THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: 1.định nghĩa: 2. giải thích ý nghĩa lòng từ: 3. tính chất của lòng từ: 3.1. lòng từ là gốc lành: 3.1.1. Lòng Từ Là Sự Có Mặt Của Trí Tuệ: 3.1.2. Lòng Từ Triết Lý Thực Dụng Cho Sự Sống: 4. tu tập lòng từ: 4.1. nếp sống lòng từ đối với người xuất gia: 4.2. nếp sống lòng từ đối với cư sĩ: 4.2.1. Ý Thức Về Lòng Từ: 4.2.2. Tôn Trọng Mọi Loài: 4.2.3. Luôn Hoan Hỷ Và Tha Thứ: 4.2.4. Tạo Lập Nếp Sống Trong Sạch: 4.2.5. Luôn Giúp Đỡ Mọi Người: 5. Đạo Đức Phật Giáo Với Các Vấn Đề Cá Nhân Và Xã Hội: 5.1. Sự Cấu Thành: 5.2. Nguyên Nhân Cấu Thành: 5.3. Năng Lực Con Người: 5.4. Hoàn Thiện Tự Thân: 5.5. Xây Dựng Một Nhân Cách Trong Sáng: 5.6. Tinh Thần Tự Tin: III. KẾT LUẬN: THƯ MỤC THAM KHẢO: LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI I. DẪN NHẬP: Người đi qua cuộc đời với muôn ngàn lẽ sống, mỗi phương diện của cuộc đời người thể hiện bằng những hành động, cách sống và suy nghĩ khác nhau.Mỗi quốc độ, mỗi lãnh thổ, người hòa mình vào dòng trôi của lịch sử thế nhân, lần trôi trong luân chuyển của kiếp người.Cuộc sống luôn đầy đủ cả hạnh phúc và khổ đau.Trước đó là tiếng cười nhưng sau lại là những giọt nước mắt đã ẩn dưới làn mi xanh. Người mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của hạnh phúc, những chốn bình ổn và người với người chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như một khúc hoan ca. Người ta đến với cuộc đời, tuy mong mỏi như vậy nhưng nếu không có một sự nỗ lực trau dồi đạo đức và tạo lập tình thương mà dừng lại ở chỗ đó thì phi thựỉc tế và khổ đau còn đầy trong tâm khảm. Đêm qua, giây phút giao thoa của vũ trụ rền lên tiếng nổ của những cuộc bạo động gây nên thảm khốc bi thương. Tội nghiệp thay những ánh mắt trẻ thơ vô tư phủ mờ màn lệ bởi những người thân lìa trần. Ôi! Họ nào có tội tình chi và nỗi đau của cuộc đời cứ thế nhân lên và kéo dài đến vô tận và khát vọng chỉ vẫn còn ấp ủ của một kiếp người. Trong thuở hồng hoang của nhân loại, Đạo Phật đã ra đời mang lại tiếng nói yêu thương và một chủ trương giáo lý diệt khổ.Với chủ trương ấy, hai mươi lăm thế kỷ tồn tại, Phật giáo mang đến cho nhân loại những sự thật của nhân bản.Đạo đức, lòng thương bao la và tiếng nói tĩnh thức nhân tâm mà con người thường lãng quên trong lợi danh của kiếp người. Có thể nói Phật giáo là một trường phái Triết Học, một Tôn Giáo Học, một Nghệ Thuật Học, một môn Nhân Bản Học… Vẫn không thiếu không thừa, Phật giáo đến với cuộc đời đầy đủ trong mọi phương diện phục vụ cho mọi đối tượng và đặc biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự mình hoàn thiện đạo đức cá nhân mà vẫn không tách rời khỏi cuộc sống hiện tại. Người viết cũng như mọi người cũng cộng sinh trong môi trường và sống chung cùng thời đại, dĩ nhiên những gì tiền nhân mong mỏi, đời hiện tại trông mong thì điều đó cũng tồn tại trong lòng của mỗi cá nhân. Hướng về cái đẹp, xây dựng cái đẹp hay nói cách khác là xây dựng Chân, Thiện, Mỹ, bất cứ quốc gia nào cũng muốn, lãnh thổ nào cũng tôn trọng bởi con người không ai muốn nhận mình là kẻ xấu xa, người hèn mọn. Xây dựng được những điều đó do đâu? Thưa chỉ có duy nhất là Từ Bi và Đạo Đức giáo lý của Phật giáo. Cho nên tự mình cũng muốn tìm hiểu, tự mình vốn mang trọng trách của Kẻ Sĩ Xuất Gia, người viết rất muốn thể hiện một khoảng rất nhỏ trong sâu thẳm nhiệm mầu của Giáo Lý và chuyển tải đến mọi người tiếng nói tri âm. II. NỘI DUNG: 1.định nghĩa: Lòng từ hay từ bi là một thuật ngữ rất thường được sử dụng trong giáo điển của Phật giáo. Tiếng Pàli gọi là Mettà, tiếng Sankrit là Maitri. Tâm từ hay lòng từ nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người bạn tốt, là lòng mong ước thành thật cho tất cả đều được sống an lành vui vẻ. Tiếng Anh gọi là Boundless love (immeasurable, unlimitted, endless love) nghĩa là tình thương vô hạn lượng, từ tâm vô hạn lượng. Thương yêu chúng sanh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ, đồng cảm nỗi khổ và làm cho chúng sanh bớt khổ là Bi.Vậy Từ Bi là tình thương rất chân thật không có hạn lượng, không phân biệt”. 2. giải thích ý nghĩa lòng từ: Từ bi là tình thương vượt ra ngoài những diễn tả của ngôn ngữ, sức sống tiềm tàn mãnh liệt trong mỗi con người. Lòng từ có nghĩa như tình thương cha mẹ dành cho con cái, Phật dành cho chúng sanh. Ta không thể nào kể hết công ơn của cha mẹ, có chăng chỉ thể hiện bằng những giọt nước mắt ngậm ngùi khi chia ly. Phải giải bỏ hết những quan niệm thân sơ, đối đãi phân biệt ta mới có thể hiểu được phần nào đó ý nghĩa của lòng từ, nếu không như vậy ta chỉ dừng lại ở mức độ cảm thông, lắm khi còn toan tính vụ lợi. Phật giáo có một chữ Từ Bi tuyệt vời.Lòng từ Phật giáo bao trùm cả vạn hữu.Không phải là sự luyến ái riêng tư giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với con vật cưng, càng không phải là tình đồng chí đồng hương hay đồng đạo mà vượt thoát tất cả. Lòng từ Phật giáo bắt nguồn từ sự cảm thông chân thật, tha thiết trước nỗi khổ của mọi người, ban phát đến tất cả vạn loài. Hay nói một cách khác, không những không làm hại mà còn nâng niu từng sự sống, chăm sóc từng nỗi đau, rộng rãi và bao la như ánh trăng tươi mát soi tận cùng những nẻo tối tăm đem lại cho nhân loại những điều ích lợi. Nếu muốn thấu hiểu lòng từ, cảm nhận lòng từ thì ta hãy bỏ qua chủng tộc, tính cách, lãnh thổ giai cấp mà chỉ có một tình thương duy nhất ban phát không mệt mỏi. Khi nào xóa sạch được nỗi đau, lòng từ không bác bỏ, chà đạp lên mà làm sống lại những tâm hồn vẩn đục, những bước chân lầm lỗi trở về với thực tại sự sống.Lòng từ không cho riêng bất kỳ ai mà cho cả thảy. Kinh dạy: Loài được thấy không thấy Loài sống xa, không xa Các loài hiện đang sống Các loài sẽ được sanh Mong mọi loài chúng sanh Sống hạnh phúc an lạc. 3. tính chất của lòng từ: 3.1. lòng từ là gốc lành: Lòng từ là một trong Bốn Vô Lượng Tâm, một công hạnh nhập thế của các vị Bồ tát và cũng là nơi trưởng dưỡng các pháp lành. Phật dạy: “Này Thiện Nam Tư,ũ tất cả Thanh Văn, Duyên giác, Bồ tát, Chư Phật, chỗ có căn lành, lòng từ là cội gốc. Nếu có người hỏi gì là căn bản của pháp lành nên đáp đó chính là tâm từ. Bởi tâm từ là đạo vô thượng, là cảnh giới vô song, chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật. Tâm từ là thường, lạc, ngã, tịnh, là Cam lồ, là Phật tánh, là Pháp, là Tăng. Tâm từ chính là Như Lai. Do vì nghĩa đó nên biết tâm từ là chân thật, chẳng phải hư vọng. Nếu Bồ Tát tu tập tâm từ có thể sanh vô lượng căn lành. Như vậy tâm từ là cội gốc”. Các thiện pháp đều thành tựu do tâm từ, là cảnh giới chư Phật và các đại Bồ Tát. Bởi chỉ có như vậy mới lắng yên một cách chân thật, nhận diện được sự quan yếu cho tính cách bình đẳng và không buông thả, đem lại lợi ích cho chính mình và giải thoát chúng sanh. Ta có thể thấy rằng toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo xây dựng trên ý nghĩa không phân biệt mà cho tất cả vạn loài tu tập. Hiểu cách khác là một phương tiện cực kỳ thù thắng để cho các bậc thượng nhân nhập thế độ sanh.Tất cả nếu không có lòng từ thì mình không thể thương chính mình, không thể tự mình làm cho mình yên ổn thì làm sao cảm thông trước nỗi đau của người khác.Qua lời dạy của Đức Thế Tôn, ta thấy được tầm quan trọng của lòng từ. Nó làm nên hạnh nguyện của chư Phật, Bồ tát và diệu dụng chính là: “Thường, lạc, ngã, tịnh là Phật tánh, là Pháp, là Tăng”. Một khi người ta rời bỏ tâm từ thì chắc chắn sẽ mất hết cội rễ của căn lành. Một khi không có căn lành và từ tâm thì thay vào đó chắc chắn là bất thiện pháp. Bởi tính huân thâm và tập quán lâu ngày trong chủng tử của chúng sanh. Kinh Ưu Bà Tắc Giới Đức Phật dạy: “Từ tâm là nhân duyên của tất cả sự an vui, rời bỏ từ bi thôi chẳng còn pháp lành”. Đó chính là kinh nghiệm mà trải qua vô lượng kiếp Đức Phật đã nhập thế độ sanh và thành tựu viên mãn. 3.1.1. Lòng Từ Là Sự Có Mặt Của Trí Tuệ: Lòng từ, tình thương rộng rãi bao dung, những tình thương ấy phải do trí tuệ rọi sáng và dưỡng nuôi mới thành tựu. Nếu tình thương còn trong vòng lẩn quẩn của ái dục và chấp thủ, thiếu hiểu biết thì chẳng khác nào ta đem thêm vật cho kẻ đã gánh nặng quằn vai.Nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ đó thì ta chưa thấm nhuần triết lý của lòng từ Phật giáo, cội rễ của thiện pháp.Nên các Thánh giả bước lên Thánh vị khi lòng từ thành tựu. Phật dạy: Ai dùng các hạnh lành Làm xóa mờ nghiệp ác Chói sáng rực đời này Như trăng thoát mây che. PC: 173 Hạnh lành là từ bi, dùng tâm từ để chuyển đổi nghiệp thì chính tâm từ là trí tuệ. Chỉ có trí tuệ chiếu sáng mới thoát khỏi những sự u tối của vô minh. Người đời thường ăn thua đủ kiểu “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” để xử sự. Ởũ đây, tâm từ được thành tựu bởi trí tuệ chuyển đổi vô minh thoát ra khỏi ba cõi. Phật dạy: Vi thiện xảo mục đích Cần phải làm như sau Con đường an tịnh ấy Có khả năng thực tánh Thực sự khéo chân thực Để nói và nhu hòa Không có gì cao mạn. Con đường an tịnh là con đường của từ bi và trí tuệ vốn dĩ đã có sớm trong mỗi chúng sanh nhưng phải trưởng dưỡng mới thành tựu. Sử dụng tâm từ biến thành một phương tiện nhu nhuyến thiện xảo.Thông suốt một vấn đề duy chỉ có trí tuệ mà thôi. Ta thường nhìn vạn pháp bằng đôi mắt thiếu khách quan và cũng chủ quan đưa ra kết luận. Cái này phải như thế này, cái kia phải như thế kia. Bó buộc như vậy nên một khi có sự đổi thay sinh ra buồn khổ.Nhưng khi trí tuệ có mặt thì mọi dãy phân cách được tháo bỏ và lòng từ cũng thành tựu như vậy. 3.1.2. Lòng Từ Triết Lý Thực Dụng Cho Sự Sống: Không thương nhau nên lường gạt nhau, giẫm lên nhau. Con người là tác giả của khổ đau và cũng chính là nạn nhân của khổ đau, nhưng họ chưa dừng lại khi tình thương không có mặt, đổi lại đó là thù ghét, ganh tỵ. Rồi một khi họ nhận lại món quà không như ý, họ tặng cho người khác lại trở thành oán than. Từ bi Phật giáo dạy con người ta tránh xa hai thái cực là con đường đi đến tạo nghiệp khổ, và mối an ổn. Phật dạy: “Mọi hành động gì có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho cả hai, bị người chỉ trích, nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem lại tâm khổ, tâm ưu. Hành động như vậy gọi là bất thiện và chúng ta loại bỏ hành động ấy.Hành động gì không có hại cho mình, không có hại cho người, không hại cho cả hai, được người trí tán thán.Nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem đến tâm lạc, tâm hỷ, hành động như vậy gọi là thiện vô chí ta phải thực hành”.Vì sao có những hành động bất thiện gây đau khổ cho mình và người?Đó chính là thiếu trí tuệ trong cuộc sống.Xét ở nỗi đau của mình thì hiểu hơn ai hết.Còn nếu ta không có lòng thương yêu chính bản thân mình, hằn học thói ganh ghét thì việc ta làm cho thân nhân chắc sẽ là khổ đau. “Làm cho người hay vật khác đau khổ để bạn được hạnh phúc là chuyện không đúng. Mọi người hay vật đều muốn giữ mạng sống như bạn muốn. Do vậy nếu bạn cúng tế súc vật là ích kỷ. Như ta đã dạy ích kỷ không tìm được gì ngoài nỗi bất hạnh trong cuộc sống. Một vị thần nào đói máu của một con thú trước khi giúp bạn thì đó không phải là một vị thần tốt, vị ấy không được ai tôn thờ. Nhưng nếu bạn hành động từ bi, nhân ái đối với mọi loài người hay vật cũng như nhau, thì chính thần linh cũng thờ bạn”. Triết lý hành động là tu tập và thực hành lòng từ ngay trong góc độ của cuộc sống đời thường, tâm linh và tất cả. Ta không thể kêu gọi lòng thương bao la của kẻ khác khi mình chìm trong ích kỷ và những suy tính thiệt hơn, chấp nhận lối suy nghĩ nhỏ nhen chính là bạn đã bị vo tròn mình trong chiếc kén khổ đau. Còn hành động theo lòng từ thì chính bạn đã trải lòng mình ra và đón nhận mọi ý nghĩa của cuộc đời bằng chính một tâm hồn trong sáng rộng rãi và một cuộc sống thăng hoa. 4. tu tập lòng từ: 4.1. nếp sống lòng từ đối với người xuất gia: Thời Đức Phật còn tại thế. Ngài đã thân hành giáo hóa chúng sanh suốt 49 năm. Đến đâu Ngài cũng đem giáo lý Từ Bi Bình Đẳng ban bố cho chúng sanh. Bước chân của Ngài đã cùng khắp Ấn Độ. Từ những thôn xóm hẻo lánh đến đô thị sầm uất.Ngài nói lên tiếng nói yêu thương, khuyến hóa chúng sanh. Phật dạy: “Chánh pháp của ta là chánh pháp tự lợi và lợi tha. Ai có khả năng tiếp nhận sự hóa độ thì ta cũng tạo yếu tố hóa độ cho họ”.Nên Ngài không quên khuyếân hóa thánh chúng.Hãy vì tình thương chúng sanh mà du hành hóa độ. Đem ánh sáng từ bi, trí tuệ ban bố cho chúng sanh. “Hãy ra đi, các Tỳ Kheo đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Hãy đem lại sự tốt đẹp lợi ích vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Mỗi người hãy đi một ngã.Này hỡi các Tỳ Kheo.Hãy hoằng dương chánh pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, toàn hảo cả hai tinh thần và văn tự.Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng vừa toàn thiện vừa trong sạch. Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi trong mắt nếu không nghe giáo pháp sẽ sa đọa. Cũng có những người am hiểu giáo pháp. Chính Như Lai cũng ra đi.Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Sananigama để hoằng dương chánh pháp.Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu.Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được như vậy các con đã hoàn tất nhiệm vụ”.Lợi lạc chúng sanh ở quốc độ kham nhẫn này không gì hơn từ bi. Khổ đau đã có mặt khi chúng sanh tái sinh ở cõi ác nên bản tính thường can cường và ít cảm thông cho nhau. Vì thế, truyền bá giáo lý từ bi là sứ mạng của người xuất gia.Để thực hiện nhiệm vụ ấy Đức Thế Tôn dạy cho các Tỳ Kheo hộ trì và tu tập ngay bản thân mình, tìm một đường sống tốt đẹp, không gây đau khổ cho thế nhân. Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta. Này các Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với một ai ở đời”. Hoàn cảnh sống không tranh chấp ấy, tâm hành giả sẽ được an tịnh, từ đó mới không phân biệt giáo hóa chúng sanh. Đời sống luôn là yếu tố chi phối rất nhiều đến con đường tu tập của hành giả. Đức Phật chỉ bày rất rõ ràng. Trong kinh thường đề cập đến trú xứ và thân cận xứ.Để thực tập tốt hơn tâm hạnh từ bi hành giả phải chọn một lối sống thích hợp. Phật dạy: “Sống giữa chúng sanh, hãy dẹp lại một bên gươm đao và các loại khí giới, không gây tổn thương cho bất luận ai, không làm cho ai phải xót đau vì một đứa con hay một người bạn, nhưng hãy mạnh dạn tiến bước như Chúa sơn lâm”. Tiến xa hơn một bước, người xuất gia chọn tâm từ như một phương pháp thực tập an trú trong tất cả mọi hoàn cảnh và tâm từ như một sức sống làm an tịnh tâm thức hành giả, từ đó hướng về chúng sanh, hướng về cuộc đời bằng tất cả diệu dụng từ bi. Khi thức không lo âu Khi ngủ chẳng sợ hãi Ngày đêm không khởi lên Phiền não bận lòng ta Ta không thấy tai hại Một khổ não trên đời Do vậy ta nằm ngủ Tâm từ thương chúng sanh. Tâm từ của người xuất gia phải rộng rãi, đương nhiên sống trong xã hội thì áp dụng cho loài người.Nhưng từ bi của Phật giáo không có giới hạn, trùm khắp cả vạn loài.Vẫn biết thân người là tối thắng nhưng vạn loại hữu tình đều có tánh giác. Nên người xuất gia phải trải tâm từ đến khắp chúng sanh, dù đó là một loài nhỏ bé hiền lành hay một con mãnh thú hung tợn cũng đem tâm từ ra mà thuần chúng. Cho nên khi độc cư trong rừng rậm đức Phật vẫn an ổn vì muôn thú luôn xem Ngài là bạn thân. Phật dạy: “Ta sống trên một ngọn núi, giữa đám sài lang hổ báo và để tự bảo vệ không gì khác hơn tâm từ của ta. Chung quanh ta là sư tử, cọp, beo, nai, hươu, các thư,ù ngoài ra là rừng rậm cỏ hoang. Không con vật nào sợ ta và ta cũng không sợ con vật nào, chính oai lực của tâm từ nâng đỡ, bảo vệ và giúp ta sống yên ổn”. Được như vậy hành giả mới tự tại trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời và qua đó ta thấy rằng. Chỉ có an trú trong từ tâm mới chuyển hóa được vạn loại. Nếp sống của người xuất gia thường là nơi vắng vẻ độc cư, không bị ràng buộc với các đòi hỏi hẹp hòi, nên tâm từ phải luôn luôn an trú và chứng đắc. Trong tất cả thế giới Hãy tu tập tâm ý Không hạn lượng rộng lớn Khi đi hay khi đứng Khi ngồi hay khi nằm Lâu cho đến khi nào Khi đang còn tỉnh thức Hãy an trú niệm này Nếp sống này như vậy Được đời đề cập đến Là nếp sống tối thượng. Và khi hành giả thực hành lòng từ và tu tập lòng từ thành thục đạt đến cảnh giới tối cao.Không chỉ làm phương tiện cứu giúp cho đời cho sự nghiệp hoằng pháp mà có giải thoát tối hậu. Đi tu tập từ tâm Vô lượng thường ức niệm Các kiết sử yếu dần Thấy được sanh y diệt Với tâm không ác độc Từ mẫn gọi chúng sanh Do vậy vị ấy thành Bậc thuần nhất chí thiện Với tâm ý từ mẫn Đối với mọi chúng sanh Bậc thánh khéo thực hiện Nhiều công đức tốt lành. Như vậy tâm từ đối với người xuất gia vừa là phương tiện lãnh đạo.Sự bảo vệ thâm tâm, con đường chính đạo và rốt ráo công đức. Phật khẳng định: “Với tâm từ giải thoát, này các Tỳ Kheo được sử dụng, được tu tập, được làm sung mãn, được làm như cổ xe, được làm như căn cứ địa, được thường trú, được tích tập, được khéo tác thành, sự chờ đợi là 8 lợi ích”. Thế nào là 8 lợi ích? 1. Người tu tập lòng từ ngủ trong an lạc, thức trong an lạc. 2. Không chim bao, ác mộng. 3. Được người khác yêu mến. 4. Được phi nhân và chư thiên hộ trì. 5. Lửa, khí giới và chất độc không làm hại được. 6. Tâm dễ an tịnh, nét mặt thanh thoát. 7. Khi chết tâm không rối loạn 8. Nếu không được chứng thánh quả thì ít nhất cũng tái sinh về cảnh giới phạm thiên. 4.2. nếp sống lòng từ đối với cư sĩ: 4.2.1. Ý Thức Về Lòng Từ: Lòng từ Phậât dạy được tu tập trong mọi lĩnh vực không phân biệt đối đãi. Sở dĩ nói có xuất gia tại gia là do hoàn cảnh sống mà nói. Người tại gia quanh năm tảo tần với cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội. Bản chất cuộc đời thì tranh đua danh lợi, địa vị xã hội nên lòng từ ít có cơ hội thực tập hơn người xuất gia. Với tính chất như vậy, đời sống Phật tử tại gia nếu lòng từ có mặt sẽ tạo lập được một cuộc sống an ổn và hạnh phúc trước mọi biến động của cuộc đời. Người cư sĩ học giáo lý Phật và lòng thương sẵn có nên phát huy hết khả năng làm cho lòng từ ngày càng trở nên lớn hơn.Trước hết, lòng từ thể hiện qua cách sống của hàng Bạch Y trong tình thương yêu và giúp đỡ đồng loại. Đó là cách thể hiện lòng từ đối với người có địa vị thấp hơn mình.Cuộc sống của chúng ta luôn có những bất đồng trên nghiệp lực và thọ báo, với người nhân duyên thù thắng được gieo từ quá khứ đến đời này hưởng quả và cũng có những kẻ nghiệp cũ sâu dày nên kiếp này chịu thấp kém.Người có từ tâm không những không ghét họ mà còn tạo cơ hội giúp đỡ cho họ có những nhân duyên tốt trong cuộc sống. 4.2.2. Tôn Trọng Mọi Loài: Chúng sinh có quyền bình đẳng để sống.Cách thể hiện là luôn tôn trọng chứ không lấy mạnh thắng yếu mà phải bảo bọc bao dung. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Đó là một sự thật mà Ngài muốn dạy cho chúng ta, ta phải biết tôn trọng giác tính cũng như mạng sống của chúng sanh. Ngài dạy: “All tremble before the rod, to all life is clear; putting oneself in the place of another, one should neither spike not slay”. Mọi người sợ hình phạt Mọi người sợ tử vong Lấy mình làm thí dụ Không giết, không bảo giết. PC: 129 Đặt mình trong nỗi khổ mới thấu hiểu nỗi khổ, từ đó thương tất cả mới tránh những nỗi khổ cho họ.Mình tham sống, tất cả chúng sanh cũng vậy. Tâm ta đi khắp cùng Tất cả mọi phương trời Cũng không tìm thấy được Ai thân hơn tự ngã Tự ngã đối mọi người Quá thân ái như vậy Vậy ai yêu tự ngã Chớ hại tự ngã người. Hiểu được như vậy người luôn tôn trọng nhau trên mọi bình diện của cuộc sống.Đó là cách duy nhất người ta đến với nhau mà không làm tổn thương nhau.Nhưng hiển nhiên trong cuộc sống ta thấy ít có ai làm, bởi sự ích kỷ người ta quên đi người bên cạnh. 4.2.3. Luôn Hoan Hỷ Và Tha Thứ: Tâm chúng sinh luôn tranh đua và ganh tỵ thắng được thì vui mừng, thua thì thù oán. Đó là lý do mà người ta có thể thành thù oán bất hòa. Đôi khi dù đó là người thân của mình. Để tránh những thảm cảnh như vậy ta nên tha thứ và hoan hỉ theo lòng từ. Trước mắt chúng ta còn lắm những câu nói khó nghe và những hành động ngang trái nhưng phải lấy lòng từ mà cư xử. Đặt dịu dàng trên bao nhiêu hờn ghét, tất cả đi vào an lạc tươi vui. Lấy không giận thắng giận Lấy thiện thắng không thiện Lấy trí thắng gian tham Lấy chân thắng hư ngụy. PC: 223 Sự tranh chấp và giận dữ luôn mang lại những kết quả không tốt, tạo sự nhẫn nhịn để cùng vui. Khỏi hại mình hại người đó là cách sẻ chia hay nhất trong cuộc sống. 4.2.4. Tạo Lập Nếp Sống Trong Sạch: Kinh Trường A Hàm Phật dạy: “Có bốn hạng người đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn hạng người?Một là ngăn làm việc quấy, hai là thương yêu, ba là giúùp đỡ, bốn là đồng sự, đó là bốn hạng người đáng thân cận”. Thân cận xứ và quyến thuộc là những người có ảnh hưởng lớn trong cuộc sống chúng ta. Họ chính là môi trường nên trong cách cư xử, đối đãi ta phải có sự gần gũi bằng tình cảm tôn trọng và chân thật. Không phải ở xa ta mới thực tập. Khi ta không lừa dối ai điều gì mà luôn ban bố những điều thánh thiện, đó cũng là một cách thực hiện nếp sống lòng từ. Bên cạnh đó mỗi cá nhân cũng phải tạo dựng cho mình một lối sống thật thà trong nghề nghiệp. Phật dạy: “Trước hết phải học nghề nghiệp để gom góp của cải, sau khi có nên chia làm bốn phần, một phần tiêu dùng, hai phần để làm ăn, một phần cất đi để giúp đỡ mình và người khi nghèo thiếu”. Đó là phương cách sống đúng cho chính mình và giúp đỡ mọi người. Bên cạnh đó phải luôn luôn gần gũi các bậc Thiện Tri Thức để hiểu thêm về đạo lý và tu tập hoàn thiện chính mình. 4.2.5. Luôn Giúp Đỡ Mọi Người: Phật tán thán công đức bố thí rất lớn.Bởi bố thí dù Tài thí, Pháp thí hay Vô úy thí đều là cách phát triển từ tâm nhanh nhất và hành giả sớm thành tựu được công đức. Bố thí là hiện thân của lòng từ, không gì thiết thực hơn khi gặp người đói cho ăn, gặp người nghèo giúp đỡ, nhất là trong thời đại mà cả thế giới đang đối đầu với thiên tai dịch bệnh như ngày nay. Người con Phật có lòng từ thực hành trong mọi lĩnh vực nhằm ban vui cứu khổ cho chúng sanh với tấm lòng chân thật. Kinh ghi: “Trong cõi Nam Diêm Phù Đề có các vị quốc vương, hàng Tể phụ quan chức lớn, hàng Đại Trưởng Giả, hàng Đại Sát Đế Lợi, hàng Đại Bà La Môn v.v…Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế. Lúc các vị quốc vương đó v.v…muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời dịu dàng an ủi. Các vị Quốc vương, Đại thần đó v.v… đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư Phật vậy”.Công đức bố thí lớn như vậy, hay nói rõ hơn là diệu dụng của phát khởi tâm từ được khai mở và trở thành phương tiện, điều cần làm và rất nên làm. Ta thật sự hạnh phúc khi sống trong cộng đồng mà ông cha ta ngày xưa đã truyền lại những bài học về lòng từ thể hiện qua các câu ca dao, dân ca mộc mạc, ví dụ như: “Thương người như thể thương thân”. Phải chăng sức sống của lòng từ Phật giáo từ khi du nhập đã cộng hưởng với tư tưởng thương yêu vốn có của con nguời Việt Nam, làm thành những mỹ tục rất nhân bản trong: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Tình thân không phân biệỉt trong cách đối xử với nhau. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi người mỗi tính cách nhưng gắn kết trong tương thân, tương ái. Với tư tưởng này ta thấy tính từ bi của Phật giáo và tình thương yêu lẫn nhau của dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó keo sơn. Không thể dùng một ý tưởng, một lời văn mà diễn tả hết được nền văn hóa của một dân tộc, đặc biệt dân tộc ấy văn hóa đã đượm chất từ bi. Vì thế Từ bi vẫn là nguồn sống cho mọi người dù ở hiện tại hay trong tương lai xa hơn. 5. Đạo Đức Phật Giáo Với Các Vấn Đề Cá Nhân Và Xã Hội: 5.1. Sự Cấu Thành: Dưới cái nhìn duyên khởi, con người cũng là một tập hợp duyên được cấu thành gồm có năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức được hiểu là: “Sắc uẩn được hiểu là cá thể vật lý của một người, cơ thể của những người khác và thế giới vật lý. Thọ uẩn gồm có cảm thọ khổ, cảm thọ hạnh phúc và cảm thọ không khổ đau, không hạnh phúc. Đây là cảm thọ khởi lên từ sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và của ý. Tưởng uẩn gồm có tưởng về sắc, về thanh, về hương, về vị, về xúc và về pháp (hay về thế giới hiện tượng). Hành uẩn là tất cả những hành động về thân, về lời và về ý; nó cũng được hiểu là các hành động có tác ý do sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gây ra. Thức uẩn bao gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Con người là thế! Là do các duyên thuộc thế giới vật lý và tâm lý này mà sinh. bao giờ tự nó có thể hiện hữu, do đó con người là vô ngã vô thường”. 5.2. Nguyên Nhân Cấu Thành: Nguyên nhân chính là sự tác hợp của duyên, song duyên ấy phải cần có những năng lực cần thiết để tạo thành hiện tượng.Dù liệt hay thắng, thô hay tế, các duyên đều phải có sự tương tác mới thành được.Năng lực ấy chính là khát ái và nghiệp lực. Phật dạy: “Ta là kết quả của nghiệp, ta là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là nền tảng, bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác ta sẽ là kẻ nhận chịu kết quả. Điều này các Thiện nam Tín nữ, các gia chủ cần phải suy ngẫm”. 5.3. Năng Lực Con Người: Phật giáo không chấp nhận con người ở trong một trạng thái thụ động, bị sai sử trong mọi vấn đề mà khẳng định rằng con người có một vị trí vô cùng quan trọng và làm chủ được mình.Biết rõ tính chất và nguyên nhân cấu thành của một vật chắc chắn là người có tầm nhìn chính xác. Phật giáo khẳng định vị trí có thể quyết định mọi chi phối cho đời sống vật chất và tinh thần trong cuộc sống chính mình mà không phải lệ thuộc bởi bất kì một thế lực nào. Tự mình làm chủ tể của mình, không ai khác có thể làm chủ tể?Với sự tự điều phục, con người tìm thấy đấng chủ tể khó có. PC: 160 Không lệ thuộc, không bị bắt buộc, vị trí con người được khẳng định. Nhờ vậy con người có đầy đủ những năng lực, chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng như tự mình làm chủ được mình, giải thoát hay khổ đau tự mình quyết định, không ai quyết định thế mình được. 5.4. Hoàn Thiện Tự Thân: Con người có vị trí tối thắng trong tất cả các loài hữu tình chúng sanh. Đạo Phật đánh giá rất cao vị trí con người trong vấn đề đảm nhận và thực hành giáo lý. Xây dựng một con người có nhân cách hoàn hảo, biết sống vì mọi người, trở thành một thành viên tốt cho gia đình và xã hội là một điều hết sức cần thiết. 5.5. Xây Dựng Một Nhân Cách Trong Sáng: Con người là thừa tự của nghiệp, khi sanh ra đời đã có sẳn mầm mống của nghiệp trong tâm thức. Hiểu như vậy, ta luôn ở thế chủ động để phòng bị các phát tác ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện nhân cách. Con người hiện đại cần yếu tố này hơn hết bởi trong bối cảnh chúng ta đang sống có rất nhiều sự khắc nghiệt, nếu lỡ sa vào thì rất nguy hiểm. Để có đời sống trong sáng con người cần có: 5.6. Tinh Thần Tự Tin: Lòng tin vào cuộc sống, vào chính mình là một thứ không thể dùng bạc tiền hay địa vị xã hội để đánh đổi, là một thứ tinh hoa cho cuộc sống hạnh phúc. Mất lòng tin, con người xã hội như một ảo ảnh bàng quang, cá nhân ấy đắm chìm trong lo âu và xét nét thậm chí cả người thân của mình. Họ không tin ngay cả bản thân, đặt mình trong trạng thái suy nhược cả tinh thần lẫn thể xác. Thấy rõ điểu này, Đức Phật khuyến giáo cho các đệ tử: “Này Kàlàmas, đừng để bị dẫn dắt sai lạc bởi báo cáo hay tryền thống, hay nghe người ta nói, đừng để bị dẫn dắt sai lạc bởi sự truyền tụng trong Kinh tạng, cũng đừng bị dẫn dắt sai lạc bởi thấy hợp lý, cũng đừng bị dẫn dắt sai lạc sau khi tư duy và chấp nhận lý thuyết, cũng đừng để bị dẫn dắt sai lạc do vì hợp với định kiến, cũng đừng bị dẫn dắt sai lạc do vì sự kính trọng vị Sa Môn. Nhưng, này các Kàlàmas, khi các người tự mình biết rằng: các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người trí chỉ trích, các pháp này nếu được thực thi, thực hiện thì sẽ dẫn đến thiệt hại và khổ đau, này các Kàlàmas, quả thực các người bấy giờ hãy từ bỏ chúng”. Vậy dựng được tầm nhìn và mục tiêu như vậy, cá nhân ấy đã đặt mình vào trong một nền tảng tốt để phát triển, không vay mượn bất cứ gì của ai mà tự mình tư duy bằng bản thân mình theo giáo lý. III. KẾT LUẬN: Lòng Từ là lãnh vực không thể thiếu trong cuộc sống. Bất kỳ xã hội nào con người không có tư cách đạo đức và lòng thương yêu lẫn nhau thì không có hạnh phúc trong đời sống dễ xảy ra xung đột. Tuy được nâng lên thành tư tưởng, tôn chỉ…..v..v…nhưng thực chất của hai phạm trù này hiện hữu trong một điểm duy nhất, đó chính là con người. Kinh Hoa Nghiêm Phật nói: “Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ứng quán pháp giới tánh Nhất thiết duy tâm tạo”. Phật dạy như vậy là chỉ cho chúng sanh thấy tâm làm chủ được tất cả mọi yếu tố tư tưởng hành động.Đạo đức và lòng từ được xây dựng trong tư tưởng nhưng phải hành động bằng cách thể hiện trong cuộc sống để tạo nên một sự an lạc cho hạnh phúc.Tính chất của đạo đức và từ bi có sự quan hệ mật thiết.Đạo đức thể hiện cho khuôn mẫu chuẩn mực đảm bảo một cuộc sống an lạc tự thân. Còn từ bi là trang trải tình thương hay những gì mình có được cho xã hội. Khai triển triệt để hai tư tưởng triết lý hành động này con người sẽ gặt hái được những kết quả hết sức tốt đẹp. Hiện tại ta sống trong một xã hội có đủ vật chất và phương tiện nhưng không khỏi xót thương trước những thảm cảnh đang xảy ra. Con người trở thành kẻ thù của nhau và đang gieo rắc biết bao nỗi kinh hoàng cho nhau. Vậy hơn lúc nào hết ta cần phải thể hiện tính từ bi trong ta và dùng tư cách đạo đức của chính mình, khuyến khích mọi người biết nhìn vào những thảm trạng ấy mà ban bố những gì cần ban bố góp một chút công sức vào trong công cuộc xây dựng thế giới hòa bình xã hội công bằng văn minh. Chúng ta thật hạnh phúc, được sống trong một dân tộc đã có sẵn những nền tảng ấy nhưng không vì thế mà không kiện toàn, phát huy để đưa đất nước Việt Nam trở nên giàu đẹp.Sản phẩm của Đạo Đức và Từ Bi chính là những cây ngọt trái lành, những nụ cười sau những tháng ngày lo âu khổ sở trầm kha. Đó là con đường đi đến Phật quả của các bậc tu hành nếu không nhân nơi đạo đức giải thoát và từ bi làm cội gốc thì khó thành tựu. Vì tầm quan trọng của Đạo Đức và Từ Bi như vậy nên ta tu tập mãi không ngừng. Lý thuyết và suy tư chỉ dừng lại ở lãnh vực tư tưởng hay luận điểm ngôn từ, cái cần thiết nhất là hành động, đặt mục tiêu hướng tới mục đích rõ ràng thì chắc chắn sẽ thành tựu. Nhìn lại quá trình du nhập và hội nhập của Phật giáo với dân tộc Việt Nam ta thấy được sức mạnh to lớn khi đạo đức giải thoát và từ bi đã góp vào nền văn hóa Việt Nam những điểm son sáng chói. Đạo đức Phật giáo đã xây dựng nên một ông vua tinh thần giải thoát siêu xuất, một tổ sư khai sáng ra một dòng thiền mang đặc tính rất riêng của Việt Nam và lòng từ bi của thiền sư nay đã đem đến cho dân chúng một cuộc sống hướng thiện. Đời Trần cực thịnh vì từ Vua chí Quan cho đến Dân Chúng đều biết xây dựng cuộc sống của mình bằng tư tưởng đạo đức và từ bi với văn hóa Việt Nam, kết tinh thành những triết lý hành động mà cuộc sống dân tộc đang cần. Từ Bi làm phương tiện vào đời hóa độ chúng sanh. Đó là con đường tuyệt vời cho tất cả mọi hành giả. Không phân biệt là Tăng hay Tục tùy theo sức lực mà tu tập, biết chọn cho mình một đường hướng đúng thì chắc chắn sẽ thành công. Phật giáo có một nền giáo lý nhập thế tích cực, hiện tại ta đang thừa hưởng, trách nhiệm ta là phải vun bồi, phát triển để Phật giáo không còn xa lạ với cộng đồng.Người Phật tử tại gia cũng nương nơi Đạo Đức và Từ Bi để xây dựng nếp sống văn hóa gia đình chính là góp phần xây dựng xã hội. Tăng sĩ đem hoa ngọt trái lành ấy làm nên những món quà vô giá ban bố cho người đời thì quả thật là một Tịnh Độ ở nhân gian. Luận văn trong hạn lượng cho phép nên người viết cũng xin khái quát đề tài như đã thể hiện, không khỏi những khiếm khuyết.Phật pháp bao la đời còn nhiều nỗi khổ, nhưng hằng mong con thuyền từ bi và trí tuệ của Phật giáo hằng mãi chở những tinh hoa cho cuộc đời. “Điều cuối cùng chúng ta muốn nói ở đây là không bao giờ được tự mãn với những đạo đức có được. Vì mỗi đức hạnh có nhiều mức độ sâu cạn khác nhau.Ngày hôm nay chúng ta hiểu được mức độ này nhưng không có nghĩa là đã đạt được trọn vẹn hết đức hạnh đó.Chúng ta phải hiểu rằng, từ đạo đức đi đến hoàn thiện, đến mục đích giải thoát là một con đường còn rất xa, không phải ai cũng đạt được.Vì vậy chúng ta không được tự mãn. THƯ MỤC THAM KHẢO: [1]. Đào Duy Anh, Từ Điển Hán Việt, NXB -Khoa Học Xã Hội – 1998. [2]. Thích Minh Châu, Đạo Đức Phật Giáo Và Hạnh Phúc Con Người, NXB -Tôn Giáo – 2002. [3]. Thích Minh Châu, Chánh Pháp Và Hạnh Phúc, NXB -Tôn Giáo-2001. [4]. Thích Minh Châu, Trung Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN – 1996. [5]. Thích Minh Châu, Tương Ưng Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN – 1996. [6]. Thích Minh Châu, Trường Bộ Kinh Tập I,II, VNCPHVN – 1996. [7]. Thích Minh Châu, Tiểu Bộ Kinh Tập I,II, VNCPHVN – 1996. [8]. Thích Minh Châu, Tăng Chi Bộ Kinh Tập I, VNCPHVN – 1996. [9]. Thích Minh Châu, Pháp Cú Kinh, NXB Tôn Giáo – 2000. [10]. Thiều Chửu, Hán Việt Từ Điển, NXB Văn Hóa Thông Tin – 1999. [11]. Bửu Kế, Từ Nguyên Từ Điển, NXB Thuận Hóa – 2000. [12]. Phạm Kim Khánh, Đức Phật Và Phật Pháp, NXB Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh – 1991. [13]. Thích Viên Lý, Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21, NXB Viện Triết Lý Việt Nam Và Triết Học Thế Giới – 2001. [14]. Nhiều Tác Giả, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại, NXB TP. Hồ Chí Minh – 2001. [15]. Thiện Nhơn, Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư, Thích Hành Trụ dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh – 1997. [16]. Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẳng – 1997. [17]. Thích Chơn Quang, Tâm Lý Đạo Đức, NXB Tôn Giáo – 2004. [18]. Thích Trí Tịnh, Kinh Địa Tạng, NXB Tôn Giáo – 2001.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét