THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015
TIẾN TRÌNH PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM DƯỚI THỜI LÊ NGUYỄN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Nguyên nhân ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:
1.1. Tôn chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
2. Cuộc đời và sự nghiệp của thiền sư chân nguyên:
2.1. con đường giác ngộ và tư tưởng thiền của thiền sư:
2.2. Những tác phẩm của chân nguyên thiền sư:
2.3. Những đóng góp về văn học nghệ thuật của ngài:
3. Đào tạo kế thừa và trùng san các tác phẩm đời lý trần:
4. Phật giáo Việt Nam thời đại Lê - Nguyễn
4.1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê :
4.2 . Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài) :
4.3. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong) :
4.3.1. Thời kỳ Tây Sơn :
4.3.2. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long :
4.4. sự phục hưng phật giáo thời lê - nguyễn:
5. Thiền sư chân nguyên, người có công phục hưng môn phái trúc lâm:
5.1. những đệ tử xuất sắc của ngài chân nguyên:
5.1.1. Thiền sư Như Hiện:
5.1.2. Thiền sư Như Trừng:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
TRÌNH BÀY GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA THIỀN SƯ CHÂN NGUYÊN TRONG TIẾN TRÌNH PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM DƯỚI THỜI LÊ NGUYỄN
I. DẪN NHẬP:
Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới vì"Tất cả chúng sinh đều có Phật tính". Tuy nhiên Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.
Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình."[1] Phải nói rằng sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm là niềm tự hào lớn của dân tộc. Nó thể hiện bản sắc, cũng như tín tự chủ, tinh thần không chịu lệ thuộc bởi ngoại lai. Cũng chính sự ra đời của thiền phái này trong lúc đất nước bị quân Nguyên – Mông xâm lược đã tạo nên sức mạnh của toàn dân. Từ vua quan đều là Phật tử cho đến những người dân đều đồng lòng ra sức dẹp giặc để bảo vệ cho đất nước.
Khác với các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường,Tthiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt mang đậm tinh thần nhập thế, điều đó cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sinh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền phái đã mang những đặc điểm ấy. Vì vậy mà người viết đã chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm”. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không thể không hiểu rõ về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một của báu của dân tộc càng phải được tìm hiểu và phát huy.
Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.
II. NỘI DUNG:
1. Nguyên nhân ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:
Việc nhà Trần thay ngôi nhà Lý là vâng theo mệnh trời, vì vua Trần Thái Tông là người nhân từ, trí đức song toàn có thể lãnh đạo nhân dân giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong nước, cũng như đối phó với các thế lực ngoại bang xâm lấn và tập trung xây dựng và phát triển đất nước. Ngoài việc thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ ý chí đến hành động của toàn dân và xây dựng đất thịnh vượng, vua Trần Thái Tông còn đạt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần.
Có thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (竹林安子) phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông nhưng người khai sáng và làm rạng danh thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là đệ nhất Tổ. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì Ni Đa Lưu Chi.
Nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, về mặt văn hóa, việc xây dựng một ý thức hệ độc lập thống nhất vô cùng cấp bách. Phải thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài, thống nhất ý thức dân tộc về mặt chính trị, làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương (họ Trần) và làm phương tiện giải quyết các mâu thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo quần chúng nhân dân nhằm duy trì một trật tự xã hội và cũng tức là duy trì ngai vàng của dòng họ.
Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các Thiền phái trước đây để đáp ứng các yêu cầu của đất nước. Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc tự mình độc lập không lệ thuộc Thiền tông ở Trung Quốc, vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tông với các tín ngưỡng khác, do đó thu hút các tín ngưỡng khác. Bên cạnh đó thiền phái này cũng tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới - tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng.
Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa. Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.
1.1. Tôn chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Bằng sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, Trần Nhân Tông dùng ánh sáng chân thật đó, dung hợp ba dòng thiền đã có trước đó thành dòng Thiền Trúc Lâm, mở ra phong trào học Phật mới. Lấy tôn chỉ của thiền tông: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” làm chủ đạo, ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những lời kinh chết trong sách vở thành những bài kinh sống nơi người, chứng minh cho “Tâm Thiền” sáng ngời không có gì sai khác.
Xét kỹ, tông chỉ Thiền tông rất thực tế và gần gũi với con người, lấy “Chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tự sống vươn lên. Vì tâm mình mà không biết, vậy lo biết cái gì ở đâu xa? Thành Phật là thành ngay trong tâm tính mình đây thôi, không phải thành ở trên núi cao, trên cõi trời xa xôi, chỉ cần mình xoay lại chính mình, thì ngay đó là bờ mé (Hồi đầu thị ngạn). Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng người, nâng cao giá trị con người, cũng là lý bình đẳng với tất cả, vậy sao không khai thác?
Tôn chỉ của Sơ Tổ thể hiện rất rõ trong bốn câu kệ cuối của bài phú Cư trần lạc đạo: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc san hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no mệt ngũ liền, Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.). Đoạn kệ trên nói lên tinh thần nhập thế tùy duyên mà hành đạo trong bốn quan điểm: 1. Hãy nên sống hòa mình với đời không chấp trước, mọi sự ở đời đều có nhân duyên của nó và hãy tùy duyên mà sống vui với đạo. 2. Hành động tùy duyên tức là làm việc cần phải làm, đúng lúc, đúng thời không trái với quy luật tự nhiên. 3. Tự tin nơi chính khả năng của của mình mà không tìm cầu một sự trợ lực nào từ bên ngoài. 4. Khi tâm đã sáng tỏ thì không còn nô lệ vào những điều trong giáo lý và cũng không lệ thuộc kinh điển.
Đúng là thiền tông chỉ thẳng “Ngay trong đây, lúc này, người này thôi”, rất hiện thực không có gì xa xôi, mập mờ hẹn lại kiếp nào khác. Nghĩa là mình sống trong giờ phút hiện tại qua từng cử chỉ hành động, từ những việc cỏn con cho đến những việc lớn đều sống trong chánh niệm tỉnh giác như vậy là thiền. Sơ Tổ khuyến cáo người tu hành tùy duyên nhập thế để làm lợi ích cho đời, vì chúng sinh còn nhiều đau khổ, nhiều người chưa biết Phật pháp, chưa biết trong nhà của mình có báu vật mà không biết khai thác. Trên tinh thần dù có sống giữa thế gian này nhưng vẫn vui với niềm vui của đạo, Sơ Tổ đã vân du khắp đó đây đễ giảng dạy Phật pháp. Tinh thần nhập thế này đã được những người nối truyền dòng phái cũng áp dụng làm cho Phật pháp lúc bấy giờ được hưng long như một quốc giáo của Đại Việt. Bản thân Trần Nhân Tông sau khi xuất gia và hóa đạo mà vẫn lo việc nước việc dân trong giai đoạn vua Trần Anh Tông trị vì. Bằng chứng sự kiện gả Công chúa Huyền Trân và sát nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý vào cương thổ Đại Việt đều có sự chỉ đạo của Tổ Trúc Lâm. [3] Cho thấy tinh thần nhập thế của Phật giáo đời Trần thể hiện qua sự hành đạo của các vị tổ Trúc Lâm là “Phật pháp bất ly thế gian pháp”.
2. Cuộc đời và sự nghiệp của thiền sư chân nguyên:
Trong dòng chảy của Thiền học Việt Nam, một trong những người có công lớn trong công cuộc phục hưng môn phái Trúc Lâm ở thế kỷ XVII là Chân Nguyên thiền sư. Chân Nguyên là một tác gia lớn của nền Thiền học nước nhà; tuy nhiên, do nhiều vấn đề trong nghiên cứu lịch sử còn chưa thật rõ ràng, nên có ít công trình tìm hiểu về tư tưởng thiền học của ông. Theo những ghi chép còn lại của môn đệ Như Sơn thì Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, người làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1647, lúc nhỏ theo con đường cử nghiệp, học với cậu mình là một vị giám sinh. Ông có tư chất thông minh, hạ bút thành văn. Đến năm 19 tuổi, nhân đọc quyển Tam tổ thực lục, đến đoạn nói về thiền sư Huyền Quang, ông thấy “cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, nữa mình là một anh học trò”, từ đó bèn phát nguyện đi tu.
Thoạt đầu, ông lên chùa Hoa Yên yết kiến thiền sư Chân Trụ Tuệ Nguyệt xin theo học. Sư Tuệ Nguyệt hỏi: “Ngươi ở đâu mà đến đây?”. Ông thưa lại: “Vốn không đi lại”. Sư Tuệ Nguyệt biết người này sau sẽ thành đạo, bèn đặt tên cho là Tuệ Đăng. Sau do thiền sư Tuệ Nguyệt mất sớm, nên ông cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm phát nguyện tu hạnh đầu đà để tham vấn Phật pháp. Du phương tham học được một thời gian, Như Niệm đổi ý, trở về trụ trì chùa Cô Tiên. Còn lại một mình, ông bèn đến núi Côn Cương làng Phù Lãng, tham vấn thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc, vốn là đệ tử của thiền sư Chuyết Chuyết thuộc dòng thiền Lâm Tế ở Trung Quốc.
Sau khi đắc đạo, Minh Lương đã đổi pháp hiệu cho ông là Chân Nguyên. Như vậy, trên danh nghĩa, sư thuộc dòng thiền Lâm Tế, kế tục sự nghiệp hoằng pháp của thiền sư Chuyết Công Viên Văn (1590-1644) và thiền sư Minh Lương trước đó, mở đường cho thiền phái này ghép mình vào truyền thống của thiền phái Trúc Lâm. Cuộc đời hành đạo của Chân Nguyên đã nở hoa sau khi chứng đắc. Liền một năm sau đó, Chân Nguyên lập đài Diệu pháp liên hoa và thỉnh tượng Phật Thích Ca, Di Đà và Di Lặc về để làm chay phóng sinh thí thực. Để tỏ rõ lòng thành của mình, Chân Nguyên đã đốt hai ngón tay cúng dường Phật pháp, thọ Bồ tát giới. Đến năm 1648, ông dựng đài Cửu phẩm liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm. Năm 1692, lúc 46 tuổi, ông được vua Lê Hy Tông mời vào cung để tham vấn Phật pháp. Do ngưỡng mộ tài đức của Chân Nguyên, vua phong ông là Vô thượng công. Sau sư được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, hai ngôi chùa lớn nhất của phái Trúc Lâm bấy giờ. Năm 1722, lúc Chân Nguyên đã 76 tuổi, vua Lê Dụ Tông phong cho sư chức Tăng thống và ban hiệu là Chính giác hòa thượng. Ông mất năm 1726, thọ 80 tuổi.
Trong suốt cả cuộc đời hành đạo của mình, Chân Nguyên không chỉ đóng góp về phương diện xây dựng, tôn tạo nhiều công trình kiến trúc Phật giáo có ý nghĩa, mà về phương diện học thuật, ông cũng để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu như các tác phẩm được viết bằng chữ Hán: Tôn sư phát sách đăng đàn thọ giới, Nghênh sư duyệt định khoa, Long thư tịnh độ văn tự, Long thư tịnh độ luận bạt hậu tự, Tịnh độ yếu nghĩ, Ngộ đạo nhân duyên. Các tác phẩm được viết bằng chữ Nôm có: Thiền tịch phú, Thiền tông bản hạnh, Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Đạt Na thái tử hạnh, Hồng mông hạnh.
2.1. con đường giác ngộ và tư tưởng thiền của thiền sư:
Trước tiên, ngài tìm đến chùa Hoa Tiên, học đạo với Thiền Sư Chân Trụ, được pháp danh là Tuệ Thông, nhưng vì Chân Trụ mất sớm, bèn cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm đi tham học, thực hành hạnh đầu đà, không ở một chỗ nào nhất định, du phương tham vấn thêm Phật Pháp. Sau đó, Như Niệm bỏ cuộc về trù trì chùa Cô Tiêu. Tuệ Thông bèn đến núi Côn Lương làng Phù Lãng tham kiến thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc, vị nầy đệ tử của Thiền Sư Chuyết Chuyết, và được Minh Lương đặt cho tên là Chân Nguyên. Chữ Chân này là chữ thứ hai trong bài kệ truyền pháp của ngài Minh Hành.
Minh Chân như tính hải
Kim Tường Phổ chiếu thông
Chí đạo thành chánh quả
Giác Ngộ chứng chân không.
Dịch:
Thấy chân như biển rộng
Ánh vàng chiếu vô cùng
Đạt đạo thành chánh quả
Giác ngộ chứng chân không.
Theo sách Kế Đăng Lục nói rằng “một hôm ông tham vấn Minh Lương về một điều thâm diệu trong Phật Pháp, thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt ông một hồi lâu nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên”.
Ngọc xinh ẩn trong đá
Hoa sen nẩy tự bùn
Nên biết tìm giác ngộ
Nơi sinh tử trầm luân.
(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch
Liên hoa xuất ư nê
Tự tri sinh tử xứ
Ngộ thị tức bồ đề)
Trước khi được tham vấn Minh Lương, Chân Nguyên đã từng tu tập nhiều nhất trong việc dụng công về Thiền, có lẽ là Công Án mà Bách Trượng Thiền Sư (724-814) trao cho Hương Nghiêm. “Hãy nói cho tôi nghe về mặt mũi của chính ông khi mà ông chưa được cha mẹ sinh ra ?
Sau nhiều tháng năm tra vấn với nội tâm, đập tan những lớp phấn sơn bao bọc Vô Minh, cuối cùng mọi lẽ nhiệm mầu bỗng chốc bừng lên, khi được đôi mắt sáng như điện xẹt của Minh Lương chiếu thẳng, quét sạch những tàn dư đang ẩn núp trong tận cùng ngõ ngách, bóng đêm bị đẩy lùi ra khỏi ngưỡng cửa thời gian, ông vụt trong thấy toàn cõi tử sinh trong chốc lát mà không cần phải đi qua thứ lớp, tất cả mọi hiện tượng chứa đầy trong đôi mắt, cứ việc đem ra mà dùng, tìm cầu giác ngộ ở bên ngoài chỉ luống công, nhọc sức, nấu cát thành cơm. Công Án nầy Chân Nguyên có diễn tả trong sách Thiền Tông Bản Hạnh.
Thuở xưa trời đất chưa sanh
Cha mẹ chưa có thật mình Chân Không
Chẳng có tướng mạo hình dung
Tịch quang phổ chiếu viên đồng thái hư.
Quan niệm về Thiền của Chân Nguyên, có nhiều sắc thái đặc biệt mới lạ hoàn toàn dung hòa giữa hai nền tâm linh của Ấn Độ, và Trung Hoa, tổng hợp trở thành tư tưởng Thiền có nhiều tính chất của Dân Tộc, ngài khai thác nội tâm mang đầy bản tính hiền hòa chất phác của người Việt, không nặng về quan niệm đẩy kẻ ấy rơi vào ngõ bí không lối thoát, nhưng ngài cho thấm nhuần và thấy được giá trị tuyệt vời của nó, một cách từ từ như đi trong sương ướt áo, dù trời không mưa. Chân Nguyên chủ trương then chốt của việc đạt được giác ngộ là thắp sáng liên tục ý thức của mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên” đó là nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức trọn vẹn được điều này tất cả những tương quan hành động, ý tưởng của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ mà không cần phải suy luận đắn đo, không một cử chỉ nào là không phù hợp với chân lý mầu nhiệm, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý dù tiếp xúc với trần cảnh như vào ngôi nhà rỗng không, chẳng có gì ràng buộc tạo được nghiệp sinh tử. Chân Nguyên đề cập điều này rất nhiều lần trong Thiền Tông Bản Hạnh.
Hậu học đã biết hay chăng
Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời
Thiêng liêng ứng khắp mọi nơi
Lục căn vận dụng trong ngoài thần thông.
Chân Nguyên cũng lưu ý cho chúng ta, về vấn đề ngôn ngữ, theo ngài chỉ là phương tiện để đối trị lại những đảo điên mà ta đang trực diện. Ngài viết: “Xử dụng ngôn thuyết là việc bất đắc dĩ, phải dùng phương tiện để đối trị vọng tưởng của chúng sanh. Nếu không tùy trường hợp mà đối trị những vọng tưởng ấy, tức là không thể có giáo pháp. Mà không có giáo pháp thì không có Phật cũng không có Tăng. Tam Bảo đã không thì không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, cũng không có pháp được thuyết. Giáo Pháp đã từ nhân duyên mà có thì cũng chỉ là phương tiện để làm trẻ con nín khóc mà thôi, đâu phải là chân thực. Người ngu phu thì cần nhiều kinh điển, nhiều giáo pháp, bậc thượng trí thì chỉ cần một tiếng hét hay một nụ cười cũng có thể đốn ngộ tự tính.”
2.2. Những tác phẩm của chân nguyên thiền sư:
Chân Nguyên Thiền Sư là một cây bút lớn ở nền văn học thế kỷ thứ 17. Số lượng sáng tác của ngài khá nhiều, những tác phẩm sau đây đã được tìm thấy.
1- An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh – đã được tái bản đến 3 lần, 1745, 1805 và 1932
2- Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh in 1850
3- Ngộ Đạo Nhân Duyên
4- Đạt Na Thái Tử hành, năm 1838
5- Hồng Môn hành, năm “Minh Mạng vạn vạn niên”
6- Thiền Tịch Phú năm 1932
Đó là những tác phẩm bằng quốc âm. Sau đây là những tác phẩm bằng Hán Văn.
7- Tôn sư phát sách đăng đàn thọ giới in 1748
8- Tịnh độ yếu nghĩa in ba lần 1747, 1851, và 1860
9- Nghênh sư duyệt định khoa in lại 1887.
Ngoài ra ngài còn viết tựa một số các kinh sách khác do ngài chủ trương hay người khác đứng in như:
- Long thư tịnh độ văn tự
- Trùng san Long thư tịnh độ luận hậu bạt tự.
Đó là những tác phẩm đã được tìm thấy, ngoài ra còn nữa chúng ta chưa khám phá ra. Và sự phát hiện bản in Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh năm 1850. Trước đó đã bị liệt vào loại khuyết danh, đã có những công cuộc nghiên cứu hai tác phẩm phổ biến trong nhân gian có một vài tư liệu phân tích về dữ kiện ngôn từ, ảnh tượng và ý tưởng cho rằng rất có thể tác giả là Chân Nguyên, đó là Quan Âm tống truyện và Phạm Tải Ngọc Hoa. Chúng ta thử đi sâu vào một vài tác phẩm của Chân Nguyên, chẳng hạn như Thiền Tịch Phú: Đây là bài Phú Nôm về Chùa Long Động mang nhiều sắc thái và từ ngữ thuần túy Việt Nam. Bài này được chùa Long Động bảo quản và được Thiền phố phiên âm và in trong Đuốc Tuệ số 7 ra ngày 21-1-1936 tại Hà Nội.
2.3. Những đóng góp về văn học nghệ thuật của ngài:
Chân Nguyên trưởng thành trong thảm trạng, phân hóa chia rẽ, và là bãi chiến trường đẫm máu của những dòng họ thống trị quan liêu, chỉ lo củng cố địa vị, và tạo nên những cảnh tang thương tang tóc, do những tàn dư cuộc nội chiến để lại. Chân Nguyên không thể nào không cảm thấy xót xa trước sự đen tối của đất nước, và những nỗi khổ của dân tộc, mà Chân Nguyên đã chứng kiến tận mắt. Một thanh niên “thông minh, hạ bút thành văn” như Chân Nguyên làm sao an tâm trước những hiện tượng này. Lúc bấy giờ chỉ còn hai phương pháp để giải quyết cho những người trai mới lớn, một là tiếp tay với những kẻ thống trị, để tiếp tục tạo thêm những thảm cảnh tang thương cho dân tộc, và hai là đi làm kẻ chống lại những thế lực cai trị. Nhưng Chân Nguyên đã có cái may mắn hơn nhân đọc cuốn “Thực Lực sự tích Trúc Lâm đệ tam Tổ Huyền Quang” mà Chân Nguyên tìm thấy được con đường cần thiết để dấn thân. Huyền Quang đã từng đỗ Trạng Nguyên, nhưng chán mùi công danh phú quý, nên quyết chí đi tu. Nhờ đó, làm cho Chân Nguyên cảm thấy lại thân phận của mình là chọn con đường như Huyền Quang đã chọn đi vào nẽo xuất gia. Đây là một giải pháp hay nhất, cho việc phát huy đời sống tâm linh an lạc cho chính mình và đồng thời có nhiều cơ hội để chia xẻ những thống khổ của Dân Tộc, hành động của Chân Nguyên được kể như một lối thoát tuyệt hảo. Sau nầy trong Thiền tôn Bản Hạnh Chân Nguyên đã minh định sự bế tắc của xã hội và sự xuất gia của mình có đóng góp cho xã hội nhiều không? Và trong thơ văn của ngài hãy còn vấn vương những nỗi đau thương trong cuộc đời mà ngài đã cảm nhận. Những ưu tư vẫn còn tiềm ẩn trong quảng đời của Chân Nguyên.
Ròng ròng nước mắt nhỏ sa
Một là tiếc đạo hai là thương dân.
Chân Nguyên đã chọn vị thế của mình là đứng trên lập trường của người dân để diễn tả những thảm cảnh nghèo đói, đau khổ mà người dân đang gánh chịu không một lời kêu cứu. Những cảnh tượng này đã từng phủ lên đầu Dân Tộc, từ khi lập quốc cho đến bây giờ luôn sống trong lầm than đen tối, qua những cuộc thống trị đô hộ của Tàu và Pháp. Chân Nguyên diễn tả trạng huống này với giọng thơ bùi ngùi xót xa cho duyên số của Dân Tộc của con người.
Cơm thời chẳng có ăn rày
Áo thời thuở này chẳng có che thân
Cùng là gầy guộc tay chân
Tối thui què quặt muôn phần xót xa.
Và ngài cũng đã đề cập đến nỗi căm phẫn đối với những con người chỉ biết sống trên nỗi đau khổ của đồng loại.
Người ấy ở nết chẳng lành
Cậy cả tranh hành , thấy bé dễ đuôi
Mình nhiều dễ kẻ mồ côi
Cậy giàu để loại đói khờ cười chê.
Đồng thời Chân Nguyên còn thay thế tâm trạng những người áp bức nói lên những ước mơ bình dị, như tâm hồn thanh thản của Dân Việt. Chỉ thích sống một cuộc sống an vui, không xây đắp hạnh phúc của mình trên những đau khổ của kẻ khác, tình thương mến lẫn nhau là một trong những đặc tính của người Việt, dù vẫn có những kẻ đã xử dụng và biến đặc tính này trở nên một thứ tính hung hãn tàn bạo khác, tuy nhiên chắc chắn sẽ bị bánh xe lịch sử của Dân Tộc nghiền nát như chính thân phận của họ sẽ bị tàn phá khủng khiếp bởi thời gian. Chân Nguyên nói lên ước mơ của người dân như sau:
Tích lấy tài bảo làm chi
Cho hay của ấy thật thì của chung
Lòng tôi chẳng muốn Bắc Nam
Lấy làm bốn bể anh em một nhà.
Chân Nguyên đã được huân tập một thứ Thiền do vị vua Trần Nhân Tông khai sáng, mang đặc thù của Dân Tộc là dấn thân trong xã hội để phụng sự con người, đóng góp trong công cuộc phát huy và duy trì văn hóa, đặt sự tồn tại của Dân Tộc trong ý lực vượt thoát tử sinh của mình. Phật Giáo Việt Nam vốn đã gắn liền với vận mạng thịnh suy của Dân Tộc vì thế hầu hết những vị Thiền Sư Việt Nam đã cống hiến cuộc đời mình cho đất nước, nhất là thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần là những thời đại vàng son nhất của Dân Tộc và Phật Giáo.
Thiền Việt Nam vượt hẳn Thiền Trung Hoa ở điểm không nhắm đến việc chỉ biết lo giải thoát cá nhân. Nên Chân Nguyên ước mơ tiếp thu huân tập thật nhiều ý thức Thiền phái Trúc Lâm để tạo lại ý thức mới trong bối cảnh xã hội bây giờ, cứu vãn lại những gì đã đổ vỡ băng hoại, trên tinh thần vượt thoát của Phật Giáo.
Dù rằng Chân Nguyên không thành công nhiều trong việc hoán chuyển thực trạng lúc bấy giờ, nhưng ông dám khơi dậy ý thức này quả cũng vĩ đại và khác thường rồi. Chân nguyên đã đặt nỗi khổ đau của Dân Tộc như chính nỗi đau trầm thống của riêng mình, chính từ quan điểm ấy tạo cho Chân Nguyên dám đương đầu trước những biến thiên thời đại, và ông đã tạo nên bầu không khí tươi mát hào hứng cho nhiều người. Ngô Thời Sỹ đã nhắc đến tên ngài với niềm ái mộ sâu xa, và phải chăng đã truyền lại những gì mà Chân Nguyên chưa thực hiện được cho người con lỗi lạc của mình là Ngô Thời Nhiệm sau này? Chính Chân Nguyên đã dựng nên luồng sinh khí mới này và nó đã châm ngòi nổ tung trong con người Ngô Thời Nhậm.
Đồng thời Chân Nguyên cũng đã xây dựng Đài Diệu Pháp Liên Hoa tại chùa Vĩnh Phúc, và đài Cửu Phẩm Liên Hoa tại chùa Quỳnh Lâm.
Chân Nguyên quả là nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ thứ 17 đúng với sự ca ngợi “thông minh, hạ bút thành văn” ngài đã đóng góp nhiều trong mọi lĩnh vực mà chắc hẳn chúng ta không bao giờ phủ nhận và quên được công nghiệp vĩ đại này.
3. Đào tạo kế thừa và trùng san các tác phẩm đời lý trần:
Chân Nguyên đã đào tạo người tiếp nối và đầu tư sự nghiệp giáo dục vào những đệ tử của ngài. Việc làm nầy của ngài có phương sách truyền đăng tục diệm, khai thác và duy trì khía cạnh văn hóa. Chân Nguyên ý thức mãnh liệt về văn hóa vì đó là yếu tố cơ bản quan trọng trong việc hướng dẫn tri thức của con người tìm tới đỉnh cao của suy tư và hành động, từ đó tạo nên những quan niệm thăng hoa con người trước những bao phủ đen tối. Đồng thời hoán chuyển tạo dựng xã hội đặt đúng vị trí của những chủ trương do văn hóa ấy tác động. Nó là đạo quân chinh phục xã hội một cách nhanh nhất và hiệu năng lâu dài nhất. Thân xác con người đã chôn vùi dưới mặt đất cả mấy trăm năm nhưng gia tài văn hóa đã để lại khó mà tan rã, nó sẽ bàng bạc thấm nhuần vào tư tưởng của mấy mươi thế hệ sau. Minh chứng của lịch sử đã cho chúng ta có một quan niệm vững chải về điều này. Có như thế Tần Thủy Hoàng mới chôn sống học trò và đốt sách vở. Có lẽ người ta quá sợ hãi giá trị ảnh hưởng của văn hóa nên đã không ngần ngại tìm cách tiêu hủy những tiềm năng này. Và có những thực trạng trái ngược, nhưng tùy theo người viết hoán cải nó và một vài năm sau thực trạng trước đó đổi thay theo ngòi bút của họ. Điều quan trọng đòi hỏi người xử dụng cây viết phải trung thực và đem lại an vui cho đồng loại. Điều này hoàn toàn tùy thuộc về mức độ tri thức của những quan niệm.
Chân Nguyên là người ôm ấp hoài bão và ý thức thâm thiết về đạo quân Văn hóa nên ngài đã ươm mầm vào những đệ tử và rèn luyện họ trở nên những người đem đóa hoa tâm linh truyền trao cho nhân thế, và thắp sáng hiện hữu bằng ngọn đuốc sáng rực mà ngài đã gởi gắm phó thác, có lẽ ngài là người thực hiện điều này có phương sách lâu dài hơn. Chân Nguyên có rất nhiều đệ tử xuất sắc, đặc biệt ta phải kể đến Thiền Sư Như Hiện và Như Trừng. Như Hiện được kế thừa y bát của phái Trúc Lâm và Như Trừng dựng Thiền phái lấy tên là Liên Tông, sau nầy hai phái tổng hợp làm một, góp phần tích cực vào việc khôi phục những tác phẩm đời Trần.
Như Hiện xuất gia năm 16 tuổi, vào năm 1730 các chùa do ngài trông coi như chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm được chúa Trịnh Giang trùng tu. Và năm 1748 ông được vua Lê Hiến Tông ban chức tăng cang, và năm 1757 được sắc phong Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng.
Thiền Sư Như Trừng vốn là một vị vương công họ Trịnh tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương. Ông được vua Hy Tông chọn làm phò mã và gả công chúa thứ tư. Sau đó ông dâng sớ xin đi tu được sự chấp thuận của vua. Khi còn là Sa Di Như Như, ông có viết các bài Ngũ Giới và Thập Giới Quốc Âm.
Công tác trùng san những tác phẩm đời Lý Trần
- Thuyền Uyển Tập Anh Ngữ Lục, tác phẩm nầy bắt đầu vào đời Lý, do nhiều người biên soạn, trong số những vị có công là Thiền Sư Thông Biện, Thường Chiếu, Thần Nghi, Và Ẩn Không. Bản in cổ nhất còn lại là bản in năm 1715 do Thiền Sư Như Trí thực hiện trong khi Chân Nguyên còn sống.
- Kế Đăng Lục: Do Thiền Sư Như Sơn chùa Hồng Phúc soạn, dưới sự bảo trợ của vua Lê Thuận Tông, khắc bản năm 1734.
- Thánh Đăng Lục đã được trùng san ba lần do Chân Nghiêm, Chân Nguyên và Tính Lương.
- Thượng Sỹ Ngữ Lục, sách do Pháp Loa biên tập, Trúc Lâm Điều Ngự khảo đính và Trần Khắc Chung đề bạt. Sách in nhiều lần vào đời Trần và sau Tuệ Nguyên Chùa Long Động trùng san.
- Khóa Hư Lục do Trần Thái Tông soạn, và Tuệ Hiền sau này thực hiện.
- Tam Tổ Thực Lục
- Đại Nam Thuyền Uyển Truyền Đăng Tập Lục
Sự nghiệp của Chân Nguyên lưu lại cho hậu thế vô cùng to lớn. Ngài có công phục hưng lại Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Ngài đã từng được vua Lê Hiến Tông ban cho mỹ hiệu Vô Thượng Công, vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng Thống ban hiệu Chính Giác Hòa Thượng năm 1722, Thiền Sư tịch năm 1726 hưởng thọ 80 tuổi, ngài để lại bài kệ truyền pháp được chép ở sách Kế Đăng Lục.
Hiển tích phân minh thập nhị thì
Thử chi tự tính nhậm thi vi
Lục căn vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành chính biến tri
Chân Nguyên còn lưu lại một bài thơ hay nhất, và đẹp nhất.
Nói ra là bị kẹt
Không nói cũng chẳng xong
Vì anh đưa một nét
Đầu núi ánh dương hồng.
(Hữu thuyết giai thành bảng
Vô ngôn diệc bất dung
Vị quân thống nhất tuyến
Nhật xuất lĩnh đông hồng)
4. Phật giáo Việt Nam thời đại Lê - Nguyễn
Dựa vào lịch sử nước nhà ta cũng chia lịch sử Phật giáo ViệtNamra làm 3 giai đoạn :
4.1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê :
Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần. Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15). Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách đồng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt.
Mười ba năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê. Thế nhưng triều đại Hậu Lê là triều đại độc lập chính trị đầu tiên của Việt Nam đã bỏ rơi nền văn hóa dân tộc độc lập, đã bỏ rơi truyền thống dung hợp, khai phóng nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh và phú cường để chạy theo một cách chính thức và toàn diện nền văn hóa ngoại lai đã từng được quân xâm lăng Trung hoa đô hộ áp đặt nhưng không thành công. Mặc dầu năm 1424 vua Lê Thái Tổ có mở kỳ thi khảo hạch tăng đạo, người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành, ai hỏng thì phải hoàn tục (quả thật là một lối xét định kiến thức và đạo đức của tu sĩ Phật giáo một cách từ chương như là một biện pháp nhằm đàn áp và tiêu diệt Phật giáo một cách quy mô và toàn diện hơn). Ngoài ra có những lúc triều đình cũng tổ chức những buổi rước Phật (năm 1934), xuống chiếu ra lệnh cho bá quan văn võ ăn chay (1448, 1449) để đến chùa cầu mưa, nhưng những hình thức đó chẳng qua được xem như là một thứ đạo phù thủy dùng để cúng tế cầu đảo. Một tinh thần văn hóa ngoại lai mang đậm bản chất độc tài, độc tôn, độc đoán, hẹp hòi cố chấp và bảo thủ đã thể hiện rõ nét trên con người của vua Lê Thái Tổ khi sai bắt giết hai đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn (khiến Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử) và Phạm văn Xảo, rồi sau đó cùng một số nho thần ích kỷ với bản chất nô lệ từ tâm hồn đến tư tưởng đã vu hãm vô cùng hèn mạt để giết Nguyễn Trãi và giết sạch 3 họ nhà ông. Quả thật một chế độ khắc nghiệt và tàn bạo thể hiện đúng bản chất độc tài chuyên chế của Tống Nho phi nhân, nô lệ văn hóa ngoại lai, khác với truyền thống của dân tộc Đại Việt đã từng tha chết cho tên giặc cướp Nùng Trí Cao và vua Chiêm Thành Chế Củ đời vua Lý Thái Tông, rồi đời vua Trần Thánh Tông cũng đã từng tha chết khoan dung cho cả quan quân công tác với quân Mông Cổ, kể cả đoàn quân bại trận trong 2 thời kỳ chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288.
4.2 . Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài) :
Sau thời gian bị suy thoái dưới thời Hậu Lê và nhà Mạc, đến thời chúa Trịnh Phật giáo bắt đầu phục hưng. Từ năm 1533 Phật giáo hồi sinh bởi công lao của các Thiền sư :
+ Thiền phái Tào Động : Vào khoảng 1575 – 1599 thiền sư Thủy Nguyệt, người Thanh Triều, Thái Bình là đời 36 phái Tào Động tại Trung Hoa và là Sơ tổ phái Tào Động Việt Nam ở đàng Ngoài.
+ Thiền sư Chuyết Chuyết tên là Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 tại quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa. Từ Trung Hoa vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 vào năm 43 tuổi, Ngài mất Rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi. Sau khi tịch được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Ngài thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương (người Đại Việt).
+ Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết. Thiền sư là viện chủ chùa Phật Tích (năm 1643), đến năm 1644 khi sư phụ mất ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Thiền sư thị tịch vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Trước khi tịch Ngài có để lại một bài kệ được dùng để đặt pháp danh cho các thế hệ kế thừa của Thiền phái Lâm Tế ở đàng ngoài.
+ Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với Thiền sư Chân Trú (là đệ tử của Thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng. Sau khi Chân Trú mất, ông tu hạnh đầu đà du phương cầu học, sau đó đến tham học với Thiền sư Minh Lương (đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên. Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Thiền sư cùng chúng đệ tử là những người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, phục hồi nền văn học nước nhà : trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh (1715), soạn Kế Đăng Lục (1734), Thiền Tông Bản Hạnh, trùng khắc Thánh Đăng Lục (1750), Khóa Hư lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763), Tam Tổ Thực Lục (1765)... Năm 1722 lúc 76 tuổi Thiền sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu là Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726 trong tư thế kiết già, Ngài tịch vào tháng 10 âm lịch thọ 80 tuổi.
Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, năm 18 tuổi đậu cử nhân được tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn, sau đó làm Tri phủ Triệu Phong Quảng Trị. Năm 25 tuổi tham học đạo Phật với Thiền sư Viên Cảnh người Trung Hoa. Năm 1655 (năm 28 tuổi) ông Từ Quan, xuất gia với Thiền sư Viên cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính để thiền sư giảng pháp. Sau đó ngài bị vu cáo cùng một quan Thị Nội giám là Gia Quận công là âm mưu trốn ra đàng ngoài, bị chúa Nguyễn Phúc Tần tra khảo, sau đó đưa vào Quảng Nam. Từ sự đối đãi ấy tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) Thiền sư cùng 50 đệ tử dùng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài, thuyền ghé vào Trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na hầu, quan trấn thủ về tâu với triều đình, chúa Trịnh Tạc sai Đường Quận công đem thuyền vào Nghệ An rước Thiền sư và chúng đệ tử ra Đông Đô. Sau đó chúa Trịnh cho xây dựng chùa ở trấn SơnNamđể thầy trò giảng pháp tu học vào năm 1683. Năm Ất Mùi (1715) sáng ngày 13.05 sau khi tắm, thiền sư khoác y, đội mủ, đeo tràng Hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi.
4.3. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong) :
Khác với đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng thấy đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ, cho nên khi mới vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã liên tiếp cho xây dựng các chùa. Đồng thời chính là lúc chuyển tiếp giữa triều Minh và Thanh nên các danh tăng Trung Hoa tới đàng trong hoằng hóa khá nhiều nhưng đều thuộc thiền phái Lâm Tế :
- Thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị.
- Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ (Báo Quốc), Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, ở Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
- Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông ở Phú Yên
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và các chùa Quốc An và Hà Trung ở Thuận Hóa.
- Riêng hai vị Thiền sư Thạch Liêm khai sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa và Quốc sư Hưng Liên (đệ tử Thạch Liêm) khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng Nam thuộc phái Tào Động
4.3.1. Thời kỳ Tây Sơn :
Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước, Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ ở các làng xóm để tập trung vật liệu xây ở mỗi Phủ, Huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang và cho mời những Tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo, còn những người không xứng đáng phải hoàn tục. Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lạm phát chùa chiền và thoái hóa của Tăng sĩ trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố phường, làng mạc, bàng bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở, nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo trong cả một chương trình phát triển đại quy mô. Nhưng vì vua Quang Trung mất sớm nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.Thời kỳ nầy có một tác phẩm nổi bậc đó là “Hứa Sử truyện” của Ngài Toàn Nhật, đệ tử Ngài Diệu Nghiêm.
4.3.2. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long :
Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn. Triều đình Nguyễn Gia Long thực hiện đúng bản chất của một chế độ Tống Nho thời Hậu Lê. Qua hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt cùa Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn : Quật mộ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem giam sọ của hai người vào ngục tối, con của vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và các tướng lãnh khác cùng vợ con kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, voi dày xé xác. Con cháu anh hùng Quang Trung bị truy nã, chém giết, các di tích liên hệ đến phong trào Tây Sơn bị tiêu hủy với ý đồ man rợ qua câu nói : “trẫm vì chín đời mà trả thù”. Rồi để cũng cố nền thống trị độc tài bằng cách tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế, tạo nên thế gia đình trị, Nguyễn Ánh tiếp tục giết hại những công thần đã cùng vào sinh ra tử như : Đỗ Thành Nhơn, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, san bằng mồ mã Lê Văn Duyệt, Lê Chất... Do chính sách của Nguyễn Ánh, sợ ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị, nên Phật giáo không được ưu đãi. Tuy có một số chùa được sắc tứ và trùng tu nhưng là những ngôi chùa mà trong thời gian bôn tẩu Nguyễn Ánh đã từng cư trú, hoặc chuẩn bị để đánh bại Quang Trung, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích gây phúc đức cho dòng họ. Tuy vậy vẫn có một số danh Tăng nổi tiếng như :
- Thiền sư Mật Hoằng người Bình Định, đệ tử của Thiền sư Linh Nhạc thuộc dòng phái Nguyên Thiều, năm 1815 được vua Gia Long triệu về kinh cấp chứng chỉ Tăng Cang và trú trì chùa Quốc An.
- Thiền sư Phổ Tịnh người QuảngNamhiệu là Đạo Minh, đệ tử của Ngài Chiếu Nhiên thuộc phái Liễu Quán. Năm 1808 được Hoàng Thái Hậu Hiến Khương thỉnh trụ trì chùa Thiên Thọ (Báo Quốc). Ngài tịch năm 1816.
- Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chính, đệ tử của Thiền sư Đạo Nguyên. Ngài xuất gia năm 1807, thọ Cụ túc giới năm 1810 là người sáng tác sách ‘Pháp Hoa đề cương’ năm 1819 và Tâm kinh Trực giải năm 1843 còn lưu lại đến ngày nay.
- Thiền sư Thanh Nguyên hiệu MinhNamlà người viết bài tựa cho ‘Pháp Hoa đề cương’.
- Thiền sư An Thiền trú trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh là tác giả cuốn Tam Giáo Thông Khảo viết vào năm 1845.
- Thiền sư Nhất Định pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị sinh năm 1783 tịch năm 1847. Đương thời Thiền sư được vua Gia Long và vua Minh M ạng tôn trọng.
- Thiền sư Diệu Giác pháp danh Hải Thuận, người làng Bích Khê, Quảng Trị họ Đỗ, sinh năm 1805, mất năm 1896. Là đệ tử của Thiền sư Nhất Định, trú trì chùa Diệu Đế là người có công trùng tu các tổ đình Huệ Lâm, Báo Quốc, Kim Tiên.
- Thiền sư Phúc Điền trú trì chùa Liên Tông làng Bạch Mai, Hà Đông là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo, Ngài biên soạn sách ‘Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục’.
- Và còn rất nhiều danh Tăng nổi tiến khác.
4.4. sự phục hưng phật giáo thời lê - nguyễn:
Vào đời nhà Trần, Phật giáo Đại Việt thống nhất lại dưới danh nghĩa “Phái thiền Trúc Lâm”, Hoàng gia nhà Trần sáng lập phái thiền Trúc Lâm, vì vậy, phái thiền Trúc Lâm cũng như Phật Giáo đời nhà Trần liên hệ chặt chẽ với Hoàng tộc nhà Trần.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vương thứ Mười tám (Thế kỷ III Trước Dương lịch), phát triển vào thế kỷ II, III, và hưng thịnh dưới đời nhà Lý (1010-1224) và nhà Trần (1224-1400). Khi nhà Minh xâm lăng Đại Việt (1407-1427), vua nhà Minh đã phá hủy nền văn hóa của Đại Việt, tịch thu và thiêu hủy hết tất cả kinh sách của Đại Việt, đập phá các di tích văn hóa (bia đá, đền miếu …).
Riêng về Phật giáo, đời nhà Trần đã có in lại bộ Đại Tạng kinh Phật giáo với hơn 5.000 quyển, trong đó in lại hầu hết kinh sách của bộ Đại Tạng kinh đời nhà Nguyên của Trung Hoa và in thêm vào đó một số kinh sách của Phật giáo Việt Nam (do các tăng sĩ Việt Nam biên soạn; từ khi Phật giáo mới du nhập vào Đại Việt cho đến đời Trần, có nhiều tăng sĩ tài đức biên soạn các sách rất có giá trị).
Vào đời nhà Trần, Phật giáo Đại Việt thống nhất lại dưới danh nghĩa “Phái thiền Trúc Lâm”, Hoàng gia nhà Trần sáng lập phái thiền Trúc Lâm, vì vậy, phái thiền Trúc Lâm cũng như Phật Giáo đời nhà Trần liên hệ chặt chẽ với Hoàng tộc nhà Trần. Một số đông Hoàng tộc và các đại thần nhà Trần đều quy y hay xuất gia theo phái thiền Trúc Lâm.
Với thời gian các thiền sư của các phái thiền Lâm tế, Tào Động và Trúc Lâm ở Đàng ngoài hòa hợp nhau để cuối cùng chấn hưng và sáng tạo đem lại sinh khí mới cho truyền thống thiền tông Yên Tử của phái thiền Trúc Lâm ở Đại Việt; ngoài ra, các vua Lê chúa Trịnh, vương phi, cung tần cùng các quan tướng trong triều đình và các thiện nam tín nữ ở Đàng ngoài cũng chí tâm học đạo và hết lòng hộ trì phật pháp, nhờ đó phật giáo đàng ngoài phục hưng và phát triển mạnh với nhiều thiền sư nổi tiếng như: Chân Nguyên-Chánh Giác, Chân An-Tuệ Tĩnh, Chân Trú-Tuệ Nguyệt, Chân Lý Hiển Mật, Như Nguyệt, Như Đức, Như Nhàn, Như Trí, Như Sơn, Như Hiền (Nguyệt Quang) và Thượng sĩ Cứu Sinh hay thiền sư Như Trừng-Lân Giác sáng lập thêm phái liên hoa (sau này đổi thành Liên tông) giúp cho Phật giáo phổ truyền khắp Đàng ngoài.
Ngoài ra, các vua Lê, chúa Trịnh, cùng các vương phi, cung tần… đã thực hiện rất nhiều các công trình trùng tu hoặc xây dựng lại mới các chùa cổ nổi tiếng ở Đại Việt thời Lý và thời Trần, nhờ đó khôi phục lại phần nào sự hưng thịnh huy hoàng của Phật giáo Việt Nam thời Lý và thời Trần. Chính nhờ các công trình xây dựng và trùng tu chùa chiền này mà ngày nay chúng ta mới có thể thấy được phần nào thời hoàng kim của Phật giáo Đại Việt thời xưa với các chùa cổ như: chùa Dâu, Quỳnh Lâm, Phổ Minh, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Thầy, chùa Keo, chùa Tây Phương, chùa Tiên Lữ, chùa Đậu…
Vào đầu thời Tây Sơn, chiến tranh làm cho Phật giáo bị suy thoái, chùa chiền bị hư hoại; đến thời vua Cảnh Thịnh (1792-1802), Hải Lượng (tức Ngô Thời Nhiệm), cùng một số huynh đệ như Hải Âu, Hải Huyền, Hải Hòa… cố gắng chấn hưng lại phái thiền Trúc Lâm.
Vì vậy, Phật giáo ở Đàng Ngoài (1592-1802) chỉ bị suy yếu một thời gian ngắn trong thời Tây Sơn, đến thời nhà Nguyễn, Phật giáo phục hưng và phát triển trở lại.
5. Thiền sư chân nguyên, người có công phục hưng môn phái trúc lâm:
Một trong những ngọn đuốc sáng của Phật Giáo Ðàng Ngoài là thế kỷ thứ mười bảy là thiền sư Chân Nguyên, trú trì chùa Long Ðộng. Chính Chân Nguyên và các đệ tử của ông đã làm phục hưng phái Trúc Lâm, cứu vãn được một số quan trọng những tác phẩm của các thiền tổ Trúc Lâm bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành những tác phẩm này.
Sách Ðăng Kế Lục nói rằng một hôm ông tham vấn Minh Lương về một điều thâm diệu trong Phật pháp thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt ông một hồi lâu, nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên:
Ngọc xinh ẩn trong đá
Hoa sen nẩy tự bùn
Nên biết tìm giác ngộ
Nơi sinh tử trầm luân.
(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch
Liên hoa xuất ư nê
Tu tri sinh tử xứ
Ngộ thị tức bồ đề)
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong số các vị ấy, ta có thể kể Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn và Như Trí. Chữ như là chữ thứ ba trong bài kệ truyền pháp của Minh Hành. Chân Nguyên để lại hai bài kệ truyền pháp, bài sau đây được chép trong sách Kế Ðăng Lục:
Chính niệm phân minh được suốt ngày
Là đem thể tính tự phô bày
Giác quan vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành giác ngộ ngay
(Hiển tích phân minh thập nhị thì
Thử chi tự tình nhậm thi vi
Lục căn vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành chính biến tri).
5.1. những đệ tử xuất sắc của ngài chân nguyên:
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong đó Như Hiện và Như Trừng là hai người nổi bật nhất. Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống Trúc Lâm, còn thiền sư Như Trừng lập được một thiền phái lấy tên là Liên Tông. Cả hai phái ấy sau này nhập lại làm một, và tăng sĩ của cả hai phái đều đóng góp tích cực vào việc phục hồi những tác phẩm đời trần.
5.1.1. Thiền sư Như Hiện:
Hiệu là Nguyệt Quang, ông sinh ở làng Ðường Hào ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông xuất gia năm mười sáu tuổi, tại chùa Long Ðộng ở Yên Tử. trước khi Chân Nguyên mất, ông được trao y bát Trúc Lâm, kế thế cho chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang, Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang dưới sự chăm sóc của ông được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chúa cùng dân ba huyện Ðông Triều, Thủy Ðường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc trong suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện kể trên được miễn sưu dịch trong một năm, bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.
Năm 1748, Như Hiện được vua Lê Hiển Tông ban chức tăng cương, và năm 1757 được sắc phong là Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng. Ông dạy trên 60 đệ tử xuất gia. Thiền sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được ông trao truyền y bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang(57). Ông mất ngày mồng sáu tháng chín năm Ất dậu (1756).
5.1.2. Thiền sư Như Trừng:
Tự là Lân Giác, hiệu là Cứu Sinh thượng sĩ, ông vốn là một vị vương công họ Trịnh. Ông tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương, sinh ở tỉnh Thanh Hóa năm 1696. Lớn lên ông được vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho. Ông có tư dinh tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương. Sau tư dinh là một cái đồi rất cao. Một hôm ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá vàng; người nhà đào được một cọng sen lớn vào trình ông. Ông cho đó là điềm xuất gia, liền đổi làm nhà chùa, đặt tên là Viện Ly Trần, chùa Liên Tông, bắt đầu ăn chạy, học đạo, ngồi thiền. Sau đó ông dâng sớ xin xuất gia. Ðược vua chấp nhận ông lên thẳng núi Yên Tử làm lễ thiền sư Chân Nguyên tại chùa Long Ðộng. Lúc đó Chân Nguyên đã tám mươi tuổi. Ông nổ lực học tập, sau đó được thụ giới, đắc pháp với Chân Nguyên và trở về tĩnh tu tại chùa Liên Tông. Trong thời gian hoằng hóa, ông có lập thêm chùa Hộ Quốc ở phường An Xá (cũng tại Thọ Xương) và chùa Hàm Long ở Quế Dương (Bắc Ninh). Hồi còn làm sa di pháp hiệu là Như Như tại chùa Long Ðộng, ông có viết các bài Ngũ Giới Quốc Âm và Thập Giới Quốc Âm bằng thơ Nôm lục bát. Ông tịch năm 1733, lúc mới được ba mươi bảy tuổi, có để lại bài kệ sau đây:
Gốc bắt nguồn từ nơi không gốc
Từ vô vi mà đến
Lại đi về vô vi
Ta không đến không đi
Tử sinh làm sao hệ lụy được ?
(Bản tòng vô bản
Trong vô vi lai
Hoàn tòng vô vi khứ
Ngã bản vô lai khứ
Tử sinh hà tằng lụy?)
Thiền sư Tính Dược đệ tử ông, được chỉ định trú trì chùa Liên Tông, còn thiền sư Tịnh Ngạn trú trì chùa Hàm Long. Ngoài hai vị đệ tử lớn này, ông có nhiều đệ tử cao tăng khác: Tình Tuyền, Tịch Dự, Vũ Hoa, Chính Tâm, Phổ Toán và Thông Vinh. Tính Tuyền được ông gửi sang Trung Hoa du học và thỉnh kinh. Vị này lưu học tại chùa Khánh Vân núi Ðỉnh Hồ ở Quảng Châu sáu năm(58), khi về có thỉnh theo được ba trăm bộ kinh và luật, cả thảy hơn một ngàn cuốn. Gần hai trăm bộ kinh đã được khắc bản và in lại để phổ biến trong xứ. Nhiều bản gỗ còn được chứa cất tại chùa Sùng Phúc và Kiến An.
Chùa Liên Tông sau này cũng được gọi là chùa Liên Phái, trung tâm của hệ phái do thiền sư Như Trừng thành lập. Các chùa Hộ Quốc, Hàm Long, Sùng Phúc, Nghiêm Xá, Thiên Quang, Phúc Ân, Vân Trai, v.v... đều là những tổ định thuộc phái này.
III. KẾT LUẬN:
Bất kỳ dân tộc nào cũng có nền văn hóa của mình, không ai có quyền phủ bác hay coi thường, hoặc chụp lên nó một nền văn hóa mới. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc vốn có một nền văn hóa với những thành tựu rực rỡ trước khi Phật giáo du nhập. Và, là một hệ thống tư tưởng không giáo điều, khiêm tốn khép mình, nên khi vào nước ta, Phật giáo sẵn sàng tiếp thu truyền thống bản địa, không buộc người Việt phải từ bỏ những gì vốn có trong nền văn hóa bản xứ, do đó nó đi sâu vào tâm hồn của con người một cách tự nhiên. Về phía dân tộc, dĩ nhiên là nhận thức rằng cần tiếp thu Phật giáo để làm phong phú thêm đời sống văn hóa của chính mình. Hơn thế nữa, dân tộc ta luôn phải đối mặt với âm mưu đồng hóa văn hóa của kẻ thù phương Bắc, tư tưởng Phật giáo sau khi đã bản địa hóa, kết hợp với những yếu tố dân tộc, là một bức tường thành kiên cố chặn đứng mọi sự tấn công, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Lịch sử Phật giáo suốt hai triều LÊ – NGUYỄN kéo dài 517 năm, nhưng do tình hình chính trị trong nước bất ổn nên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật giáo nước nhà.
Thời Hậu Lê nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, nền văn hóa dân tộc độc lập của Đại Việt bị thay thế bằng nền văn hóa giáo điều và từ chương của Tống Nho. Nho học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thoái lại càng suy thoái hơn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vỡ sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý - Trần. Bởi vậy triều Hậu Lê xem như là một triều đại mà Phật giáo suy đồi nhất trong các triều đại kể từ khi đất nước Đại Việt dành lại chủ quyền dân tộc từ tay đế quốc Trung Hoa đến thế kỷ 15 - 16. Trong thời kỳ này đa số Tăng sĩ thiếu học, tu tập theo hình thức, không chú trọng nội dung tư tưởng, ngoài ra còn làm nhiều việc mê tín như: điểm nhãn, cầu mưa, phù chú . . .
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhìn chung hai họ Trịnh Nguyễn đều hâm mộ đạo Phật, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo công đức cho dòng họ, chứ không biết áp dụng Phật giáo vào việc trị dân, dựng nước, đồng thời cùng chung mục đích là dành dân, chứng tỏ là mình cai tri nhân từ, để lấy chính nghĩa hầu tranh quyền lẫn nhau.
Tóm lại qua lịch sử cho chúng thấy được :
• Sự rạn nức niềm tin nơi triết học Tống Nho, khiến nhiều nhà trí thức quay qua nghiên cứu Phật giáo.
• Từ năm 1558 – 1802 có 3 phái thiền hoằng hóa ở Đàng trong : Trúc Lâm - Lâm Tế và Tào Động (do một số cao Tăng từ Trung Hoa sang truyền các dòng Thiền vào nước ta).
• Tăng tài tuy nhiều nhưng không có hệ thống nhất quán mà chỉ phát triển theo khu vực.
• Phật giáo Đàng Trong phục hưng và phát triển mạnh dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng vì tình trạng chiến tranh và ảnh hưởng của chính trị nên tài liệu về Phật giáo bị tiêu hủy và thất lạc : từ các phổ hệ truyền thừa của các thiền phái đến các lịch sử truyền thừa của các chùa cũng như ngữ lục, tiểu sử của các thiền sư thời đó.
• Về văn học sử dù bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn một số tác phẩm văn học mang ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo tiêu biểu như :
- Thi phẩm “ Tư Dung văn ” của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634).
- Tác phẩm “ Sãi Vãi ” và 10 bài thơ họa lại “ Hà Tiên thập cảnh ” (của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích) của Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1717-1767).
- Thi phẩm chữ Nôm “ Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh ” của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích.
- Thi phẩm “ Phong Trúc tập ” của ẩn sỉ thiền giả Ngô Thế Lân (người đã dâng các bảng điều trần lên chúa Nguyễn).
Tuy nhiên theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc tinh thần Đạo Phật được xem như đã hòa quyện cùng với tinh thần dân tộc của người dân Việt, vì lẽ đó Phật giáo vẫn tiềm tàng trong mọi giới chờ một ngày thuận duyên sẽ đơm hoa kết trái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu – Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi- NXBTPHCM-1996.
2. Thích Minh Châu – Trung bộ kinh III – Tu thư Đại học Vạn Hạnh – 1975.
3. Thích Thanh Kiểm dịch – Khoá hư lục – Thành hội Phật giáo TPHCM 1992.
4. Nguyễn Lang –Việt nam Phật giáo sử luận –Tập 1, 2 NXB Văn học Hà Nội – 1994.
5. Nguyễn Công Lý – Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý, Trần – NXB Văn hoá thông tin.
6. Nguyễn Công Lý –Văn học Phật giáo thời Lý,Trần. Diện mạo và đặc điểm – NXB Đại học Quốc gia TPHCM.
7. Nguyễn Văn Mạnh –Lý luận và lịch sử Tôn giáo. Trung tâm đàotạo từ xa. Đại học Huế 2002.
8. Trần Tuấn Mẫn dịch – Đạo Phật ngày nay – Viện nghiên cứu Phật học – 1997.
9. Thích Minh Tuệ –Lược sử Phật giáo Việt nam – Thành hội PGTPHCM –1993.
10. Lê Mạnh Thát. Chân Nguyên thiền sư toàn tập, tập 1, Tu thư Vạn Hạnh, Tp.Hồ Chí Minh, 1980.
11. Thích Thanh Từ. Thiền tông bản hạnh giảng giải. Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1998.
12. Lê Mạnh Thát. Chân Nguyên thiền sư toàn tập, tập 1, Tu thư Vạn Hạnh, Tp.Hồ Chí Minh, 1980.
13. Thích Thanh Từ. Thiền tông bản hạnh giảng giải. Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1998, tr.271-272.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét