THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015
TRÌNH BÀY THUYẾT LINH HỒN CỦA CÁC TÔN GIÁO
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Linh hồn Quan niệm của Thiên Chúa giáo:
1.1. Một vài suy nghĩ:
1.2. Giả thuyết của sự bất tử của linh hồn:
2. linh hồn dựa theo thuyết Phật giáo:
2.1. linh hồn trong phật giáo có hay không?
3. Linh hồn tồn tại hay không?
3.1. Những quan điểm về Sự Chết:
3.2. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
4. Các quan niệm về linh hồn:
4.1. Linh hồn ra đời từ đâu?:
4.2. Sự đầu thai của linh hồn:
4.3. Linh hồn và thần kinh bộ não:
4.4. Những kiểm chứng khoa học:
4.5. triết lý nhân sinh và con người:
4.6. Tâm và linh hồn:
4.7. Sự hiểu biết hoàn toàn mới của giới khoa học “linh hồn là bất diệt”
4.8. Giới tu luyện từ lâu đã có luận định “Nguyên thần bất diệt”
5.Liên kết với Thiên thượng:
5.1. Đạo Hin-đu:
5.2. Phật giáo:
5.3. Hồi giáo:
5.4. Cơ đốc giáo- đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
TRÌNH BÀY THUYẾT LINH HỒN
CỦA CÁC TÔN GIÁO
I. DẪN NHẬP:
Cho đến nay, nhiều người vẫn cho là có sự tồn tại của linh hồn và khi con người chết đi, nhưng phần hồn thì vẫn tồn tại. Có hay không có linh hồn? Nếu có thì nó ở dạng thức nào, nó vô hình hay hữu hình? Rất nhiều nhà khoa học đã vào cuộc và đã có rất nhiều nghiên cứu thú vị về vấn đề này.
Bí ẩn về cái chết luôn luôn là nỗi ám ảnh của con người. Từ rất xa xưa, người ta đã muốn khám phá thế giới của con người sau khi chết. Thế nhưng trước đây, đi vào lĩnh vực ấy, chủ yếu chỉ có hai con đường: triết học và tôn giáo. Từ thế kỷ XVI đến nay, vấn đề được xét dưới một khía cạnh mới mang sắc thái sinh lý, sinh vật và y học. Từ hơn 100 năm trước, những hiện tượng tâm linh được nhìn dưới góc độ khoa học. Loại nghiên cứu này được gọi là tâm linh học với nhiều tổ chức như Hội điều tra tâm linh của Đại học Cambride thành lập từ thập nhiên 1850. Gần đây, tên gọi tâm linh học được thay thế bằng siêu tâm lý học (Parapsychology). Một trong những vấn đề được ngành siêu tâm lý học quan tâm là những kinh nghiệm kỳ lạ thoát ly thân xác và thể nghiệm cận kề cái chết. Các nhà khoa học ngày càng thu thập được nhiều bằng chứng về linh hồn và cuộc sống sau cái chết. Nhưng những bằng chứng này chẳng bao giờ đủ để khẳng định linh hồn thực sự tồn tại.
II. NỘI DUNG:
1. Linh hồn Quan niệm của Thiên Chúa giáo:
Truyền thống Thiên Chúa giáo tin vào cả Cựu và Tân ước. Trong Cựu ước, khởi nguyên là Thánh kinh của người Do Thái, không có quan niệm rõ ràng về đời sống sau khi chết. Nói chung, người ta nghĩ rằng họ sẽ đi đến âm ty - nơi yên nghỉ cuối cùng - hay rằng họ sẽ yên nghỉ cùng với cha ông hay tổ tiên của họ. Con người không bị phân biệt là có đức tin hay không có đức tin, mà các bản văn hình dung con người của Israel cổ đại như là một khối.
Tân ước, được tạo lập bên trong Thiên Chúa giáo (Christianity), chủ trương rằng, dựa vào niềm tin của một người vào Chúa Giê-su (Jesus) như là Chúa cứu thế của loài người, người ta sẽ được lên thiên đường hay xuống địa ngục. Những khái niệm này đã tạo cơ sở cho việc truyền bá phúc âm Thiên Chúa giáo đến tận ngày này. Truyền thống Công giáo (Catholicsm) đã bổ sung thêm khái niệm chuộc tội mà nó làm giảm bớt đi độ mạnh của các khái niệm thiên đường và địa ngục. Có một con đường đi đến thiên đường thông qua việc thanh tẩy ở nơi sự chuộc tội với sự trợ giúp của gia đình hay bằng hữu đối với người chết.
Trong phát triển về sau của Do Thái giáo, sự tách biệt giữa thiên đường và địa ngục đã giúp giải quyết câu hỏi về số phận của những cựu thù của Israel và mang sự công bằng đến cho những người Do Thái mà họ đã chịu sự lưu vong và rời xa quê hương của họ. Có một sự phán quyết sau cùng, sau một cuộc phục sinh tập thể, ở đó tất cả những cựu thù của họ sẽ nhận lấy những thưởng phạt công bằng của họ. Điều này đi đến một đặc điểm quan trọng trong quan niệm của Thiên Chúa giáo, cho dù tương quan với niềm tin hay bác bỏ Chúa Giê-su. Ở đó, trọng tâm của niềm tin người Do Thái là tập trung nhiều hơn vào con người như một khối, còn quan điểm của Thiên Chúa giáo tập trung vào niềm tin hay không tin thuộc cá nhân. Niềm tin của Hồi giáo chịu ảnh hưởng giáo lý Thiên Chúa giáo và tập trung vào cá nhân.
Một khía cạnh của niềm tin Thiên Chúa giáo là rằng sau sự phục sinh về thể xác và sự phán xét cuối cùng, những người ác sẽ bị ném vào một hầm lửa vĩnh viễn. Những tín đồ sẽ được đưa lên thiên đường và ở đó họ sẽ sống vĩnh hằng với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, sự lan tỏa của Thiên Chúa giáo vào thế giới Hy-La ở Địa Trung Hải đã đưa đến những thay đổi trong khái niệm về đời sống sau khi chết. Quan niệm của người Do Thái đã ủng hộ một sự phục sinh và phán xét. Những người đã chết nằm chờ trong mồ của họ cho đến khi có lời gọi của Thiên Chúa đánh thức họ khỏi giấc ngủ để đối diện với sự phán xét. Thiên Chúa giáo ban đầu đã sống trong sự mong chờ lần đến thứ hai của Chúa Giê-su và một sự phục sinh tập thể và sự phán xét sau cùng.
Tuy nhiên, quan niệm Hy Lạp đã duy trì niềm tin vào một linh hồn bất tử mà, khi thân xác bị hủy hoại, sẽ sống vĩnh hằng ở trong một thiên đường hạnh phúc. Sự hiểu này dần được sáp nhập vào trong Thiên Chúa giáo với niềm tin vào sự bất tử sau cái chết mà nó vượt qua quan niệm về phục sinh. Bây giờ nó hoàn toàn là niềm tin chung rằng khi người ta chết, họ lập tức lên thiên đường với Chúa Giê-su và những người thân yêu của họ. Tuy nhiên, niềm tin vào lần đến thứ hai của Chúa Giê-su và một sự phán xét cuối cùng, mà nó hàm ý sự phục sinh, vẫn tiếp tục tồn tại.
Một vấn đề khác ở trong niềm tin vào đời sống sau khi chết của Thiên Chúa giáo là vấn đề trừng phạt đối với tội phạm. Không có sự phân chia hay mức độ nào ở trong khái niệm địa ngục. Bất chấp sự thật rằng những điều xấu ác hay tội lỗi mà những người bất tín phạm phải khác nhau ở mức độ và kiểu thức, sự trừng phạt là không thay đổi đối với những người bất tín và tất cả đều nhận chịu sự trừng phạt như nhau. Việc bị giáng xuống địa ngục là vĩnh viễn mà không bao giờ có sự kết thúc.
1.1. Một vài suy nghĩ:
Tất cả giáo huấn của Chúa Giêsu, chủ yếu tập trung nơi chính thân phận con người đang sống, để làm sao đạt được ơn cứu độ. Các vấn đề khác, tuỳ mức độ cần thiết trong tương quan đến chủ đích ấy, được mặc khải hay không và mặc khải ít hay nhiều.
Giáo lý về các linh hồn (hiểu như là các hữu thể tồn tại từ con người sau khi đã chết) cho biết một số chân lý nào đó về số phận các linh hồn, nhưng cũng không bao giờ giải thích tường tận được theo logic mà con người đang dùng hôm nay. Thí dụ: Trong thế giới thiêng liêng có thời gian hay không? Linh hồn là hữu thể thiêng liêng, vậy có thay đổi không? Thời gian trong Luyện Ngục là gì? Cũng thế, nhiều giáo phái Kitô Giáo vẫn còn tranh luận về vấn đề hiện hữu của Hỏa Ngục, vì đối chiếu với tính nhân từ yêu thương vô hạn của Thiên Chúa... Việc các linh hồn mồ côi cũng thế. Nếu vẫn muốn hiểu theo cái logic của conngười đang dùng, thì vẫn còn nhiều điểm để tranh luận, chẳng hạn:
Chúa chẳng là Cha nhân từ đủ cho các linh hồn hay sao lại để phải có những linh hồn mồ côi?
Trong thế giới do chính Thiên Chúa làm Vua, lại còn có những phần tử thất thế, thua thiệt, côi cút, cần phải được con người thế trần đặc biệt chiếu cố?
Trong nơi không còn tội lỗi, chỉ có tình thương như Luyện Ngục, các linh hồn ‘giàu có’ có san sẻ với các linh hồn cô độc không? vv...
Tuy nhiên, về mặt luận lý, không bàn đến tín lý, thì cũng có thể đi từ ‘đầu kia’, nghĩa là các lập luận đã dẫn trên, để đến kết luận là cần cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Điều này cũng tương tự như lập luận giải thích các mầu nhiệm khác thôi. Hơn nữa, đặc tính của Giáo Hội Công Giáo là thông công. Chính do đặc tính này mà mọi người được tha tội, thánh hoá và cứu độ nhờ vào Đầu là Chúa Giêsu Kitô. Do đó, Chúa muốn mọi chi thể phải luôn hợp thông với nhau bằng Đức Ái. Đối với các linh hồn, đức ái trọn vẹn thể hiện qua việc hợp thông với những linh hồn mồ côi. Cũng như trên trần thế, Đức Ái đặc biệt thể hiện qua những người ‘nghèo khó và bé nhỏ’.
1.2. Giả thuyết của sự bất tử của linh hồn:
Nó thật sự bất tử của linh hồn, hay là một ảo ảnh? Những gì cho chúng ta biết điều này trong tâm trí Kinh Thánh?
Nhiều nhà thờ đã lấy học thuyết ngoại đạo của cái chết. Họ tin rằng sau khi chết chỉ là một cuộc sống mà linh hồn là bất tử. Nhiều người tin rằng sau khi chết một người ngay lập tức bước vào thiên đường hay địa ngục, nơi họ đốt cháy trong lửa đời đời. Bạn có thực sự nghĩ rằng Thiên Chúa như vậy là độc ác? Thiên Chúa yêu thương chúng ta để Ngài gửi con trai của ông rằng Chúa Giêsu Kitô đã chết cho chúng tôi và lưu chúng tôi. Cha trên trời của chúng ta yêu thương chúng ta và sẽ không bao giờ có cam kết như một bệnh trạng. Kinh Thánh nói rõ ràng những gì đang xảy ra với người đàn ông sau khi ông chết. Sau cái chết của một người đàn ông đang ngủ cho đến khi Coming thứ hai của Chúa Giêsu Kitô. Không nhìn thấy, cảm thấy, và không có gì làm phiền anh bất kỳ đau đớn.
Hãy tưởng tượng nếu mẹ của chúng ta chết và đi vào ngay lập tức sau khi chết lên thiên đàng. Sẽ được bao quanh bởi vẻ đẹp không thể tưởng tượng nhất và tình yêu. Vấn đề xảy ra khi bạn cần phải nhìn vào đất nước này. Sẽ tìm đến bạn thân yêu và quý giá trong thế giới này của bạn cô yêu. Xem tất cả những đau khổ và đau đớn, và cuối cùng là nỗi đau của căn bệnh chết của bạn, mà sẽ không thể ngăn chặn. Bạn có nghĩ rằng mẹ của bạn sẽ thực sự hạnh phúc không? Chắc chắn không. Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng Kinh Thánh nói rõ ràng rằng sau cái chết của một người đàn ông đang ngủ, nghỉ ngơi cho đến khi có công lý.
Những người được xác định để chết một lần, và sau đó chờ xét xử.
Học tập về sự bất tử của linh hồn, không phải Kinh Thánh, nó không phải là từ Thiên Chúa. Nó là một học thuyết ngoại đạo đó là dần dần leo vào Kitô giáo. Nó rất spiritualist cám dỗ mà Satan đã chuẩn bị cho chúng ta. Kinh Thánh là linh hồn từ năm 1600, nhưng không nơi nào là từ kết hợp với các bất tử từ. Sự bất tử của linh hồn là việc học ngoại giáo, được lấy từ Babylon, Ai Cập, Rome. Dân ngoại tin rằng linh hồn sống trên.
Đức Chúa Trời sau khi chết, hãy nhập danh tính của chúng tôi, cá tính của chúng tôi, và bạn chuyển sang bụi. Vì nó đã được tạo ra từ bụi của đất nước chúng tôi, và lần lượt để bụi. Bạn ngủ và nghỉ ngơi, không có gì làm phiền ông.
2. linh hồn dựa theo thuyết Phật giáo:
Đầu tiên, các bạn luôn cho rằng linh hồn là 1 cái gì đó mờ ảo, có nhiều người cho là nó ko có thật, thực tế linh hồn nó chẳng là gì cả mà nó chính là nhận thức (ý thức) của các bạn. Bạn nghĩ cơ thể ta hoạt động là do bộ não điều khiển, điều đó là đúng nhưng Phật Thích Ca còn hiểu rộng hơn, đó chính là do nhận thức của chúng ta điều khiển bộ não, bắt bộ não điều khiển các chi các khác hoạt động theo ý muốn của nhận thức của chúng ta.
Đó là tại sao Đức Phật nói cơ thể là vô thường, vì bộ não ko phải là của ta, mà cái thật sự mà ta có thể điều khiển suốt 100% chính là nhận thức cũng chính là linh hồn chúng ta. Tai sao lại nói như vậy, các bạn có bao giờ thấy đôi lúc mình bỗng nhiên có những cử chỉ, lời nói hay hoạt động mà chúng ta ko thể kiềm chế, hoạt bỗng dưng cơ thẻ lại tự làm vài động tác trong chốc lát mà bạn biết rằng mình ko hề có ý định làm như vậy. Những lúc đó chính là lúc bộ não hoạt động ko dựa trên chỉ thị từ nhận thức, khi đó người ta gọi những hoạt động đó là vô thức, tức là ta ko làm nhưng cơ thể nó tự làm, diều này lý giải 1 số người hay bị mộng du trong khi ngủ, hoặc khi ngủ ta có những hoạt động ko phải do ta muốn, vì khi ngủ con người rơi vào trạng thái vô thức, lúc này bộ não vẫn hoạt động bình thường, và nó tự điều khiển cơ thể của ta theo ý của bộ não đưa ra, tại sao bộ não lại tự ý làm việc đó là do nó bị tác động bởi thói quen hằng ngày mà nhận thức của ta bắt nó phải làm.
Ví dụ nhé: khi ta cố thức dậy vào lúc 5h mỗi ngày, cứ kéo dài 1 tuần, qua ngày thứ 8 thì ta tự dưng đúng 5h ta thức, theo khoa học gọi đó là đồng hồ sinh học, nhưng trước đó nhận thức của ta bắt bộ não điều khiển cơ thể ta thức dậy vào lúc 5h, điều này kéo dài liên tục, đến khi nhận thức của ta ko điều khiển bộ não như thế nữa thì tự khắc nó sẽ hiểu đúng 5h nó sẽ tự điều khiển cơ thể ta thức dậy lúc 5h, mặc dù có nhiều lúc ta ko hề muốn như vậy.
Nhiều người cho rẳng linh hồn có hình dáng như cơ thể ta, thực tế đó là do nhận thức của ta nghĩ ra như vậy vì nhận thức nó ko hề có hình dạng nói chính xác hơn nó ko phải là vật hữu hình. Đây là điều tuyệt vời của tạo hóa tạo cho chúng ta. Vì khi bộ não chết nhưng nhận thức vẫn ko chết vì nó ko phải là vật hữu hình cho nên nó ko chịu tác động của bên ngoài cũng như của thời gian.
Điều mà Đức Phật làm chính là ngài luyện tập làm sao để cho nhận thức của ngài ko phụ thuộc vào bộ não, cho nên dù khi bộ não có chết nhận thức của ngài vẫn tồn tại, đây chính là cảnh giới tối cao khi mà con người có thể nhận thức được sự sống và cái chết. Cho nên tại sao Đức Phật nói cơ thể là vô thường là vì vậy, vì ngài chỉ cần điều khiển được linh hồn của mình, vì linh hồn ko cần ăn, cũng ko thấy đau đớn và nó luôn tồn tại nếu ta nhận thức ra điều đó.
Khi sinh ra chúng ta vô tình để linh hồn mình lệ thuộc vào cơ thể, mỗi khi ta đói ta thấy khó chịu, thực tế linh hồn là nhận thức, nó ko thấy khó chịu, khó chịu ở đây là do bộ não sinh ra và linh hồn ta cảm nhận được sự khó chịu từ bộ não. Trải qua mấy chục năm sinh sống dần dần linh hồn và cơ thể hòa lại làm 1 và lúc này mọi tác động bên ngoài khiến ta cảm thấy đau đơn từ đó sinh ra sự sợ hãi, nhưng ta ko biết rằng những điều đó điều là do các dây thần kinh đưa đến bộ não chính bộ não nó sợ hãi, nó thấy đau đớn chứ ko phải là nhận thức của ta thấy như vậy.
Giống như ta gần gũi ai đó quá lấu, ta sinh ra tình cảm với họ, thì khi họ khó chịu, họ đau đớn thì bản thân ta cũng sẽ có những cảm giác như của họ, thì sự liên quan giữa cơ thể và linh hồn cũng y như vậy.
Cho nên khi bạn nhận thức ra được rằng linh hồn của ta là bất tử (có thể tạm nói thế) thì khi đó bạn sẽ ko cần phải ăn, ko cần uống cũng ko thây đau đớn xác thịt, vì lúc này nhận thức đã hoạt động riêng lẽ với cơ thể, chính xác hơn là hoàn toàn độc lập tự chủ với bộ não chúng ta, thì khi đó cũng là lúc bạn ko còn sợ cái chết, vì khi chết những cái hữu hình chết chứ nhận thức của bạn ko chết. Đây chính là cảnh giới luyện tập cao nhất mà trước giờ chỉ mỗi Đức Thích Ca luyện tập được.
Đó là khi nhận thức của người sống nói chuyện với nhận thức của người chết mà ko cần thông qua não bộ. Vì khi chết cơ thể hoàn toàn mất hoạt động đồng nghĩa não bộ dừng hoạt động tuy nhiên vẫn còn nhận thức của người đó, vì vậy người khi chết họ mới có thể điều khiển nhận thức của họ riêng lẻ độc lập, còn người sống thì quá phụ thuộc vào cơ thể nên chỉ có những ai có thể điều khiển được nhận thức riêng lẻ với cở thể mới có thể trò chuyện được với người đã mất. Điều này bản thân các bạn cũng có thể đôi lúc gặp phải, nhất là những người đang tu Thiền Định, vì Thiền Định là cách hay nhất giúp ta có thể điều khiển được nhận thức 1 cách chính xác nhất. Khi Thiền Định toàn bộ cơ thể bất động, khi đó năng lượng sẽ được dồn vào sự tách rời giữa nhận thức và não bộ của thể, đến mức cao nhất là bạn có thể dùng nhận thức của mình làm bất cứ điều mình muốn mà ko cần quan tâm đến cơ thể của mình chính là lúc nhận thức của bạn được giải phóng.
Để đạt những điều này phải cần sự luyện tập rất cực nhọc trong thời gian rất dài, nhất là những ai có tuổi đời càng cao có nghĩa là họ đã lệ thuộc vao cơ thể quá lâu thì họ luyện tập sẽ lâu hơn người nhỏ tuổi.
Trở về thời xưa, thì minh thấy Phật Thích Ca là 1 nhà tâm lý học có tài, nhưng do những gì ông ấy làm được trong thời xa xưa nên moi người tôn vinh ông ấy như thần thánh, thực tế điều này ai cũng có thể làm vấn đề là bạn có quyết tâm hay không, nhưng cũng không thể phủ nhận 1 điều là nhờ có những kiến thức của Phật Thích Ca để lại mà mình mới tìm hiểu ra được cái gì là vô thường.
Đừng bao giờ nghĩ cơ thể vô thường mà ta bỏ mặc nó, vì nó là phương tiện duy nhất cũng như hữu hiệu nhất để ta có thể luyện tập tách rời nhận thức và cơ thể, đừng vì nó là vô thường mà ta không quan tâm đến nó vì hiện nay bạn chưa thể luyện tâp được cách song độc lập khi thiếu cơ thể của bạn được.
2.1. linh hồn trong phật giáo có hay không?
Trước hết, Phật giáo không bác bỏ linh hồn, nếu linh hồn được hiểu đơn giản như là phần phi vật chất trong mỗi con người.Trong thuyết cơ bản của Phật giáo, như thuyết năm uẩn, phân tích người là một tập hợp năm uẩn (sắc,thọ, tưởng,hành, thức).Trong 5 uẩn thì chỉ có sắc uẩn là vật chất, còn 4 uẩn còn lại đều là phi vật chất, hay là thuộc phạm trù tinh thần.
Một cách phân tích khác, ngược với cách phân tích 5 uẩn là chia sắc uẩn thành bốn yếu tố : địa, thủy, hỏa, phong gọi là bốn đại và tập hợp các yếu tố phi vật chất hay tinh thần thành một nhóm, gọi chung là thức hay thức đại (địa, thủy, hỏa, phong, thức). Như chúng ta thấy qua bài thơ của Thiền sư Đạo Huệ thời Lý:
Địa, thủy, hỏa, phong, thức.
Nguyên lai nhất thiết không
Như vân hoàn tụ tán
Phật nhật chiếu vô cùng
Sắc thân dự diệu thể
Bất hợp bất phân ly
Nhược nhân yếu phân biệt
Lô trung hoa nhất chi
Dịch ý
Đất, nước, lửa, gió, thức
Vốn tất cả đều là không
Cũng như mây hợp rồi tan
Còn mặt trời Phật thì chiếu vô cùng
Sắc thân và diệu thể
Không hợp cũng không chia ly
Nếu người muốn phân biệt
Thì cũng như hoa sen trong lò lửa.
Bài thơ thiền của Thiền sư Đạo Huệ cũng giúp trả lời phần nào thắc mắc "có linh hồn trong con người hay không ?" Điều mà chúng ta tưởng tượng là ở trong chúng ta có một linh hồn bất tử, linh thiêng, đồng thời cũng là cái ta tư duy, cảm thọ, tưởng tượng, ý chí quyết định làm việc này việc khác, phân biệt, hiểu biết.v.v...Chúng ta không biết là ngay trong sự tưởng tượng của chúng ta đã có điều mâu thuẫn, vô lý, phản lô-gích rồi, và chính đạo Phật bác bỏ cấu trúc tưởng tượng mâu thuẫn, vô lý và phản lô-gích đó của chúng ta.
Đạo Phật đặt câu hỏi: "Một linh hồn tưởng tượng là linh thiêng, là bất tử, không thay đổi, đồng thời cũng là cái ta tư duy, cảm thọ, tưởng tượng, quyết định làm việc này hay việc khác, phân biệt hiểu biết...
Đã có tư duy thì có tư duy sai hay đúng, cũng như đã có cảm thọ thì có vui, buồn, thích hay không thích, ghét hay yêu. Đã có phân biệt hiểu biết thì cũng có phân biệt hiểu biết sai hay đúng, làm sao một cái ta linh thiêng, bất tử và bất biến lại có thể tư duy đúng sai, cảm xúc vui buồn, yêu ghét, phân biệt và phán xét có thể chính xác mà cũng có thể sai trái?
Khi xác nhận ta có một cái Ta kiểu như Atman của Ấn Độ giáo, hoàn toàn sáng suốt và tối thiện ở trong mỗi người chúng ta, thì lập tức sa lầy vào mâu thuẫn trùng trùng điệp điệp như đã phân tích trên đây. Chính vì vậy mà Phật giáo bác thuyết Atman, tức là thuyết cái Ta của Ấn Độ giáo. Quan điểm phủ định đối với thuyết Atman rất là rõ trong nhiều kinh Phật Nguyên thủy, như Trường Bộ tập III, Trung Bộ tập I. Trong những kinh đó, thường gặp đi gặp lại như một điệp khúc, khi nói tới năm uẩn : "Sắc không phải là ta, ta không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của ta..."Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng đều lặp đi lặp lại điệp khúc như vậy. "Phải chăng là thích hợp khi xem cái vô thường, đau khỗ, bị thay đỗi như là tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi".
Vậy thì qua những kinh Phật đã dẫn, chúng ta phải hiểu đích thực Đức Phật bác bỏ cái gì trong thuyết linh hồn hay là thuyết Atman ? Cái mà đạo Phật bác là linh hồn hay Atman được tưởng tượng như một cái gì siêu nhiên, bất tử, bất biến. Đức Phật không muốn đệ tử Ngài mất thì giờ vào những tư biện siêu hình như vậy, cũng không khác gì tư biện siêu hình về thế giới là vĩnh hằng hay sinh diệt, là hữu biên hay vô biên...
Theo cách phân tích của đạo Phật, thì cái gì đã là vĩnh hằng, bất biến như cái linh hồn tưởng tượng của chúng ta thì làm sao chúng ta lại có thể trừ bỏ điều ác, hướng tới điều lành được, làm sao tâm ý chúng ta từ dơ bẩn lại có thể trở thành trong sạch, thanh tịnh ? Theo cách nhìn của Phật giáo, thì trong con người chúng ta, dù là thành phần vật chất như sắc thân (tức sắc uẩn), dù là thành phần phi vật chất như thọ, tưởng, hành, thức, tất cả đều là vô thường, và chính vì là vô thường nên hàm chứa một khả năng tiến bộ vô tận. Nói ra thì có vẻ như mâu thuẫn, nhưng chính lô-gích của cuộc sống là như vậy đó.
Ở trong con người, có thể nói, mối quan hệ phức tạp, khó phân tích nhất là mối quan hệ giữa thân và tâm. Đó là một câu hỏi, trong số 14 câu hỏi mà Phật không trả lời. Ở trong con người, thân và tâm là một hay là hai ?
Vì sao ? Vì khi nói tâm là nói tâm nào. Nếu đó là cái tâm thức tư duy cảm thọ bình thường, thì ngay trong câu đầu tiên của bài thơ thiền của Đạo Huệ, chúng ta thấy rõ, tất cả 5 uẩn, trong đó có thức uẩn, đều là vô thường. Như vậy là theo đạo Phật, tất cả mọi thành phần dù là vật chất hay phi vật chất ở trong chúng ta cũng đều là vô thường, và vì là vô thường cho nên cũng là không rỗng, vô ngã, là "nguyên lai nhất thiết không"
Đồng thời Đạo Huệ cũng nói đến chân tâm hay diệu thể, ở "trong chúng ta" mà, sách Phật thường nói là "không thể nghĩ bàn", siêu việt ngôn ngữ và tư duy bình thường, cho nên Đạo Huệ miễn cưỡng nói "bất hợp, bất phân ly" hay là "lô trung hoa nhất chi" (hoa sen trong lò lửa). Thật ra, nói chân tâm nằm ở trong thân, cũng như nói hoa sen ở trong lò lửa, cũng là nói miễn cưỡng, nói điều không thể nói, đáng lẽ nên im lặng không nói gì hết, như Phật đã từng như vậy khi có người hỏi Phật là thân với tâm là một hay là hai. Chân tâm hay diệu thể (từ của Thiền sư Đạo Huệ), hay diệu tánh (từ của Thiền sư Ngộ Ấn thời Lý) đều là cái chân lý tối hậu mà chúng ta chỉ có thể qua trực cảm huyền nhiệm (mystic intuition- xem cuốn Buddhist Logic tập I bản Anh ngữ của viện sĩ Nga Scherbatsky, tr 63) để biết được mà thôi, còn nếu chỉ bàn luận và tư biện dù là tư biện theo chiều sâu cũng chỉ là mất công, mất sức mà thôi. Bản thân Đức Phật đã từng dùng ảnh dụ người mù sờ voi để phê phán như là vô ích mọi công phu tư biện và tranh luận để nắm bắt chân lý tối hậu. Ở đoạn trước, tôi đã dẫn chứng bài thơ thiền của Đạo Huệ. Thiền sư Ngộ Ấn, cũng ở đời Lý và có một ý tương tự :
3. Linh hồn tồn tại hay không?
Không tin. Phật giáo không tin là có một linh hồn vĩnh hằng, bất biến. Nếu tin có linh hồn như vậy, thì đó là "thần ngã ngoại đạo", không phải là người Phật tử chính tín.
Đúng là trong quan niệm của người bình thường, trừ những người theo duy vật luận ra, còn thì ai cũng cho rằng mỗi người đều có một linh hồn vĩnh hằng bất biến, gần đây, ở Âu Mỹ, có lập ra "Linh tri học hội", đối tượng nghiên cứu của Hội là linh hồn. Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo v.v… đều là những tôn giáo ít nhiều tin tưởng có linh hồn, cho rằng người ta làm thiện hay ác, sau khi chết đi, sẽ bị Thượng Đế hay Diêm Vương phán xử, người tốt thì linh hồn lên thiên đường, người xấu thì linh hồn đọa địa ngục.
Ở trong dân gian Trung Quốc, sự mê tín linh hồn có gốc rễ rất sâu bền, lại còn thêm sai lầm to lớn này nữa là người Trung Quốc tin rằng, sau khi người chết linh hồn biến thành quỷ. Linh hồn là quỷ, trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, là cả một mớ mê tín lớn và bùng nhùng khó gỡ ra được. Điều đáng buồn cười là vì quỷ có chút ít thần thông cho nên lại cho rằng linh hồn là một vật tập hợp của "3 hồn 6 phách".
Kỳ thực, quỷ chỉ là một trong 6 loại chúng sinh cũng như người là một trong 6 loại chúng sinh không khác. Sinh làm người, có sống có chết. Sinh làm quỷ, cũng có sống có chết. Nhưng người sinh từ bào thai, còn quỷ là hóa sinh. Huống hồ, người chết rồi vị tất đã làm quỷ. Vấn đề này, sẽ được bàn rõ trong một tiết khác.
Đối với linh hồn, ở Trung Quốc có rất nhiều truyền thuyết, hoặc cho rằng, trong việc sống chết của người, linh hồn có một tác dụng bắc cầu. Linh hồn đầu thai là sinh, linh hồn tách rời thân xác là chết, xem quan hệ giữa linh hồn và thân xác giống quan hệ giữa chủ hộ và nhà cửa. Nhà cũ, hư nát thì dọn đến nhà mới, nhà mới thay nhà cũ, thay đi thay lại, chủ hộ đi đi lại lại nhưng vẫn vĩnh hằng bất biến. Tức là nói con người là linh hồn, đắp thêm cái áo thân xác. Thân xác có thể thay đổi, còn linh hồn là bất biến, là chủ thể trong dòng lưu chuyển sinh tử.
Trên sự thực, Phật giáo không công nhận những quan niệm về linh hồn như vậy, vì những quan niệm đó không thể đứng vững với thuyết duyên sinh, duyên diệt của đạo Phật. Trên quan điểm sinh diệt vô thường, Phật giáo xem tất cả mọi sự vật đều sinh diệt vô thường. Trong cả hai thế giới vật chất và tinh thần, đều sinh diệt vô thường. Dùng mắt thịt mà nhìn sự vật, thì đôi khi nhìn thấy có sự vật không biến đổi, nhưng nên dùng dụng cụ khoa học tinh vi để nhìn, thì thấy không có sự vật nào là không biến đổi trong từng giây phút một. Kinh Dịch nói "sinh, sinh", nhưng kỳ thực, ở đàng sau "sinh, sinh" là "tử, tử", tức là biến biến, hóa hóa.
Hiện tượng vật lý trong thế giới vật chất, là sinh diệt không ngừng. Hiện tượng tâm lý tinh thần lại càng dễ quan sát. Là bởi vì, hiện tượng tâm lý nảy sinh là do tinh thần biến động. Hiện tượng tâm lý biến động, dẫn tới hành vi thiện, ác. Hành vi thiện ác ảnh hưởng trở lại khuynh hướng tâm lý, tiền đồ của chúng ta, tương lai của chúng ta được quy định bởi tác dụng tuần hoàn đó của tâm lý ảnh hưởng tới hành vi, và hành vi ảnh hưởng trở lại tâm lý.
Thử hỏi : Làm sao có thể có linh hồn bất biến, linh hồn vĩnh hằng ? Dường như là không thể có được, không những người chết rồi, không có linh hồn cố định, mà ngay khi còn sống, thân tâm chúng ta đều biến đổi không ngừng trong từng phút giây một. Thế nhưng, Phật giáo đã không tin có linh hồn, thì bản thể của việc luân hồi trong sáu cõi và siêu phàm nhập thánh là gì ? Hay nói cách khác, cái gì "luân hồi", cái gì "siêu phàm, nhập thánh" ?
Đây chính là điểm ưu việt đặc thù của Phật giáo, vừa không xem trọng giá trị vĩnh cửu của tự ngã, lại vừa khẳng định giá trị hướng thượng của tự tính.
Phật giáo chủ trương thuyết "nhân duyên sinh" và "tự tính vốn là không" (tự tính bản không).
Phật giáo xem vật chất là nhân duyên sinh, xem tinh thần cũng là nhân duyên sinh. Nhân duyên tụ hội gọi là sinh, nhân duyên ly tán, gọi là diệt. Lớn như một tinh cầu, một thiên thể cho đến cả thế giới vũ trụ, nhỏ như một sợi cỏ, một hạt bụi, một nguyên tử… không có một sự vật nào là không do nội nhân, ngoại duyên hội tụ mà tồn tại.
Nếu loại bỏ nhân và duyên ra, không có một sự vật nào có thể tồn tại được. Vì vậy, nếu xét trên căn bản, thì không có một sự vật nào hết. Về vấn đề này, các nhà khoa học vật lý và hóa học, có thể cung cấp cho chúng ta câu trả lời chính xác và chính diện.
Còn tinh thần là gì ? Phật giáo tuy bác thuyết linh hồn, nhưng không phải là theo duy vật luận. Cái gọi là tinh thần thì Phật giáo gọi chúng bằng danh từ "thức". Phật giáo Tiểu thừa chỉ nói sáu thức, và lấy thức thứ 6 (đệ lục thức) làm chủ thể của sinh mạng. Phật giáo Đại thừa nói thêm hai thức nữa, tổng cộng có tám thức, và lấy thức thứ tám (đệ bát thức) làm chủ thể của sinh mạng. Ở đây, chỉ giới thiệu thuyết tám thức của Đại thừa.
Trong 8 thức của Đại thừa, thì sáu thức đầu giống như sáu thức của Tiểu thừa, và phân tích sâu hơn công năng của thức thứ sáu, nhận ra thêm thức thứ bảy và thức thứ tám.
Trên thực tế, chủ thể của 8 thức chỉ có một, nhưng do phân tích công năng mà chia thành tám. Làm ác, làm thiện là bảy thức đầu, và đem các nhân thiện, ác đó ký gửi ở thức thứ tám. Thức thứ tám là cái kho tàng chấp chứa tất cả hạt giống của nghiệp, tất cả nghiệp nhân. Người tổng quản của kho tàng là thức thứ bảy. Lấy của ra, đưa của vào kho là thức thứ 6, còn 5 thức đầu là tạo nghiệp.
Như vậy công năng của thức thứ tám là tàng trữ, nhưng không giống như ông Thần tài giữ của, chỉ nhập mà không xuất kho, ở kho tàng thức thứ tám, tình hình xuất và nhập kho nối tiếp không ngừng, nhập kho là các hành vi ảnh hưởng đến tâm lý, và để lại dấu ấn trong thức thứ tám gọi là nghiệp nhânhay chủng tử. Còn xuất kho là tâm lý dẫn tới hành vi tạo nghiệp hay cảm thụ, gọi là nghiệp quả hay hiện hành. Chủng tử thành hiện hành, đó là xuất. Hiện hành thành chủng tử đó là nhập. Trong một đời, tình hình là như vậy. Trong 2, 3 đời hay là vô số đời liên tiếp, tình hình cũng là như vậy. Tất cả mọi diễn biến nhân quả trong đời hiện tại cũng như trong vô số đời quá khứ và đời vị lai, tình hình cũng đều như vậy, đều không ra ngoài quy luật quan hệ giữa chủng tử và hiện hành. Do đó mà có tinh hình sinh tử tương tục, sinh mạng nối tiếp không ngắt đoạn.
Do quan hệ xuất nhập của chủng tử và hiện hành, tiến hành thường xuyên không ngắt đoạn như vậy, cho nên bản chất của thức thứ tám cũng là thường xuyên biến động không ngừng. Không những thức thứ tám của đời này, so với đời trước và đời sau là biến động không ngừng mà từ một niệm trước đến niệm sau, đã có biến đổi rồi. Vì tình hình của thức thứ tám là niệm niệm sinh diệt, niệm niệm biến đổi, cho nên chúng ta mới luân hồi sinh tử và đồng thời có khả năng thoát ly sinh tử. Thức thứ tám tồn tại chính là nghiệp nhân và nghiệp quả liên tục tồn tại và biến động. Ngoài sự biến động liên tục của dây chuyền nghiệp nhân nghiệp quả này, không thể tìm đâu ra thức thứ tám ! Cũng như dòng nước chảy, là do nước chảy mà có, không thể tìm đâu ra cái gọi là dòng nước chảy, ở ngoài nước ! Mục đích giải thoát của đạo Phật là cắt đứt dòng chảy sinh tử nhân quả liên tục đó. Khi tác dụng của thức thứ tám không còn nữa, thức thứ tám không còn chấp chứa gì nữa, cũng không còn hiện hành gì nữa, thì thành tựu được "tính không", thức (phiền não) chuyển thành trí (thanh tịnh), không còn bị sinh tử chi phối nữa, và trở thành tự do trong sinh tử.
3.1. Những quan điểm về Sự Chết:
Ai mà chẳng nhớ câu chuyện của nhà truyền giáo Ki Tô ở nước Anh, một buổi chiều kia ông ngồi trong sảnh đường lớn của một vị vua Saxon, bao quanh là những vị bá tước quây quần nghe giảng phúc âm của Đức Thầy mình; khi ông nói tới sự sống, sự chết và sự bất tử thì có một con chim bay vào qua cánh cửa sổ không lắp kính, lượn vòng quanh sảnh đường rồi một lần nữa lại bay ra vào trong đêm đen. Vị tu sĩ Ki Tô bảo vị vua hãy coi chuyến bay của con chim bên trong sảnh đường là cuộc sống phù du của con người và rêu rao đức tin rằng nó cho thấy linh hồn khi ra khỏi sảnh đường của sự sống không vẫy cánh bay vào đêm đen mà lại bay vào ánh sáng mặt trời chói lọi của một thế giới huy hoàng hơn. Xuất phát từ bóng tối qua cánh cửa mở rộng của Sự Sinh ra, cuộc đời của một người đã giáng thế; nó kéo dài một thời gian trước mắt chúng ta; để rồi qua cánh cửa mở rộng của Sự Chết nó lại biến mất khỏi tầm nhìn của chúng ta vào trong đêm tối. Thế là con người cứ thắc mắc mãi với Tôn giáo, Con Người từ đâu đến ? và sẽ đi về đâu ? Những câu trả lời thay đổi tùy theo đức tin. Ngày nay, nhiều trăm năm từ khi Paulinus nói chuyện với Edwin, trong giáo hội Ki Tô có nhiều người thắc mắc liệu con người có hay chăng một tinh thần vốn từ nơi đâu đến đây rồi lại đi đến nơi khác, có lẽ hơn hẳn so với bất kỳ thời kỳ lịch sử nào trên thế giới trước kia đã từng chứng kiến. Và chính những người Ki Tô hữu rêu rao rằng những sự khủng khiếp của Thần Chết đã bị bãi bỏ thì lại bao bọc những nhà táng và mộ phần với những tang lễ u ám và buồn bã hơn những tín đồ thuộc bất kỳ tín ngưỡng nào khác. Còn gì nản chí hơn sự u ám trong một căn nhà mà xác chết đang chờ được đưa ra mộ? Còn gì dễ sợ hơn những bộ áo than khóc bằng nhiễu với màu tối tăm và sự xấu xí có mục đích của cái mũ nặng nề mà người góa phụ đội xùm xụp khi “than khóc” việc chồng mình đã dứt được gánh nặng của xác thịt”? Còn gì bực mình hơn cái khuôn mặt giả vờ dài thuỗn ra của những phu đòn mai táng, những “băng tang ủ rũ”, những khăn tay trắng được sắp xếp cẩn thận và mãi cho tới tận gần đây là những áo tang trông giống như khăn phủ quan tài? Trong vòng vài năm vừa qua đã có nhiều sự thay đổi cải thiện lớn lao đáng kể. Những mũ tang, áo tang và băng tang hầu như đã biến mất. Cái xe tang ma quỉ một cách nực cười hầu như chỉ còn là chuyện của quá khứ và cái quan tài được khiên ra chất đầy hoa thay vì bị quấn trong một cái khăn phủ quan tài nặng nề bằng nhung đen. Những người nam nữ mặc dù vẫn còn mặc đồ đen nhưng không còn cuộn mình trong những bộ tang phục luộm thuộm giống vải liệm đám ma như thể cố ra vẻ khốn khổ mà mình tạo ra bằng cách tự áp đặt lên những điều bất tiện giả tạo. Hoan nghênh óc suy xét phải trái đã truất phế được hủ tục và đã không còn chấp nhận cho thêm những sự phiền toái vô cớ này vào nỗi đau tự nhiên của con người.
3.2. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
Ngay từ thời cổ đại, Kinh Vêđa mà trực tiếp là Kinh Upanishad ở Ấn Độ đã lý giải vấn đề này như sau: Brahman(linh hồn vũ trụ) được coi là thần thánh sáng tạo tất cả.Atman (linh hồn của mỗi con người, mỗi cá thể súc vật, cây cỏ, v.v.), là một bộ phận của linh hồn vũ trụ, nên về nguyên tắc nó cũng bất tử như linh hồn vũ trụ. Khi cơ thể sinh vật chết đi, atman sẽ tách khỏi cơ thể và đầu thai sang một cơ thể khác mới sinh ra, tiếp tục cuộc sống ở một kiếp khác. Kiếp sau có thể là người, là súc vật hay cây cỏ. Linh hồn cứ đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác trong một cái vòng tròn lẩn quẩn như vậy gọi là sự luân hồi (samsara: bánh xe quay tròn). Con người chịu hậu quả của hành vi của chính mình gọi là “nghiệp” (karma: hành động). Chính cái nghiệp của kiếp này quy định cuộc sống ở kiếp sau. Để giải thoát khỏi cái vòng luân hồi, nghiệp báo, con người phải dốc lòng tu luyện, từ bỏ ham muốn dục vọng để linh hồn được “siêu thoát”, tức thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể và trở về với linh hồn vũ trụ tối cao, đạt đến hạnh phúc và sự bất tử vĩnh hằng.
Phật giáo ra đời trong phong trào đấu tranh chống đạo Bàlamôn, chống lại sự phân biệt đẳng cấp, đòi bình đẳng xã hội, nên không thể không bác bỏ những luận điểm cơ bản của Kinh Vêđa và Kinh Upanishad (những bộ kinh này là cơ sở giáo lý của Đạo Balamôn, tiền thân của Ấn giáo ngày nay). Đạo Phật không thừa nhận linh hồn vũ trụ tối caoBrahman và linh hồn cá thể bất tử atmam. Theo Đạo Phật, cơ thể của chúng sinh được cấu tạo từ những yếu tố vật chất và tinh thần gọi là ngũ uẩn gồm sắc (tức vật chất gồmđất, nước, lửa, gió) và danh (gồm 4 yếu tố tinh thần: thụ, tưởng, hành, thức). Khi chết, những yếu tố này phân hủy, nên không còn cái atman bất tử. Tuy nhiên, Đạo Phật lại thừa nhận sự tái sinh ở kiếp sau và tiếp thu một số yếu tố của Đạo Bàlamôn, như sự luân hồi, nghiệp báo, sự tu luyện để đạt đến sự giải thoát ở cõi vĩnh hằng. Dù sao Đạo Phật rốt cục cũng cho rằng khi con người tu luyện đắc đạo sẽ đạt tới sự giác ngộ và thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo, lúc đó linh hồn cá thể sẽ hòa nhập vào cõi Niết bàn và trở thành bất tử, vĩnh cửu. Niết bàn là cái gì, cho đến nay cũng chưa ai biết được, có chăng cũng chỉ là sự tranh cãi về lý thuyết mà thôi.
Các tôn giáo như Kitô giáo (Christianity) do Jesus Christos sáng lập đầu Công nguyên và Hồi giáo (Islam) do Môhamet sáng lập vào thế kỷ VII đều tin vào sự bất tử của linh hồn con người. Theo Kitô giáo và Hồi giáo, khi chết cơ thể trở về đất bụi nhưng linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Đến ngày cuối cùng, được gọi là Ngày tận thế (The End of the World) hayNgày phán xử (The Day of Judgement), Thượng đế sẽ phán xét tất cả, cho những ai trong lúc sinh thời đã có lòng tin ở Thượng đế và làm nhiều điều tốt lành sẽ được phục sinh,nghĩa là được sống lại với cả thể xác và linh hồn giống như sự phục sinh của Kitô trước đây, và được lên Thiên đường. Những người khác sẽ bị đày xuống địa ngục vĩnh viễn.
Thiên đường được miêu tả trong Kinh Khải huyền, kinh cuối cùng trong toàn bộ Kinh Thánh của Kitô giáo là Thành phố Giê-ru-sa-lem tráng lệ ở trên trời, có 12 cửa thành, nền và tường thành xây toàn bằng vàng và đủ các loại ngọc quý. Những người được lên Thiên đường sẽ vô cùng hạnh phúc, sẽ trường sinh bất tử, không còn đau khổ, chết chóc. Chúa Giêxu đã mặc khải như sau:
“Tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe phía ngai có tiếng to: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại! Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên- Chúa- ở -cùng- họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”
Thiên đường cũng được mô tả một cách rất cụ thể cảm tính trong Kinh Côran: Đó là một nơi có mùa xuân bất tận, cây cối xanh tốt quanh năm với đủ các loại hoa quả, có các suối nước róc rách. Trên Thiên đường, của cải dồi dào, mọi người tha hồ hưởng vinh hoa phú quý; mỗi bửa ăn có hàng mấy trăm món ăn, thức uống, rượu vang; đặc biệt là có các trinh nữ mắt đen xinh đẹp làm vợ, các chàng trai trẻ làm nô tỳ.
Trong Kinh Kôran có đến 8 chỗ nói về các trinh nữ có mắt đen láy là phần thưởng cho những người Hồi giáo trên Thiên đường. Số lượng trinh nữ được Môhamet xác định là 72. Bin Laden từng hứa hẹn một thiên đường với các cô gái đồng trinh dành cho các phần tử khủng bố cảm tử của mình. Ngày 19 tháng 8 năm 2001, kênh truyền hình Mỹ CBS phát đi một cuộc nói chuyện với một chiến sĩ phong trào HAMAS là Muhammad Abu Wardeh, người đã tuyển mộ các phần tử khủng bố cho các vụ tấn công tự sát ở Israel. Abu Wardeh nói: “Nếu anh là một kẻ tử vì đạo, Thượng đế sẽ thưởng cho anh 70 cô gái đồng trinh, 70 người vợ và hạnh phúc vĩnh cửu”.
Như vậy, niềm tin của tín đồ Kitô giáo và Hồi giáo vào sự bất tử của cá nhân ở kiếp sau hoàn toàn chỉ dựa vào sự khẳng định trong các kinh sách như Kinh thánh (The Holy Bible, gồm hai phần Cựu ước và Tân ước) của Kitô giáo và Kinh Côran (Q’uran) của Hồi giáo và những lời hứa hẹn của các giáo chủ; thật ra không có gì đảm bảo chắc chắn là có kiếp sau và Thiên đường. Nhà triết học Pháp Blaise Pascal (1623-1662) đã từng coi niềm tin vào Thượng đế như là một canh bạc, một sự cá cược, trong đó người tin chỉ có được chứ không có mất, còn người không tin chỉ có mất chứ không có được. Pascal lập luận: Nếu bạn tin vào Thượng đế và Thượng đế thật sự tồn tại thì bạn sẽ được cả một Thiên đường hạnh phúc, còn nếu Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì cả. Còn ngược lại, nếu bạn không tin vào Thượng đế và điều không tin của bạn là đúng thì bạn chẳng được gì cả, còn nếu điều này không đúng (nghĩa là có Thượng đế nhưng bạn lại không tin) thì bạn sẽ bị trừng phạt và đưa xuống điạ ngục vĩnh viễn.
Lập luận này của Pascal trước đây đã từng được coi là chân lý thì ngày nay đã bị những người vô thần phân tích và phê phán. Một là, có vô số thượng đế được tôn thờ bởi các tôn giáo và các dân tộc khác nhau, biết tin vào vị thượng đế nào cho đúng. Cho nên, nếu niềm tin của bạn mà không đúng, thì bạn cũng không được an toàn như Pascal khẳng định. Chẳng hạn, Kitô giáo tin ở “Chúa Ba ngôi” gồm Chúa Cha, Chúa con và Chúa thánh thần; nhưng Hồi giáo thì chỉ tin ở một vị Thượng đế duy nhất, không có con cái và còn khẳng định rằng nếu ai tin ở một vị chúa nào khác ngoài Chúa Trời (như tin Chúa Giêxu) thì sẽ bị đưa xuống địa ngục. Hai là, Pascal cho rằng nếu bạn tin Thượng đế nhưng Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì, đó là một lập luận sai. Vì niềm tin không đúng mà nhiều người thậm chí đã tự nguyện hoặc bị lừa bịp bởi các thế lực tôn giáo cực đoan đánh mất cả cuộc đời của mình và còn làm hại tính mạng của vô số người khác nữa.
4. Các quan niệm về linh hồn:
Đầu tiên phải kể đến là những quan niệm dân gian về linh hồn. Linh hồn trong quan niệm của người Việt Nam có từ rất lâu đời. Được dân gian ghi chép lại qua ca dao, tục ngữ. Chẳng hạn như dân gian hay gọi “ba hồn bảy vía”, “hồn lìa khỏi xác”, “hồn xiêu phách lạc”… Hay đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng đề cập đến chuyện linh hồn trong tập truyện Kiều nổi tiếng rằng: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Nghĩa là cái chết chỉ ở thể xác bề ngoài, còn linh hồn thì vẫn là thứ tồn tại mãi mãi. Không chỉ vậy mà y học cổ truyền phương Đông cũng thừa nhận linh hồn chính là khí trong mỗi con người. Quan điểm của chúng tôi là từ xa xưa Đông y đã luôn công nhận con người gồm hai phần hồn và xác. Vì Đông y lấy thuyết âm dương và khí huyết làm chủ. Con người sống được là nhờ âm dương cân bằng và khí huyết đầy đủ. Khi người ta chết, Đông y có câu “hữu hình – hữu diệt, vô hình – bất diệt”, nghĩa là những cái nhìn thấy được – hữu hình: Xương, thịt, huyết… mất đi, vô hình: khí tồn tại vĩnh cửu trong không gian. Hơn nữa, Đông y coi Tâm là chủ thần (sự sống) khi thần mất đi là chết. Thần tồn tại được nhờ khí và huyết, do đó khi người ta tắt thở tức là tâm mất, thần và khí thoát ra ngoài, sau đó kết hợp với nhau và gọi là hồn.
4.1. Linh hồn ra đời từ đâu?:
Bằng chứng khoa học đáng ngạc nhiên nhất về linh hồn xuất phát từ lĩnh vực cơ học lượng tử – chuyên nghiên cứu về các hiện tượng hạ nguyên tử tạo ra ý thức. Khi quá trình cung cấp máu và oxy ngừng lại, sự gắn kết không còn, nhưng thông tin lượng tử không mất đi. Nó có thể phát tán vào vũ trụ, tồn tại và tiếp tục hoạt động dưới một hình thức nào đó. Nếu bệnh nhân được cứu sống, thông tin sẽ được não tiếp nhận trở lại. Có lẽ vì thế mà những người từng có trải nghiệm cận tử có thể nhận biết thế giới xung quanh khi họ bất tỉnh.
Có lẽ vì thế ý tưởng về linh hồn cũng xuất phát từ hoàn cảnh này. Con người từ thời cổ xưa, khi trải qua trạng thái ảo thân, cho rằng khi đó phần tinh thần rời khỏi phần thể xác. Từ đó, họ bắt đầu tin vào sự tồn tại bên ngoài cơ thể.
4.2. Sự đầu thai của linh hồn:
Theo Giáo sư Bruce Greyson: “Nếu người bệnh không được cứu sống, ý thức sẽ đi vào vũ trụ và biết đâu có thể một ngày nào đó sẽ được một cơ thể khác tiếp nhận trở lại”. DOPS hiện đang lưu giữ khoảng 1.400 hồ sơ về các trường hợp được cho là thuộc dạng này. Phần lớn đó đều là những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp. Các em có thể kể vanh vách trước đây mình là ai, sống ở đâu, làm gì, trông như thế nào và nhiều chi tiết khác. Đó cũng có thể là cốt lõi của câu chuyện cháu bé bị chết đuối và đầu thai ở Vụ Bản Hòa Bình? Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình còn một vài trường hợp ở huyện Lương Sơn và Lạc Sơn rất khó giải thích nổi. Có những đứa trẻ khi sinh ra chẳng đi đâu mà biết rõ gia đình nhà người khác cách hàng chục cây số như trong lòng bàn tay, như việc mình đã trải qua. Trong những trường hợp này dân gian dựa vào quan điểm Phật giáo để giải nghĩa. Phật giáo không cho rằng con người chết là hết mà có linh hồn bất tử tiếp tục đầu thai vào kiếp khác. Cứ như thế con người vào vòng luân hồi không ngừng từ đời này qua đời khác, từ kiếp này sang kiếp khác. Mặc dù vẫn chưa có lời giải đáp cụ thể về hiện tượng “đầu thai”, nhưng những câu chuyện rất khó tin lại có thật trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, đã khiến các nhà khoa học phải đau đầu.
4.3. Linh hồn và thần kinh bộ não:
Ý niệm về linh hồn gắn liền với ý niệm về đời sống sau và lòng tin về sự hiện hữu này sau khi chết. Người ta lý luận là những điều ta nghĩ hay cảm nhận được hoàn toàn không tùy thuộc vào cơ thể, nói cách khác, những bí mật khi mới sinh hay sau khi chết, những điều mình tưởng tượng ra hay trí nhớ, những nhận thức khi nằm mơ … chứng tỏ là có một lực nào đó hiện hữu mà không tùy thuộc vào cơ thể.
Tôn giáo, triết học, tâm lý học, siêu hình học cho rằng linh hồn là một phần vô hình và bất tử của con người. Theo một vài tôn giáo, như Thiên Chúa Giáo, linh hồn của con người bất tử và có thể về với thượng đế sau khi đời sống chấm dứt. Nhà thần học Ki Tô Giáo Thomas Aquinas cho là muôn loài đều có linh hồn nhưng chỉ riêng linh hồn của loài người là bất tử. Những tôn giáo khác, như Ấn Độ Giáo cũng nói là mọi sinh vật đều có linh hồn trong khi nhiều tôn giáo khác còn đi xa hơn khi cho rằng cả những vật thể khác không phải là sinh vật cũng có linh hồn (thần núi, thần sông). Tất cả các tôn giáo này được gọi là duy tâm.
Linh hồn cũng giống như nhiều lãnh vực khác trong thiên nhiên, như trọng lực, điện từ, những lực … đều là phi vật chất. Tuy vậy nhiều người vẫn còn hoài nghi về hiện tượng này. Ta lấy một ví dụ khi kỹ thuật phát thanh mới được khám phá ra, rất ít người tin là tiếng nói được phát ra mà không cần giây. Mặc dù được chứng kiến tận mắt việc biểu diễn truyền thanh, khán giả vẫn nghi ngờ là giây nối được dấu ở nơi nào đó. Phải mất cả một thế kỷ sau người ta mới quen dần với làn sóng phát thanh hay kết quả của những lãnh vực không quan.
4.4. Những kiểm chứng khoa học:
Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.
Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn“. Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…
Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước. Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.
Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.
4.5. triết lý nhân sinh và con người:
“Con người là chủ nhân vũ trụ”, nên đổi cách nói thông dụng này thành: “Con người là chủ nhân của trái đất”; như vậy cũng chỉ tạm chấp nhận được. Bởi trên không gian quả địa cầu còn nhiều cảnh giới khác nhau cùng tồn tại. Đơn cử như không gian của người âm. Con người là chủ nhân, là trung tâm. Vậy điều trọng yếu ta phải trang bị là gì nếu trước hết không phải triết lý nhân sinh. Triết lý nhân sinh là gì? Đó chính là phần cơ bản trong đạo Phật. Đạo Phật nêu ra một cách chi tiết và sinh động về các tầng trời, cõi Phật - có vẻ xa vời. Nên chỉ bàn đến điều gần nhất với con người, ấy là sự sống sau cái chết. Có hay không cõi âm? Chưa cần trực ngộ, chưa cần chau mày nhăn trán nghĩ suy; đất nước chúng ta có hẳn một Viện nghiên cứu về vấn đề này. Một nhà ngoại cảm bằng khả năng có được “từ cõi chết trở về” đã nói chuyện với hơn mười nghìn liệt sĩ, những tưởng thừa lý do để đục bỏ ba chữ “chết là hết” cùng một dấu chấm than chạm khắc trên tấm bia chấp thủ của bao người. Gần đây, Phan Thị Bích Hằng, qua sự tiếp xúc với người âm đã thấy được sự nhiệm màu: sống không tu tập, chỉ có đạo Phật mới cứu được con người bên kia thế giới. Trong một đại lễ cầu siêu, cô Hằng cũng thấy Thượng Dương hoàng hậu do sân hận với Nguyên Phi Ỷ Lan nên sau hàng ngàn năm vẫn chưa “siêu thoát”, vẫn còn chen lấn cùng chúng sinh bốc cháo và đồ vãi cúng…
Để người âm được giải thoát, người trụ lễ cầu siêu nhất thiết phải là bậc minh tu, Hòa thượng, bậc chứng quả đắc đạo… Nên siêu thoát ở đây, thiết nghĩ phải bỏ trong ngoặc kép, bởi siêu thoát đúng nghĩa phải là thoát khỏi luân hồi sinh tử, ví như lên được Tây phương Cực lạc. Có thể ví sự siêu thoát trên như một cán bộ tại cơ quan nọ trước đây làm việc trong căn phòng tối tăm chật hẹp, ẩm mốc, nay được chuyển tới gian phòng rộng, thoáng đãng sạch sẽ hơn; đó cũng có thể là tầng trời thấp nào đó, chứ chưa thay đổi cảnh giới! Mỗi cảnh giới có thời gian khác nhau. Chúng ta biết các liệt sĩ được tiếp chuyện với nhà ngoại cảm, sau mấy chục năm họ vẫn ở “tuổi hai mươi”, vẫn không già [bao nhiêu]. Biết đâu ở cõi ấy, một năm chỉ bằng một ngày ở cõi dương. Đời Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu một lần lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ, phải lòng liền cưới làm vợ. Nửa năm [ở trời] chợt nhớ cõi trần da diết nên quyết định xuống thăm bà con họ hàng. Đâu ngờ chẳng còn ai. Ngẩn ngơ hỏi han mãi mới biết người thân giờ đã trở thành thiên cổ qua bao đời. Thượng Dương hoàng hậu sau hàng ngàn năm, nhà ngoại cảm cũng thấy bà “như cũ”. Như vậy có thể người âm sau nhiều năm [ngồi chưa ấm chỗ] họ vẫn chưa đến thời điểm chịu nghiệp quả tạo tác ở đời hoặc họ đã nhận chịu sự thống khổ vô biên nhưng “bất khả lộ”, hay họ chưa phải đầu thai vào các nẻo trong lục đạo. Hoặc gần giáo lý Phật hơn, chính là do còn chấp nê thân mình; đó chỉ là sự tác động của thần thức, là “ảo” (thực tế thần thức của họ đã đi đầu thai); nếu [hồn] họ chịu tới chùa nghe kinh, nghe giảng Pháp, niệm Phật khắc sẽ thâm nhập được vào một cõi nào đó không tệ để rút ngắn thời gian cập bến bờ Tịnh độ. Các nhà ngoại cảm nói chung chưa thể nhìn thấy cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, a tu la… (phải người chứng Đạo mới thấy được). Họ chỉ mới thấy cảnh giới Thân trung ấm và “những vấn đề xung quanh”. Điều này cũng là một hạn chế lớn khi soi vào định luật nhân quả, rộng hơn là không tránh khỏi khiến ai đó hiểu không thật đúng sự vi diệu của Phật pháp. Ngay cả người thân của Phật. Vào thời điểm xảy ra chiến tranh, Mục Kiền Liên liền xuống trần gian hốt quyến thuộc của Phật vào bát mang lên trời lánh nạn; cuộc chiến chấm dứt, Ngài xuống lại trần gian đổ bát ra thì thấy… toàn máu!
4.6. Tâm và linh hồn:
Tín lý Công giáo xác tín: Thiên Chúa đã ban cho con người một linh hồn giống như hình ảnh của Ngài. Còn nhà Phật thì nói: con người có cái Tâm. Vấn nạn được đặt ra như sau: Nếu linh hồn do Thiên Chúa ban, vậy Tâm do ai ban? Nếu không do ai ban cả thì từ đâu mà có Tâm?...
Khoa thần học Công giáo luôn trung thành với phép biện chứng cổ điển, quy kết tạo vật (quả) vào một đích tối hậu, duy nhất (nhân) là Thiên Chúa. Nhưng nếu nói “Thiên Chúa”, e rằng người ngoài Kitô giáo khó chấp nhận, nên các nhà thần học thường mượn từ ngữ triết học là "Nguyên nhân đệ nhất" để ám chỉ Thiên Chúa. Từ điển và danh từ triết học của Linh mục Trần Văn Hiến Minh giải thích: "Nguyên nhân đệ nhất là nguyên nhân đứng đầu chuỗi nguyên nhân mà cái trên ảnh hưởng đến cái sau. Như thế, nguyên nhân đệ nhất là nguyên nhân không bị nguyên nhân nào trên đó ảnh hưởng tới. Thượng đế là Nguyên nhân đệ nhất". Theo học thuyết Tôma: “Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên của sự tồn tại và là cơ sở đầu tiên của mọi phạm trù Triết học.”
Nếu nói “Tâm” cũng chính là Nguyên nhân đệ nhất, chắc chắn sẽ bị số đông tín đồ Công giáo phản đối, bởi vì Tâm không thể là Chúa được... (trừ một số Kitô hữu phóng khoáng, cởi mở. Nhưng số này rất ít và thường bị Giáo hội lên tiếng chỉ trích gay gắt, hăm dọa dứt phép thông công!). Vì nếu cho rằng: Tâm cũng chính là Chúa, lập tức anh rơi ngay vào phiếm thần luận (Panthéisme). Thuyết phiếm thần cho rằng: Chúa là khởi nguyên phi nhân, nhưng không nằm ngoài tự nhiên giới, đồng nhất với tự nhiên giới. Thuyết phiếm thần hoà tan Chúa vào tự nhiên giới, bác bỏ khởi nguyên siêu nhiên của Chúa. Hay nói một cách khác: cái gì cũng là Thượng đế, tức vạn vật đồng nhất thể.
Nhưng nếu chỉ dùng luận lý học hình thức để phân biện: “Tâm” không phải là nguyên nhân đệ nhất, tất phải là đệ nhị hay đệ tam!...Và theo Từ điển danh từ triết học của Linh mục Trần Văn Hiến Minh, chính nguyên nhân đệ nhất ảnh hưởng (sanh ra) cái tâm. Trong trường hợp này, tâm chính là kết quả tất yếu (quả) của nguyên nhân đệ nhất (nhân). Còn nếu nói theo ngôn ngữ bình thường của một tín đồ Công giáo bình thường, thì chính Thượng đế đã ban cho con người cái tâm, đại để cũng giống như Ngài ban cho người Kitô giáo có một linh hồn vậy... Và nếu hiểu như thế thì Phật giáo có thể khẳng định rằng: Cái tâm đó không phải là cái Tâm (Chơn Tâm) mà Phật giáo muốn nói tới.
Nguyên nhân và kết quả được gọi tắt là nhân quả. Nhân quả là một học thuyết lớn của Phật giáo. Nhưng Phật giáo chưa bao giờ có quan niệm về cái gọi là "Nguyên nhân đệ nhất". Một nhân thường không tạo ra quả, phải có ít nhất là hai nhân trở lên mới hình thành được quả. Các yếu tố nối kết các nhân lại với nhau gọi là duyên, vì vậy nhân quả còn được gọi là nhân duyên. Thiếu duyên, các nhân trở nên vô dụng. Ngoài những duyên trực tiếp, còn có những duyên gián tiếp gọi là tăng thượng duyên. Các nhân thì nhiều vô kể, chúng bàng bạc trong khắp vũ trụ vạn hữu, chỉ cần có điều kiện duyên là chúng hiện hành, kinh Hoa Nghiêm gọi là "trùng trùng duyên khởi".
Phúc âm Kitô giáo có dụ ngôn nói về người gieo hạt: Khi mang những hạt giống ra gieo, hạt thì rơi trên đá không nẩy mầm được, hạt bị chim trời tha đi, nhưng cũng có những hạt lại rơi vào nơi đất xốp có điều kiện nẩy mầm tươi tốt... Ðứng ở góc độ hiện tượng thì đây cũng là một ví dụ rất hay về duyên. Vì nếu không có duyên, giải thích thế nào về số phận của từng hạt giống. Tất nhiên thần học Công giáo có lối giải thích riêng: “tất cả đều nằm trong sự quan phòng của thiên chúa”, lối giải thích này không có tính thuyết phục, nên giáo hội Công giáo buộc tín đồ đặt tất cả mọi quan hệ biện chứng vào một phạm trù tiên thiên: “đức tin”.
Tuy nhiên, Chơn Tâm lại không hề dính dáng gì đến nhân quả. Chẳng những đối với thuyết nhân quả, mà ngay cả những giáo lý căn bản khác như: Tứ đế , Bát chánh đạo... cũng không quan hệ: "Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức" (không ngũ uẩn)..."Vô vô minh diệc vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận" (không thập nhị nhân duyên)... "vô khổ tập diệt đạo" (Không có tứ diệu đế). "Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố" (ngay cả trí và đắc cũng chẳng quan hệ chi tới Chơn Tâm, nói chi đến thuyết nhân quả!.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói: "Này A-nan! Ta nói thuyết nhân duyên là đứng về phần sự tướng, chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chứ không phải chỉ cho Lý Tánh tuyệt đối". Lý Tánh, Tâm hay Chơn Tâm là một phát hiện độc đáo mà Đức Thích-ca-mâu-ni đã cống hiến cho nhân loại. Học thuyết nhân quả nhằm để giải thích thế giới hiện tượng, chứ không phải để thuyết minh cho Chơn Tâm (Lý Tánh).
Thắc mắc về Chơn Tâm là nhân hay quả thực ra đã có từ lâu. Ngay từ thời Ðức Phật, chính A-nan, một đệ tử xuất sắc được mệnh danh là "đệ nhất đa văn" đã mang vấn đề này ra hỏi Ðức Phật: "Bạch Thế Tôn! Cái tâm này nếu không phải tự nhiên mà có thì chắc là do nhân duyên sanh. Con hiểu như vậy có đúng không? Xin Thế Tôn Từ Bi chỉ dạy..." Nhưng Chơn Tâm không thể suy nghĩ và bàn luận được, nên Ðức Phật đã trả lời: "A-nan! Ông phải biết, cái tâm này không phải nhơn cũng không phải duyên, không phải tự nhiên, cũng không phải không tự nhiên , không cái phi , không cái bất phi, không cái thị , không cái phi thị. Nó rời tất cả các tướng, mà chính là tất cả các pháp. Như thế thời ông làm sao để tâm suy cho tới , dùng lời nói để bàn luận cho kịp và gọi nó bằng thứ gì được (Ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, ly danh tự tướng)... Nếu ông để tâm suy nghĩ và dùng lời nói để bàn luận, thì cũng như người quơ tay chụp bắt hư không , chỉ thêm mệt nhọc, chứ làm sao mà chụp bắt hư không cho được".(Kinh Lăng Nghiêm)
Ở một đoạn khác trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói với ông Phú-lâu-na: "Cái Tâm này lại rời tất cả "tức"và "phi" mà cũng là "tức" và "phi tức". Chơn Tâm như thế thì kẻ phàm phu cho đến các vị thánh: Thinh văn, Duyên giác làm sao lấy tâm trí suy nghĩ cho đến đạo Vô Thượng Bồ-đề của Như Lai, hay dùng lời nói bàn luận? của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho được?".
4.7. Sự hiểu biết hoàn toàn mới của giới khoa học “linh hồn là bất diệt”
Giáo sư Robert Lanza tại đại học y Wake Forest North Carolina, thông qua nghiên cứu đã phát hiện, trong cơ học lượng tử có đủ bằng chứng cho thấy con người không hề biến mất, tử vong chỉ là ảo ảnh được tạo thành bởi ý thức của con người.
Lanza nói: “Khi tim người ngừng đập, máu ngừng chảy, khi các nguyên tố vật chất ở trong trạng thái ngừng lại, thì ý thức con người vẫn tiếp tục hoạt động, ngoài sự hoạt động của thân thể xác thịt này, còn có những “thông tin lượng tử” khác siêu việt trên cả thân thể xác thịt, hoặc có thể nói một cách thô tục là “linh hồn”.
Lanza cũng đưa ra những luận thuật về trung tâm sinh vật (biocentrism) mà đã ủng hộ các quan điểm của ông : sinh mệnh sáng tạo ra vũ trụ, có ý thức cá nhân rồi mới có sự tồn tại của vũ trụ, thực chất về sinh mệnh và các sinh vật là trung tâm thực sự của thế giới, sau đó mới có vũ trụ, vũ trụ bản thân nó không thể tạo ra sinh mệnh; ý thức sẽ làm cho thế giới biến đổi một cách có ý nghĩa, thời gian và không gian chỉ là công cụ của ý thức nhân loại. Cách nhìn về vũ trụ này là rất gần với nhận thức về vũ trụ của tôn giáo và giới tu luyện, mà trong đó ý thức của Sáng Thế Chủ đã tạo ra vũ trụ và sinh mệnh.
Phát hiện của Lanza khiến cho sự tranh luận trong thời gian dài giữa “duy vật luận” và “duy tâm luận” trở nên vô nghĩa, từ một phương diện khác nó đã chứng minh tính chính xác của pháp lý “vật chất và tinh thần là nhất tính” trong giới tu luyện.
Người có tín ngưỡng đều tin rằng linh hồn (nguyên thần) là bất diệt, tin tưởng vào luân hồi chuyển thế, và không ít người đã từng trải qua kinh nghiệm cận tử. Hai năm trước, nhà vật lý học nổi tiếng người Anh Roger Penrose, phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu ý thức đại học Arizona của Mỹ – tiến sĩ Stuart Hameroff đã khẳng định tính xác thực của kinh nghiệm cận tử. Họ cho biết, khi người ta chết đi, các vật chất lượng tử cấu tạo nên linh hồn rời khỏi hệ thống thần kinh và sau đó tiến nhập vào vũ trụ, lúc ấy sẽ xuất hiện trải nghiệm cận tử. Khi các bệnh nhân xuất hiện kinh nghiệm cận tử, linh hồn rời khỏi cơ thể, trở lại vũ trụ, nếu bệnh nhân tỉnh lại, linh hồn sẽ lại một lần nữa quay trở về thân thể.
Tiến sĩ Hamer Rove tiến thêm một bước về nhận thức, linh hồn được cấu thành từ vật chất cơ bản nhất của vũ trụ, có thể là xuất hiện đồng thời với thời gian. Bộ não con người chỉ là bộ máy tiếp nhận và khuếch đại các ý thức nguyên lai (cấu trúc bên trong vốn có trong không gian). Nhận thức này của Hamer Rove cũng là tương đối gần với cách nói của giới tu luyện. Giới tu luyện cho rằng, bộ não chỉ là một nhà máy gia công, bản thân nó không thể tự tạo ra ý thức tư tưởng, chức năng chủ yếu của nó là tiếp nhận những tín tức từ vũ trụ và gia công thành ngôn ngữ, rồi biểu đạt ra ngoài.
Như thế rốt cuộc linh hồn tồn tại ở đâu? Giáo sư Lanza cho rằng, linh hồn không chỉ tồn tại trong vũ trụ của chúng ta, mà nó còn có thể tồn tại trong một vũ trụ khác. Năng lượng của ý thức linh hồn tại mỗi điểm có thể được chiêu hồi trở lại và đưa vào một thân thể khác. Cùng với sự việc này, nó tồn tại trong thế giới chân thực bên ngoài cơ thể vật lý, nhưng lại rất có thể sẽ là một vũ trụ khác. Cách nói này từ góc độ lập luận khoa học đã chứng minh tính chân thực của luân hồi chuyển thế.
4.8. Giới tu luyện từ lâu đã có luận định “Nguyên thần bất diệt”
Cái mà người phương Tây gọi là linh hồn, trong giới tu luyện ở phương Đông gọi là “nguyên thần”. Trong giới tu luyện, bất luận là Phật gia hay Đạo gia, đều nhận thức rằng nguyên thần là bất diệt. Một sinh mệnh chết đi, chỉ là sự tử vong của xác thịt bề mặt, linh hồn của nó sẽ lại tiếp tục chuyển sinh, tiến nhập vào sinh mệnh của một cuộc hành trình khác. Và không chỉ con người có nguyên thần, mà vạn vật đều có linh (nguyên thần). Điểm này cũng đã sớm được chứng thực bởi những phát hiện khoa học.
Ngay từ năm 1966, tại cục tình báo trung ương Mỹ, chuyên gia Cleve Backster đã sử dụng máy phát hiện nói dối để tiến hành một loạt các thí nghiệm khoa học trên thực vật, và đã xác nhận rằng thực vật không những có ý thức, mà còn có hoạt động tình cảm cao cấp, có thể phân biệt được người, ngoài ra còn có công năng siêu cảm. Thí nghiệm của Backster làm chấn động toàn thế giới, rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã lặp đi lặp lại các thí nghiệm của Backster để xác nhận tính chân thực trong các thí nghiệm của ông.
Sự khác nhau lớn nhất trong các thảo luận về sinh mệnh của giới tu luyện và các nhà khoa học chính là ở chỗ: giới tu luyện là nhìn vũ trụ từ vi quan cho tới hoành quan, xem xét nó trên cả một diện, chứ không phải chỉ một điểm. Còn các phương pháp lý luận khoa học thì bắt đầu từ một điểm (ví dụ: phân tử), rồi tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu (phân tử, nguyên tử, hạt nhân nguyên tử, proton, ….).
Vì thế, giới tu luyện cho rằng, cả một tầng các phân tử chính là một không gian, các nguyên tử tổ hợp thành phân tử lại là một không gian còn lớn hơn, vi quan hơn. Vì vậy, khi một sinh mệnh chết đi, chỉ là cấu trúc phân tử bề mặt này của cơ thể bị giải thể, tầng vi quan hơn của cơ thể (do các nguyên tử cấu thành) trong không gian nguyên tử thì vẫn còn tồn tại.
Còn về nguyên thần (linh hồn), giới tu luyện cho rằng nó mới chính là sinh mệnh chân chính vĩnh hằng, thân thể người hoặc động vật hay thực vật chỉ đóng vai trò tải thể của nguyên thần (linh hồn), là nơi để hoàn thành các quá trình sống của sinh mệnh. Đây là những gì mà mọi người thường gọi là luân hồi chuyển thế. Giới tu luyện cho rằng, một nguyên thần (linh hồn) phải xuống địa ngục chịu tội trả nợ, hay là chuyển sinh thành động vật hoặc thực vật, đều là do các sinh mệnh cao cấp hơn dựa trên những biểu hiện thiện và ác trong các kiếp sống trước của sinh mệnh ấy mà quyết định.
Về vấn đề này, ông Gia Cát Minh Dương, một nhà văn độc lập cho biết: “‘linh hồn bất diệt” là một chủ đề rất lớn, nó liên quan đến sinh mệnh, vũ trụ và luân lý đạo đức v.v… nó vượt qua lĩnh vực nhận thức của nền khoa học nhân loại. Mặc dù các luận chứng chứng minh “‘linh hồn bất diệt” của Robert Lanza và các nhà khoa học khác không chắc đã hoàn toàn chính xác, nhưng lại có một ý nghĩa rất đặc biệt, nó đã phá vỡ những điều cấm kỵ của khoa học, khiến mọi người phải suy nghĩ lại về cội nguồn của ý thức tư tưởng, nguồn gốc và ý nghĩa thực sự của sinh mệnh, mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, và những hậu quả của hành thiện và làm ác .v.v…
5.Liên kết với Thiên thượng:
Các tôn giáo trên thế giới có thực sự giống nhau không? Một cái nhìn vào Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo và Phong trào thời đại mới.
Tất cả chúng ta đều muốn đi qua cuộc sống với mức độ thành đạt nhất định, một cảm giác nào đó rằng chúng ta đã làm đúng. Và nếu như những người khác nghĩ rằng họ biết cách làm sao để cuộc sống trở nên thỏa mãn, thậm chí có ý nghĩa, thì điều đó cũng đáng để kiểm tra. Còn các tôn giáo chính trên thế giới thì sao? Liệu có điều gì trong các tôn giáo đó có thể mang lại sự ổn định và giá trị hơn cho đời sống của chúng ta chăng?
Sau đây là một cơ hội để xem xét các hệ thống niềm tin chính trên thế giới…đạo Hin-đu (Ấn Độ giáo), Phong trào thời đại mới, Phật giáo, Hồi giáo và Cơ đốc giáo.* Bao gồm sự trình bày ngắn gọn về mỗi hệ thống tôn giáo, những tính chất đặc biệt, và điều mà một người có thể nhận được từ mỗi tôn giáo đó. Sau đó tác giả trình bày về những điểm khác biệt trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu so với các tôn giáo của thế giới để bạn cân nhắc.
5.1. Đạo Hin-đu:
Phần lớn người Hin-đu tôn sùng Bản chất của vạn vật (Phạm Thiên - Brahman) thông qua vô số các đại diện nam thần và nữ thần. Những sự biểu hiện của các nam thần và nữ thần khác nhau trở nên hóa thân vào trong các thần tượng, đền thờ, các guru (cao thủ), sông nước, súc vật,v.v.
Người Hin-đu quan niệm rằng tình trạng của họ trong đời sống hiện tại là dựa trên những việc làm của họ ở kiếp sống trước. Nếu hành vi trước kia của họ là xấu xa, thì họ phải trải qua nhiều khổ cực trong đời này. Mục tiêu của người Hin-đu là được thoát khỏi quy luật nghiệp chướng ấy…để được tự do khỏi sự đầu thai không ngừng nghỉ.
Có ba con đường có thể kết thúc được vòng nghiệp chướng luẩn quẩn này: 1. Dành tình yêu cho bất cứ nam thần hay nữ thần Hin-đu nào; 2. Tăng sự hiểu biết qua việc suy ngẫm về Brahman (Thiên Phạm )… để ý thức được rằng mọi hoàn cảnh trong đời sống không phải là hiện thực, bản ngã là ảo tưởng và chỉ có Thiên Phạm mới là hiện thực; 3. Chuyên tâm với các nghi thức lễ nghi tôn giáo khác nhau.
Trong đạo Hin-đu, con người có sự tự do chọn cách hành động để hướng đến sự hoàn thiện tâm linh. Đạo Hin-đu cũng có sự giải thích về sự đau khổ và cái ác ở trong thế giới. Theo đạo Hin-đu thì đau khổ mà bất kỳ người nào phải chịu, dù đó là bệnh tật, đói ăn hay tai họa, cũng là đáng bởi vì những hành động gian ác của chính người đó, thường là từ kiếp trước. Chỉ có linh hồn mới quan trọng, và linh hồn sẽ được giải phóng khỏi vòng sinh tử và được yên nghỉ.
5.2. Phật giáo:
Người Phật giáo không thờ bất kỳ một thần hay Thượng Đế nào. Người ngoài phật giáo thường nghĩ rằng người phật giáo thờ Đức Phật. Tuy nhiên, Đức Phật (Siddhartha Gautama) chưa bao giờ tuyên bố là thần thánh, nhưng ông được người Phật giáo coi là đã đạt được điều mà họ cũng đang cố gắng đạt được, đó là sự giác ngộ tâm linh, và cùng với nó, sự tự do khỏi vòng sinh tử không ngừng nghỉ. Phần lớn người Phật giáo tin rằng con người tái sinh vô số lần, điều đó không tránh khỏi bao gồm cả sự đau khổ. Người Phật tử tìm cách chấm dứt những sự tái sinh này. Các Phật tử tin rằng chính tham, sân và si của một người gây ra những sự tái sinh này. Do đó, mục đích của một Phật tử là làm sạch lòng mình và tìm cách tiêu diệt những ước muốn nhục dục và vọng niệm (quyến luyến với bản thân).
Người Phật giáo làm theo một loạt các nguyên tắc tôn giáo và tận tụy ngồi thiền. Một người Phật giáo thiền không phải giống như cầu nguyện hay tập trung vào một vị thần, mà đó là một sự kỷ luật cá nhân nhiều hơn. Thông qua tập luyện thiền một người có thể đạt đến cõi Niết Bàn (Nirvana) – “thổi tắt” ngọn lửa dục vọng.
Phật giáo đưa ra một vài điều đúng với phần lớn các tôn giáo trên thế giới: sự kỷ luật, những giá trị và định hướng để một người có thể muốn sống theo đó.
5.3. Hồi giáo:
Người hồi giáo tin rằng có một Chúa Trời toàn năng, tên là Allah, là Đấng cao cả vô cùng và vượt trổi hơn loài người. Thánh Allah được xem như là đấng sáng tạo vũ trụ và là nguồn gốc của mọi điều thiện cũng như ác. Mọi điều xảy ra là theo ý muốn của Allah. Thánh Allah đầy quyền uy và là một quan tòa nghiêm khắc, sẽ thương xót với các tín đồ phụ thuộc số lượng việc thiện và sự sùng đạo trong đời sống của họ. Mối quan hệ của những tín đồ với Allah giống như mối quan hệ của một đầy tớ.
Mặc dù người hồi giáo tôn trọng một vài tiên tri, Mu-ha-mét được coi là vị tiên tri cuối cùng và lời nói cũng như lối sống của ông ta là thẩm quyền của con người đó. Để trở thành một người hồi giáo, một người phải tuân theo năm bổn phận tôn giáo: 1. Nhắc lại các tín điều về thánh Allah và Mu-ha-mét; 2. Đọc một số bài cầu nguyện nhất định trong tiếng Ả-rập năm lần mỗi ngày; 3. Bố thí cho người nghèo; 4. Mỗi năm một tháng kiêng ăn, uống, tình dục và hút thuốc, từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn; 5. Hành hương một lần trong đời để thờ lạy tại thánh địa Mecca. Khi chết-- dựa trên sự trung thành của một người với những bổn phận này – một người Hồi giáo hy vọng mình sẽ được vào thiên đàng, là nơi của sung sướng khoái lạc. Nếu không, họ sẽ bị trừng phạt đời đời trong địa ngục.
Đối với nhiều người, thì đạo Hồi đáp ứng được sự chờ đợi của họ về tôn giáo và Chúa Trời. Hồi giáo dạy rằng có một Chúa Trời tối cao, Đấng được tôn thờ qua các việc thiện và các lễ nghi tôn giáo hà khắc. Sau khi chết thì người đó sẽ được ban thưởng hoặc bị trừng phạt tùy theo lòng thành đối với tôn giáo của họ.
5.4. Cơ đốc giáo- đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ:
Các cơ đốc nhân tin vào một Đức Chúa Trời yêu thương là Đấng đã bày tỏ về chính Ngài và có thể được nhận biết một cách cá nhân trong đời sống này. Với Chúa Giê-xu, thì sự tập trung của con người không phải là các lễ nghi tôn giáo hay thể hiện các việc làm lành, nhưng là sự vui thích về mối quan hệ với Đức Chúa Trời và tăng trưởng trong sự nhận biết Ngài nhiều hơn.
Đức tin nơi Chúa Giê-xu, không chỉ tin những điều dạy dỗ của Ngài, là cách mà cơ đốc nhân có thể kinh nghiệm được niềm vui và một đời sống ý nghĩa. Trong đời sống của Ngài ở trên đất, Chúa Giê-xu đã không chứng tỏ Ngài là Đấng tiên tri được Đức Chúa Trời chỉ định hay là một giáo sư đem đến sự khai sáng. Hơn thế, Chúa Giê-xu xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời trong hình thể con người. Ngài làm phép lạ, tha thứ tội lỗi và nói rằng hễ ai tin Ngài sẽ được sự sống đời đời. Ngài đã công bố thế này, “Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.”1
Người cơ đốc xem Kinh thánh là sứ điệp được viết ra của Đức Chúa Trời dành cho loài người. Ngoài việc đó là sự ghi chép mang tính lịch sử về đời sống và những phép lạ của Chúa Giê-xu, Kinh thánh bày tỏ về tính cách của Đức Chúa Trời, tình yêu và lẽ thật của Ngài, và làm thế nào để một người có thể có mối quan hệ với Ngài.
Dù một Cơ đốc nhân đang đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào trong đời sống của mình, họ vẫn có thể tự tin quay về với Đức Chúa Trời quyền năng và khôn ngoan, Đấng hoàn toàn yêu mến họ. Họ tin rằng Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện và đời sống đó có ý nghĩa khi họ sống tôn thờ Ngài.
III. KẾT LUẬN:
Nhà vật lý học thiên văn người Anh, Sir Arthur Eddington tuyên bố: “Vật lý học là khoa nghiên cứu cấu trúc của ý thức”. Tương tự, Max Planck, cha đẻ của ngành vật lý học định lượng cũng viết: “Là một người cống hiến cả cuộc đời cho khoa học, nghiên cứu về vật chất, tôi có thể nói là kết quả những nghiên cứu của tôi về nguyên tử như sau: Chẳng có vật chất nào đáng kể, tất cả vật chất đều bắt nguồn và hiện hữu được do một lực, lực này gây ra những rung động của các hạt trong một nguyên tử để tạo ra liên kết những phần tử nhỏ nhất của một nguyên tử với nhau … Ta phải nghĩ tới đằng sau lực này là sự hiện hữu của một thứ gì đó, đó chính là tư tưởng, linh hồn. Chính linh hồn là động lực cho tất cả vật chất.
Alan Wolf, giáo sư môn vật lý học tại San Diego University cũng nói: “Hình như có sự hiện diện của cái gì, gọi là linh hồn hay một thứ gì ngoài thế giới vật chất. Thứ này cần thiết để giảng nghĩa cho những hiện tượng mà ta quan sát được. Và hình như chúng ta không có cách gì thoát ra ngoài sự hiện diện của nó được.
Mặc dù các nhà khoa học chưa sẵn sàng tuyên bố là họ đã tìm thấy thượng đế, cho dù không phải là thượng đế nói trong các thánh kinh của các tôn giáo, nhưng phảng phất đâu đó có những điểm nói về thế giới định lượng trong kinh thánh và vài tôn giáo đông phương. Có thể kết luận bài viết này bằng câu nói bất hủ của nhà bác học Albert Einstein.
Đạo Phật hàng ngày nhắc nhở nhân loại hãy thức tỉnh. Bộ óc của con người thật vĩ đại, ai uyên bác không chừng nạp được hết thảy kiến thức liên mạng; chỉ trừ Phật pháp. Mức độ nghiêm trọng hơn khi nhân loại gán cho đạo Phật là một tôn giáo. (Chữ giáo gắn sau Phật phải mang nghĩa giáo dục mới đúng, chứ không phải là giáo thuyết. Thật nực cười: tôn giáo [Phật giáo] lại không có giáo chủ. Đạo Phật hoàng toàn không có giáo chủ! Trong Kinh Nền Tảng Đức Tin có hai điều sau đủ thấy Đức Thế Tôn không phải giáo chủ: chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở; chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết. Phật chỉ giảng ra những điều mình thấy. Ai nghe rồi hãy hành trì và tự chứng xem có đúng không? Không đủ cơ duyên thì tự bỏ Phật, không một văn bản nào ràng buộc. Từ thời điểm 500 vị chứng quả A la hán đầu tiên do tổ Ca Diếp tập hợp để làm chứng cho việc chép lời Phật dạy, (hễ một trong 500 vị ấy bảo lời này không đúng của Phật lập tức phải bỏ ra) cho đến nay đã rất nhiều người “giấu mặt’ chứng thánh quả, vẫn chưa ai “giải thiêng” một câu Kinh Phật. “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành” - câu nói của thầy giáo Thích Ca Mâu Ni nhẹ như mây khiến những người tu cúi lạy [tượng Phật] vạn lần còn mang ơn trọng.
Các tầng cảnh giới gần như là sự đặc định từ vũ trụ. Nếu cõi người không cần pháp luật để trị ác nhân thì vũ trụ này cũng đâu cần tạo ra các tầng để ân sủng Phật và ngược lại là đọa đày chúng sinh. Phật thấy chúng sinh quằn quại trong địa ngục, nhớp nhúa quăng quật trong cõi súc sinh, giằng xé nhau trong cõi ngạ quỷ và ganh đua tham đắm trong cõi người, a tu la nên đã cùng các Bồ tát hạ mình xuống cứu vớt. Nếu chúng sinh thấy được công ơn vô lượng của các Ngài, thì sẽ không một ai lại kêu: “Sao cuộc đời lắm bất công oan trái!”. Con người không chịu tu để vói tay “lên trời” nên cứ đinh ninh “nho còn xanh quá”. Một người nông dân nghèo họ thường ăn cơm vào buổi sáng để đủ sức lên đồng; cơ may nào đó được lên phố làm việc công sở lương bổng kha khá thì chuyển qua dùng bún cho buổi sáng. Sau một thời gian dư dả họ lại tìm đến những quán ăn sáng xa xỉ hơn, dẫn đến tình trặng tìm kiếm “cảm hứng” cho vị giác. Một người tu, nhờ năng lượng của thiền định và thanh lọc tâm tịnh sáng, một thời gian họ thấy không còn nhu cầu điểm tâm sáng nữa; chuyên tâm miên mật hơn người tu trở thành một thiền sư nhập thất hàng tháng hàng năm trời không cần ăn uống. Người nông dân kia sẽ không hề chạm tay được vào niềm hạnh phúc vô bờ của người tu khi đã dứt được cái sự ăn uống. Và nhiều niềm hạnh phúc tối thượng khác như dứt phiền não, ngũ dục lục trần… những thứ mà người phàm càng cố khoanh vùng hưởng thụ càng thấy bất lực khi thời gian dành cho sự tỉnh thức của mình dần ráo cạn.
Con người - chủ nhân của trái đất lẽ nào lại phớt lờ căn cốt triết lý nhân sinh?! Không tin có đời sau là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin nhân quả báo ứng là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin luân hồi sinh tử là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin nếu tu tập đúng theo cách chỉ dạy của Phật sẽ đứng hẳn ra ngoài Tam giới trọn vẹn hết khổ đau là không muốn biết đến căn cốt của triết lý nhân sinh, v.v. Con người lẽ nào muốn trang bị tất cả những triết lý khác trước rồi mới trang bị điều căn cốt của triết lý nhân sinh?
Con Người tin sâu căn cốt triết lý nhân sinh, nghĩa là tin sâu lời Phật; sẽ không còn nghĩ ác, không còn hành vi bất thiện, dẫu cho sự nghĩ và hành vi ấy không ai nào biết đến. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm mười hai có 3 câu: “Đại hải Long Vương lúc làm mưa/ Có thể phân biệt đếm từng giọt/ Ở trong một niệm biết rõ ràng”. Hằng ngày ta vẫn giấu những việc xấu - gọi là nghiệp; và khoe khoang việc tốt, những việc liên quan đến từ thiện - gọi là đức. Mới chỉ Đại Hải Long Vương thôi trong một niệm đã đếm được bao giọt mưa trong một trận mưa, huống hồ các Bồ tát và Phật. Phật trong một niệm biết bao nhiêu lá rụng trong rừng. Tựa như lúc ta đóng ngoặc kép dòng tên một người nổi tiếng cho vào google rồi enter, trong một giây sẽ cho ra hàng triệu kết quả. Phật thấu suốt đức nghiệp của hết thảy chúng sinh. Những việc xấu ngay cả mới khởi ý niệm vi tế thôi đã có trung tâm xử lý nhân quả ghi lại. Còn với việc thiện, ta chỉ nên nói ra ở mức độ vừa phải để khơi dậy lòng tốt từ những người xưa nay chưa biết đến khái niệm “mở hầu bao” hiệp nghĩa. Hãy dè sẻn ở mức tối đa hành động thiện nguyện của mình, mà tốt nhất hãy lấy minh chứng công đức từ những người thật ta từng chứng kiến, càng gần ta và càng gần người ta muốn phục thiện càng tốt.
Sau 7 ngày thiền định dưới cội Bồ đề, Phật chứng quả đầu tiên là Túc mạng minh - thấy rõ ràng những đời quá khứ, vị lai. Cuộc đời một sinh mệnh trong Tam giới như sợi dây giăng ngang trời với vô vàn nút thắt, mỗi nút đánh dấu một kiếp, quãng giữa các nút dài ngắn tùy thuộc vào số mạng, vào các kiếp là người trần hay người trời, a tu la hay súc sinh, ngạ quỷ…. Con người nói chung đều phải bám vào quả địa cầu quay tít mù và luôn trong cảm giác lo sợ run tay mỏi gối văng vào các nẻo thấp thua. Dẫu sao, biết sợ điều ấy cũng xem như bước giác ngộ đầu tiên vậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Vũ Dương Ninh chủ biên, Lịch sử Văn minh Thế giới, nxb Giáo dục Việt nam 2012
2. Lewis M.Hopfe – Mark R.Woodward, Phạm Văn Liễn dịch, Các Tôn Giáo trên thế giới, Nxb Thời Đại, 2011
3. Tác giả TS Floyd H.Ross & GS Tynette Hills, dịch giả Thích Tâm Quang, Những Tôn Giáo Lớn trong đời sống nhân loại, Nxb Tôn Giáo, 2007.
4. Hoàng Tâm Xuyên chủ biên, Mười Tôn Giáo Lớn trên thế giới, Hà Nội Nxb Chính Trị Quốc Gia, 1999
5. Dam Bo (Dournes, Jacques) – Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) (Nguyên Ngọc dịch), tr.233-234 (Bản ebook tải từ doko.vn, truy cập ngày 31/05/2013).
6. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.134.
7. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr. 182-183.
9. Lê Quang Lâm 2004 – Nước với người Jrai – website: http://quang.chez-alice.fr/nuicao/jarainuoc.html, truy cập ngày 25/06/2013.
10. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.181.
11. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006 – Những vấn đề nhân học tôn giáo (Bài trích: Ma thuật, khoa học và tôn giáo(tr.147 – 213) – Bronislaw Malinowski, Dương Bích Hạnh dịch, Đức Hạnh hiệu đính từ Malinowski, Bronislaw, 1954 [1925] “Magic, Science and Religion” trong Magic, Science and Religion and other Essays. Garden City, N.Y: Doubleday Anchor, tr.17-92) – Tạp chí Xưa và Nay – Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, tr.178.
11. Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh, Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 2306.
12. Theo báo Gardien, thứ bảy, ngày 12 tháng 1 năm 2002
13. Carl Sagan, The Demon-Haunted World (1996),
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/sagan.htm
14. Albert Einstein the Human Side, Helen Dukas and Banesh Hoffman, eds., Princeton University Press, 1981, p. 39.
http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080308074844AA9yhPY
15. Out of My Later Years, Philosophical Library, New York, 1950.
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
16. Albert Einstein, quoted in Madalyn Murray O'Hair, All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists(1982) vol. ii., p. 29
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét