THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015
SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA
I. DẪN NHẬP:
1. Lý Do Chọn Đề Tài:
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
3. Phạm Vi Đề Tài:
4. Phương pháp nghiêm cứu:
5. Đóng góp của đề tài:
II. NỘI DUNG:
1. Phật giáo Nguyên thủy:
1.1. bản sắc của Phật giáo Nguyên thủy:
2. Đại thừa Phật giáo:
2.1. Đặc thù của Phật giáo Đại thừa:
3. Căn bản giáo lý chung cho mọi tông phái:
3.1. A la hán trong Nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa:
3.1.1. A la hán trong phật giáo Nguyên thủy:
3.1.2. Bồ tát trong phật giáo Đại thừa:
3.2. niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa:
3.2.1. niết bàn trong kinh điểm nguyên thủy:
3.2.2. niết bàn trong kinh điểm đại thừa:
3.3. Bản so sánh nguyên thủy và đại thừa :
3.4. Pháp tu căn bản của nguyên thủy và đại thừa:
3.5. Vấn đề nguyên thủy và đại thừa:
3.6. nguyên thủy và đại thừa cùng một cỗ xe: pháp thừa (Dhammayana)
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
SO SÁNH TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA
I. DẪN NHẬP:
Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển.
1. Lý Do Chọn Đề Tài:
Là một học viên đã biết suy nghĩ và tiếp thu ý kiến của Giáo sư, người viết thấy có nhiều vấn đề mà mình chưa hiểu và chưa được biết tường tận, nên người viết mạo muội mang khả năng và suy nghĩ khiêm tốn của mình đã học được để tìm hiểu về sự khác biệt và tương đồng của phật giáo nguyên thủy và phật giáo địa thừa.
Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp của mình không sao tránh khỏi những sai sót, người viết kính mong được Giáo sư và các bậc cao minh chỉ dạy thêm để sau này có dịp người viết sẽ thực hiện tốt hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển.
3. Phạm Vi Đề Tài:
Sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì?Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.
Đức Phật đản sanh vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên.Ngài thành đạo năm 35 tuổi, 45 năm thuyết pháp độ đời và ngài nhập Níp-bàn năm 80 tuổi. Chắc chắn ngài là một con người có nhiều năng lực nhất, ngày đêm thuyết pháp dạy đạo cho chúng sanh, và Ngài chỉ ngủ có hai giờ đồng hồ trong một ngày.
Đức Phật thuyết pháp giảng đạo cho mọi tầng lớp: vua chúa, hoàng tử, bà-la-môn, thương gia, những người cùng đinh, trí thức, và thường dân lao động. Giáo pháp của Ngài đáp ứng mọi nhu cầu tâm linh của từng người.Những gì Ngài thuyết giảng được gọi là Phật ngôn. Thời điểm đó không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana).
Sau khi Ngài thành lập giáo hội Tỳ Kheo tăng và Tỳ Kheo ni, Đức Phật đưa ra những nguyên tắc giáo điều giới luật để bảo vệ giáo đoàn được gọi là Luật (Vinaya). Những lời giảng dạy của Ngài bao gồm trong những bài thuyết pháp cho chư Tăng Ni và Thiện nam Tín nữ được gọi là Pháp (Dhamma).
4. Phương pháp nghiêm cứu:
Dùng để viết luận văn này là phương pháp luận khoa học lịch sử, những quan điểm của phật giáo nguyên thủy và đại thừa.Người viết sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã và khai thác những tư liệu của các sách nghiên cứu.
Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TT. GS. TS Thích Viên Trí, Giáo viên thỉnh giảng bộ môn phật giáo nguyên thủy và đại thừa tại Học viện mà người viết đã được học. Khi cần thiết, người viết sẽ thỉnh giáo quý Thượng Tọa tại Học Viện.
5. Đóng góp của đề tài:
Những quan điểm tiến bộ thì hình thành nên một bộ phái riêng cho mình.Còn những người luôn nắm giữ một cách niêm mật đôi khi khắt khe thì hình thành nên một bộ phái riêng. Cứ như thế trong thời kỳ phân phái ta thấy có khoảng hai mươi bộ phái đã hình thành. Đại thừa Phật giáo hình thành cũng trong điều kiện như thế. Nhưng có một điểm khác biệt đó là Đại thừa Phật giáo là sự phục hưng và kế thừa giáo lý của Nguyên Thủy Phật giáo một cách tinh túy nhất. Giữa Nguyên thủy và Đại thừa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau.Tuy vậy có một thời gian dài những nhà nghiên cứu dường như không chấp nhận về quan điểm này.Nhưng bằng sự nỗ lực với sự nghiên cứu của những nhà Phật học và học giả có tâm huyết, đã chứng minh được sự liên hệ mật thiết đó.Trong bài tiểu luận ngắn này sẽ rất khó diễn tả hết những quan điểm của nhận thức.Nhưng người viết mong muốn rằng có một cái nhìn tương đối khách quan hơn trong vấn đề hình thành với phát triển của Phật giáo.Và cũng mong muốn tím ra một phần nhỏ nào đó giữa sự liên hệ mật thiết của hai trường phái Phật giáo.Nó là một sợ chỉ xuyên suốt của lịch sự phát triển tư tưởng Phật giáo.
II. NỘI DUNG:
1. Phật giáo Nguyên thủy:
Sự hình thành nên Phật giáo Nguyên thủy chưa có một sử liệu nghiên cứu cụ thể nào chứng minh cho việc này. Căn cứ sử liệu thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất để chứng minh cho niên đại của Phật giáo Nguyên thủy tồn tại. Theo Cullavagga thì lý do chính dẫn đến việc kết tập kinh điển lần thứ nhất là do sự vui mừng của tỳ kheo Subhadda khi được tin đức Đạo Sư nhập Niết Bàn. Giữa sự tổn thương to lớn khi bậc Đạo Sư mới nhập diệt mà có sự vui mừng như Tỳ Kheo Subhadda thì thật sự là một việc đáng lo ngại. Tôn giả Ca Diếp nhận thấy bắt đầu có sự suy thối đạo đức đáng báo động trong giáo đoàn, nên Ngài triệu tập đại hội để trùng tuyên lại những lời chỉ dạy của đức Phật. Trong khi đó một một số sử liệu khác như: Nhất Thiết Hữu Bộ hay Đảo Sử thì lại không xem trọng sự kiện trên. Tập Divapamsa cho rằng mục đích của kỳ đại hội lần thứ nhất này nhằm ổn định niềm tin của chúng đệ tử sau khi Phật nhập diệt.
Có một sự kiện mà ta cần quan tâm đó là dù có những bất đồng ý kiến về những sử liệu trong thời kỳ kết tập kinh điển này. Nhưng không có một sử liệu nào đề cập đến sự phân chia bộ phái trong thời kỳ này. Đều đó đồng nghĩa với việc thời kỳ này chỉ có một Phật giáo duy nhất tồn tại là Phật giáo Nguyên thủy. Thông qua những dữ kiện vừa nêu ta có thể ước định Phật giáo Nguyên thủy bắt đầu từ giai đoạn đức Phật thành đạo cho đến kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất tại Vương Xá thành.
Tuy nhiên, có một sự ngộ nhận đáng tiếc là chúng ta đánh đồng Phật giáo Nguyên thủy là Tiểu Thừa Phật giáo và xem Thượng Tọa Bộ là Nguyên Thủy Phật giáo. Bằng những kiến thức thu thập qua nhiều thế hệ, bằng những biên tập sử liệu không có độ chính xác cao trong một thời gian rất dài ta đã gán ép danh từ Tiểu Thừa cho Phật giáo Nguyên thủy. Thời kỳ đầu của Phật giáo không có danh từ Tiểu Thừa hay Thượng Tọa bộ. Danh từ này được xuất hiện trong khoảng thời gian thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ hai, khoảng từ 100 đến 137 sau Phật nhập diệt. Vì lúc đó Phật giáo bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt và phân thành hai phái căn bản: Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Nhưng Thượng Tọa Bộ không phải là Nguyên Thủy Phật giáo mà Thượng Tọa bộ thuộc thời kỳ Phật giáo bộ phái. Cũng như thế Tiểu Thừa Phật giáo là chỉ cho thời kỳ Phật giáo bộ phái. Nói một cách khác sự hình thành nên Thượng Tọa bộ hay Tiểu Thừa Phật giáo xuất hiện trong thời kỳ Phật giáo phân phái. Như ngài Rahula nhận định: “danh từ Theravada – Hinayàna hay “ tiểu thừa” không còn được dùng trong lãnh vực nghiên cứu”. Hiện nay các nhà học giả đều đồng ý với sự nhận định của ngài Rahula. Vì lẽ giáo pháp của đức Phật thì không có phân chia Nguyên Thủy, và Tiểu Thừa hay Đại thừa.
1.1. bản sắc của Phật giáo Nguyên thủy:
Trong Phật giáo Nguyên thủy ta thấy đức Phật luôn quan tâm đến đời sống của chúng sinh và thế giới xung quanh.Những gì ngài giảng dạy cũng lấy những điều thiết thực mà trình bài. Trong kinh tạng đề cập đế đặc điểm này như sau: “Chánh pháp được thế tôn khéo thuyết giảng, một chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí tự mình giác hiểu”.
- Nguyên thủy Phật giáo lấy nội tâm làm chủ. Bộ phái Phật giáo cũng lấy nội tâm làm chủ nhưng đối với ngoại giới cũng đặc biệt chú ý.
- Nguyên thủy Phật giáo trên mặt tổng thể thì vẫn thuyết minh phân tích, nhưng về nội tâm thì thì lấy duyên khởi làm nền tảng. Bộ phái Phật giáo thì phân tích những yếu tố của vạn hữu và rất xem trọng việc phân tích này.
- Nguyên thủy Phật giáo tuy có quy tắc thực hành là lấy tinh thần làm chủ, không lấy hình thức ngoại tại làm chủ.
- Nguyên thủy Phật giáo cũng chú trọng đến tầng lớp tại gia. Bộ phái Phật giáo chú trọng đến người xuất gia mà xao lãng đạo tại gia.Cho nên đối với những xu hướng của thời đại không quan tâm đến.
- Nguyên thủy Phật giáo người ta được xem trọng như đức Phật là lấy giải thoát làm mục đích. Bộ phái Phật giáo vì tôn sùng nhân cách của đức Phật nên xem đức Phật là bậc cao siêu hơn tất cả mọi người. Người thường không thể sánh được, tất cả người tu hành đều là đệ tử Phật mà thôi.
2. Đại thừa Phật giáo:
Từ những dữ liệu của thời kỳ kết tập kinh điển chúng ta chì thấy xuất hiện hai bộ phái căn bản là Thượng tọa và Đại Chúng bộ, chưa có tài liệu đề cập đến sự hình thành của Đại thừa Phật giáo. Và khi ta nhận định Đại thừa Phật giáo là tiền thân của Đại Chúng bộ thì có gì đó không phù hợp. Có một sự kiện ta cần phải nhận định là Đại Chúng Bộ thuộc thời kỳ Phật giáo bộ phái.Đại chúng bộ chỉ có những tư tưởng liên hệ với Đại thừa, chứ không phải là tiền thân của Đại thừa như những sử liệu đề cập khi nghiên cứu về nó.Học giả người Nhật Kimura Taiken cho rằng Đại chúng bộ có “tư tưởng quan hệ mật thiết với Đại thừa”.Có thể giai đoạn hình thành nên Đại thừa có thể trải qua một giai đoạn rất dài.Điều đó chứng minh rằng từ giai đoạn của Phật giáo bộ phái, đặc biệt là Đại chúng bộ giữa giai đoạn trung gian đó chúng ta không thấy sử liệu nào đề cập đến Đại chúng bộ phát triển thành Đại thừa.
Theo quan điểm của người viết thì Đại thừa Phật giáo được bắt nguồn từ Phật giáo Nguyên thủy thì sẽ hợp lý hơn, khi ta nhận định nó phục hưng lại những giá trị của Nguyên thủy Phật giáo. Chúng ta biết rằng trong hệ thống kinh Điển Đại thừa có sự liên hệ mật thiết từ tư tưởng của giáo lý Nguyên thủy. Một lý do khác mà người viết cho rằng Đại thừa được bắt nguồn từ nguyên thủy là thời kỳ Phật giáo bộ phái do những tranh luận về những quan điểm của mình mà dần lãng quên đi những giá trị thiết thực của Phật giáo Nguyên thủy. Họ không chú trọng đến thế giới xung quanh mà chỉ chú trọng vào việc giải thoát cho tự thân. Sự tranh đấu trong nội bộ Phật giáo đã làm cho Giáo hội càng ngày suy yếu, đứng trước những biến cố như vậy, cần một trường phái Phật giáo mới có đủ khả năng thích ứng với thời đại và hòa giải những bất đồng của thời kỳ bộ phái. Mong muốn khôi phục lại những giá trị nguyên chất của Phật giáo Nguyên thủy. Cho nên Đại thừa Phật giáo xuất hiện, một mặt khôi phục lại Phật giáo truyền thống, mặt khác để xua tan đi làn sống tranh luận được trải dài hàng trăm năm của các bộ phái Phật giáo. Và chấn chỉnh lại nội bộ Phật giáo khi có những tư tưởng của ngoại đạo xâm nhập vào Phật giáo, muốn làm cho giáo Pháp của đức Phật bị mai một và biến mất.
2.1. Đặc thù của Phật giáo Đại thừa:
Như đã trình bày ở những phần trước ta có thể có một sự nhận định khác về Phật giáo Đại thừa. Do vì thiếu tài liệu nghiên cứu một cách có hệ thống từ quá trình hình thành và phát triển, một phần vì quan điểm phân biệt giữa các bộ phái mà ta bị ảnh hưởng trong chiều hướng đánh giá và nhận định vấn đề có phần chủ quan. Đại thừa Phật giáo không phải hình thành để phản đối lại Nguyên thủy Phật giáo, mà Đại thừa Phật giáo xuất hiện do xu hướng thời đại, cần khôi phục lại những giá trị chân thật của lời Phật dạy mà trong thời kỳ bộ phái đã lãng quên theo sự tranh biện của mình.
- Đại thừa Phật giáo lấy việc hóa độ để hướng đến quả vị giải thoát cho mình.Đại thừa Phật giáo cho rằng tất cả mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ.ngược lại bộ phái Phật giáo chỉ chú trọng đến giải thoát cho tự thân mà không chú trọng đến tha nhân. Đại thừa Phật giáo thừa nhận tất cả chư Phật đồng tồn tại. trong khi đó bộ phái Phật giáo chỉ thừ nhận chỉ có một vị Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni.
- Đại thừa Phật giáo có sự khác biệt với bộ phái Phật giáo là Đại thừa muốn trở về lập trường của Nguyên thủy Phật giáo, nên chủ trương tất cả đều do tâm, nhưng tâm của Đại thừa thâm thúy hơn Nguyên thủy Phật giáo. Đại thừa Phật giáo đứng trên phương diện bản thể để quy định trạng hoạt động của tâm một cách tinh tế, là trung tâm của triết học Đại thừa mà thành lập thế giới quan chân không diệu hữu.
- Đại thừa vì muốn thích nghi với thời đại mà có. Phật giáo Nguyên thủy thời đức Phật rất quan tâm đến thời đại, nhưng đến thời kỳ bộ phái nó lại trở thành thô cứng do không chú trọng đến. Hiểu theo một phương diện nào đó thì Phật giáo Đại thừa không chấp nhận với quan điểm của bộ phái Phật giáo, nên khởi xướng lên một phương trào thích nghi với thời đại.Từ những đặc thù cơ bản của Đại thừa Phật giáo đã được trích dẫn chúng ta thấy Đại thừa Phật giáo gần hơn với bản ý của đức Phật.
3. Căn bản giáo lý chung cho mọi tông phái:
1. Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị giáo chủ lịch sử của đạo Phật.
2. Ba giáo lý căn bản và phổ cập của mọi trường phái hay tông phái: Bốn Thánh Đế, 12 Nhân Duyên, Tám Thánh Đạo.
3. ba môn phố cập: giới định huệ:
4. Giáo lý Đạo Phật được liệt kê qua ba tạng Kinh, Luật, Luận.
5. Điều phục tâm niệm là vấn đề căn bản:
3.1. A la hán trong Nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa:
3.1.1. A la hán trong phật giáo Nguyên thủy:
Lý tưởng A la hán trong Phật giáo Nguyên thủy là quả vị cao nhất mà người hành giả muốn đạt đến. Chúng ta thấy trong kinh tạng Đức Phật nói về n A la hán như sau: “Chư vị A La Hán chứng nghiệm hạnh phúc niết bàn bằng cách chứng đắc đạo quả A La Hán trong kiếp sông hiện tiền. Đã chế ngự được lục căn như tuấn mã được huấn luyện thuần thục, đã tiêu trừ ngã mạn và không còn ô nhiễm. người vữngchắc như thế, chí đến chư thiên cũng quý mộ”.
Quá trình tu tập từ một chúng sinh bình thường cho đến dự vào dòng thánh quả để đạt đến quả vị A La Hán là một quá trình thể nghiệm và thực hành giáo pháp, phải trải qua những giai đoạn loại trừ phiễn não vi tế mới có thể chứng đắc. Quả vị Arahant theo Phật giáo Nguyên thủy là đồng nghĩa với việc chứng đạt trạng thái niết bàn.
Có một điểm thiết nghĩ ta cần phải lưu tâm khi có nhận định về quả vị . Nhận định đó được những nhà Đại thừa Phật giáo dành cho những nhà bộ phái Phật giáo khi cácA La Hán. nhà bộ phái Phật giáo không còn chú trọng đến sự giải thoát cho tha nhân mà chỉ chú trọng đến sự giải thoát cho tự thân, từ đó tạo tiền đề cho sự suy yếu của lý tưởng của Phật giáo. Cũng chính vì không minh định được đâu là lý tưởng giải thoát của Nguyên thủy và đâu là lý tưởng giải thoát của bộ phái nên ta đã vội kết luận cho người chứng đạt A La Hán là nguyên thủy.trong Phật giáo Nguyên thủy ta thấy chư vị thánh đệ tử Arahant ngoài việc độ cho mình mà còn đem thông điệp giải thoát cho tất cả mọi người. Ta chỉ tìm thấy sự khác biệt duy nhất được đế cập trong kinh tạng về và A La Hán đức Phật, đức Phật là bậc A La Hán chánh đẳng giác, ngài là người tìm ra con đường để đi đến giác ngộ. Còn chư vị A La Hán là người đang đi trên con đường mà đức Phật đã tìm ra.
3.1.2. Bồ tát trong phật giáo Đại thừa:
Lý tưởng Bồ tát không chỉ được xuất phát từ Phật giáo Đại thừa mà nguồn gốc của nó được tìm thấy trong tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy.Vậy giữa Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa phải có sự liên hệ với nhau thì mới có những tư tưởng được xem như là đồng nhất như vậy. Thời kỳ bộ phái Phật giáo học thuyết về Bồ tát cũng được đề cập nhưng Bồ tát trong bộ phái Phật giáo khác đối với Bồ tát trong nguyên thủy và Bồ tát trong Đại thừa.
Trong khi đó Đại thừa Phật giáo bằng sự kế thừa tinh hoa của tư tưởng Bồ tát trong Phật giáo Nguyên thủy đã hình thành nên một Bồ tát theo nhu cầu của thời đại. Lý tưởng Bồ tát của Đại thừa mang tinh thần nhập thế tích cực đi vào thế giaṇ.Lấy nhu cầu hóa độ chúng sinh làm mục tiêu hướng đến giác ngộ.Đặc điểm này này được tìm thấy trong kinh tạng của Nguyên thủy đề cập.
Bồ tát trong Đại thừa Phật giáo không còn giới hạn trong thành phần xuất gia như Phật giáo bộ phái. Nó bao hàm tất cả những chúng sinh đang muốn thể nghiệm con đường giác ngộ của đức Phật đã đi. Những hành giả đang đi trên con đường này đó đều được gọi là Bồ tát. Không phân biệt giữa xuất gia hay tại gia. Trong Đại thừa Phật giáo Bồ tát phải thực hành hai mục tiêu là thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh.Hai điều kiện này không thể tách rời nó. Nếu một trong hai điều kiện này không có mặt thì lý tưởng Bồ tát sẽ không thể đạt đến . Vì lẽ hai yếu tố này là biểu trưng cho lý tưởng và sự thực hành để chứng nghiệm. Nó là một thực thể không thể phân ly trong suốt hình trình tìm cầu giác ngộ giải thoát.
Từ những tư tưởng của Đại thừa chúng ta thấy các nhà Đại thừa không xem các vị thánh đệ tử như là một thanh văn, mà do vì hạnh nguyện độ sinh nên phải biến hiện những tướng như vậy để thuận lợi cho việc hóa độ chúng sinh. Các nhà Đại thừa muốn khôi phục lại giá trị của chư vị thánh đệ tử của Phật giáo Nguyên thủy. Bằng việc đưa dữ kiện các ngài đều có khả năng thành Phật. Từ đó thể thấy sự kế thừa và khôi phục lại giá trị của Phật giáo Nguyên thủy trong Đại thừa là hay và tinh diệu như thế nào. Sự liên hệ giữa A la hán và Bồ Tát có nhịp nối mật thiết với nhau, nó là sự tiếp diễn của quá trình phục hồi bằng ngôn ngữ của biểu tượng.Thông qua biểu tượng đó mà ta có thể hiểu và thể nghiệm nó bằng những chất liệu tươi ngon nhất của hương vị giải thoát bắt nguồn từ cây Nguyên thủy và cho hoa trái của Đại thừa.
3.2. Niết bàn trong phật giáo nguyên thủy và đại thừa:
3.2.1. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy :
Đức Phật chủ trương một Niết Bàn không ở ngoài ba cõi, như kinh Rohitassa đã dạy: “Tại chỗ nào, bạch Thế tôn, không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (bất diệt), không có sinh khởi (bất sinh), chúng con có thể đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?”. Đức Phật trả lời : “Này hiền giả, ta tuyên bố rằng : tại chỗ nào không bị sinh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác, thời không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, ta tuyên bố về thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt”.
Trong giáo pháp của Ngài, Đức Phật đã phương tiện dùng hai hình thức Nhân quả và Duyên khởi, để một mặt đối trị về nhân quả tội phúc, và mặt khác giải phóng những phương tiện đó qua duyên khởi để hoàn thành Trung đạo giả danh trở về Không tính. Đó là con đường giải thoát thật sự như chính trong kinh Xà Dụ, hệ Pali đã dạy : “Chính pháp còn buông bỏ huống chi là phi pháp”. Nhưng đối với họ, điều này không quan trọng nên đã bị họ bỏ qua.Trong khi đó, họ không biết rằng chính họ đã phản bội lại Đức Phật qua lập trường chấp thủ tà kiến thuộc nhân quả nhị nguyên.Họ quên đi pháp Trung đạo duyên khởi, mà trong suốt cuộc đời, Đức Phật đã nỗ lực xiển dương chúng. Đức Phật chưa bao giờ chủ trương lấy Hữu -Vô làm lập trường chính để đưa chúng sinh đến giải thoát cả, mà ngài chủ trương: “Mọi vật đều không” ( Sarvam sùnyam) nhằm phủ định có và không của các pháp và xiển dương tự tính Không, cũng là mở bày cho một hướng đi vượt thoát, đó là Trung đạo qua tướng giả danh. Chính vì Không này mà các nhà Tiểu thừa sau này, đã quan niệm sai lầm về nó, để đẻ ra một cái tự tính thực hữu nào đó của các pháp, mà phản lại chính quan điểm của Đức Phật.
Có hai loại Niết Bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết Bàn và Vô dư Niết Bàn. Hữu dư Niết Bàn là chỉ người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết Bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai loại Niết Bàn này của Phật giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là hữu thân giải thoát và vô thân giải thoát.
Vì Niết Bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hủy diệt.Nếu hủy diệt, chỉ là sự hủy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã.Niết Bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo.Niết nàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác.Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới “Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi”.Trạng thái tâm vắng lặng mà rỏ biết là đương thể của Niết Bàn.Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được?Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết Bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết Bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại với Đức Phật rồi.
3.2.2. Niết Bàn trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa:
Kinh Đại Niết Bàn viết : “Kẻ nào bị ái dục thiêu đốt, bị ái dục áp đảo, bị mù lòa vì nó, kẻ ấy có những ý định tai hại cho chính mình, cho người khác, cho cả mình lẫn người và kinh nghiệm những khổ đau nội tâm, phiền não”. Muốn xóa bỏ ái dục thì thực tại phải được nhận thức như nó là.Khi thực tại được nhận thức như nó là thì vô minh và ái dục bị tiêu diệt và giác ngộ phát khởi.Giác ngộ là giác ngộ thực tại của thế giới hiện thực. Kinh Đại Niết Bàn viết :
“Kẻ nào nhìn được chân tướng của sự vật với tuệ giác, kẻ ấy không còn ham muốn sự hữu, bằng sự tận diệt mọi ham đắm mà có sự bất tham, sự đình chỉ ở mọi khía cạnh Niết Bàn”.
Như vậy Niết Bàn là tận diệt vô minh hay tri kiến sai lầm về thực tại, tận diệt ái dục hay mọi tham đắm do vô minh đưa lại. Niết Bàn là chấm dứt tham, sân, si, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi do vô minh và ái dục dẫn dắt. Niết Bàn là tuệ giác về thực tại, là sự giác ngộ viên mãn, là nhận chân đúng thế giới như nó là, là chấm dứt dòng lưu chuyển gây đau khổ và sự bám víu vào tri kiến sai lầm. Kinh Tạp A Hàm viết : “Niết Bàn là gì, hỡi đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si.Đó, này đạo hữu, gọi là Niết Bàn”. Niết Bàn như được miêu tả trên đây là một đạo quả, chứ không phải là không gian vật lý, hay dạng tồn tại bản thể nào. Nó là trạng thái tinh thần mà bằng trí tuệ rốt ráo con người đạt được, là sự thành tựu tối thượng của sự chuyển hóa của nhận thức. Muốn đạt đến Niết Bàn trước hết và trên hết phải lắng đọng mọi hoạt động của thân, khẩu, ý. Phải dứt bỏ mọi sự quyến luyến dính mắc vào các dạng cảm thọ, các khoái cảm giác quan do vô minh đưa lại. Phải tiến hành thiền định. Thiền định là con đường đưa con người vào Niết Bàn giải thoát. Trong trạng thái thiền định con người thấy rõ chân bản của thế giới. Thế giới muôn sai ngàn khác, với các sự vật hiện tượng khác nhau ở hình tướng, nhưng đồng nhất với nhau ở mặt bản thể.Tất cả đều vô thường, vô ngã.Nhận chân được bản thể của vũ trụ như vậy, con người phát khởi đại trí, đại bi. Con người phút chốc bừng nở tình thương vô hạn đối với muôn loài muôn vật. Tất cả đều là một, chỉ vì tri kiến sai lầm nên con người mới tham sân, si, mới hành động tạo nghiệp để thỏa mãn và nâng cao cái ngã vốn vô ngã. Với tuệ giác do thiền định đưa lại, ranh giới ta và người , ta và tha nhân, ta và chúng sinh, người và vật biến mất, tình thương vô hạn, tình yêu vô biên vối biên giới và nhân giới bừng nở, dâng tràn. Tuệ giác đưa con người vào mát lành, hạnh phúc, an lạc.
Ngoài cái nghĩa rộng hẹp trên, Niết Bàn của Ðại Thừa đại khái có hai loại:
Vô trụ xứ Niết Bàn: Ðây là Niết Bàn của các vị Bồ Tát. Các A La Hán, do tu nhân giải thoát mà chứng được quả giải thoát; nhưng chưa biết nguồn gốc của nhân quả, cò chấp có thực pháp phải tu, quả vị phải chứng, nên chưa được hoàn toàn tự tại. Các vị Bồ Tát thì trái lại, đã hiểu rõ “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, pháp tính bình đẳng như như; không thấy một pháp gì cố định, một vật gì chắc thật, biệt lập chỉ thấy chúng là những hình ảnh giả dói, do đối đãi với thức tâm, tạo thành bởi thức tâm. Các vị Bồ Tát không có tâm địa đảo điên sai lầm, không gán cho sự vật một giá trị nhất định, như tốt, xấu, khổ, vui, nên không sinh ra những thái độ oán, thân, bỉ, thử, ưa, ghét. Hễ có tri kiến sai lầm đó, là bị chướng ngại khổ đau. Các vị ấy tu hành chứng theo sự tính bình đẳng, đem tâm hòa đồng cùng sự vật mà làm việc lợi tha. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chính quán.Quán các phép như huyễn hư hóa, không có thật sinh tử, không có thật Niết Bàn, không bao giừo trụ trước (vô trụ). Do đó, Bồ Tát thường ra vào sinh tử lấy pháp lục độ để độ sinh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại.
Tính tịnh Niết Bàn : Ðây là một thứ Niết Bàn tự tính thường vắng lặng mà thường sáng suốt, thường sáng suốt mà thường vắng lặng ra ngoài tâm lượng hẹp hòi của phàm phu và trí thức hữu hạn của Nhị thừa, ngoại đạo. Nó thường bộc lộ sáng suốt nơi chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi mọi loài chúng sinh. Trong kinh có khi gọi đó là Phật tính, là Chân tâm, là Như Lai tạng v.v...
Nếu chúng sinh tự tin mình có tính Niết Bàn thanh tịnh, và khởi tâm tu hành theo tự tính ấy, tức có thể thành Phật không sai. Mang tự tính Niết Bàn mà để cho phiền não cấu trần che lấp, thì làm chúng sinh trầm luân trong bể khổ. Trái lại, ngộ tự tính Niết Bàn mà hết vọng tưởng mê lầm là thành Phật, và có đầy đủ bốn đức : Thường - Lạc -Ngã - Tịnh. “Thường” nghĩa là không bị chi phối bởi tính vô thườg, khi nào cũng như khi nào, không lên bổng xuống trầm không có già trẻ, chết sống, đổi thay. “Lạc” nghĩa là không còn khổ não, lo buồn.“Ngã” là được hoàn toàn tự chủ, không bị nội tâm hay ngoại cảnh chi phối. “Tịnh” là không còn ô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta đừng lầm tưởng tính “Chân thường” này với điều thường hằng của thế gian; tính “Chân lạc” với sự vui thích tương đối là sự vui thích còn che đậy mầm mống đau khổ bên trong; tính “Chân ngã” với sự tự chủ trong nhất thời, tự chủ ngày nay bị động ngày mai; tính “Chân tịnh” với sự trong sạch tương đối ở thế gian, sự trong sạch vật chất, sự tướng bên ngoài, chứ bên trong vẫn còn nhiễm ô. Vì tính cách quí trọng, cao cả tuyệt đối của bốn đức; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh nên Tính tịnh Niết Bàn là thứ Niết Bàn cao quí tột đỉnh của đạo Phật, và người Phật tử Ðại Thừa trong khi tu hành, đều phát nguyện rộng lớn quyết tâm chứng được thứ Niết Bàn ấy mới thôi.
3.2. bản so sanh nguyên thủy và đại thừa:
Đề Mục Nam Tông Bắc Tông
1 Đức Phật Chỉ có đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng chấp nhận có chư Phật trong quá khứ Bên cạnh đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn có đức Phật A Di Đà, Dược Sư, v.v…
2 Bồ Tát Chỉ chấp nhận Bồ Tát Di Lặc Bên cạnh Bồ Tát Di Lặc, còn có các vị Đại Bồ Tát như Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, v.v…
3 Đạo quả cứu cánh A La Hán hay Phật Độc Giác Hành các hạnh Bồ Tát để tiến đến quả vị Phật
4 Cách tổ chức Ba Tạng kinh điển Hệ kinh điển Pali: Tạng kinh có 5 loại, tạng Luật có 5 quyển, tạng Luận có 7 quyển. Bên cạnh Tạng Luật, và Luận, kinh điển Sanskrit thường được phân chia làm 12 phần giáo: Khế kinh, Trùng Tụng, Phúng Tụng, Nhân Duyên, Bổn Sinh, Vị Tằng Hữu, Thí Dụ, Luận Nghị, Tự Thuyết, Phương Quảng, Thọ Ký, Bổn Sự. Tạng Kinh bao gồm tất cả kinh điển Nam Tông. Ngược lại, kinh điển Nam Tông không có các bộ kinh điển Bắc Tông sau này.
5 Khái Niệm về Tâm Bồ Đề Điểm chủ yếu là tự giải thoát. Hoàn toàn tự lực để diệt trừ phiền não. Bên cạnh tự lực tu hành, phải lo cho chúng sanh.
6 Khái niệm Ba Thân Phật Rất giới hạn. Chỉ nhấn mạnh về Pháp Thân và Ứng Thân. Bàn rất rõ về ba thân: Ứng Thân, Báo Thân, Pháp Thân.
7 Con đường phát triển và truyền pháp Nam truyền: Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Lào, Cam Bốt, và miền Nam Việt Nam. Bắc truyền: Việt Nam, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bổn, Đại Hàn, Mông Cổ.
8 Ngôn ngữ truyền pháp Chủ yếu là tiếng Pali và phụ bằng những ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ đầu tiên là tiếng Phạn. Sau này được dịch sang ngôn ngữ địa phương như tiếng Việt, Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Đại Hàn.
9 Niết Bàn Không có sự khác biệt giữa cảnh giới Niết Bàn của một đức Phật và chư A La Hán, hay Bích Chi Phật. Có sự khác biệt rõ ràng giữa cảnh giới Niết Bàn của chư Phật và chư Thanh Văn Duyên Giác.
10 Đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni Trên căn bản là những vị A La Hán hay cư sĩ được ghi trong lịch sử. Bên cạnh các vị đại để tử xuất gia và tại gia lịch sử, còn có rất nhiều vị Bồ Tát do đức Phật Thích Ca đề cập đến, nhưng rất nhiều vị không có trong lịch sử.
11 Lễ Lạc Vẫn có nhưng không được chú trọng bằng Bắc Tông.
Do ảnh hưởng văn hóa, phong tục tập quán địa phương, có rất nhiều lễ lạc như lễ cúng cô hồn, lễ cầu siêu, v.v…
12 Dùng Mật Chú hay Ấn Chú Vẫn có, nhưng không được chú trọng nhiều. Chú trọng rất nhiều trong Mật Tông. Trong các nghi thức tụng niệm của các tông phái khác cũng có vài bài thần chú.
13 Phương diện cận tử và chết Rất ít bàn đến. Thông thường chư Tăng chỉ khuyên người sắp mất suy gẫm lý vô thường, khổ, không. Mật Tông giảng rất chi tiết về những phương diện này. Có rất nhiều dấu hiệu bên trong và ngoài trước khi sắp mất. Chú trọng việc hồi hướng công đức cho người quá vãng trong suốt 49 ngày đêm.
14 Thân Trung Ấm Hoàn toàn không bàn đến. Tất cả tông phái của Bắc Tông đều dạy về phương diện cận tử và cứu độ vong linh.
15 Dùng Ngọ Tiêu chuẩn căn bản. Rất được tôn trọng, nhưng tùy theo khả năng và ý thích của mỗi tăng đoàn hay cá nhân.
16 Ăn chay Không cần thiết. Những nơi như Thái Lan, việc khất thực thức ăn chay của chư Tăng rất khó khăn, vì dân chúng đã quen truyền thống “Có gì cúng dường đó”. Rất được chú trọng trong tất cả tông phái, chỉ trừ người Tây Tạng vì ảnh hưởng địa hình. Tuy nhiên, không có sự ép buộc về phương diện này.
17 Hình tượng tôn thờ chủ yếu trong chùa Chỉ đơn giản tôn thờ hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Trang nghiêm với tượng Phật Thích Ca và 2 vị đại đệ tử, hoặc ba vị Phật như Phật Thích Ca, Phật A Di Đá, Phật Dược Sư, hoặc Phật Thích Ca với Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền. Ngoài ra còn có các vị Hộ Pháp.
18 Các Tông Phái Nam Tông chỉ còn lại Thượng Tọa Bộ trong số 18 tông phái xưa. 10 tông phái dựa vào vài phần trong Kinh, Luật, Luận như tông Hoa Nghiêm, Hiền Thủ, Tịnh Độ, Thiền Tông, Luật Tông, Mật Tông, Thiên Thai, Trung Quán, Duy Thức, Tam Luận. Tịnh Độ, Thiền Tông và Mật Tông phổ cập hơn những tông phái nghiêng nhiều về triết lý như Duy Thức, Hoa Nghiêm, Trung Quán, Thiên Thai.
19 Ảnh hưởng ngoại đạo Chủ yếu ảnh hưởng Bà La Môn trước Phật giáo. Nhiều danh từ như Nghiệp, Tăng Già trong thời Phật còn tại thế. Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Phật với các tín ngưỡng địa phương như đạo Lão, đạo Khổng, đạo Bon, v.v..trong quá trình hội nhập.
20 Phật Tánh Hoàn toàn không có. Đặc biệt chú trọng.
3.3. Pháp tu căn bản của nguyên thủy và đại thừa:
Hệ nguyên thủy lấy Tứ đế làm pháp tu căn bản. Trong Tứ đế, phần Ðạo đế tức ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thì Bát chánh đạo là phần căn bản tu hành. Bắc tông có nhiều pháp nhưng lấy Lục độ làm căn bản tu hành Như vậy chúng ta đối chiếu pháp lục độ của Bắc tông và Bát chánh đạo của Nam tông, để thấy tinh thần khác nhau của mỗi bên.
Nói về nguyên thủy, Bát chánh đạo là pháp căn bản, vì vậy người tu phải nắm vững pháp này. Chúng ta hiểu và dịch Bát chánh đạo là tám đoạn đường ngay thẳng đưa chúng ta đến Niết bàn. Tám đoạn đường chớ không phải tám nẻo đường .Vì mỗi một đoạn đường là một chặng, chúng ta đi từ chặng số một đến chặng số hai số ba, cuối cùng đến chặng số tám thì viên mãn sự tu hành, tức viên mãn con đường đi đến Niết bàn.Cho nên chúng ta gọi là tám đoạn đường đưa đến Niết bàn.
Hệ đại thừa thì lấy Lục độ làm căn bản. Lục độ tức sáu điều cứu thoát: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ . Sáu điều này có công năng chuyển dở xấu thành hay tốt nên gọi là Lục độ. Vì vậy dùng Lục độ để độ lục tệ. Lục tệ tức là sáu điều xấu: xan tham, phá giới, sân nhuế, giải đãi, tán loạn, ngu si. Bố thí độ xan tham, trì giớỉ độ phá giới, nhẫn nhục độ sân nhuế, tinh tấn độ giải đãi, thiền định độ tán loạn, trí tuệ độ ngu si. Kiểm lại chúng ta có đủ cả sáu tệ, cho nên phải dùng Lục độ để cứu mình từ xấu tệ trở thành hay tốt.
Chúng ta sẽ đối chiếu Bát chánh đạo của nguyên thủy và Lục độ của đại thừa quí vị thấy.Bát chánh đạo mở đầu là chánh kiến, còn Lục độ mở đầu là bố thí. Hai bên khác nhau thế nào ?nguyên thủy là phải thấy đúng như chánh pháp của Phật, còn đại thừa đầu tiên phải có đủ lòng từ bi. Có từ bi mới bố thí, không có từ bi làm sao bố thí.
Như vậy vớí đại thừa, bước đầu phải có lòng từ bi thương người.Bởi thương ngưởi nên ai khổ mình giúp, ai đói mình cho cơm gạo.Nhưng đói có đói của thân và đói chánh pháp.Người muốn nghe chánh pháp mà không được nghe là đói chánh pháp, hạng này phải bố thí chánh pháp.Ðói cơm thì cho cơm, đói pháp thì cho pháp, nên nói bố thí tài, bố thí pháp.Bố thí pháp thuộc về tinh thần, bố thí tài thuộc về vật chất.Người cần những điều thiết yếu nào chúng ta giúp thứ ấy, đó là tâm bố thí.Tâm bố thí đó phát nguồn từ lòng từ bi. Do thương người nghèo thiếu, ta chịu không nổi nên cứu giúp.
3.4. Vấn đề nguyên thủy và đại thừa:
Trước đây chúng ta thường cho rằng giáo lý Nguyên thủy là không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm. Ngày nay với những phương tiện tiến bộ, mọi mặt trong xã hội đều thay đổi, những quan niệm nguyên thủy và Đại thừa không còn thích hợp. Qua nghiên cứu cho rằng :
1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy cho đến thời kỳ Bộ phái (sau Đức Phật 400 năm) chưa có danh từ Đại thừa hay Tiểu thừa. Danh từ Đại thừa và nguyên thủy xuất hiện đồng thời với kinh điển Đại thừa khoảng thế kỷ thứ I trước hoặc sau TL.
2. Danh từ Tiểu thừa không nên hiểu là Thượng tọa bộ, mà là chỉ cho giai đoạn bộ phái, sự tranh chấp về đường lối hành đạo mà lúc bấy giờ các Bộ phái quá chú trọng về lý luận và hình thức.
3. Ngày nay không có hệ nguyên thủy nào có mặt trên thế giới. Năm 1950, Hội Phật Tử Thân Hữu Thế Giới (World Fellowship Buddhists) họp tại Colombo (Tích Lan) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ nguyên thủy khi nói đến Nam tông Phật giáo.
4. Giáo lý được phân làm hai truyền thống : Truyền thống Nguyên thủy và truyền thống Phát triển. Về mặt địa lý, truyền thừa thì gọi là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông. Sử dụng từ ngữ Nguyên thủy và Phát triển nói lên tính xuyên suốt của cây đại thọ, giáo lý đạo Phật, mà phần gốc, rễ là Nguyên thủy; phần thân ngọn cành lá là Phát triển. Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn. Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên thủy và Phát triển – cả hai bổ sung cho nhau. Những tư tưởng Phật giáo Phát triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên thủy, nếu không thì giáo lý Phát triển sẽ mất đi giá trị của nó.
5. Mặc dù truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những khác biệt, tuy nhiên, những khác biệt ấy không cơ bản. Trái lại, những điểm tương đồng lại rất cơ bản như sau :
a/. Cả hai đều nhìn nhận Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư.
b/. Cả hai đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi; đều chấp nhận pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; đều chấp nhập con đường tu tập : Giới, định, tuệ.
c/. Cả hai đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới.
Tóm lại, Kinh tạng Nguyên thủy là kinh tạng ghi chép lại những lời Phật và Thánh chúng một cách đầy đủ nhất. Kinh tạng này mang tính thiết thực gần gũi với tâm lý con người và sự sinh hoạt của xã hội. Đây là cơ sở giáo lý mà chúng ta lấy làm nền tảng cho mọi nghiên cứu, thực tập và nhất là hiểu một cách đúng đắn tư tưởng đạo Phật phát triển.
3.5. nguyên thủy và đại thừa cùng một cỗ xe: pháp thừa (Dhammayana)
Khi đọc kinh điển, chúng ta cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử xã hội khi các kinh này được tạo ra.Các kinh Đại thừa được trước tác và xuất hiện vào cuối thời kỳ bộ phái, nghĩa là khoảng 400-500 năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Đây là các tư tưởng cải cách để đại chúng hóa đạo Phật, đối kháng lại đường lối thủ cựu, giáo điều, chấp kiến và vị kỷ của một số tu sĩ trong giới lãnh đạo tăng đoàn của nhiều tông phái thời bấy giờ, chứ không phải để ám chỉ riêng biệt một tông phái nào cả.
Khuynh hướng ngày nay là dùng chữ Mahāyana và Theravāda nguyên ngữ để chỉ hai tông phái này. Khi dịch sang Việt ngữ, thường thì chúng ta dùng danh từ Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thủy, nhưng cũng có khi thấy dùng từ Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông) và Phật giáo Nam truyền (Nam tông) để chỉ hướng truyền đạo của Phật Pháp trong thời kỳ chuyển hóa, từ Ấn Độ đến các nơi khác. Gần đây, chúng ta thấy có khuynh hướng dùng danh xưng Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển cho hai tông phái chính ở Việt Nam.
Dù là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp phương tiện giúp ta tu tâm tịnh ý để được an lạc và giải thoát.Chúng ta cần phải hiểu rõ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch sử trong tiến trình phát triển các bộ kinh điển và tông phái, để có được một sự thông cảm, hòa đồng và tương kính.
Trong kinh Pháp hoa, Đức Phật có nói: "Chư Phật chỉ dùng một cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (nhất thừa Phật đạo), không có hai mà cũng chẳng có ba". Trong Tiểu bộ và Tăng chi bộ của kinh tạng nguyên thủy, Ngài cũng dạy rằng:
"Như tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát."
III. KẾT LUẬN:
Chúng ta thấy rằng Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa có sự liên hệ chặt chẽ với nhau trong từng giai đoạn của sự phát triển.Phật giáo Nguyên thủy đã bị vu oan trong những giai đoạn dài của lịch sử.Bên cạch đó Phật giáo Đại thừa lại bị thâm trầm trong dòng chảy của những định kiến về tông phái. Bởi những quan kiến cố hữu và không bao giờ mở rộng cõi lòng để đón những giọt sương lonh lanh thấp thoáng trong ánh ban mai của đạo giải thoát. Quan kiến đó đã đưa Phật giáo đi rất xa những điều thiết thực của cuộc mà trong lời dạy của đức đạo sư luôn muốn nhắc nở chúng đệ tử. Những tranh biện và những ý kỷ của suy nghĩ cá nhân đã làm cho ánh sáng Phật giáo đang bị mất dần. Giữa sự ảm đạm của bầu trời tranh biện ấy Đại thừa Phật giáo đã xuất hiện để khôi phục lại Phật giáo Nguyên thủy bằng phương pháp của riêng mình.Sự thích nghi với thời đại để rồi vận dụng những giáo lý nền tảng thành những đặc thù của mình đã mở ra những giai đoạn vàng son cho Phật giáo.Bằng nỗ lực nghiên cứu chứng minh của những nhà Phật học tâm huyết Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa được trả về với đặc tính vốn có của nó.Bằng những sử liệu sống động trong kinh tạng và tư tưởng trong nguyên thủy Phật giáo, phải chăng ta nên thay đổi sự nhìn nhận của mình?Những đóng góp tích cực của Phật giáo Đại thừa cho ta thấy Đại thừa Phật giáo là sự kế thừa Phật giáo Nguyên thủy ở đỉnh cao của sự kế thừa.
Ngày nay trong chúng ta nếu không thay đổi những quan niệm sai lệch và chủ nghĩa cá nhân của mình thì một lần nửa ta sẽ đi trên vết xe của các bộ phái đã từng đi qua. Sự phận biệt về tông phái đã làm cho toàn thể Phật giáo có một bức tường vô hình ngăn cách không thể vượt qua. Cho nên chúng ta cần tiến lại gần nhau hơn xóa bỏ đi những định kiến của cá nhân và tông phái, mới có thể kế thừa những tinh hoa của đức Phật đã để lại. Có như thế thì Phật giáo mới có thể đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của thời đại.Là quay về để tự điều phục mình, tự nương tựa chính mình mà không phải nương vào bất cứ vị thần linh nào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009.
3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007.
5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969.
7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011.
8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85.
9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003.
10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208.
11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ.
12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009.
13. Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Aggivacchagotta, Nxb Tôn Giáo, 2012.
14. HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ương bộ kinh, tập I, VNCPHVN ấn hành, 1993.
15. TT Thích Minh Tuệ, Phật và thánh chúng, Nxb Tôn Giáo, 2009.
16. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2008.
17. TT Thích Viên Trí, Khái Niệm Về Bồ Tát Quán Thế Âm Lý Thuyết và Thực Hành, Nxb Tôn Giáo, 2005.
Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015
TIẾN TRÌNH PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM DƯỚI THỜI LÊ NGUYỄN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Nguyên nhân ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:
1.1. Tôn chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
2. Cuộc đời và sự nghiệp của thiền sư chân nguyên:
2.1. con đường giác ngộ và tư tưởng thiền của thiền sư:
2.2. Những tác phẩm của chân nguyên thiền sư:
2.3. Những đóng góp về văn học nghệ thuật của ngài:
3. Đào tạo kế thừa và trùng san các tác phẩm đời lý trần:
4. Phật giáo Việt Nam thời đại Lê - Nguyễn
4.1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê :
4.2 . Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài) :
4.3. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong) :
4.3.1. Thời kỳ Tây Sơn :
4.3.2. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long :
4.4. sự phục hưng phật giáo thời lê - nguyễn:
5. Thiền sư chân nguyên, người có công phục hưng môn phái trúc lâm:
5.1. những đệ tử xuất sắc của ngài chân nguyên:
5.1.1. Thiền sư Như Hiện:
5.1.2. Thiền sư Như Trừng:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
TRÌNH BÀY GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA THIỀN SƯ CHÂN NGUYÊN TRONG TIẾN TRÌNH PHỤC HƯNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM DƯỚI THỜI LÊ NGUYỄN
I. DẪN NHẬP:
Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị - một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới vì"Tất cả chúng sinh đều có Phật tính". Tuy nhiên Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.
Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: "Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình."[1] Phải nói rằng sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm là niềm tự hào lớn của dân tộc. Nó thể hiện bản sắc, cũng như tín tự chủ, tinh thần không chịu lệ thuộc bởi ngoại lai. Cũng chính sự ra đời của thiền phái này trong lúc đất nước bị quân Nguyên – Mông xâm lược đã tạo nên sức mạnh của toàn dân. Từ vua quan đều là Phật tử cho đến những người dân đều đồng lòng ra sức dẹp giặc để bảo vệ cho đất nước.
Khác với các Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường,Tthiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt mang đậm tinh thần nhập thế, điều đó cho thấy đạo Phật không phải là đạo yếm thế, mà muốn tìm con đường giác ngộ không thể từ bỏ thế gian này mà giác ngộ được. Với tinh thần Bồ tát đạo thì người con Phật càng phải dấn thân vào cuộc sống, đồng sự với chúng sinh, vui với niềm vui của đất nước, đau với nỗi đau của dân tộc, nhưng khi thanh bình thì vẫn trở về với cuộc sống tu hành thoát tục. Chính Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một thiền phái đã mang những đặc điểm ấy. Vì vậy mà người viết đã chọn đề tài “Sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm”. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không thể không hiểu rõ về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một của báu của dân tộc càng phải được tìm hiểu và phát huy.
Về phương pháp nghiên cứu người viết dùng phương pháp phân tích nhũng sự kiện hay thông tin có sẵn mà phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán. Bên cạnh đó có sử dụng một số phương pháp khác dựa trên mục tiêu nghiên cứu hay hoàn cảnh nghiên cứu để làm sáng tỏ đề tài mong rằng sẽ đóng góp một phần nào làm rõ đề tài vì trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam thì Phật giáo và dân tộc luôn luôn song hành. Đó cũng là một nét văn hóa rất riêng của Việt Nam và cũng là nét riêng của Phật giáo từ khi Đức Thích Ca khai sáng cho đến các vị đệ tử truyền thừa trải qua bao nhiêu thời gian bao nhiêu không gian vẫn không làm rơi một giọt máu nào mà ngược lại còn làm rạng danh cho dân tộc ấy.
II. NỘI DUNG:
1. Nguyên nhân ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:
Việc nhà Trần thay ngôi nhà Lý là vâng theo mệnh trời, vì vua Trần Thái Tông là người nhân từ, trí đức song toàn có thể lãnh đạo nhân dân giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong nước, cũng như đối phó với các thế lực ngoại bang xâm lấn và tập trung xây dựng và phát triển đất nước. Ngoài việc thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ ý chí đến hành động của toàn dân và xây dựng đất thịnh vượng, vua Trần Thái Tông còn đạt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần.
Có thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (竹林安子) phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông nhưng người khai sáng và làm rạng danh thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là đệ nhất Tổ. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì Ni Đa Lưu Chi.
Nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, về mặt văn hóa, việc xây dựng một ý thức hệ độc lập thống nhất vô cùng cấp bách. Phải thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài, thống nhất ý thức dân tộc về mặt chính trị, làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương (họ Trần) và làm phương tiện giải quyết các mâu thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo quần chúng nhân dân nhằm duy trì một trật tự xã hội và cũng tức là duy trì ngai vàng của dòng họ.
Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các Thiền phái trước đây để đáp ứng các yêu cầu của đất nước. Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc tự mình độc lập không lệ thuộc Thiền tông ở Trung Quốc, vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đã xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tông với các tín ngưỡng khác, do đó thu hút các tín ngưỡng khác. Bên cạnh đó thiền phái này cũng tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới - tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng.
Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ý nghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa mà đến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng thiền trước ảnh hưởng từ Trung Hoa. Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập hành trì thể hiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.
1.1. Tôn chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Bằng sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, Trần Nhân Tông dùng ánh sáng chân thật đó, dung hợp ba dòng thiền đã có trước đó thành dòng Thiền Trúc Lâm, mở ra phong trào học Phật mới. Lấy tôn chỉ của thiền tông: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” làm chủ đạo, ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp, giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những lời kinh chết trong sách vở thành những bài kinh sống nơi người, chứng minh cho “Tâm Thiền” sáng ngời không có gì sai khác.
Xét kỹ, tông chỉ Thiền tông rất thực tế và gần gũi với con người, lấy “Chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tự sống vươn lên. Vì tâm mình mà không biết, vậy lo biết cái gì ở đâu xa? Thành Phật là thành ngay trong tâm tính mình đây thôi, không phải thành ở trên núi cao, trên cõi trời xa xôi, chỉ cần mình xoay lại chính mình, thì ngay đó là bờ mé (Hồi đầu thị ngạn). Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng người, nâng cao giá trị con người, cũng là lý bình đẳng với tất cả, vậy sao không khai thác?
Tôn chỉ của Sơ Tổ thể hiện rất rõ trong bốn câu kệ cuối của bài phú Cư trần lạc đạo: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc san hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no mệt ngũ liền, Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.). Đoạn kệ trên nói lên tinh thần nhập thế tùy duyên mà hành đạo trong bốn quan điểm: 1. Hãy nên sống hòa mình với đời không chấp trước, mọi sự ở đời đều có nhân duyên của nó và hãy tùy duyên mà sống vui với đạo. 2. Hành động tùy duyên tức là làm việc cần phải làm, đúng lúc, đúng thời không trái với quy luật tự nhiên. 3. Tự tin nơi chính khả năng của của mình mà không tìm cầu một sự trợ lực nào từ bên ngoài. 4. Khi tâm đã sáng tỏ thì không còn nô lệ vào những điều trong giáo lý và cũng không lệ thuộc kinh điển.
Đúng là thiền tông chỉ thẳng “Ngay trong đây, lúc này, người này thôi”, rất hiện thực không có gì xa xôi, mập mờ hẹn lại kiếp nào khác. Nghĩa là mình sống trong giờ phút hiện tại qua từng cử chỉ hành động, từ những việc cỏn con cho đến những việc lớn đều sống trong chánh niệm tỉnh giác như vậy là thiền. Sơ Tổ khuyến cáo người tu hành tùy duyên nhập thế để làm lợi ích cho đời, vì chúng sinh còn nhiều đau khổ, nhiều người chưa biết Phật pháp, chưa biết trong nhà của mình có báu vật mà không biết khai thác. Trên tinh thần dù có sống giữa thế gian này nhưng vẫn vui với niềm vui của đạo, Sơ Tổ đã vân du khắp đó đây đễ giảng dạy Phật pháp. Tinh thần nhập thế này đã được những người nối truyền dòng phái cũng áp dụng làm cho Phật pháp lúc bấy giờ được hưng long như một quốc giáo của Đại Việt. Bản thân Trần Nhân Tông sau khi xuất gia và hóa đạo mà vẫn lo việc nước việc dân trong giai đoạn vua Trần Anh Tông trị vì. Bằng chứng sự kiện gả Công chúa Huyền Trân và sát nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý vào cương thổ Đại Việt đều có sự chỉ đạo của Tổ Trúc Lâm. [3] Cho thấy tinh thần nhập thế của Phật giáo đời Trần thể hiện qua sự hành đạo của các vị tổ Trúc Lâm là “Phật pháp bất ly thế gian pháp”.
2. Cuộc đời và sự nghiệp của thiền sư chân nguyên:
Trong dòng chảy của Thiền học Việt Nam, một trong những người có công lớn trong công cuộc phục hưng môn phái Trúc Lâm ở thế kỷ XVII là Chân Nguyên thiền sư. Chân Nguyên là một tác gia lớn của nền Thiền học nước nhà; tuy nhiên, do nhiều vấn đề trong nghiên cứu lịch sử còn chưa thật rõ ràng, nên có ít công trình tìm hiểu về tư tưởng thiền học của ông. Theo những ghi chép còn lại của môn đệ Như Sơn thì Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, người làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1647, lúc nhỏ theo con đường cử nghiệp, học với cậu mình là một vị giám sinh. Ông có tư chất thông minh, hạ bút thành văn. Đến năm 19 tuổi, nhân đọc quyển Tam tổ thực lục, đến đoạn nói về thiền sư Huyền Quang, ông thấy “cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, nữa mình là một anh học trò”, từ đó bèn phát nguyện đi tu.
Thoạt đầu, ông lên chùa Hoa Yên yết kiến thiền sư Chân Trụ Tuệ Nguyệt xin theo học. Sư Tuệ Nguyệt hỏi: “Ngươi ở đâu mà đến đây?”. Ông thưa lại: “Vốn không đi lại”. Sư Tuệ Nguyệt biết người này sau sẽ thành đạo, bèn đặt tên cho là Tuệ Đăng. Sau do thiền sư Tuệ Nguyệt mất sớm, nên ông cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm phát nguyện tu hạnh đầu đà để tham vấn Phật pháp. Du phương tham học được một thời gian, Như Niệm đổi ý, trở về trụ trì chùa Cô Tiên. Còn lại một mình, ông bèn đến núi Côn Cương làng Phù Lãng, tham vấn thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc, vốn là đệ tử của thiền sư Chuyết Chuyết thuộc dòng thiền Lâm Tế ở Trung Quốc.
Sau khi đắc đạo, Minh Lương đã đổi pháp hiệu cho ông là Chân Nguyên. Như vậy, trên danh nghĩa, sư thuộc dòng thiền Lâm Tế, kế tục sự nghiệp hoằng pháp của thiền sư Chuyết Công Viên Văn (1590-1644) và thiền sư Minh Lương trước đó, mở đường cho thiền phái này ghép mình vào truyền thống của thiền phái Trúc Lâm. Cuộc đời hành đạo của Chân Nguyên đã nở hoa sau khi chứng đắc. Liền một năm sau đó, Chân Nguyên lập đài Diệu pháp liên hoa và thỉnh tượng Phật Thích Ca, Di Đà và Di Lặc về để làm chay phóng sinh thí thực. Để tỏ rõ lòng thành của mình, Chân Nguyên đã đốt hai ngón tay cúng dường Phật pháp, thọ Bồ tát giới. Đến năm 1648, ông dựng đài Cửu phẩm liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm. Năm 1692, lúc 46 tuổi, ông được vua Lê Hy Tông mời vào cung để tham vấn Phật pháp. Do ngưỡng mộ tài đức của Chân Nguyên, vua phong ông là Vô thượng công. Sau sư được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, hai ngôi chùa lớn nhất của phái Trúc Lâm bấy giờ. Năm 1722, lúc Chân Nguyên đã 76 tuổi, vua Lê Dụ Tông phong cho sư chức Tăng thống và ban hiệu là Chính giác hòa thượng. Ông mất năm 1726, thọ 80 tuổi.
Trong suốt cả cuộc đời hành đạo của mình, Chân Nguyên không chỉ đóng góp về phương diện xây dựng, tôn tạo nhiều công trình kiến trúc Phật giáo có ý nghĩa, mà về phương diện học thuật, ông cũng để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu như các tác phẩm được viết bằng chữ Hán: Tôn sư phát sách đăng đàn thọ giới, Nghênh sư duyệt định khoa, Long thư tịnh độ văn tự, Long thư tịnh độ luận bạt hậu tự, Tịnh độ yếu nghĩ, Ngộ đạo nhân duyên. Các tác phẩm được viết bằng chữ Nôm có: Thiền tịch phú, Thiền tông bản hạnh, Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Đạt Na thái tử hạnh, Hồng mông hạnh.
2.1. con đường giác ngộ và tư tưởng thiền của thiền sư:
Trước tiên, ngài tìm đến chùa Hoa Tiên, học đạo với Thiền Sư Chân Trụ, được pháp danh là Tuệ Thông, nhưng vì Chân Trụ mất sớm, bèn cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm đi tham học, thực hành hạnh đầu đà, không ở một chỗ nào nhất định, du phương tham vấn thêm Phật Pháp. Sau đó, Như Niệm bỏ cuộc về trù trì chùa Cô Tiêu. Tuệ Thông bèn đến núi Côn Lương làng Phù Lãng tham kiến thiền sư Minh Lương ở chùa Vĩnh Phúc, vị nầy đệ tử của Thiền Sư Chuyết Chuyết, và được Minh Lương đặt cho tên là Chân Nguyên. Chữ Chân này là chữ thứ hai trong bài kệ truyền pháp của ngài Minh Hành.
Minh Chân như tính hải
Kim Tường Phổ chiếu thông
Chí đạo thành chánh quả
Giác Ngộ chứng chân không.
Dịch:
Thấy chân như biển rộng
Ánh vàng chiếu vô cùng
Đạt đạo thành chánh quả
Giác ngộ chứng chân không.
Theo sách Kế Đăng Lục nói rằng “một hôm ông tham vấn Minh Lương về một điều thâm diệu trong Phật Pháp, thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt ông một hồi lâu nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên”.
Ngọc xinh ẩn trong đá
Hoa sen nẩy tự bùn
Nên biết tìm giác ngộ
Nơi sinh tử trầm luân.
(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch
Liên hoa xuất ư nê
Tự tri sinh tử xứ
Ngộ thị tức bồ đề)
Trước khi được tham vấn Minh Lương, Chân Nguyên đã từng tu tập nhiều nhất trong việc dụng công về Thiền, có lẽ là Công Án mà Bách Trượng Thiền Sư (724-814) trao cho Hương Nghiêm. “Hãy nói cho tôi nghe về mặt mũi của chính ông khi mà ông chưa được cha mẹ sinh ra ?
Sau nhiều tháng năm tra vấn với nội tâm, đập tan những lớp phấn sơn bao bọc Vô Minh, cuối cùng mọi lẽ nhiệm mầu bỗng chốc bừng lên, khi được đôi mắt sáng như điện xẹt của Minh Lương chiếu thẳng, quét sạch những tàn dư đang ẩn núp trong tận cùng ngõ ngách, bóng đêm bị đẩy lùi ra khỏi ngưỡng cửa thời gian, ông vụt trong thấy toàn cõi tử sinh trong chốc lát mà không cần phải đi qua thứ lớp, tất cả mọi hiện tượng chứa đầy trong đôi mắt, cứ việc đem ra mà dùng, tìm cầu giác ngộ ở bên ngoài chỉ luống công, nhọc sức, nấu cát thành cơm. Công Án nầy Chân Nguyên có diễn tả trong sách Thiền Tông Bản Hạnh.
Thuở xưa trời đất chưa sanh
Cha mẹ chưa có thật mình Chân Không
Chẳng có tướng mạo hình dung
Tịch quang phổ chiếu viên đồng thái hư.
Quan niệm về Thiền của Chân Nguyên, có nhiều sắc thái đặc biệt mới lạ hoàn toàn dung hòa giữa hai nền tâm linh của Ấn Độ, và Trung Hoa, tổng hợp trở thành tư tưởng Thiền có nhiều tính chất của Dân Tộc, ngài khai thác nội tâm mang đầy bản tính hiền hòa chất phác của người Việt, không nặng về quan niệm đẩy kẻ ấy rơi vào ngõ bí không lối thoát, nhưng ngài cho thấm nhuần và thấy được giá trị tuyệt vời của nó, một cách từ từ như đi trong sương ướt áo, dù trời không mưa. Chân Nguyên chủ trương then chốt của việc đạt được giác ngộ là thắp sáng liên tục ý thức của mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm viên” đó là nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức trọn vẹn được điều này tất cả những tương quan hành động, ý tưởng của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ mà không cần phải suy luận đắn đo, không một cử chỉ nào là không phù hợp với chân lý mầu nhiệm, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý dù tiếp xúc với trần cảnh như vào ngôi nhà rỗng không, chẳng có gì ràng buộc tạo được nghiệp sinh tử. Chân Nguyên đề cập điều này rất nhiều lần trong Thiền Tông Bản Hạnh.
Hậu học đã biết hay chăng
Tâm hoa ứng miệng nói năng mọi lời
Thiêng liêng ứng khắp mọi nơi
Lục căn vận dụng trong ngoài thần thông.
Chân Nguyên cũng lưu ý cho chúng ta, về vấn đề ngôn ngữ, theo ngài chỉ là phương tiện để đối trị lại những đảo điên mà ta đang trực diện. Ngài viết: “Xử dụng ngôn thuyết là việc bất đắc dĩ, phải dùng phương tiện để đối trị vọng tưởng của chúng sanh. Nếu không tùy trường hợp mà đối trị những vọng tưởng ấy, tức là không thể có giáo pháp. Mà không có giáo pháp thì không có Phật cũng không có Tăng. Tam Bảo đã không thì không có người thuyết pháp, không có người nghe pháp, cũng không có pháp được thuyết. Giáo Pháp đã từ nhân duyên mà có thì cũng chỉ là phương tiện để làm trẻ con nín khóc mà thôi, đâu phải là chân thực. Người ngu phu thì cần nhiều kinh điển, nhiều giáo pháp, bậc thượng trí thì chỉ cần một tiếng hét hay một nụ cười cũng có thể đốn ngộ tự tính.”
2.2. Những tác phẩm của chân nguyên thiền sư:
Chân Nguyên Thiền Sư là một cây bút lớn ở nền văn học thế kỷ thứ 17. Số lượng sáng tác của ngài khá nhiều, những tác phẩm sau đây đã được tìm thấy.
1- An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh – đã được tái bản đến 3 lần, 1745, 1805 và 1932
2- Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh in 1850
3- Ngộ Đạo Nhân Duyên
4- Đạt Na Thái Tử hành, năm 1838
5- Hồng Môn hành, năm “Minh Mạng vạn vạn niên”
6- Thiền Tịch Phú năm 1932
Đó là những tác phẩm bằng quốc âm. Sau đây là những tác phẩm bằng Hán Văn.
7- Tôn sư phát sách đăng đàn thọ giới in 1748
8- Tịnh độ yếu nghĩa in ba lần 1747, 1851, và 1860
9- Nghênh sư duyệt định khoa in lại 1887.
Ngoài ra ngài còn viết tựa một số các kinh sách khác do ngài chủ trương hay người khác đứng in như:
- Long thư tịnh độ văn tự
- Trùng san Long thư tịnh độ luận hậu bạt tự.
Đó là những tác phẩm đã được tìm thấy, ngoài ra còn nữa chúng ta chưa khám phá ra. Và sự phát hiện bản in Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh năm 1850. Trước đó đã bị liệt vào loại khuyết danh, đã có những công cuộc nghiên cứu hai tác phẩm phổ biến trong nhân gian có một vài tư liệu phân tích về dữ kiện ngôn từ, ảnh tượng và ý tưởng cho rằng rất có thể tác giả là Chân Nguyên, đó là Quan Âm tống truyện và Phạm Tải Ngọc Hoa. Chúng ta thử đi sâu vào một vài tác phẩm của Chân Nguyên, chẳng hạn như Thiền Tịch Phú: Đây là bài Phú Nôm về Chùa Long Động mang nhiều sắc thái và từ ngữ thuần túy Việt Nam. Bài này được chùa Long Động bảo quản và được Thiền phố phiên âm và in trong Đuốc Tuệ số 7 ra ngày 21-1-1936 tại Hà Nội.
2.3. Những đóng góp về văn học nghệ thuật của ngài:
Chân Nguyên trưởng thành trong thảm trạng, phân hóa chia rẽ, và là bãi chiến trường đẫm máu của những dòng họ thống trị quan liêu, chỉ lo củng cố địa vị, và tạo nên những cảnh tang thương tang tóc, do những tàn dư cuộc nội chiến để lại. Chân Nguyên không thể nào không cảm thấy xót xa trước sự đen tối của đất nước, và những nỗi khổ của dân tộc, mà Chân Nguyên đã chứng kiến tận mắt. Một thanh niên “thông minh, hạ bút thành văn” như Chân Nguyên làm sao an tâm trước những hiện tượng này. Lúc bấy giờ chỉ còn hai phương pháp để giải quyết cho những người trai mới lớn, một là tiếp tay với những kẻ thống trị, để tiếp tục tạo thêm những thảm cảnh tang thương cho dân tộc, và hai là đi làm kẻ chống lại những thế lực cai trị. Nhưng Chân Nguyên đã có cái may mắn hơn nhân đọc cuốn “Thực Lực sự tích Trúc Lâm đệ tam Tổ Huyền Quang” mà Chân Nguyên tìm thấy được con đường cần thiết để dấn thân. Huyền Quang đã từng đỗ Trạng Nguyên, nhưng chán mùi công danh phú quý, nên quyết chí đi tu. Nhờ đó, làm cho Chân Nguyên cảm thấy lại thân phận của mình là chọn con đường như Huyền Quang đã chọn đi vào nẽo xuất gia. Đây là một giải pháp hay nhất, cho việc phát huy đời sống tâm linh an lạc cho chính mình và đồng thời có nhiều cơ hội để chia xẻ những thống khổ của Dân Tộc, hành động của Chân Nguyên được kể như một lối thoát tuyệt hảo. Sau nầy trong Thiền tôn Bản Hạnh Chân Nguyên đã minh định sự bế tắc của xã hội và sự xuất gia của mình có đóng góp cho xã hội nhiều không? Và trong thơ văn của ngài hãy còn vấn vương những nỗi đau thương trong cuộc đời mà ngài đã cảm nhận. Những ưu tư vẫn còn tiềm ẩn trong quảng đời của Chân Nguyên.
Ròng ròng nước mắt nhỏ sa
Một là tiếc đạo hai là thương dân.
Chân Nguyên đã chọn vị thế của mình là đứng trên lập trường của người dân để diễn tả những thảm cảnh nghèo đói, đau khổ mà người dân đang gánh chịu không một lời kêu cứu. Những cảnh tượng này đã từng phủ lên đầu Dân Tộc, từ khi lập quốc cho đến bây giờ luôn sống trong lầm than đen tối, qua những cuộc thống trị đô hộ của Tàu và Pháp. Chân Nguyên diễn tả trạng huống này với giọng thơ bùi ngùi xót xa cho duyên số của Dân Tộc của con người.
Cơm thời chẳng có ăn rày
Áo thời thuở này chẳng có che thân
Cùng là gầy guộc tay chân
Tối thui què quặt muôn phần xót xa.
Và ngài cũng đã đề cập đến nỗi căm phẫn đối với những con người chỉ biết sống trên nỗi đau khổ của đồng loại.
Người ấy ở nết chẳng lành
Cậy cả tranh hành , thấy bé dễ đuôi
Mình nhiều dễ kẻ mồ côi
Cậy giàu để loại đói khờ cười chê.
Đồng thời Chân Nguyên còn thay thế tâm trạng những người áp bức nói lên những ước mơ bình dị, như tâm hồn thanh thản của Dân Việt. Chỉ thích sống một cuộc sống an vui, không xây đắp hạnh phúc của mình trên những đau khổ của kẻ khác, tình thương mến lẫn nhau là một trong những đặc tính của người Việt, dù vẫn có những kẻ đã xử dụng và biến đặc tính này trở nên một thứ tính hung hãn tàn bạo khác, tuy nhiên chắc chắn sẽ bị bánh xe lịch sử của Dân Tộc nghiền nát như chính thân phận của họ sẽ bị tàn phá khủng khiếp bởi thời gian. Chân Nguyên nói lên ước mơ của người dân như sau:
Tích lấy tài bảo làm chi
Cho hay của ấy thật thì của chung
Lòng tôi chẳng muốn Bắc Nam
Lấy làm bốn bể anh em một nhà.
Chân Nguyên đã được huân tập một thứ Thiền do vị vua Trần Nhân Tông khai sáng, mang đặc thù của Dân Tộc là dấn thân trong xã hội để phụng sự con người, đóng góp trong công cuộc phát huy và duy trì văn hóa, đặt sự tồn tại của Dân Tộc trong ý lực vượt thoát tử sinh của mình. Phật Giáo Việt Nam vốn đã gắn liền với vận mạng thịnh suy của Dân Tộc vì thế hầu hết những vị Thiền Sư Việt Nam đã cống hiến cuộc đời mình cho đất nước, nhất là thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần là những thời đại vàng son nhất của Dân Tộc và Phật Giáo.
Thiền Việt Nam vượt hẳn Thiền Trung Hoa ở điểm không nhắm đến việc chỉ biết lo giải thoát cá nhân. Nên Chân Nguyên ước mơ tiếp thu huân tập thật nhiều ý thức Thiền phái Trúc Lâm để tạo lại ý thức mới trong bối cảnh xã hội bây giờ, cứu vãn lại những gì đã đổ vỡ băng hoại, trên tinh thần vượt thoát của Phật Giáo.
Dù rằng Chân Nguyên không thành công nhiều trong việc hoán chuyển thực trạng lúc bấy giờ, nhưng ông dám khơi dậy ý thức này quả cũng vĩ đại và khác thường rồi. Chân nguyên đã đặt nỗi khổ đau của Dân Tộc như chính nỗi đau trầm thống của riêng mình, chính từ quan điểm ấy tạo cho Chân Nguyên dám đương đầu trước những biến thiên thời đại, và ông đã tạo nên bầu không khí tươi mát hào hứng cho nhiều người. Ngô Thời Sỹ đã nhắc đến tên ngài với niềm ái mộ sâu xa, và phải chăng đã truyền lại những gì mà Chân Nguyên chưa thực hiện được cho người con lỗi lạc của mình là Ngô Thời Nhiệm sau này? Chính Chân Nguyên đã dựng nên luồng sinh khí mới này và nó đã châm ngòi nổ tung trong con người Ngô Thời Nhậm.
Đồng thời Chân Nguyên cũng đã xây dựng Đài Diệu Pháp Liên Hoa tại chùa Vĩnh Phúc, và đài Cửu Phẩm Liên Hoa tại chùa Quỳnh Lâm.
Chân Nguyên quả là nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ thứ 17 đúng với sự ca ngợi “thông minh, hạ bút thành văn” ngài đã đóng góp nhiều trong mọi lĩnh vực mà chắc hẳn chúng ta không bao giờ phủ nhận và quên được công nghiệp vĩ đại này.
3. Đào tạo kế thừa và trùng san các tác phẩm đời lý trần:
Chân Nguyên đã đào tạo người tiếp nối và đầu tư sự nghiệp giáo dục vào những đệ tử của ngài. Việc làm nầy của ngài có phương sách truyền đăng tục diệm, khai thác và duy trì khía cạnh văn hóa. Chân Nguyên ý thức mãnh liệt về văn hóa vì đó là yếu tố cơ bản quan trọng trong việc hướng dẫn tri thức của con người tìm tới đỉnh cao của suy tư và hành động, từ đó tạo nên những quan niệm thăng hoa con người trước những bao phủ đen tối. Đồng thời hoán chuyển tạo dựng xã hội đặt đúng vị trí của những chủ trương do văn hóa ấy tác động. Nó là đạo quân chinh phục xã hội một cách nhanh nhất và hiệu năng lâu dài nhất. Thân xác con người đã chôn vùi dưới mặt đất cả mấy trăm năm nhưng gia tài văn hóa đã để lại khó mà tan rã, nó sẽ bàng bạc thấm nhuần vào tư tưởng của mấy mươi thế hệ sau. Minh chứng của lịch sử đã cho chúng ta có một quan niệm vững chải về điều này. Có như thế Tần Thủy Hoàng mới chôn sống học trò và đốt sách vở. Có lẽ người ta quá sợ hãi giá trị ảnh hưởng của văn hóa nên đã không ngần ngại tìm cách tiêu hủy những tiềm năng này. Và có những thực trạng trái ngược, nhưng tùy theo người viết hoán cải nó và một vài năm sau thực trạng trước đó đổi thay theo ngòi bút của họ. Điều quan trọng đòi hỏi người xử dụng cây viết phải trung thực và đem lại an vui cho đồng loại. Điều này hoàn toàn tùy thuộc về mức độ tri thức của những quan niệm.
Chân Nguyên là người ôm ấp hoài bão và ý thức thâm thiết về đạo quân Văn hóa nên ngài đã ươm mầm vào những đệ tử và rèn luyện họ trở nên những người đem đóa hoa tâm linh truyền trao cho nhân thế, và thắp sáng hiện hữu bằng ngọn đuốc sáng rực mà ngài đã gởi gắm phó thác, có lẽ ngài là người thực hiện điều này có phương sách lâu dài hơn. Chân Nguyên có rất nhiều đệ tử xuất sắc, đặc biệt ta phải kể đến Thiền Sư Như Hiện và Như Trừng. Như Hiện được kế thừa y bát của phái Trúc Lâm và Như Trừng dựng Thiền phái lấy tên là Liên Tông, sau nầy hai phái tổng hợp làm một, góp phần tích cực vào việc khôi phục những tác phẩm đời Trần.
Như Hiện xuất gia năm 16 tuổi, vào năm 1730 các chùa do ngài trông coi như chùa Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm được chúa Trịnh Giang trùng tu. Và năm 1748 ông được vua Lê Hiến Tông ban chức tăng cang, và năm 1757 được sắc phong Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng.
Thiền Sư Như Trừng vốn là một vị vương công họ Trịnh tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương. Ông được vua Hy Tông chọn làm phò mã và gả công chúa thứ tư. Sau đó ông dâng sớ xin đi tu được sự chấp thuận của vua. Khi còn là Sa Di Như Như, ông có viết các bài Ngũ Giới và Thập Giới Quốc Âm.
Công tác trùng san những tác phẩm đời Lý Trần
- Thuyền Uyển Tập Anh Ngữ Lục, tác phẩm nầy bắt đầu vào đời Lý, do nhiều người biên soạn, trong số những vị có công là Thiền Sư Thông Biện, Thường Chiếu, Thần Nghi, Và Ẩn Không. Bản in cổ nhất còn lại là bản in năm 1715 do Thiền Sư Như Trí thực hiện trong khi Chân Nguyên còn sống.
- Kế Đăng Lục: Do Thiền Sư Như Sơn chùa Hồng Phúc soạn, dưới sự bảo trợ của vua Lê Thuận Tông, khắc bản năm 1734.
- Thánh Đăng Lục đã được trùng san ba lần do Chân Nghiêm, Chân Nguyên và Tính Lương.
- Thượng Sỹ Ngữ Lục, sách do Pháp Loa biên tập, Trúc Lâm Điều Ngự khảo đính và Trần Khắc Chung đề bạt. Sách in nhiều lần vào đời Trần và sau Tuệ Nguyên Chùa Long Động trùng san.
- Khóa Hư Lục do Trần Thái Tông soạn, và Tuệ Hiền sau này thực hiện.
- Tam Tổ Thực Lục
- Đại Nam Thuyền Uyển Truyền Đăng Tập Lục
Sự nghiệp của Chân Nguyên lưu lại cho hậu thế vô cùng to lớn. Ngài có công phục hưng lại Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Ngài đã từng được vua Lê Hiến Tông ban cho mỹ hiệu Vô Thượng Công, vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng Thống ban hiệu Chính Giác Hòa Thượng năm 1722, Thiền Sư tịch năm 1726 hưởng thọ 80 tuổi, ngài để lại bài kệ truyền pháp được chép ở sách Kế Đăng Lục.
Hiển tích phân minh thập nhị thì
Thử chi tự tính nhậm thi vi
Lục căn vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành chính biến tri
Chân Nguyên còn lưu lại một bài thơ hay nhất, và đẹp nhất.
Nói ra là bị kẹt
Không nói cũng chẳng xong
Vì anh đưa một nét
Đầu núi ánh dương hồng.
(Hữu thuyết giai thành bảng
Vô ngôn diệc bất dung
Vị quân thống nhất tuyến
Nhật xuất lĩnh đông hồng)
4. Phật giáo Việt Nam thời đại Lê - Nguyễn
Dựa vào lịch sử nước nhà ta cũng chia lịch sử Phật giáo ViệtNamra làm 3 giai đoạn :
4.1. Phật giáo Việt Nam triều Hậu Lê :
Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần. Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15). Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách đồng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt.
Mười ba năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê. Thế nhưng triều đại Hậu Lê là triều đại độc lập chính trị đầu tiên của Việt Nam đã bỏ rơi nền văn hóa dân tộc độc lập, đã bỏ rơi truyền thống dung hợp, khai phóng nhằm xây dựng một quốc gia hùng mạnh và phú cường để chạy theo một cách chính thức và toàn diện nền văn hóa ngoại lai đã từng được quân xâm lăng Trung hoa đô hộ áp đặt nhưng không thành công. Mặc dầu năm 1424 vua Lê Thái Tổ có mở kỳ thi khảo hạch tăng đạo, người nào trúng tuyển thì được ở chùa tu hành, ai hỏng thì phải hoàn tục (quả thật là một lối xét định kiến thức và đạo đức của tu sĩ Phật giáo một cách từ chương như là một biện pháp nhằm đàn áp và tiêu diệt Phật giáo một cách quy mô và toàn diện hơn). Ngoài ra có những lúc triều đình cũng tổ chức những buổi rước Phật (năm 1934), xuống chiếu ra lệnh cho bá quan văn võ ăn chay (1448, 1449) để đến chùa cầu mưa, nhưng những hình thức đó chẳng qua được xem như là một thứ đạo phù thủy dùng để cúng tế cầu đảo. Một tinh thần văn hóa ngoại lai mang đậm bản chất độc tài, độc tôn, độc đoán, hẹp hòi cố chấp và bảo thủ đã thể hiện rõ nét trên con người của vua Lê Thái Tổ khi sai bắt giết hai đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn (khiến Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử) và Phạm văn Xảo, rồi sau đó cùng một số nho thần ích kỷ với bản chất nô lệ từ tâm hồn đến tư tưởng đã vu hãm vô cùng hèn mạt để giết Nguyễn Trãi và giết sạch 3 họ nhà ông. Quả thật một chế độ khắc nghiệt và tàn bạo thể hiện đúng bản chất độc tài chuyên chế của Tống Nho phi nhân, nô lệ văn hóa ngoại lai, khác với truyền thống của dân tộc Đại Việt đã từng tha chết cho tên giặc cướp Nùng Trí Cao và vua Chiêm Thành Chế Củ đời vua Lý Thái Tông, rồi đời vua Trần Thánh Tông cũng đã từng tha chết khoan dung cho cả quan quân công tác với quân Mông Cổ, kể cả đoàn quân bại trận trong 2 thời kỳ chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288.
4.2 . Phật giáo thời chúa Trịnh (đàng ngoài) :
Sau thời gian bị suy thoái dưới thời Hậu Lê và nhà Mạc, đến thời chúa Trịnh Phật giáo bắt đầu phục hưng. Từ năm 1533 Phật giáo hồi sinh bởi công lao của các Thiền sư :
+ Thiền phái Tào Động : Vào khoảng 1575 – 1599 thiền sư Thủy Nguyệt, người Thanh Triều, Thái Bình là đời 36 phái Tào Động tại Trung Hoa và là Sơ tổ phái Tào Động Việt Nam ở đàng Ngoài.
+ Thiền sư Chuyết Chuyết tên là Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, sinh năm 1590 tại quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa. Từ Trung Hoa vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 vào năm 43 tuổi, Ngài mất Rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thọ 55 tuổi. Sau khi tịch được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Ngài thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương (người Đại Việt).
+ Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa là đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết. Thiền sư là viện chủ chùa Phật Tích (năm 1643), đến năm 1644 khi sư phụ mất ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Thiền sư thị tịch vào năm 1659, thọ 64 tuổi. Trước khi tịch Ngài có để lại một bài kệ được dùng để đặt pháp danh cho các thế hệ kế thừa của Thiền phái Lâm Tế ở đàng ngoài.
+ Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với Thiền sư Chân Trú (là đệ tử của Thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng. Sau khi Chân Trú mất, ông tu hạnh đầu đà du phương cầu học, sau đó đến tham học với Thiền sư Minh Lương (đệ tử của Thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên. Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động và Quỳnh Lâm. Thiền sư cùng chúng đệ tử là những người có công lớn trong việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, phục hồi nền văn học nước nhà : trùng san sách Thiền Uyển Tập Anh (1715), soạn Kế Đăng Lục (1734), Thiền Tông Bản Hạnh, trùng khắc Thánh Đăng Lục (1750), Khóa Hư lục, Thượng Sĩ Ngữ Lục (1763), Tam Tổ Thực Lục (1765)... Năm 1722 lúc 76 tuổi Thiền sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống và ban hiệu là Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726 trong tư thế kiết già, Ngài tịch vào tháng 10 âm lịch thọ 80 tuổi.
Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, năm 18 tuổi đậu cử nhân được tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn, sau đó làm Tri phủ Triệu Phong Quảng Trị. Năm 25 tuổi tham học đạo Phật với Thiền sư Viên Cảnh người Trung Hoa. Năm 1655 (năm 28 tuổi) ông Từ Quan, xuất gia với Thiền sư Viên cảnh được đặt pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện trên núi Quy Kính để thiền sư giảng pháp. Sau đó ngài bị vu cáo cùng một quan Thị Nội giám là Gia Quận công là âm mưu trốn ra đàng ngoài, bị chúa Nguyễn Phúc Tần tra khảo, sau đó đưa vào Quảng Nam. Từ sự đối đãi ấy tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682) Thiền sư cùng 50 đệ tử dùng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài, thuyền ghé vào Trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là Trịnh Na hầu, quan trấn thủ về tâu với triều đình, chúa Trịnh Tạc sai Đường Quận công đem thuyền vào Nghệ An rước Thiền sư và chúng đệ tử ra Đông Đô. Sau đó chúa Trịnh cho xây dựng chùa ở trấn SơnNamđể thầy trò giảng pháp tu học vào năm 1683. Năm Ất Mùi (1715) sáng ngày 13.05 sau khi tắm, thiền sư khoác y, đội mủ, đeo tràng Hạt, ngồi kiết già mà tịch, thọ 88 tuổi.
4.3. Phật giáo Việt Nam thời chúa Nguyễn (đàng trong) :
Khác với đàng Ngoài, chúa Nguyễn Hoàng thấy đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ, cho nên khi mới vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã liên tiếp cho xây dựng các chùa. Đồng thời chính là lúc chuyển tiếp giữa triều Minh và Thanh nên các danh tăng Trung Hoa tới đàng trong hoằng hóa khá nhiều nhưng đều thuộc thiền phái Lâm Tế :
- Thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị.
- Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ (Báo Quốc), Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, ở Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh.
- Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông ở Phú Yên
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và các chùa Quốc An và Hà Trung ở Thuận Hóa.
- Riêng hai vị Thiền sư Thạch Liêm khai sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa và Quốc sư Hưng Liên (đệ tử Thạch Liêm) khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng Nam thuộc phái Tào Động
4.3.1. Thời kỳ Tây Sơn :
Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước, Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ ở các làng xóm để tập trung vật liệu xây ở mỗi Phủ, Huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang và cho mời những Tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo, còn những người không xứng đáng phải hoàn tục. Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lạm phát chùa chiền và thoái hóa của Tăng sĩ trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo vì đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố phường, làng mạc, bàng bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở, nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo trong cả một chương trình phát triển đại quy mô. Nhưng vì vua Quang Trung mất sớm nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.Thời kỳ nầy có một tác phẩm nổi bậc đó là “Hứa Sử truyện” của Ngài Toàn Nhật, đệ tử Ngài Diệu Nghiêm.
4.3.2. Thời kỳ triều Nguyễn Gia Long :
Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn. Triều đình Nguyễn Gia Long thực hiện đúng bản chất của một chế độ Tống Nho thời Hậu Lê. Qua hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt cùa Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn : Quật mộ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem giam sọ của hai người vào ngục tối, con của vua Quang Trung và công chúa Ngọc Hân cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và các tướng lãnh khác cùng vợ con kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, voi dày xé xác. Con cháu anh hùng Quang Trung bị truy nã, chém giết, các di tích liên hệ đến phong trào Tây Sơn bị tiêu hủy với ý đồ man rợ qua câu nói : “trẫm vì chín đời mà trả thù”. Rồi để cũng cố nền thống trị độc tài bằng cách tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế, tạo nên thế gia đình trị, Nguyễn Ánh tiếp tục giết hại những công thần đã cùng vào sinh ra tử như : Đỗ Thành Nhơn, Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, san bằng mồ mã Lê Văn Duyệt, Lê Chất... Do chính sách của Nguyễn Ánh, sợ ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị, nên Phật giáo không được ưu đãi. Tuy có một số chùa được sắc tứ và trùng tu nhưng là những ngôi chùa mà trong thời gian bôn tẩu Nguyễn Ánh đã từng cư trú, hoặc chuẩn bị để đánh bại Quang Trung, nhưng cũng chỉ nhằm mục đích gây phúc đức cho dòng họ. Tuy vậy vẫn có một số danh Tăng nổi tiếng như :
- Thiền sư Mật Hoằng người Bình Định, đệ tử của Thiền sư Linh Nhạc thuộc dòng phái Nguyên Thiều, năm 1815 được vua Gia Long triệu về kinh cấp chứng chỉ Tăng Cang và trú trì chùa Quốc An.
- Thiền sư Phổ Tịnh người QuảngNamhiệu là Đạo Minh, đệ tử của Ngài Chiếu Nhiên thuộc phái Liễu Quán. Năm 1808 được Hoàng Thái Hậu Hiến Khương thỉnh trụ trì chùa Thiên Thọ (Báo Quốc). Ngài tịch năm 1816.
- Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chính, đệ tử của Thiền sư Đạo Nguyên. Ngài xuất gia năm 1807, thọ Cụ túc giới năm 1810 là người sáng tác sách ‘Pháp Hoa đề cương’ năm 1819 và Tâm kinh Trực giải năm 1843 còn lưu lại đến ngày nay.
- Thiền sư Thanh Nguyên hiệu MinhNamlà người viết bài tựa cho ‘Pháp Hoa đề cương’.
- Thiền sư An Thiền trú trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh là tác giả cuốn Tam Giáo Thông Khảo viết vào năm 1845.
- Thiền sư Nhất Định pháp danh Tính Thiên, người Quảng Trị sinh năm 1783 tịch năm 1847. Đương thời Thiền sư được vua Gia Long và vua Minh M ạng tôn trọng.
- Thiền sư Diệu Giác pháp danh Hải Thuận, người làng Bích Khê, Quảng Trị họ Đỗ, sinh năm 1805, mất năm 1896. Là đệ tử của Thiền sư Nhất Định, trú trì chùa Diệu Đế là người có công trùng tu các tổ đình Huệ Lâm, Báo Quốc, Kim Tiên.
- Thiền sư Phúc Điền trú trì chùa Liên Tông làng Bạch Mai, Hà Đông là người có công lớn trong việc bảo tồn sử liệu Phật giáo, Ngài biên soạn sách ‘Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục’.
- Và còn rất nhiều danh Tăng nổi tiến khác.
4.4. sự phục hưng phật giáo thời lê - nguyễn:
Vào đời nhà Trần, Phật giáo Đại Việt thống nhất lại dưới danh nghĩa “Phái thiền Trúc Lâm”, Hoàng gia nhà Trần sáng lập phái thiền Trúc Lâm, vì vậy, phái thiền Trúc Lâm cũng như Phật Giáo đời nhà Trần liên hệ chặt chẽ với Hoàng tộc nhà Trần.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vương thứ Mười tám (Thế kỷ III Trước Dương lịch), phát triển vào thế kỷ II, III, và hưng thịnh dưới đời nhà Lý (1010-1224) và nhà Trần (1224-1400). Khi nhà Minh xâm lăng Đại Việt (1407-1427), vua nhà Minh đã phá hủy nền văn hóa của Đại Việt, tịch thu và thiêu hủy hết tất cả kinh sách của Đại Việt, đập phá các di tích văn hóa (bia đá, đền miếu …).
Riêng về Phật giáo, đời nhà Trần đã có in lại bộ Đại Tạng kinh Phật giáo với hơn 5.000 quyển, trong đó in lại hầu hết kinh sách của bộ Đại Tạng kinh đời nhà Nguyên của Trung Hoa và in thêm vào đó một số kinh sách của Phật giáo Việt Nam (do các tăng sĩ Việt Nam biên soạn; từ khi Phật giáo mới du nhập vào Đại Việt cho đến đời Trần, có nhiều tăng sĩ tài đức biên soạn các sách rất có giá trị).
Vào đời nhà Trần, Phật giáo Đại Việt thống nhất lại dưới danh nghĩa “Phái thiền Trúc Lâm”, Hoàng gia nhà Trần sáng lập phái thiền Trúc Lâm, vì vậy, phái thiền Trúc Lâm cũng như Phật Giáo đời nhà Trần liên hệ chặt chẽ với Hoàng tộc nhà Trần. Một số đông Hoàng tộc và các đại thần nhà Trần đều quy y hay xuất gia theo phái thiền Trúc Lâm.
Với thời gian các thiền sư của các phái thiền Lâm tế, Tào Động và Trúc Lâm ở Đàng ngoài hòa hợp nhau để cuối cùng chấn hưng và sáng tạo đem lại sinh khí mới cho truyền thống thiền tông Yên Tử của phái thiền Trúc Lâm ở Đại Việt; ngoài ra, các vua Lê chúa Trịnh, vương phi, cung tần cùng các quan tướng trong triều đình và các thiện nam tín nữ ở Đàng ngoài cũng chí tâm học đạo và hết lòng hộ trì phật pháp, nhờ đó phật giáo đàng ngoài phục hưng và phát triển mạnh với nhiều thiền sư nổi tiếng như: Chân Nguyên-Chánh Giác, Chân An-Tuệ Tĩnh, Chân Trú-Tuệ Nguyệt, Chân Lý Hiển Mật, Như Nguyệt, Như Đức, Như Nhàn, Như Trí, Như Sơn, Như Hiền (Nguyệt Quang) và Thượng sĩ Cứu Sinh hay thiền sư Như Trừng-Lân Giác sáng lập thêm phái liên hoa (sau này đổi thành Liên tông) giúp cho Phật giáo phổ truyền khắp Đàng ngoài.
Ngoài ra, các vua Lê, chúa Trịnh, cùng các vương phi, cung tần… đã thực hiện rất nhiều các công trình trùng tu hoặc xây dựng lại mới các chùa cổ nổi tiếng ở Đại Việt thời Lý và thời Trần, nhờ đó khôi phục lại phần nào sự hưng thịnh huy hoàng của Phật giáo Việt Nam thời Lý và thời Trần. Chính nhờ các công trình xây dựng và trùng tu chùa chiền này mà ngày nay chúng ta mới có thể thấy được phần nào thời hoàng kim của Phật giáo Đại Việt thời xưa với các chùa cổ như: chùa Dâu, Quỳnh Lâm, Phổ Minh, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Thầy, chùa Keo, chùa Tây Phương, chùa Tiên Lữ, chùa Đậu…
Vào đầu thời Tây Sơn, chiến tranh làm cho Phật giáo bị suy thoái, chùa chiền bị hư hoại; đến thời vua Cảnh Thịnh (1792-1802), Hải Lượng (tức Ngô Thời Nhiệm), cùng một số huynh đệ như Hải Âu, Hải Huyền, Hải Hòa… cố gắng chấn hưng lại phái thiền Trúc Lâm.
Vì vậy, Phật giáo ở Đàng Ngoài (1592-1802) chỉ bị suy yếu một thời gian ngắn trong thời Tây Sơn, đến thời nhà Nguyễn, Phật giáo phục hưng và phát triển trở lại.
5. Thiền sư chân nguyên, người có công phục hưng môn phái trúc lâm:
Một trong những ngọn đuốc sáng của Phật Giáo Ðàng Ngoài là thế kỷ thứ mười bảy là thiền sư Chân Nguyên, trú trì chùa Long Ðộng. Chính Chân Nguyên và các đệ tử của ông đã làm phục hưng phái Trúc Lâm, cứu vãn được một số quan trọng những tác phẩm của các thiền tổ Trúc Lâm bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành những tác phẩm này.
Sách Ðăng Kế Lục nói rằng một hôm ông tham vấn Minh Lương về một điều thâm diệu trong Phật pháp thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt ông một hồi lâu, nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên:
Ngọc xinh ẩn trong đá
Hoa sen nẩy tự bùn
Nên biết tìm giác ngộ
Nơi sinh tử trầm luân.
(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch
Liên hoa xuất ư nê
Tu tri sinh tử xứ
Ngộ thị tức bồ đề)
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong số các vị ấy, ta có thể kể Như Hiện, Như Trừng, Như Sơn và Như Trí. Chữ như là chữ thứ ba trong bài kệ truyền pháp của Minh Hành. Chân Nguyên để lại hai bài kệ truyền pháp, bài sau đây được chép trong sách Kế Ðăng Lục:
Chính niệm phân minh được suốt ngày
Là đem thể tính tự phô bày
Giác quan vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành giác ngộ ngay
(Hiển tích phân minh thập nhị thì
Thử chi tự tình nhậm thi vi
Lục căn vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành chính biến tri).
5.1. những đệ tử xuất sắc của ngài chân nguyên:
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong đó Như Hiện và Như Trừng là hai người nổi bật nhất. Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống Trúc Lâm, còn thiền sư Như Trừng lập được một thiền phái lấy tên là Liên Tông. Cả hai phái ấy sau này nhập lại làm một, và tăng sĩ của cả hai phái đều đóng góp tích cực vào việc phục hồi những tác phẩm đời trần.
5.1.1. Thiền sư Như Hiện:
Hiệu là Nguyệt Quang, ông sinh ở làng Ðường Hào ở Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông xuất gia năm mười sáu tuổi, tại chùa Long Ðộng ở Yên Tử. trước khi Chân Nguyên mất, ông được trao y bát Trúc Lâm, kế thế cho chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang, Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang dưới sự chăm sóc của ông được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chúa cùng dân ba huyện Ðông Triều, Thủy Ðường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc trong suốt một năm mới xây dựng xong hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện kể trên được miễn sưu dịch trong một năm, bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.
Năm 1748, Như Hiện được vua Lê Hiển Tông ban chức tăng cương, và năm 1757 được sắc phong là Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng. Ông dạy trên 60 đệ tử xuất gia. Thiền sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được ông trao truyền y bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang(57). Ông mất ngày mồng sáu tháng chín năm Ất dậu (1756).
5.1.2. Thiền sư Như Trừng:
Tự là Lân Giác, hiệu là Cứu Sinh thượng sĩ, ông vốn là một vị vương công họ Trịnh. Ông tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương, sinh ở tỉnh Thanh Hóa năm 1696. Lớn lên ông được vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư cho. Ông có tư dinh tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương. Sau tư dinh là một cái đồi rất cao. Một hôm ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá vàng; người nhà đào được một cọng sen lớn vào trình ông. Ông cho đó là điềm xuất gia, liền đổi làm nhà chùa, đặt tên là Viện Ly Trần, chùa Liên Tông, bắt đầu ăn chạy, học đạo, ngồi thiền. Sau đó ông dâng sớ xin xuất gia. Ðược vua chấp nhận ông lên thẳng núi Yên Tử làm lễ thiền sư Chân Nguyên tại chùa Long Ðộng. Lúc đó Chân Nguyên đã tám mươi tuổi. Ông nổ lực học tập, sau đó được thụ giới, đắc pháp với Chân Nguyên và trở về tĩnh tu tại chùa Liên Tông. Trong thời gian hoằng hóa, ông có lập thêm chùa Hộ Quốc ở phường An Xá (cũng tại Thọ Xương) và chùa Hàm Long ở Quế Dương (Bắc Ninh). Hồi còn làm sa di pháp hiệu là Như Như tại chùa Long Ðộng, ông có viết các bài Ngũ Giới Quốc Âm và Thập Giới Quốc Âm bằng thơ Nôm lục bát. Ông tịch năm 1733, lúc mới được ba mươi bảy tuổi, có để lại bài kệ sau đây:
Gốc bắt nguồn từ nơi không gốc
Từ vô vi mà đến
Lại đi về vô vi
Ta không đến không đi
Tử sinh làm sao hệ lụy được ?
(Bản tòng vô bản
Trong vô vi lai
Hoàn tòng vô vi khứ
Ngã bản vô lai khứ
Tử sinh hà tằng lụy?)
Thiền sư Tính Dược đệ tử ông, được chỉ định trú trì chùa Liên Tông, còn thiền sư Tịnh Ngạn trú trì chùa Hàm Long. Ngoài hai vị đệ tử lớn này, ông có nhiều đệ tử cao tăng khác: Tình Tuyền, Tịch Dự, Vũ Hoa, Chính Tâm, Phổ Toán và Thông Vinh. Tính Tuyền được ông gửi sang Trung Hoa du học và thỉnh kinh. Vị này lưu học tại chùa Khánh Vân núi Ðỉnh Hồ ở Quảng Châu sáu năm(58), khi về có thỉnh theo được ba trăm bộ kinh và luật, cả thảy hơn một ngàn cuốn. Gần hai trăm bộ kinh đã được khắc bản và in lại để phổ biến trong xứ. Nhiều bản gỗ còn được chứa cất tại chùa Sùng Phúc và Kiến An.
Chùa Liên Tông sau này cũng được gọi là chùa Liên Phái, trung tâm của hệ phái do thiền sư Như Trừng thành lập. Các chùa Hộ Quốc, Hàm Long, Sùng Phúc, Nghiêm Xá, Thiên Quang, Phúc Ân, Vân Trai, v.v... đều là những tổ định thuộc phái này.
III. KẾT LUẬN:
Bất kỳ dân tộc nào cũng có nền văn hóa của mình, không ai có quyền phủ bác hay coi thường, hoặc chụp lên nó một nền văn hóa mới. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc vốn có một nền văn hóa với những thành tựu rực rỡ trước khi Phật giáo du nhập. Và, là một hệ thống tư tưởng không giáo điều, khiêm tốn khép mình, nên khi vào nước ta, Phật giáo sẵn sàng tiếp thu truyền thống bản địa, không buộc người Việt phải từ bỏ những gì vốn có trong nền văn hóa bản xứ, do đó nó đi sâu vào tâm hồn của con người một cách tự nhiên. Về phía dân tộc, dĩ nhiên là nhận thức rằng cần tiếp thu Phật giáo để làm phong phú thêm đời sống văn hóa của chính mình. Hơn thế nữa, dân tộc ta luôn phải đối mặt với âm mưu đồng hóa văn hóa của kẻ thù phương Bắc, tư tưởng Phật giáo sau khi đã bản địa hóa, kết hợp với những yếu tố dân tộc, là một bức tường thành kiên cố chặn đứng mọi sự tấn công, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Lịch sử Phật giáo suốt hai triều LÊ – NGUYỄN kéo dài 517 năm, nhưng do tình hình chính trị trong nước bất ổn nên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật giáo nước nhà.
Thời Hậu Lê nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, nền văn hóa dân tộc độc lập của Đại Việt bị thay thế bằng nền văn hóa giáo điều và từ chương của Tống Nho. Nho học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thoái lại càng suy thoái hơn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vỡ sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý - Trần. Bởi vậy triều Hậu Lê xem như là một triều đại mà Phật giáo suy đồi nhất trong các triều đại kể từ khi đất nước Đại Việt dành lại chủ quyền dân tộc từ tay đế quốc Trung Hoa đến thế kỷ 15 - 16. Trong thời kỳ này đa số Tăng sĩ thiếu học, tu tập theo hình thức, không chú trọng nội dung tư tưởng, ngoài ra còn làm nhiều việc mê tín như: điểm nhãn, cầu mưa, phù chú . . .
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhìn chung hai họ Trịnh Nguyễn đều hâm mộ đạo Phật, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo công đức cho dòng họ, chứ không biết áp dụng Phật giáo vào việc trị dân, dựng nước, đồng thời cùng chung mục đích là dành dân, chứng tỏ là mình cai tri nhân từ, để lấy chính nghĩa hầu tranh quyền lẫn nhau.
Tóm lại qua lịch sử cho chúng thấy được :
• Sự rạn nức niềm tin nơi triết học Tống Nho, khiến nhiều nhà trí thức quay qua nghiên cứu Phật giáo.
• Từ năm 1558 – 1802 có 3 phái thiền hoằng hóa ở Đàng trong : Trúc Lâm - Lâm Tế và Tào Động (do một số cao Tăng từ Trung Hoa sang truyền các dòng Thiền vào nước ta).
• Tăng tài tuy nhiều nhưng không có hệ thống nhất quán mà chỉ phát triển theo khu vực.
• Phật giáo Đàng Trong phục hưng và phát triển mạnh dưới thời các chúa Nguyễn, nhưng vì tình trạng chiến tranh và ảnh hưởng của chính trị nên tài liệu về Phật giáo bị tiêu hủy và thất lạc : từ các phổ hệ truyền thừa của các thiền phái đến các lịch sử truyền thừa của các chùa cũng như ngữ lục, tiểu sử của các thiền sư thời đó.
• Về văn học sử dù bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn một số tác phẩm văn học mang ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo tiêu biểu như :
- Thi phẩm “ Tư Dung văn ” của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634).
- Tác phẩm “ Sãi Vãi ” và 10 bài thơ họa lại “ Hà Tiên thập cảnh ” (của Sĩ Lân Mạc Thiên Tích) của Nghi Biểu Hầu Nguyễn Cư Trinh (1717-1767).
- Thi phẩm chữ Nôm “ Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh ” của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích.
- Thi phẩm “ Phong Trúc tập ” của ẩn sỉ thiền giả Ngô Thế Lân (người đã dâng các bảng điều trần lên chúa Nguyễn).
Tuy nhiên theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc tinh thần Đạo Phật được xem như đã hòa quyện cùng với tinh thần dân tộc của người dân Việt, vì lẽ đó Phật giáo vẫn tiềm tàng trong mọi giới chờ một ngày thuận duyên sẽ đơm hoa kết trái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu – Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi- NXBTPHCM-1996.
2. Thích Minh Châu – Trung bộ kinh III – Tu thư Đại học Vạn Hạnh – 1975.
3. Thích Thanh Kiểm dịch – Khoá hư lục – Thành hội Phật giáo TPHCM 1992.
4. Nguyễn Lang –Việt nam Phật giáo sử luận –Tập 1, 2 NXB Văn học Hà Nội – 1994.
5. Nguyễn Công Lý – Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý, Trần – NXB Văn hoá thông tin.
6. Nguyễn Công Lý –Văn học Phật giáo thời Lý,Trần. Diện mạo và đặc điểm – NXB Đại học Quốc gia TPHCM.
7. Nguyễn Văn Mạnh –Lý luận và lịch sử Tôn giáo. Trung tâm đàotạo từ xa. Đại học Huế 2002.
8. Trần Tuấn Mẫn dịch – Đạo Phật ngày nay – Viện nghiên cứu Phật học – 1997.
9. Thích Minh Tuệ –Lược sử Phật giáo Việt nam – Thành hội PGTPHCM –1993.
10. Lê Mạnh Thát. Chân Nguyên thiền sư toàn tập, tập 1, Tu thư Vạn Hạnh, Tp.Hồ Chí Minh, 1980.
11. Thích Thanh Từ. Thiền tông bản hạnh giảng giải. Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1998.
12. Lê Mạnh Thát. Chân Nguyên thiền sư toàn tập, tập 1, Tu thư Vạn Hạnh, Tp.Hồ Chí Minh, 1980.
13. Thích Thanh Từ. Thiền tông bản hạnh giảng giải. Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1998, tr.271-272.
Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015
TRÌNH BÀY THUYẾT LINH HỒN CỦA CÁC TÔN GIÁO
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Linh hồn Quan niệm của Thiên Chúa giáo:
1.1. Một vài suy nghĩ:
1.2. Giả thuyết của sự bất tử của linh hồn:
2. linh hồn dựa theo thuyết Phật giáo:
2.1. linh hồn trong phật giáo có hay không?
3. Linh hồn tồn tại hay không?
3.1. Những quan điểm về Sự Chết:
3.2. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
4. Các quan niệm về linh hồn:
4.1. Linh hồn ra đời từ đâu?:
4.2. Sự đầu thai của linh hồn:
4.3. Linh hồn và thần kinh bộ não:
4.4. Những kiểm chứng khoa học:
4.5. triết lý nhân sinh và con người:
4.6. Tâm và linh hồn:
4.7. Sự hiểu biết hoàn toàn mới của giới khoa học “linh hồn là bất diệt”
4.8. Giới tu luyện từ lâu đã có luận định “Nguyên thần bất diệt”
5.Liên kết với Thiên thượng:
5.1. Đạo Hin-đu:
5.2. Phật giáo:
5.3. Hồi giáo:
5.4. Cơ đốc giáo- đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
TRÌNH BÀY THUYẾT LINH HỒN
CỦA CÁC TÔN GIÁO
I. DẪN NHẬP:
Cho đến nay, nhiều người vẫn cho là có sự tồn tại của linh hồn và khi con người chết đi, nhưng phần hồn thì vẫn tồn tại. Có hay không có linh hồn? Nếu có thì nó ở dạng thức nào, nó vô hình hay hữu hình? Rất nhiều nhà khoa học đã vào cuộc và đã có rất nhiều nghiên cứu thú vị về vấn đề này.
Bí ẩn về cái chết luôn luôn là nỗi ám ảnh của con người. Từ rất xa xưa, người ta đã muốn khám phá thế giới của con người sau khi chết. Thế nhưng trước đây, đi vào lĩnh vực ấy, chủ yếu chỉ có hai con đường: triết học và tôn giáo. Từ thế kỷ XVI đến nay, vấn đề được xét dưới một khía cạnh mới mang sắc thái sinh lý, sinh vật và y học. Từ hơn 100 năm trước, những hiện tượng tâm linh được nhìn dưới góc độ khoa học. Loại nghiên cứu này được gọi là tâm linh học với nhiều tổ chức như Hội điều tra tâm linh của Đại học Cambride thành lập từ thập nhiên 1850. Gần đây, tên gọi tâm linh học được thay thế bằng siêu tâm lý học (Parapsychology). Một trong những vấn đề được ngành siêu tâm lý học quan tâm là những kinh nghiệm kỳ lạ thoát ly thân xác và thể nghiệm cận kề cái chết. Các nhà khoa học ngày càng thu thập được nhiều bằng chứng về linh hồn và cuộc sống sau cái chết. Nhưng những bằng chứng này chẳng bao giờ đủ để khẳng định linh hồn thực sự tồn tại.
II. NỘI DUNG:
1. Linh hồn Quan niệm của Thiên Chúa giáo:
Truyền thống Thiên Chúa giáo tin vào cả Cựu và Tân ước. Trong Cựu ước, khởi nguyên là Thánh kinh của người Do Thái, không có quan niệm rõ ràng về đời sống sau khi chết. Nói chung, người ta nghĩ rằng họ sẽ đi đến âm ty - nơi yên nghỉ cuối cùng - hay rằng họ sẽ yên nghỉ cùng với cha ông hay tổ tiên của họ. Con người không bị phân biệt là có đức tin hay không có đức tin, mà các bản văn hình dung con người của Israel cổ đại như là một khối.
Tân ước, được tạo lập bên trong Thiên Chúa giáo (Christianity), chủ trương rằng, dựa vào niềm tin của một người vào Chúa Giê-su (Jesus) như là Chúa cứu thế của loài người, người ta sẽ được lên thiên đường hay xuống địa ngục. Những khái niệm này đã tạo cơ sở cho việc truyền bá phúc âm Thiên Chúa giáo đến tận ngày này. Truyền thống Công giáo (Catholicsm) đã bổ sung thêm khái niệm chuộc tội mà nó làm giảm bớt đi độ mạnh của các khái niệm thiên đường và địa ngục. Có một con đường đi đến thiên đường thông qua việc thanh tẩy ở nơi sự chuộc tội với sự trợ giúp của gia đình hay bằng hữu đối với người chết.
Trong phát triển về sau của Do Thái giáo, sự tách biệt giữa thiên đường và địa ngục đã giúp giải quyết câu hỏi về số phận của những cựu thù của Israel và mang sự công bằng đến cho những người Do Thái mà họ đã chịu sự lưu vong và rời xa quê hương của họ. Có một sự phán quyết sau cùng, sau một cuộc phục sinh tập thể, ở đó tất cả những cựu thù của họ sẽ nhận lấy những thưởng phạt công bằng của họ. Điều này đi đến một đặc điểm quan trọng trong quan niệm của Thiên Chúa giáo, cho dù tương quan với niềm tin hay bác bỏ Chúa Giê-su. Ở đó, trọng tâm của niềm tin người Do Thái là tập trung nhiều hơn vào con người như một khối, còn quan điểm của Thiên Chúa giáo tập trung vào niềm tin hay không tin thuộc cá nhân. Niềm tin của Hồi giáo chịu ảnh hưởng giáo lý Thiên Chúa giáo và tập trung vào cá nhân.
Một khía cạnh của niềm tin Thiên Chúa giáo là rằng sau sự phục sinh về thể xác và sự phán xét cuối cùng, những người ác sẽ bị ném vào một hầm lửa vĩnh viễn. Những tín đồ sẽ được đưa lên thiên đường và ở đó họ sẽ sống vĩnh hằng với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, sự lan tỏa của Thiên Chúa giáo vào thế giới Hy-La ở Địa Trung Hải đã đưa đến những thay đổi trong khái niệm về đời sống sau khi chết. Quan niệm của người Do Thái đã ủng hộ một sự phục sinh và phán xét. Những người đã chết nằm chờ trong mồ của họ cho đến khi có lời gọi của Thiên Chúa đánh thức họ khỏi giấc ngủ để đối diện với sự phán xét. Thiên Chúa giáo ban đầu đã sống trong sự mong chờ lần đến thứ hai của Chúa Giê-su và một sự phục sinh tập thể và sự phán xét sau cùng.
Tuy nhiên, quan niệm Hy Lạp đã duy trì niềm tin vào một linh hồn bất tử mà, khi thân xác bị hủy hoại, sẽ sống vĩnh hằng ở trong một thiên đường hạnh phúc. Sự hiểu này dần được sáp nhập vào trong Thiên Chúa giáo với niềm tin vào sự bất tử sau cái chết mà nó vượt qua quan niệm về phục sinh. Bây giờ nó hoàn toàn là niềm tin chung rằng khi người ta chết, họ lập tức lên thiên đường với Chúa Giê-su và những người thân yêu của họ. Tuy nhiên, niềm tin vào lần đến thứ hai của Chúa Giê-su và một sự phán xét cuối cùng, mà nó hàm ý sự phục sinh, vẫn tiếp tục tồn tại.
Một vấn đề khác ở trong niềm tin vào đời sống sau khi chết của Thiên Chúa giáo là vấn đề trừng phạt đối với tội phạm. Không có sự phân chia hay mức độ nào ở trong khái niệm địa ngục. Bất chấp sự thật rằng những điều xấu ác hay tội lỗi mà những người bất tín phạm phải khác nhau ở mức độ và kiểu thức, sự trừng phạt là không thay đổi đối với những người bất tín và tất cả đều nhận chịu sự trừng phạt như nhau. Việc bị giáng xuống địa ngục là vĩnh viễn mà không bao giờ có sự kết thúc.
1.1. Một vài suy nghĩ:
Tất cả giáo huấn của Chúa Giêsu, chủ yếu tập trung nơi chính thân phận con người đang sống, để làm sao đạt được ơn cứu độ. Các vấn đề khác, tuỳ mức độ cần thiết trong tương quan đến chủ đích ấy, được mặc khải hay không và mặc khải ít hay nhiều.
Giáo lý về các linh hồn (hiểu như là các hữu thể tồn tại từ con người sau khi đã chết) cho biết một số chân lý nào đó về số phận các linh hồn, nhưng cũng không bao giờ giải thích tường tận được theo logic mà con người đang dùng hôm nay. Thí dụ: Trong thế giới thiêng liêng có thời gian hay không? Linh hồn là hữu thể thiêng liêng, vậy có thay đổi không? Thời gian trong Luyện Ngục là gì? Cũng thế, nhiều giáo phái Kitô Giáo vẫn còn tranh luận về vấn đề hiện hữu của Hỏa Ngục, vì đối chiếu với tính nhân từ yêu thương vô hạn của Thiên Chúa... Việc các linh hồn mồ côi cũng thế. Nếu vẫn muốn hiểu theo cái logic của conngười đang dùng, thì vẫn còn nhiều điểm để tranh luận, chẳng hạn:
Chúa chẳng là Cha nhân từ đủ cho các linh hồn hay sao lại để phải có những linh hồn mồ côi?
Trong thế giới do chính Thiên Chúa làm Vua, lại còn có những phần tử thất thế, thua thiệt, côi cút, cần phải được con người thế trần đặc biệt chiếu cố?
Trong nơi không còn tội lỗi, chỉ có tình thương như Luyện Ngục, các linh hồn ‘giàu có’ có san sẻ với các linh hồn cô độc không? vv...
Tuy nhiên, về mặt luận lý, không bàn đến tín lý, thì cũng có thể đi từ ‘đầu kia’, nghĩa là các lập luận đã dẫn trên, để đến kết luận là cần cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Điều này cũng tương tự như lập luận giải thích các mầu nhiệm khác thôi. Hơn nữa, đặc tính của Giáo Hội Công Giáo là thông công. Chính do đặc tính này mà mọi người được tha tội, thánh hoá và cứu độ nhờ vào Đầu là Chúa Giêsu Kitô. Do đó, Chúa muốn mọi chi thể phải luôn hợp thông với nhau bằng Đức Ái. Đối với các linh hồn, đức ái trọn vẹn thể hiện qua việc hợp thông với những linh hồn mồ côi. Cũng như trên trần thế, Đức Ái đặc biệt thể hiện qua những người ‘nghèo khó và bé nhỏ’.
1.2. Giả thuyết của sự bất tử của linh hồn:
Nó thật sự bất tử của linh hồn, hay là một ảo ảnh? Những gì cho chúng ta biết điều này trong tâm trí Kinh Thánh?
Nhiều nhà thờ đã lấy học thuyết ngoại đạo của cái chết. Họ tin rằng sau khi chết chỉ là một cuộc sống mà linh hồn là bất tử. Nhiều người tin rằng sau khi chết một người ngay lập tức bước vào thiên đường hay địa ngục, nơi họ đốt cháy trong lửa đời đời. Bạn có thực sự nghĩ rằng Thiên Chúa như vậy là độc ác? Thiên Chúa yêu thương chúng ta để Ngài gửi con trai của ông rằng Chúa Giêsu Kitô đã chết cho chúng tôi và lưu chúng tôi. Cha trên trời của chúng ta yêu thương chúng ta và sẽ không bao giờ có cam kết như một bệnh trạng. Kinh Thánh nói rõ ràng những gì đang xảy ra với người đàn ông sau khi ông chết. Sau cái chết của một người đàn ông đang ngủ cho đến khi Coming thứ hai của Chúa Giêsu Kitô. Không nhìn thấy, cảm thấy, và không có gì làm phiền anh bất kỳ đau đớn.
Hãy tưởng tượng nếu mẹ của chúng ta chết và đi vào ngay lập tức sau khi chết lên thiên đàng. Sẽ được bao quanh bởi vẻ đẹp không thể tưởng tượng nhất và tình yêu. Vấn đề xảy ra khi bạn cần phải nhìn vào đất nước này. Sẽ tìm đến bạn thân yêu và quý giá trong thế giới này của bạn cô yêu. Xem tất cả những đau khổ và đau đớn, và cuối cùng là nỗi đau của căn bệnh chết của bạn, mà sẽ không thể ngăn chặn. Bạn có nghĩ rằng mẹ của bạn sẽ thực sự hạnh phúc không? Chắc chắn không. Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng Kinh Thánh nói rõ ràng rằng sau cái chết của một người đàn ông đang ngủ, nghỉ ngơi cho đến khi có công lý.
Những người được xác định để chết một lần, và sau đó chờ xét xử.
Học tập về sự bất tử của linh hồn, không phải Kinh Thánh, nó không phải là từ Thiên Chúa. Nó là một học thuyết ngoại đạo đó là dần dần leo vào Kitô giáo. Nó rất spiritualist cám dỗ mà Satan đã chuẩn bị cho chúng ta. Kinh Thánh là linh hồn từ năm 1600, nhưng không nơi nào là từ kết hợp với các bất tử từ. Sự bất tử của linh hồn là việc học ngoại giáo, được lấy từ Babylon, Ai Cập, Rome. Dân ngoại tin rằng linh hồn sống trên.
Đức Chúa Trời sau khi chết, hãy nhập danh tính của chúng tôi, cá tính của chúng tôi, và bạn chuyển sang bụi. Vì nó đã được tạo ra từ bụi của đất nước chúng tôi, và lần lượt để bụi. Bạn ngủ và nghỉ ngơi, không có gì làm phiền ông.
2. linh hồn dựa theo thuyết Phật giáo:
Đầu tiên, các bạn luôn cho rằng linh hồn là 1 cái gì đó mờ ảo, có nhiều người cho là nó ko có thật, thực tế linh hồn nó chẳng là gì cả mà nó chính là nhận thức (ý thức) của các bạn. Bạn nghĩ cơ thể ta hoạt động là do bộ não điều khiển, điều đó là đúng nhưng Phật Thích Ca còn hiểu rộng hơn, đó chính là do nhận thức của chúng ta điều khiển bộ não, bắt bộ não điều khiển các chi các khác hoạt động theo ý muốn của nhận thức của chúng ta.
Đó là tại sao Đức Phật nói cơ thể là vô thường, vì bộ não ko phải là của ta, mà cái thật sự mà ta có thể điều khiển suốt 100% chính là nhận thức cũng chính là linh hồn chúng ta. Tai sao lại nói như vậy, các bạn có bao giờ thấy đôi lúc mình bỗng nhiên có những cử chỉ, lời nói hay hoạt động mà chúng ta ko thể kiềm chế, hoạt bỗng dưng cơ thẻ lại tự làm vài động tác trong chốc lát mà bạn biết rằng mình ko hề có ý định làm như vậy. Những lúc đó chính là lúc bộ não hoạt động ko dựa trên chỉ thị từ nhận thức, khi đó người ta gọi những hoạt động đó là vô thức, tức là ta ko làm nhưng cơ thể nó tự làm, diều này lý giải 1 số người hay bị mộng du trong khi ngủ, hoặc khi ngủ ta có những hoạt động ko phải do ta muốn, vì khi ngủ con người rơi vào trạng thái vô thức, lúc này bộ não vẫn hoạt động bình thường, và nó tự điều khiển cơ thể của ta theo ý của bộ não đưa ra, tại sao bộ não lại tự ý làm việc đó là do nó bị tác động bởi thói quen hằng ngày mà nhận thức của ta bắt nó phải làm.
Ví dụ nhé: khi ta cố thức dậy vào lúc 5h mỗi ngày, cứ kéo dài 1 tuần, qua ngày thứ 8 thì ta tự dưng đúng 5h ta thức, theo khoa học gọi đó là đồng hồ sinh học, nhưng trước đó nhận thức của ta bắt bộ não điều khiển cơ thể ta thức dậy vào lúc 5h, điều này kéo dài liên tục, đến khi nhận thức của ta ko điều khiển bộ não như thế nữa thì tự khắc nó sẽ hiểu đúng 5h nó sẽ tự điều khiển cơ thể ta thức dậy lúc 5h, mặc dù có nhiều lúc ta ko hề muốn như vậy.
Nhiều người cho rẳng linh hồn có hình dáng như cơ thể ta, thực tế đó là do nhận thức của ta nghĩ ra như vậy vì nhận thức nó ko hề có hình dạng nói chính xác hơn nó ko phải là vật hữu hình. Đây là điều tuyệt vời của tạo hóa tạo cho chúng ta. Vì khi bộ não chết nhưng nhận thức vẫn ko chết vì nó ko phải là vật hữu hình cho nên nó ko chịu tác động của bên ngoài cũng như của thời gian.
Điều mà Đức Phật làm chính là ngài luyện tập làm sao để cho nhận thức của ngài ko phụ thuộc vào bộ não, cho nên dù khi bộ não có chết nhận thức của ngài vẫn tồn tại, đây chính là cảnh giới tối cao khi mà con người có thể nhận thức được sự sống và cái chết. Cho nên tại sao Đức Phật nói cơ thể là vô thường là vì vậy, vì ngài chỉ cần điều khiển được linh hồn của mình, vì linh hồn ko cần ăn, cũng ko thấy đau đớn và nó luôn tồn tại nếu ta nhận thức ra điều đó.
Khi sinh ra chúng ta vô tình để linh hồn mình lệ thuộc vào cơ thể, mỗi khi ta đói ta thấy khó chịu, thực tế linh hồn là nhận thức, nó ko thấy khó chịu, khó chịu ở đây là do bộ não sinh ra và linh hồn ta cảm nhận được sự khó chịu từ bộ não. Trải qua mấy chục năm sinh sống dần dần linh hồn và cơ thể hòa lại làm 1 và lúc này mọi tác động bên ngoài khiến ta cảm thấy đau đơn từ đó sinh ra sự sợ hãi, nhưng ta ko biết rằng những điều đó điều là do các dây thần kinh đưa đến bộ não chính bộ não nó sợ hãi, nó thấy đau đớn chứ ko phải là nhận thức của ta thấy như vậy.
Giống như ta gần gũi ai đó quá lấu, ta sinh ra tình cảm với họ, thì khi họ khó chịu, họ đau đớn thì bản thân ta cũng sẽ có những cảm giác như của họ, thì sự liên quan giữa cơ thể và linh hồn cũng y như vậy.
Cho nên khi bạn nhận thức ra được rằng linh hồn của ta là bất tử (có thể tạm nói thế) thì khi đó bạn sẽ ko cần phải ăn, ko cần uống cũng ko thây đau đớn xác thịt, vì lúc này nhận thức đã hoạt động riêng lẽ với cơ thể, chính xác hơn là hoàn toàn độc lập tự chủ với bộ não chúng ta, thì khi đó cũng là lúc bạn ko còn sợ cái chết, vì khi chết những cái hữu hình chết chứ nhận thức của bạn ko chết. Đây chính là cảnh giới luyện tập cao nhất mà trước giờ chỉ mỗi Đức Thích Ca luyện tập được.
Đó là khi nhận thức của người sống nói chuyện với nhận thức của người chết mà ko cần thông qua não bộ. Vì khi chết cơ thể hoàn toàn mất hoạt động đồng nghĩa não bộ dừng hoạt động tuy nhiên vẫn còn nhận thức của người đó, vì vậy người khi chết họ mới có thể điều khiển nhận thức của họ riêng lẻ độc lập, còn người sống thì quá phụ thuộc vào cơ thể nên chỉ có những ai có thể điều khiển được nhận thức riêng lẻ với cở thể mới có thể trò chuyện được với người đã mất. Điều này bản thân các bạn cũng có thể đôi lúc gặp phải, nhất là những người đang tu Thiền Định, vì Thiền Định là cách hay nhất giúp ta có thể điều khiển được nhận thức 1 cách chính xác nhất. Khi Thiền Định toàn bộ cơ thể bất động, khi đó năng lượng sẽ được dồn vào sự tách rời giữa nhận thức và não bộ của thể, đến mức cao nhất là bạn có thể dùng nhận thức của mình làm bất cứ điều mình muốn mà ko cần quan tâm đến cơ thể của mình chính là lúc nhận thức của bạn được giải phóng.
Để đạt những điều này phải cần sự luyện tập rất cực nhọc trong thời gian rất dài, nhất là những ai có tuổi đời càng cao có nghĩa là họ đã lệ thuộc vao cơ thể quá lâu thì họ luyện tập sẽ lâu hơn người nhỏ tuổi.
Trở về thời xưa, thì minh thấy Phật Thích Ca là 1 nhà tâm lý học có tài, nhưng do những gì ông ấy làm được trong thời xa xưa nên moi người tôn vinh ông ấy như thần thánh, thực tế điều này ai cũng có thể làm vấn đề là bạn có quyết tâm hay không, nhưng cũng không thể phủ nhận 1 điều là nhờ có những kiến thức của Phật Thích Ca để lại mà mình mới tìm hiểu ra được cái gì là vô thường.
Đừng bao giờ nghĩ cơ thể vô thường mà ta bỏ mặc nó, vì nó là phương tiện duy nhất cũng như hữu hiệu nhất để ta có thể luyện tập tách rời nhận thức và cơ thể, đừng vì nó là vô thường mà ta không quan tâm đến nó vì hiện nay bạn chưa thể luyện tâp được cách song độc lập khi thiếu cơ thể của bạn được.
2.1. linh hồn trong phật giáo có hay không?
Trước hết, Phật giáo không bác bỏ linh hồn, nếu linh hồn được hiểu đơn giản như là phần phi vật chất trong mỗi con người.Trong thuyết cơ bản của Phật giáo, như thuyết năm uẩn, phân tích người là một tập hợp năm uẩn (sắc,thọ, tưởng,hành, thức).Trong 5 uẩn thì chỉ có sắc uẩn là vật chất, còn 4 uẩn còn lại đều là phi vật chất, hay là thuộc phạm trù tinh thần.
Một cách phân tích khác, ngược với cách phân tích 5 uẩn là chia sắc uẩn thành bốn yếu tố : địa, thủy, hỏa, phong gọi là bốn đại và tập hợp các yếu tố phi vật chất hay tinh thần thành một nhóm, gọi chung là thức hay thức đại (địa, thủy, hỏa, phong, thức). Như chúng ta thấy qua bài thơ của Thiền sư Đạo Huệ thời Lý:
Địa, thủy, hỏa, phong, thức.
Nguyên lai nhất thiết không
Như vân hoàn tụ tán
Phật nhật chiếu vô cùng
Sắc thân dự diệu thể
Bất hợp bất phân ly
Nhược nhân yếu phân biệt
Lô trung hoa nhất chi
Dịch ý
Đất, nước, lửa, gió, thức
Vốn tất cả đều là không
Cũng như mây hợp rồi tan
Còn mặt trời Phật thì chiếu vô cùng
Sắc thân và diệu thể
Không hợp cũng không chia ly
Nếu người muốn phân biệt
Thì cũng như hoa sen trong lò lửa.
Bài thơ thiền của Thiền sư Đạo Huệ cũng giúp trả lời phần nào thắc mắc "có linh hồn trong con người hay không ?" Điều mà chúng ta tưởng tượng là ở trong chúng ta có một linh hồn bất tử, linh thiêng, đồng thời cũng là cái ta tư duy, cảm thọ, tưởng tượng, ý chí quyết định làm việc này việc khác, phân biệt, hiểu biết.v.v...Chúng ta không biết là ngay trong sự tưởng tượng của chúng ta đã có điều mâu thuẫn, vô lý, phản lô-gích rồi, và chính đạo Phật bác bỏ cấu trúc tưởng tượng mâu thuẫn, vô lý và phản lô-gích đó của chúng ta.
Đạo Phật đặt câu hỏi: "Một linh hồn tưởng tượng là linh thiêng, là bất tử, không thay đổi, đồng thời cũng là cái ta tư duy, cảm thọ, tưởng tượng, quyết định làm việc này hay việc khác, phân biệt hiểu biết...
Đã có tư duy thì có tư duy sai hay đúng, cũng như đã có cảm thọ thì có vui, buồn, thích hay không thích, ghét hay yêu. Đã có phân biệt hiểu biết thì cũng có phân biệt hiểu biết sai hay đúng, làm sao một cái ta linh thiêng, bất tử và bất biến lại có thể tư duy đúng sai, cảm xúc vui buồn, yêu ghét, phân biệt và phán xét có thể chính xác mà cũng có thể sai trái?
Khi xác nhận ta có một cái Ta kiểu như Atman của Ấn Độ giáo, hoàn toàn sáng suốt và tối thiện ở trong mỗi người chúng ta, thì lập tức sa lầy vào mâu thuẫn trùng trùng điệp điệp như đã phân tích trên đây. Chính vì vậy mà Phật giáo bác thuyết Atman, tức là thuyết cái Ta của Ấn Độ giáo. Quan điểm phủ định đối với thuyết Atman rất là rõ trong nhiều kinh Phật Nguyên thủy, như Trường Bộ tập III, Trung Bộ tập I. Trong những kinh đó, thường gặp đi gặp lại như một điệp khúc, khi nói tới năm uẩn : "Sắc không phải là ta, ta không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của ta..."Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng đều lặp đi lặp lại điệp khúc như vậy. "Phải chăng là thích hợp khi xem cái vô thường, đau khỗ, bị thay đỗi như là tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi".
Vậy thì qua những kinh Phật đã dẫn, chúng ta phải hiểu đích thực Đức Phật bác bỏ cái gì trong thuyết linh hồn hay là thuyết Atman ? Cái mà đạo Phật bác là linh hồn hay Atman được tưởng tượng như một cái gì siêu nhiên, bất tử, bất biến. Đức Phật không muốn đệ tử Ngài mất thì giờ vào những tư biện siêu hình như vậy, cũng không khác gì tư biện siêu hình về thế giới là vĩnh hằng hay sinh diệt, là hữu biên hay vô biên...
Theo cách phân tích của đạo Phật, thì cái gì đã là vĩnh hằng, bất biến như cái linh hồn tưởng tượng của chúng ta thì làm sao chúng ta lại có thể trừ bỏ điều ác, hướng tới điều lành được, làm sao tâm ý chúng ta từ dơ bẩn lại có thể trở thành trong sạch, thanh tịnh ? Theo cách nhìn của Phật giáo, thì trong con người chúng ta, dù là thành phần vật chất như sắc thân (tức sắc uẩn), dù là thành phần phi vật chất như thọ, tưởng, hành, thức, tất cả đều là vô thường, và chính vì là vô thường nên hàm chứa một khả năng tiến bộ vô tận. Nói ra thì có vẻ như mâu thuẫn, nhưng chính lô-gích của cuộc sống là như vậy đó.
Ở trong con người, có thể nói, mối quan hệ phức tạp, khó phân tích nhất là mối quan hệ giữa thân và tâm. Đó là một câu hỏi, trong số 14 câu hỏi mà Phật không trả lời. Ở trong con người, thân và tâm là một hay là hai ?
Vì sao ? Vì khi nói tâm là nói tâm nào. Nếu đó là cái tâm thức tư duy cảm thọ bình thường, thì ngay trong câu đầu tiên của bài thơ thiền của Đạo Huệ, chúng ta thấy rõ, tất cả 5 uẩn, trong đó có thức uẩn, đều là vô thường. Như vậy là theo đạo Phật, tất cả mọi thành phần dù là vật chất hay phi vật chất ở trong chúng ta cũng đều là vô thường, và vì là vô thường cho nên cũng là không rỗng, vô ngã, là "nguyên lai nhất thiết không"
Đồng thời Đạo Huệ cũng nói đến chân tâm hay diệu thể, ở "trong chúng ta" mà, sách Phật thường nói là "không thể nghĩ bàn", siêu việt ngôn ngữ và tư duy bình thường, cho nên Đạo Huệ miễn cưỡng nói "bất hợp, bất phân ly" hay là "lô trung hoa nhất chi" (hoa sen trong lò lửa). Thật ra, nói chân tâm nằm ở trong thân, cũng như nói hoa sen ở trong lò lửa, cũng là nói miễn cưỡng, nói điều không thể nói, đáng lẽ nên im lặng không nói gì hết, như Phật đã từng như vậy khi có người hỏi Phật là thân với tâm là một hay là hai. Chân tâm hay diệu thể (từ của Thiền sư Đạo Huệ), hay diệu tánh (từ của Thiền sư Ngộ Ấn thời Lý) đều là cái chân lý tối hậu mà chúng ta chỉ có thể qua trực cảm huyền nhiệm (mystic intuition- xem cuốn Buddhist Logic tập I bản Anh ngữ của viện sĩ Nga Scherbatsky, tr 63) để biết được mà thôi, còn nếu chỉ bàn luận và tư biện dù là tư biện theo chiều sâu cũng chỉ là mất công, mất sức mà thôi. Bản thân Đức Phật đã từng dùng ảnh dụ người mù sờ voi để phê phán như là vô ích mọi công phu tư biện và tranh luận để nắm bắt chân lý tối hậu. Ở đoạn trước, tôi đã dẫn chứng bài thơ thiền của Đạo Huệ. Thiền sư Ngộ Ấn, cũng ở đời Lý và có một ý tương tự :
3. Linh hồn tồn tại hay không?
Không tin. Phật giáo không tin là có một linh hồn vĩnh hằng, bất biến. Nếu tin có linh hồn như vậy, thì đó là "thần ngã ngoại đạo", không phải là người Phật tử chính tín.
Đúng là trong quan niệm của người bình thường, trừ những người theo duy vật luận ra, còn thì ai cũng cho rằng mỗi người đều có một linh hồn vĩnh hằng bất biến, gần đây, ở Âu Mỹ, có lập ra "Linh tri học hội", đối tượng nghiên cứu của Hội là linh hồn. Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Lão giáo v.v… đều là những tôn giáo ít nhiều tin tưởng có linh hồn, cho rằng người ta làm thiện hay ác, sau khi chết đi, sẽ bị Thượng Đế hay Diêm Vương phán xử, người tốt thì linh hồn lên thiên đường, người xấu thì linh hồn đọa địa ngục.
Ở trong dân gian Trung Quốc, sự mê tín linh hồn có gốc rễ rất sâu bền, lại còn thêm sai lầm to lớn này nữa là người Trung Quốc tin rằng, sau khi người chết linh hồn biến thành quỷ. Linh hồn là quỷ, trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, là cả một mớ mê tín lớn và bùng nhùng khó gỡ ra được. Điều đáng buồn cười là vì quỷ có chút ít thần thông cho nên lại cho rằng linh hồn là một vật tập hợp của "3 hồn 6 phách".
Kỳ thực, quỷ chỉ là một trong 6 loại chúng sinh cũng như người là một trong 6 loại chúng sinh không khác. Sinh làm người, có sống có chết. Sinh làm quỷ, cũng có sống có chết. Nhưng người sinh từ bào thai, còn quỷ là hóa sinh. Huống hồ, người chết rồi vị tất đã làm quỷ. Vấn đề này, sẽ được bàn rõ trong một tiết khác.
Đối với linh hồn, ở Trung Quốc có rất nhiều truyền thuyết, hoặc cho rằng, trong việc sống chết của người, linh hồn có một tác dụng bắc cầu. Linh hồn đầu thai là sinh, linh hồn tách rời thân xác là chết, xem quan hệ giữa linh hồn và thân xác giống quan hệ giữa chủ hộ và nhà cửa. Nhà cũ, hư nát thì dọn đến nhà mới, nhà mới thay nhà cũ, thay đi thay lại, chủ hộ đi đi lại lại nhưng vẫn vĩnh hằng bất biến. Tức là nói con người là linh hồn, đắp thêm cái áo thân xác. Thân xác có thể thay đổi, còn linh hồn là bất biến, là chủ thể trong dòng lưu chuyển sinh tử.
Trên sự thực, Phật giáo không công nhận những quan niệm về linh hồn như vậy, vì những quan niệm đó không thể đứng vững với thuyết duyên sinh, duyên diệt của đạo Phật. Trên quan điểm sinh diệt vô thường, Phật giáo xem tất cả mọi sự vật đều sinh diệt vô thường. Trong cả hai thế giới vật chất và tinh thần, đều sinh diệt vô thường. Dùng mắt thịt mà nhìn sự vật, thì đôi khi nhìn thấy có sự vật không biến đổi, nhưng nên dùng dụng cụ khoa học tinh vi để nhìn, thì thấy không có sự vật nào là không biến đổi trong từng giây phút một. Kinh Dịch nói "sinh, sinh", nhưng kỳ thực, ở đàng sau "sinh, sinh" là "tử, tử", tức là biến biến, hóa hóa.
Hiện tượng vật lý trong thế giới vật chất, là sinh diệt không ngừng. Hiện tượng tâm lý tinh thần lại càng dễ quan sát. Là bởi vì, hiện tượng tâm lý nảy sinh là do tinh thần biến động. Hiện tượng tâm lý biến động, dẫn tới hành vi thiện, ác. Hành vi thiện ác ảnh hưởng trở lại khuynh hướng tâm lý, tiền đồ của chúng ta, tương lai của chúng ta được quy định bởi tác dụng tuần hoàn đó của tâm lý ảnh hưởng tới hành vi, và hành vi ảnh hưởng trở lại tâm lý.
Thử hỏi : Làm sao có thể có linh hồn bất biến, linh hồn vĩnh hằng ? Dường như là không thể có được, không những người chết rồi, không có linh hồn cố định, mà ngay khi còn sống, thân tâm chúng ta đều biến đổi không ngừng trong từng phút giây một. Thế nhưng, Phật giáo đã không tin có linh hồn, thì bản thể của việc luân hồi trong sáu cõi và siêu phàm nhập thánh là gì ? Hay nói cách khác, cái gì "luân hồi", cái gì "siêu phàm, nhập thánh" ?
Đây chính là điểm ưu việt đặc thù của Phật giáo, vừa không xem trọng giá trị vĩnh cửu của tự ngã, lại vừa khẳng định giá trị hướng thượng của tự tính.
Phật giáo chủ trương thuyết "nhân duyên sinh" và "tự tính vốn là không" (tự tính bản không).
Phật giáo xem vật chất là nhân duyên sinh, xem tinh thần cũng là nhân duyên sinh. Nhân duyên tụ hội gọi là sinh, nhân duyên ly tán, gọi là diệt. Lớn như một tinh cầu, một thiên thể cho đến cả thế giới vũ trụ, nhỏ như một sợi cỏ, một hạt bụi, một nguyên tử… không có một sự vật nào là không do nội nhân, ngoại duyên hội tụ mà tồn tại.
Nếu loại bỏ nhân và duyên ra, không có một sự vật nào có thể tồn tại được. Vì vậy, nếu xét trên căn bản, thì không có một sự vật nào hết. Về vấn đề này, các nhà khoa học vật lý và hóa học, có thể cung cấp cho chúng ta câu trả lời chính xác và chính diện.
Còn tinh thần là gì ? Phật giáo tuy bác thuyết linh hồn, nhưng không phải là theo duy vật luận. Cái gọi là tinh thần thì Phật giáo gọi chúng bằng danh từ "thức". Phật giáo Tiểu thừa chỉ nói sáu thức, và lấy thức thứ 6 (đệ lục thức) làm chủ thể của sinh mạng. Phật giáo Đại thừa nói thêm hai thức nữa, tổng cộng có tám thức, và lấy thức thứ tám (đệ bát thức) làm chủ thể của sinh mạng. Ở đây, chỉ giới thiệu thuyết tám thức của Đại thừa.
Trong 8 thức của Đại thừa, thì sáu thức đầu giống như sáu thức của Tiểu thừa, và phân tích sâu hơn công năng của thức thứ sáu, nhận ra thêm thức thứ bảy và thức thứ tám.
Trên thực tế, chủ thể của 8 thức chỉ có một, nhưng do phân tích công năng mà chia thành tám. Làm ác, làm thiện là bảy thức đầu, và đem các nhân thiện, ác đó ký gửi ở thức thứ tám. Thức thứ tám là cái kho tàng chấp chứa tất cả hạt giống của nghiệp, tất cả nghiệp nhân. Người tổng quản của kho tàng là thức thứ bảy. Lấy của ra, đưa của vào kho là thức thứ 6, còn 5 thức đầu là tạo nghiệp.
Như vậy công năng của thức thứ tám là tàng trữ, nhưng không giống như ông Thần tài giữ của, chỉ nhập mà không xuất kho, ở kho tàng thức thứ tám, tình hình xuất và nhập kho nối tiếp không ngừng, nhập kho là các hành vi ảnh hưởng đến tâm lý, và để lại dấu ấn trong thức thứ tám gọi là nghiệp nhânhay chủng tử. Còn xuất kho là tâm lý dẫn tới hành vi tạo nghiệp hay cảm thụ, gọi là nghiệp quả hay hiện hành. Chủng tử thành hiện hành, đó là xuất. Hiện hành thành chủng tử đó là nhập. Trong một đời, tình hình là như vậy. Trong 2, 3 đời hay là vô số đời liên tiếp, tình hình cũng là như vậy. Tất cả mọi diễn biến nhân quả trong đời hiện tại cũng như trong vô số đời quá khứ và đời vị lai, tình hình cũng đều như vậy, đều không ra ngoài quy luật quan hệ giữa chủng tử và hiện hành. Do đó mà có tinh hình sinh tử tương tục, sinh mạng nối tiếp không ngắt đoạn.
Do quan hệ xuất nhập của chủng tử và hiện hành, tiến hành thường xuyên không ngắt đoạn như vậy, cho nên bản chất của thức thứ tám cũng là thường xuyên biến động không ngừng. Không những thức thứ tám của đời này, so với đời trước và đời sau là biến động không ngừng mà từ một niệm trước đến niệm sau, đã có biến đổi rồi. Vì tình hình của thức thứ tám là niệm niệm sinh diệt, niệm niệm biến đổi, cho nên chúng ta mới luân hồi sinh tử và đồng thời có khả năng thoát ly sinh tử. Thức thứ tám tồn tại chính là nghiệp nhân và nghiệp quả liên tục tồn tại và biến động. Ngoài sự biến động liên tục của dây chuyền nghiệp nhân nghiệp quả này, không thể tìm đâu ra thức thứ tám ! Cũng như dòng nước chảy, là do nước chảy mà có, không thể tìm đâu ra cái gọi là dòng nước chảy, ở ngoài nước ! Mục đích giải thoát của đạo Phật là cắt đứt dòng chảy sinh tử nhân quả liên tục đó. Khi tác dụng của thức thứ tám không còn nữa, thức thứ tám không còn chấp chứa gì nữa, cũng không còn hiện hành gì nữa, thì thành tựu được "tính không", thức (phiền não) chuyển thành trí (thanh tịnh), không còn bị sinh tử chi phối nữa, và trở thành tự do trong sinh tử.
3.1. Những quan điểm về Sự Chết:
Ai mà chẳng nhớ câu chuyện của nhà truyền giáo Ki Tô ở nước Anh, một buổi chiều kia ông ngồi trong sảnh đường lớn của một vị vua Saxon, bao quanh là những vị bá tước quây quần nghe giảng phúc âm của Đức Thầy mình; khi ông nói tới sự sống, sự chết và sự bất tử thì có một con chim bay vào qua cánh cửa sổ không lắp kính, lượn vòng quanh sảnh đường rồi một lần nữa lại bay ra vào trong đêm đen. Vị tu sĩ Ki Tô bảo vị vua hãy coi chuyến bay của con chim bên trong sảnh đường là cuộc sống phù du của con người và rêu rao đức tin rằng nó cho thấy linh hồn khi ra khỏi sảnh đường của sự sống không vẫy cánh bay vào đêm đen mà lại bay vào ánh sáng mặt trời chói lọi của một thế giới huy hoàng hơn. Xuất phát từ bóng tối qua cánh cửa mở rộng của Sự Sinh ra, cuộc đời của một người đã giáng thế; nó kéo dài một thời gian trước mắt chúng ta; để rồi qua cánh cửa mở rộng của Sự Chết nó lại biến mất khỏi tầm nhìn của chúng ta vào trong đêm tối. Thế là con người cứ thắc mắc mãi với Tôn giáo, Con Người từ đâu đến ? và sẽ đi về đâu ? Những câu trả lời thay đổi tùy theo đức tin. Ngày nay, nhiều trăm năm từ khi Paulinus nói chuyện với Edwin, trong giáo hội Ki Tô có nhiều người thắc mắc liệu con người có hay chăng một tinh thần vốn từ nơi đâu đến đây rồi lại đi đến nơi khác, có lẽ hơn hẳn so với bất kỳ thời kỳ lịch sử nào trên thế giới trước kia đã từng chứng kiến. Và chính những người Ki Tô hữu rêu rao rằng những sự khủng khiếp của Thần Chết đã bị bãi bỏ thì lại bao bọc những nhà táng và mộ phần với những tang lễ u ám và buồn bã hơn những tín đồ thuộc bất kỳ tín ngưỡng nào khác. Còn gì nản chí hơn sự u ám trong một căn nhà mà xác chết đang chờ được đưa ra mộ? Còn gì dễ sợ hơn những bộ áo than khóc bằng nhiễu với màu tối tăm và sự xấu xí có mục đích của cái mũ nặng nề mà người góa phụ đội xùm xụp khi “than khóc” việc chồng mình đã dứt được gánh nặng của xác thịt”? Còn gì bực mình hơn cái khuôn mặt giả vờ dài thuỗn ra của những phu đòn mai táng, những “băng tang ủ rũ”, những khăn tay trắng được sắp xếp cẩn thận và mãi cho tới tận gần đây là những áo tang trông giống như khăn phủ quan tài? Trong vòng vài năm vừa qua đã có nhiều sự thay đổi cải thiện lớn lao đáng kể. Những mũ tang, áo tang và băng tang hầu như đã biến mất. Cái xe tang ma quỉ một cách nực cười hầu như chỉ còn là chuyện của quá khứ và cái quan tài được khiên ra chất đầy hoa thay vì bị quấn trong một cái khăn phủ quan tài nặng nề bằng nhung đen. Những người nam nữ mặc dù vẫn còn mặc đồ đen nhưng không còn cuộn mình trong những bộ tang phục luộm thuộm giống vải liệm đám ma như thể cố ra vẻ khốn khổ mà mình tạo ra bằng cách tự áp đặt lên những điều bất tiện giả tạo. Hoan nghênh óc suy xét phải trái đã truất phế được hủ tục và đã không còn chấp nhận cho thêm những sự phiền toái vô cớ này vào nỗi đau tự nhiên của con người.
3.2. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người:
Ngay từ thời cổ đại, Kinh Vêđa mà trực tiếp là Kinh Upanishad ở Ấn Độ đã lý giải vấn đề này như sau: Brahman(linh hồn vũ trụ) được coi là thần thánh sáng tạo tất cả.Atman (linh hồn của mỗi con người, mỗi cá thể súc vật, cây cỏ, v.v.), là một bộ phận của linh hồn vũ trụ, nên về nguyên tắc nó cũng bất tử như linh hồn vũ trụ. Khi cơ thể sinh vật chết đi, atman sẽ tách khỏi cơ thể và đầu thai sang một cơ thể khác mới sinh ra, tiếp tục cuộc sống ở một kiếp khác. Kiếp sau có thể là người, là súc vật hay cây cỏ. Linh hồn cứ đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác trong một cái vòng tròn lẩn quẩn như vậy gọi là sự luân hồi (samsara: bánh xe quay tròn). Con người chịu hậu quả của hành vi của chính mình gọi là “nghiệp” (karma: hành động). Chính cái nghiệp của kiếp này quy định cuộc sống ở kiếp sau. Để giải thoát khỏi cái vòng luân hồi, nghiệp báo, con người phải dốc lòng tu luyện, từ bỏ ham muốn dục vọng để linh hồn được “siêu thoát”, tức thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể và trở về với linh hồn vũ trụ tối cao, đạt đến hạnh phúc và sự bất tử vĩnh hằng.
Phật giáo ra đời trong phong trào đấu tranh chống đạo Bàlamôn, chống lại sự phân biệt đẳng cấp, đòi bình đẳng xã hội, nên không thể không bác bỏ những luận điểm cơ bản của Kinh Vêđa và Kinh Upanishad (những bộ kinh này là cơ sở giáo lý của Đạo Balamôn, tiền thân của Ấn giáo ngày nay). Đạo Phật không thừa nhận linh hồn vũ trụ tối caoBrahman và linh hồn cá thể bất tử atmam. Theo Đạo Phật, cơ thể của chúng sinh được cấu tạo từ những yếu tố vật chất và tinh thần gọi là ngũ uẩn gồm sắc (tức vật chất gồmđất, nước, lửa, gió) và danh (gồm 4 yếu tố tinh thần: thụ, tưởng, hành, thức). Khi chết, những yếu tố này phân hủy, nên không còn cái atman bất tử. Tuy nhiên, Đạo Phật lại thừa nhận sự tái sinh ở kiếp sau và tiếp thu một số yếu tố của Đạo Bàlamôn, như sự luân hồi, nghiệp báo, sự tu luyện để đạt đến sự giải thoát ở cõi vĩnh hằng. Dù sao Đạo Phật rốt cục cũng cho rằng khi con người tu luyện đắc đạo sẽ đạt tới sự giác ngộ và thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo, lúc đó linh hồn cá thể sẽ hòa nhập vào cõi Niết bàn và trở thành bất tử, vĩnh cửu. Niết bàn là cái gì, cho đến nay cũng chưa ai biết được, có chăng cũng chỉ là sự tranh cãi về lý thuyết mà thôi.
Các tôn giáo như Kitô giáo (Christianity) do Jesus Christos sáng lập đầu Công nguyên và Hồi giáo (Islam) do Môhamet sáng lập vào thế kỷ VII đều tin vào sự bất tử của linh hồn con người. Theo Kitô giáo và Hồi giáo, khi chết cơ thể trở về đất bụi nhưng linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Đến ngày cuối cùng, được gọi là Ngày tận thế (The End of the World) hayNgày phán xử (The Day of Judgement), Thượng đế sẽ phán xét tất cả, cho những ai trong lúc sinh thời đã có lòng tin ở Thượng đế và làm nhiều điều tốt lành sẽ được phục sinh,nghĩa là được sống lại với cả thể xác và linh hồn giống như sự phục sinh của Kitô trước đây, và được lên Thiên đường. Những người khác sẽ bị đày xuống địa ngục vĩnh viễn.
Thiên đường được miêu tả trong Kinh Khải huyền, kinh cuối cùng trong toàn bộ Kinh Thánh của Kitô giáo là Thành phố Giê-ru-sa-lem tráng lệ ở trên trời, có 12 cửa thành, nền và tường thành xây toàn bằng vàng và đủ các loại ngọc quý. Những người được lên Thiên đường sẽ vô cùng hạnh phúc, sẽ trường sinh bất tử, không còn đau khổ, chết chóc. Chúa Giêxu đã mặc khải như sau:
“Tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe phía ngai có tiếng to: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại! Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên- Chúa- ở -cùng- họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”
Thiên đường cũng được mô tả một cách rất cụ thể cảm tính trong Kinh Côran: Đó là một nơi có mùa xuân bất tận, cây cối xanh tốt quanh năm với đủ các loại hoa quả, có các suối nước róc rách. Trên Thiên đường, của cải dồi dào, mọi người tha hồ hưởng vinh hoa phú quý; mỗi bửa ăn có hàng mấy trăm món ăn, thức uống, rượu vang; đặc biệt là có các trinh nữ mắt đen xinh đẹp làm vợ, các chàng trai trẻ làm nô tỳ.
Trong Kinh Kôran có đến 8 chỗ nói về các trinh nữ có mắt đen láy là phần thưởng cho những người Hồi giáo trên Thiên đường. Số lượng trinh nữ được Môhamet xác định là 72. Bin Laden từng hứa hẹn một thiên đường với các cô gái đồng trinh dành cho các phần tử khủng bố cảm tử của mình. Ngày 19 tháng 8 năm 2001, kênh truyền hình Mỹ CBS phát đi một cuộc nói chuyện với một chiến sĩ phong trào HAMAS là Muhammad Abu Wardeh, người đã tuyển mộ các phần tử khủng bố cho các vụ tấn công tự sát ở Israel. Abu Wardeh nói: “Nếu anh là một kẻ tử vì đạo, Thượng đế sẽ thưởng cho anh 70 cô gái đồng trinh, 70 người vợ và hạnh phúc vĩnh cửu”.
Như vậy, niềm tin của tín đồ Kitô giáo và Hồi giáo vào sự bất tử của cá nhân ở kiếp sau hoàn toàn chỉ dựa vào sự khẳng định trong các kinh sách như Kinh thánh (The Holy Bible, gồm hai phần Cựu ước và Tân ước) của Kitô giáo và Kinh Côran (Q’uran) của Hồi giáo và những lời hứa hẹn của các giáo chủ; thật ra không có gì đảm bảo chắc chắn là có kiếp sau và Thiên đường. Nhà triết học Pháp Blaise Pascal (1623-1662) đã từng coi niềm tin vào Thượng đế như là một canh bạc, một sự cá cược, trong đó người tin chỉ có được chứ không có mất, còn người không tin chỉ có mất chứ không có được. Pascal lập luận: Nếu bạn tin vào Thượng đế và Thượng đế thật sự tồn tại thì bạn sẽ được cả một Thiên đường hạnh phúc, còn nếu Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì cả. Còn ngược lại, nếu bạn không tin vào Thượng đế và điều không tin của bạn là đúng thì bạn chẳng được gì cả, còn nếu điều này không đúng (nghĩa là có Thượng đế nhưng bạn lại không tin) thì bạn sẽ bị trừng phạt và đưa xuống điạ ngục vĩnh viễn.
Lập luận này của Pascal trước đây đã từng được coi là chân lý thì ngày nay đã bị những người vô thần phân tích và phê phán. Một là, có vô số thượng đế được tôn thờ bởi các tôn giáo và các dân tộc khác nhau, biết tin vào vị thượng đế nào cho đúng. Cho nên, nếu niềm tin của bạn mà không đúng, thì bạn cũng không được an toàn như Pascal khẳng định. Chẳng hạn, Kitô giáo tin ở “Chúa Ba ngôi” gồm Chúa Cha, Chúa con và Chúa thánh thần; nhưng Hồi giáo thì chỉ tin ở một vị Thượng đế duy nhất, không có con cái và còn khẳng định rằng nếu ai tin ở một vị chúa nào khác ngoài Chúa Trời (như tin Chúa Giêxu) thì sẽ bị đưa xuống địa ngục. Hai là, Pascal cho rằng nếu bạn tin Thượng đế nhưng Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì, đó là một lập luận sai. Vì niềm tin không đúng mà nhiều người thậm chí đã tự nguyện hoặc bị lừa bịp bởi các thế lực tôn giáo cực đoan đánh mất cả cuộc đời của mình và còn làm hại tính mạng của vô số người khác nữa.
4. Các quan niệm về linh hồn:
Đầu tiên phải kể đến là những quan niệm dân gian về linh hồn. Linh hồn trong quan niệm của người Việt Nam có từ rất lâu đời. Được dân gian ghi chép lại qua ca dao, tục ngữ. Chẳng hạn như dân gian hay gọi “ba hồn bảy vía”, “hồn lìa khỏi xác”, “hồn xiêu phách lạc”… Hay đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng đề cập đến chuyện linh hồn trong tập truyện Kiều nổi tiếng rằng: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Nghĩa là cái chết chỉ ở thể xác bề ngoài, còn linh hồn thì vẫn là thứ tồn tại mãi mãi. Không chỉ vậy mà y học cổ truyền phương Đông cũng thừa nhận linh hồn chính là khí trong mỗi con người. Quan điểm của chúng tôi là từ xa xưa Đông y đã luôn công nhận con người gồm hai phần hồn và xác. Vì Đông y lấy thuyết âm dương và khí huyết làm chủ. Con người sống được là nhờ âm dương cân bằng và khí huyết đầy đủ. Khi người ta chết, Đông y có câu “hữu hình – hữu diệt, vô hình – bất diệt”, nghĩa là những cái nhìn thấy được – hữu hình: Xương, thịt, huyết… mất đi, vô hình: khí tồn tại vĩnh cửu trong không gian. Hơn nữa, Đông y coi Tâm là chủ thần (sự sống) khi thần mất đi là chết. Thần tồn tại được nhờ khí và huyết, do đó khi người ta tắt thở tức là tâm mất, thần và khí thoát ra ngoài, sau đó kết hợp với nhau và gọi là hồn.
4.1. Linh hồn ra đời từ đâu?:
Bằng chứng khoa học đáng ngạc nhiên nhất về linh hồn xuất phát từ lĩnh vực cơ học lượng tử – chuyên nghiên cứu về các hiện tượng hạ nguyên tử tạo ra ý thức. Khi quá trình cung cấp máu và oxy ngừng lại, sự gắn kết không còn, nhưng thông tin lượng tử không mất đi. Nó có thể phát tán vào vũ trụ, tồn tại và tiếp tục hoạt động dưới một hình thức nào đó. Nếu bệnh nhân được cứu sống, thông tin sẽ được não tiếp nhận trở lại. Có lẽ vì thế mà những người từng có trải nghiệm cận tử có thể nhận biết thế giới xung quanh khi họ bất tỉnh.
Có lẽ vì thế ý tưởng về linh hồn cũng xuất phát từ hoàn cảnh này. Con người từ thời cổ xưa, khi trải qua trạng thái ảo thân, cho rằng khi đó phần tinh thần rời khỏi phần thể xác. Từ đó, họ bắt đầu tin vào sự tồn tại bên ngoài cơ thể.
4.2. Sự đầu thai của linh hồn:
Theo Giáo sư Bruce Greyson: “Nếu người bệnh không được cứu sống, ý thức sẽ đi vào vũ trụ và biết đâu có thể một ngày nào đó sẽ được một cơ thể khác tiếp nhận trở lại”. DOPS hiện đang lưu giữ khoảng 1.400 hồ sơ về các trường hợp được cho là thuộc dạng này. Phần lớn đó đều là những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp. Các em có thể kể vanh vách trước đây mình là ai, sống ở đâu, làm gì, trông như thế nào và nhiều chi tiết khác. Đó cũng có thể là cốt lõi của câu chuyện cháu bé bị chết đuối và đầu thai ở Vụ Bản Hòa Bình? Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình còn một vài trường hợp ở huyện Lương Sơn và Lạc Sơn rất khó giải thích nổi. Có những đứa trẻ khi sinh ra chẳng đi đâu mà biết rõ gia đình nhà người khác cách hàng chục cây số như trong lòng bàn tay, như việc mình đã trải qua. Trong những trường hợp này dân gian dựa vào quan điểm Phật giáo để giải nghĩa. Phật giáo không cho rằng con người chết là hết mà có linh hồn bất tử tiếp tục đầu thai vào kiếp khác. Cứ như thế con người vào vòng luân hồi không ngừng từ đời này qua đời khác, từ kiếp này sang kiếp khác. Mặc dù vẫn chưa có lời giải đáp cụ thể về hiện tượng “đầu thai”, nhưng những câu chuyện rất khó tin lại có thật trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, đã khiến các nhà khoa học phải đau đầu.
4.3. Linh hồn và thần kinh bộ não:
Ý niệm về linh hồn gắn liền với ý niệm về đời sống sau và lòng tin về sự hiện hữu này sau khi chết. Người ta lý luận là những điều ta nghĩ hay cảm nhận được hoàn toàn không tùy thuộc vào cơ thể, nói cách khác, những bí mật khi mới sinh hay sau khi chết, những điều mình tưởng tượng ra hay trí nhớ, những nhận thức khi nằm mơ … chứng tỏ là có một lực nào đó hiện hữu mà không tùy thuộc vào cơ thể.
Tôn giáo, triết học, tâm lý học, siêu hình học cho rằng linh hồn là một phần vô hình và bất tử của con người. Theo một vài tôn giáo, như Thiên Chúa Giáo, linh hồn của con người bất tử và có thể về với thượng đế sau khi đời sống chấm dứt. Nhà thần học Ki Tô Giáo Thomas Aquinas cho là muôn loài đều có linh hồn nhưng chỉ riêng linh hồn của loài người là bất tử. Những tôn giáo khác, như Ấn Độ Giáo cũng nói là mọi sinh vật đều có linh hồn trong khi nhiều tôn giáo khác còn đi xa hơn khi cho rằng cả những vật thể khác không phải là sinh vật cũng có linh hồn (thần núi, thần sông). Tất cả các tôn giáo này được gọi là duy tâm.
Linh hồn cũng giống như nhiều lãnh vực khác trong thiên nhiên, như trọng lực, điện từ, những lực … đều là phi vật chất. Tuy vậy nhiều người vẫn còn hoài nghi về hiện tượng này. Ta lấy một ví dụ khi kỹ thuật phát thanh mới được khám phá ra, rất ít người tin là tiếng nói được phát ra mà không cần giây. Mặc dù được chứng kiến tận mắt việc biểu diễn truyền thanh, khán giả vẫn nghi ngờ là giây nối được dấu ở nơi nào đó. Phải mất cả một thế kỷ sau người ta mới quen dần với làn sóng phát thanh hay kết quả của những lãnh vực không quan.
4.4. Những kiểm chứng khoa học:
Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.
Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn“. Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…
Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước. Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.
Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.
4.5. triết lý nhân sinh và con người:
“Con người là chủ nhân vũ trụ”, nên đổi cách nói thông dụng này thành: “Con người là chủ nhân của trái đất”; như vậy cũng chỉ tạm chấp nhận được. Bởi trên không gian quả địa cầu còn nhiều cảnh giới khác nhau cùng tồn tại. Đơn cử như không gian của người âm. Con người là chủ nhân, là trung tâm. Vậy điều trọng yếu ta phải trang bị là gì nếu trước hết không phải triết lý nhân sinh. Triết lý nhân sinh là gì? Đó chính là phần cơ bản trong đạo Phật. Đạo Phật nêu ra một cách chi tiết và sinh động về các tầng trời, cõi Phật - có vẻ xa vời. Nên chỉ bàn đến điều gần nhất với con người, ấy là sự sống sau cái chết. Có hay không cõi âm? Chưa cần trực ngộ, chưa cần chau mày nhăn trán nghĩ suy; đất nước chúng ta có hẳn một Viện nghiên cứu về vấn đề này. Một nhà ngoại cảm bằng khả năng có được “từ cõi chết trở về” đã nói chuyện với hơn mười nghìn liệt sĩ, những tưởng thừa lý do để đục bỏ ba chữ “chết là hết” cùng một dấu chấm than chạm khắc trên tấm bia chấp thủ của bao người. Gần đây, Phan Thị Bích Hằng, qua sự tiếp xúc với người âm đã thấy được sự nhiệm màu: sống không tu tập, chỉ có đạo Phật mới cứu được con người bên kia thế giới. Trong một đại lễ cầu siêu, cô Hằng cũng thấy Thượng Dương hoàng hậu do sân hận với Nguyên Phi Ỷ Lan nên sau hàng ngàn năm vẫn chưa “siêu thoát”, vẫn còn chen lấn cùng chúng sinh bốc cháo và đồ vãi cúng…
Để người âm được giải thoát, người trụ lễ cầu siêu nhất thiết phải là bậc minh tu, Hòa thượng, bậc chứng quả đắc đạo… Nên siêu thoát ở đây, thiết nghĩ phải bỏ trong ngoặc kép, bởi siêu thoát đúng nghĩa phải là thoát khỏi luân hồi sinh tử, ví như lên được Tây phương Cực lạc. Có thể ví sự siêu thoát trên như một cán bộ tại cơ quan nọ trước đây làm việc trong căn phòng tối tăm chật hẹp, ẩm mốc, nay được chuyển tới gian phòng rộng, thoáng đãng sạch sẽ hơn; đó cũng có thể là tầng trời thấp nào đó, chứ chưa thay đổi cảnh giới! Mỗi cảnh giới có thời gian khác nhau. Chúng ta biết các liệt sĩ được tiếp chuyện với nhà ngoại cảm, sau mấy chục năm họ vẫn ở “tuổi hai mươi”, vẫn không già [bao nhiêu]. Biết đâu ở cõi ấy, một năm chỉ bằng một ngày ở cõi dương. Đời Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu một lần lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ, phải lòng liền cưới làm vợ. Nửa năm [ở trời] chợt nhớ cõi trần da diết nên quyết định xuống thăm bà con họ hàng. Đâu ngờ chẳng còn ai. Ngẩn ngơ hỏi han mãi mới biết người thân giờ đã trở thành thiên cổ qua bao đời. Thượng Dương hoàng hậu sau hàng ngàn năm, nhà ngoại cảm cũng thấy bà “như cũ”. Như vậy có thể người âm sau nhiều năm [ngồi chưa ấm chỗ] họ vẫn chưa đến thời điểm chịu nghiệp quả tạo tác ở đời hoặc họ đã nhận chịu sự thống khổ vô biên nhưng “bất khả lộ”, hay họ chưa phải đầu thai vào các nẻo trong lục đạo. Hoặc gần giáo lý Phật hơn, chính là do còn chấp nê thân mình; đó chỉ là sự tác động của thần thức, là “ảo” (thực tế thần thức của họ đã đi đầu thai); nếu [hồn] họ chịu tới chùa nghe kinh, nghe giảng Pháp, niệm Phật khắc sẽ thâm nhập được vào một cõi nào đó không tệ để rút ngắn thời gian cập bến bờ Tịnh độ. Các nhà ngoại cảm nói chung chưa thể nhìn thấy cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, a tu la… (phải người chứng Đạo mới thấy được). Họ chỉ mới thấy cảnh giới Thân trung ấm và “những vấn đề xung quanh”. Điều này cũng là một hạn chế lớn khi soi vào định luật nhân quả, rộng hơn là không tránh khỏi khiến ai đó hiểu không thật đúng sự vi diệu của Phật pháp. Ngay cả người thân của Phật. Vào thời điểm xảy ra chiến tranh, Mục Kiền Liên liền xuống trần gian hốt quyến thuộc của Phật vào bát mang lên trời lánh nạn; cuộc chiến chấm dứt, Ngài xuống lại trần gian đổ bát ra thì thấy… toàn máu!
4.6. Tâm và linh hồn:
Tín lý Công giáo xác tín: Thiên Chúa đã ban cho con người một linh hồn giống như hình ảnh của Ngài. Còn nhà Phật thì nói: con người có cái Tâm. Vấn nạn được đặt ra như sau: Nếu linh hồn do Thiên Chúa ban, vậy Tâm do ai ban? Nếu không do ai ban cả thì từ đâu mà có Tâm?...
Khoa thần học Công giáo luôn trung thành với phép biện chứng cổ điển, quy kết tạo vật (quả) vào một đích tối hậu, duy nhất (nhân) là Thiên Chúa. Nhưng nếu nói “Thiên Chúa”, e rằng người ngoài Kitô giáo khó chấp nhận, nên các nhà thần học thường mượn từ ngữ triết học là "Nguyên nhân đệ nhất" để ám chỉ Thiên Chúa. Từ điển và danh từ triết học của Linh mục Trần Văn Hiến Minh giải thích: "Nguyên nhân đệ nhất là nguyên nhân đứng đầu chuỗi nguyên nhân mà cái trên ảnh hưởng đến cái sau. Như thế, nguyên nhân đệ nhất là nguyên nhân không bị nguyên nhân nào trên đó ảnh hưởng tới. Thượng đế là Nguyên nhân đệ nhất". Theo học thuyết Tôma: “Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên của sự tồn tại và là cơ sở đầu tiên của mọi phạm trù Triết học.”
Nếu nói “Tâm” cũng chính là Nguyên nhân đệ nhất, chắc chắn sẽ bị số đông tín đồ Công giáo phản đối, bởi vì Tâm không thể là Chúa được... (trừ một số Kitô hữu phóng khoáng, cởi mở. Nhưng số này rất ít và thường bị Giáo hội lên tiếng chỉ trích gay gắt, hăm dọa dứt phép thông công!). Vì nếu cho rằng: Tâm cũng chính là Chúa, lập tức anh rơi ngay vào phiếm thần luận (Panthéisme). Thuyết phiếm thần cho rằng: Chúa là khởi nguyên phi nhân, nhưng không nằm ngoài tự nhiên giới, đồng nhất với tự nhiên giới. Thuyết phiếm thần hoà tan Chúa vào tự nhiên giới, bác bỏ khởi nguyên siêu nhiên của Chúa. Hay nói một cách khác: cái gì cũng là Thượng đế, tức vạn vật đồng nhất thể.
Nhưng nếu chỉ dùng luận lý học hình thức để phân biện: “Tâm” không phải là nguyên nhân đệ nhất, tất phải là đệ nhị hay đệ tam!...Và theo Từ điển danh từ triết học của Linh mục Trần Văn Hiến Minh, chính nguyên nhân đệ nhất ảnh hưởng (sanh ra) cái tâm. Trong trường hợp này, tâm chính là kết quả tất yếu (quả) của nguyên nhân đệ nhất (nhân). Còn nếu nói theo ngôn ngữ bình thường của một tín đồ Công giáo bình thường, thì chính Thượng đế đã ban cho con người cái tâm, đại để cũng giống như Ngài ban cho người Kitô giáo có một linh hồn vậy... Và nếu hiểu như thế thì Phật giáo có thể khẳng định rằng: Cái tâm đó không phải là cái Tâm (Chơn Tâm) mà Phật giáo muốn nói tới.
Nguyên nhân và kết quả được gọi tắt là nhân quả. Nhân quả là một học thuyết lớn của Phật giáo. Nhưng Phật giáo chưa bao giờ có quan niệm về cái gọi là "Nguyên nhân đệ nhất". Một nhân thường không tạo ra quả, phải có ít nhất là hai nhân trở lên mới hình thành được quả. Các yếu tố nối kết các nhân lại với nhau gọi là duyên, vì vậy nhân quả còn được gọi là nhân duyên. Thiếu duyên, các nhân trở nên vô dụng. Ngoài những duyên trực tiếp, còn có những duyên gián tiếp gọi là tăng thượng duyên. Các nhân thì nhiều vô kể, chúng bàng bạc trong khắp vũ trụ vạn hữu, chỉ cần có điều kiện duyên là chúng hiện hành, kinh Hoa Nghiêm gọi là "trùng trùng duyên khởi".
Phúc âm Kitô giáo có dụ ngôn nói về người gieo hạt: Khi mang những hạt giống ra gieo, hạt thì rơi trên đá không nẩy mầm được, hạt bị chim trời tha đi, nhưng cũng có những hạt lại rơi vào nơi đất xốp có điều kiện nẩy mầm tươi tốt... Ðứng ở góc độ hiện tượng thì đây cũng là một ví dụ rất hay về duyên. Vì nếu không có duyên, giải thích thế nào về số phận của từng hạt giống. Tất nhiên thần học Công giáo có lối giải thích riêng: “tất cả đều nằm trong sự quan phòng của thiên chúa”, lối giải thích này không có tính thuyết phục, nên giáo hội Công giáo buộc tín đồ đặt tất cả mọi quan hệ biện chứng vào một phạm trù tiên thiên: “đức tin”.
Tuy nhiên, Chơn Tâm lại không hề dính dáng gì đến nhân quả. Chẳng những đối với thuyết nhân quả, mà ngay cả những giáo lý căn bản khác như: Tứ đế , Bát chánh đạo... cũng không quan hệ: "Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức" (không ngũ uẩn)..."Vô vô minh diệc vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận" (không thập nhị nhân duyên)... "vô khổ tập diệt đạo" (Không có tứ diệu đế). "Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố" (ngay cả trí và đắc cũng chẳng quan hệ chi tới Chơn Tâm, nói chi đến thuyết nhân quả!.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói: "Này A-nan! Ta nói thuyết nhân duyên là đứng về phần sự tướng, chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chứ không phải chỉ cho Lý Tánh tuyệt đối". Lý Tánh, Tâm hay Chơn Tâm là một phát hiện độc đáo mà Đức Thích-ca-mâu-ni đã cống hiến cho nhân loại. Học thuyết nhân quả nhằm để giải thích thế giới hiện tượng, chứ không phải để thuyết minh cho Chơn Tâm (Lý Tánh).
Thắc mắc về Chơn Tâm là nhân hay quả thực ra đã có từ lâu. Ngay từ thời Ðức Phật, chính A-nan, một đệ tử xuất sắc được mệnh danh là "đệ nhất đa văn" đã mang vấn đề này ra hỏi Ðức Phật: "Bạch Thế Tôn! Cái tâm này nếu không phải tự nhiên mà có thì chắc là do nhân duyên sanh. Con hiểu như vậy có đúng không? Xin Thế Tôn Từ Bi chỉ dạy..." Nhưng Chơn Tâm không thể suy nghĩ và bàn luận được, nên Ðức Phật đã trả lời: "A-nan! Ông phải biết, cái tâm này không phải nhơn cũng không phải duyên, không phải tự nhiên, cũng không phải không tự nhiên , không cái phi , không cái bất phi, không cái thị , không cái phi thị. Nó rời tất cả các tướng, mà chính là tất cả các pháp. Như thế thời ông làm sao để tâm suy cho tới , dùng lời nói để bàn luận cho kịp và gọi nó bằng thứ gì được (Ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, ly danh tự tướng)... Nếu ông để tâm suy nghĩ và dùng lời nói để bàn luận, thì cũng như người quơ tay chụp bắt hư không , chỉ thêm mệt nhọc, chứ làm sao mà chụp bắt hư không cho được".(Kinh Lăng Nghiêm)
Ở một đoạn khác trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói với ông Phú-lâu-na: "Cái Tâm này lại rời tất cả "tức"và "phi" mà cũng là "tức" và "phi tức". Chơn Tâm như thế thì kẻ phàm phu cho đến các vị thánh: Thinh văn, Duyên giác làm sao lấy tâm trí suy nghĩ cho đến đạo Vô Thượng Bồ-đề của Như Lai, hay dùng lời nói bàn luận? của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho được?".
4.7. Sự hiểu biết hoàn toàn mới của giới khoa học “linh hồn là bất diệt”
Giáo sư Robert Lanza tại đại học y Wake Forest North Carolina, thông qua nghiên cứu đã phát hiện, trong cơ học lượng tử có đủ bằng chứng cho thấy con người không hề biến mất, tử vong chỉ là ảo ảnh được tạo thành bởi ý thức của con người.
Lanza nói: “Khi tim người ngừng đập, máu ngừng chảy, khi các nguyên tố vật chất ở trong trạng thái ngừng lại, thì ý thức con người vẫn tiếp tục hoạt động, ngoài sự hoạt động của thân thể xác thịt này, còn có những “thông tin lượng tử” khác siêu việt trên cả thân thể xác thịt, hoặc có thể nói một cách thô tục là “linh hồn”.
Lanza cũng đưa ra những luận thuật về trung tâm sinh vật (biocentrism) mà đã ủng hộ các quan điểm của ông : sinh mệnh sáng tạo ra vũ trụ, có ý thức cá nhân rồi mới có sự tồn tại của vũ trụ, thực chất về sinh mệnh và các sinh vật là trung tâm thực sự của thế giới, sau đó mới có vũ trụ, vũ trụ bản thân nó không thể tạo ra sinh mệnh; ý thức sẽ làm cho thế giới biến đổi một cách có ý nghĩa, thời gian và không gian chỉ là công cụ của ý thức nhân loại. Cách nhìn về vũ trụ này là rất gần với nhận thức về vũ trụ của tôn giáo và giới tu luyện, mà trong đó ý thức của Sáng Thế Chủ đã tạo ra vũ trụ và sinh mệnh.
Phát hiện của Lanza khiến cho sự tranh luận trong thời gian dài giữa “duy vật luận” và “duy tâm luận” trở nên vô nghĩa, từ một phương diện khác nó đã chứng minh tính chính xác của pháp lý “vật chất và tinh thần là nhất tính” trong giới tu luyện.
Người có tín ngưỡng đều tin rằng linh hồn (nguyên thần) là bất diệt, tin tưởng vào luân hồi chuyển thế, và không ít người đã từng trải qua kinh nghiệm cận tử. Hai năm trước, nhà vật lý học nổi tiếng người Anh Roger Penrose, phó chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu ý thức đại học Arizona của Mỹ – tiến sĩ Stuart Hameroff đã khẳng định tính xác thực của kinh nghiệm cận tử. Họ cho biết, khi người ta chết đi, các vật chất lượng tử cấu tạo nên linh hồn rời khỏi hệ thống thần kinh và sau đó tiến nhập vào vũ trụ, lúc ấy sẽ xuất hiện trải nghiệm cận tử. Khi các bệnh nhân xuất hiện kinh nghiệm cận tử, linh hồn rời khỏi cơ thể, trở lại vũ trụ, nếu bệnh nhân tỉnh lại, linh hồn sẽ lại một lần nữa quay trở về thân thể.
Tiến sĩ Hamer Rove tiến thêm một bước về nhận thức, linh hồn được cấu thành từ vật chất cơ bản nhất của vũ trụ, có thể là xuất hiện đồng thời với thời gian. Bộ não con người chỉ là bộ máy tiếp nhận và khuếch đại các ý thức nguyên lai (cấu trúc bên trong vốn có trong không gian). Nhận thức này của Hamer Rove cũng là tương đối gần với cách nói của giới tu luyện. Giới tu luyện cho rằng, bộ não chỉ là một nhà máy gia công, bản thân nó không thể tự tạo ra ý thức tư tưởng, chức năng chủ yếu của nó là tiếp nhận những tín tức từ vũ trụ và gia công thành ngôn ngữ, rồi biểu đạt ra ngoài.
Như thế rốt cuộc linh hồn tồn tại ở đâu? Giáo sư Lanza cho rằng, linh hồn không chỉ tồn tại trong vũ trụ của chúng ta, mà nó còn có thể tồn tại trong một vũ trụ khác. Năng lượng của ý thức linh hồn tại mỗi điểm có thể được chiêu hồi trở lại và đưa vào một thân thể khác. Cùng với sự việc này, nó tồn tại trong thế giới chân thực bên ngoài cơ thể vật lý, nhưng lại rất có thể sẽ là một vũ trụ khác. Cách nói này từ góc độ lập luận khoa học đã chứng minh tính chân thực của luân hồi chuyển thế.
4.8. Giới tu luyện từ lâu đã có luận định “Nguyên thần bất diệt”
Cái mà người phương Tây gọi là linh hồn, trong giới tu luyện ở phương Đông gọi là “nguyên thần”. Trong giới tu luyện, bất luận là Phật gia hay Đạo gia, đều nhận thức rằng nguyên thần là bất diệt. Một sinh mệnh chết đi, chỉ là sự tử vong của xác thịt bề mặt, linh hồn của nó sẽ lại tiếp tục chuyển sinh, tiến nhập vào sinh mệnh của một cuộc hành trình khác. Và không chỉ con người có nguyên thần, mà vạn vật đều có linh (nguyên thần). Điểm này cũng đã sớm được chứng thực bởi những phát hiện khoa học.
Ngay từ năm 1966, tại cục tình báo trung ương Mỹ, chuyên gia Cleve Backster đã sử dụng máy phát hiện nói dối để tiến hành một loạt các thí nghiệm khoa học trên thực vật, và đã xác nhận rằng thực vật không những có ý thức, mà còn có hoạt động tình cảm cao cấp, có thể phân biệt được người, ngoài ra còn có công năng siêu cảm. Thí nghiệm của Backster làm chấn động toàn thế giới, rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã lặp đi lặp lại các thí nghiệm của Backster để xác nhận tính chân thực trong các thí nghiệm của ông.
Sự khác nhau lớn nhất trong các thảo luận về sinh mệnh của giới tu luyện và các nhà khoa học chính là ở chỗ: giới tu luyện là nhìn vũ trụ từ vi quan cho tới hoành quan, xem xét nó trên cả một diện, chứ không phải chỉ một điểm. Còn các phương pháp lý luận khoa học thì bắt đầu từ một điểm (ví dụ: phân tử), rồi tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu (phân tử, nguyên tử, hạt nhân nguyên tử, proton, ….).
Vì thế, giới tu luyện cho rằng, cả một tầng các phân tử chính là một không gian, các nguyên tử tổ hợp thành phân tử lại là một không gian còn lớn hơn, vi quan hơn. Vì vậy, khi một sinh mệnh chết đi, chỉ là cấu trúc phân tử bề mặt này của cơ thể bị giải thể, tầng vi quan hơn của cơ thể (do các nguyên tử cấu thành) trong không gian nguyên tử thì vẫn còn tồn tại.
Còn về nguyên thần (linh hồn), giới tu luyện cho rằng nó mới chính là sinh mệnh chân chính vĩnh hằng, thân thể người hoặc động vật hay thực vật chỉ đóng vai trò tải thể của nguyên thần (linh hồn), là nơi để hoàn thành các quá trình sống của sinh mệnh. Đây là những gì mà mọi người thường gọi là luân hồi chuyển thế. Giới tu luyện cho rằng, một nguyên thần (linh hồn) phải xuống địa ngục chịu tội trả nợ, hay là chuyển sinh thành động vật hoặc thực vật, đều là do các sinh mệnh cao cấp hơn dựa trên những biểu hiện thiện và ác trong các kiếp sống trước của sinh mệnh ấy mà quyết định.
Về vấn đề này, ông Gia Cát Minh Dương, một nhà văn độc lập cho biết: “‘linh hồn bất diệt” là một chủ đề rất lớn, nó liên quan đến sinh mệnh, vũ trụ và luân lý đạo đức v.v… nó vượt qua lĩnh vực nhận thức của nền khoa học nhân loại. Mặc dù các luận chứng chứng minh “‘linh hồn bất diệt” của Robert Lanza và các nhà khoa học khác không chắc đã hoàn toàn chính xác, nhưng lại có một ý nghĩa rất đặc biệt, nó đã phá vỡ những điều cấm kỵ của khoa học, khiến mọi người phải suy nghĩ lại về cội nguồn của ý thức tư tưởng, nguồn gốc và ý nghĩa thực sự của sinh mệnh, mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, và những hậu quả của hành thiện và làm ác .v.v…
5.Liên kết với Thiên thượng:
Các tôn giáo trên thế giới có thực sự giống nhau không? Một cái nhìn vào Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo và Phong trào thời đại mới.
Tất cả chúng ta đều muốn đi qua cuộc sống với mức độ thành đạt nhất định, một cảm giác nào đó rằng chúng ta đã làm đúng. Và nếu như những người khác nghĩ rằng họ biết cách làm sao để cuộc sống trở nên thỏa mãn, thậm chí có ý nghĩa, thì điều đó cũng đáng để kiểm tra. Còn các tôn giáo chính trên thế giới thì sao? Liệu có điều gì trong các tôn giáo đó có thể mang lại sự ổn định và giá trị hơn cho đời sống của chúng ta chăng?
Sau đây là một cơ hội để xem xét các hệ thống niềm tin chính trên thế giới…đạo Hin-đu (Ấn Độ giáo), Phong trào thời đại mới, Phật giáo, Hồi giáo và Cơ đốc giáo.* Bao gồm sự trình bày ngắn gọn về mỗi hệ thống tôn giáo, những tính chất đặc biệt, và điều mà một người có thể nhận được từ mỗi tôn giáo đó. Sau đó tác giả trình bày về những điểm khác biệt trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu so với các tôn giáo của thế giới để bạn cân nhắc.
5.1. Đạo Hin-đu:
Phần lớn người Hin-đu tôn sùng Bản chất của vạn vật (Phạm Thiên - Brahman) thông qua vô số các đại diện nam thần và nữ thần. Những sự biểu hiện của các nam thần và nữ thần khác nhau trở nên hóa thân vào trong các thần tượng, đền thờ, các guru (cao thủ), sông nước, súc vật,v.v.
Người Hin-đu quan niệm rằng tình trạng của họ trong đời sống hiện tại là dựa trên những việc làm của họ ở kiếp sống trước. Nếu hành vi trước kia của họ là xấu xa, thì họ phải trải qua nhiều khổ cực trong đời này. Mục tiêu của người Hin-đu là được thoát khỏi quy luật nghiệp chướng ấy…để được tự do khỏi sự đầu thai không ngừng nghỉ.
Có ba con đường có thể kết thúc được vòng nghiệp chướng luẩn quẩn này: 1. Dành tình yêu cho bất cứ nam thần hay nữ thần Hin-đu nào; 2. Tăng sự hiểu biết qua việc suy ngẫm về Brahman (Thiên Phạm )… để ý thức được rằng mọi hoàn cảnh trong đời sống không phải là hiện thực, bản ngã là ảo tưởng và chỉ có Thiên Phạm mới là hiện thực; 3. Chuyên tâm với các nghi thức lễ nghi tôn giáo khác nhau.
Trong đạo Hin-đu, con người có sự tự do chọn cách hành động để hướng đến sự hoàn thiện tâm linh. Đạo Hin-đu cũng có sự giải thích về sự đau khổ và cái ác ở trong thế giới. Theo đạo Hin-đu thì đau khổ mà bất kỳ người nào phải chịu, dù đó là bệnh tật, đói ăn hay tai họa, cũng là đáng bởi vì những hành động gian ác của chính người đó, thường là từ kiếp trước. Chỉ có linh hồn mới quan trọng, và linh hồn sẽ được giải phóng khỏi vòng sinh tử và được yên nghỉ.
5.2. Phật giáo:
Người Phật giáo không thờ bất kỳ một thần hay Thượng Đế nào. Người ngoài phật giáo thường nghĩ rằng người phật giáo thờ Đức Phật. Tuy nhiên, Đức Phật (Siddhartha Gautama) chưa bao giờ tuyên bố là thần thánh, nhưng ông được người Phật giáo coi là đã đạt được điều mà họ cũng đang cố gắng đạt được, đó là sự giác ngộ tâm linh, và cùng với nó, sự tự do khỏi vòng sinh tử không ngừng nghỉ. Phần lớn người Phật giáo tin rằng con người tái sinh vô số lần, điều đó không tránh khỏi bao gồm cả sự đau khổ. Người Phật tử tìm cách chấm dứt những sự tái sinh này. Các Phật tử tin rằng chính tham, sân và si của một người gây ra những sự tái sinh này. Do đó, mục đích của một Phật tử là làm sạch lòng mình và tìm cách tiêu diệt những ước muốn nhục dục và vọng niệm (quyến luyến với bản thân).
Người Phật giáo làm theo một loạt các nguyên tắc tôn giáo và tận tụy ngồi thiền. Một người Phật giáo thiền không phải giống như cầu nguyện hay tập trung vào một vị thần, mà đó là một sự kỷ luật cá nhân nhiều hơn. Thông qua tập luyện thiền một người có thể đạt đến cõi Niết Bàn (Nirvana) – “thổi tắt” ngọn lửa dục vọng.
Phật giáo đưa ra một vài điều đúng với phần lớn các tôn giáo trên thế giới: sự kỷ luật, những giá trị và định hướng để một người có thể muốn sống theo đó.
5.3. Hồi giáo:
Người hồi giáo tin rằng có một Chúa Trời toàn năng, tên là Allah, là Đấng cao cả vô cùng và vượt trổi hơn loài người. Thánh Allah được xem như là đấng sáng tạo vũ trụ và là nguồn gốc của mọi điều thiện cũng như ác. Mọi điều xảy ra là theo ý muốn của Allah. Thánh Allah đầy quyền uy và là một quan tòa nghiêm khắc, sẽ thương xót với các tín đồ phụ thuộc số lượng việc thiện và sự sùng đạo trong đời sống của họ. Mối quan hệ của những tín đồ với Allah giống như mối quan hệ của một đầy tớ.
Mặc dù người hồi giáo tôn trọng một vài tiên tri, Mu-ha-mét được coi là vị tiên tri cuối cùng và lời nói cũng như lối sống của ông ta là thẩm quyền của con người đó. Để trở thành một người hồi giáo, một người phải tuân theo năm bổn phận tôn giáo: 1. Nhắc lại các tín điều về thánh Allah và Mu-ha-mét; 2. Đọc một số bài cầu nguyện nhất định trong tiếng Ả-rập năm lần mỗi ngày; 3. Bố thí cho người nghèo; 4. Mỗi năm một tháng kiêng ăn, uống, tình dục và hút thuốc, từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn; 5. Hành hương một lần trong đời để thờ lạy tại thánh địa Mecca. Khi chết-- dựa trên sự trung thành của một người với những bổn phận này – một người Hồi giáo hy vọng mình sẽ được vào thiên đàng, là nơi của sung sướng khoái lạc. Nếu không, họ sẽ bị trừng phạt đời đời trong địa ngục.
Đối với nhiều người, thì đạo Hồi đáp ứng được sự chờ đợi của họ về tôn giáo và Chúa Trời. Hồi giáo dạy rằng có một Chúa Trời tối cao, Đấng được tôn thờ qua các việc thiện và các lễ nghi tôn giáo hà khắc. Sau khi chết thì người đó sẽ được ban thưởng hoặc bị trừng phạt tùy theo lòng thành đối với tôn giáo của họ.
5.4. Cơ đốc giáo- đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ:
Các cơ đốc nhân tin vào một Đức Chúa Trời yêu thương là Đấng đã bày tỏ về chính Ngài và có thể được nhận biết một cách cá nhân trong đời sống này. Với Chúa Giê-xu, thì sự tập trung của con người không phải là các lễ nghi tôn giáo hay thể hiện các việc làm lành, nhưng là sự vui thích về mối quan hệ với Đức Chúa Trời và tăng trưởng trong sự nhận biết Ngài nhiều hơn.
Đức tin nơi Chúa Giê-xu, không chỉ tin những điều dạy dỗ của Ngài, là cách mà cơ đốc nhân có thể kinh nghiệm được niềm vui và một đời sống ý nghĩa. Trong đời sống của Ngài ở trên đất, Chúa Giê-xu đã không chứng tỏ Ngài là Đấng tiên tri được Đức Chúa Trời chỉ định hay là một giáo sư đem đến sự khai sáng. Hơn thế, Chúa Giê-xu xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời trong hình thể con người. Ngài làm phép lạ, tha thứ tội lỗi và nói rằng hễ ai tin Ngài sẽ được sự sống đời đời. Ngài đã công bố thế này, “Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.”1
Người cơ đốc xem Kinh thánh là sứ điệp được viết ra của Đức Chúa Trời dành cho loài người. Ngoài việc đó là sự ghi chép mang tính lịch sử về đời sống và những phép lạ của Chúa Giê-xu, Kinh thánh bày tỏ về tính cách của Đức Chúa Trời, tình yêu và lẽ thật của Ngài, và làm thế nào để một người có thể có mối quan hệ với Ngài.
Dù một Cơ đốc nhân đang đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào trong đời sống của mình, họ vẫn có thể tự tin quay về với Đức Chúa Trời quyền năng và khôn ngoan, Đấng hoàn toàn yêu mến họ. Họ tin rằng Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện và đời sống đó có ý nghĩa khi họ sống tôn thờ Ngài.
III. KẾT LUẬN:
Nhà vật lý học thiên văn người Anh, Sir Arthur Eddington tuyên bố: “Vật lý học là khoa nghiên cứu cấu trúc của ý thức”. Tương tự, Max Planck, cha đẻ của ngành vật lý học định lượng cũng viết: “Là một người cống hiến cả cuộc đời cho khoa học, nghiên cứu về vật chất, tôi có thể nói là kết quả những nghiên cứu của tôi về nguyên tử như sau: Chẳng có vật chất nào đáng kể, tất cả vật chất đều bắt nguồn và hiện hữu được do một lực, lực này gây ra những rung động của các hạt trong một nguyên tử để tạo ra liên kết những phần tử nhỏ nhất của một nguyên tử với nhau … Ta phải nghĩ tới đằng sau lực này là sự hiện hữu của một thứ gì đó, đó chính là tư tưởng, linh hồn. Chính linh hồn là động lực cho tất cả vật chất.
Alan Wolf, giáo sư môn vật lý học tại San Diego University cũng nói: “Hình như có sự hiện diện của cái gì, gọi là linh hồn hay một thứ gì ngoài thế giới vật chất. Thứ này cần thiết để giảng nghĩa cho những hiện tượng mà ta quan sát được. Và hình như chúng ta không có cách gì thoát ra ngoài sự hiện diện của nó được.
Mặc dù các nhà khoa học chưa sẵn sàng tuyên bố là họ đã tìm thấy thượng đế, cho dù không phải là thượng đế nói trong các thánh kinh của các tôn giáo, nhưng phảng phất đâu đó có những điểm nói về thế giới định lượng trong kinh thánh và vài tôn giáo đông phương. Có thể kết luận bài viết này bằng câu nói bất hủ của nhà bác học Albert Einstein.
Đạo Phật hàng ngày nhắc nhở nhân loại hãy thức tỉnh. Bộ óc của con người thật vĩ đại, ai uyên bác không chừng nạp được hết thảy kiến thức liên mạng; chỉ trừ Phật pháp. Mức độ nghiêm trọng hơn khi nhân loại gán cho đạo Phật là một tôn giáo. (Chữ giáo gắn sau Phật phải mang nghĩa giáo dục mới đúng, chứ không phải là giáo thuyết. Thật nực cười: tôn giáo [Phật giáo] lại không có giáo chủ. Đạo Phật hoàng toàn không có giáo chủ! Trong Kinh Nền Tảng Đức Tin có hai điều sau đủ thấy Đức Thế Tôn không phải giáo chủ: chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở; chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết. Phật chỉ giảng ra những điều mình thấy. Ai nghe rồi hãy hành trì và tự chứng xem có đúng không? Không đủ cơ duyên thì tự bỏ Phật, không một văn bản nào ràng buộc. Từ thời điểm 500 vị chứng quả A la hán đầu tiên do tổ Ca Diếp tập hợp để làm chứng cho việc chép lời Phật dạy, (hễ một trong 500 vị ấy bảo lời này không đúng của Phật lập tức phải bỏ ra) cho đến nay đã rất nhiều người “giấu mặt’ chứng thánh quả, vẫn chưa ai “giải thiêng” một câu Kinh Phật. “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành” - câu nói của thầy giáo Thích Ca Mâu Ni nhẹ như mây khiến những người tu cúi lạy [tượng Phật] vạn lần còn mang ơn trọng.
Các tầng cảnh giới gần như là sự đặc định từ vũ trụ. Nếu cõi người không cần pháp luật để trị ác nhân thì vũ trụ này cũng đâu cần tạo ra các tầng để ân sủng Phật và ngược lại là đọa đày chúng sinh. Phật thấy chúng sinh quằn quại trong địa ngục, nhớp nhúa quăng quật trong cõi súc sinh, giằng xé nhau trong cõi ngạ quỷ và ganh đua tham đắm trong cõi người, a tu la nên đã cùng các Bồ tát hạ mình xuống cứu vớt. Nếu chúng sinh thấy được công ơn vô lượng của các Ngài, thì sẽ không một ai lại kêu: “Sao cuộc đời lắm bất công oan trái!”. Con người không chịu tu để vói tay “lên trời” nên cứ đinh ninh “nho còn xanh quá”. Một người nông dân nghèo họ thường ăn cơm vào buổi sáng để đủ sức lên đồng; cơ may nào đó được lên phố làm việc công sở lương bổng kha khá thì chuyển qua dùng bún cho buổi sáng. Sau một thời gian dư dả họ lại tìm đến những quán ăn sáng xa xỉ hơn, dẫn đến tình trặng tìm kiếm “cảm hứng” cho vị giác. Một người tu, nhờ năng lượng của thiền định và thanh lọc tâm tịnh sáng, một thời gian họ thấy không còn nhu cầu điểm tâm sáng nữa; chuyên tâm miên mật hơn người tu trở thành một thiền sư nhập thất hàng tháng hàng năm trời không cần ăn uống. Người nông dân kia sẽ không hề chạm tay được vào niềm hạnh phúc vô bờ của người tu khi đã dứt được cái sự ăn uống. Và nhiều niềm hạnh phúc tối thượng khác như dứt phiền não, ngũ dục lục trần… những thứ mà người phàm càng cố khoanh vùng hưởng thụ càng thấy bất lực khi thời gian dành cho sự tỉnh thức của mình dần ráo cạn.
Con người - chủ nhân của trái đất lẽ nào lại phớt lờ căn cốt triết lý nhân sinh?! Không tin có đời sau là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin nhân quả báo ứng là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin luân hồi sinh tử là không muốn biết đến căn cốt triết lý nhân sinh. Không tin nếu tu tập đúng theo cách chỉ dạy của Phật sẽ đứng hẳn ra ngoài Tam giới trọn vẹn hết khổ đau là không muốn biết đến căn cốt của triết lý nhân sinh, v.v. Con người lẽ nào muốn trang bị tất cả những triết lý khác trước rồi mới trang bị điều căn cốt của triết lý nhân sinh?
Con Người tin sâu căn cốt triết lý nhân sinh, nghĩa là tin sâu lời Phật; sẽ không còn nghĩ ác, không còn hành vi bất thiện, dẫu cho sự nghĩ và hành vi ấy không ai nào biết đến. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm mười hai có 3 câu: “Đại hải Long Vương lúc làm mưa/ Có thể phân biệt đếm từng giọt/ Ở trong một niệm biết rõ ràng”. Hằng ngày ta vẫn giấu những việc xấu - gọi là nghiệp; và khoe khoang việc tốt, những việc liên quan đến từ thiện - gọi là đức. Mới chỉ Đại Hải Long Vương thôi trong một niệm đã đếm được bao giọt mưa trong một trận mưa, huống hồ các Bồ tát và Phật. Phật trong một niệm biết bao nhiêu lá rụng trong rừng. Tựa như lúc ta đóng ngoặc kép dòng tên một người nổi tiếng cho vào google rồi enter, trong một giây sẽ cho ra hàng triệu kết quả. Phật thấu suốt đức nghiệp của hết thảy chúng sinh. Những việc xấu ngay cả mới khởi ý niệm vi tế thôi đã có trung tâm xử lý nhân quả ghi lại. Còn với việc thiện, ta chỉ nên nói ra ở mức độ vừa phải để khơi dậy lòng tốt từ những người xưa nay chưa biết đến khái niệm “mở hầu bao” hiệp nghĩa. Hãy dè sẻn ở mức tối đa hành động thiện nguyện của mình, mà tốt nhất hãy lấy minh chứng công đức từ những người thật ta từng chứng kiến, càng gần ta và càng gần người ta muốn phục thiện càng tốt.
Sau 7 ngày thiền định dưới cội Bồ đề, Phật chứng quả đầu tiên là Túc mạng minh - thấy rõ ràng những đời quá khứ, vị lai. Cuộc đời một sinh mệnh trong Tam giới như sợi dây giăng ngang trời với vô vàn nút thắt, mỗi nút đánh dấu một kiếp, quãng giữa các nút dài ngắn tùy thuộc vào số mạng, vào các kiếp là người trần hay người trời, a tu la hay súc sinh, ngạ quỷ…. Con người nói chung đều phải bám vào quả địa cầu quay tít mù và luôn trong cảm giác lo sợ run tay mỏi gối văng vào các nẻo thấp thua. Dẫu sao, biết sợ điều ấy cũng xem như bước giác ngộ đầu tiên vậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Vũ Dương Ninh chủ biên, Lịch sử Văn minh Thế giới, nxb Giáo dục Việt nam 2012
2. Lewis M.Hopfe – Mark R.Woodward, Phạm Văn Liễn dịch, Các Tôn Giáo trên thế giới, Nxb Thời Đại, 2011
3. Tác giả TS Floyd H.Ross & GS Tynette Hills, dịch giả Thích Tâm Quang, Những Tôn Giáo Lớn trong đời sống nhân loại, Nxb Tôn Giáo, 2007.
4. Hoàng Tâm Xuyên chủ biên, Mười Tôn Giáo Lớn trên thế giới, Hà Nội Nxb Chính Trị Quốc Gia, 1999
5. Dam Bo (Dournes, Jacques) – Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) (Nguyên Ngọc dịch), tr.233-234 (Bản ebook tải từ doko.vn, truy cập ngày 31/05/2013).
6. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.134.
7. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr. 182-183.
9. Lê Quang Lâm 2004 – Nước với người Jrai – website: http://quang.chez-alice.fr/nuicao/jarainuoc.html, truy cập ngày 25/06/2013.
10. Rơ Chăm Oanh 2002: Nét đặc trưng văn hóa cổ truyền của người Jơ Rai ở Tây Nguyên – HN: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.181.
11. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam 2006 – Những vấn đề nhân học tôn giáo (Bài trích: Ma thuật, khoa học và tôn giáo(tr.147 – 213) – Bronislaw Malinowski, Dương Bích Hạnh dịch, Đức Hạnh hiệu đính từ Malinowski, Bronislaw, 1954 [1925] “Magic, Science and Religion” trong Magic, Science and Religion and other Essays. Garden City, N.Y: Doubleday Anchor, tr.17-92) – Tạp chí Xưa và Nay – Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, tr.178.
11. Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh, Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 2306.
12. Theo báo Gardien, thứ bảy, ngày 12 tháng 1 năm 2002
13. Carl Sagan, The Demon-Haunted World (1996),
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/sagan.htm
14. Albert Einstein the Human Side, Helen Dukas and Banesh Hoffman, eds., Princeton University Press, 1981, p. 39.
http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080308074844AA9yhPY
15. Out of My Later Years, Philosophical Library, New York, 1950.
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
16. Albert Einstein, quoted in Madalyn Murray O'Hair, All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists(1982) vol. ii., p. 29
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
