THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015
QUAN ĐIỂM VỀ PHẨM QUÁN NIẾT BÀN TRONG TRUNG QUÁN LUẬN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
1. Lý do chọn đề tài:
II. NỘI DUNG:
1. Quán niết bàn:
1.1. Niết Bàn trong Trung Quán Luận :
1.2. Trạng Thái Của Bản Chất Vạn Hữu:
1.3. Cái Vô Sanh. tức Thực Tại Tuyệt đối:
1.3. Đường đến bình an thật sự:
2. Niết bàn theo quan điểm bồ tát long thọ:
2.1. Niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa:
2.1.1. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy :
2.1.2. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo đại thừa:
2.2. Bản chất và mục tiêu giác ngộ:
2.3. niết bàn và sự chấm dứt luân hồi:
2.4. vô ngã là niết bàn:
3. Giá trị của niết bàn:
3.1. Niết-bàn trong hiện tại:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
QUAN ĐIỂM VỀ PHẨM QUÁN NIẾT BÀN
TRONG TRUNG QUÁN LUẬN
I. DẪN NHẬP:
Giác ngộ Niết Bàn là một quá trình tu tập lắm chông gai với nổ lực và kiên nhẫn lliên tục cho đến chí đạo. Những sự hành trì giới luật nghiêm minh, đoạn trừ những tham dục của tự ngã, diệt tận các lậu hoặc và phải rèn luyện trí tuệ để soi sáng sự vô minh che mờ tâm trí là gốc sanh tử luân hồi. Chứng đắc niết bàn là một kỳ tích mà đức Phật mở ra con đường sáng để chúng sanh noi theo đó tu tập. Duyên khởi từ niết bàn tập được giải thoát khỏi dòng tâm thức vẩn đục trong cõi dục giới và sắc giới vốn làm cho chúng sanh lặn ngụp trong chốn trầm luân của thế giới vô thường. Muốn đạt được trạng thái Chân Không theo ngài Long Thọ gọi là “Trung Không Diệu Hữu” nghĩa là trong nguyên lý Chân Không, thế giới Niết Bàn hiện diện một cách mầu nhiệm, phải học kỹ lời dạy của đức Phật trong Kinh Niết Bàn mà hành trì không thối chuyển ắt không thất vọng.
Từ xưa đến nay, khi nhận thức của nhân loại phát triển thì những vấn đề lớn của con người được đặt ra. Sống trong kiếp người với bao ưu phiền, khổ lụy, người ta luôn khao khát tìm ra một lẽ sống thích hợp để được an vui, hạnh phúc hơn. Rất nhiều nhà tư tưởng, trí thức của xã hội đã đưa ra những học thuyết, lý luận, cách sống tiến bộ, khoa học nhằm giúp ích cho con người. Tuy nhiên những học thuyết, lý lẽ ấy đều chưa thể đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của nhân loại, do còn bị hạn chế bởi tri giác hữu ngã, thiên kiến và còn bị bó buộc trong những khung mốc thời gian, không gian nhất định. May mắn thay, Đức Phật đã xuất hiện ra nơi đời, Ngài đã xuất gia tu hành, thành đạo và đã chuyển vận bánh xe pháp nơi trần thế. Với bài pháp đầu tiên Đức Phật đã trình bày về bốn chân lý cao thượng hay còn gọi là Tứ Thánh Đế bao gồm: Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Diệt Thánh Đế và Đạo Thánh Đế. Bốn chân lý này đã chỉ rõ thực trạng khổ đau hiện hữu nơi thế gian này, nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường tu tập để được hết khổ. Thế nhưng, vì ngay chân lý đầu tiên, Đức Phật đã đề cập đến khổ đế, xem khổ đau như là sự kiện hiển nhiên luôn luôn hiện hữu trong mọi kiếp sinh tồn, điều nay dễ làm cho nhiều người lầm tưởng Đạo Phật là đạo tiêu cực, bi quan, chán đời. Tuy nhiên, Đức Phật không chỉ dừng lại ở đấy, mà Ngài còn chỉ ra nguyên nhân và phương pháp tu tập để vượt lên trên mọi khổ đau, đạt đến cảnh giới giải thoát, Niết Bàn tức là Diệt Đế.
2. Lý do chọn đề tài:
Trung Quán Luận, một bộ luận trước tác bởi Bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna), là một bộ luận theo tư tưởng Đại thừa Phật giáo. Bộ luận được trước tác nhằm bác bỏ những quan điểm sai lầm của ngoại đạo cũng như Tiểu thừa Phật giáo và xiển dương giáo lý Đại thừa. Bộ luận đề cập đến nhiều vấn đề trong giáo lý Phật giáo, trong đó có giáo lý về vấn đề Niết Bàn nhằm bác bỏ quan niệm sai lầm về cảnh giới chứng đắc của ngoại đạo, cũng như Niết Bàn của Tiểu thừa để nêu cao cảnh giới tu chứng của chư Phật, chư đại Bồ Tát, cảnh giới của sự tịch tĩnh an vui, không còn phân biệt chấp trước. Đó chính là Niết Bàn của Đại thừa Phật giáo nói chung và trong Trung Quán Luận nói riêng. Với tâm nguyện tự độ, độ tha, cần cầu tu học, người viết rất thao thức mong được tìm hiểu và thấm nhuần trong tinh thần an vui, giải thoát của Đạo Phật, ngõ hầu làm hành trang cho mình trên bước đường “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa lợi ích chúng sinh”, đó chính là lý do mà người viết chọn đề tài “Nàgàrjuna với vấn đề Niết Bàn” để nghiên cứu.
II. NỘI DUNG:
1. Quán niết bàn:
Những chữ Không thấy ở đây là không có tự tánh và được Ngài Long Thọ dùng nó để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của lý duyên khởi mà Đức Phật Thích Ca đã nói qua câu: Cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia sinh ra. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành. Cái này dừng lại thì cái kia chấm dứt.
Khi hiểu được ý nghĩa của Không có tự tánh là gì, thì con đường Trung đạo của Đức Phật Thích Ca, chính là cách giúp cho tự mình biết tháo gỡ những gì thường hay bị trói buộc quá đáng trong: từng ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động, ở trong cuộc sống của chính mình cũng như đời sống tu học theo Đức Phật.
Khi bản chất tham dục của con người là không bao giờ biết đủ, thì qua sự so sánh trong hai kinh nghiệm từng trãi trong đời của Đức Phật Thích Ca đã rút ra một kết luận, để khuyên người đang đi tìm Đạo:" Đắm mình trong dục lạc dẫn đến nguy hại, là một điểm nên tránh. Tự hành hạ mình bằng các hình thức tu khổ hạnh nghiêm khắc, dẫn đến đau khổ, và nguy hại là một điểm không bao giờ nên làm".
Trên đời này không ai có thể thấy rõ và hiểu rõ được mình hơn là chính mình, điều này trên thực tế chưa có ai làm được, do đó điều thật sự quan trọng trong cuộc sống của mình chính cũng như đời tu theo Phật, là đừng bao giờ chủ quan cho mình là người tốt và cũng không bao giờ bi quan cho mình là người xấu, mà nên sống trong tinh thần khách quan, bằng cách không chỉ thấy hay cảm nhận bằng, tai, mắt, mũi, lưỡi, thân,ý, một cách trực tiếp hay gián tiếp, mà còn phải sống bằng chính kinh nghiệm của chính mình và cộng thêm những sự trãi nghiệm của người khác.
1.1. Niết Bàn trong Trung Quán Luận :
Từ khi Đức Phật tuyên bố: “Sarvam Sùnyam” (Mọi vật đều không), từ sự gợi ý của ba pháp ấn: “Vô thường - Khổ - Vô ngã” và sau đó các pháp được quan niệm như là “Mọi vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngã” thì vấn đề Niết Bàn (Nirvàịa), sau khi Đức Thế Tôn diệt độ đã được các bộ phái nêu ra đặt vấn đề trở lại theo quan niệm hiểu biết của họ về Niết Bàn, và cũng từ đó mọi tranh luận về nó cũng như các phần giáo lý khác trở nên gay gắt. Niết Bàn, vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu, có (bhàva) hay không (abhàva), một đề tài làm nảy sinh ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng gay gắt giữa Hữu bộ hay còn gọi là Nhất thiết hữu bộ (Sarvàsti-vàdin) và Kinh bộ còn gọi là Kinh Lượng bộ (Sùtra-vàdin), giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa Không tông (Sùnyatà-vadin), và vấn đề này không còn dừng lại nơi đây mà còn tiến xa hơn nữa, trong việc hòa giải giữa hai quan điểm nói trên bằng cách gọp chúng lại rồi chấp nhận cả hai để có một cái Niết Bàn hiện hữu theo sự hòa giải của họ, hay phủ nhận cả hai là chẳng phải có, chẳng phải không; đó là bốn thứ quan điểm của các bộ phái, nhưng theo Ngài Nàgàrjuna (Long Thọ) thì Đức Phật chưa từng nói ra một thứ Niết Bàn nào như vậy, ngay cả khi còn tại thế, hay sau khi vào Niết Bàn, Ngài nói:
“Sau khi Đức Như Lai diệt độ, không thể nói là Như Lai hiện hữu hay không hiện hữu, cũng không thể nói Như Lai vừa hiện hữu vừa không hiện hữu, chẳng phải có hiện hữu chẳng phải không hiện hữu”
1.2. Trạng Thái Của Bản Chất Vạn Hữu:
Từ duyên khởi Niết Bàn mà tu tập giải thoát.Muốn giải thoát thì phải tu tập vô dục.Muốn được vô dục thì phải tu tập yếm ly.Muốn có yếm ly thì phải tu tập thấy như thật biết như chân.Muốn được thấy như thật biết bhư chân thì phải tu tập định.Muốn được định thì phải tu tập lạc.Muốn có lạc thì phải tu tập chỉ.Muốn có chỉ thì phải tu tập hỷ.Muốn được chỉ thì phải tập hân hoan.Muốn có hân hoan thì hộ trì không hới hận.Muốn không hối hận thì phải tập hộ giới. Muốn có hộ giới thì phải tập thủ hộ các căn. Muốn được thủ hộ các căn thì phải tập chánh niệm chánh trí. Muốn được chánh niệm chánh trí thì phải tập chánh tư duy.Muốn có chánh tư duy thì phải tập tín.Từ tín lần lượt tu tập khổ, già chết, sanh, hữu, thủ, thọ, xúc, sáu xứ, danh sắc, thức, hành, vô minh. Rồi từ duyên vô minh lần lượt tu tập ngược lại theo các duyên trên cho tới tu tập giải thoát mới chứng đắc niết bàn.
1.3. Cái Vô Sanh. tức Thực Tại Tuyệt đối:
Từ cái Sanh hay bị sanh của thế gian, đức Phật (lúc còn là Bồ Tát} nhận rõ rằng con người với dòng tâm trí mê muội mãi chìm đắm trong cuộc sống xa hoa dục lạc, và cứ lăn trôi trong ngũ dục thì làm sao tránh khỏi thế giới sanh già bịnh chết, khổ, ô nhiễm. Sự vật trong thế giới hiện tượng là cái bi sanh, thì phải tìm đến cái vô sanh hay bản chất của thế giới này (hay Niết Bàn), cái luôn thường tồn bất biến. Khi con người đạt đến thế giới vô sanh thì không còn duyên sanh khởi, tức là thoát khỏi cảnh sanh già bịnh chết, ưu khổ. Tâm trí mê muộI của con người trong thế giới hiện tượng biến dị trong dòng bộc lưu sanh tử phải được vượt thoát ra khỏi nó để đến thế giới vô sanh, thường tồn, giải thoát khỏi duyên sanh diệt, tức là tìm về chân trí mà soi sáng vạn pháp để làm chủ cái bị sanh trong thế gian. D ùng chân trí (cái Vô Sanh) mới có thể mở ra con đường đi đếnNiết Bàn. Như Phật đã thuật lại sự tìm cái Vô sanh và đã chứng được cái vô sanh trong kinh Thánh Cầu-26 (kinh Trung Bộ).
Thật vậy muốn chứng đắc niết bàn hay giác ngộ niết bàn, tu sĩ cần rèn luyện trí tuệ, trì giới nghiêm minh. Riêng giới luật từ sư yếm ly dâm nộ si đã là một việc khó khăn rồi, còn biết bao nhiêu điều luật khác nữa như thúc liễm thân khẩu ý v.v.cần phải giữ gìn cẩn cẩn...
1.3. Đường đến bình an thật sự:
Nhằm để thực hành Đạo Phật, chúng ta trước nhất phải biết về tâm. Ngay cả nếu ta là một người không tín ngưỡng, ta có thể thử để cải thiện hay rèn luyện tâm, được cung cấp ta có kiến thức về nó. Bất cứ một con người bình thường nào, cho vấn đề ấy, có thể thực tập rèn luyện tâm và điều này cuối cùng sẽ chứng tỏ là rất hữu dụng.
Như một hành giả, chúng ta phải chú ý đến tâm chúng ta để cố gắng kiểm soát nó một cách liên tục. Chúng ta phải cố gắng loại trừ tất cả những cảm xúc tiêu cực và phát triển những cảm xúc tích cực - vô hạn lượng - đặc biệt trong sự thực hành Phật Giáo, vì thế một số người nói rằng Đạo Phật là khoa học về tâm.
-Mọi người muốn hạnh phúc; không ai muốn đau khổ. Nhiều rắc rối chung quanh chúng ta là vọng tưởng tinh thần của những thứ tiêu cực hay bất hạnh nào đó. Nếu chúng ta phân tích thái độ tinh thần của chính chúng ta, chúng ta có thể thấy nó thật không thể chịu nổi. Do vậy, một tâm quân bình hoàn hảo là rất hữu ích và chúng ta phải cố gắng để có một thể trạng tinh thần vững vàng.
Mọi người muốn có một thân thể khỏe mạnh và không ai muốn bệnh hoạn. Tôi cũng là một người không muốn rơi vào tình trạng bệnh hoạn nhưng thường bị cảm lạnh - một cách đặc biệt khi tôi viếng Đạo Tràng Giác Ngộ - Bodhgaya. Hầu như lần nào ở đấy, sự gia hộ quá rộng sâu khiến tôi luôn luôn bị sốt! Nhưng sự kiện vẫn hiện hữu là mọi người muốn có sức khỏe tốt, và đấy là một ý nghĩa quan trọng cho việc đạt đến một tâm ổn định.
Việc rèn luyện tinh thần là thiết yếu cho sức khỏe lành mạnh. Sức khỏe tốt lành và ổn định tâm biểu hiện cho một đời sống tốt đẹp và hạnh phúc hơn và một tương lai ý nghĩa. Mặc dù chúng ta có thể ở trong một môi trường thù nghịch, nhưng nếu thái độ tinh thần của chúng ta vững vàng và ổn định, sự thù nghịch sẽ không là nguyên nhân cho nhiều sự quấy rầy.
Không có sự ổn định tinh thần nội tại, hay thái độ tinh thần đúng đắn, chúng ta không thể vui vẻ, tĩnh lặng, hay bình an, ngay cả khi chúng ta được vây quanh với những bạn bè thân thiết hay những tiện nghi bậc nhất. Đấy là tại sao rèn luyện tâm là ưu việt và không nên được xem như một vấn đề tôn giáo.
2. Niết bàn theo quan điểm bồ tát long thọ:
Đối với Bồ tát Long Thọ, thì những quan niệm như vậy của các bộ phái đối với Niết-bàn là hoàn toàn không chính xác, và không hiểu được ý nghĩa “Sarvam Sùnyam” cho nên có những quan niệm sai lầm như vậy về ý nghĩa Niết-bàn. Từ sự hiểu lầm này nên đã đi lệch con đường Trung đạo của Ngài, và có những kiến thủ lệch lạc về các pháp nói chung và Niết-bàn nói riêng. Vì con đường Trung đạo của đức Phật không rơi vào Hữu hay Vô, không rơi vào vừa Có vừa Không, cũng không rơi vào chẳng phải có chẳng phải không, của những quan điểm thiên kiến tà chấp trói buộc này, mà con đường Trung đạo là con đường giải thoát mọi sự trói buộc khổ đau giữa hai bờ.
Đối với các nhà Tiểu thừa Hữu bộ, thứ nhất họ hiểu “Mọi vật đều Không” chỉ dành cho các pháp hữu vi mà thôi còn các pháp vô vi như Niết-bàn, thì không bị lệ thuộc vào chúng, thứ hai “Mọi vật đều không” chỉ dành cho Nhơn không chứ không dành cho Pháp không, thứ ba “Mọi vật không” thì không này là không trống rỗng, không có gì hết, không này là không đối lập lại với cái có. Do đó họ mới có những cật vấn như vầy.
2.1. Niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa:
2.1.1. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy :
Đức Phật chủ trương một Niết Bàn không ở ngoài ba cõi, như kinh Rohitassa đã dạy: “Tại chỗ nào, bạch Thế tôn, không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (bất diệt), không có sinh khởi (bất sinh), chúng con có thể đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?”. Đức Phật trả lời : “Này hiền giả, ta tuyên bố rằng : tại chỗ nào không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác, thời không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, ta tuyên bố về thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt”.
Trong giáo pháp của Ngài, Đức Phật đã phương tiện dùng hai hình thức Nhân quả và Duyên khởi, để một mặt đối trị về nhân quả tội phúc, và mặt khác giải phóng những phương tiện đó qua duyên khởi để hoàn thành Trung đạo giả danh trở về Không tính. Đó là con đường giải thoát thật sự như chính trong kinh Xà Dụ, hệ Pali đã dạy : “Chính pháp còn buông bỏ huống chi là phi pháp”. Nhưng đối với họ, điều này không quan trọng nên đã bị họ bỏ qua.Trong khi đó, họ không biết rằng chính họ đã phản bội lại Đức Phật qua lập trường chấp thủ tà kiến thuộc nhân quả nhị nguyên.Họ quên đi pháp Trung đạo duyên khởi, mà trong suốt cuộc đời, Đức Phật đã nỗ lực xiển dương chúng. Đức Phật chưa bao giờ chủ trương lấy Hữu -Vô làm lập trường chính để đưa chúng sinh đến giải thoát cả, mà ngài chủ trương: “Mọi vật đều không” nhằm phủ định có và không của các pháp và xiển dương tự tính Không, cũng là mở bày cho một hướng đi vượt thoát, đó là Trung đạo qua tướng giả danh. Chính vì Không này mà các nhà Tiểu thừa sau này, đã quan niệm sai lầm về nó, để đẻ ra một cái tự tính thực hữu nào đó của các pháp, mà phản lại chính quan điểm của Đức Phật.
Có hai loại Niết Bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết Bàn và Vô dư Niết Bàn. Hữu dư Niết Bàn là chỉ người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết Bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai loại Niết Bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát.
Vì Niết Bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hủy diệt.Nếu hủy diệt, chỉ là sự hủy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã.Niết Bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo.Niết nàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác.Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới “Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi”.Trạng thái tâm vắng lặng mà rỏ biết là đương thể của Niết Bàn.Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được?Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết Bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết Bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại với Đức Phật rồi.
2.1.2. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa:
Kinh Đại Niết Bàn viết : “Kẻ nào bị ái dục thiêu đốt, bị ái dục áp đảo, bị mù lòa vì nó, kẻ ấy có những ý định tai hại cho chính mình, cho người khác, cho cả mình lẫn người và kinh nghiệm những khổ đau nội tâm, phiền não”. Muốn xóa bỏ ái dục thì thực tại phải được nhận thức như nó là.Khi thực tại được nhận thức như nó là thì vô minh và ái dục bị tiêu diệt và giác ngộ phát khởi.Giác ngộ là giác ngộ thực tại của thế giới hiện thực. Kinh Đại Niết Bàn viết :
“Kẻ nào nhìn được chân tướng của sự vật với tuệ giác, kẻ ấy không còn ham muốn sự hữu, bằng sự tận diệt mọi ham đắm mà có sự bất tham, sự đình chỉ ở mọi khía cạnh Niết Bàn”.
Như vậy Niết Bàn là tận diệt vô minh hay tri kiến sai lầm về thực tại, tận diệt ái dục hay mọi tham đắm do vô minh đưa lại. Niết Bàn là chấm dứt tham, sân, si, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi do vô minh và ái dục dẫn dắt. Niết Bàn là tuệ giác về thực tại, là sự giác ngộ viên mãn, là nhận chân đúng thế giới như nó là, là chấm dứt dòng lưu chuyển gây đau khổ và sự bám víu vào tri kiến sai lầm. Kinh Tạp A Hàm viết : “Niết Bàn là gì, hỡi đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si.Đó, này đạo hữu, gọi là Niết Bàn”. Niết Bàn như được miêu tả trên đây là một đạo quả, chứ không phải là không gian vật lý, hay dạng tồn tại bản thể nào. Nó là trạng thái tinh thần mà bằng trí tuệ rốt ráo con người đạt được, là sự thành tựu tối thượng của sự chuyển hóa của nhận thức. Muốn đạt đến Niết Bàn trước hết và trên hết phải lắng đọng mọi hoạt động của thân, khẩu, ý. Phải dứt bỏ mọi sự quyến luyến dính mắc vào các dạng cảm thọ, các khoái cảm giác quan do vô minh đưa lại. Phải tiến hành thiền định.Thiền định là con đường đưa con người vào Niết Bàn giải thoát. Trong trạng thái thiền định con người thấy rõ chân bản của thế giới. Thế giới muôn sai ngàn khác, với các sự vật hiện tượng khác nhau ở hình tướng, nhưng đồng nhất với nhau ở mặt bản thể.Tất cả đều vô thường, vô ngã.Nhận chân được bản thể của vũ trụ như vậy, con người phát khởi đại trí, đại bi. Con người phút chốc bừng nở tình thương vô hạn đối với muôn loài muôn vật. Tất cả đều là một, chỉ vì tri kiến sai lầm nên con người mới tham sân, si, mới hành động tạo nghiệp để thỏa mãn và nâng cao cái ngã vốn vô ngã. Với tuệ giác do thiền định đưa lại, ranh giới ta và người , ta và tha nhân, ta và chúng sinh, người và vật biến mất, tình thương vô hạn, tình yêu vô biên vối biên giới và nhân giới bừng nở, dâng tràn. Tuệ giác đưa con người vào mát lành, hạnh phúc, an lạc.
Ngoài cái nghĩa rộng hẹp trên, Niết Bàn của Ðại Thừa đại khái có hai loại:
Vô trụ xứ Niết Bàn: Ðây là Niết Bàn của các vị Bồ Tát. Các A La Hán, do tu nhân giải thoát mà chứng được quả giải thoát; nhưng chưa biết nguồn gốc của nhân quả, cò chấp có thực pháp phải tu, quả vị phải chứng, nên chưa được hoàn toàn tự tại. Các vị Bồ Tát thì trái lại, đã hiểu rõ “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, pháp tính bình đẳng như như; không thấy một pháp gì cố định, một vật gì chắc thật, biệt lập chỉ thấy chúng là những hình ảnh giả dói, do đối đãi với thức tâm, tạo thành bởi thức tâm. Các vị Bồ Tát không có tâm địa đảo điên sai lầm, không gán cho sự vật một giá trị nhất định, như tốt, xấu, khổ, vui, nên không sinh ra những thái độ oán, thân, bỉ, thử, ưa, ghét. Hễ có tri kiến sai lầm đó, là bị chướng ngại khổ đau. Các vị ấy tu hành chứng theo sự tính bình đẳng, đem tâm hòa đồng cùng sự vật mà làm việc lợi tha. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chính quán.Quán các phép như huyễn hư hóa, không có thật sinh tử, không có thật Niết Bàn, không bao giừo trụ trước (vô trụ). Do đó, Bồ Tát thường ra vào sinh tử lấy pháp lục độ để độ sinh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại.
Tính tịnh Niết Bàn : Ðây là một thứ Niết Bàn tự tính thường vắng lặng mà thường sáng suốt, thường sáng suốt mà thường vắng lặng ra ngoài tâm lượng hẹp hòi của phàm phu và trí thức hữu hạn của Nhị thừa, ngoại đạo. Nó thường bộc lộ sáng suốt nơi chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi mọi loài chúng sinh. Trong kinh có khi gọi đó là Phật tính, là Chân tâm, là Như Lai tạng v.v...
Nếu chúng sinh tự tin mình có tính Niết Bàn thanh tịnh, và khởi tâm tu hành theo tự tính ấy, tức có thể thành Phật không sai. Mang tự tính Niết Bàn mà để cho phiền não cấu trần che lấp, thì làm chúng sinh trầm luân trong bể khổ. Trái lại, ngộ tự tính Niết Bàn mà hết vọng tưởng mê lầm là thành Phật, và có đầy đủ bốn đức : Thường - Lạc -Ngã - Tịnh. “Thường” nghĩa là không bị chi phối bởi tính vô thườg, khi nào cũng như khi nào, không lên bổng xuống trầm không có già trẻ, chết sống, đổi thay. “Lạc” nghĩa là không còn khổ não, lo buồn.“Ngã” là được hoàn toàn tự chủ, không bị nội tâm hay ngoại cảnh chi phối. “Tịnh” là không còn ô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta đừng lầm tưởng tính “Chân thường” này với điều thường hằng của thế gian; tính “Chân lạc” với sự vui thích tương đối là sự vui thích còn che đậy mầm mống đau khổ bên trong; tính “Chân ngã” với sự tự chủ trong nhất thời, tự chủ ngày nay bị động ngày mai; tính “Chân tịnh” với sự trong sạch tương đối ở thế gian, sự trong sạch vật chất, sự tướng bên ngoài, chứ bên trong vẫn còn nhiễm ô. Vì tính cách quí trọng, cao cả tuyệt đối của bốn đức; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh nên Tính tịnh Niết Bàn là thứ Niết Bàn cao quí tột đỉnh của đạo Phật, và người Phật tử Ðại Thừa trong khi tu hành, đều phát nguyện rộng lớn quyết tâm chứng được thứ Niết Bàn ấy mới thôi.
2.2. Bản chất và mục tiêu giác ngộ:
Hiểu niết-bàn bằng các ý niệm của các truyền thống hữu thần, chẳng hạn tương đương với Phạm Thiên hay tiểu ngã trong Áo Nghĩa Thư hoặc là thượng đế của các tôn giáo khác hay là khái niệm Đạo trong Lão giáo v.v… sẽ dẫn đến sự ngộ nhận cho rằng niết-bàn là siêu nhiên. Niết-bàn vốn khác hẳn các khái niệm được nêu ở trên, bởi vì niết-bàn không phải là nguồn gốc của vũ trụ. Sự chứng đắc niết-bàn do đó không thể bị đồng hóa với sự đồng dạng hay hợp nhất với nguồn gốc của vũ trụ. Niết-bàn đơn thuần là trạng thái chấm dứt khổ đau một cách vĩnh viễn .
chân lý về trạng thái vắng mặt hoàn toàn khổ đau là mục đích tối hậu của con đường tâm linh Phật giáo ngay đời này. Niết-bàn có thể được hiểu một cách chính xác trong mối quan hệ của nó với chân lý về đau khổ và nguyên nhân của những đau khổ, cả về phương diện logic và giải thoát luận.Có nghĩa là nếu hiện hữu có mặt đau khổ và những nguyên nhân của chúng thì sự chấm dứt vĩnh viễn các nguyên nhân của đau khổ dẫn đến sự vắng bóng hoàn toàn khổ đau, là niết-bàn.
2.3. niết bàn và sự chấm dứt luân hồi:
Ở bậc giác ngộ, các tiếp xúc chỉ còn là các kinh nghiệm đơn thuần, không có mặt của các phản ứng tình cảm và cũng không có sự chấp thủ từ các phản ứng này gây ra, nhờ vào sự chánh niệm và sự tuệ tri sự vật như chính bản chất của chúng là . . . Tham ái bị phá vỡ. Chấp thủ không còn chân đứng. Sanh tử đành phải vẫy tay chào từ biệt một cách vĩnh viễn, không nuối tiếc!
Khái niệm vòng sanh tử ở đây nên được hiểu dưới góc độ ở tương lai hơn là ở hiện tại. Nghĩa là, đức Phật, đức Như Lai, bậc A-la-hán, bậc giác ngộ, những người đã chứng đạt niết-bàn không thể thoát mình khỏi trạng thái già, bệnh và cuối cùng phải chết. Tiến trình của cái chết được bắt đầu ngay khi con người được sanh ra trong đời, và như là quy luật duyên khởi tương thuộc không thể tránh khỏi, con người không thể vượt qua nó được. Bậc giác ngộ khác chúng ta ở chỗ các ngài không còn phải đối đầu với sự sanh, già, bệnh và chết ở tương lai và rồi ở những kiếp sống sau tương lai đó nữa.Nói khác, nếu khát vọng cho sự sống là một yếu tố của tái sanh thì sự diệt trừ tận gốc khát vọng đó sẽ giải thoát ta khỏi sự tái hiện hữu trong tương lai. Cần ghi nhận rằng khi biết rõ cái chết là không thể tránh khỏi, mà con người cứ tiếp tục tái sanh như kết quả của khát vọng hiện hữu, đức Phật và các bậc A-la-hán không phải mất thời giờ lo lắng về cái chết, cũng không cần phải nỗ lực một cách vô ích để xa lánh cái chết. Hơn bao giờ hết, đức Phật đã chỉ ra cho chúng ta con đường vượt thoát khỏi đau khổ bằng cách hành trì chánh niệm và tỉnh giác trong từng phút giây của sự sống, tại đây và bây giờ.
đối với bậc giác ngộ, người đã chứng đạt niết-bàn chuổi duyên khởi 12 mắc xích đã bị chặt đứt từng khúc. Ở đây, vô minh tên trọng não mặc dù không phải là nguyên nhân đầu tiên đã được chuyển hóa thành trí tuệ hay tuệ giác, 11 mắc xích còn lại đã trở nên bất lực và không thể liên kết với nhau được nữa, như một đầu tàu xe lửa đã tách khỏi đường rây, các toa còn lại không sau chạy được. Ở bậc giác ngộ bây giờ các tiếp xúc chỉ còn là các kinh nghiệm đơn thuần, không có mặt của các phản ứng cảm xúc và cũng không có sự chấp thủ từ các phản ứng này gây ra, nhờ vào sự tuệ tri sự vật như chính bản chất của chúng và sự chánh niệm . Các cảm giác theo sau đó cũng được chuyển hoá. Tham ái bị phá vỡ.Chấp thủ không còn chân đứng. Sanh tử đành phải vẫy tay chào từ biệt một cách vĩnh viễn không nuối tiếc!
2.4. vô ngã là niết bàn:
Về phương diện logic, điều nầy sẽ kéo theo sự thừa nhận một tác nhân thường hằng bất biến hay một hiện hữu siêu nhiên; và nhờ vào hiện hữu siêu nhiên này mà con người có thể nhận dạng được dòng kinh nghiệm của hạnh phúc thường hằng. Nếu đây là những gì được hiểu thì phán đoán "niết-bàn là thường" sẽ trái với lời dạy nguyên thủy của đức Phật về tính phi thực thể hay vô ngã của mọi sự vật. Ngoại diên của vô ngã không bị giới hạn trong thế giới luân hồi, mà còn bao gồm cả niết-bàn.Mặc dù chúng ta không thể tìm thấy các bằng chứng trực tiếp cho lối giải thích trên, nhưng chúng ta có thể đút kết chúng từ ba tuyên ngôn nổi tiếng của đức Phật về bản chất của thế giới.
Do không nhận ra được sự khác nhau giữa vô ngã, bản chất của sự vật, với niết-bàn, trạng thái an lạc do quán chiếu vô ngã mà có nên đã đánh đồng vô ngã với niết-bàn, vô ngã là niết-bàn. Nghĩa là họ đã đánh đồng phương pháp tu tập để đạt được niết-bàn (vô ngã) với bản thân của niết-bàn.Mặc dù bản chất của niết-bàn là vô ngã, nhưng vô ngã không thể bị đồng hóa với bản chân của niết-bàn.Phán đoán "vô ngã là niết-bàn" thực ra chỉ là kết quả của sự sai lầm trong việc đồng hóa một đặc tính của niết-bàn với bản thân của tổng thể niết-bàn. Sai lầm này về mặt logic cũng không hơn các phán đoán vô lý "tất cả ai đầu tròn áo vuông đều là thầy tu Phật giáo," do đánh đồng một đặc tính của thầy tu Phật giáo (cạo đầu tròn và mặc áo phương bào (áo vuông)) với tổng thể con người thầy tu Phật giáo. Ngoài đầu tròn áo vuông như yêu cầu về mặt hình thức, tu sĩ Phật giáo phải hơn bao giờ hết dấn thân vào con đường thực nghiệm tâm linh, trau dồi đời sống đạo đức, tu tập thiền định và phát triển trí tuệ để diệt trừ các dòng chảy lậu hoặc của tâm. Tương tự, câu tuyên bố của đức Phật "tất cả pháp là vô ngã" chỉ có nghĩa không có một thực tại hay thực thể ngã trong mọi sự vật hiện tượng, trong đó, niết-bàn là một.Nó hoàn toàn không có nghĩa cho rằng vô ngã là niết-bàn.Bởi lẽ trên thế gian này có vô lượng vô số sự vật (nói đúng hơn toàn thể sự vật) vốn là vô ngã nhưng không được niết-bàn, không có niết-bàn và không phải là niết-bàn.Vô ngã là thuộc tính của mọi hiện hữu và sự vật.Niết-bàn không phải là sự vật mà là một trạng thái vắng mặt trọn vẹn dòng chảy lậu hoặc của tâm.Cho vô ngã là niết-bàn chẳng khác nào cho rằng tất cả các sự vật là niết-bàn, hay nói khác hơn đánh đồng niết-bàn với các sự vật vô ngã.
3. Giá trị của niết bàn:
Căn bản phiền não của ta là tham và giận. Người nhiều ham muốn dễ bực tức là người đau khổ nhất, dù là vua. Nhưng người dù nghèo, mà ít ham muốn và không bực tức thì họ đến gần Niết-bàn. Sa-môn không có tài sản và không ham muốn, nên không khổ. Ta bực tức vì chấp ngã. Kinh nghiệm chúng ta thấy người ít chấp thì ít khổ.Nếu quý vị còn nghèo, dốt, dở, ai khinh khi mình dễ chấp nhận.Còn người có học một chút, có một chút khả năng dễ bực tức.Tôi thấy đa số người trí thức dễ giận, dễ bực và giới văn nghệ sĩ cũng dễ nóng giận.Thí dụ tổ chức một đêm văn nghệ, người sắp xếp chương trình rất khổ trong việc ai hát trước ai hát sau.Người ca sĩ nổi tiếng thì nói tôi thế này mà bắt hát sau, hát lót đường, vì họ có vị trí nhất định nên dễ bực.Người tập sự hát thì hát trước sau gì cũng được, vì cho họ hát là được rồi.Khi có địa vị rất dễ nổi giận.Vì vậy, trên bước đường tu, từng bước phát triển, cố gắng loại bỏ tánh bực tức và ham muốn.Ít bực tức, không ham muốn dù giàu có và có thế lực.
Giá trị của Niết-bàn của chúng ta là người mới tu Một ngày an lạc đã có.Còn Niết-bàn của các Thánh nhân chúng ta chưa vô được, nên chưa cảm được. Các Bồ-tát lang thang trong sáu nẻo luân hồi, thì các A-la-hán không thấy, không hiểu được giá trị của việc cứu nhân độ thế của Bồ-tát. Bồ-tát cứu được một người là có một Niết-bàn. Các vị Thánh La-hán trụ Niết-bàn có an lạc, còn Quan Âm Bồ-tát có cứu người thì Ngài có Niết-bàn, không cứu người không có Niết-bàn. Một ngày Bồ-tát cứu độ được bao nhiêu người là giá trị của Niết-bàn ở đó.
Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên cuộc đời này hay không, Ngài vẫn độ tận chúng sinh.Thật vậy, ngày nay, hàng ngàn người tu hành, nương được tâm an lạc của Phật, đó là của Niết-bàn của Phật cho.Chúng ta chỉ nghĩ đến Phật là được an lạc. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, biết bao nhiêu người nghĩ đến Phật là được Niết-bàn; đó là Niết-bàn cao nhất, Phật không cứu mà cứu, khác với Niết-bàn của Bồ-tát có cứu độ người mới có Niết-bàn, cũng khác với Niết-bàn của Thanh văn là trụ tâm, không làm. Còn Niết-bàn của chúng ta là làm được việc tốt phần nào thì có Niết-bàn phần đó.
3.1. Niết-bàn trong hiện tại:
Trong kinh Tạp A-hàm, Đức Phật có nói: “Như Lai tuyên bố rằng: thế gian, nguồn gốc của thế gian và con đường dẫn đến sự chấm dứt thế gian đều nằm trong tấm thân một trượng này”. Và Đức Phật cho biết về đặc tính của cảnh giới Niết-bàn như sau: “Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si (vô minh), đó gọi là Niết-bàn” (kinh Tạp A hàm), “Niết-bàn là sự đoạn tận tham ái đưa đến tái sinh”, “Niết-bàn là sự tịnh chỉ các hành” (Trường bộ kinh, kinh Đại bổn), “Niết-bàn là giải thoát tham, sân, si” (Trường bộ kinh, kinhĐại bát Niết-bàn)… Niết-bàn không phải là đối tượng của nhận thức hữu ngã, tham ái, chấp thủ. Niết-bàn vượt lên mọi tư duy, ngôn ngữ, khái niệm, bởi đó là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng khi tâm con người thanh tịnh, không còn các phiền não tham, sân, si.
Chính nhờ đặc tính “an lạc hiện tại” (hiện tại lạc trú) mà người tu học xác định được mình có thực hành đúng Chánh pháp hay không.Bởi vì trong quá trình học và tu, nếu không thấy an lạc tức là đã thực hành không đúng Chánh pháp. An lạc có được của người thực hành đúng theo Chánh pháp không giống với những niềm vui thế tục, nó vi diệu hơn, thù thắng hơn, và đặc biệt là không có chứa mầm mống của thất vọng, khổ đau, não phiền. An lạc có được của người thực hành đúng theo Chánh pháp là tâm bình an, pháp hỷ, thiền duyệt, tịnh lạc.
Nếu sự tu hành buồn bã, tẻ nhạt, vô vị thì đã không có nhiều người tu. Các bậc vương giả, các nhà hào phú, chẳng ai dại gì từ bỏ đời sống giàu sang nhung lụa, quyền uy danh vọng để đi tu. Ngày nay cũng không ít người hướng về Phật pháp vốn xuất thân từ gia đình giàu có; không ít người thành đạt trong xã hội, có địa vị, quyền thế, có sự nghiệp lớn; không ít người vốn thuộc hàng danh gia vọng tộc, thuộc tầng lớp trí thức, là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa, là bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học… Chính vì họ tìm thấy được niềm an lạc trong Chánh pháp vượt xa hạnh phúc thế gian mà họ đem cả cuộc đời mình hướng về Chánh pháp.
III. KẾT LUẬN:
Tất cả pháp, tất cả thời, tất cả trường hợp, vì từ các duyên sanh, vì rốt ráo KHÔNG nên không có tự tánh.Trong pháp như thế, sao là hữu biên?Cái gì là hữu biên?Sao là vô biên, cũng hữu biên cũng vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên?Cái gì chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên?Sao là thường?Cái gì là thường?Sao là vô thường cũng thường cũng vô thường, chẳng phải thường chẳng phải vô thường?Cái gì chẳng phải thường chẳng phải vô thường?Sao là thân tức thần?Sao là thân khác thần?Sáu mươi hai tà kiến như thế..., đối trong rốt ráo không đều chẳng thể được, dứt hết những cái có chỗ được, bặt hết hý luận. Vì dứt bặt hý luận nên thông suốt thật tướng các pháp, được đạo an ổn. Từ phẩm Nhân Duyên đến đây, phân biệt suy tìm các pháp.Có cũng Không không cũng không, vừa có vừa không cũng không, chẳng phải có chẳng phải không cũng không.Đó gọi là thật tướng các pháp, cũng gọi như pháp tánh, thật tế, niết bàn.Thế nên Như Lai không lúc nào không chỗ nào vì người nói tướng thật niết bàn.Vì vậy nói những cái có chỗ được đều dứt, hý luận đều bặt.
Muốn giải thoát khỏi bộc lưu sanh diệt,thì hư không hóa mọi hữu tồn dầu tâm hay vật để trong sạch dòng tâm thức, không còn duyên sanh diệt tức thì vạn hữu trở về tự tánh không. Hửu Dư Niết Bàn là trạng thái vô ngã vô dục, nên các nhân sanh tử đã dứt, còn quả khổ ngũ uẫn vẫn chưa hết; chỉ khi thân ngũ uẫn chết thì quả khổ mới thật sự chấm dứt và lức đó mới chứng đắc Vô Vi Niết Bàn, nơi không còn nhân quả, không còn sanh tử luân hồi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Kinh Đại Niết Bàn - tập 1 - Thành hội Phật giáo TP HCM ấn hành 1994.
- TT.Thích Trí Quảng, Lược Giải Kinh Duy Ma, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM ấn hành, 1989.
- H.T Thích Minh Châu, Tương Ưng Bộ Kinh III, Nxb.VNCPHVN, 1996.
-Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, Nxb TP.HCM, 1999.
-Quảng Liên Pháp Sư (biên dịch) Trung Quán Luận, Nxb Tu Viện Quảng Đức, 1994.
-Thích Minh Cảnh, Từ Điển Phật Học Huệ Quang, Tập 5, Nxb,1996.
-Thích Quảng Độ (dịch) Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Viện Đại Học Vạn Hạnh Ban Tu Thu, 1969.
-Thích Đức Nghiệp (dịch) Trung Luận, Nxb TP.HCM, 1999.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét