THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015
GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT THỜI LÝ TRẦN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Bối cảnh xã hội thời lý trần:
1.1. Phật giáo thời nhà Lý:
1.2. Phật giáo thời nhà Trần: (1226-1400 )
1.3. Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần:
2. sự thành lập phật giáo nhất tông:
2.1. Tư tưởng Phật giáo đánh thức sự tự tín, góp thêm sức mạnh vào niềm tin:
2.2. Tư tưởng Phật giáo làm nên một giai đoạn văn học trầm hùng:
2.3. Tinh thần nhập thế của các vị Thiền Sư thời Lý –Trần:
3. Giá Trị Tư Tưởng Thời Đại Việt:
3.1. Những đặc trưng con người đại việt trong thời đại lý-trần:
3.2. Văn học Phật giáo thời Lý-Trần:
3.3. Nét đẹp của Phật giáo được thể hiện qua một số thi kệ của các Thiền Sư:
3.4. Quan điểm Phật tại tâm:
3.4.1. Con người phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn:
3.4.2. Con người với phẩm hạnh cao cả, điều phục thân tâm để đạt đến giải thoát :
3.5. Tư tưởng hòa quang hồng trần:
4. liên hệ với hiện đại:
4.1. Sự dung hịa các hệ tư tưởng:
4.2. Quan niệm về “Tam giáo đồng nguyên”:
4.3. Tinh thần thoát tục qua bài “cư trần lạc đạo”
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
ĐẠI VIỆT THỜI LÝ TRẦN
I. DẪN NHẬP:
Phật giáo Việt nam trãiqua nhiều biến thiên lịch sử, tồn tại trong một quốc gia chịu nhiều tang tóc chinh chiến, nhưng vẫn có những nét đặc thù riêng lẽ từ kiến trúc hội hoạ, điêu khắc, nghệ thuật, văn chương cho đến những câu hò điệu lý… đều xuất phát từ tinh hoa Phật giáo. Đạo Phật đi vào lòng người ở thời Lý Trần bằng tất cả sự nghiệp, tư tưởng, lời nói, hành động của các vị Vua, Thiền sư.g thời đại ấy đèu thấm nhuần giáo lý Phật giáo nên họ đã hình thành một cuộc sống tốt đẹp đưa đ ất nước đến đỉnh cao của sự phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên lật lại những trang sử của những ngày ấy chúng ta cũng thấy được lịch sử đất nước Việt nam được hình thành như thế nào.
Lịch sử của Việt nam là lịch sử của chiến tranh dựng nước và giữ nước. Đó hẳn là tiếp nối của những tráng ca và bi ca. Trên cơ sở văn minh sông Hồng và nền văn hoá Đông Sơn, một nhà nước Việt nam được hình thành trong phôi thai. Nhưng lịch sử Việt nam không được viết lên trang đầu bằng sự phát triển kinh tế mà trang đầu của nósớm vẽ lên những gươm đao chống quân xâm lược nhà Hán, Trung Hoa. Kể từ đó đất nước Việt Nam phải chịu ách đô hộ hàng ngàn năm trải qua không biết bao nhiêu đau thương tang tóc. Nhưng cũng từ mảnh đất hoang tàn ấy dân tộc Đại Việt đã khôi phục mạnh mẽ, hồi sinh những tiềm năng , làm thay đổi bộ mặt đất nước. Một mặt khôi phục những giá trị tinh thần truyền thống, mặt khác đón nhận những tinh hoa, văn hoá nước ngoài, chuyển hoá nó, dung hoà với cái vốn có của mình để làm thành một nền văn hoá phong phú, đa dạng có bản sắc góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước ngày một đi lên.
Đã qua rồi những giông tố bão bùng, bầu trời lại trong xanh hơn. Đất nước chúng ta đang chuyển mình vào thiên niên kỷ mới, nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ qua đi thời đại vàng son .Và hơn bao giờ hết chúng ta cần làm sống lại những dòng văn học cổ – Trung đại, nền văn học Lý- Trần khơi lại một thời đại Phật giáo thịnh hành.
II. NỘI DUNG:
1. Bối cảnh xã hội thời lý trần:
1.1. Phật giáo thời nhà Lý:
Sau khi thoát khỏi ách đô hộ Bắc thuộc đất nước Việt Nam được độc lập, tự chủ tiến bước trên con đường phát triển xã hội. Vào triều đại nhà Lý( 1010-1225)xã hội Việt Nam tiến tới ổn định hoàn toàn. Bộ máy nhà nước Trung ương tập quyền được củng cố vững chắc. Bộ Luật Hình Thư đầu tiên được viết thành văn hồn chỉnh. Nền kinh tế nông, công thương nghiệp được phát triển. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống(1075-1077) thắng lợi vẻ vang.
Song song với bước tiến xã hội, Nho giáo cố vươn lên, tác động vào hệ tư tưởng và đời sống tinh thần của nhân dân, tranh giành ảnh hưởng vớí Phật giáo nhất là những thập ky ũcuối đời Lý. Nhưng vớí tài ba lỗi lạc của các Thiền Sư, lòng kính tin Phật pháp của triều đình, quan lại và quần chúng, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển và chiếm lĩnh đỉnh cao trong thời đại nhà Lý.
Qua những sự kiện chúng ta thấy rằng Phật giáo trong thời Lý rất thịnh, trải qua 215 năm trị vì với tám đời vua, triều đại Lý đã chỉnh đốn lại Phật giáo, xây dựng rất nhiều chùa chiền, đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đạo pháp dân tộc. Phật giáo đã chiếm vị trí độc tôn. Các lĩnh vực văn hóa, học thuật, chính trị lúc bấy giờ đều nằm trong Phật giáo.
1.2. Phật giáo thời nhà Trần: (1226-1400 )
Vào đầu thế kỷ XIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần sát nhập thành một, do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đưa đến sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử là thiền phái duy nhất của đời Trần. Thời Trần được coi là Phật giáo Nhất Tông tức là thời đại của một “ Phật Giáo Duy Nhất”. Tông phái này xuất phát từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là Thiền Sư Hiện Quang, Thiền Sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm Thầy của Trần Thái Tông là vị tổ thứ hai của phái Yên Tử được vua tôn xưng là Quốc sư.
1.3. Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần:
Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con của Lê Hoàn huy động lực lượng trong các thái ấp của mình đánh lẫn nhau trong 8 tháng để tranh giành ngôi báu. Năm 1006, Lê Long Việt lên ngôi mới được 3 ngày, bị em là Long Đĩnh giết để cuớp ngôi. Long Đĩnh vừa tàn bạo vừa ham mê tửu, sắc, bị bệnh không ngồi được, nên khi coi chầu phải nằm, sử cũ gọi là vua Ngọa triều. Tình hình chính trị cuối triều Lê ngày càng thối nát, nhân dân oán giận. Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều thần chán ghét nhà Tiền Lê, vì vậy, các sư tăng và đại thần, đứng đầu là sư Vạn Hạnh, tôn Điện tiền chỉ huy sứ tên là Lý Công Uẩn lên làm vua, mở đầu cho Vương triều nhà Lý (l010- 1225). Tiếp theo triều Lý là Vương triều Trần (1226-1400).
Quan chế của nhà nước Lý - Trần có quy củ, chặt chẽ hơn các triều đại trước. Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, dưới Hoàng đế có 3 chức đứng đầu các quan lại trong triều, đó là thái sư, thái phó, thái bảo(tam thái). Dưới đó là chức thái úy , nắm giữ việc chính trị, quân sự trong nước, về sau chức này được gọi là tể tướng . Tiếp đến là các chức tư không, thiếu phó, thiếu bảo, thiếu úy (phụ trách cấm quân), nội điện đô trị sự, ngoại điện đô trị sự, kiểm hiệu bình chuơng sự . Đây là những chức vụ trọng yếu nhất giúp việc nhà vua. Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước, còn có các cơ quan chuyên trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự sử đài, Hành khiển tượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình uý, Hàn lâm học sĩ.
Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn thời Lý. Khác với nhà Lý, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng. Các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng (hoàng thái tử) nhưng vẫn cùng với vua (con) trông coi chính sự, tự xưng là Thái thượng hoàng . Chế độ Thái thượng hoàng thời Trần có tác dụng ngăn chặn tình trạng các đại thần chuyên quyền, cướp ngôi khi vua còn ít tuổi. Trong triều đình, đứng đầu các quan vẫn là ba chức thái (sư phó, bảo) chỉ có điểm khác thời Lý ở chỗ nhà Trần đặt thêm hàm thống quốc, tá thánh, phụ quốc để gia phong thêm (như thống quốc thái sư, tá thánh thái sư phụ quốc thái bảo). Chức thái úy thời Lý (tướng quốc) đổi thành tả hữu tướng quốc bình chương sự . Giúp việc cho tể tướng (tướng quốc) thời Trần đặt thêm các chức hành khiển nằm trong cơ quan mật viện. Các hành khiển thường kiêm cả các chức thượng thư (đứng đầu bộ), tả hữu bộc xạ, tả hữu gián nghị đại phu . Dưới các chức vụ nói trên, các quan được chia thành hai ban văn và võ. Bên văn có các bộ, đứng đầu mỗi bộ là một viên thượng thư .
Nhìn chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở, nhưng ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn từ thời Lý đến thời Trần. Ở các địa phương, nhà Lý từ năm 1011 đổi 10 đạo thời Lê làm 24 lộ , đặt thêm một số đạo và trại, châu . Một số châu, trại đổi làm phủ , các vùng xa gọi là châu (như châu Vĩnh An, Đằng Châu, châu Lâm Tây, v.v.). Dưới lộ có huyện, hương.
2. sự thành lập phật giáo nhất tông:
2.1.Tư tưởng Phật giáo đánh thức sự tự tín, góp thêm sức mạnh vào niềm tin:
Trong gần 1.000 năm đầu Tây lịch dưới thời Bắc thuộc, nhà chùa là trường học, các thiền sư là thầy dạy học, đào tạo nhiều thế hệ học trò, từ môi trường đó đã sản sinh một số nhà lãnh đạo tài ba. Song song với điều đó, tư tưởng Phật giáo đi vào nền văn hóa bản địa, tiếp tục làm giàu thêm cho nội dung của nền văn hóa này, đồng thời củng cố niềm tin trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, đặc biệt là trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Về thành tựu chính trị - xã hội, chúng ta không thể không nhắc đến sự ra đời của đất nước Vạn Xuân (544) với những nhà lãnh đạo Phật tử như Lý Nam Đế (503-548), Lý Phật Tử (571-603), sau này là vua Lý Thái Tổ (974-1028) mở đầu nhà Lý - một triều đại quân chủ Phật giáo được đánh giá là "thuần từ nhất trong lịch sử" - gắn liền với sự kiện quan trọng là dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của dân tộc ta trên mọi phương diện. Sự ứng dụng tư tưởng Phật giáo được thăng hoa ở thời Trần với những mẫu hình triết vương, là nhà vua đồng thời là thiền sư như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, tạo nên một nền Phật giáo đặc thù Việt Nam: rộng về nền móng và sâu thẳm về tư tưởng, đạo đời hòa quyện như sự hòa quyện của nước với sữa không thể tách rời, làm căn bản cho các phát triển về sau.
2.2. Tư tưởng Phật giáo làm nên một giai đoạn văn học trầm hùng:
Đối với các thiền sư đời Lý, Trần nói riêng cũng như phương Đông nói chung có lẽ không có ý niệm "sáng tác văn chương", mà thi kệ, văn, phú chỉ là sự thăng hoa trong cảm xúc giải thoát khỏi các phiền trược, những sát na hoát nhiên đại ngộ, hoặc để chuyển tải những điều mà họ muốn khai thị cho đệ tử. Người ta thường nói "Văn là người", điều này càng đúng hơn với các tác giả là các thiền sư thời đó.
Nói như thế không có nghĩa là tác phẩm văn học cảm hứng tư tưởng Phật giáo, tác giả chủ yếu là các thiền sư ít giá trị nghệ thuật, mà ngược lại, rất đặc sắc về mọi phương diện. Nghiên cứu đặc điểm văn học giai đoạn đặc biệt này.
Một vài tác phẩm của thời đại Lý - Trần đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở hệ phổ thông trung học và đại học, điều đó thật đáng mừng. Tuy nhiên, những dẫn giải về các tác phẩm đó, cũng như lý giải những câu hỏi thời đại, có thể nói còn quá chung chung. Chúng ta mong muốn với chủ trương tìm về cội nguồn bản sắc dân tộc, chúng ta cần có những cuộc hội thảo được phối hợp như thế này, nhằm có sự bổ sung giữa Phật giáo và các ngành khoa học khác, để có được cách tiếp cận chính xác, gần gũi hơn với di sản của tiền nhân, với quá khứ dân tộc để nhằm phát huy các giá trị tư tưởng thẩm mỹ qua văn học, đặc biệt là văn học Phật giáo hoặc ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo vào đời sống thực tiễn hôm nay, để có thể thừa kế và phát huy các giá trị tư tưởng truyền thống nhằm xây dựng cuộc sống hiện tại và tương lai tốt đẹp hơn. Bởi cuối cùng, tất cả mọi lĩnh vực khoa học, trong đó có văn học đều hướng đến mục tiêu cứu cánh là xây dựng nhân cách của con người, để con người có một tư tưởng sống và hành động sống hiền, đẹp.
2.3. Tinh thần nhập thế của các vị Thiền Sư thời Lý –Trần:
Có thể nói tinh thần của các vị Thiền sư trong thời Lý –Trần là một hành động tích cực . Nhập thế mà không trụ thế. Hình ảnh con người có thể dung nạp được mình để hòa đồng và vuii vẻ suốt ngày với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên được thể hiện qua lời thơ thoát phàm bay bổng:”còn một tiếng kêu vang, lạnh cả trời” . Có thể là một tiếng reo của một người chứng ngộ, thoát khỏi cảnh giới trần thế. Cái kêu vang lạnh ấy phải chăng là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và với một tinh thần thoái mái tột cùng, chứ không phải là một người suốt ngày cứ câu nệ vaò tín điều một cách cứng ngắc, khô khan. Tiếng kêu đó chính là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của các Thiền sư. Sự nhập thế tích cực của các Thiền sư thời Lý – Trần đã đưa Phật giáo đến đỉnh cao của sự phồn vinh.
Các nhà sư là những Thiền Sư đã chiếm một vị trí quan trọng trên chính trường và trên nhiều lĩnh vực khác. Nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này là những kho tàng quý báu. Những áng văn thơ của các Thiền sư đã mở ra một cách nhìn mới mẻ, một không khí lạc quan , yêu đời.
Những áng văn, thơ của các Thiền Sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các Ngài đã hiện hữu trong cuộc sống bằng tuệ đúc và trả về cho chính bản thân cuộc sống bằng sự từ bi. Thơ văn của các vị Thiền Sư mang chất liệu Phật hoá đã len lõi và thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng nhân dân. Phong cách của các Ngài luôn thể hiện bằng sự ung dung, tự tại. Vì thế nên những áng văn của các Ngài rất sinh động nội dung phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau
3. Giá Trị Tư Tưởng Thời Đại Việt:
3.1. Những đặc trưng con người đại việt trong thời đại lý-trần:
Chúng ta phải công nhận rằng đời Trần là thời kỳ trăm hoa đua nở, thời kỳ mà các nhân tài kiệt xuất hội tụ, thời kỳ mà dân tộc đoàn kết một lòng đánh giặc xâm lăng, xây dựng đất nước hòa bình thịnh trị rực rỡ nhất trong lịch sử. Sở dĩ đời trần có một nét son sáng đẹp như vậy là vì thời ấy đã hội tụ những con người đại Việt mang nét đặc trưng tiêu biểu. Những con người một mặt phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát, một mặt xả thân bảo vệ xây dựng đất nước trong tinh thần vô ngã, tùy duyên bất biến, hòa quang hồng trần.
3.2. Văn học Phật giáo thời Lý-Trần:
Thời Lý-Trần, văn học Phật giáo cực thịnh, ảnh hưởng sâu sắc đến văn học, do thế đã tồn tại một bộ phận văn học Phật giáo. Các nhà nghiên cứu thừa nhận Phật giáo Lý-Trần là tinh hoa, là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn học Phật giáo Lý-Trần là tinh hoa, đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam.
Văn học Phật giáo Lý- Trần không chỉ kế thừa những thành tựu trước đó mà còn ảnh hưởng đến văn học giai đoạn sau để đem lại cho văn học Việt Nam cái chất phóng khoáng, rộng mở, tùy tục ; một cái nhìn lạc quan, tạo nên một bộ phận “văn thơ Thiền thế sự” và một ấn tượng đẹp trong lòng người đọc qua bao thế hệ. Có thể nói văn học Phật giáo Lý- Trần là một tiếng nói rất riêng, tiếng nói ấy chính là tinh hoa của thời đại Phật Giáo cực thịnh, là tinh hoa của văn học Phật giáo Việt Nam, góp phần làm cho nội dung vă học Việt Nam thêm đa dạng, phong phú.
Văn học Phật giáo Lý- Trần đã phản ánh khá đầy đủ giáo lý nhà Phật, đó là bản thể luận và giải thoát luận. Cụ thể là các Thiền sư Lý - Trần đã từ khởi điểm sắc – không, trên quan niệm trung đạo luận để nhận thức thực tướng và giả tướng rồi đi đến triết lý vạn vật nhất thể, đạt đến chân như, Niết bàn.
Các tác phẩm văn học Phật giáo Lý- Trần, chúng tôi nhận thấy có nhiều tác phẩm thuộc các thể loại như kệ, tụng cổ, nhữ lục, luận thuyết tôn giáo ,thơ… đã biểu lộ một trạng thái tư duy nghệ thuật khác với kiểu tư duy của Nho giáo. Kiểu tư duy này gắn liền với tư tưởng Thiền học, chú trọng đến tâm trực ngộ, trực cảm. Chúng tôi tạm gọi đó là trạng thái tư duy nghệ thuật thuộc kiểu trực cảm tâm linh.Văn học Phật giáo Lý- Trần thường hay sử dụng thể thơ tứ tuyệt ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Xuất phát từ tư duy Thiền, kiệm lời, vô ngôn, gợi nhiều hơn tả nên các Thiền gia ưa dùng thể tứ tuyệt. Thể thơ này mang tính ngắn gọn, hàm súc và có cấu trúc chặt chẽ rất phù hợp với các Thiền gia ghi lại một cách nhanh chóng kịp thời các trạng thái của giây phút mà họ giác ngộ, bừng vỡ, sáng tỏ chân lý, hoặc ghi lại các cảm xúc thiền. Bên cạnh đó đa số các tác phẩm văn học thiền thường được sử dụng thủ pháp ẩn dụ như gia hương, minh châu, bảo ngọc trân để chỉ Phật tính trong mỗi con người ;tâm viên ý mã để chỉ lòng người dao động ; liên phát lô trung chỉ chân tâm bền vững không sợ thử thách ; thủy nguyệt là sắc tướng hư ảo. Văn học Phật giáo Lý- Trần còn dùng những từ ngữ vượt thoát khỏi tư duy logic thông thường. các thiền sư sử dụng ngôn ngữ này với mục đích đánh mạnh vào tâm tư, dồn ép người đọc đến chổ tận cùng khiến họ ngơ ngác rồi bừng tỉnh, giác ngộ chân lý.
3.3. Nét đẹp của Phật giáo được thể hiện qua một số thi kệ của các Thiền Sư:
Thơ văn Lý – Trần đã tập trung thể hiện caí đẹp của con người. Nó không chỉ là sản phẩm tinh thần cuả một bộ phận nhà tu hành theo giaó lý nhà Phật mà là sản phẩm tinh thần của toàn xã hội bây giờ. Thơ văn thơì ấy đã phản ánh sâu sắc và tập trung vào đời sống tâm hồn của con người.
Có lẽ nét đặc trưng độc đáo nhất của Phật giáo Việt nam mà Phật giáo trên thế giới không thể có được đó là tinh thần nhập thế của các vị Thiền sư, vừa một lúc mà hoàn thành hai nhiệm vụ, có khi là một ông vua trị nước an dân có khi là một Thiền sư phục vụ cho đạo pháp dân tộc. Chính cái tư tưởng tự tại ấy mà thơ văn của các vị Thiền sư toát lên một cái gì đó rất giải thoát:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch nghĩa :
Thân như ánh chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
( VNPGsử lược –121-HT Thích Mật Thể)
Thực tại của cuộc sống là như vậy, sanh diệt chỉ là ánh chớp mà thôi. Sự thăng trầm thịnh suy của cuộc đời cũng chỉ là làn sóng nhấp nhô trên biển, hay chỉ là hạt sương lấp lánh trên ngọn cỏ có rồi lại không. Nhưng đối với các vị thiền sư trước sự sanh diệt đổi thay không khởi lên một ý niệm nào cả, bởi vạn vật không phải là một bản thể nhất định. Cho nên chúng ta có thể tìm thấy muôn vàn cái đẹp đang tiềm ẩn trong con người và trong thế giới tự nhiên. Trong cái xấu xa luôn tiềm ẩn cái chân thường của nó. Điều này trong thơ văn Lý –Trần các vị Thiền sư đã khéo vận dụng những phương tiện để xây dựng nên cái đẹp và những giá trị cao cả của nó.
3.4. Quan điểm Phật tại tâm:
Phật không ở đâu xa mà Phật ngay chính trong tâm thức mỗi người. Đây là tư tưởng đặc trưng nổi bật của con người Đại Việt thời Lý Trần. Với xu hướng “Phật giáo thiền biện tâm” hướng nội để nắm bắt được chân lý tối thượng, có thể nói là rất sáng tỏ trong Phật giáo đời Trần : “Không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm”.
Khái niệm có tính chất bản thể luận như tâm, phật, chân tâm, chân như…chính là chân tâm vốn có của chúng sanh vốn không sanh không diệt, không đến không đi. Vì một niệm bất giác khởi lên mà chúng sanh cứ mãi nhận giặc làm con, mãi làm khách trần trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, có biết đâu rằng :
“Lênh đênh làm khách phong trần mãi,
Ngày vắng xa quê vạn dặm trường”. (Khóa Hư Lục)
Bản lai diện mục được Trần Thái Tông thi vị hóa thành quê hương, là nhà, là nơi chốn trở về. Thái Tông nói trong bài “bàn về tọa thiền” : “Ôi ! những người học đạo chỉ cần thấy tính”. Theo vua “tính” là đối tượng của sự tu chứng, “tính” chính là Phật tính hiện hữu trong mỗi tâm thức con người, như lời Viên Chứng quốc sư khẳng định : “Sdhsinh là sinh hơn bổn vô Phật, duy tồn hồ tâm” (trong núi vốn không có Phật, duy chỉ ở trong tâm). Trong bài tựa Kim Cương Tam Muội của Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông viết :“Bản tính huyền ngưng, chân tâm tạm trịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết ; nếu không phải do thánh trí thì không tìm được giềng mối của nó ; nó không hợp, không tan, không còn, không mất…”. Mục tiêu của sự tu đạo là trở về tìm lại tính siêu việt đó vốn lâu nay bị vọng tâm che lấp. “Hãy quay đầu lại nhìn vào bên trong nội tâm” hay“Nếu có thể quay sang phản chiếu lại mình thì sẽ thấy được tánh mà thành Phật”(Khóa Hư Lục). Theo vua chỉ vì sự tập hợp huân nhiễm lâu đời mà phát ra sóng gió tri kiến của thần thức, vì chúng sinh buông mình theo con đường ô trọc che lấp nên không biết đem ánh sáng tuệ giác để chiếu soi, khiến cho bốn phương thành xứ lạ, mơ hồ không biết rõ lối về. Tu đạo tức là thực hiện sự trở về. Sám hối cũng là một phương tiện để trở về, tu giới định tuệ là bước trên con đường trở về. Vì chúng sanh có sẵn tuệ tính nếu không tập tọa thiền thì vẫn chưa có thể làm hiển lộ tuệ giác. Cho nên Thái Tông thao thức thực hiện tuệ giác để tìm được cái gì không sinh không diệt trong dòng đời sinh diệt, khổ đau, vô thường, vô ngã.
3.4.1. Con người phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn:
Con người không ngừng vươn tới sự giải thoát giác ngộ là một đặc trưng tiêu biểu nhất của con người Đại Việt thời đại Lý Trần. Hội tụ ở nơi họ là những phẩm hạnh cao đep thoát tục. Phải chăng như những đóa sen thơm tuy sống trong bùn mà không nhiểm mùi bùn, sống trong nhung lụa, uy quyền tột bực nhưng tâm vẫn không vướng mắc. Với tinh thần vô ngã, tùy duyên bất biến, họ tích cực đem ánh đạo hòa vào cuộc, làm cho cuộc đời thêm tươi sáng. Đó là một Trần Thái Tông, một Tuệ Trung Thượng Sĩ, một Trần Nhân Tông và còn nhiều còn nhiều bậc vĩ nhân khác nữa, nơi họ ẩn chứa tài năng xuất chúng, sự đốn ngộ hoàn toàn đã xây nên nền tảng Thiền học Việt Nam tự chủ, tự lực, tạo nên sức mạnh chống giặc bảo vệ non sông của dân tộc ta.
3.4.2. Con người với phẩm hạnh cao cả, điều phục thân tâm để đạt đến giải thoát :
Xu hướng chung của con người sống trong cuộc đời này là tìm sự hưởng thụ khoái lạc trong các giác quan, tìm địa vị, danh lợi, quyền lực, danh thơm tiếng tốt. Họ không hiểu rằng những thứ ấy vui ít khổ nhiều, là yếu tố dẫn đến sự tranh giành, đoạt lợi, xâu xé lẫn nhau, tạo nên bao cuộc chiến tranh đẩm máu xưa nay. Thế nhưng con người Đại Việt trong thời Lý - Trần lại không như vậy, với tinh thần vô ngã, vươn đến sự giải thoát tự tại ngay trong cuộc đời giả tạm này mà họ đã vượt lên trên bản tánh thường tình của con người, tu tập điều phục thân tâm. Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông là ba con người trong một phẩm chất, tuy sống trong sắc tài danh lợi mà vẫn không bị chúng làm đắm nhiễm.
“Mũi lưỡi tham hương say đắm vị
Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh.
Phong trần khách nọ lang thang mãi
Ngày vắng xa quê vạn dặm trình”. (Khóa Hư Lục)
Dưới con mắt Thiền sư, một con người đã nhìn thông suốt bản chất thật của cuộc đời, Ngài thấy rằng dù trai dáng tươi, gái nghiêng thành, dù cho đắm vị, chuộng âm thanh thì tất cả chỉ tạm bợ, thoáng qua. Con người đâu hay rằng chạy theo những thứ đó không khác gì tự mình ôm lấy khổ đau, vì các dục vui ít khổ nhiều, vị ngọt thì ít nhưng cay đắng tràn ngập. Vả lại, cuộc đời thoáng qua nhanh, mong manh như hạt sương trên đầu ngọn cỏ :
3.5. Tư tưởng hòa quang hồng trần:
Có thể nói đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền với đời sống sinh hoạt dân tộc. Với xu hướng hòa quang hồng trần, đạo Phật trong thời đại Lý-Trần đã đi vào cuộc đời làm cho đời thêm tươi sáng. Tư tưởng này là sự kết tinh của một tiến trình phát triển lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ vua thời Lý Thánh Tông cho đến vua Trần Thái Tông và kế tiếp sau này là Tuệ Trung Thượng Sĩ và Trần Nhân Tông cũng như các thành viên Thiền phái Trúc Lâm. Vào thời Trần tư tưởng này được thực hiện triệt để vì nhu cầu bức thiết của đất nước được đặt ra là dân tộc đang đối đầu với sự xâm lược của quân Nguyên Mông hung hãn và thiện chiến, cho nên cả nước từ vua, quan cho đến thần dân đều phải đoàn kết một lòng, tập trung năng lực và trí tuệ xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tinh thần hòa quang hồng trần đã thể hiện rõ trong con người Trần Thái Tông trong việc đề ra các chủ trương xây dựng đất nước Đại Việt. Nhà vua đã thực thi nếp sống đạo theo tinh thần Thiền tông mà nhà vua đã hành trì để xử lý tâm, đó chính là “biện tâm”. Chính đặc trưng tinh thần Thiền học này, đã trở thành kim chỉ nam để Trần Thái Tông trong cương vị một nhà lãnh đạo tối cao của nước Đại Việt, nhà lãnh đạo tôn giáo với tư cách là vị Thiền gia chứng ngộ giải quyết các vấn đề liên hệ cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, dân tộc. Hẳn nhiên phương thức hành trì thiền nó không chỉ tồn tại trong các ngôi chùa nguy nga mà nó có thể hoạt động ở bất cứ nơi nào dù thành thị, nông thôn, chợ búa hay núi non. Thậm chí nó có thể phát huy ngay giữ chiến trường để đối mặt với quân Nguyên Mông.
Kế tục lối sống “hòa quang hồng trần” của các vị tiền bối Thiền sư đi trước, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã thể hiện nó một cách trọn vẹn. Với một người phóng khoáng ung dung tự tại giữa cuộc đời như Tuệ Trung Thượng Sĩ thì lối sống “hòa quang hồng trần” càng được thể hiện đậm nét.
4. liên hệ với hiện đại:
Hình ảnh con người nhập thế là một nét đặc trưng nhất của Phật giáo thời đại Lý - Trần. Thế nhưng truyền thống nhập thế này đã có mặt từ thời Đức Phật. Thế Tôn vẫn thường nhắc nhở các vị Tỳ kheo : hãy du hành vì lợi ích số đông, vì lợi ích của chư thiên và loài người. Cả cuộc đời đức Phật đi khắp đó đây thuyết pháp độ sanh, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho tha nhân. Tinh thần này đã được truyền thừa mãi đến muôn đời sau khi mà đạo Phật tồn tại ở thế gian này. Các vị Thiền sư Việt Nam nói chung, Phật giáo trong thời đại Lý – Trần nói riêng đã tiếp nhận tinh thần ấy một cách triệt để. Các ngài không chỉ lấy tông chỉ : “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”(kinh Viên Giác) ứng dụng trong quá trình tu tập mà biết phát huy tinh thần ấy thành tinh thần nhập thế tích cực, phù hợp với tình hình xã hội, đất nước lúc bấy giờ. Có thể nói rằng tinh thần nhập thế của Phật giáo được phát huy cao nhất trong thời đại Lý trần.
Con người thời đại Lý - Trần đã được những nhà lãnh đạo và tầng lớp trí thức trang bị tinh thần vô ngã. Với tinh thần ấy con người không hề khiếp sợ điều gì, kể cả cái chết, bởi đã phó thác thân mình cho sinh tử chuyển vần, “sanh như mặc áo, tử như cởi áo”, có gì đáng để bận tâm đâu, điều còn lại là sống sao cho đúng, cho có ý nghĩa. Vì vậy khi cần phải chống giặc cứu nước, họ sẵn sàng xả thân, coi cái chết nhẹ tợ mảy lông. Đã không sợ chết nên không bao giờ đầu hàng dù địch mạnh hơn ta ngàn lần. Nhờ vô ngã con người mới hành động vô tư, đặt quyền lợi của dân của nước lên trên quyền lợi cá nhân. Tinh thần vô ngã này khiến họ tự tin vào nền độc lập tự chủ nước nhà, họ tin tưởng hơn vào thắng lợi vẻ vang của đất nước, lòng tin là động lực mạnh mẽ thúc đẩy họ tham gia vào việc : giữ vững quyền tự chủ dân tôc, xây dựng hòa bình đất nước.
Tinh thần vô ngã còn tạo cho con người lòng vị tha-một yếu tố tối cần thiết đối với những người lãnh đạo muốn đem bình an, hòa bình thịnh trị đến cho toàn dân. Với tinh thần vô ngã, con người dễ dàng nhìn thấy “chúng sanh dữ Phật đồng”, một thể vô ngã trùm khắp thế giới chẳng còn chi ghét thương, chẳng còn chi sợ hãi, chẳng còn chi để nắm giữ nên họ có thể xả thân để xây dựng và bảo vệ non sông đất nước.
4.1. Sự dung hịa các hệ tư tưởng:
Như đã nói ở trên dân tộc ta vốn có tinh thần dân chủ và sống phóng khoáng, cho nên ngay sau khi tam giáo vào cha ông ta đã biết đón nhận một cách tích cực và biến chúng thành cái riêng của mình để phù hợp vói điều kiện sống.
Nhìn lại các tác phẩm văn thơ Lý – Trần chúng ta nhận thấy được tinh tần dung hoà này, có khi là sự phân công hợp tác giữa Phật và Thánh. Có khi là sự kết hợp uyển chuyển giữa Lão và Phật để đi đến sự thống nhất là Tam giáo đồng nguyên. Như chúng ta đã biết tư tưởng Phật giáo không phải là tư tưởng khép kín trong khuôn khổ trong quy tắc giáo điều, mà nó là một tư tưởng mở đầy khai phóng. Nhờ tư tưởng ấy mà các nhà tu hành có cái nhìn thông thái, khoan dung độ lượng, có thái độ sống cởi mở, phá chấp. Các Ngài vào đời một cách tự tại mà không bị ràng buộc nhập thế mà không trụ thế.
Đối với nhận thức của các Thiền sư là người tu hành không phải là vào chùa cạo đầu tu tập, suốt ngày chỉ bó gối ngồi thiền, mà ngay giữa cuộc đời này họ cũng có thể thiền định và chứng ngộ. Có những vị Thiền sư vào đời giúp vua trị nước an dân mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ tu hành của mình. Khi xã hội cần đến thì họ vẫn xông pha trong cuộc đời, xong nhiệm vụ thì trở lại nếp sống an vui thanh tịnh. Nhưng không dừng lại ở các nhà Sư, tính chất rộng mở này còn được thể hiện qua nhữngnhệ thống, kiến trúc của nhà chùa. Nhà chùa không chỉ là chốn nghiêm trang thờ tự mà là nơi luôn mở rộng cửa đón khách thập phương tới lễ bái, chiêm ngưỡng. Tính chất rộng mở ấy còn được thể hiện qua hệ thống triết lý, kinh điển với chủ trương bình đẳng không phân biệt.
4.2. Quan niệm về “Tam giáo đồng nguyên”:
Lịch sử tư tưởng Việt nam có thể được chia làm ba thời đại, bắt đầu từ thời Đinh, Lê, Lý. Trong thời đại này các Thiền sư đã có tinh thần dân tộc sâu sắc, ra phò vua giúp nước như Đỗ Pháp Thuận, Khuông Việt Quốc Sư… luôn nhiệt tâm với vận mệnh độc lập của quốc gia. Ngay từ buổi đầu dựng nước các Ngài đã đem cái lý xuất thế từ bi để nhập thế, kết hợp với các nhà chính trị thực tiễn khai quốc quân thần. Đời Lý ( 1010- 1225 ) Triều đình đã bắt đầu lập ra trường Quốc học với chủ trương “ Tam giáo đồng nguyên” dựa trên đạo của Lão Tử , Chân Như của Phật và Thái Cực của Nho giáo.
Trãi qua suốt hơn bốn trăm năm cái quan điểm tam giáo ấy đã làm nguồn sinh lực cho toàn dân, từ vua quan cho đến bình dân thứ sĩ đều tin dùng ba giáo lý ấy, phối hợp dung hoà mật thiết vơí nhau. Chính nhờ sự thống nhất tư tuởng ấy của toàn quân toàn dân mà dân tộc ta nhất trí vào một ý thức phong phú ấy, Triều đại Lý –Trần là một trong những triều đại oanh liệt nhất của ngàn năm lịch sử dân tộc. Một trong những khuôn mặt tiêu biểu thể hiện tam giáo đồng nguyên là Tuệ Trung Thượng. Ông là một Thiền sư nổi tiếng đời Trần, là học trò của Tiêu Dao Thiền Sư ( một nhà Thiền học nổi tiếng cuối đời Lý). Ở Tuệ Trung có một cá tính phong phú, một nhân cách trong sáng, phóng khoáng trong cái thế giới thanh tịnh của Phật giáo. Nhờ vào tinh thần cởi mở, tinh thần sống phóng khoáng đó mà Thiền của Tuệ Trung có sức dung hợp lớn lao, sống động đầy biến hoá. Bài thơ “ Phóng Cuồng Ngâm” có thể nói lên đầy đủ phong cách của Ông, trong đó tổng hợp được tinh thần của Nho giáo với thái độ “ dụng tắc hành, xã tắc tàng”. Với Phật yếu chỉ giải thoát “ Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Lão Tử vơí phong cách phóng khoáng “ tiêu dao tự tại”. Sự tổng hợp này tạo thành ánh sáng hoà quang đồng trần trong cuộc sống của Ông.
4.3. Tinh thần thoát tục qua bài “cư trần lạc đạo”
Hoàn thành sứ mệnh cương vị vua chúa của một đất nước, Vua Trần Nhân Tông tiến lên một bước nữa là bước đường giải thoát như người đã hoài bão lúc chưa lên ngôi hoàng đế. Người nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, cắt ái từ thân theo hạnh từ bi trí tuệ giác ngộ giải thoát của Phật Thích Ca tu thiền nhập định trên núi Yên Tử, đem đuốc tuệ sáng soi trong lòng dân Việt. Ngài sáng tác nhiều bài phú để giáo huấn thần dân bài “Cư Trần Lạc Đạo” là một bài trong những bài phú đáng được lưu tâm, nói lên tâm tư nguyện vọng ĐỜI và ĐẠO, tục đế và chơn đế liên quan đến đời sống con người trần thế và xuất thế giải thoát. Ngài nói :
“Ở đời tu đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tiềm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền “.
Tuy nhiên vua Trần Nhân Tông nhận thấy cuộc sống trần gian dù cao đẹp giàu sang vinh quang nó không tồn tại vĩnh cửu mãi, một ngày nào đó vô thường đến nó sẽ bị tan mất không khác nào như sương đầu ngọn cỏ, như hoa phù du sớm nở tối tàn, chỉ có tinh thần đạo đức, vui với đạo yêu đạo làm theo đạo tùy theo duyên sống động tùy hoàn cảnh xứ sở đưa đời sống cao đẹp hơn vĩnh viễn hơn đó là con đường giác ngộ giải thoát cuộc sống sanh già bệnh chết. Đúng như lời Phật Thế Tôn chỉ giáo: Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên "đời và đạo, sáng và tối, chúng sanh và Phật, phiền não và Bồ đề, sanh tử và Niết bàn" chỉ là một tánh không có hai, chỉ khác người được giác ngộ gọi là Phật, người còn vô minh trược gọi là chúng sanh, có đuốc tuệ là sáng tỏ không đuốc tuệ là mờ tối .
Đời sống tốt đẹp văn minh hoàn thiện chính là người vui với đạo sống với đời , có đạo mà không có đời thì đạo truyền cho ai, có đời mà không có đạo thì đời khô cằn không tinh thần sống động, khác nào như cây đứng giữa rừng đồng trống khô khan . Đói ăn, khác uống, mệt ngủ là nếp sống thường tình của dân sinh. Người đời thường nói “có thực mới vựt được đạo” có sức khỏe là nhờ sự bồi dưỡng ăn uống và nghĩ ngơi thanh thoát, có sức khỏe mới tạo nên sự nghiệp đời cũng như đạo mới được vinh quang sáng rạng, đó có nghĩa là tùy duyên hoàn cảnh của nhơn sinh xã hội . Chính hai câu thơ đầu của bài thơ phú bốn câu là nói lên sự cần thiết của đời sống nhân sinh, theo thuật ngữ Phật gọi đó là đời sống tục đế đời sống của con người thế tục trần gian không thể không có ! Đức Vua Trần Nhân Tông nhận thức đời sống thực tế ăn mặc ngủ nghỉ của nhân sinh không thể không có, lại rất cần thiết cho đời sống tùy theo duyên hoàn cảnh khác biệt của mỗi người trong xã hội. Tuy nhiên kiến thức trí tuệ nhận thức Vua Trần Nhân Tông không phải dừng nơi đây, nơi cuộc sống thường tình trong đời sống hạng cuộc rồi buông tay khi vô thường đưa đến, có sanh phải có diệt, có sống phải có chết, có hạnh phúc phải có ngày đau khổ... Nếu chúng ta chỉ biết có hướng ngoại tìm phương tiện cho sự sống mà không biết hồi tâm hướng nội. Nhìn và nhận thức cái gì sẳn có trong bản thân chúng ta mà xưa nay chúng ta đánh mất chỉ biết theo trần cảnh tạm bợ bên ngoài. Chính vì vậy Cư Trần Lạc Đạo (ở đời vui đạo) hay an cư lạc nghiệp, đó là đạo nghiệp thế gian mà Đức Vua Trần Nhân Tông phương tiện đưa ra đáp ứng đời sống nhất thời hiện tại không thể không có. Như kinh điển Phật nói có vô số phương tiện tùy cơ ứng biến. Từ đó Đức Vua đưa nhơn sinh tiến lên đời sống cao thượng, đời sống hướng về nội tâm bản giác sẳn có nên Ngài nói :“Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.” Hai câu đầu “Cư Trần Lạc Đạo ... “ là diễn tả tư tưởng đời sống thế gian thế tục, đời sống nhờ phương tiện ngoại cảnh bên ngoài mà nhà vua khuyên nhân dân có nếp sống đạo đức tu tâm dưỡng tánh làm thú vui cho tinh thần lạc đạo trong lúc nước nhà được thái bình. Từ phương tiện hướng ngoại Ngài trở về nội tâm, bản giác nhân loại ít ai hiểu rằng Phật ở trong lòng ta ( Phật tại tâm ) nên dong rủi theo cuộc đời giả tạo mờ ảo bên ngoài làm lu mờ bản tính giác ngộ Phật tánh sẳn có trong nội tâm chúng ta. Trong nhà sẵn có ngọc ngà của báu đầy đủ không thiếu thứ gì, mà tự mình không biết lại quanh quẩn bốn phương tìm kiếm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “ Thọ ký thứ tám “ có kể câu chuyện rằng : Có chàng thanh niên trong vạt áo có cột sẵn viên ngọc báu vô giá phòng hờ gặp khi cùng cực thiếu thốn lấy ra tiêu xài, song chàng thanh niên không nhớ trong vạt áo mình có viên ngọc báu vô giá, gặp cơn đói khát áo quần rách rưới đi lang thang từ làng này sang tỉnh nọ xin ăn, một ngày nọ gặp lại bạn tri thức nói với chàng thanh niên rằng trong mình chàng có viên ngọc quý hiếm cớ sao không lấy ra bán mà tiêu dùng lại đi lang thang xin ăn khổ cực... chàng thanh niên nhớ lại và tìm trong vạt áo qủa thật có viên ngọc báu, từ đó chàng không còn khổ sở nữa. Ngọc báu trong mình mà không biết đem ra tiêu dùng, cũng như Phật tánh sáng suốt sẳn có trong mỗi chúng sanh mà không biết trau dồi tu sữa để lâu ngày bị bụi trần bám dơ. Nhờ thiện tri thức nhắc mới nhớ lại bản tánh ngọc báu vô giá sẳn có trong ta, khi biết mình sẳn có còn tìm đâu nữa.
III. KẾT LUẬN:
Nhìn chung, sở dĩ thời đại Lý - Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam với những chiến công vang dội chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, với những thành tựu về chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế như vậy là do thời đại ấy đã sản sinh những con người Đại Việt kiệt xuất có một không hai trong lịch sử nước nhà. Bởi lẽ con người là nhân tố, là chủ thể tạo nên lịch sử, thời đại huy hoàng bởi con người hào hùng, thời đại suy tàn bởi con người đánh mất mình trong xa hoa trụy lạc.
Tư tưởng, đạo đức Phật giáo đã được vận dụng, được thực hành ngay trong đời sống thường nhật của mọi người, từ vua quan cho đến thứ dân, điển hình như ở thời Trần qua các vị vua - thiền sư Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông như đã đề cập ở trên. Chính sự thực hành thiền định, thực hành Phật pháp như thế nên nhận chân được sự duyên khởi, vô thường, vô ngã của sự vật, hiện tượng và thân phận con người. Tinh thần đó cũng đã đi vào văn học, để văn học giai đoạn này có những bài thơ với cảm hứng rất khác lạ: thanh thoát, hùng tráng, dịu hiền và trong sáng.
Một điều đặc biệt, nếu Phật giáo đi vào Trung Hoa, Nhật Bản đều được tiếp nhận và phát triển thành những tông phái, khai tông tập thuyết, hình thành những khuynh hướng có sự cực đoan, đôi khi có sự chỉ trích lẫn nhau một cách mãnh liệt. Phật giáo Việt Nam lại không hề thấy điều đó. Trong lịch sử Phật giáo nước ta chưa có hiện tượng chỉ trích giữa các thiền phái, thậm chí cũng rất hiếm có sự đả kích đối với các hệ ý thức khác như Nho giáo hay Đạo giáo, mà có sự dung thông và dung hóa vô cùng uyển chuyển. Chính sự dung hóa, dung thông này đã tạo nên sự kết nối vô phân biệt giữa mọi tầng lớp xã hội, làm cho trên dưới một lòng, tạo thành sức mạnh lớn lao vượt qua những chướng ngại không thể ngờ được. Vì có sức mạnh nào lớn hơn khi nhà lãnh đạo "lấy cái tâm của thiên hạ làm cái tâm của mình", sức mạnh của một người là sức mạnh toàn dân, là sức mạnh của cả một dân tộc!
Hình ảnh của Trần Thái Tông ung dung tự tại giữa trận chiến, không hề nao núng trong hoàn cảnh nguy khốn giữa bốn bề là quân giặc bao vây, vẫn thong dong lấy kiếm khắc thơ lên mạn thuyền như thể đang ở tận rừng thiêng Yên Tử… Chính điều đó mới cho chúng ta một câu trả lời về câu hỏi: tại sao chúng ta có thể tồn tại, đất nước chúng ta có thể phát triển trong bối cảnh nằm cạnh một đất nước Trung Hoa không nguôi ý xâm lăng, có một nền văn hóa tiếp biến, cởi mở nhưng vẫn giữ được bản sắc trước âm mưu hủy diệt văn hóa của phương Bắc?
Phong thái ấy, nhân cách ấy, sự vô ngại ấy được nhà thơ Huy Cận khắc họa nên hình tượng rất đẹp mà nếu không thấy được phần ngầm của một tảng băng trôi thì sẽ khó có thể lý giải nổi:
"Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững.
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa.
Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng,
Rất hiên ngang mà nhân ái chan hòa".
Tư tưởng là cội nguồn của hành động. Tư tưởng Phật giáo được đúc kết từ giáo lý duyên sinh, vô thường, vô ngã cùng với lý tưởng Bồ tát "lấy ý của thiên hạ làm ý của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình" đã làm nên những hành động hiền, đẹp của một thời đại như nhà vua - thiền sư Trần Nhân Tông đã viết trong "Cư trần lạc đạo phú".
Chính tư tưởng đó, hành động hiền, đẹp đó là nguồn cảm hứng chính cho những tác phẩm văn học một nét trầm hùng, thanh thoát và sâu lắng đến tột đỉnh, là phân chất cuộc sống tưới tẩm để có những đóa hoa tinh khôi huyền diệu, một vườn hoa thi ca của thời đại với nhiều "kỳ hoa dị thảo" để cung hiến trở lại một dòng tư tưởng sống hiền đẹp, phụng sự trang nghiêm cõi đạo, cõi đời.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu – Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi- NXBTPHCM-1996.
2. Thích Minh Châu – Trung bộ kinh III – Tu thư Đại học Vạn Hạnh – 1975.
3. Thích Thanh Kiểm dịch – Khoá hư lục – Thành hội Phật giáo TPHCM 1992.
4. Nguyễn Lang –Việt nam Phật giáo sử luận –Tập 1, 2 NXB Văn học Hà Nội – 1994.
5. Nguyễn Công Lý – Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý, Trần – NXB Văn hoá thông tin.
6. Nguyễn Công Lý –Văn học Phật giáo thời Lý,Trần. Diện mạo và đặc điểm – NXB Đại học Quốc gia TPHCM.
7. Nguyễn Văn Mạnh –Lý luận và lịch sử Tôn giáo. Trung tâm đàotạo từ xa. Đại học Huế 2002.
8. Trần Tuấn Mẫn dịch – Đạo Phật ngày nay – Viện nghiên cứu Phật học – 1997.
9. Thích Minh Tuệ –Lược sử Phật giáo Việt nam – Thành hội PGTPHCM –1993.
10. Tạ Văn Thành –Đại cương mỹ học – NXBTPHCM 1999.
11. Lê Mạnh Thát –Tổng tập văn học Phật giáo Việt nam – NXBTPHCM.
12. Thích Mật Thể –Việt nam Phật giáo sử lược – Phật học viện Trung phần.
13. Thích Tâm Thiện – Tư tưởng mỹ học Phật giáo – Thành hội PGTPHCM.
14. Thích Thiện Trí –Lược sử văn học Phật giáo thời Lý, Trần – Tài liệu giảng dạy trường Trung cấp Phật học TPHCM.
1.5. TT Thích Thiện Trí, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Nghĩa, THPG-TP.HCM Ấn hành, 1994.
16. HT Thích Thanh Từ, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, THPG-TP.HCM Ấn hành, 1993.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét