THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DUY THỨC HỌC

NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DUY THỨC HỌC I. DẪN NHẬP: Những lời chỉ dạy của Phật cho các đệ tử thì được gọi là kinh, còn những điều ngăn cấm thì gọi là luật. trong tam tạng kinh điển thì Luận là những gì mà các đệ tử chứng ngộ của Phật viết ra nhằm làm sáng tỏ những điều Phật nói. Hệ thống duy thức học được đề cập rất nhiều trong các bộ kinh như Giải thâm mật, Lăng già và đặc biệt là Vi diệu pháp ...Về sau có hai anh em là Vô Trước và Thế Thân đã hệ thống hóa hoàn toàn về giáo lý duy thức cho ngắn gọn và dễ hiểu. Duy Thức Học, môn nghiên cứu tìm hiểu nguyên ủy của hiện tượng vạn pháp để xác lập một luận cứ, cho người tìm hiểu học và đọc có thể biết được. Duy Thức Học là phương tiện chỉ nam hướng dẫn phương pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tư duy bên mặt trừu tượng. Do vậy, Duy Thức Học, còn gọi là Pháp Tướng Duy Thức Học. Duy thứctông là một trong những tông phái quan trọng của Phật giáo. Theo dong thời gian và căn cơ của chúng sanh mà giáo lý tông duy thức bị phai mờ.Đây là một hệ thống giáo lý bác học của Phật giáo, nếu nền tảng phật học của người tìm hiểu phật giáo không vững chắc thì không thể hiểu rõ được giáo thuyết của tông này.Người học phật muốn tìm hiểu và tu tập theo duy thức thì cần phải hiểu rõ những thuật ngữ và quán xét được các hành tướng của Pháp, nhân và ngã đều không có thực mà chỉ là do thức biến, mà không còn phiền não. Đó là khái quát nội dung vì sao người viết chọn đề tài của bài luận là “Tìm hiểu nguồn gốc và sự phát triển của học thuyết Duy Thức” mà giáo sư đã cho, nhằm xác lập chân lý Vô ngã qua cái nhìn của Đại thừa Duy Thức Học qua thức Alaya với vấn đề vũ trụ nhân sinh quan. 1. Lý do chọn đề tài: Trong các trường Phật học, ở nước ta, hiện nay, vừa có dạy Tâm lý học đại cương vừa có dạy Duy thức học. Nhưng hai môn đó được dạy mà không có sự liên hệ và so sánh với nhau. Nhiều vị tăng ni hiện nay được đào tạo trong các trường đại học thế tục lẫn các trường Phật học, do đó, họ được học cả hai môn nói trên. Trong quá trình thuyết pháp ở các cơ sở Phật giáo, nhiều nhà sư muốn vận dụng cả Tâm lý học lẫn Duy thức học, vì trong đồng bào Phật tử cũng có những người hiểu biết ít nhiều về Tâm lý học, nên việc thuyết pháp như vậy sẽ càng thuyết phục hơn đối với những phật tử đó. Thực tế nêu trên đã thúc đẩy con lựa chọn đề tài này để nghiên cứu. 2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu: Phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn Tâm lý học đại cương và môn Duy thức học trong các trường Phật học của nước ta hiện nay. Phục vụ cho việc thuyết pháp của các chư tăng ở những cơ sở Phật giáo. Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu và nguồn gốc và sự phát triển của duy tức học. II. NỘI DUNG: 1. Nguồn gốc của Duy Thức Tông: “Khuynh hướng đầu tiên hướng về Duy Thức tông bắt đầu vào khoảng năm 150 sau T.L. với kinh Sandhininnocana. Giữa năm 150 và 400, chúng ta có vài tài liệu kinh giảng thuyết “Duy Thức”. Kinh Lăng già (Lankàravatàra Sùtra), Hoa Nghiêm (Avatamsaka) và Abhisamayàlankàra giữ địa vị trung gian giữa Trung Quán luận và Duy Thức tông”. Theo truyền thuyết thì Người đầu tiên sáng lập ra tông Duy thức chính là Bồ tát Di –Lặc, sau khi tu chứng được duy thức quán đã thuyết Du già sư sư địa cho Ngài Vô Trước.Ngài Vô trước đã truyền giáo pháp này cho ngài Thế Thân.Bồ tát Vô Trước đã sáng tác ra bộ “Hiển dương Thánh giáo” và “Nhiếp Đại Thừa” dưạ theo tác phẩm “Du già sư địa”. Còn Ngài Thế Thân có công rất lớn trong việc truyền bá Duy thức, ngài đã sáng tác rất nhiều tác phẩm nhưng nổi bậc nhất là “Duy thức tam thập tụng”, tóm tắt giáo lý của duy thức.Về sau có mười tác phẩm chú giải bộ Duy thức Tam thập tụng, đó cũng chính là mười bộ luận chính của tông duy thức. Duy thức tông phát triển nhất là vào thế kỷ thứ 6 Công nguyên, có nhiều trung tâm truyền bá tông phái này.Trung tâm lớn nhất là đại học Na-lan-dà ở Bắc Ấn Độ.Người có công truyền bá là bồ tát Hộ Pháp. Kế đó là trung tâm Valabhi (valabhī) do bồ tát Đức Huệ sáng lập.Người kế nghiệp ngài Đức Huệ là An Hụê có cái nhìn tương đối hơn về duy thức và là người dung hòa giữa học thuyết Duy thức và Trung quán của Bồ tát Long Thọ. Còn Trần-na và Pháp Xứng là hai người kết hợp duy thức với Kinh lượng bộ mà lập ra môn Nhân minh học nổi tiếng của Ấn Độ và Phật giáo, cách tranh luận bằng nhân minh để đả phá các học thuyết ngoại đạo và xiển dương chánh pháp. Duy thức tông cũng dựa vào các bộ kinh do đức Phật thuyết giảng và mười một bộ luận đó là: 1. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (sa. buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra) 2. Giải thâm mật kinh (sa. sandhinirmocana-sūtra); 3. Như Lai xuất hiện công đức kinh, không có bản Hán văn; 4. Đại thừa a-tì-đạt-ma (sa. mahāyānābhidharma-sūtra), được nhắc đến trong Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luậnnhưng không có bản Hán văn, có lẽ đã thất truyền; 5. Nhập Lăng-già kinh (sa. laṅkāvatāra-sūtra); 6. Hậu nghiêm kinh (sa. ghaṇavyūha), chưa được dịch ra Hán văn; Mười một bộ luận: 1. Du-già sư địa luận (sa. yogācārabhūmi-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch ra Hán ngữ, 100 quyển. Đây là bộ luận chính của Duy thức học; 2. Đại thừa bách pháp minh môn luận (sa. mahāyānaśatadharma-vidyādvāra-śāstra), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 3. Đại thừa ngũ uẩn luận (sa. skandhaka-prakaraṇa), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 4. Hiển dương thánh giáo luận (sa. ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch, 20 quyển; 5. Nhiếp đại thừa luận (sa. mahāyāna-saṃgraha), có ba bản Hán dịch: 1. Phật-đà-phiến-đa (sa. buddhaśānta) dịch, 2 quyển; 2. Chân Đế (sa. paramārtha) dịch, 3 quyển; 3. Huyền Trang dịch, 3 quyển; 6. Đại thừa a-tì-đạt-ma (tạp) tập luận (sa. abhidharma-samuccaya), Vô Trước soạn, Sư Tử Giác (sa. siṃhabodhi) thích, An Huệ (sa. sthiramati) tập, Huyền Trang dịch, 16 quyển; 7. Biện trung biên luận (sa. madhyāntavibhāga-śāstra), Di-lặc thuyết, Huyền Trang dịch, 3 quyển; 8. Nhị thập duy thức tụng (sa. viṃśika-vijñāptimātratā-kārikā), có ba bản dịch: 1. Duy thức luận, Bát-nhã-lưu-chi (sa.prajñāruci) dịch, 1 quyển; 2. Đại thừa duy thức luận, Chân Đế dịch, 1 quyển; 3. Duy thức nhị thập tụng, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 9. Duy thức tam thập tụng (sa. triṃśatika-vijñāptimātratā-kārikā), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 10. Đại thừa trang nghiêm kinh luận (sa. mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Vô Trước soạn, Ba-la-phả-mật-đa (sa.prabhākāramitra) dịch, 13 quyển; 11. Phân biệt du-già luận (?), Di-lặc thuyết, chưa có bản Hán văn; 2. ý nghĩa và sự hình thành duy thức học: 2.1. ý nghĩa: DUY THỨC: (Vijnãnamãtratã) nghĩa là chỉ có sự hiểu biết trên hết và ngoài sự hiểu biết ra không còn sự vật nào khác có thể thay thế được, nên gọi sự hiểu biết là DUY THỨC. Theo Duy Thức, vạn pháp trong vũ trụ gồm cả tâm lý và vật lý đều là hình tướng giả tạo, không có thể chân thật và chúng nó luôn luôn bị sanh diệt để biến hoại. Sự có mặt của vạn pháp chính là do THỨC kết hợp các yếu tố về vật chất như là: Đất, Nước, Gió, Lửa để tạo nên và sự sanh diệt của vạn pháp cũng là do THỨC tác dụng không ngừng. Chỉ có THỨC mới đủ khả năng tạo dựng và duy trì sự sống còn của vạn pháp, nên gọi vạn pháp đều do DUY THỨC BIẾN. Chi tiết hơn, phàm bất cứ sự vật nào mỗi khi dùng làm đối tượng (Object) với mắt, tai, mũi, miệng, lưỡi và toàn bộ thân thể của con người thì ngay lúc đó, một năng lực hiểu biết phát xuất từ phía trong con người đó tác dụng để tiếp xúc với sự vật đối tượng trên liền phát sanh cảm giác và phân biệt. Cũng do từ sự phân biệt này, những tư tưởng của hiểu biết mới nối tiếp hiện khởi và sáng tạo thêm nhiều sự vật khác không cùng bản chất và không cùng hình tướng. Những sự vật khác không cùng bản chất và không cùng hình tướng được sáng tạo thêm đều do tư tưởng của hiểu biết xây dựng nên để được góp mặt trong vũ trụ cũng gọi là do DUY THỨC BIẾN. Nói cách khác, những sự vật không có thể chất, nghĩa là những sự vật không có sức sống ở trong, do Ý Thức thứ sáu tưởng tượng xây dựng thì cũng thuộc loại giả tạo và cũng không thực thể, đều cũng được gọi là do DUY THỨC BIẾN. 2.1.1. Duy thức học: (Logic of Knowledge): Duy Thức Học là một khoa học không ngoài mục đích khảo sát, tìm hiểu vạn pháp trong vũ trụ về phương diện tên gọi (danh xưng), tính chất, thực thể và những hình tướng không giống nhau của những pháp đó để chứng minh rằng, tất cả đều là giả tạo, đều là duyên sanh, đều không thực thể mà trong đó chỉ do Duy Thức làm chủ biến hiện. Nói cách khác, vạn pháp trong vũ trụ đều do Thức đứng ra kết hợp các yếu tố quan hệ, cần thiết để xây dựng và chuyển hóa thành hình tướng. Duy Thức nếu như rút lui và không còn sinh hoạt nữa thì vạn pháp sẽ bị hoại diệt theo. Tâm Thức không có hình tướng, chỉ căn cứ nơi các sự vật có hình sắc trong vũ trụ do Tâm Thức kết hợp và biến hiện để xác định thực thể của Tâm Thức. Nhằm kết luận quy về Tâm Thức làm căn bản cho chúng sanh hiện có mặt trong vũ trụ. Duy Thức Học chú trọng đến giá trị tâm linh làm nền tảng để mở bày nguyên lý của vạn pháp. 2.1.2. mục đích của duy thức học: Duy Thức Học là một môn học về Tâm, bắt đầu từ nơi Thức để tìm hiểu nguồn gốc của Tâm, nguyên do Tâm chính là thể (Static State) của Thức mà Thức lại là tác dụng (Activity) của Tâm Thể. Tâm Thể nếu như không có thì không có Thức tác dụng. Thế nên các nhà Duy Thức căn cứ trên sự tác dụng của Tâm Thể mà đặt tên cho nó là Thức, nhưng Thức ở đây chính là Thức Tạng (Thức Alaya dịch là Thức Tạng, nghĩa là Thức Chứa). Thức Tạng là một loại Tâm Thức có giá trị làm căn bản cho sự sanh khởi vũ trụ và nhân sanh, nghĩa là vạn pháp và loài người trong vũ trụ đều phát sanh từ nơi Tâm Thức này. Đó là lời khẳng định của các nhà Duy Thức. Duy Thức Học còn nhiệm vụ nữa là tìm hiểu vạn pháp và loài người trong vũ trụ từ đâu sanh, ai sanh ra chúng và sanh bằng cách nào? Các nhà Duy Thức đi đến kết luận rằng: "VẠN PHÁP ĐỀU DO THỨC BIẾN HOẶC TẤT CẢ ĐỀU DO TÂM TẠO". Để minh chứng cho những lời kết luận trên, chúng ta nên dựa theo ba tiêu chuẩn của các nhà Duy Thức đã quy định để khảo sát. Ba tiêu chuẩn đó là: 1.- THỂ (Dynamic State): nghĩa là thể tánh hay bản thể của vạn pháp và loài người, tức là nguồn gốc phát sanh ra vạn pháp và loài người. Đứng trên lập trường Nhân quả mà nhận xét thì Thể ở đây là chỉ cho Nguyên Nhân (Cause), nghĩa là nguồn gốc để phát sanh ra vạn pháp và loài người. 2.- TƯỚNG (Form): nghĩa là hình tướng, tướng trạng của vạn pháp và loài người. Vạn pháp và loài người có nhiều hình tướng khác nhau thì nơi thể tánh nhất định cũng có nhiều nguyên nhân và chủng loại không giống nhau. Hình tướng của mỗi pháp khác nhau như thế nào thì nơi thể tánh, mỗi chủng loại cũng riêng biệt nhau và không giống nhau như thế đó. Nguyên do hình tướng của vạn pháp và loài người thảy đều phát sanh từ nơi thể tánh của mỗi chủng loại. Cũng như cây mít phát sanh từ nơi hạt mít và hạt mít chỉ sanh ra cây mít mà không thể sanh ra cây cam. Tướng ở đây là chỉ cho Quả Tướng, nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên nhân. 3.- DỤNG (Action): nghĩa là phần tác dụng của những nguyên nhân đã được phát sanh từ nơi thể tánh. Vạn pháp trong vũ trụ, có loại hiện ra hình tướng nhìn thấy được, có loại không hiện ra hình tướng mà người khảo sát chỉ biết qua sự tác dụng của chúng. Thí dụ như Tâm Lý của con người và năng lượng của điện không gian, chúng ta chỉ có thể hiểu biết qua sự tác dụng của chúng, mà không thể nhìn thấy được hình tướng thật của chúng. Dụng ở đây cũng là chỉ cho Quả Tướng, nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên nhân. Các nhà Duy Thức căn cứ nơi TƯỚNG và DỤNG của vạn pháp và loài người, nghĩa là căn cứ nơi sự kết quả của vạn pháp và loài người đã được thành hình mà khảo sát bằng cách quán chiếu theo phương pháp Thiền Quán và nhờ đó tìm ra bản thể của chúng, đồng thời biét được chúng từ đâu sanh ra một cách chính xác. 2.1.3. Lợi ích của duy thức học: Như trước đã trình bày, Duy Thức Học là một môn học nhằm mục đích nghiên cứu những hình tướng giả tạo do Nhân Duyên Sanh của các sự vật để tìm hiểu nguồn gốc sanh khởi vạn pháp. Từ đó, những học giả nào nếu như đã hiểu rõ Duy Thức thì lẽ đương nhiên những người đó đã giác ngộ được sự thật của vạn pháp, nhận thức đúng nguyên lý, phân biệt một cách rõ ràng lẽ chánh tà, chân vọng và họ không còn bị mê hoặc, không còn bị lầm lẫn bởi những chủ thuyết ảo tưởng, những chủ nghĩa giả tạo. Đồng thời họ cũng tẩy trừ được bệnh chấp trước (chấp ngã, chấp pháp) và giải thoát khỏi nguồn gốc sinh tử luân hồi trong ba cõi. Thế là những học giả nói trên đã chứng được trạng thái Niết Bàn Tịch Tịnh Hữu Dư (Nghĩa là tâm người đó đã đạt được trạng thái Niết Bàn, nhưng thân thể của họ còn bị ô nhiễm khổ đau nên gọi là Hữu Dư Niết Bàn). Duy Thức Học lại còn mục đích nữa là liên kết mọi yếu tố cần thiết trong chiều hướng trở về nguồn tâm trí căn bản của chúng sanh để làm nền tảng cho sự chứng ngộ mà những học giả có thể nhận thức được rằng: Ngoài những hiện tượng giả tạo đã được kết hợp bởi hình thức duyên sanh, con người còn có Tâm Trí ở trong và Tâm Trí đó đã được chuyển hóa từ Tâm Thức. Tâm Trí này là tâm chân thật không sanh diệt, không nhơ sạch, không tăng giảm và nó chính là yếu tố vô cùng trọng đại trong mọi lãnh vực sanh tồn của chúng sanh. Vì chú trọng giá trị tinh thần của Tâm Trí nói trên, những học giả Duy Thức Học sẽ cố gắng gia công cải tiến Tâm Trí của mình để được tốt đẹp, để được thuần lương và để làm môi trường cho sự tiến tu đạo nghiệp, ngỏ hầu sớm ra khỏi vòng đai sinh tử luân hồi trong ba cõi (trong Tam Giới), đồng thời đạt thành chánh giác qua phương pháp tu Duy Thức Quán. Ngoaì ra, với tính cách mổ xẻ, phân tích chi ly các sự vật phức tạp hiện có mặt trong thế gian này để nhận thức về tính chất, giá trị và ý nghĩa của vạn pháp, Duy Thức Học còn làm thỏa mãn một phần nào những dữ kiện mà các nhà Khoa Học cần đến, đồng thời Duy Thức Học cũng là kim chỉ nam, cũng là chìa khóa giúp cho các nhà nghiên cứu Phật Học đi vào kho tàng Giáo Lý Đại Thừa. 2.1.4. Chủ trương của Duy Thức Tông: Quan điểm chính của tông này là tất cả vạn pháp và con người đều do thức biến, mọi cảm nhận của con người đối với hoàn cảnh bên ngoài chỉ là do tâm tạo tác, vốn là không thực có.“ Chủ-trương của Duy-thức tôn là phá trừ vọng chấp ngã, pháp (biến kế sở chấp), bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy tất cả các pháp đều nương nơi thức hiện ra (y-tha khởi), và mục dích cuối cùng lá đưa chúng sanh trở về với tánh chân thật (viên-thành thật)”[2].Thế giới bên ngoài thuần túy chỉ là thức vì khách quan và chủ quan đều không có thực. Sự cảm nhận chỉ là một ảo ảnh do thức A-lại- gia biến hiện mà bị lầm tưởng là thực. Khi chúng sanh thấy rõ các pháp là do thức biến hiện thì không còn chấp thật ngã và thật pháp nữa.Biết cảnh và vật giống như chiêm bao thì không còn bị cảnh lôi kéo.Khi tỉnh thức thì sẽ nhận rõ được bản chất của nhân sinh vũ trụ, thấy được tánh viên thành thật của chính mình, đó là chủ trương của duy thức tông.hay dễ hiểu hơn là Duy thức Tôn chủ chương vạn hữu vũ trụ quy về duy thức tướng, rồi từ duy thức tướng tu tập để trở về duy thức tánh. 2.2. sự hình thành duy thức học: (Phần lịch sử của Duy Thức Học): Duy Thức Học là một trong những môn học về Tạng Luận, bắt đầu bằng sự hiểu biết nên gọi là Thức. Người sáng lập ra môn học này phần đông là các vị Bồ Tát. Đầu tiên đức Phật Thích Ca khi còn tại thế thường giảng Duy Thức trong nhiều bộ Kinh như: Kinh Lăng Già, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Giải Thâm Mật, Kinh Mật Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Công Đức Trang Nghiêm v.v... cho các hàng đại Bồ Tát. Trong các đệ tử của đức Phật, Ngài Di Lặc (Maitreya) là một vị Bồ Tát đã đắc đạo về môn học này. Khoảng 900 năm sau Phật nhập diệt, Ngài Vô Trước (Asanga) cũng là vị Bồ Tát ra đời, thọ giáo với Bồ Tát Di Lặc tại cung trời Đâu Xuất về môn học Duy Thức này. Sau khi đắc pháp, Bồ Tát Vô Trước đứng ra khởi xướng và phát huy môn học Duy Thức tại Ấn Độ. Em Ngài Vô Trước là Ngài Thế Thân (Vasubandhu) theo anh học Đạo. Đầu tiên Ngài Thế Thân sáng tác quyển "DUY THỨC TAM THẬP TỤNG" và quyển này được truyền bá khắp nơi trong nước Ấn Độ. Hệ phái tư tưởng Duy Thức được thành lập từ đây. Đến thế kỷ thứ VI Tây Lịch, có nhiều đại Luận Sư rất lỗi lạc, nổi tiếng về môn học Duy Thức đã được xuất hiện tại Ấn Độ như: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, Trần Na, An Tuệ, Nan Đà, Tịnh Nguyệt, Hộ Nguyệt, Hộ Pháp, Giới Hiền, mỗi vị đều có sáng tác và chú thích nhiều bộ Luận để phát huy Duy Thức Học. Đến đời nhà Đường bên Trung Hoa, niên hiệu Trinh Quán năm thứ 3 (636TL) có ngài Pháp Sư Huyền Trang du học ở Ấn Độ. Tại Đại học Nalanda, Ngài thọ giáo với Luận Sư Giới Hiền về môn học Duy Thức hơn mười năm. Sau khi về nước, Ngài Huyền Trang đứng ra phát huy tư tưởng Duy Thức khắp Trung Hoa với tác phẩm: "THÀNH DUY THỨC LUẬN" do Ngài sáng tác. Ngoài ra Ngài Huyền Trang còn dịch nhiều bộ luận rất liên hệ về môn học Duy Thức, chuyển ngữ từ chữ Phạn ra chữ Hán. Đệ tử Ngài Huyền Tang, có các ngài như: Khuy Cơ, Tuệ Chiếu, Trí Châu v.v... thay nhau truyền bá môn học này. Đến cuối đời nhà Nguyên (1279TL), môn học Duy Thức không người kế thừa nên bị mất tích tại Trung Hoa. Mãi đến Dân Quốc năm 1912, có cư sĩ Dương Nhơn Sơn ở Nhật Bản, mang môn học Duy Thức về Trung Hoa phát huy trở lại và thành lập "NỘI HỌC VIỆN CHI NA" để làm cơ sở nghiên cứu môn học Duy Thức cho những học giả trí thức trong nước. Nhờ đó môn học Duy Thức tại Trung Hoa được phục hưng trở lại và mở rộng sang Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, môn học Duy Thức cũng được phổ biến từ lâu và những Luận Sư nổi tiếng về môn học này như: Thiện Hoa, Tuệ Nhuận, Thạc Đứ, Nhất Hạnh v.v... Đây là sự tiến trình môn học Duy Thức thành một hệ thống tư tưởng siêu đẳng và đã được lan tràn khắp nơi trên thế giới. 2.3. những yếu tố cấu tạo con người và vạn pháp: Theo Duy Thức Học, vạn pháp và loài người trong vũ trụ tất cả đều do bảy yếu tố cấu tạo bằng lối kết hợp lẫn nhau để thnàh hình. Thiếu một trong bảy yếu tố này, vạn pháp và loài người không thể sanh trưởng và tồn tại. Bảy yếu tố này gọi là bảy nguyên nhân rất cần thiết để xây dựng vạn pháp và loài người. Theo Phật Giáo, con số "7" là một "BIỂU PHÁP" nghĩa là nguyên lý của vạn pháp tiêu biểu bởi bảy yếu tố và nó vô cùng quan hệ, vô cùng cần thiết trong việc xây dựng vạn pháp và loài người. Cho nên số "7" được gọi là Biểu Pháp. Bảy yếu tố nói trên một khi hợp tác với nhau để sáng tạo vạn pháp và loài người thì tác dụng theo công thức mười hai nhân duyên, thường gọi là Nhân Duyên Sanh. Đức Phật Thích Ca khi mới sanh ra đi bảy bước trên bảy hoa sen cũng là hình thức biểu tượng cho nguyên lý số "7" nói trên. Bảy yếu tố là: Đất, Nước, Gió, Lửa, Nghiệp, Ngã Pháp (tức là Ngã Tướng và Pháp Tướng) và Thức. 1/- ĐẤT: là năng lực chướng ngại, có tánh chất ngăn ngại khiến cho vạn vật bị ngăn cách và không được lưu thông với nhau, như xương thịt con người, xương thịt cây cỏ v.v... 2/- NƯỚC: là năng lực lưu nhuận, có tánh chất tươi nhuận và dung hóa các chất ngại để thành nhiều nguyên chất khác nhau, như máu huyết con người lưu thông, thấm nhuần và dung hóa thành tươi nhuận. 3/- GIÓ: là năng lực phiêu động, có tánh chất chuyển động và biến đổi, khiến cho các hiện tượng luôn luôn sanh diệt biến hóa không ngừng, như gió, như hơi thở của con người. 4/- LỬA: là năng lực viêm nhiệt, tức là sức nóng hàm chứa trong vạn vật, như nhiệt lượng trong con người. 5/- NGHIỆP: là một năng lực được kết thành hạt giống bởi hành động, bởi nói năng và bởi ý tưởng của chúng sanh. Năng lực nghiệp hội tụ lại thành tiềm năng trong Tâm Thức Alaya. Năng lực này là một trong những nguyên nhân thúc đẩy vạn pháp sanh khởi và lớn lên theo chiều hướng quả báo thiện ác. 6/- NGÃ PHÁP (Forms): gọi đủ là Ngã Tướng và Pháp Tướng. Ngã Tướng là chỉ cho hình tướng của những chúng sanh thuộc loại động vật, trong đó gồm có con người. Pháp Tướng là chỉ cho hình tướng của những chúng sanh thuộc loại Thực Vật và Khoáng Vật. Ngã Tướng và Pháp Tướng được gọi chung là Ngã Pháp. Ngã Pháp là hình tướng sai khác của các chúng sanh được Ý Thức thứ sáu kết hợp và cô đọng lại thành hạt giống (Chủng Tử) nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống này chính là những mô hình (Forms) để làm nhân tố cho sự sanh khởi vạn pháp không giống nhau. Thí dụ như, hai người sanh đôi, một trai, một gái không giống nhau, nguyên vì chúng có hai Ngã Tướng nam và nữ khác nhau, Do hai Ngã Tướng nam và nữ khác nhau cho nên chúng được xây dựng thành hai hình tướng trai và gái không giống nhau. 7/- THỨC TẠNG (Thức Alaya): là một Tâm Thức có khả năng duy nhất về việc xây dựng hệ thống sanh mạng cho tất cả chúng sanh, cũng như xây dựng hệ thống sinh lý cho con người qua sự thúc đẩy bởi Nghiệp Lực. 2.4. nhận định sự có mặt con người và vũ trụ: Mỗi con người là điểm trung tâm của vũ trụ loài người. Sự có mặt của vũ trụ là tùy thuộc sự có mặt của con người, cũng tương tợ như một bóng đèn điện là điểm trung tam của vũ trụ ánh sáng điện và vũ trụ của ánh sáng điện chính là phát sanh từ nơi bóng đèn điện. Sự có mặt của ánh sáng điện lại cũng tùy thuộc và sự có mặt của bóng đèn điện. Bởi thế vũ trụ nhất định không thể có mặt trước khi con người chưa xuất hiện và ngược lại, con người cũng không thể có mặt trước khi vũ trụ chưa thành hình, nghĩa là đứng về phía nguồn gốc của bản thể mà nhận xét, vũ trụ và loài người cả hai có mặt cùng một lúc, khác nào con người đang mộng (Dream) và thế giới trong mộng cả hai hiện khởi cùng một lúc. Để có một số khái niệm rõ ràng hơn về vấn đề nêu trên, chúng ta thử đặt một giả thuyết: Giả sử quả địa cầu mà chúng ta đang nương tựa được thí dụ như thân thể con người đối với những loài vi trùng hiện đang sống trong đó. Chúng ta bám vào quả Địa Cầu này để sanh trưởng cũng không khác nào những loài vi trùng bám váo trong thân thể của con người để phát triển. Như vậy, thử đặt vấn đề, con người có mặt trước khi những loài vi trùng xuất hiện hay là những loài vi trùng có mặt trước khi con người sanh ra? 2.5. Sự phát triển của Duy thức tông: Tông Duy thức xuất hiện tại Ấn Độ, chính nơi đây tông phái này đã phát triển vào thế kỷ thứ sáu công nguyên,.Ngài Di Lặc được coi là sơ tổ của tông phái này. Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), người Tây Bắc Ấn đã hệ thống hóa và phát triển tư tưởng ba giáo nghĩa về Tàng thức, Tam tướng và Tam thân Phật. Khi tác phẩm Tam thập tụng của Bồ tát Thế thân xuất hiện đánh dấu một bướt ngoặc phát triển của Tông phái này, giáo nghĩa của Duy thức đã được Ngài tóm tắt trong tác phẩm Tam Thập Tụng. Có mười tác phẩm luận giải tam thập tụng mà về sau Ngài Huyền Trang khi phiên dịch từ bản Phạn sang chữ Hán thì đã đặt tên là thành Duy Thức Luận. Duy thức Tông biến mất khỏi đất nước Ấn Độ khi chịu chung số phận Phật giáo bị tàn diệt vào khoảng 1.100 sau T.L.Các nhà đại học giả đã truyền Duy thức tông qua Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ...Trung Hoa là đất nước tiếp nhận giáo nghĩa Duy thức do hai bậc đại trí huệ là Paramàrtha (500-569) từ Ujjayini (Ogein) đến Đông Ấn năm 546 sau T.L và Ngài Huyền Trang khi du hoc ở đại học Na-lan-da trở về nước (khoảng 650).Cũng chính từ ngài Huyền Trang mà tên gọi Duy Thức Tông đã được biết đến.Ngài Huyền Trang đã tóm tắt giáo lý Duy thức của Ngài trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận.Đây là bản luận mà Ngài Huyền Trang chủ yếu ăn cứ nhiều nhất vào ngài Dharmapàla (Hộ Pháp), Trụ trì chùa Nalanđà (Na-lan-đà), và tương đối coi nhẹ chín vị khác. Ngài Khuy Cơ chính là nhân vật có nhiều sớ giải quan trọng đối với Duy thức, Ngài là vị đệ tử ưu tú nhất của Ngài Huyền Trang. Khuy Cơ Đại Sư viết nhiều bộ luận và một bộ bách khoa từ điển về giáo lý Đại Thừa, đây cũng chính là thời kỳ tông Duy thức được truyền bá mạnh mẽ khắp lục địa Trung Hoa và trở thành một tông phái lớn thời bấy giờ. Chẳng bao lâu thì thì duy thức được chia ra làm hai , một ngành ở phương Bắc và một ngành ở phương Nam, đến thời nhà Nguyên thì Tông duy thức bị thất truyền..Đến năm 653 Duy thức truyền bá tới Nhật bản và được biết đến với tên Pháp Tướng Tông. Trong thời đại Tempyo với sự cố gắng truyền bá của Đại sư Sojo Gien pháp tướng tông đã phát triển khắp xứ Nhật Bản. Đến nay thì tông phái này chỉ là một tông phái nhỏ, với với 44 chùa và 700 tăng sĩ. 2.6. những khái niệm quan trọng trong duy thức: Học thuyết ba thân cũng chính là điểm đặc sắc của Duy Thức Phật là tước hiệu, mang ý nghĩa “Ðấng giác ngộ”. Trong cách gọi trực tiếp và rành mạch nhất, danh hiệu Ðức Phật nếu dùng riêng là chỉ có ý đề cập tới ngài Tất-đạt-đa Cồ-đàm. Nhưng về mặt học thuyết, Phật giáo nới khá rộng ý nghĩa của từ ngữ Phật ra ba cách: Phật giáo tin rằng đã đang và sẽ có thêm nhiều đấng giác ngộ khác. Trong khi xem xét những truyền thống Phật giáo sớm sủa nhất, chúng ta đã tìm thấy ý tưởng về một vị Phật tương lai, đấng sẽ đến để phục hồi Phật pháp khi những lời giảng ấy gặp thời suy mạt ở chốn thế gian. Và đấng ấy là Phật Di Lặc. Trong truyền thống Ðại thừa, ý niệm ấy được dàn trải sâu rộng hơn để gồm vào nhiều vị Phật, mỗi vị có phẩm tính cá biệt hoặc phô bày một dạng thức trí huệ đặc thù. Quan điểm đó làm nổi bật ý tưởng rằng quả vị được Phật Thích Ca thành tựu mang ý nghĩa trọng đại và phổ quát, và đó cũng là khả năng thành tựu của hết thảy chúng sinh, như chúng ta đã thấy ở phần trên về ý tưởng “Phật tính” và “Như Lai”. Theo lời ghi lại trong kinh điển, Ðức Phật từng nói “Người nào thấy Pháp (Dharma: lời Phật giảng dạy và cũng là chân lý) tức là thấy Ta”. Như thế, tiếng Phật trở thành một thuật ngữ không chỉ dùng để nói tới những ai đã giác ngộ mà còn nói tới chân lý được vén lộ trong sự giác ngộ ấy. Còn nữa, trong khi chiêm nghiệm và quán tưởng như ứng dụng phương pháp tự hình dung hoá – cách riêng theo truyền thống Tây Tạng – có triển khai một cấp độ phong phú, bao gồm toàn bộ các hình dung về chư Phật và chư Bồ tát với những hình ảnh và màu sắc đa dạng, mỗi ảnh sắc phô diễn một khía cạnh của giác ngộ. Ba cách thức vừa kể đã dẫn đưa Ðại thừa tới các lời giảng được gọi là Ba Thân (trikaya). Học thuyết ấy tuyên bố rằng có ba thân của Phật: Pháp thân (dharmakaya). Tự tính của Phật vốn sáng suốt, trung lương, chiếu rọi khắp nơi mọi lối. Ðây thực là chân thân của Phật. Pháp thân cũng được hiểu là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như là thể tính của vũ trụ. Ðây cũng là Phật tính mà mọi sinh linh đều có chung, và cũng là Pháp hiểu theo hai nghĩa: một là qui luật vận hành trong vũ trụ, hai là những lời giảng của Ðức Phật Thích Ca. Báo thân (sambhogakaya). Thân do công đức và giác ngộ của các Bồ tát hoá hiện cho chúng sinh thấy. Cũng vì thế được gọi là Thụ dụng thân, thân hưởng thụ được qua những công đức thiện nghiệp đã tạo. Các thân Phật này – ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp – được mô tả trong kinh điển Ðại thừa và được hình dung trong tu tập sùng kính, phô bày một cách hình tượng các phẩm tính của giác ngộ. Hoá thân (nirmanakaya). Còn gọi là Ứng thân. Thân xuất hiện của Phật trên thế gian này trong nhân dáng loài người để tuỳ vào từng loại chúng sinh khác nhau mà giao tiếp và cứu độ. Hoá thân này cũng bị chi phối bởi quá trình sinh lão bệnh tử như con người bình thường. Duy thức đối với hiện hữu của vạn pháp và tự tính, bắt nguồn từ sự chiêm nghiệm của Ngài Vô Trước về Không tính.Cách hiểu này hơi khác đối với Trung Quán Tông.Ta có thể thăm dò điều đó qua cách diễn giải dung hợp của Kimura Taiken, học giả người Nhật trong cuốn Ðại thừa Phật giáo Tư tưởng luận, bản dịch của Thích Quảng Ðộ, Sài Gòn, không ghi nhà xuất bản, t. 238-239, khi ông dùng cụm từ “Chân-không Diệu-hữu” rằng: “Tuy nhiên, nếu nói một cách đại khái, thì theo tôi tất cả đều qui nạp về bốn chữ ‘Chân-không Diệu-hữu’. Chân-không [hư không] nghĩa là hết thảy hiện tượng đều không có tự tính, còn Diệu-hữu là chỉ sự tồn tại của vạn pháp mặc dầu vạn pháp đó không có tự tính. Hai quan niệm này không bao giờ xa lìa nhau, đó là đặc sắc của triết học Ðại thừa. Về phía Tiểu thừa, có những nhà quan niệm luận cho rằng hết thảy các pháp đều là giả danh, không có thực thể. Nhưng trái lại, cũng có những người chủ trương ba đời thật có, pháp thể hằng có, đó là bộ phái Thực tại luận cực đoan. Ðại thừa chỉ thống hợp cả hai quan niệm đó mà chủ trương Chân-không tức Diệu-hữu. Ðó là chỗ lập cước căn bản của Ðại thừa. Dĩ nhiên về triết học Ðại thừa, cũng có người chỉ thiên về phương diện Chân-không mà lập thành thế giới quan nhưng cũng có người phản đối chủ trương ấy mà nghiêng về diện Diệu-hữu để khảo sát các hiện tượng. Tuy có những chủ trương tương phản đó, nhưng bất luận chủ trương nào cũng đều thừa nhận rằng: Chân-không không ngoài Diệu-hữu và ngược lại. Nghĩa là khi đã đạt đến tuyệt đối thi Chân-không là Diệu-hữu, Diệu-hữu tức Chân-không. Ðó là điểm cộng thông của tất các các bộ phái Ðại thừa”. Học thuyết Như Lai tạng cũng là một giáo lý tối quan trọng đối với Duy thức và Phật giáo Đại thừa. Như Lai tạng theo tiếng sanskrit là tathagatagarbha, gồm hai chữ. Một là tathagata nghĩa là Như Lai: người đã đến như thế, danh hiệu của vị đạt giác ngộ ở bậc cao nhất, và cũng là một trong mười danh hiệu của một vị Phật. Garbha nghĩa đen là cung lòng người nữ, nghĩa bóng là mầm, được dịch sang chữ Tây Tạng có nghĩa là nơi chứa đựng, ẩn giấu và khả năng nuôi dưỡng. Hiểu theo Ðại thừa, Như Lai tạng đồng nghĩa với Phật tính. Học thuyết Như Lai tạng hay Phật tính hàm chứa ý tưởng rằng sinh linh nào cũng ẩn chứa trong lòng nó một vị Phật, một mầm Phật, nghĩa là mọi sinh linh đều có Phật tính. Sinh linh nào cũng có tiềm năng tăng trưởng đạt quả vị Phật. Mọi loài đều có khả năng đạt giác ngộ và trở thành Phật mà không bị hạn chế bởi kiếp sống hiện tại. Ở đây, quan điểm của Ðại thừa có khác với của Tiểu thừa về vấn đề mọi loài có sở hữu Phật tính thường trực hay không. Hầu như không nhắc tới Phật tính, Tiểu thừa cho rằng không phải sinh linh nào cũng có thể thành Phật. Ðại thừa vốn đặt quả vị Phật làm mục đích cao nhất nên cho rằng việc thể hiện Phật tính nằm sẵn trong hết thảy chúng sinh, thông qua phép tu học nhất định. Kinh Phạm Võng ghi: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”. Trong kinh Pháp Bảo đàn, phẩm thứ hai: Bát nhã, vị tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa là Huệ Năng viết rằng: “Phải biết người ngu, người trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng, nên có ngu có trí.” Như thế, Phật tính là tính giác ngộ, bản tính tốt lành, mầm lương thiện trong lòng của hết thảy các loài, bất kể con người hay thú vật. Còn nữa, Phật tính cũng tức là Chân như. Chân như là bản tính thường còn, bất diệt, chân thật, sáng suốt trong lòng của mọi sinh linh. Đối với người trí it dục thì khi tu tập thì sẽ tỏ rõ được cái chân như mà biết tránh nẻo quấy mà thấy rõ đường chơn chánh. 2.7. sự lợi ích của pháp tướng duy thức học: 2.7.1. Phá Trừ Sự chấp Sai Lầm Của Ngã Pháp: Do mưu kế mà có tự ngã chủ quan nên gọi là ngã chấp và cũng do mưu kế mà có vũ trụ khách quan nên gọi là pháp chấp. Nhân có cái ngã thì nhất định phải có cái không phải ngã và vì đã có cái không phải ngã thế là cái tham nơi các thứ phát sanh, tham được được toại nguyện thì lẽ cố nhiên sanh ra sân hận, tham sân lại nương nơi si mê và kiêu mạn tạo thành thế giới khổ não và tất cả những sự việc kể trên đều phát sanh từ nơi hai bệnh chấp ngã và pháp này. Học Pháp Tướng Duy Thức là hiểu rõ muôn pháp đều do các duyên hợp thành và do Duy Thức biến hiện thì quan niệm chấp ngã lẽ tất nhiên đã bị phá tan và cho đến các pháp sở hữu của ngã cũng không còn. 2.7.2. Diệt Tận Hoặc Chướng Của Sanh Pháp: Sanh là chỉ cho nhơn sanh của chúng sanh hữu tình và pháp là chỉ cho vũ trụ vạn vật v.v... Ngã chấp chưa phá tan thì phiền não chướng của tham, sân, si phát sanh và pháp chấp chưa trừ diệt thì cái chướng của sở tri lại cũng phát sanh. Pháp Tướng Duy Thức Học được biết rõ thì có thể đạt đến chân tướng cứu cánh tột cùng của vũ trụ nhơn sanh, nhờ liễu tri như thật về chân tướng cứu cánh tột cùng của vũ trụ nhân sanh cho nên cái chướng của phiền não và sở tri không thể nào phát sanh. 2.7.3. Giải Thoát Nghiệp Báo Biến Hoại: Vấn đề sinh tử, hoặc chướng sở dĩ được phát sanh là do lầm chấp ngã pháp, còn nghiệp thì lại phát sanh các thứ tư tưởng hành vi, nguyên do nghiệp nhân thì có hạn lượng và quả báo chiêu cảm thì cũng có hạn lượng, cho nên từ đó mới có vấn đề sinh tử. Thí dụ như triều đại quân chủ chuyên chế, chung cuộc rồi cũng có lúc bị tiêu diệt, lý do nghiệp của triều đại đó đã hết và quả báo của họ tất nhiên phải chấm dứt. Lầm ngã chấp pháp nếu như được tẩy trừ cho sạch thì nghiệp báo biến hoại có thể giải thoát và nghiệp báo viên mãn của Tứ Trí Bồ Đề Bất Tư Nghì mới có thể thành tựu. Phật học thường gọi liễu thoát sinh tử tức là nói đến vấn đề này. 2.7.4. Ý Nguyện Của Tâm Tánh Đầy Đủ: Nhơn sanh đều mong cầu đạt đến chí thiện, nếu như không đạt đến chí thiện thì ý nguyện của tâm tánh không thể đầy đủ, cũng như nước của ngàn sông vạn hồ nếu chẳng chảy đến được đại dương thì không thể đạt đến kết cuộc tối hậu. Đại Viên Mãn Giác của Tứ Trí Bồ Đề vừa là nơi chốn của chí thiện; có thể đem tánh tướng liễu tri như như của các pháp chuyển tất cả tạp nhiễm thành tất cả chí thiện là nguyện vọng của ý chí nhơn sanh có thể được đầy đủ. 2.7.5. Thành Tựu An Lạc Vĩnh Cửu: Đặc thù của an lạc thì có lâu và có mau, như thời đại của Tiểu Khương thì rất thái bình, hoặc thời cận đại phần lớn đại đa số nhơn loại đều mưư tìm quốc gia chủ nghĩa xã hội hạnh phúc rất lớn, nhưng vì nghiệp lực có giới hạn cho nên thành tựu sự an lạc cũng có giới hạn mà không phải vĩnh cửu. Lý do thế giới có trị thì có loạn, nhơn sanh khổ và lạc thì luôn luôn tìm nhau, huống hồ quốc gia đã có hiện hữu mà không thể không diệt vong, cũng như thế giới nhơn sanh đã có hiện hữu mà không thể không hoại diệt, chì vì trước mắt đã bị giới hạn thì làm sao có đầy đủ giá trị! Cho nên Tứ Trí của Duy Thức Thanh Tịnh nhất định phải đạt đến kết quả Đại Bồ Đề thì mới có thể thành tựu được an lạc vĩnh cửu. 2.7.6. Chứng Đắc Thanh Tịnh Vô Ngại: Thanh Tịnh vô ngại tức là tự do chân thật là chí thiện tuyệt đối. Thông thường hai chữ tự do luôn luôn được nhắc đến là thứ tự do bị kiềm chế bởi căn trần tiếp nhận có giới hạn, có thể nói loại tự do này chính nó đã bị trói buộc mà không phải thứ tự do chân thật; vô lậu thanh tịnh nếu như chuyên cần tu tập thì được thành Duy Thức Giới thanh tịnh và khi chuyển Thức thành Trí, quả vị thanh tịnh vô ngại liền được chứng đắc nên gọi là ngã tịnh, đó là thứ tự do chân thật và chí thiện tuyệt đối. III. KẾT LUẬN: Quá trình phát triển của Phật giáo được các vi Tổ sư tuy theo căn cơ của mỗi thời mà giảng giải giáo lý của Đức Thích Tôn. Duy thức tông cũng không ngoài tinh thần tùy căn cơ mà cho thuốc của Phật giáo. Traỉ qua từng thời kỳ mà giáo nghĩa được các vị Bồ tát phát triển hoàn chỉnh. Chúng sanh cách Phật càng xa càng thì căn cơ cang chậm lụt, nghiệp chướng và khổ đau ngày càng nhiều.Chính vì thế mà giáo pháp của Phật càng về sau càng phát triển những tư tưởng mới lạ để hợp với căn cơ của thời đại.Mục đích cũng vì hóa độ chúng sanh thoát khỏi phiền não buộc ràng mà chứng nhập cảnh giới an lạc , giải thoát.Qua đó những chứng bệnh thời đại như stress hay tâm thần không còn là bệnh trầm kha của con người nữa , chỉ cần khéo léo áp dụng giáo lý Duy Thức thì mọi căn bệnh thịnh hành của thời đại sẽ được chữa lành. Vì vậy người viết rất mong được tắm mình trong biển pháp duy thức học nói chung và triết lý thức alaya nói riêng. Cũng có thể giúp mọi người nhận được niềm hoa hỷ nơi giáo pháp này. “Lướt trên sóng sinh tử Thuyền từ dạo biển mê Nụ cười vô úy nở Phiền não tức bồ đề”. Bài này là nói về hạnh môn. Các vị Bồ-tát ban đầu cũng trôi lăn trong biển sinh tử, thường ngã, nhưng mà nhờ thực tập vô thường quán, vô ngã quán cho nên từ cái thế giới của hiện tượng mà tiếp xúc được với thế giới của bản thể, Niết-bàn..Vì thế mà nụ cười bất diệt sẽ luôn nở rộ trên môi người hành giả . TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007. 5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969. 7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011. 8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85. 9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003. 10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208. 11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ. 12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 13. Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Aggivacchagotta, Nxb Tôn Giáo, 2012. 14. HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ương bộ kinh, tập I, VNCPHVN ấn hành, 1993. 15. TT Thích Minh Tuệ, Phật và thánh chúng, Nxb Tôn Giáo, 2009. 16. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2008. 17. TT Thích Viên Trí, Khái Niệm Về Bồ Tát Quán Thế Âm Lý Thuyết và Thực Hành, Nxb Tôn Giáo, 2005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét