THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Niết bàn

Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, Niết bàn được xem là đoạn tuyệt vòng luân hồi ( Samsara) và đi vào một thể tồn tại khác. Ðó là sự tận diệt gốc rễ của ba độc: tham, sân và si. Ðồng thời Niết Bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của nghiệp, không còn chịu quy luật của nhân duyên, ở trạng thái vô vi, tức là đặc tính thiếu vắng sự sinh, trụ, dị, diệt hoặc thành, trụ, hoại, không. CÒN theo Phật giáo Ðại Thừa, Niết Bàn được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối ( sự bình đẳng của chúng sinh- Sattvasamata), sự thống nhất luân hồi với dạng “ chuyển hóa” của nó. Niết bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng của tham ái. Có hai loại Niết Bàn: - Hữu dư Niết bàn : Tiếng phạn : Savupadisesa-Nibbana: Niết bàn còn tàn dư, Niết bàn trước khi tịch diệt. Niết bàn này là trạng thái của các thánh nhân đã loại bỏ phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn ngũ uẩn, còn có nhân trạng, nên gọi là “ hữu dư”. - Vô dư Niết bàn : Tiếng phạn: Anupadisesa-nibbana: là Niết bàn không còn – ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám giới và các căn. Niết bàn Vô Dư đến với một vị A La Hán sau khi viên tịch, không còn tái sinh. Loại Niết Bàn này cũng được gọi là Niết Bàn toàn phần hay Bát Niết Bàn Dù bạn có muốn hay không thì trước sau gì cũng chết. Và sau khi chết bạn cũng đâu có giữ lại được cái gì : người thân, tài sản , tình yêu....mọi thứ lại bắt đầu lại từ đầu cứ thế luân hồi theo duyên - nghiệp. Chư Hành Vô Thường Chư Pháp Vô Ngã Niết Bàn Tịch Tĩnh Muốn hiểu rõ Niết Bàn, trước hết phải hiểu và thực hành Tứ Diệu Đế, Khi thực tập đến phần Đạo Đế bạn sẽ thấy được ý nghĩa của Niết Bàn. Muốn hiểu rõ Niết Bàn bạn phải thực tập Diệt Đế. Diệt Đế tức Niết Bàn Kinh Niết Bàn dạy: "Các phiền não diệt gọi là Niết Bàn, xa lìa các pháp hữu vi cũng gọi là Niết Bàn". Niết Bàn hay Niết Bàn na hay Nê hoàn là do dịch âm chữ Phạn Nirvana mà ra. Niết Bàn có nhiều nghĩa như sau: - Niết (Nir) là ra khỏi; Bàn (vana) là rừng mê, Niết Bàn là khỏi rừng mê. - Niết là chẳng; Bàn là dệt. Còn phiền não thì còn dệt ra sanh tử, không phiền não thì không còn dệt ra sanh tử.Vậy Niết Bàn là không dệt ra sanh tử luân hồi. Chữ Bàn cũng có nghĩa là không ngăn ngại. Niết Bàn còn có nhiều nghĩa khác nữa, song tóm lại không ngoài ba nghĩa: Bất sanh, giải thoát, tịch diệt. - Bất sanh, nghĩa là không sanh ra, không sanh các thứ mê lầm tội lỗi. - Giải thoát, nghĩa là thoát ra ngoài sự ràng buộc, không mắc vào các huyễn ngã, huyễn pháp. - Tịch diệt, nghĩa là vắng lặng, dứt sạch. Vắng lặng, an lành, dứt sạch tất cả nguồn gốc mê lầm. Vì lẽ Niết Bàn có nhiều nghĩa như thế, nên trong kinh thường để nguyên âm mà không dịch nghĩa. Theo định nghĩa của chữ Niết Bàn nầy, thì bốn quả vị trên kia đều gọi Niết Bàn cả. Song vì đã hoàn toàn hay chưa hoàn toàn mà chia ra làm hai thứ: 1.- Hữu dư y Niết Bàn: (Niết Bàn chưa hoàn toàn). Từ quả vị thứ nhất Tu đà hoàn đến quả vị thứ ba A na hàm, tuy đã đoạn trừ tập nhân phiền não, những chưa tuyệt diệu, tuy đã vắng lặng an vui, nhưng chưa viên mãn, tuy an vui chưa hoàn toàn, vì phiền não và báo thân phiền não còn sót lại, nên gọi là Niết bàn hữu dư y. Vì phiền não còn sót lại nên phải chịu quả báo sanh tử trong năm bảy đời; song ngã chấp đã phục, nên ở trong sanh tử mà vẫn được tự tại, chứ không bị ràng buộc như chúng sinh. 2.- Vô dư y Niết Bàn: (Niết Bàn hoàn toàn). Ðến quả vị A La Hán, đã đoạn hết phiền não, diệt hết câu sanh ngã chấp, nên hoàn toàn giải thoát cả khổ nhân lẫn khổ quả. Sự sanh tử không còn buộc ràng vị nầy được nữa, nên gọi là Niết Bàn vô dư y. Ðây là quả vị cao tột của hàng Thanh văn. Ðến đây ngọn lửa dục vọng đã hoàn toàn tắt hết, và trí vô ngại hiện ra một cách đầy đủ, không khi nào còn trở lại tâm khởi chấp ngã nữa. Vì thế, nên được tự tại giải thoát ngoài vòng ba cõi: Dục, Sắc, và Vô sắc giới. Ý nghĩa của “niết bàn” theo quan điểm Phật giáo “Như Lai chỉ là người chỉ đường“ Theo quan điểm siêu hình thì Niết bàn là giải thoát khỏi đau khổ. Theo quan điểm tâm lý học thì Niết bàn là xóa bỏ tự ngã.Theo quan điểm đạo đức thì Niết bàn là diệt tham, sân và si. Danh từ Niết bàn trong Pàli hợp thành do Ni và bàna. Ni là một yếu tố phủ định và bàna nghĩa là dục vọng hay khát ái. Chính vì ly khai khỏi khát ái, hay bàna, dục vọng nên nó được gọi là Niết bàn. Niết bàn theo nghĩa đen là không trói buộc. Nó cũng có thể được định nghĩa như là sự đoạn tận tham, sân và si. Đức Phật từng nói: “Toàn thế giới đang bốc cháy. Do ngọn lửa gì thế giới bị đốt lên? Do ngọn lửa tham, sân, si, do ngọn lửa sinh, lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não mà thế giới đốt lên”. Không nên vì tri thức trần tục của chúng ta không thể hiểu được mà cho rằng Niết bàn là trạng thái hư vô, hủy diệt. Người ta không thể nói không có ánh sáng chỉ vì người mù không thấy. Cũng như trong câu chuyện rất phổ biến về cuộc tranh luận giữa con cá và bạn nó là con rùa, và cá đã kết luận đắc thắng rằng không có đất liền. Trong Niết bàn không có cái gì “vĩnh cửu hóa”, cũng không có cái gì “bị diệt vong”, mà ở ngoài đau khổ. Theo những kinh sách, Niết bàn được đề cập như là Hữu dư y (Sopàdisesa) và Vô dư y (Anupàdisesa). Thực ra, đây không phải là hai loại Niết bàn, mà chỉ là một, nhưng tùy theo cách gọi trước và sau khi chết. Niết bàn không có vị trí ở bất cứ nơi nào, nó cũng không phải là một loại thiên đường dành cho một tự ngã siêu nhiên cư trú.Nó là một trạng thái lệ thuộc vào chính cái thân này.Nó là một pháp (Dhamma) ở trong tầm vươn tới của tất cả mọi người.Niết bàn là một trạng thái siêu thế gian, có thể đạt được ngay trong cuộc đời này. Phật giáo không tuyên bố mục đích tối hậu này chỉ có thể đạt được trong một đời sống bên kia thế giới. Đây là điểm khác biệt chính yếu giữa quan niệm Niết bàn của đạo Phật và quan niệm về một thiên đường vĩnh cửu của ngoại đạo, chỉ có thể đạt được sau khi chết, hoặc là hợp nhất với Thượng đế, hoặc là hợp nhất với bản thể thần linh trong một kiếp sau. Khi chứng đắc Niết bàn nhưng còn cái thân này, đó gọi là cảnh giới Hữu dư y Niết bàn (Sopàdisesa Nibbàna dhàtu). Một vị A La Hán đạt đến Niết bàn viên mãn (Parinibbàna), sau khi thân hoại, không còn lưu lại bất cứ một chút thể chất nào nữa thì đó gọi là cảnh giới Vô dư y Niết bàn (Anupàdisesa Nibbàna dhàtu). Theo quan điểm siêu hình thì Niết bàn là giải thoát khỏi đau khổ.Theo quan điểm tâm lý học thì Niết bàn là xóa bỏ tự ngã.Theo quan điểm đạo đức thì Niết bàn là diệt tham, sân và si. Bậc A-la-hán còn hay không còn sau khi chết? Đức Phật trả lời: “Bậc A-la-hán đã giải thoát khỏi 5 uẩn thật sâu thẳm, khó lường như đại dương. Bảo rằng Ngài có tái sinh sẽ không thích hợp cho trường hợp này.Bảo rằng Ngài không tái sinh, cũng không phải không tái sinh đều không thích hợp cho trường hợp này.” Không thể nói rằng một bậc A-la-hán còn tái sinh, vì tất cả những dục vọng tạo điều kiện tái sinh đều được đoạn trừ, cũng không thể nói rằng bậc A-la-hán bị hủy diệt, vì không có cái gì để hủy diệt cả. BÁT CHÁNH ĐẠO Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo. Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như. Đó là con đường thánh gồm tám chi: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Bát chánh đạo là con đường chân chánh có tám chi, giúp chúng sanh hướng đến một đời sống cao thượng, hạnh phúc. Bát thánh đạo là tám phương tiện vi diệu đưa chúng sanh đến đời sống an lạc, giải thóat, tiến đến địa vị giác ngộ. Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương tiện này để đi đến Niết bàn, Phật quả. 1-Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp. -a. Hiểu biết chân chánh: -Hiểu biết tất cả sự vật hiện hữu trên thế gian này đều do nhân duyên sanh, không trường tồn và luôn luôn biến diệt. - Nhận thức rõ nhân quả- nghiệp báo để hành động. - Nhận thức rõ giá trị hiện hữu của thân người và mọi vật xung quanh. - Nhận thức rõ Khổ- Vô thường- Vô ngã của vạn pháp. - Nhận thức rõ tất cả chúng sanh cùng một bản thể thanh tịnh. - Nhận thức rõ Tứ đế- Thập nhị nhân duyên, không chấp thường , chấp đọan. -b. Hiểu biết không chân chánh: - Chấp Thượng đế tạo vật, không tin lý nhân quả nghiệp báo. - Phủ nhận mọi sự vật hiện hữu, không nhận thức chúng từ nhân duyên sanh. - Chấp vào thành kiến; quan niệm không bình đẳng giữa người và muôn vật. - Cố chấp vào kiến thức vọng tưởng; không tin vào những quả vị giải thóat. 2- Chánh Tư Duy: Tư duy là suy nghĩ. Chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người. a. Suy nghĩ chân chánh: -Suy nghĩ đến nguyên nhân đau khổ của mình và chúng sanh, ở đó vô minh là nguồn gốc của mọi tội lỗi, để biết mà tu tập hầu tìm được giải thóat cho mình và cho người. - Suy nghĩ đến Giới- Định –Huệ làm căn bản tiến tu đến quả vị Niết bàn. b. Suy nghĩ không chân chánh: -suy nghĩ đến lợi dưỡng, tài sắc, danh vọng tìm trăm mưu nghìn kế để hại người. - Suy nghĩ đến nhiều cách để hơn người, mọi mưu mô để trả thù; dùng tà thuật; dựa vào lòng tin của con người để mê hoặc. 3- Chánh ngữ: Ngữ là lời nói. Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý.Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùng danh dự của người khác. -a. Lời nói chân thật: -Lời nói ngay thẳng, thành thật, hợp lý không thiên vị, hòa nhã, giản dị và sáng suốt. -Lời nói lợi ích, đồng nhất và mang tính chất sách tấn, khuyến tu, mở bày ánh sáng giác ngộ tự tâm trong mỗi tha nhân. -Lời nói mang tính chất tuyên dương đạo lý làm người; tuyên dương chánh pháp Từ bi và Trí tuệ. -b. Lời nói không chân thật: - Lời nói gây chia rẽ, không đúng sự thật. -Lời nói để hại người, xuyên tạc, thiên vị, dua nịnh. - Lời nói nguyền rủa , mắng nhiếc, vu họa và thô tục. - Lời nói để bảo vệ Ngã và Ngã sở. 4- Chánh nghiệp: Nghiệp gốc từ chữ Phạn được Trung hoa dịch ra, có nghĩa là hành động có tác ý. Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sáng suốt chân chánh. -a. Hành động chân chánh: - Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống chung của mọi người, mọi lòai. - Hành động có thận trọng không tổn hại đến nghề nghiệp, tài sản, danh giá và địa vị của kẻ khác. - Hành động chân chánh là hành động có lương tâm, đạo đức trong địa vị của mình, biết gìn giữ tánh hạnh. - Biết hy sinh chánh đáng để đem lại lợi lạc cho quần sanh. -b. Hành động không chân chánh: -Hành động không gìn giữ các phép tắc, giới điều. - Hành động chỉ vì lợi mình mà hại người. 5- Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Đời sống chân chánh nghĩa là sống một cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác. -a. Đời sống chân chánh: -Sống bằng khả năng, tài năng chân chánh, không lừa dối gạt người. - Sống thanh cao, đúng chánh pháp không mê tín. -b. Đời sống không chân chánh: - Làm tổn hại và não lọan tâm trí mọi người. - Sống luồn cúi, dùng miệng lưỡi, mối lái để giao dịch thân thiện. - Sống chạy theo mê tín, dị đoan; sống nương tựa ăn bám vào kẻ khác. 6- Chánh tinh tấn: Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần. Siêng năng chuyên cần chân chánh thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy. Hăng say làm những việc chính đáng mang lợi ích cho mình và cho người. a. Chuyên cần chân chánh: - Quyết tâm lọai bỏ các việc ác đã sanh, ngăn ngừa những việc ác chưa sanh. - Chuyên làm các việc lành việc tốt. - Chuyên cần trau dồi phước đức và trí tuệ. b. Chuyên cần không chân chánh: - Là người say sưa với ngũ dục và khóai lạc. - Là kẻ say sưa lạc thú làm tổn hại đến người khác, không tiết chế bản thân. 7- Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ chân chánh. Chánh niệm có 2: Chánh ức niệm và chánh quán niệm. Ưùc niệm là nhớ nghĩ đến quá khứ, những chuyện đã qua. Quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và bắt đầu của tương lai. a. Ức niệm chân chánh: - Nhớ đến tứ ân. - Nhớ đến những lỗi lầm xưa, đừng để tái phạm trong hiện tại và tương lai. b. Ức niệm không chân chánh: - Nhớ lại những óan hận để phục thù. - Nhớ lại những hạnh phúc mong manh không ích lợi. - Nhớ lại hành động oai hùng, dùng thủ đọan xảo trá, tàn bạo đã qua để hãnh diện tự đắc. -c. Quán niệm chân chánh: - Quán niệm Từ bi: Thấy nỗi khổ của chúng sanh trong luân hồi sanh lòng thương xót, tìm nhiều phương tiện để giúp đở họ. Thấy sự mê lầm của mình và người dẫn đến sầu, bi , khổ, ưu và não, thực hành lời Phật dạy để chấm dứt mê lầm. - Quán niệm Trí huệ: Quán niệm nguyên nhân sanh hóa vũ trụ, óan thân, tốt xấu, cao thấp; quán niệm thực tướng của các pháp để vững tiến trên con đường giải thóat. -d. Quán niệm không chân chánh: - Nhớ nghĩ đến dục lạc, khóai cảm. - Nhớ nghĩ đến kế sách, âm mưu và phương tiện giết hại lẫn nhau. - Nhớ nghĩ đến văn tự xảo trá để gạt người. 8- Chánh định: Định trong Phật học hiểu là Thiền định. Định nghĩa là tập trung tư tưởng tu tập thiền định.Chánh định là tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người. -a. Thiền định chân chánh: - Bất tịnh quán: quán các pháp không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái v.v……. -Từ Bi Quán : Quán sát tất cả chúng sanh đồng thể tánh thanh tịnh, không hơn không kém để tôn trọng, kính quý và đọan trừ tâm hận thù - Nhân duyên quán: Quán tất cả pháp đều do nhân duyên mà thành, không có một pháp nào riêng biệt trong thế giới tương tức tương nhập ( Kinh hoa nghiêm), không chân thật, không trường tồn, để đọan trừ ngu si thiên chấp. - Giới phân biệt quán: Nghĩa là phân biệt và quán sát sự giả hợp của 18 giới ( 6 căn, 6 trần, 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp và diệt trừ ngu si cố chấp. - Sổ tức quán: Nghĩa là quán hơi thở, để đối trị tâm tán lọan để đi sâu vào thiền định. b. Thiền định không chân chánh: -Thiền định để cầu thác sinh các cõi trời. -Thiền định để luyện bùa chú, thần thông, phép lạ, trường sanh bất tử. III/ Tu tập Bát chánh đạo: A-Con đường tu tập Bát chánh đạo cũng chính là con đường tu tập của Giới-Định-Huệ: Tu tập chánh ngữ - chánh nghiệp - chánh mạng là tu tập, các điều thiện.Là tu tập Giới vô lậu học. Chánh tinh tấn - chánh niệm - chánh định là tu tập Tứ niệm xứ và Tứ chánh cần.Là tu tập Định vô lậu học. Chánh kiến - chánh tư duy là tu tâp về Tuệ vô lậu học của Tam vô lậu học. Tuy nhiên, để phát triển trí tuệ chúng ta cần phải có sự hổ trợ của Tam học là Văn-Tư-Tu. B-Con đường tu tập Bát chánh đạo là con đường tu tập của ba mươi bảy phẩm trợ đạo (Đạo đế): Đạo đế trong giáo pháp Tứ đế bao gồm như là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, được đức Phật đề cập như là Bát chánh đạo. Chánh kiến là Tuệ căn –Tuệ lực. Chánh tinh tấn là nội dung của Tứ chánh cần. Chánh niệm chính là nội dung của Tứ Niệm xứ. Chánh tư duy là trạch pháp…….. Chánh định là hỷ, khinh an, định, xã…. IV/ Công năng và ích lợi tu tập Bát chánh đạo: A. Công năng: 1. Cải thiện tự thân: Người chuyên tu Bát chánh đạo cải thiện được hành vi bất chính, tạo cho tự thân một đời sống chân chánh ích lợi và thiện mỹ. 2. Cải tạo hòan cảnh: Thế giới quan bên ngòai được hình thành từ tâm niệm, là kết quả của hành vi. Do đó, nếu thực hành theo Bát chánh đạo thì có thể tạo được một thế giới tòan mỹ. 3. Làm căn bản cho chánh giác: Bát chánh đạo là nền tảng căn bản đầu tiên cho sự giác ngộ chân chánh. B. Ích lợi thực hành Bát chánh đạo: 1. Có kiến thức chân chánh không bị mê hoặc và lôi cuốn bởi ngọai đạo tà giáo. 2. Suy nghĩ chơn chánh không bị sa vào lỗi lầm đen tối. 3. Lời nói chân chánh lợi mình lợi người. 4. Hành động chân chánh có ích cho mình và không làm thương tổn người khác. 5. Đời sống chân chánh không bị khinh rẽ, chê bai, được mọi người mến mộ, kính trọng. 6. Siêng năng chơn chánh sẽ thu được nhiều kết quả. 7. Nhớ nghĩ chân chánh giải tõa được sự nuối tiếc. 8. Thiền định chơn chánh trí huệ phát triển và Phật quả viên thành. V/ Kết luận: Bát Chánh đạo chính là phương pháp tu phổ biến cho tại gia lẫn xuất gia, trong bất cứ hòan cảnh, môi trường cũng có thể thực hiện được. Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bát chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt. Bát chánh đạo lại là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thóat - Giác ngộ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét