THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

PHAT GIAO THOI NHA TRAN

MỤC LỤC A. DẪN NHẬP 1 B. NỘI DUNG 3 1. Bối cảnh lịch sử thời Trần 3 1.1. Xã hội-Văn hóa-Đất nước Đại Việt 3 1.2. Phật giáo Đại Việt đời Trần (sự ra đời thiền phái Trúc Lâm) 4 2. Cơ Sở lý luận hình thành tư tưởng nhập thế của Phật giáo Đại Việt đời Trần 5 2.1. Khái niệm nhập thế 5 2.2. Phong trào mở mang đất nước 6 2.3. Học thuyết Cư Trần Lạc Đạo 7 3. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Đại Việt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đạo pháp dân tộc 9 3.1. Đối với đạo pháp 9 3.1.1. Hình thành phát triển giáo hội Trúc Lâm 12 3.1.2. Đời sống sinh hoạt tín ngưỡng và học thuật 16 3.2. Đối với đất nước 17 3.2.1. Các thành tựu về chính trị, quốc phòng 18 C. KẾT LUẬN 20 D. THƯ MỤC THAM KHẢO 22 A. DẪN NHẬP Đạo Phật du nhập vào Việt Nam hơn 25 thế kỷ. Dân tộc ta sẵn sàng đón nhận và dung hợp làm cho đạo Phật dễ dàng trở thành tôn giáo của đất nước. Từ đó, đạo Phật thấm nhuần vào đời sống sinh hoạt của dân tộc, gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Mối quan hệ mật thiết hai chiều này, đã được ca ngợi trong dân gian biểu hiện qua ca dao, tục ngữ, như: “Việt Nam mình, Phật giáo mình. Tình sâu nghĩa nặng, mối duyên mặn nồng. Việt Nam là suối, Phật giáo là nguồn Nguồn làm suối ngọt, suối luôn tuôn trào”. Thật vậy, giữa Phật giáo và dân tộc luôn có mối quan hệ hổ tương. Đời sống sinh hoạt của người dân đã chịu ảnh hưởng đến Phật giáo, và cuộc sống đạo đức người dân đã phản ánh giá trị tích cực của Phật giáo. Với mục đích cứu khổ ban vui, đạo Phật đã thể nhập vào đời, đi vào lòng dân tộc với tất cả những triết lý sống động chứ không phải những tín điều, giáo điều nói suông. Người dân đã biết áp dụng tư tưởng triết lý Phật giáo vào cuộc sống của chính mình bằng sự nghiệp, bằng lời nói, bằng hành động cụ thể như sách Mâu Tử có chép: “Ở nhà hiếu thảo với mẹ cha, ra đường giúp nước hộ dân, khi ngồi một mình phải lo tu thân”. Trên cơ sở “tùy duyên bất biến” Phật giáo đã đồng hành với dân tộc, đã dấn thân chung chịu bao thăng trầm vinh nhục cùng đất nước thái bình, thịnh trị cũng như khi ngoại xâm, loạn lạc. Lịch sử Việt Nam đã có những giây phút vẻ vang huy hoàng, chính là nhờ công lao to lớn của các thiền sư thời Lý-Trần. Các Ngài đã đem đạo áp dụng vào đời tạo nên cuộc sống độc lập, thái bình, an cư lạc nghiệp cho dân tộc Việt Nam. Khi nhà Lý không còn ở ngôi vị lãnh đạo đất nước thì Trần Thái Tông lên ngôi lập nên triều đại nhà Trần. Vào thời Đại nhà Trần đã có những thành tựu to lớn làm nỗi danh nước Đại Việt và đã làm nền tảng cho đất nước ngày nay, đặt biệt là sự khôn khéo biết áp dụng đạo pháp vào đời sống, xã hội từ kinh tế chính trị, văn hóa, tín ngưỡng…, đến xây dựng đất nước. Trong đó điểm nỗi bậc là đỉnh cao của Phật giáo thời Trần. Với “Tinh thần nhập thế của Phật Giáo Đại Việt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đạo pháp và đất nước vào thời Trần”. Người viết đã chọn đề tài này. Để thực hiện đề tiểu luận này, người viết dựa vào những sách vở có liên quan như: Thích Phước Đạt, Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái trúc lâm. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thích Thanh Từ, Khóa Hư Lục giảng giải,… kết hợp với sự phân, tích và suy luận của mình. Khi viết đề tài này người viết muốn khơi lại thời vàng son với tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam vào thời đại nhà Trần và đồng thời giúp người viết hiểu rõ hơn về những vị danh Tăng Thiền sư. Qua những phong cách những tư tưởng đó cũng là lợi ích phần nào cho cuộc sống tu tập B. NỘI DUNG 1. Bối cảnh lịch sử thời Trần 1.1. Xã hội-Văn hóa-Đất nước Đại Việt Khi nhà Lý không còn ở ngôi vị cai trị đất nước, thì Trần Cảnh lên ngôi vua lấy hiệu là Trần Thái Tông khai sơn triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm (1225-1400), tạo nên hào khí Đông A muôn đời bbaats diệt. Nhờ đó dân tộc Đại Việt mới có đủ sức đánh tan quân Nguyên Mông cả ba lần. Chính các sử gia đã thừa nhận “Triều Trần là một trong những nước cường quốc của Đông Nam Á, lừng danh với ba trận đại thắng quân xâm lược Mông Nguyên.” Nhà Trần Không chỉ mạnh về quân sự trong việc đối đầu với ngoại xâm mà còn đối đầu với ngoại xâm mà còn phát triển đất nước về mọi mặt từ nông nghiệp, thương nghiệp cho đến các lĩnh vực văn hóa, giáo dụ, tín ngưỡng tâm linh… thăng Long- Kinh đô của đất nước đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo phồn vinh với 61 phố phường. Văn hóa đời Trần đã góp phần rất lớn cho nền văn hóa Đại Việt. Với tinh thần khoan dung và tự do, thì Phật giáo không bao giờ chống đối hay chỉ trích Nho giáo và Lão giáo. Chính những Phật tử thuần thành nhất như Trần Thái Tông và Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo. Năm 1253, Thái Tông lập Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư Ngũ kinh ở kinh sư, tạc tượng ở Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử và lập giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Thánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho Học. Năm 1267, Thánh Tông chọn các nho sinh có học thức vững vàng để bổ nhiệm….Nền văn hóa đời Trần có đặc tính mềm dẻo, khoan dung nên mang tính độc lập và từ ái. Con người là chủ thể sáng tạo ra nghệ thuật thơ văn. Ở thời đại này con người đã biết kết hợp giữa đời với đạo, biết tiếp nhận tinh hoa tạo nên cái riêng nhằm thể hiện bản sắc của dân tộc. Tiêu biểu là các vị thiền sư thời Trần, mỗi người một vẽ, một sắc thái. Nhưng cái chung nhất mà chúng ta có thể thấy qua thơ văn và thi kệ của các ngài là tinh thần “Vô ngã vị tha”. Các ngài luôn sống tu tập và hành đạo để đạt đến đỉnh cao là vô ngã. Rồi đem những điều đạt được để phụng sự nhân sinh, phụng sự đất nước. Cả cuộc đời các ngài hành động không ngừng nghĩ với tư tưởng và truyền thống là: “Phụng đạo yêu nước” theo khuynh hướng thực tiễn. Qua đó chúng ta thấy tinh thần nhập thế được toát lên từ tư tưởng phụng sự đạo pháp, đất nước và dân tộc. Ngoài ra văn thơ thời Trần là một trong những chiến công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì thế mỗi bài văn bài thơ chứa đựng những tâm hồn nhân đạo mang đậm nét nghệ thuật, nó đã ghi lại những tâm hồn của con người với những đức tính đáng quý. Đồng thời cái đẹp được thể hiện trong văn thơ Trần mang nét chân thiện mỹ rất sâu sắc. Đó chính là tình yêu nước yêu dân tộc, hình ảnh những ông vua luôn quan tâm đến đời sống của muôn dân, lấy ý muốn của dân tộc làm ý muốn của mình, xem ngai vàng chỉ như một chiếc dép rách, có thể vứt bỏ lúc nào cũng được thì thử hỏi còn hình ảnh nào đẹp hơn thế nữa. Văn thơ Phật giáo thời Trần có những đặc điểm rất riêng. Nhờ những đặc điểm rất riêng này mà trãi qua bao thời gian nó vẫn tồn tại phát triển và hấp dẫn bao thế hệ. Thơ văn Trần đã tạo nên một dấu ấn khó phai mờ và không thể lẫn lộn với các bộ phận văn học khác trong lịch sử văn chương Việt Nam, góp phần hình thành nên một nền văn học đa giọng điệu, đa sắc thái. Triều đại Trần đã xua tan đi những đám mây mờ để mở ra một bầu trời quang đãng của sự ấm no hạnh phúc cho muôn dân. Cuộc sống nhân dân thời bấy giờ được bao bởi ánh sáng trí tuệ của các vị thiền sư, các bậc vua quan sáng suốt. những bài kệ, những câu thơ của các vị thiền sư thời Trần mãi mãi là một điểm son tươi đẹp trong dòng văn học Phật giáo và văn học dân tộc Việt Nam. Sự thật văn học Phật giáo đời Trần là tinh hoa, đỉnh cao của văn hóa Phật giáo Việt Nam. Chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa nước Đại Việt thời bấy giờ. Những tác giả lớn hầu hết là các nhà sư, ngay cả chữ Nôm cũng có sự góp phần của các nhà sư, trong đó Trần Nhân Tông là tác giả bài “Cư Trần Lạc Đạo”. 1.2. Phật giáo Đại Việt đời Trần (sự ra đời thiền phái Trúc Lâm) Ngoài việc thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ ý chí đến hành động của toàn dân và xây dựng đất nước thịnh vượng, vua Trần Thái Tông còn đặt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Người có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông nhưng người khai sáng và làm rạng danh thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là đệ nhất Tổ. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ XII, đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì Ni Đa Lưu Chi. Cách lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhằm đáp ứng các yêu cầu của đất nước. Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc tự mình độc lập không lệ thuộc Thiền tông ở Trung Quốc, vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Bên cạnh đó thiền phái này cũng tự khoát cho mình chiếc áo một tôn giáo mới nhằm để thu phục quần chúng. Trong bối cảnh lịch sử truyền thừa của Thiền phái, Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Thánh Tông là những thiền gia đắt pháp đặt nền móng tư tưởng và kết nối cho Thiền phái Trúc Lâm ra đời. Cả ba vị này được tôn vinh là Trúc lâm Tam Tổ. Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa. Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ. 2. Cơ Sở lý luận hình thành tư tưởng nhập thế của Phật giáo Đại Việt đời Trần 2.1. Khái niệm nhập thế Nhập thế là một trong những đặt thù nỗi bậc của Phật giáo đời Trần, ngay từ thời Mâu Tử, Phật giáo mới vào thì Mâu Tử đã đề xuất tinh thần nhập thế như sau: “Ở trong nhà hiếu thảo với mẹ cha, ra ngoài xã hội giúp nước hộ dân, khi ngồi một mình thì lo tu thân”. Đến đời Trần, khái niệm nhập thế được khắc họa: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật đồ công”. Nghĩa là bất cứ ai đem sự tu tập của mình ra cứu độ nhân thế, thì được coi là hòa nhập và sự tu hành của mình mới không uổng công vô ích. Có cái hay hơn là sự nhập thế của thiền sư nhà Trần : “Đói thì ăn chừ cơm góp mười phương Mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương.” Sự tu hành thành tựu nên mới được tự tại mà đã nhập vào cảnh nhân tình thế thái. Nhờ có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố đạo và đời nên đã để lại dấu ấn sống động trong lịch sử dân tôc Việt Nam ở thế kỷ XIII, đôi khi các vị vua thời đó phải “cởi áo cà sa, khoát chiến bào”. Thật vậy, trong bài viết vài nét tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm, Mạn Đà La phát biểu: “Tinh thần của Thiền học Trúc Lâm là thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người: giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác, không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình”. Trong bài “Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong đời Trần” , Đoàn Thị Thu Vân cho rằng tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông được ghi nhận trong đoạn thơ trên và được xem là tôn chỉ của sơ tổ và là tư tưởng nhất quán của thiền phái được thể hiện qua bốn lĩnh vực: Sống hòa mình với đời, không câu chấp; hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên; tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực nội tâm không cầu tha lực bên ngoài; không nô lệ vào bất cứ điều gì, dù thiền hay Phật. Đó là trải qua quá trình hình thành tư tưởng của tác phẩm của các thiền sư trước đó. Đối với Trần Nhân Tông, chủ trương, nhập thế tích cực như là một cương lĩnh của thiền phái. Ngài khuyến cáo bất cứ ai sống giữa đời biết tạo phúc đức để độ mình và người mới đáng tôn trọng, còn việc ẩn tu đã không giúp đời mà không đạt ngộ thì thật thiếu sót. Đây là một dấu ấn nỗi bậc đáng ghi nhận trong lịch sử truyền thừa. Tóm lại, tinh thần nhập thế là thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân, thể hiện tâm hồn hiếu thảo và quan tâm đến nhân loại. Điều này đã được đề cao khi Phật còn tại thế, và sự thành tựu của thời Trần cũng bắt nguồn từ đó. Cứu nhân độ thế là mục đích tối thượng của đạo Phật. Nói đến lịch sử thời Trần nghĩa là có chủ ý đề cao Phật giáo. 2.2. Phong trào mở mang đất nước Sau thời kỳ Bắc thuộc, Đại Việt không ngừng vạch định chính sách phát triển đất nước bằng cách mở rộng bờ cõi. Phật giáo Đại Việt cũng đồng song hành với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Triều Đại nhà Trần đã yêu cầu phát triển kinh tế, phục hung các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số ở thời bình là một vấn đề hàng đầu. Để thực hiện được công việc này, Trần Thánh Tông đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ dân nghèo các địa phương khai hoang. Trần Nhân Tông đã sáp nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý vào bản đồ Đại Việt. Từ đây, Đại Việt không chỉ giải quyết được vấn đề áp lực gia tăng dân số mà còn thiết lập được một nền an ninh vững mạnh. Về mặt lý luận, Thiền phái Trúc Lâm ra đời với quan điểm Phật tại tâm tạo ra sự bình đẳng về con người giải thoát, bình đẳng về quyền lợi xã hội và khi đi vào thực tiễn với tinh thần nhập thế, nó đã tác động mạnh mẽ trong cuộc Nam tiến của dân tộc. vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã cắm cột mốc phiá Nam của Tổ quốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên, đến triều Nguyễn thì cuộc Nam tiến mở mang bờ cỡi của dân tộc mới hoàn thành. Qua đó chúng ta thấy rằng Phật giáo không ở tư thế bi quan chán đời mà đã dẫn đầu một đất nước đi lên một cách hùng mạnh trên tinh thần vô ngã, vị tha. Vô ngã là sự đắc đạo, vị tha là không có kẻ thù. 2.3. Học thuyết Cư Trần Lạc Đạo Cư Trần Lạc Đạo được xem là mạch máu, là sức mạnh của dân tộc ta. Thực chất thiền phái Trúc Lâm đi vào thực tiễn hay nhập thế bằng tinh thần Cư Trần Lạc Đạo, xây dựng đời sống tâm linh ngay cuộc đời này được an lạc hạnh phúc. Trên cơ sở hình thành tư tưởng lạc đạo tùy duyên, về mặt lý luận được bắt nguồn từ kinh Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi tất cả các pháp đều là định pháp. Trần Nhân Tông là người sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam. Đặc biệt ngài đã được lịch sử thừa nhận là một nhà văn hoá, một Thiền sư, đồng thời là một nhà thơ xuất sắc nhất ở thế kỷ XVIII. Suốt cuộc đời dù làm vua hay đã xuất gia, Trần Nhân Tông đều hết lòng lo cho dân cho nước. Nhắc đến cuộc đời ngài là nhắc đến một con người đã sống và biểu lộ “Phật tại tâm” ra giữa cuộc đời thắp sáng hiện hữu, xây dựng một niềm tin vững chắc cho chính mình cùng tha nhân, dùng cái chân lý “bất biến” của đạo Phật mà tuỳ duyên với mọi hoàn cảnh: “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên Đói đến thì ăn mệt ngủ liền Của báu trong nhà thôi tìm kiếm Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” . Như vậy, dẫu sống giữa trần gian đầy dẫy chướng duyên và đau khổ, nhưng ngài vẫn tự tại ung dung, bên thì vui đạo, bên thì vẹn đời, phải chăng ngài đã nhận chân được phật ở trong lòng, để từ đó mọi ưu phiền dứt sạch, giữa vô thường biến dịch còn có một cái gì vẫn thường hằng bất biến: “Bụt ở cổng nhà Chẳng phải tìm xa”. Một lần nữa ngài khẳng định trong mỗi con người đều có mầm giác ngộ và trí tuệ bát nhã tròn đầy. Với tinh thần căn bản của Thiền tông là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành phật”. Nghĩa là chỉ ngay nơi tâm người, ai nhận được bản tánh thì đủ cái nhân thành Phật. Vậy chúng ta đã hiểu thành Phật là ở ngay nơi tự tánh mà trong nhà Thiền gọi là “Bản lai diện mục”. Do đó khi ánh sáng của trí tuệ được đưa vào cuộc sống, phá tan những áng mây mờ phiền não vô minh, thì cuộc sống sẽ trở thành Niết Bàn. Cho nên Trần Nhân Tông luôn xem dân tộc là đạo tràng để tu tập, vì ngay nơi đó mà ngài đã tìm ra bản tâm thanh tịnh của chính mình và trở thành đệ nhất tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngài luôn nhắc nhở mọi người khéo tu thì tánh phật hiện bày. Đừng bỏ chân cầu vọng bởi bồ đề không mọc giữa hư không, ví như hoa sen chỉ có thể toả ngát hương thơm khi nó được sinh ra và lớn lên giữa bùn nhơ nước đục, chứ không phải nơi khô cằn sỏi đá. Nên Ngài bảo rằng: “Phật tánh pháp thân như hình với bóng. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được? Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ, hà sa diệu dụng thảy ở nguồn tâm” . Lời khuyên nhũ trên càng giúp con người có thêm kiên cố, mỗi người có đủ khả năng tự tu tập giải thoát, để cứu vớt đời mình qua khỏi bể ái sông mê. Nếu dốc hết lòng công phu tu hành, thì sớm muộn gì chúng ta cũng nhận ra được cái chân thật của mình. Là người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông tin vững chắc nơi sức lực của bản thân mà không trông cậy vào một ai cả. Có lẽ cũng nhờ vào niềm tin vững chắc ấy mà thời đại Lý-Trần đã tạo nên những chiến công hiển hách. Đó là ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông, dù chỉ là một đất nước nghèo nàn nhỏ hẹp, nhưng không hề mặc cảm tự ty, khi nước nhà lâm nguy thì vẫn hết lòng bảo vệ giang sơn gấm vóc. Chính vì thế mà ngài nghiễm nhiên trở thành một vị vua anh minh đức độ, được nhân dân tôn xưng là người anh hùng dân tộc. Quan trọng hơn hết là ngài phát huy khái niệm “Phật tại tâm” một nền tư tưởng cao siêu của Phật giáo biến thành sức sống mãnh liệt không chỉ ở thế kỷ XVIII, mà còn lan rộng mãi cho đến hôm nay. 3. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Đại Việt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đạo pháp dân tộc 3.1. Đối với đạo pháp Trần Thái Tông, với vai trò vừa là một ông vua vừa là một Phật tử, nên ngoài nhiệm vụ của một bậc minh quân ông còn đặt cho mình một nhiệm vụ hết sức trọng đại. Đó là chủ trương đặt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Đến đời vua thứ ba triều Trần là Trần Nhân Tông, vừa thừa tiếp dòng chảy “Nhập thế” ấy và vừa thừa sức sáng tạo đã làm nên đợt sóng thần bất diệt, tác động lớn đến nền văn hóa xã hội Đại Việt thời Trần. Đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà chính Ngài làm Đệ Nhất Tổ. Trần Thái Tông đã hướng dẫn cho người phật tử thể hiện quan niệm sống đạo trong đời sống của mình. Tuy nhiên, sống đạo như thế đòi hỏi mỗi cá nhân ít nhiều phải biết lấy ý muốn của người khác làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của người khác làm tấm lòng của mình. Đây rõ ràng là bước đầu của quá trình tu dưỡng bản thân của mỗi người qua việc xóa dần chủ nghĩa bản ngã vị kỷ để đi đến tư tưởng vô ngã về mặt đạo đức. Trần Thái Tông đem đạo vào đời, tích cực phục vụ nhân dân cùng lúc với việc tham thiền học đạo...Bởi ông biết rất rõ đạo không thể xa đời, đạo phải được sống, được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc sống rất sống động “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình”. Làm Phật tử phải lấy chúng sanh làm đối tượng phụng sự để cúng dường chư Phật. Vì quán triệt lẽ đó mà Thái Tông sẵn sàng quên mình để lo cho đất nước dân tộc, khi đất nước cần các ngài có thể cầm gươm lên ngựa, đi trước ba quân, xông pha giữa làng tên đạn, để cứu dân thoát khỏi ách nạn ngoại xâm. Trong khi làm phận sự nhập thế các ngài không quên cứu xét tâm linh học, tâm hợp nhất cả trí lẫn hành. Vấn đề này được Lục Tổ Huệ Năng từng đề cập: “Phật pháp tại thế gian Không lìa thế gian mà có Lìa thế gian tìm bồ đề Giống như đi tìm sừng thỏ” . Ngoài ra, không chỉ Trần Thái Tông mà còn nhiều thiền sư xuất gia tại gia của giai đoạn này đều tích cực tham gia vào các hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị của dất nước. Họ có thể là những nhà tư tưởng chiến lược, nhà tri thức lớn, nhà thơ văn, thầy thuốc. Tùy theo sự phân công và khả năng mà sẳn lòng tham gia cống hiến, sống đúng đạo lý. Những người làm nên sự nghiệp hào hùng của dân tộc ta vào thời này hầu hết là Phật tử. Điển hình cho mẫu người lý tưởng này là Tuệ Trung. Ông có thái độ sống tích cực vì dân vì nước chứ không vì giải thoát riêng mình. Ông trở thành vị tướng tài có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đồng thời cũng là thiền sư ngộ đạo thể hiện rõ sự tự tại giải thoát. Tinh thần này khiến người ta sống tự tại nhất là luôn ý thức làm những việc nên làm và không nên làm, có khi tạo ra những điều kỳ diệu cho nước nhà, bất chấp mọi chướng duyên. Còn Trần Nhân Tông với chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người phật tử, nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. Ngoài ra ngài đi dạo trong nhân gian khuyên dân chúng giữ Ngũ giới và tu Thập thiện. Đây là điểm tích cực đem Phật giáo vào nhân gian, trước xây dựng con người cá nhân tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Vì bảo vệ sinh mạng con người Ngài khuyên giữ giới không sát sinh, bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cắp, bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm, bảo vệ uy tín và giá trị con người, khuyên giữ không nói dối, bảo vệ sức khỏe trí tuệ và trật tự xã hội, khuyên giữ giới không uống rượu. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất nước thật sự thái bình không còn phải lo sợ. tiến lên bước nữa, vua còn khuyên mọi người tu thập thiện. Nếu thân miệng ý khéo tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người phật tử khéo tu ngũ giới và thập thiện là đóng góp một phần cho quốc gia và xã hội được tốt đẹp. Một xã hội được giáo dục bằng giáo lý ngũ giới và thập thiện, mà trần nhân tông xem đó là khuôn mẫu là một chuẩn mực sống cho toàn dân. Trần Nhân Tông góp phần xây dựng và cải tạo gia đình và xã hội đem lại an vui và hạnh phúc cho mọi người, hướng đến đời sống chân thiện mỹ. vì cá nhân có an vui thì gia đình xã hội mới bình an. Các vua đời trần thể nghiệm rất thành công. Giáo lý ngũ giới và thập thiện chẳng phải là một giáo điều nghiêm ngặt hay những điều mang tính thần thánh cao siêu mà nó rất thiết thực, rất gần giũ con người. không chỉ có ở quá khứ hiện tại hay tương lai, mà chừng nào con người còn những nỗi khổ bức bách vô minh trong đời sống khi đó nó vẫn còn có giá trị. Từ đó chúng ta mới thấy rõ giá trị và lợi ích thiết thực của ngũ giới hay thập thiện đối với chúng sinh, thấy rõ tài đức của các vị vua thời Lý Trần đã giác ngộ, giáo dục người dân sống hạnh phúc, xã hội được cải tạo. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui, chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện. Kể từ đó, Phật giáo Việt Nam mới có diện mạo riêng, cái chất Việt Nam được thực hiện trong tư tưởng, trong tổ chức. Giờ đấy, Phật giáo Việt Nam mà tiêu biểu là Phật giáo Trúc Lâm là Phật giáo nhập thế, liên hệ mật thiết với chính trị, văn hóa và xã hội, đúng như tác giả Mạn Đà La nhận định trong bài viết của mình: “Tư tưởng của Trần Nhân Tông là một thể hiện nhất quán của đạo và đời, xuất thế và nhập thế. Vì vậy tinh thần của thiền học Trúc Lâm là thiền học dân tộc. Nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người, giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác không ngừng tích cực xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước hết phục vụ cho đất nước, dân tộc” . Sự kiện ra đời dòng Thiền này có ý nghĩa rất lớn, nó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc là xây dựng một đất nước Đại Việt độc lập tự chủ không chỉ được xác định trên cương thổ biên giới về địa lý mà còn độc lập tự chủ trên mọi phương diện lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hóa và ngay cả tôn giáo. Vì vậy, sự thành lập Phật giáo Nhất tông đời Trần là dựa trên tiền đề xã hội và tôn giáo với bốn mục đích chính: Biểu lộ tính độc lập, thay đổi nội dung tiêu cực và thân ngoại, mục đích thống nhất ý thức hệ tạo nên Phật giáo nhất tông và khoắc cho mình chiếc áo một tôn giáo mới. Chính sự kiện này đã mang lại những đóng góp to lớn không chỉ trong tổ chức chính trị nước nhà mà còn là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã thiết lập được mô hình tổ chức Phật giáo Nhất tông vào đời Trần, với tôn chỉ hoạt động là thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động phục vụ cho Đạo pháp - Dân tộc. Ngay đây, lịch sử Phật giáo Việt Nam bắt đầu hình thành hệ thống tổ chức xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Tăng chúng trong cả nước đều được cấp tăng tịch. Pháp Loa (Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử) là người được vua Trần Anh Tông cấp tăng tịch đầu tiên, ông đứng ra tổ chức Giáo hội và thiết lập sổ bộ Tăng-Ni cả nước. Theo sử cũ, sổ Tăng - Ni có tên trong sổ bộ chính thức đã lên tới 15.000 người. Nhị Tổ đã làm cho Trúc Lâm Yên Tử trở thành trung tâm Phật giáo Việt Nam, một nơi lý tưởng, thu hút đông đảo Tăng - Ni trong cả nước về đây tu học và tìm đường giải thoát, vì vậy nhân gian đã truyền tụng câu ca: “Dù ai quyết chí tu hành, Có về Yên Tử mới đành lòng tu". Như vậy, với sự thống nhất các tư tưởng Phật giáo thời Trần thành dòng thiền duy nhất là Trúc Lâm Yên Tử đã tổng hợp sức mạnh, tinh thần đoàn kết và thống nhất ý chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, điều này càng khẳng định vai trò nhập thế của Phật giáo thời bấy giờ. Có thể nói Phật giáo thời Trần đóng vai trò chủ đạo trong mọi sinh hoạt của Đại Việt qua tinh thần nhập thế của các vị Thiền Sư thời Trần. Các vị thiền sư thời Trần sinh ra trên một đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ ngàn năm phương Bắc. Nhìn lại nỗi khổ đau của Tổ quốc quê hương nên các Thiền sư đã thấy rõ và biết bổn phận mình phải làm gì. Trong tận cùng sâu thẫm của tâm hồn, các Thiền sư đã ý thức nhận ra trách nhiệm để chung vai góp sức vào công cuộc giữ gìn và bảo vệ an bình cho đất nước, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Tinh thần nhập thế của các vị Thiền sư thời Trần là hạt nhân để quy tụ lòng người, làm cơ sở cho trí tuệ và đạo đức xã hội. Các ngài đã làm cuộc cách mạng, khai sáng nhà Lý, đặt nền móng cho nhà Trần và chính trên cơ sở vững chắc của hai triều đại Lý- Trần đã tạo nên một nước Đại Việt thật sự thống nhất hùng cường, chẳng những chịu đựng thắng lợi mọi thôn tính ngoại xâm mà còn tạo được xu thế phát triển mạnh mẽ cho xã hội và quốc gia trên mọi chiều hướng và đã bất hủ qua dòng thời gian. Thời đại Trần từ bi nhân bản, dùng đức trị thay pháp trị, đâu đâu cũng thấy bóng dáng siêu thoát kỳ vĩ của thiền sư, chính các vị thiền sư đã hoàn thành sự nghiệp “Trị quốc bình thiên hạ” tại Việt Nam một cách có quy mô và toàn diện nhất. Đây là một sự thành tựu vĩ đại, vì nó không thể hiện qua lời nói hay sách vở mà nó đã thể hiện qua việc làm của các thiền sư đối với đất nước và dân tộc. Qua đó các thiền sư thời Trần đã hình thành một ý thức sống tinh thần sâu sắc, thâm thúy và sinh động theo lời dạy của Đức Phật: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Đồng thời, lời dạy ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của các vị thiền sư và đã biến thành hành động bằng sự dấn thân vào sự nghiệp xây dựng đất nước, mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân sinh. 3.1.1. Hình thành phát triển giáo hội Trúc Lâm Vị thầy của vua Trần Thái Tông là thiền sư Trúc Lâm, mà vua tôn làm quốc sư. Quốc sư là thầy của cả nước. Thầy của vua thì cũng là thầy của nước. Đây là vị thầy mà vua đã gặp ở núi Yên Tử, Vị thầy đó vua gọi là Quốc sư Trúc Lâm. Sau này vua Trần Nhân Tông cũng được gọi là Trúc Lâm Đại Sĩ, nhưng chúng ta đừng lầm Trúc Lâm Đại Sĩ với Quốc sư Trúc Lâm. Trúc Lâm Đại Sĩ là cháu kêu vua Trần Thái Tông bằng ông nội, lúc đó chưa sanh ra. Sách Đại Việt sử ký toàn thư và một số sách khác như Tam Tổ Thực Lục đều ghi nhận vị tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm không khác vị Phật cứu tinh của nhân loại, lại vừa gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi mới sinh ra, vua có làn da màu vàng ròng, bên vai phải có nốt ruồi đen to như hạt đậu . Về sau, trải qua quá trình từ xuất gia đến ngộ đạo và hoằng hóa độ sinh không khác các bậc thánh nhân. Lúc từ giả hoàng cung đi xuất gia, Ngài cùng với các đệ tử vân du trên núi Yên Tử. Ban đầu, Ngài ngồi thiền nơi gốc tùng tư duy thiền định, đến khi trí tuệ bừng sáng thì vân du thuyết pháp ở các chùa Sùng Nghiêm…Sau khi viên tịch , thâu được rất nhiều xá lợi và tạo được niềm tin nơi tín đồ Phật tử và được tôn như một vị giáo chủ. Điều đáng ghi nhận, bậc sơ tổ được xem là “hiện thân của Phật Đại Việt với nhiều đường nét riêng biệt, phong cách riêng biệt, khác với tông phái thiền tông khác. Nó không phải là chi nhánh Phật giáo từ bên ngoài vào, nó bắt nguồn tại chỗ, tức từ một vị Phật đầu thai, thuyết pháp, giáo hóa cứu vớt chúng sinh” . Về Tôn chỉ thiền phái thì Tôn chỉ của thiền phái Trúc Lâm hẳn nhiên là kiến tánh thành Phật như các thiền phái khác. Có điều khác biệt, tôn chỉ của thiền phái xuất phát từ Phật tại tâm, nên ai cũng có thể thành Phật ngay cõi đời này. Đó là tinh thần nhập thế mà bất cứ ai cũng có thể tu tập theo, thanh lọc thân tâm để rồi đem những gì đạt được cống hiến cho đời và những điều đó được ghi lại trong tác phẩm Cư Trần Lạc đạo của Ngài: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm, Vô tâm trước cảnh hỏi chi thiền). Trong bài “Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong đời Trần” , Đoàn Thị Thu Vân cho rằng tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông được ghi nhận trong đoạn thơ trên và được xem là tôn chỉ của sơ tổ và là tư tưởng nhất quán của thiền phái được thể hiện qua bốn lĩnh vực: Sống hòa mình với đời, không câu chấp; hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên; tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực nội tâm không cầu tha lực bên ngoài; không nô lệ vào bất cứ điều gì, dù thiền hay Phật. Đó là trải qua quá trình hình thành tư tưởng của tác phẩm của các thiền sư trước đó. Đối với Trần Nhân Tông, chủ trương, nhập thế tích cực như là một cương lĩnh của thiền phái. Ngài khuyến cáo bất cứ ai sống giữa đời biết tạo phúc đức để độ mình và người mới đáng tôn trọng, còn việc ẩn tu đã không giúp đời mà không đạt ngộ thì thật thiếu sót. Đây là một dấu ấn nỗi bậc đáng ghi nhận trong lịch sử truyền thừa. Về hệ thống giáo lý: Trần Nhân Tông chủ trương xây dựng Thiền-Giáo song hành để tính nhập thế được phổ cập trong đời sống người dân thực sự hạnh phúc an lạc. Buổi lễ truyền trao y bát và ấn chứng cho Pháp Loa làm đệ nhị tổ kế thừa thiền phái, Ngài đã trao hai mươi hộp nhỏ đựng kinh điển Phật giáo, cùng một trăm hộp kinh điển ngoạit thư và dặn dò phải mở rộng việc học nội điển cũng như ngoại điển . Như vậy, việc giáo dục của Ngài là nhằm xã hội hóa giáo dục, nâng cao trình độ dân trí sau này, đủ sức gánh vác các Phật sự trong đạ và ngoài xã hội. Về sau, đệ nhị tổ Pháp Loa kêu gọi tăng chúng và cư sĩ trích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 bản. Riêng Pháp Loa cũng nghiên cứu và sáng tác nhiều bản kinh thuộc hệ thống kinh điển Đại thừa như: Tham thiền kỷ yếu, Kim Cương trùng Đà-la-ni kinh khoa chú, Niết Bàn đại kinh khoa sớ, Hưng vương hộ quốc nghi quỹ, Pháp sự Khoa văn và Độ môn trợ thành tập…Điểm nổi bậc của Pháp Loa là được nhiều tầng lớp trong xã hội mời thuyết giảng kinh Hoa Nghiêm và trở thành điểm mạnh của thiền phái Trúc Lâm sau này, như lời nhận định của HT. Thanh Từ: “Thiền phái Trúc Lâm Không cực đoan như một số thiền phái Trung Hoa. Những thiền phái cực đoan cho rằng người tu thiền kgông được giảng học kinh điển vì lẻ làm tăng kiến giải, trở ngại ngộ đạo. Trái lại thiền phái Trúc Lâm vừa tu thiền vừa học kinh điển” . Như vậy, việc diễn giảng, học tập kinh điển đã được nâng lên thành một hệ thống giáo lý của thiền phái. Xuất phát từ tư tưởng kinh Hoa nghiêm, nội dung Cư trần lạc đạo phú càng thêm sáng tỏ tinh thần nhận thức của người phật tử, tạo thành một lối sống mới trong đời sống sinh hoạt Phật giáo Đại Việt có hệ thống và giúp đỡ các giai tầng lãnh đạo quốc gia có một cái nhìn liên hệ tương quan tương duyên cùng nhau tồn tại và phát triển. Cuối cùng thiền phái ra đời và thể nhập vào đời sống chung của cả dân tộc, tạo sự tương thân tương ái chặt chẻ trong mọi thành phần xã hội. Trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam, vua Trần Thái Tông có viết rằng sau khi vua đã sáng tác xong tác phẩm Thiền Tông Chỉ Nam thì quốc sư từ trên núi xuống, có ghé vào kinh đô thăm, và vua có đưa bản thảo cho thầy xem. Như ta đã biết trên đây, coi xong thì thầy khen và nói rằng: Tâm của chư Phật nằm ở trong này, thành ra Bệ hạ nên cho khắc và in ra cho người ta được thừa hưởng. Đó là một trong những lần ít có xảy ra mà Trúc Lâm Quốc Sư đã xuống núi. Nếu tra cứu thì chúng ta thấy rằng đồng thời với vua, và đang hành đạo tại kinh đô, còn có những thiền sư Tức Lự, Ứng Thuận và Đại Đăng. Tức là những người đang giảng dạy về thiền học tại kinh đô Thăng Long. Điều chúng ta nên nói là lúc bấy giờ, trước thiền phái Vô Ngôn Thông chúng ta có 5 thiền phái. Thiền phái đầu là thiền phái Tăng Hội, thứ hai là Đạt Ma Đề Bà và Huệ Khả, thứ ba là Tỳ-Ni-Đa- Lưu-Chi, thứ tư là Thảo Đường, và thứ năm là Vô Ngôn Thông. Thiền sư Thường Chiếu là điểm quy tụ tinh hoa của tất cả năm thiền phái đó. Vì vậy cho nên truyền thừa của Thường Chiếu có tính cách thống nhất, không chia ra từng tông phái nữa. Như vậy khuynh hướng đưa tới Phật Giáo Thống Nhất bắt đầu từ Thường Chiếu. Sau Thái Tông chúng ta có Tuệ Trung, có Nhân Tông. Nhân Tông chính thức thành lập phái Yên Tử và lúc đó có một vị quốc sư tại Đại Việt tên là Nhất Tông Quốc Sư. Tên Nhất Tông rất có ý nghĩa, tức là Phật giáo một tông phái thôi. Như vậy năm tông phái có trước đó, bây giờ được thống nhất lại trong một giáo hội duy nhất gọi là Giáo Hội Trúc Lâm. Giáo hội Trúc Lâm là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã có mặt tại Đại Việt từ thế kỷ thứ XIII, XIV. Khuynh hướng thống nhất Phật giáo, không chia tông phái mà thu góp tất cả tinh hoa của các tông phái lại để cùng thực tập với nhau. Như vậy khuynh hướng này đã có từ cuối đời Lý, đầu đời Trần. Điều đó thành tựu một cách rất đẹp đẽ, đầy ý nghĩa, nhờ sự có mặt của một vị quốc sư tên là Nhất Tông. Ở viện Tả Nhai, vua Trần Thái Tông đã thỉnh các vị như quốc sư Trúc Lâm, thiền sư Tức Lự, thiền sư Ứng Thuận, thiền sư Đại Đăng, thiền sư Thiên Phong tới để giảng dạy và hướng dẫn thiền tập. Các vị này là các vị cao đức, gọi là các bậc kỳ đức, tức là các bậc cao đức hiếm có. Vua Trần Thái Tông là một nhà chính trị bất đắc dĩ, không muốn làm vua nhưng bị bắt buộc phải làm vua. Có thể nói vị vua này đã biết tùy thuận chúng sanh để cúng dường chư Phật. Ngay đây chúng ta thấy đạo đã nhập vào đời không chỉ ở lời nói suông mà thể hiện bằng hành động. 3.1.2. Đời sống sinh hoạt tín ngưỡng và học thuật Từ triết lý kinh Hoa Nghiêm, Tuệ Trung đưa ra các phạm trù đối lập giữa có và không, chân và vọng, thị và phi…hai mặt của vấn đề, chúng tồn tại và phát triển trong mối tương quan. Đó là cơ sở lý luận giúp cho thiền phái giải quyết nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Do vậy, số lượng tín đồ có niềm tin rất đông và trở thành thành viên của Thiền phái. Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đều là những vị thầy có đệ tử tại gia, xuất gia với con số hàng nghìn người. Pháp Loa là người chủ trương phát triển giáo hội Trúc Lâm có tổ chức hệ thống quy củ đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau khi lên ngôi lãnh đạo tăng già, tháng 9 năm Qúy sửu (1313), “Thiền sư Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, đặt văn phòng Trung Ương Giáo hội tại đó, quy định mọi chức vụ Tăng sĩ trong giáo hội, kiểm tra tự viện và làm sổ Tăng tịch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Tăng sĩ có hồ sơ tại Giáo hội Trung Ương” . Thời này cũng là thời có số lượng Tăng Ni quá đông, cứ mỗi lần tổ chức thụ giới thì phải thải ra hàng nghìn người. Số lượng đệ tử xuất gia đã đông, rồi số người theo quy y, thụ giới Bồ-tát lên đến số hàng nghìn người. Do vậy, sự xuất gia có hạn chế, ba năm mới tổ chức một lần, mỗi giới đàn chỉ giới hạn ba nghìn Tăng Ni. Về phần các nghi lễ truyền thụ Tỳ-kheo, Bồ-tát, Tam quy Ngũ giới cho các vị trong hoàng tộc, Phật tử tại gia được tổ chức thường xuyên. Các khóa lễ cầu an, cầu siêu, chẩn tế cũng được tổ chức, goi là “Diệm khẩu thí pháp hội”, có nghĩa là đại hội Phật pháp để bố thí cho loài quỷ đói, thể hiện tinh thần từ bi, lợi lạc quần sinh. Việc biên soạn khoa nghi Du già, Phật giáo pháp sự đạo tràng trong cách thức ấn hành vào năm 1299 là nhằm mục đích thu hút tín đồ tham gia học đạo. Các cuộc đại tham về thiền thường xuyên được tổ chức theo một nghi thức trang trọng. Việc xây chùa đúc tượng phục vụ việc hoằng pháp qua các Phật sự như nghi lễ thiền giáo, thuyết pháp được chú trọng. Có thể nói từ khi giáo hội Nhất Tông chính thức đi vào hoạt động trở về sau, Phật giáo Việt Nam đã trở thành lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đình nhà Trần với kỳ tích ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông và thiết lập một nền độc lập hòa bình cho cả dân tộc. Về sau, Phật giáo Việt Nam tiếp tục song hành cùng dân tộc trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển đất nước. Hiện nay, Giáo hội vẫn tiếp tục truyền thống và phát huy sức mạnh sẵn có để “thống nhất lãnh đạo và tổ chức, thống nhất ý chí và hành động” để cùng với dân tộc phát huy và xây dựng một nền độc lập và an lành cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. 3.2. Đối với đất nước Riêng Mâu Tử đã đề xuất tinh thần nhập thế như sau: “Ở trong nhà thì hiếu thảo với mẹ cha, ra ngoài đường thì cứu dân hộ nước, khi ngồi một mình thì lo tu thân”. Và khi Đức Phật còn tại thế Ngài từng đề cao tinh thần ấy thể hiện qua lời dạy trong kinh Tương Ưng Bộ, tập IV: “Này các Tỳ Kheo! Hãy du hành vì hạnh phúc quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lợi lạc cho quần sanh vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, an lạc cho chư thiên và loài người”. Vì lý tưởng an vui nên Phật giáo không ngại gian nan mà phải dấn thân hòa mình vào xã hội. Và trong thời kỳ Bắc thuộc, nhà Hán đã dùng chính sách đồng hóa, đem phong tục lễ nghi tôn giáo của họ sang nước ta, hầu mong biến nước ta thành quận huyện của chúng. Nhân dân ta đã làm mọi cách để chống lại chính sách đó. Trong cuộc chiến đấu đó, Phật giáo đã trở thành một lực lượng gắn liền với dân tộc Đại Việt. Hay nói cách khác, bình minh lịch sử dân tộc ta gắn liền với lịch sử Phật giáo nước nhà. Sự hòa quyện đó đã đi vào lòng người, nó được thể hiện qua thơ ca: “Việt Nam mình, Phật giáo mình Tình sâu nghĩa nặng, mối duyên mặn nồng Việt Nam là suối, Phật giáo là nguồn Nguồn làm suối ngọt, suối tuôn tuôn trào”. Vì thế, người dân Việt đã định hình nên Phật giáo người Việt với những đặt trưng: - Phật giáo của cộng đồng người Việt bao giờ cũng đặt sự tồn vong và phát triển của mình trong sự tồn vong và phát triển của dân tộc. - Đời sống sinh hoạt Phật giáo gắn liền với đời sống sinh hoạt kinh tế, chính trị nước ta. - Mối quan hệ của Phật giáo với nhà nước Đại Việt bao giờ cũng khắn khít keo sơn. Điều đó có nghĩa không có sự tranh chấp giữa giáo quyền và thế quyền từ xưa đến nay. - Phật giáo thời Trần góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, với dòng văn học ảnh hưởng tinh thần Phật giáo mang đậm nét bản sắc dân tộc Việt Nam, với một hào khí mạnh mẽ, hiên ngang, một tư thế vững chãi, nhưng ung dung, tự tại, phóng khoáng, nhân ái, vị tha. 3.2.1. Các thành tựu về chính trị, quốc phòng Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp trong sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố trung tâm liên kết quan trọng. Năm 1284, trước thế xăm lăng vũ bão cuả quân Nguyên, Nhân Tông đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng. Ở hội nghị này do các bô lão đáng kính trong làng, chứ không phải các vương thần. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách dân chủ. Chính Nhân Tông đã sử dụng tìm năng của Phật giáo để phục vụ cho chính trị. Đôi khi triều đình áp dụng bố thí một trong hạnh lục độ của đạo Phật cho dân chúng khi gặp cảnh nghèo khó bệnh tật, hay những năm mất mùa. Việc làm này không chỉ thể hiện trong khuông khổ triều đình mà còn được khuyến cáo những người giàu phải quan tâm chia sẽ những hoàn cảnh như vậy, và khuyến khích những người giàu đã quan tâm chia sẽ những hoàn cảnh như vậy. Nói tóm lại từ ăn, mặt, ở cho đến bệnh đau đều được nhà vua quan tâm chu đáo. Vận dụng tinh thần nhập thế, Trần Thánh Tông đã cùng Trần Nhân Tông làm nên điều kỳ tích của lịch sử là lãnh đạo thành công hai cuộc chiến bảo vệ đất nước xảy ra năm 1285 và 1288 khi ông xác định “Nước nhà, là nước của Tổ tông truyền lại. Người thừa kế cơ nghiệp của Tổ tông nên cùng với anh em trong dòng họ cùng hưởng ứng phú quý.Tuy bề ngoài là cả thiên hạ phụng sự một người tôn quý, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui…” Sự kiện xuất gia của vua, cũng như những năm hành đạo, đã khiến cho Giáo Hội Phật Giáo Trúc Lâm trở thành lực lượng tôn giáo yểm trợ hùng mạnh cho triều đại bấy giờ. Trần Nhân Tông với chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người Phật tử nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người này là điều kiện nhân tố cho quyền lợi của người kia thì tất cả cùng phát triển. Từ đó mọi người dân hiểu yêu nước là yêu đạo; yêu gia đình là yêu cha mẹ, bà con, yêu vợ chồng, con cái trẻ thơ; yêu mộ phần tổ tiên là yêu hồn thiêng sông nước nuôi dưỡng con người. Vì vậy, Thiền phái Trúc Lâm nhập thế tích cực hơn nữa. Sau thời kỳ Bắc thuộc, nước Đại Việt không ngừng vạch định chính sách phát triển đất nước bằng cách mở rộng bờ cõi. Phát triển kinh tế, phục hưng các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số trong thời bình trở nên hàng đầu. Trần Thánh Tông đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ dân nghèo các địa phương khai hoang, dãn dân nhằm đáp ứng gia tăng dân số mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi rất rõ “Mùa Đông tháng 10 (1266) xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã,cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang. Vương hầu có trang thực từ đó.” Rõ ràng, sự phát triển đất nước sau chiến tranh nhà Trần có chính sách lâu dài về vấn đề dân số, kéo theo vấn đề kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội. Trần Nhân Tông tiếp tục sự nghiệp của mình trên tinh thần bình đẳng, vị tha, và cuối cùng là an lạc hạnh phúc. C. KẾT LUẬN Phật giáo từ khi du nhập đến thời Trần không chỉ bén rể mà còn đơm hoa kết trái trên mãnh đất Đại Việt. Phật giáo và dân tộc luôn song hành, cùng nhau tồn tại và phát triển. Với tinh thần nhập thế qua quan điểm sống tuỳ duyên đã thiết lập một niềm tin Phật tại tâm, khiến dân tộc Đại Việt tích cực tham gia cống hiến cho đời cho đạo. Chính điểm này đã làm nên bản sắc văn hoá Đại Việt mà ngày nay mỗi khi tìm hiểu đến con người Việt Nam, thì chúng ta thấy rõ hình ảnh dân tộc Việt Nam với hào khí Đông A muôn đời bất diệt. Nhờ đó mà dân tộc Đại Việt đã bước sang kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự chủ. Tư tưởng Phật giáo thời Trần bao hàm nhiều ý nghĩa, nó thể hiện tinh thần từ bi, vị tha bình đẳng một cách rốt ráo. Đặc sắc hơn, nó còn góp phần tạo nên những ông vua kiêm Thiền sư, hay nhà Phật học uyên bác. Họ không phải là những người chán đời lánh đời mà ngược lại, họ đã siêu việt lên trên thế tục, không vướng mắc thế tục. Những vị vua này cũng viết sách , giảng kinh không khác gì những vị cao tăng trong đạo. Ở nơi những vị ấy còn thể hiện một tư tưởng độc đáo đó là tư tưởng “Phật tại tâm” và “ Hoà quang đồng trần”. Tư tưởng này đã nhấc bổng con người lên trên những ham muốn tầm thường để hoà mình vào cuộc sống, nó góp phần tạo ra những ông vua, những vị tướng mẫu mực xứng đáng làm trụ cột cho toàn dân. Tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần là hạt nhân để quy tụ lòng người, làm cơ sở cho đạo đức và xã hội, tạo thành làn sóng Việt Nam mang chất liệu đoàn kết dân tộc, ăn sâu vào trong tâm thức của từng người dân Việt, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam “Phật giáo thời Trần là quốc giáo”. Sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đã tạo nên sắc thái riêng cho dân tộc ở thời kỳ này. Mục đích của Thiền phái này là nhằm xây dựng con người giải thoát ngay giữa cõi đời và hết lòng phục vụ đạo pháp dân tộc. Do đó, thời đại nhà Trần mang tính từ bi nhân bản dùng đức trị thay pháp trị, đâu đâu cũng thấy bóng dáng siêu thoát kì vĩ của các thiền sư. Chính các vị thiền sư đã hoàn thành sự nghiệp “Trị quốc bình thiên hạ” tại Việt Nam có quy mô và toàn diện nhất. Đây là một sự thành tựu vĩ đại, vì nó không thể hiện qua lời nói hay sách vở mà nó đã thể hiện qua việc làm của các Ngài đối với đất nước và dân tộc. Qua đó các Ngài đã hình thành một ý thức sống tinh thần sâu sắc và sinh động theo lời dạy của đức Phật “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Đồng thời, lời dạy ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của các vị thiền sư và đã biến thành hành động bằng sự dấn thân vào sự nghiệp xây dựng đất nước, mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân loại. Tinh thần nhập thế của Phật Giáo Đại Việt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đạo pháp và đất nước vào thời Trần, đã tạo nên bản sắc riêng của văn hóa người Việt về tín ngưỡng tôn phái cũng như văn hóa Đại Việt trong sự nghiệp đạo pháp đồng hành cùng với dân tộc. D. THƯ MỤC THAM KHẢO 1. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Sử học dịch, tập 2, Nxb KHXH, HN, 1998. 2. Thích Phước Sơn dịch, Tam Tổ Thực Lục, Viện NCPHVN, 1995. 3. Nhiều tác giả, Thiền Học Đời Trần, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1995. 4. HT. Thích Thanh Từ, Pháp Bảo Đàn kinh. 1992. 5. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb TP. HCM, 1999. 6. Lê mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông, Nxb Tổng Hợp, TP. HCM, 2002. 7. Tuệ trung thượng sĩ, Phóng cuồng ngâm. 8. Mạn Đà La, Vài nét tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm, 1987. 9. Nguyễn Khắc Thuần, (2002), Nước Đại Việt Thời Lý-Trần, Nxb Thanh Niên, TP. HCM. 10. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), (2002), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN. 11. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 1, Lá Bối, Sài Gòn, 1974. 12. Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ kinh, Trường Cao Cấp PHVN ấn hành, 1982. 13. Nhiều tác giả, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý-Trần, Nxb. KHXH, HN, 1989. 14. Thích Thanh Từ, Khóa Hư Lục giảng giải, Nxb. TP. HCM, 1991. 15. Thích Phước Đạt, Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, Nxb Hồng Đức, 2013. 16. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, tập 3, Nxb TP. HCM, 2002. 17. Viện văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Hà Nội: KHXH.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét