THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA

I. DẪN NHẬP: 1. Lý Do Chọn Đề Tài: 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài: 3. Phạm Vi Đề Tài: 4. Phương pháp nghiêm cứu: 5. Đóng góp của đề tài: II. NỘI DUNG: 1. Phật giáo Nguyên thủy: 1.1. bản sắc của Phật giáo Nguyên thủy: 2. Đại thừa Phật giáo: 2.1. Đặc thù của Phật giáo Đại thừa: 3. Căn bản giáo lý chung cho mọi tông phái: 3.1. A la hán trong Nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa: 3.1.1. A la hán trong phật giáo Nguyên thủy: 3.1.2. Bồ tát trong phật giáo Đại thừa: 3.2. niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa: 3.2.1. niết bàn trong kinh điểm nguyên thủy: 3.2.2. niết bàn trong kinh điểm đại thừa: 3.3. Bản so sánh nguyên thủy và đại thừa : 3.4. Pháp tu căn bản của nguyên thủy và đại thừa: 3.5. Vấn đề nguyên thủy và đại thừa: 3.6. nguyên thủy và đại thừa cùng một cỗ xe: pháp thừa (Dhammayana) III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA I. DẪN NHẬP: Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển. 1. Lý Do Chọn Đề Tài: Là một học viên đã biết suy nghĩ và tiếp thu ý kiến của Giáo sư, người viết thấy có nhiều vấn đề mà mình chưa hiểu và chưa được biết tường tận, nên người viết mạo muội mang khả năng và suy nghĩ khiêm tốn của mình đã học được để tìm hiểu về sự khác biệt và tương đồng của phật giáo nguyên thủy và phật giáo địa thừa. Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp của mình không sao tránh khỏi những sai sót, người viết kính mong được Giáo sư và các bậc cao minh chỉ dạy thêm để sau này có dịp người viết sẽ thực hiện tốt hơn. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài: Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển. 3. Phạm Vi Đề Tài: Sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì?Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy. Đức Phật đản sanh vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên.Ngài thành đạo năm 35 tuổi, 45 năm thuyết pháp độ đời và ngài nhập Níp-bàn năm 80 tuổi. Chắc chắn ngài là một con người có nhiều năng lực nhất, ngày đêm thuyết pháp dạy đạo cho chúng sanh, và Ngài chỉ ngủ có hai giờ đồng hồ trong một ngày. Đức Phật thuyết pháp giảng đạo cho mọi tầng lớp: vua chúa, hoàng tử, bà-la-môn, thương gia, những người cùng đinh, trí thức, và thường dân lao động. Giáo pháp của Ngài đáp ứng mọi nhu cầu tâm linh của từng người.Những gì Ngài thuyết giảng được gọi là Phật ngôn. Thời điểm đó không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana). Sau khi Ngài thành lập giáo hội Tỳ Kheo tăng và Tỳ Kheo ni, Đức Phật đưa ra những nguyên tắc giáo điều giới luật để bảo vệ giáo đoàn được gọi là Luật (Vinaya). Những lời giảng dạy của Ngài bao gồm trong những bài thuyết pháp cho chư Tăng Ni và Thiện nam Tín nữ được gọi là Pháp (Dhamma). 4. Phương pháp nghiêm cứu: Dùng để viết luận văn này là phương pháp luận khoa học lịch sử, những quan điểm của phật giáo nguyên thủy và đại thừa.Người viết sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã và khai thác những tư liệu của các sách nghiên cứu. Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TT. GS. TS Thích Viên Trí, Giáo viên thỉnh giảng bộ môn phật giáo nguyên thủy và đại thừa tại Học viện mà người viết đã được học. Khi cần thiết, người viết sẽ thỉnh giáo quý Thượng Tọa tại Học Viện. 5. Đóng góp của đề tài: Những quan điểm tiến bộ thì hình thành nên một bộ phái riêng cho mình.Còn những người luôn nắm giữ một cách niêm mật đôi khi khắt khe thì hình thành nên một bộ phái riêng. Cứ như thế trong thời kỳ phân phái ta thấy có khoảng hai mươi bộ phái đã hình thành. Đại thừa Phật giáo hình thành cũng trong điều kiện như thế. Nhưng có một điểm khác biệt đó là Đại thừa Phật giáo là sự phục hưng và kế thừa giáo lý của Nguyên Thủy Phật giáo một cách tinh túy nhất. Giữa Nguyên thủy và Đại thừa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau.Tuy vậy có một thời gian dài những nhà nghiên cứu dường như không chấp nhận về quan điểm này.Nhưng bằng sự nỗ lực với sự nghiên cứu của những nhà Phật học và học giả có tâm huyết, đã chứng minh được sự liên hệ mật thiết đó.Trong bài tiểu luận ngắn này sẽ rất khó diễn tả hết những quan điểm của nhận thức.Nhưng người viết mong muốn rằng có một cái nhìn tương đối khách quan hơn trong vấn đề hình thành với phát triển của Phật giáo.Và cũng mong muốn tím ra một phần nhỏ nào đó giữa sự liên hệ mật thiết của hai trường phái Phật giáo.Nó là một sợ chỉ xuyên suốt của lịch sự phát triển tư tưởng Phật giáo. II. NỘI DUNG: 1. Phật giáo Nguyên thủy: Sự hình thành nên Phật giáo Nguyên thủy chưa có một sử liệu nghiên cứu cụ thể nào chứng minh cho việc này. Căn cứ sử liệu thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất để chứng minh cho niên đại của Phật giáo Nguyên thủy tồn tại. Theo Cullavagga thì lý do chính dẫn đến việc kết tập kinh điển lần thứ nhất là do sự vui mừng của tỳ kheo Subhadda khi được tin đức Đạo Sư nhập Niết Bàn. Giữa sự tổn thương to lớn khi bậc Đạo Sư mới nhập diệt mà có sự vui mừng như Tỳ Kheo Subhadda thì thật sự là một việc đáng lo ngại. Tôn giả Ca Diếp nhận thấy bắt đầu có sự suy thối đạo đức đáng báo động trong giáo đoàn, nên Ngài triệu tập đại hội để trùng tuyên lại những lời chỉ dạy của đức Phật. Trong khi đó một một số sử liệu khác như: Nhất Thiết Hữu Bộ hay Đảo Sử thì lại không xem trọng sự kiện trên. Tập Divapamsa cho rằng mục đích của kỳ đại hội lần thứ nhất này nhằm ổn định niềm tin của chúng đệ tử sau khi Phật nhập diệt. Có một sự kiện mà ta cần quan tâm đó là dù có những bất đồng ý kiến về những sử liệu trong thời kỳ kết tập kinh điển này. Nhưng không có một sử liệu nào đề cập đến sự phân chia bộ phái trong thời kỳ này. Đều đó đồng nghĩa với việc thời kỳ này chỉ có một Phật giáo duy nhất tồn tại là Phật giáo Nguyên thủy. Thông qua những dữ kiện vừa nêu ta có thể ước định Phật giáo Nguyên thủy bắt đầu từ giai đoạn đức Phật thành đạo cho đến kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất tại Vương Xá thành. Tuy nhiên, có một sự ngộ nhận đáng tiếc là chúng ta đánh đồng Phật giáo Nguyên thủy là Tiểu Thừa Phật giáo và xem Thượng Tọa Bộ là Nguyên Thủy Phật giáo. Bằng những kiến thức thu thập qua nhiều thế hệ, bằng những biên tập sử liệu không có độ chính xác cao trong một thời gian rất dài ta đã gán ép danh từ Tiểu Thừa cho Phật giáo Nguyên thủy. Thời kỳ đầu của Phật giáo không có danh từ Tiểu Thừa hay Thượng Tọa bộ. Danh từ này được xuất hiện trong khoảng thời gian thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ hai, khoảng từ 100 đến 137 sau Phật nhập diệt. Vì lúc đó Phật giáo bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt và phân thành hai phái căn bản: Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Nhưng Thượng Tọa Bộ không phải là Nguyên Thủy Phật giáo mà Thượng Tọa bộ thuộc thời kỳ Phật giáo bộ phái. Cũng như thế Tiểu Thừa Phật giáo là chỉ cho thời kỳ Phật giáo bộ phái. Nói một cách khác sự hình thành nên Thượng Tọa bộ hay Tiểu Thừa Phật giáo xuất hiện trong thời kỳ Phật giáo phân phái. Như ngài Rahula nhận định: “danh từ Theravada – Hinayàna hay “ tiểu thừa” không còn được dùng trong lãnh vực nghiên cứu”. Hiện nay các nhà học giả đều đồng ý với sự nhận định của ngài Rahula. Vì lẽ giáo pháp của đức Phật thì không có phân chia Nguyên Thủy, và Tiểu Thừa hay Đại thừa. 1.1. bản sắc của Phật giáo Nguyên thủy: Trong Phật giáo Nguyên thủy ta thấy đức Phật luôn quan tâm đến đời sống của chúng sinh và thế giới xung quanh.Những gì ngài giảng dạy cũng lấy những điều thiết thực mà trình bài. Trong kinh tạng đề cập đế đặc điểm này như sau: “Chánh pháp được thế tôn khéo thuyết giảng, một chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí tự mình giác hiểu”. - Nguyên thủy Phật giáo lấy nội tâm làm chủ. Bộ phái Phật giáo cũng lấy nội tâm làm chủ nhưng đối với ngoại giới cũng đặc biệt chú ý. - Nguyên thủy Phật giáo trên mặt tổng thể thì vẫn thuyết minh phân tích, nhưng về nội tâm thì thì lấy duyên khởi làm nền tảng. Bộ phái Phật giáo thì phân tích những yếu tố của vạn hữu và rất xem trọng việc phân tích này. - Nguyên thủy Phật giáo tuy có quy tắc thực hành là lấy tinh thần làm chủ, không lấy hình thức ngoại tại làm chủ. - Nguyên thủy Phật giáo cũng chú trọng đến tầng lớp tại gia. Bộ phái Phật giáo chú trọng đến người xuất gia mà xao lãng đạo tại gia.Cho nên đối với những xu hướng của thời đại không quan tâm đến. - Nguyên thủy Phật giáo người ta được xem trọng như đức Phật là lấy giải thoát làm mục đích. Bộ phái Phật giáo vì tôn sùng nhân cách của đức Phật nên xem đức Phật là bậc cao siêu hơn tất cả mọi người. Người thường không thể sánh được, tất cả người tu hành đều là đệ tử Phật mà thôi. 2. Đại thừa Phật giáo: Từ những dữ liệu của thời kỳ kết tập kinh điển chúng ta chì thấy xuất hiện hai bộ phái căn bản là Thượng tọa và Đại Chúng bộ, chưa có tài liệu đề cập đến sự hình thành của Đại thừa Phật giáo. Và khi ta nhận định Đại thừa Phật giáo là tiền thân của Đại Chúng bộ thì có gì đó không phù hợp. Có một sự kiện ta cần phải nhận định là Đại Chúng Bộ thuộc thời kỳ Phật giáo bộ phái.Đại chúng bộ chỉ có những tư tưởng liên hệ với Đại thừa, chứ không phải là tiền thân của Đại thừa như những sử liệu đề cập khi nghiên cứu về nó.Học giả người Nhật Kimura Taiken cho rằng Đại chúng bộ có “tư tưởng quan hệ mật thiết với Đại thừa”.Có thể giai đoạn hình thành nên Đại thừa có thể trải qua một giai đoạn rất dài.Điều đó chứng minh rằng từ giai đoạn của Phật giáo bộ phái, đặc biệt là Đại chúng bộ giữa giai đoạn trung gian đó chúng ta không thấy sử liệu nào đề cập đến Đại chúng bộ phát triển thành Đại thừa. Theo quan điểm của người viết thì Đại thừa Phật giáo được bắt nguồn từ Phật giáo Nguyên thủy thì sẽ hợp lý hơn, khi ta nhận định nó phục hưng lại những giá trị của Nguyên thủy Phật giáo. Chúng ta biết rằng trong hệ thống kinh Điển Đại thừa có sự liên hệ mật thiết từ tư tưởng của giáo lý Nguyên thủy. Một lý do khác mà người viết cho rằng Đại thừa được bắt nguồn từ nguyên thủy là thời kỳ Phật giáo bộ phái do những tranh luận về những quan điểm của mình mà dần lãng quên đi những giá trị thiết thực của Phật giáo Nguyên thủy. Họ không chú trọng đến thế giới xung quanh mà chỉ chú trọng vào việc giải thoát cho tự thân. Sự tranh đấu trong nội bộ Phật giáo đã làm cho Giáo hội càng ngày suy yếu, đứng trước những biến cố như vậy, cần một trường phái Phật giáo mới có đủ khả năng thích ứng với thời đại và hòa giải những bất đồng của thời kỳ bộ phái. Mong muốn khôi phục lại những giá trị nguyên chất của Phật giáo Nguyên thủy. Cho nên Đại thừa Phật giáo xuất hiện, một mặt khôi phục lại Phật giáo truyền thống, mặt khác để xua tan đi làn sống tranh luận được trải dài hàng trăm năm của các bộ phái Phật giáo. Và chấn chỉnh lại nội bộ Phật giáo khi có những tư tưởng của ngoại đạo xâm nhập vào Phật giáo, muốn làm cho giáo Pháp của đức Phật bị mai một và biến mất. 2.1. Đặc thù của Phật giáo Đại thừa: Như đã trình bày ở những phần trước ta có thể có một sự nhận định khác về Phật giáo Đại thừa. Do vì thiếu tài liệu nghiên cứu một cách có hệ thống từ quá trình hình thành và phát triển, một phần vì quan điểm phân biệt giữa các bộ phái mà ta bị ảnh hưởng trong chiều hướng đánh giá và nhận định vấn đề có phần chủ quan. Đại thừa Phật giáo không phải hình thành để phản đối lại Nguyên thủy Phật giáo, mà Đại thừa Phật giáo xuất hiện do xu hướng thời đại, cần khôi phục lại những giá trị chân thật của lời Phật dạy mà trong thời kỳ bộ phái đã lãng quên theo sự tranh biện của mình. - Đại thừa Phật giáo lấy việc hóa độ để hướng đến quả vị giải thoát cho mình.Đại thừa Phật giáo cho rằng tất cả mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ.ngược lại bộ phái Phật giáo chỉ chú trọng đến giải thoát cho tự thân mà không chú trọng đến tha nhân. Đại thừa Phật giáo thừa nhận tất cả chư Phật đồng tồn tại. trong khi đó bộ phái Phật giáo chỉ thừ nhận chỉ có một vị Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni. - Đại thừa Phật giáo có sự khác biệt với bộ phái Phật giáo là Đại thừa muốn trở về lập trường của Nguyên thủy Phật giáo, nên chủ trương tất cả đều do tâm, nhưng tâm của Đại thừa thâm thúy hơn Nguyên thủy Phật giáo. Đại thừa Phật giáo đứng trên phương diện bản thể để quy định trạng hoạt động của tâm một cách tinh tế, là trung tâm của triết học Đại thừa mà thành lập thế giới quan chân không diệu hữu. - Đại thừa vì muốn thích nghi với thời đại mà có. Phật giáo Nguyên thủy thời đức Phật rất quan tâm đến thời đại, nhưng đến thời kỳ bộ phái nó lại trở thành thô cứng do không chú trọng đến. Hiểu theo một phương diện nào đó thì Phật giáo Đại thừa không chấp nhận với quan điểm của bộ phái Phật giáo, nên khởi xướng lên một phương trào thích nghi với thời đại.Từ những đặc thù cơ bản của Đại thừa Phật giáo đã được trích dẫn chúng ta thấy Đại thừa Phật giáo gần hơn với bản ý của đức Phật. 3. Căn bản giáo lý chung cho mọi tông phái: 1. Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị giáo chủ lịch sử của đạo Phật. 2. Ba giáo lý căn bản và phổ cập của mọi trường phái hay tông phái: Bốn Thánh Đế, 12 Nhân Duyên, Tám Thánh Đạo. 3. ba môn phố cập: giới định huệ: 4. Giáo lý Đạo Phật được liệt kê qua ba tạng Kinh, Luật, Luận. 5. Điều phục tâm niệm là vấn đề căn bản: 3.1. A la hán trong Nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa: 3.1.1. A la hán trong phật giáo Nguyên thủy: Lý tưởng A la hán trong Phật giáo Nguyên thủy là quả vị cao nhất mà người hành giả muốn đạt đến. Chúng ta thấy trong kinh tạng Đức Phật nói về n A la hán như sau: “Chư vị A La Hán chứng nghiệm hạnh phúc niết bàn bằng cách chứng đắc đạo quả A La Hán trong kiếp sông hiện tiền. Đã chế ngự được lục căn như tuấn mã được huấn luyện thuần thục, đã tiêu trừ ngã mạn và không còn ô nhiễm. người vữngchắc như thế, chí đến chư thiên cũng quý mộ”. Quá trình tu tập từ một chúng sinh bình thường cho đến dự vào dòng thánh quả để đạt đến quả vị A La Hán là một quá trình thể nghiệm và thực hành giáo pháp, phải trải qua những giai đoạn loại trừ phiễn não vi tế mới có thể chứng đắc. Quả vị Arahant theo Phật giáo Nguyên thủy là đồng nghĩa với việc chứng đạt trạng thái niết bàn. Có một điểm thiết nghĩ ta cần phải lưu tâm khi có nhận định về quả vị . Nhận định đó được những nhà Đại thừa Phật giáo dành cho những nhà bộ phái Phật giáo khi cácA La Hán. nhà bộ phái Phật giáo không còn chú trọng đến sự giải thoát cho tha nhân mà chỉ chú trọng đến sự giải thoát cho tự thân, từ đó tạo tiền đề cho sự suy yếu của lý tưởng của Phật giáo. Cũng chính vì không minh định được đâu là lý tưởng giải thoát của Nguyên thủy và đâu là lý tưởng giải thoát của bộ phái nên ta đã vội kết luận cho người chứng đạt A La Hán là nguyên thủy.trong Phật giáo Nguyên thủy ta thấy chư vị thánh đệ tử Arahant ngoài việc độ cho mình mà còn đem thông điệp giải thoát cho tất cả mọi người. Ta chỉ tìm thấy sự khác biệt duy nhất được đế cập trong kinh tạng về và A La Hán đức Phật, đức Phật là bậc A La Hán chánh đẳng giác, ngài là người tìm ra con đường để đi đến giác ngộ. Còn chư vị A La Hán là người đang đi trên con đường mà đức Phật đã tìm ra. 3.1.2. Bồ tát trong phật giáo Đại thừa: Lý tưởng Bồ tát không chỉ được xuất phát từ Phật giáo Đại thừa mà nguồn gốc của nó được tìm thấy trong tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy.Vậy giữa Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa phải có sự liên hệ với nhau thì mới có những tư tưởng được xem như là đồng nhất như vậy. Thời kỳ bộ phái Phật giáo học thuyết về Bồ tát cũng được đề cập nhưng Bồ tát trong bộ phái Phật giáo khác đối với Bồ tát trong nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa. Trong khi đó Đại thừa Phật giáo bằng sự kế thừa tinh hoa của tư tưởng Bồ tát trong Phật giáo Nguyên thủy đã hình thành nên một Bồ tát theo nhu cầu của thời đại. Lý tưởng Bồ tát của Đại thừa mang tinh thần nhập thế tích cực đi vào thế giaṇ.Lấy nhu cầu hóa độ chúng sinh làm mục tiêu hướng đến giác ngộ.Đặc điểm này này được tìm thấy trong kinh tạng của Nguyên thủy đề cập. Bồ tát trong Đại thừa Phật giáo không còn giới hạn trong thành phần xuất gia như Phật giáo bộ phái. Nó bao hàm tất cả những chúng sinh đang muốn thể nghiệm con đường giác ngộ của đức Phật đã đi. Những hành giả đang đi trên con đường này đó đều được gọi là Bồ tát. Không phân biệt giữa xuất gia hay tại gia. Trong Đại thừa Phật giáo Bồ tát phải thực hành hai mục tiêu là thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh.Hai điều kiện này không thể tách rời nó. Nếu một trong hai điều kiện này không có mặt thì lý tưởng Bồ tát sẽ không thể đạt đến . Vì lẽ hai yếu tố này là biểu trưng cho lý tưởng và sự thực hành để chứng nghiệm. Nó là một thực thể không thể phân ly trong suốt hình trình tìm cầu giác ngộ giải thoát. Từ những tư tưởng của Đại thừa chúng ta thấy các nhà Đại thừa không xem các vị thánh đệ tử như là một thanh văn, mà do vì hạnh nguyện độ sinh nên phải biến hiện những tướng như vậy để thuận lợi cho việc hóa độ chúng sinh. Các nhà Đại thừa muốn khôi phục lại giá trị của chư vị thánh đệ tử của Phật giáo Nguyên thủy. Bằng việc đưa dữ kiện các ngài đều có khả năng thành Phật. Từ đó thể thấy sự kế thừa và khôi phục lại giá trị của Phật giáo Nguyên thủy trong Đại thừa là hay và tinh diệu như thế nào. Sự liên hệ giữa A la hán và Bồ Tát có nhịp nối mật thiết với nhau, nó là sự tiếp diễn của quá trình phục hồi bằng ngôn ngữ của biểu tượng.Thông qua biểu tượng đó mà ta có thể hiểu và thể nghiệm nó bằng những chất liệu tươi ngon nhất của hương vị giải thoát bắt nguồn từ cây Nguyên thủy và cho hoa trái của Đại thừa. 3.2. Niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa: 3.2.1. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy : Đức Phật chủ trương một Niết Bàn không ở ngoài ba cõi, như kinh Rohitassa đã dạy: “Tại chỗ nào, bạch Thế tôn, không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (bất diệt), không có sinh khởi (bất sinh), chúng con có thể đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?”. Đức Phật trả lời : “Này hiền giả, ta tuyên bố rằng : tại chỗ nào không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác, thời không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, ta tuyên bố về thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt”. Trong giáo pháp của Ngài, Đức Phật đã phương tiện dùng hai hình thức Nhân quả và Duyên khởi, để một mặt đối trị về nhân quả tội phúc, và mặt khác giải phóng những phương tiện đó qua duyên khởi để hoàn thành Trung đạo giả danh trở về Không tính. Đó là con đường giải thoát thật sự như chính trong kinh Xà Dụ, hệ Pali đã dạy : “Chính pháp còn buông bỏ huống chi là phi pháp”. Nhưng đối với họ, điều này không quan trọng nên đã bị họ bỏ qua.Trong khi đó, họ không biết rằng chính họ đã phản bội lại Đức Phật qua lập trường chấp thủ tà kiến thuộc nhân quả nhị nguyên.Họ quên đi pháp Trung đạo duyên khởi, mà trong suốt cuộc đời, Đức Phật đã nỗ lực xiển dương chúng. Đức Phật chưa bao giờ chủ trương lấy Hữu -Vô làm lập trường chính để đưa chúng sinh đến giải thoát cả, mà ngài chủ trương: “Mọi vật đều không” ( Sarvam sùnyam) nhằm phủ định có và không của các pháp và xiển dương tự tính Không, cũng là mở bày cho một hướng đi vượt thoát, đó là Trung đạo qua tướng giả danh. Chính vì Không này mà các nhà Tiểu thừa sau này, đã quan niệm sai lầm về nó, để đẻ ra một cái tự tính thực hữu nào đó của các pháp, mà phản lại chính quan điểm của Đức Phật. Có hai loại Niết Bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết Bàn và Vô dư Niết Bàn. Hữu dư Niết Bàn là chỉ người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết Bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai loại Niết Bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát. Vì Niết Bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hủy diệt.Nếu hủy diệt, chỉ là sự hủy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã.Niết Bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo.Niết nàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác.Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới “Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi”.Trạng thái tâm vắng lặng mà rỏ biết là đương thể của Niết Bàn.Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được?Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết Bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết Bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại với Đức Phật rồi. 3.2.2. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa: Kinh Đại Niết Bàn viết : “Kẻ nào bị ái dục thiêu đốt, bị ái dục áp đảo, bị mù lòa vì nó, kẻ ấy có những ý định tai hại cho chính mình, cho người khác, cho cả mình lẫn người và kinh nghiệm những khổ đau nội tâm, phiền não”. Muốn xóa bỏ ái dục thì thực tại phải được nhận thức như nó là.Khi thực tại được nhận thức như nó là thì vô minh và ái dục bị tiêu diệt và giác ngộ phát khởi.Giác ngộ là giác ngộ thực tại của thế giới hiện thực. Kinh Đại Niết Bàn viết : “Kẻ nào nhìn được chân tướng của sự vật với tuệ giác, kẻ ấy không còn ham muốn sự hữu, bằng sự tận diệt mọi ham đắm mà có sự bất tham, sự đình chỉ ở mọi khía cạnh Niết Bàn”. Như vậy Niết Bàn là tận diệt vô minh hay tri kiến sai lầm về thực tại, tận diệt ái dục hay mọi tham đắm do vô minh đưa lại. Niết Bàn là chấm dứt tham, sân, si, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi do vô minh và ái dục dẫn dắt. Niết Bàn là tuệ giác về thực tại, là sự giác ngộ viên mãn, là nhận chân đúng thế giới như nó là, là chấm dứt dòng lưu chuyển gây đau khổ và sự bám víu vào tri kiến sai lầm. Kinh Tạp A Hàm viết : “Niết Bàn là gì, hỡi đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si.Đó, này đạo hữu, gọi là Niết Bàn”. Niết Bàn như được miêu tả trên đây là một đạo quả, chứ không phải là không gian vật lý, hay dạng tồn tại bản thể nào. Nó là trạng thái tinh thần mà bằng trí tuệ rốt ráo con người đạt được, là sự thành tựu tối thượng của sự chuyển hóa của nhận thức. Muốn đạt đến Niết Bàn trước hết và trên hết phải lắng đọng mọi hoạt động của thân, khẩu, ý. Phải dứt bỏ mọi sự quyến luyến dính mắc vào các dạng cảm thọ, các khoái cảm giác quan do vô minh đưa lại. Phải tiến hành thiền định. Thiền định là con đường đưa con người vào Niết Bàn giải thoát. Trong trạng thái thiền định con người thấy rõ chân bản của thế giới. Thế giới muôn sai ngàn khác, với các sự vật hiện tượng khác nhau ở hình tướng, nhưng đồng nhất với nhau ở mặt bản thể.Tất cả đều vô thường, vô ngã.Nhận chân được bản thể của vũ trụ như vậy, con người phát khởi đại trí, đại bi. Con người phút chốc bừng nở tình thương vô hạn đối với muôn loài muôn vật. Tất cả đều là một, chỉ vì tri kiến sai lầm nên con người mới tham sân, si, mới hành động tạo nghiệp để thỏa mãn và nâng cao cái ngã vốn vô ngã. Với tuệ giác do thiền định đưa lại, ranh giới ta và người , ta và tha nhân, ta và chúng sinh, người và vật biến mất, tình thương vô hạn, tình yêu vô biên vối biên giới và nhân giới bừng nở, dâng tràn. Tuệ giác đưa con người vào mát lành, hạnh phúc, an lạc. Ngoài cái nghĩa rộng hẹp trên, Niết Bàn của Ðại Thừa đại khái có hai loại: Vô trụ xứ Niết Bàn: Ðây là Niết Bàn của các vị Bồ Tát. Các A La Hán, do tu nhân giải thoát mà chứng được quả giải thoát; nhưng chưa biết nguồn gốc của nhân quả, cò chấp có thực pháp phải tu, quả vị phải chứng, nên chưa được hoàn toàn tự tại. Các vị Bồ Tát thì trái lại, đã hiểu rõ “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, pháp tính bình đẳng như như; không thấy một pháp gì cố định, một vật gì chắc thật, biệt lập chỉ thấy chúng là những hình ảnh giả dói, do đối đãi với thức tâm, tạo thành bởi thức tâm. Các vị Bồ Tát không có tâm địa đảo điên sai lầm, không gán cho sự vật một giá trị nhất định, như tốt, xấu, khổ, vui, nên không sinh ra những thái độ oán, thân, bỉ, thử, ưa, ghét. Hễ có tri kiến sai lầm đó, là bị chướng ngại khổ đau. Các vị ấy tu hành chứng theo sự tính bình đẳng, đem tâm hòa đồng cùng sự vật mà làm việc lợi tha. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chính quán.Quán các phép như huyễn hư hóa, không có thật sinh tử, không có thật Niết Bàn, không bao giừo trụ trước (vô trụ). Do đó, Bồ Tát thường ra vào sinh tử lấy pháp lục độ để độ sinh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại. Tính tịnh Niết Bàn : Ðây là một thứ Niết Bàn tự tính thường vắng lặng mà thường sáng suốt, thường sáng suốt mà thường vắng lặng ra ngoài tâm lượng hẹp hòi của phàm phu và trí thức hữu hạn của Nhị thừa, ngoại đạo. Nó thường bộc lộ sáng suốt nơi chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi mọi loài chúng sinh. Trong kinh có khi gọi đó là Phật tính, là Chân tâm, là Như Lai tạng v.v... Nếu chúng sinh tự tin mình có tính Niết Bàn thanh tịnh, và khởi tâm tu hành theo tự tính ấy, tức có thể thành Phật không sai. Mang tự tính Niết Bàn mà để cho phiền não cấu trần che lấp, thì làm chúng sinh trầm luân trong bể khổ. Trái lại, ngộ tự tính Niết Bàn mà hết vọng tưởng mê lầm là thành Phật, và có đầy đủ bốn đức : Thường - Lạc -Ngã - Tịnh. “Thường” nghĩa là không bị chi phối bởi tính vô thườg, khi nào cũng như khi nào, không lên bổng xuống trầm không có già trẻ, chết sống, đổi thay. “Lạc” nghĩa là không còn khổ não, lo buồn.“Ngã” là được hoàn toàn tự chủ, không bị nội tâm hay ngoại cảnh chi phối. “Tịnh” là không còn ô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta đừng lầm tưởng tính “Chân thường” này với điều thường hằng của thế gian; tính “Chân lạc” với sự vui thích tương đối là sự vui thích còn che đậy mầm mống đau khổ bên trong; tính “Chân ngã” với sự tự chủ trong nhất thời, tự chủ ngày nay bị động ngày mai; tính “Chân tịnh” với sự trong sạch tương đối ở thế gian, sự trong sạch vật chất, sự tướng bên ngoài, chứ bên trong vẫn còn nhiễm ô. Vì tính cách quí trọng, cao cả tuyệt đối của bốn đức; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh nên Tính tịnh Niết Bàn là thứ Niết Bàn cao quí tột đỉnh của đạo Phật, và người Phật tử Ðại Thừa trong khi tu hành, đều phát nguyện rộng lớn quyết tâm chứng được thứ Niết Bàn ấy mới thôi. 3.2. bản so sanh nguyên thủy và đại thừa: Đề Mục Nam Tông Bắc Tông 1 Đức Phật Chỉ có đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng chấp nhận có chư Phật trong quá khứ Bên cạnh đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn có đức Phật A Di Đà, Dược Sư, v.v… 2 Bồ Tát Chỉ chấp nhận Bồ Tát Di Lặc Bên cạnh Bồ Tát Di Lặc, còn có các vị Đại Bồ Tát như Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, v.v… 3 Đạo quả cứu cánh A La Hán hay Phật Độc Giác Hành các hạnh Bồ Tát để tiến đến quả vị Phật 4 Cách tổ chức Ba Tạng kinh điển Hệ kinh điển Pali: Tạng kinh có 5 loại, tạng Luật có 5 quyển, tạng Luận có 7 quyển. Bên cạnh Tạng Luật, và Luận, kinh điển Sanskrit thường được phân chia làm 12 phần giáo: Khế kinh, Trùng Tụng, Phúng Tụng, Nhân Duyên, Bổn Sinh, Vị Tằng Hữu, Thí Dụ, Luận Nghị, Tự Thuyết, Phương Quảng, Thọ Ký, Bổn Sự. Tạng Kinh bao gồm tất cả kinh điển Nam Tông. Ngược lại, kinh điển Nam Tông không có các bộ kinh điển Bắc Tông sau này. 5 Khái Niệm về Tâm Bồ Đề Điểm chủ yếu là tự giải thoát. Hoàn toàn tự lực để diệt trừ phiền não. Bên cạnh tự lực tu hành, phải lo cho chúng sanh. 6 Khái niệm Ba Thân Phật Rất giới hạn. Chỉ nhấn mạnh về Pháp Thân và Ứng Thân. Bàn rất rõ về ba thân: Ứng Thân, Báo Thân, Pháp Thân. 7 Con đường phát triển và truyền pháp Nam truyền: Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Lào, Cam Bốt, và miền Nam Việt Nam. Bắc truyền: Việt Nam, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bổn, Đại Hàn, Mông Cổ. 8 Ngôn ngữ truyền pháp Chủ yếu là tiếng Pali và phụ bằng những ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ đầu tiên là tiếng Phạn. Sau này được dịch sang ngôn ngữ địa phương như tiếng Việt, Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Đại Hàn. 9 Niết Bàn Không có sự khác biệt giữa cảnh giới Niết Bàn của một đức Phật và chư A La Hán, hay Bích Chi Phật. Có sự khác biệt rõ ràng giữa cảnh giới Niết Bàn của chư Phật và chư Thanh Văn Duyên Giác. 10 Đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni Trên căn bản là những vị A La Hán hay cư sĩ được ghi trong lịch sử. Bên cạnh các vị đại để tử xuất gia và tại gia lịch sử, còn có rất nhiều vị Bồ Tát do đức Phật Thích Ca đề cập đến, nhưng rất nhiều vị không có trong lịch sử. 11 Lễ Lạc Vẫn có nhưng không được chú trọng bằng Bắc Tông. Do ảnh hưởng văn hóa, phong tục tập quán địa phương, có rất nhiều lễ lạc như lễ cúng cô hồn, lễ cầu siêu, v.v… 12 Dùng Mật Chú hay Ấn Chú Vẫn có, nhưng không được chú trọng nhiều. Chú trọng rất nhiều trong Mật Tông. Trong các nghi thức tụng niệm của các tông phái khác cũng có vài bài thần chú. 13 Phương diện cận tử và chết Rất ít bàn đến. Thông thường chư Tăng chỉ khuyên người sắp mất suy gẫm lý vô thường, khổ, không. Mật Tông giảng rất chi tiết về những phương diện này. Có rất nhiều dấu hiệu bên trong và ngoài trước khi sắp mất. Chú trọng việc hồi hướng công đức cho người quá vãng trong suốt 49 ngày đêm. 14 Thân Trung Ấm Hoàn toàn không bàn đến. Tất cả tông phái của Bắc Tông đều dạy về phương diện cận tử và cứu độ vong linh. 15 Dùng Ngọ Tiêu chuẩn căn bản. Rất được tôn trọng, nhưng tùy theo khả năng và ý thích của mỗi tăng đoàn hay cá nhân. 16 Ăn chay Không cần thiết. Những nơi như Thái Lan, việc khất thực thức ăn chay của chư Tăng rất khó khăn, vì dân chúng đã quen truyền thống “Có gì cúng dường đó”. Rất được chú trọng trong tất cả tông phái, chỉ trừ người Tây Tạng vì ảnh hưởng địa hình. Tuy nhiên, không có sự ép buộc về phương diện này. 17 Hình tượng tôn thờ chủ yếu trong chùa Chỉ đơn giản tôn thờ hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Trang nghiêm với tượng Phật Thích Ca và 2 vị đại đệ tử, hoặc ba vị Phật như Phật Thích Ca, Phật A Di Đá, Phật Dược Sư, hoặc Phật Thích Ca với Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ngoài ra còn có các vị Hộ Pháp. 18 Các Tông Phái Nam Tông chỉ còn lại Thượng Tọa Bộ trong số 18 tông phái xưa. 10 tông phái dựa vào vài phần trong Kinh, Luật, Luận như tông Hoa Nghiêm, Hiền Thủ, Tịnh Độ, Thiền Tông, Luật Tông, Mật Tông, Thiên Thai, Trung Quán, Duy Thức, Tam Luận. Tịnh Độ, Thiền Tông và Mật Tông phổ cập hơn những tông phái nghiêng nhiều về triết lý như Duy Thức, Hoa Nghiêm, Trung Quán, Thiên Thai. 19 Ảnh hưởng ngoại đạo Chủ yếu ảnh hưởng Bà La Môn trước Phật giáo. Nhiều danh từ như Nghiệp, Tăng Già trong thời Phật còn tại thế. Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Phật với các tín ngưỡng địa phương như đạo Lão, đạo Khổng, đạo Bon, v.v..trong quá trình hội nhập. 20 Phật Tánh Hoàn toàn không có. Đặc biệt chú trọng. 3.3. Pháp tu căn bản của nguyên thủy và đại thừa: Hệ nguyên thủy lấy Tứ đế làm pháp tu căn bản. Trong Tứ đế, phần Ðạo đế tức ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thì Bát chánh đạo là phần căn bản tu hành. Bắc tông có nhiều pháp nhưng lấy Lục độ làm căn bản tu hành Như vậy chúng ta đối chiếu pháp lục độ của Bắc tông và Bát chánh đạo của Nam tông, để thấy tinh thần khác nhau của mỗi bên. Nói về nguyên thủy, Bát chánh đạo là pháp căn bản, vì vậy người tu phải nắm vững pháp này. Chúng ta hiểu và dịch Bát chánh đạo là tám đoạn đường ngay thẳng đưa chúng ta đến Niết bàn. Tám đoạn đường chớ không phải tám nẻo đường .Vì mỗi một đoạn đường là một chặng, chúng ta đi từ chặng số một đến chặng số hai số ba, cuối cùng đến chặng số tám thì viên mãn sự tu hành, tức viên mãn con đường đi đến Niết bàn.Cho nên chúng ta gọi là tám đoạn đường đưa đến Niết bàn. Hệ đại thừa thì lấy Lục độ làm căn bản. Lục độ tức sáu điều cứu thoát: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ . Sáu điều này có công năng chuyển dở xấu thành hay tốt nên gọi là Lục độ. Vì vậy dùng Lục độ để độ lục tệ. Lục tệ tức là sáu điều xấu: xan tham, phá giới, sân nhuế, giải đãi, tán loạn, ngu si. Bố thí độ xan tham, trì giớỉ độ phá giới, nhẫn nhục độ sân nhuế, tinh tấn độ giải đãi, thiền định độ tán loạn, trí tuệ độ ngu si. Kiểm lại chúng ta có đủ cả sáu tệ, cho nên phải dùng Lục độ để cứu mình từ xấu tệ trở thành hay tốt. Chúng ta sẽ đối chiếu Bát chánh đạo của nguyên thủy và Lục độ của đại thừa quí vị thấy.Bát chánh đạo mở đầu là chánh kiến, còn Lục độ mở đầu là bố thí. Hai bên khác nhau thế nào ?nguyên thủy là phải thấy đúng như chánh pháp của Phật, còn đại thừa đầu tiên phải có đủ lòng từ bi. Có từ bi mới bố thí, không có từ bi làm sao bố thí. Như vậy vớí đại thừa, bước đầu phải có lòng từ bi thương người.Bởi thương ngưởi nên ai khổ mình giúp, ai đói mình cho cơm gạo.Nhưng đói có đói của thân và đói chánh pháp.Người muốn nghe chánh pháp mà không được nghe là đói chánh pháp, hạng này phải bố thí chánh pháp.Ðói cơm thì cho cơm, đói pháp thì cho pháp, nên nói bố thí tài, bố thí pháp.Bố thí pháp thuộc về tinh thần, bố thí tài thuộc về vật chất.Người cần những điều thiết yếu nào chúng ta giúp thứ ấy, đó là tâm bố thí.Tâm bố thí đó phát nguồn từ lòng từ bi. Do thương người nghèo thiếu, ta chịu không nổi nên cứu giúp. 3.4. Vấn đề nguyên thủy và đại thừa: Trước đây chúng ta thường cho rằng giáo lý Nguyên thủy là không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm. Ngày nay với những phương tiện tiến bộ, mọi mặt trong xã hội đều thay đổi, những quan niệm nguyên thủy và Đại thừa không còn thích hợp. Qua nghiên cứu cho rằng : 1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy cho đến thời kỳ Bộ phái (sau Đức Phật 400 năm) chưa có danh từ Đại thừa hay Tiểu thừa. Danh từ Đại thừa và nguyên thủy xuất hiện đồng thời với kinh điển Đại thừa khoảng thế kỷ thứ I trước hoặc sau TL. 2. Danh từ Tiểu thừa không nên hiểu là Thượng tọa bộ, mà là chỉ cho giai đoạn bộ phái, sự tranh chấp về đường lối hành đạo mà lúc bấy giờ các Bộ phái quá chú trọng về lý luận và hình thức. 3. Ngày nay không có hệ nguyên thủy nào có mặt trên thế giới. Năm 1950, Hội Phật Tử Thân Hữu Thế Giới (World Fellowship Buddhists) họp tại Colombo (Tích Lan) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ nguyên thủy khi nói đến Nam tông Phật giáo. 4. Giáo lý được phân làm hai truyền thống : Truyền thống Nguyên thủy và truyền thống Phát triển. Về mặt địa lý, truyền thừa thì gọi là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông. Sử dụng từ ngữ Nguyên thủy và Phát triển nói lên tính xuyên suốt của cây đại thọ, giáo lý đạo Phật, mà phần gốc, rễ là Nguyên thủy; phần thân ngọn cành lá là Phát triển. Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn. Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên thủy và Phát triển – cả hai bổ sung cho nhau. Những tư tưởng Phật giáo Phát triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên thủy, nếu không thì giáo lý Phát triển sẽ mất đi giá trị của nó. 5. Mặc dù truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những khác biệt, tuy nhiên, những khác biệt ấy không cơ bản. Trái lại, những điểm tương đồng lại rất cơ bản như sau : a/. Cả hai đều nhìn nhận Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư. b/. Cả hai đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi; đều chấp nhận pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; đều chấp nhập con đường tu tập : Giới, định, tuệ. c/. Cả hai đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới. Tóm lại, Kinh tạng Nguyên thủy là kinh tạng ghi chép lại những lời Phật và Thánh chúng một cách đầy đủ nhất. Kinh tạng này mang tính thiết thực gần gũi với tâm lý con người và sự sinh hoạt của xã hội. Đây là cơ sở giáo lý mà chúng ta lấy làm nền tảng cho mọi nghiên cứu, thực tập và nhất là hiểu một cách đúng đắn tư tưởng đạo Phật phát triển. 3.5. nguyên thủy và đại thừa cùng một cỗ xe: pháp thừa (Dhammayana) Khi đọc kinh điển, chúng ta cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử xã hội khi các kinh này được tạo ra.Các kinh Đại thừa được trước tác và xuất hiện vào cuối thời kỳ bộ phái, nghĩa là khoảng 400-500 năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Đây là các tư tưởng cải cách để đại chúng hóa đạo Phật, đối kháng lại đường lối thủ cựu, giáo điều, chấp kiến và vị kỷ của một số tu sĩ trong giới lãnh đạo tăng đoàn của nhiều tông phái thời bấy giờ, chứ không phải để ám chỉ riêng biệt một tông phái nào cả. Khuynh hướng ngày nay là dùng chữ Mahāyana và Theravāda nguyên ngữ để chỉ hai tông phái này. Khi dịch sang Việt ngữ, thường thì chúng ta dùng danh từ Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thủy, nhưng cũng có khi thấy dùng từ Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông) và Phật giáo Nam truyền (Nam tông) để chỉ hướng truyền đạo của Phật Pháp trong thời kỳ chuyển hóa, từ Ấn Độ đến các nơi khác. Gần đây, chúng ta thấy có khuynh hướng dùng danh xưng Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển cho hai tông phái chính ở Việt Nam. Dù là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp phương tiện giúp ta tu tâm tịnh ý để được an lạc và giải thoát.Chúng ta cần phải hiểu rõ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch sử trong tiến trình phát triển các bộ kinh điển và tông phái, để có được một sự thông cảm, hòa đồng và tương kính. Trong kinh Pháp hoa, Đức Phật có nói: "Chư Phật chỉ dùng một cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (nhất thừa Phật đạo), không có hai mà cũng chẳng có ba". Trong Tiểu bộ và Tăng chi bộ của kinh tạng nguyên thủy, Ngài cũng dạy rằng: "Như tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát." III. KẾT LUẬN: Chúng ta thấy rằng Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau trong từng giai đoạn của sự phát triển.Phật giáo Nguyên thủy đã bị vu oan trong những giai đoạn dài của lịch sử.Bên cạch đó Phật giáo Đại thừa lại bị thâm trầm trong dòng chảy của những định kiến về tông phái. Bởi những quan kiến cố hữu và không bao giờ mở rộng cõi lòng để đón những giọt sương lonh lanh thấp thoáng trong ánh ban mai của đạo giải thoát. Quan kiến đó đã đưa Phật giáo đi rất xa những điều thiết thực của cuộc mà trong lời dạy của đức đạo sư luôn muốn nhắc nở chúng đệ tử. Những tranh biện và những ý kỷ của suy nghĩ cá nhân đã làm cho ánh sáng Phật giáo đang bị mất dần. Giữa sự ảm đạm của bầu trời tranh biện ấy Đại thừa Phật giáo đã xuất hiện để khôi phục lại Phật giáo Nguyên thủy bằng phương pháp của riêng mình.Sự thích nghi với thời đại để rồi vận dụng những giáo lý nền tảng thành những đặc thù của mình đã mở ra những giai đoạn vàng son cho Phật giáo.Bằng nỗ lực nghiên cứu chứng minh của những nhà Phật học tâm huyết Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa được trả về với đặc tính vốn có của nó.Bằng những sử liệu sống động trong kinh tạng và tư tưởng trong nguyên thủy Phật giáo, phải chăng ta nên thay đổi sự nhìn nhận của mình?Những đóng góp tích cực của Phật giáo Đại thừa cho ta thấy Đại thừa Phật giáo là sự kế thừa Phật giáo Nguyên thủy ở đỉnh cao của sự kế thừa. Ngày nay trong chúng ta nếu không thay đổi những quan niệm sai lệch và chủ nghĩa cá nhân của mình thì một lần nửa ta sẽ đi trên vết xe của các bộ phái đã từng đi qua. Sự phận biệt về tông phái đã làm cho toàn thể Phật giáo có một bức tường vô hình ngăn cách không thể vượt qua. Cho nên chúng ta cần tiến lại gần nhau hơn xóa bỏ đi những định kiến của cá nhân và tông phái, mới có thể kế thừa những tinh hoa của đức Phật đã để lại. Có như thế thì Phật giáo mới có thể đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của thời đại.Là quay về để tự điều phục mình, tự nương tựa chính mình mà không phải nương vào bất cứ vị thần linh nào. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007. 5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969. 7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011. 8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85. 9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003. 10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208. 11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ. 12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 13. Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Aggivacchagotta, Nxb Tôn Giáo, 2012. 14. HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ương bộ kinh, tập I, VNCPHVN ấn hành, 1993. 15. TT Thích Minh Tuệ, Phật và thánh chúng, Nxb Tôn Giáo, 2009. 16. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2008. 17. TT Thích Viên Trí, Khái Niệm Về Bồ Tát Quán Thế Âm Lý Thuyết và Thực Hành, Nxb Tôn Giáo, 2005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét