ngừng thế tục hóa và chống lại thế tục hóa (biểu hiện điển hình là cải cách tôn giáo), không ngừng xuất hiện những phong trào duy trì giáo lý gốc và phong trào tôn giáo mới. Trên thực tế sự không ngừng thế tục hóa và chiến thắng thế tục hóa của tôn giáo, sự xuất hiện phong trào duy trì giáo lý gốc và phong trào tôn giáo mới, cũng chính là đặc trưng chủ yếu của tình hình tôn giáo hiện nay.” Gần đây Công Giáo La Mã đã công khai nhìn nhận lại Lịch Sử Giáo Hội trong quá khứ đã bức hại các nhà khoa học, chẳng hạn như đã thiêu sống Bruno, bức hại nhà khoa học Gallile, hoặc là đã gây ra những cuộc chiến đẩm máu chỉ vì có tư tưởng trái ngược với Kinh Thánh. Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã biểu thị sám hối về việc này. Các tôn giáo đã tích cực lợi dụng thành quả của khoa học kỷ thuật hiện đại và đưa ra sự lý giải hợp lý đối với những kết quả đó để cho phù hợp với thế giới ngày nay. Qua phần trình bày trên chúng ta thấy rằng, Tôn giáo trong tương lai là tôn giáo sẽ ảnh hưởng đến vấn đề thế tục hóa. Và ở đây chúng ta có thể đặt ra vấn đề là trong tương lai tôn giáo còn hay mất? Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này theo xu hướng phát triển các tông phái của đạo Phật. Như chúng ta đã biết, sự xuất hiện của Đại Thừa là một sự kiện quan trọng trong Lịch Sử Phật Giáo, điều đó đã hẳn. Nhưng đây cũng là một điều tất yếu không thể nào không xảy ra trong quá trình phát triển của Đạo Phật, và đây cũng là một điểm thuận lợi làm cho Đạo Phật thêm phần sinh động và phong phú. Bởi vì chúng ta có thể tự hỏi rằng: nếu không có con đường của Đại thừa thì làm thế nào Đạo Phật có thể phát triển được ở Châu Á, và đặc biệt ở Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng? Và nếu không có Phật Giáo Tây Tạng và Thiền thì làm sao Đạo Phật có thể chinh phục được quần chúng Tây phương ngày hôm nay? “Người ta thường quan niệm rằng sự chia rẽ trong một phong trào sẽ đưa đến sự diệt vong hay sự suy đồi của phong trào đó. Nhưng trong trường hợp Đạo Phật kết quả có thể là ngược lại: chính nhờ sự phân hóa thành nhiều tông phái, mà Đạo Phật đã có thêm được một nguồn sinh lực mới, đã đáp ứng được một số nhu cầu quần chúng, và đã thích hợp được với những điều kiện xã hội văn hóa địa phương”[27], chẳng hạn như 10 tông phái Phật giáo bên Trung Hoa, được thành lập cũng để đáp ứng nhu cầu của con người trong hoàn cảnh thời bấy giờ, chính vì có sự thay đổi trong truyền thống tôn giáo nên con người đã chấp nhận Đạo Phật như là một chổ dựa tinh thần vững chắc vì nó phù hợp với khoa học và phù hợp với nhu cầu cuộc sống của nhân loại, chính vì thế trong tương lai tôn giáo thế tục hóa này sẽ không bị mất đi, mà nó còn truyền ảnh hưởng sâu rộng đến quần chúng nhân dân. Vì sao? Chính vì cách sử dụng phương tiện quyền xảo của các nhà lãnh đạo Phật giáo sẽ làm cho Phật giáo phát triển ngày càng lớn mạnh trong xã hội hiện đại như ngày hôm nay với tiêu chí là “ hòa nhập chứ không bị hòa tan” và tinh thần tùy duyên bất biến trong đạo Phật, chính vì những điều kiện này mà đạo Phật thế tục hóa sẽ không bị mất đi trong tương lai mà còn là một tôn giáo tương lai đúng nghĩa,vì đó là tôn giáo đầy tính nhân văn, đáp ứng và giải quyết được nhu cầu của cuộc sống và điểm quan trọng là phù hợp với khoa học. Tuy nhiên đó là mặt tích cực còn đứng về mặt tiêu cực mà nói thì trong tương lai nếu những người lãnh đạo tôn giáo thiếu trách nhiệm, thiếu khả năng hoặc là bị mờ mắt bởi cơn thác lũ vật chất do không có nội tâm tu tập bên trong thì Tôn giáo đó có thể bị lui sụt và giảm tín đồ (do ảnh hưởng của một số phần tử bất hảo trong tôn giáo đó). Nhưng một số ít đó vẫn không thể nào quật ngã được cây đại thụ Phật Giáo bởi vì như đã nói ở trên, đặc điểm của Phật giáo là nhiều chi nhánh, nhưng chung quy một cội nguồn, một biến ra nhiều, nhưng nhiều vẫn là một; bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên nhưng bất biến. lịch sử đã chứng minh rằng cây đại thụ Phật Giáo với thân cây là Đạo Phật Nguyên Thủy, phân chia ra làm 2 nhánh lớn, và 1000 năm về sau, trong khi những cành lá đầu tiên mọc trên mãnh đất ấn Độ bắt đầu khô héo[28], thì cây Đại thụ đã đâm chồi nẩy nhánh trên bao nhiêu mãnh đất khác, vẫn tiếp tục xanh tươi đến ngày nay và muôn đời về sau. 4.2. Vấn đề văn hóa hóa: Trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu văn hóa là gì? Theo định nghĩa được coi là chuẩn do Edward B. Tylor đưa ra năm 1871. Văn hóa là toàn bộ những tri thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật lệ, phong tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư cách thành viên của xã hội nắm bắt được” Theo ông Nguyễn Trần Bạt trong quyển văn hóa và con người đã nói như sau: “Văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.” Như chúng ta đã biết Phật Pháp là bất định pháp, luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ của chúng sanh để hoàn thành sứ mạng cứu khổ của mình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến mà Đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống vô biên, vượt qua những ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ, thời gian ,không gian…. Tinh thần tuỳ duyên là tự thay đổi với hoàn cảnh để có thể tiếp độ chúng sanh, tính bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, sinh tử luân hồi. Tuy nhiên Phật Giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất cả các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước trên thế giới. Khi du nhập vào một quốc gia có một sắc thái sống riêng biệt, đặc thù, như Trung Hoa, một quốc gia có nền tư tưởng đông phương khổng lồ, khi Phật Giáo truyền vào thì nền văn minh này đã phát triển tới đỉnh cao của nó, mà trong lịch sử triết học gọi là Bách Gia Chu Tử, hàng trăm nhà tư tương đề xướng học thuyết của mình. Nếu lúc đó Trung Hoa có 10 nhà tư tưởng tiêu biểu như Âm Dương gia, Nhạc gia, Nho gia, Pháp gia, Danh gia, Đạo Đức gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia ..thì Phật Giáo không dừng lại cái bình bát đi khất thực, một tấm y vàng mà Phật Giáo đã đi vào cuộc đời bằng mười tông phái như Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông, thành Thật Tông, Câu Xá Tông.. Phật Giáo với mười tông phái này sánh vai với mười dòng tư tưởng của bản địa để đi vào cuộc đời, không chỉ đến với những giới bình dân mà Phật Giáo còn đã đi thẳng vào cung đình, vào với những vị nguyên thủ quốc gia. Ở Nhật Bản thì sao? Nhật Bản là một quốc gia được xem là có nhều món ăn tinh thần nhất trên thế giới. Không phải chỉ là khoái cảm cho vị giác, cho thính giác mà nhất là cho cảm giác của tâm linh. Ở trong bối cảnh đó, Phật Giáo đã nhanh chóng đi vào hoa, vào trà để rối cuối cùng nâng nó lên thành một tôn giáo. trà đạo hay hoa đạo.” Còn ở Việt Nam của chúng ta thì như thế nào? Trong quá trình hội nhập văn hóa, sự ảnh hưởng của Phật Giáo đã tác động và đã tạo cho Phật Giáo Việt Nam có những nét đặc thù sau đây Như chúng ta đã biết khi phật giáo du nhập vào Việt Nam, đã tiếp xúc và dung hòa với tín ngưỡng bản địa, đã để lại những dấu tích văn hóa cho người việt, chẳng hạn như chùa dâu, chùa bút tháp, chùa keo, chùa trấn quốc, chùa tây phương, chùa thiên mụ, chùa một cột… ngôi chùa không những chỉ là nơi tín ngưỡng, mà còn là những viện bảo tàng nho nhỏ của phật giáo, giữ lại những nét đặc thù văn hóa dân tộc. ngoài ra còn có những di sản văn hóa bất diệt như: báo thân của hai anh em Thiền Sư ngộ đạo là Nguyễn Khắc Thuần và Nguyễn Khắc Minh, những di sản văn hóa thời Lý Trần, và hiện nay có trái tim bất diệt của Bồ Tát Quảng Đức… đây chính là những biểu hiện văn hóa của Phật Giáo Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung. Văn hóa Phật Giáo đã đi vào thế tục và trở nên gần gũi với con người hơn bất cứ lúc nào. Và như chúng ta đã biết, trong quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam thì Phật Giáo đã hòa hợp và thích nghi theo từng hoàn cảnh địa lý, điển hình là biểu tượng chùa Tứ Pháp thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá. Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam xưa kia là tiền Phật hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc… và bên cạnh đó cũng xuất hiện những hiện tượng như xin sâm, bói quẻ…những hiện tượng này được gọi là mê tín dị đoan. Như vậy thì ở đây chúng ta cũng có thể đạt ra câu hỏi là trong quá trình hội nhập văn hóa bản địa thì tôn giáo (có tính văn hóa hóa) có sai lệch hay không? Sự hội nhập và thay đổi này đã làm cho một số học giả ngạc nhiên vì sự hội nhập văn hóa Phật giáo ở các nước khác thì không có vấn đề này (thờ nhiều vị thần cũng giống với chủ nghĩa đa thần và xin sâm bói quẻ). Bàn đến vấn đề này cũng hết sức tế nhị, nhưng chúng ta có thể thấy rằng tính dung hợp với các tín ngưỡng bản địa này có thể chỉ là phương tiện để dẫn dắt những người mới sơ cơ vào đạo, và đến khi họ được khai thông nhận thức rồi thì lúc đó các thầy sẽ nói về đạo lý để họ biết cái nào đúng cái nào sai và họ sẽ tự chọn cho mình một kết quả. Ngoài yếu tố di sản văn hóa dân tộc là ngôi chùa thì còn có một loại di sản văn hóa khác đó là dạng văn hóa phi vật thể đó chính là những giáo lý mà Phật Giáo đã để lại, đã mang đến sự an lạc nội tâm cho rất nhiều người. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, có một điều chung nhất là bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hoá đặc thù, đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, khi du nhập vào các quốc gia thì mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, ra những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật bằng chứng đó là những Thánh Đường, Nhà Thờ, Nhà Chùa…tất cả những cái này đều là những vết tích văn hóa mà các tôn giáo đã để lại trên một số nước khác nhau. 4.3. Về vấn đề triết học hóa: Như chúng ta đã biết giáo lý căn bản của Đức Phật chính là Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi, Bát Chánh Đạo Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.[33] Luật nhân quả cần được quán sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm. Giáo lý này đương nhiên đã trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với người Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh huởng đến giới trí thức. Có thể nói mọi người dân Việt điều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ Nôm, chữ Hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người. Thậm chí trẻ con mười tuổi cũng tự nhiên biết câu: "ác giả ác báo". Chúng phát biểu câu rất đúng hoàn cảnh sự việc xảy ra cho đối phương, hay "chạy trời không khỏi nắng". Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện. Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp kia. Mặt khác tinh thần từ bi cũng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người qua ca dao dân ca như: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. Ngoài ra còn có đạo lý tứ ân, cũng ảnh hưởng rất sâu đậm đến con người việt nam như: hiếu thảo với cha mẹ, rồi biết ơn đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, cho chúng ta cuộc sống yên bình như ngày hôm nay. Những tư tưởng triết học của Phật giáo cũng đã được con người áp dụng bằng cách thể hiện trong những sáng tác văn chương của mình. Ôn Như Hầu đã từng viết như sau: Mới sinh ra thì đà khóc chóe Trần có vui sao chẳng cười khì. Hoặc, trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu có câu Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật Mối thất tình quyết dứt cho xong, Đa mang chi nữa đèo bồng, Vui vì thế sự mà mong nhân tình. Lấy gió mát trăng thanh mà kết nghĩa, Mượn hoa đàm, đuốc tuệ làm duyên Thoát trần một gót thiên nhiên Cái thân ngoại vật là tiên trong đời Điểm qua một vài đoạn trong Cung Oán Ngân Khúc, ta thấy Ôn Như Hầu đã dùng triết lý Tam Pháp Ấn để nhắc nhở người đời. Tuy lời văn đượm màu tang thương và bi đát của con người và cuộc đời, nhưng tất cả chúng ta phải thừa nhận rằng cung oán ngâm khúc là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc Việt đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm giác mà trong đó tư tưởng triết lý đạo Phật đóng vai trò chủ đạo. Và nhà thơ J. Leiba- tên thật Là Lê Văn Bái, một nhà thơ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 cũng có những bài ảnh hưởng sâu đậm triết lý nhà Phật: Phật giáo vô biên độ chúng sanh Bè từ thả với kiếp lênh đênh Trần ai đã đẫm muôn hồ lệ, Xin độ trì đôi lứa tuổi xanh. µµµ Con dẫu trần tâm đã sạch rồi Lòng từ vương một chút không thôi Đoái trông lục hợp sinh tà lụy Bao sợi dây oan buộc kiếp người. Có thể nói J. Leiba là nhà thơ trẻ nhất thời đó đã quay về với Đạo Phật để tìm lấy sự an lạc cho tâm hồn cho những ngày cuối đời mình: Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá Lệ lòng mong cạn chốn am không Cửa thiền một đóng duyên trần dứt Quên hết người quen chốn bụi hồng Và với Vũ Hoàng Chương (1916-1976) nhà thơ nổi danh khác của Việt Nam lại đi xa hơn, mượn ngay những giáo lý của Phật như Nhân Quả, Luân Thường, khổ đau..để diễn tả nổi niềm khao khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác: Ta còn để lại gì không? Kìa non đá lở, nay sông cát bồi Lang thang từ độ luân hồi U minh nẻo trước, xa xôi dặm về Trông ra bến hoặc bờ mê Nghìn thu cửa chớp, bốn bề một phương. Ngoài ra vào thời đại Phật Giáo Lý Trần, có không ít nhà thơ nhà văn nhà những Thiền sư. Họ không những chỉ cống hiến cho dân tộc những bài thơ hay mà còn để lại cho dân tộc một quan điểm sống thật lạc quan, có ảnh hưởng rất sâu đậm đến hậu thế, chẳng hạn như bài thơ của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Bên cạnh đó tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng mang đậm triết lý Phật giáo như: Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Hay, Tu là cội phúc tinh là dây oan… Rõ ràng đây chính là quan điểm nghiệp lực trong Phật giáo. Chắc chắn Nguyễn Du đã ảnh hưởng tư tưởng này của Phật giáo nên đã áp dụng trong thi ca của ông. Điểm qua một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng trên mặt văn chương xuất bản mà Phật Giáo còn có mặt trong nhiều phong tục tập quán ở Việt Nam. Như vậy, chúng ta thấy rằng tư tưởng triết học Phật giáo đã được và quần chúng truyền khẩu, được các nhà thơ lớn lấy đó làm nội dung trong các tác phẩm văn học của mình. Người ta đã lấy tư tưởng của Đạo Phật (triết học hóa) để mang những tư tưởng đó đến các bộ phận nhân dân, từ bình dân đến tri thức. Về mặt này chúng ta thấy rất có lợi cho Phật Giáo. Bởi vì đây cũng chính là một phương pháp độ sanh ngoài việc thuyết giảng của quý Thầy. Ngoài ra hiện nay chúng ta thấy ở các nước đã xuất bản những quyển sách mang đậm tính triết lý, mang đậm tính triết học của Phật Giáo của các nhà học giả, các Thiền sư, chẳng hạn như Ánh Sáng Á Đông, Đường Xưa Mây Trắng… và còn rất nhiều các tác phẩm nữa. Các tác phẩm này nó đã được truyền tải đến tất cả mọi người trên thế giới về tư tưởng triết học của Phật Giáo, chính vì thế mà người ta đã hướng về Phương Đông để tìm hiểu những triết lý thâm sâu, vô cùng bổ ích cho cuộc sống hiện đại. Xem ra thì càng lúc người Tây phương không còn nhìn đạo Phật như một tôn giáo hoàn toàn xa lạ với lối sống và tư duy của họ mà bắt đầu đón nhận nó như một khoa học tâm linh khả dĩ bổ khuyết cho sự thiếu vắng một lối sống đạo đức và minh triết của nền văn minh Tây phương. Triết gia người Pháp Jean Francois cho rằng từ hai thế kỷ nay Tây phương đã bỏ qua nếp sống minh triết cá nhân để thay vào đó sự cải tổ toàn diện xã hội mà đỉnh cao là thuyết Mác-xít và chờ đợi sự giải phóng con người bằng những giải pháp do lịch sử và tập thể dựng nên. Và có thể cũng vì sự thiếu thốn trong tâm hồn, sự vắng bóng của đạo đức và minh triết cá nhân đã khiến Phật giáo mau chóng thâm nhập vào xã hội Tây phương.[37] Francois cũng xác nhận rằng quần chúng Tây phương đã và đang quay về với những phương pháp đạo đức cổ điển đã đưa ra những lời chỉ dạy rất khiêm tốn và rất thực tế về nếp sống của con người. Điều này, theo ông, nói lên nhu cầu của quần chúng về những nguyên tắc chỉ đạo người ta phải sống như thế nào, phải vươn tới nghệ thuật sống và phải hướng dẫn cuộc đời mình ra sao. Nhưng đó là những yêu cầu mà theo Francois từ lâu nền triết lý Tây Phương không có câu trả lời. Nhân loại đang có xu hướng quay về với chính mình. Người ta đang tìm thấy ở Phật giáo những chỉ dẫn đúng đắn và cần thiết cho việc xây dựng hạnh phúc đích thực của con người và bảo vệ thế giới khỏi nguy cơ hủy diệt. Do đó, giáo lý phật pháp có thể đem đến cuộc sống an vui và hạnh phúc cho toàn nhân loại. 5. Cần Phải Hiểu Rõ Giá Trị Của Tôn Giáo: Nhiều người hiểu sai về đạo Phật. Ngay cả những giáo sư nghiên cứu Phật giáo cũng chỉ dựa trên ngôn từ và giải thích những gì đức Phật đã dạy theo nghĩa đen. Họ không hiểu các phương pháp, điều mang tính chất đích thực về giáo pháp, của đức Phật. Theo quan điểm của tôi, khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ tôn giáo nào là các phương pháp của nó: cách áp dụng tôn giáo váo trong kinh nghiệm của chính bạn. Càng hiểu rõ cách thực hiện điều đó, tôn giáo của bạn càng trở nên có hiệu quả hơn. Sự thực tập của bạn rất tự nhiên và thực tế; bạn dể dàng hiểu rõ tâm và bản chất của mình, đồng thời không ngạc nhiên về bất cứ điều gì bạn nhận thấy trong đó. Vì vậy, khi hiểu được bản chất của tâm mình, bạn sẽ có khả năng kiểm soát nó một cách tự nhiên; bạn không miễn cưỡng bị ép buộc quá cứng nhắc; hiểu biết tự nhiên mang đến sự chế ngự. Nói chung, con người có nhiều khái niệm khác nhau về bản chất tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo. Những người xem tôn giáo và Phật giáo chỉ ở mức độ trí óc thiển cận sẽ không bao giờ hiểu được ý nghĩa đích thực của nó. Quan điểm của họ thậm chí quá thiển cận đến nỗi sẽ luôn luôn không xem đạo Phật là một tôn giáo. Trước hết, trong Phật giáo, chúng ta không hứng thú nói nhiều về chính bản thân đức Phật. Đức Phật cũng không muốn mọi người quá sùng bái Ngài, vì thế, cho đến nay, đạo Phật chưa bao giờ khuyến khích tín đồ chỉ đơn thuần tin tưởng vào đức Phật. Chúng ta thường xuyên quan tâm đến việc hiểu biết tâm lý, bản chất của tâm, của nhân loại hơn. Do đó, hành giả Phật giáo luôn luôn nổ lực hiểu rõ thái độ tâm thức, quan điểm, nhận thức và ý thức của họ. Đây là những điều thực sự quan trọng. Mặt khác, nếu lãng quên bản thân và ảo tưởng của chính mình, thay vào đó, tập trung vào một số khái niệm cao siêu—như “đức Phật là gì?”—thì cuộc du ngoạn tâm linh của bạn trở nên một giấc mộng—như vọng tưởng. Điều đó có thể xảy ra; hãy cẩn thận. Trong tâm bạn không có sự liên hệ giữa đức Phật hoặc Thượng Đế và chính bạn. Chúng hoàn toàn tách rời mọi thứ: bạn hoàn toàn tồn tại ở chỗ này còn đức Phật hoặc Thượng Đế tồn tại ở chỗ kia. Không dín dáng đến bất cứ điều gì. Suy nghỉ theo cách dó là không thực tế. Nó quá cực đoan. Bạn đang đặt điều này xuống tận cùng thấp kém và đưa điều khác lên cao chót vót. Trong Phật giáo, chúng ta gọi đó là tâm nhị nguyên. Hơn nữa, nếu nhân loại hoàn toàn phủ nhận bản chất, thì điểm tìm kiếm một ý tưởng cao cả hơn là gì? Dù sao, các ý tưởng vốn không phải thực hành. Con người luôn luôn muốn biết tất cả về quả vị cao nhất hoặc bản chất của Thượng Đế, nhưng kiến thức thông minh như vậy không có gì liên hệ với đời sống và tâm của họ. Tôn giáo thực sự là phải nắm bắt nhận thức của chính nó, chứ không phải một bài tập luyện dựa trên sự tích lúy các sự kiện Trên cơ bản, chính đức Phật đã dạy rằng bản chất của con người là thanh tịnh, vô ngã, giống như bầu trời trong xanh, không có mây mù. Mây đến và đi, nhưng bầu trời trong xanh luôn luôn hiện hữu; mây không biến đổi được bản chất cốt yếu yếu của bầu trời. Tương tự, về cơ bản, tâm con người luôn thanh tịnh, không có bất cứ điều gì liên quan đến hữu ngã. Nói chung, dù bạn là người sùng đạo hay không, nếu không thoát khỏi tự ngã của mình, thì bạn hoàn toàn sai lầm; bạn đã tạo nên cho mình một triết lý sống hoàn toàn giả dối, không có gì liên quan đến thực tại. Nói bạn nghe về một kho báu tuyệt vời chứa đựng nhiều vàng bạc quý giá nhưng không có chìa khóa để mở cửa; tất cả khả năng tưởng tượng của bạn về cách sẽ sử dụng tài sản mới tìm được là một sự ảo giác hoàn toàn. Tương tự, mơ tưởng về các quan điểm tôn giáo phi thường và đạt được những kinh nghiệm nhưng không quan tâm đến hành động tức thời hoặc phương pháp chứng đắc thì hoàn toàn không chân thực. Nếu không có phương pháp, không có chìa khóa, không có cách nào để áp dụng tôn giáo của mình vào trong cuộc sống hằng ngày, thì tốt hơn bạn nên dùng coca-cola. Ít nhất nó cũng chặn đứng cơn khát của bạn. Nếu tôn giáo của bạn chỉ đơn giản là một khái niệm, thì nó không có thực, giống như không khí. Bạn phái hết sức cẩn thận rằng bạn hiểu rõ tôn giáo là gì và cách nó được thực tập. Nhiều người sẽ tưởng tượng rằng việc chế ngự tâm là một sự thúc ép hạn chế và ràng buộc. Thực chất, sự chế ngự là một trạng thái tự nhiên. Bạn sẽ không nói có hay không? Bạn sẽ nói tâm không bị bản chất chế ngự, nghĩa là tâm bị bản chất chế ngự theo cách tự nhiên. Nhưng điều đó không phải vậy. Khi nhận thức bản chất của tâm mình bị chế ngự, thì sự chế ngự xảy ra tự nhiên như khi trạng thái tâm bị chế ngự hiện tại của bạn sanh khởi. Hơn nữa, cách duy nhất để đạt được sự chế ngự qua tâm mình là phải hiểu rõ bản chất của nó. Bạn không bao giờ có thể gây áp lực cho tâm hay thế giới nội tại của mình để thay đổi. Bạn cũng không thể thanh lộc tâm mình bằng cách áp chế hoặc trừng phạt có thể của chính mình. Đó là điều hoàn toàn không thể. Sự bất tịnh, tội ác và tiêu cực hoặc bất cứ điều gì bạn muốn gọi thì nó đều thuộc về tâm lý, một hiện tượng của tâm, vì vậy, bạn không thể chấm dứt nó theo khía cạnh vật lý. Sự gạn lộc thanh tịnh đòi hỏi một kết nối khéo léo của phương pháp và trí tuệ. Để thanh lộc tâm mình, bạn đừng chỉ tin vào một điều nào đó đặc biệt cao xa—đức Phật hay Thượng Đế. Đừng lo lắng về điều đó. Khi hiểu rõ bản chất bất thường trong cuộc sống hằng ngày của mình, bản tính riêng biệt của thái độ tâm mình, thì tự động bạn sẽ muốn thực hiện một giải pháp. Bất kể vật chất khiến bạn thoải mái bao nhiêu, bất kể sắp đặt căn nhà của mình thế nào—bạn có cài hoặc cái kia; bạn đặt cái này ở đây và đặt cái khác ở chổ kia—nhưng chưa bao giờ bạn có thể vận dụng tâm mình theo cách tương tự. Chưa bao giờ bạn có thể xác định cách mà mình sẽ cảm nhận suốt ngày. Bằng cách nào bạn có thể ấn định tâm mình như thế? Làm sao bạn nói “ngày nay tôi sẽ trở nên như cái này”? Tôi có thể nói cho bạn biết về tính bền vững tuyệt đối, miễn là tâm bạn không bị áp đặt, kích động và nhị nguyên, thì không có cách nào cả; điều đó không thể xảy ra. Khi nói điều này, tôi không có ý hạ thấp bạn; tôi chỉ nói về cách hoạt động của tâm. Tất cả những gì điều này cho thấy là bất kể vật chất khiến bạn thoải mái ra sao, bất kể bạn nói với chính mình như thế nào : “ồ, điều này khiến tôi hạnh phúc, hôm nay tôi sẽ hạnh phúc suốt ngày” , thì điều ấy không thể định trước cuộc sống của bạn như vậy. Tự nhiên, các cảm giác của bạn liên tục thay đổi và thay đổi. Điều này cho thấy rằng đời sống vật chất không hoạt động. Tuy nhiên, tôi không có ý nói bạn nên từ bỏ thế giới trần tục và trở thành nhà tu khổ hạnh. Đó không phải là những gì tôi đang nói. Quan điểm của tôi là nếu hiểu rõ những nguyên lý tinh thần cơ bản và thực hiện theo, thì bạn sẽ nhận thấy thỏa mãn và có ý nghĩa trong đời sống của mình nhiều hơn là nguyện vọng chỉ dựa vào thế giới cảm giác. Thế giới cảm giác không thể đáp ứng thỏa mãn cho tâm con người. 6. Đạo Phật đáp ứng được nhu cầu về một tôn giáo tương lai: Phật giáo, theo cách ngôn của Thiền sư D.T. Suzuki, là một tôn giáo khước từ mọi định nghĩa khách quan, vì định nghĩa là đặt giới hạn cho sự thăng hoa của nguồn mạch tâm thần”. Ở đây, định nghĩa này hướng vào hai mục tiêu : một là lý trí thuần lý, hai là kinh nghiệm nội tại Về mặt lý trí thuần lý, theo Phật giáo, ngôn ngữ và tư duy chỉ có khả năng phân tích, quan sát trên bề mặt sinh thái của con người và vũ trụ, nó là thể cách hoạt động thuộc hình nhi hạ (physique). Trong khi đó, kinh nghiệm tâm linh là một cơ cấu thuyên thích nội tại (implicit hermeneutical structure), tự nó vốn đã thoát ly nhất nguyên (monisme), nhị nguyên (dualisme) và đa nguyên (pluralisme), nó thoát ly ngôn ngữ hình thái vì nó vô tướng, nó thuộc hình nhi thượng (métaphysique), tạm gọi là như vậy. Nói như thế không có nghĩa là Phật giáo chủ trương dẫn dắt con người đi vào một thế giới mông lung hương khói, mà chính là giúp con người xé toang bức màn mông lung hương khói của logic tư duy hữu ngã, đưa con người trở về cái bản thể thánh thiện ngay trong cái cơ cấu nội tại (inner necessity) của chính con người. Từ đây, nếu cần định nghĩa về Phật giáo thì sẽ định nghĩa như vầy: Suzuki tiếp : “Định nghĩa của Phật giáo phải là nguồn sinh lực uyên nguyên của chính nó thúc đẩy tới trước một dòng động mạch tâm linh, mang tên là Phật giáo”. Tại đây, tôn giáo theo Phật giáo sẽ không được bàn đến ở bất luận nơi nào thiếu vắng sinh thái tâm linh, hay là một sự nội chứng tự thể. Cố nhiên ở đây ta không thể tìm được một phê bác nào cho rằng sự quay trở về với bản thể uyên nguyên của mỗi người là quan điểm qui kỷ Vì ngay từ đầu, khi cất bước quay trở về, tự thân của mỗi cá thể, trước hết, phải rũ sạch mọi chấp trước về cái tôi, cái của tôi và cái tự ngã của tôi. Nhưng cũng không vì vậy mà con đường ấy bị gọi là vô qui kỷ, vì ngay tại đó Phật giáo thiết lập một cứu cánh thực tại vốn bản nguyên, tự hữu và vĩnh hằng : nó là Tathata – Như như, một thực tại hiện sinh, một nguồn sống tương tục của tri giác và thực tại. Do vậy, Phật giáo không phải là tín ngưỡng suông hay qui tắc thần khải do quyền lực thiêng liêng khai sáng và chỉ bảo, hoặc lòng kinh sợ một cái gì u huyền mình không biết; mà Phật giáo là giáo huấn đưa con người đi đến giác ngộ bằng con đường thực nghiệm, nội chứng tự thân. Kinh Pháp Cú Đức Phật dạy : “Như đất, người giữ tâm quân bình, có nếp sống kỷ cương, không còn nghe xúc động. Người ấy như trụ đồng, như ao hồ phẳng lặng, không bị bùn đất làm nhơ. Với người có tâm quân bình như thế, cuộc đi lang thang bất định của đời sống không còn lập lại nữa“. Đạo Phật là tôn giáo tương lai vì thỏa mãn được điều kiện, đó là: một tôn giáo vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Phật giáo là một lối sống phản bổn hoàn nguyên, một lối sống quay trở về với chính mình, rồi từ nơi tự thân nhận chân cái giá trị hiện hữu của con người, cũng như hàng loạt hệ thống giá trị có liên quan với con người, với thiên nhiên, như con chim, hòn đá, cành me… Đó chính là mối tương quan Duyên sinh hiện hữu. Thông qua đó, con người thấy được mình, thấy được giá trị hiện hữu của mình cũng như đồng loại và dị loại, mà trong đó ý thức và hành động của con người cá thể tự nó qui định cho nó một định mệnh. Đức Phật dạy rằng : “Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa, nghiệp là thai tạng mà từ đó con người sinh ra“. Kinh Pháp Cú, Đức Phật cũng dạy rằng : “Không ai có thể làm cho ta trở nên trong sạch, cũng không ai làm cho ta ô nhiễm, trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, chính ta làm cho ta ô nhiễm, và cũng chính ta làm cho ta trong sạch“. Ở đây, Đức Phật không hề thừa nhận vô luận một năng lực quyền uy tối cao có thể ngự trị cuộc sống của con người; chỉ có con người là kẻ duy nhất tạo tác, gặt hái, và điều hành định mệnh của chính y. Giáo thuyết tương quan nhân – quả cũng nhấn mạnh rằng, thiện nghiệp hay ác nghiệp đều là nhân quả chín muồi của tâm lý và hành động. Trong mối tương quan nhân – quả, thông qua thiện ác con người kiến lập cho mình một định mệnh. Đồng thời con người cũng có khả năng giải phóng y ra khỏi cái định mệnh thực hữu hiện tiền, mà trong một quá khứ liên tiếp y đã gieo trồng thông qua mọi hành vi, cử chỉ, tâm lý, thái độ.. của chính y. Như vậy, nhân quả ở đây, theo Phật giáo không phải là mối tương quan cơ giới, mà là một hệ thống tương quan nhân – quả sinh vật định hướng Do vậy, giáo thuyết nhân quả, trên góc độ triết học, là một sức mạnh nội tại nhằm đánh thức con người và trả con người về với chính nó, về với trách nhiệm và bổn phận của chính chủ thể tạo tác. Như thế vô hình chung, giáo thuyết nhân quả đã dìu dắt con người đi ra khỏi vòng cương tỏa của thần linh, giáo điều và thần học. Con người ý thức rằng, y buộc phải gánh chịu mọi hậu quả do tâm lý và hành động tạo tác của chính mình mà không cần trông đợi bất kỳ một sự cứu rỗi nào. Thánh Phao Lồnói rằng : “Nếu Chúa Kitô không thức dậy trong ông thì lòng tin của ông hóa ra hư giả, và ông vẫn đắm chìm trong tội lỗi”. 7. Bức thông điệp cho con người: Mọi người cần phải theo một tôn giáo và tôn giáo đó cần đòi hỏi trí thông minh. Không có tôn giáo, con người ta trở thành một mối nguy hiểm đối với xã hội. Các nhà khoa học và tâm lý học đã mở rộng tầm nhìn cho chúng ta nhưng họ không đưa ra một mục tiêu rõ ràng trong cuộc sống. Chỉ có tôn giáo mới có thể làm được điều này. Vì thế con người phải chọn một tôn giáo hợp lý và có tính khoa học theo sự tin tưởng của mình. Không ai có quyền buộc người khác phải chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào. Không ai lợi dụng sự nghèo đói, thất học hay cảm tình của con người để buộc người khác phải chấp nhận với bất cứ một tôn giáo nào đó. Con người phải được tự do chọn lựa một tôn giáo riêng theo sở thích và khả năng hiểu biết của mình. Tin theo một tôn giáo mù quáng mà thiếu hiểu biết, sẽ đánh mất đi giá trị tâm linh của tôn giáo ấy. Con người không phải là loài thú. Họ có trí thông minh và nhận thức để phân biệt sự khác nhau giữa cái đúng và cái sai. Họ có thể thích nghi với những hoàn cảnh xung quanh. Vì vậy họ nên chọn một tôn giáo đúng đắn, hợp lý, truyền cảm và gây hứng khởi. III. KẾT LUẬN: Tóm lại, cuộc sống vật chất trong thế giới văn minh đầy tiện ích, đó chính là kết quả mà khoa học mang đến cho con người những lợi lạc, những sự hưởng thụ bên ngoài. Khoa học đã đem đến sự an vui tột cùng của vật chất, tuy nhiên con người được cấu tạo bởi danh và sắc, chính vì thế mà bên cạnh cuộc sống vật chất còn có cuộc sống tâm linh, nếu thiếu cuộc sống tâm linh thì con người sẽ chới với ngán ngẫm sự đời bằng những niềm đau tột độ trong cuộc sống của mình. Cho nên, tôn giáo chính là niềm an ủi, là chổ dựa tinh thần cho nhân loại và nó đã trở thành tính tất yếu của con người. Như chúng ta biết, cuộc hành trình nào rồi cũng sẽ kết thúc, đi hoài cũng mõi chân, niềm vui nào rồi cũng sẽ tàn, nhưng bên cạnh những sự việc vui buồn trong cuộc sống thì con người cần phải tìm cho mình một niềm vui thanh thoát hơn, đó mới chính là niềm vui thật sự. Như trên đã trình bày thì tôn giáo chính là nơi chốn bình yên nhất sau những náo động của cuộc sống. Điều này cũng cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của tôn giáo như thế nào. Nhưng có rất nhiều tôn giáo trên thế giới, chúng ta hãy chọn cho mình tôn giáo nào có thể giúp cho mình có nguồn an lạc thật sự, mà lịch sử tôn giáo đó hoàn toàn tốt đẹp, phù hợp với chân lý và khoa học hiện đại, đó chính là tôn giáo tương lai, vì đó là tôn giáo chung cho toàn nhân loại. THƯ MỤC THAM KHẢO: 1) Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Tạp Chí Nghiên Cứu Tôn Giáo. Về Tôn Giáo Và Tôn Giáo ở Việt Nam (sách tham khảo), Nxb Chính Trị Quốc Gia. 2) Mel Thomson, Triết Học Tôn Giáo, Người Dịch: Đỗ Minh Hợp, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2004. 3)Mác và Ph. Awngghen: Tuyển Tập, Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1980. 4)Thích Tâm Quang (dịch), Phật Giáo Dưới Mắt Các Nhà Tri Thức, Thành Hội Phật Giáo TPHCM, 1996. 5)Tổ Sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý tập 1, Nxb Tôn Giáo Hà Nội, 2004. 6) Samuel Enoch Stumpf, Lịch Sử Triết Học Và Các Luận Đề, Nxb Lao Động, 1994. 7)Mai Sơn biên soạn, 101 triết gia, Nhà Xuất Bản Tri Thức, 2007. 8)Giáo Sư Quốc Ánh, Khám Phá Vũ Trụ Và Đời Người. 9)Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học và Phật giáo 10)Thích Hạnh Bình, Đức Phật Và Những Vấn Đề Thời Đại, Nxb Phương Đông, 2010. 11)Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, Phật Giáo Khắp Thế Giới, Tu Viện Quảng Đức, Tu Viện Pháp Bảo, ấn Hành Vu Lan 2001. 12) Nguyễn Trần Bạt, Văn Hóa Và Con Người, tập tiểu luận, Nxb Hội Nhà Văn. 13) Trịnh Nguyên Phước, Đối Thoại Giữa Đức Phật Và Gã Chăn Cừu, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 109-115. 14) Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng, Lịch Sử Triết Học Phương Tây Hiện Đại, Nxb Tổng Hợp TPHCM, 2005. 15) Nguyễn Tiến Dũng, Lịch Sử Triết Học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp TPHCM, 2006 16) Mortimer Chambers- Barbara Hanawalt David Herlihy- Theodore K.Rabb Isser Woloch- Raymond Grew, Lịch Sử Văn Minh Phương Tây, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2004. 17)Tham khảo trang wed http://www.quangduc.com/khoahoc/03darwin.html 18) http://vietmaisau.org/forum/showthread.php?t=24188 19) http://www.quangduc.com/khoahoc/03darwin.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét