THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
VỌNG NIỆM/VỌNG TƯỞNG (papanca) TIẾN TRÌNH NHẬN THỨC LÀM TÂM Ô NHIỄM VÀ PHƯƠNG PHÁP DIỆT TRỪ ?
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
Trang
I. DẪN NHẬP:…………………………………………………………………3
II. NỘI DUNG:………………………………………………………………….4
1. BIẾT VỌNG LÀ TU:………………………………………………….4
2. NHẤT TÂM VÔ VỌNG TƯỞNG:………………………………………4
3. VƯỢT QUA CÁC VỌNG NIỆM:…………………………………………4
4. TÂM CHÚNG TA LUÔN BỊ UẾ NHIỄM BỞI CÁC TẠP NIỆM:……..5
5. CHÁNH NIỆM KHỞI LÊN VỌNG NIỆM DIỆT:…………………………5
6. CÁCH NHẤT TÂM, TINH TẤN CHUYỂN HÓA VỌNG NIỆM:……..6
7. KHÔNG TRỪ VỌNG TƯỞNG THÌ CHẲNG THỂ KHAI NGỘ:………6
8. HỌC CÁCH AN TÂM:……………………………………………………..7
III. KẾT LUẬN:……………………………………………………………………8
TÀI LIỆU THAM KHẢO:…………………………………………………….8
VỌNG NIỆM/VỌNG TƯỞNG (papanca)
TIẾN TRÌNH NHẬN THỨC
LÀM TÂM Ô NHIỄM VÀ PHƯƠNG PHÁP DIỆT TRỪ ?
I. DẪN NHẬP:
Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nét cơ bản của sự vật hiện tượng (Ví dụ con người gò đá thấy lửa)
Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan.
Hiểu Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá,…
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất).
“Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tượng”. Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất như nhau. Nhờ hoạt động trí tuệ này mà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng.
Nhờ có Nhận thức mà con người mới có thể cải tạo được thế giới xung quanh và cao hơn nữa là con người có thể cải tại được chính bản thân mình, phục vụ được nhu cầu của chính mình.
II. NỘI DUNG:
1. BIẾT VỌNG LÀ TU:
Cũng vậy, sở dĩ mình nói cái vọng tưởng là để đối lại với cái chơn. Do tâm chúng ta nguyên thuỷ nó vốn là thanh tịnh, nguyên thuỷ nó vốn là không vọng niệm, nguyên thủy nó vốn là tâm bao trùm hư không. Không có gì ở trong đó, nhưng tại vì mỗi kiếp chúng ta có thể là súc sanh nhỏ nhất, có khi sống được một hoặc hai bữa, có khi sống vài ba ngày, vài ba tháng, hay vài ba năm. Có khi chúng ta sống đến bảy hoặc tám năm, hay là mười năm sau đó tái sanh làm người. Cứ như vậy mà mỗi lần tái sanh có một hình thức nào đó, cứ như thế mình chạy theo tâm hướng ra ngoài, mà chạy theo như vậy chúng ta thấy mình có vọng hay không? Có phải chạy ra ngoài để nắm bắt bên ngoài hay không? Khi chúng ta vọng tưởng chạy theo trần cảnh nên nó kết tụ vào trong A lại da thức. Thức này là kho tàng chứa tất cả những gì chúng ta huân tập từ bên ngoài vào, nên những vọng tâm ấy vẫn được A lại da chứa và giữ lại trong tâm thức.
2. NHẤT TÂM VÔ VỌNG TƯỞNG:
Muốn nhiếp và an trú được tâm thì giới luật phải sống nghiêm chỉnh và còn phải tu tập Ðịnh Vô Lậu, nhờ có sống đúng giới luật và tu tập Ðịnh Vô Lậu thì tâm chúng ta sẽ ly dục ly ác pháp, nhờ có ly dục ly ác pháp thì tâm tham, sân, si, mạn, nghi sẽ bị diệt trừ. Khi tâm tham, sân, si mạn, nghi bị diệt trừ thì vọng tưởng sẽ không còn.
Tu tập đúng pháp khi ngồi thiền thì nhiếp tâm và an trú tâm một cách dễ dàng, chứ không phải tu tập như con lúc không niệm khởi, lúc có niệm khởi mà không biết cách làm sao ngăn và diệt? Tu tập muốn không niệm vọng tưởng thì chỉ có pháp Như Lý Tác Ý dùng nó dắt tâm vào chỗ không vọng niệm.
Nhưng tu tập không vọng niệm để làm gì? Tâm không vọng niệm không phải là định, người nào hiểu tâm không vọng niệm là định thì người ấy không hiểu biết gì về thiền định của Phật giáo cả. Một người tu tập thiền của Phật giáo chỉ khi nào có Ðịnh Như Ý Túc thì mới nhập được Tứ Thánh Ðịnh, còn chưa có Ðịnh Như Ý Túc thì nói tu tập thiền định là nói đến định tưởng.
3. VƯỢT QUA CÁC VỌNG NIỆM:
Vọng tâm, vọng niệm dễ sanh. Những phiền não, nghiệp chướng cũng dễ phát khởi. Do vì cảnh duyên bên ngoài trợ giúp mấy thứ đó phát triển, tăng trưởng. Mình ở trong thời mạt pháp, lấy sức người để tu hành cũng giống như ở nơi giữa dòng sông, chẳng những là nước mà lại có sóng lớn nữa, luôn luôn lúc nào cũng có sóng hết. Trong đó phải bơi lội thì việc đó cần cố gắng lắm mới được. Có cố gắng mới thành công.
Do đó, cần lập nguyện. Chí nguyện lớn sẽ giúp mình thêm cố gắng và vững chãi hơn ở đường đạo. Chí nguyện phải thật vững để giúp cho nghị lực, vì có chí nguyện ắt có nghị lực. Như thế mới vững vàng được ở nơi những luồng sóng dập dồn, nếu sơ suất liền bị chìm. Nói tiếng chìm, huynh đệ cần phải suy nghĩ cho kỹ.
Ở cõi ngũ trược này, phát chí nguyện phải dũng mãnh, nghị lực phải dũng mãnh. Ở trong cái khó mà tu tập thì hạnh đức cao vời. Khó thì dễ hư nhưng thành tựu được thì công cao. Do đó, trong kinh Duy Ma Cật nói: “Bồ-tát ở nơi cõi đời này, có những công đức mà nơi cõi khác không có được” chính là ý này vậy.
4. TÂM CHÚNG TA LUÔN BỊ UẾ NHIỄM BỞI CÁC TẠP NIỆM:
Trong giáo lý của đạo Phật, có một pháp môn tu tập khá quen thuộc, có thể làm giúp lắng sạch nội tâm và điều trị được các chứng bệnh khác nhau của tâm thức như căng thẳng bất an hoặc phiền muộn khổ não, khiến cho tâm trở nên trong sáng, hân hoan.
Niệm (sati/anussati/anussarana) tức là nghĩ nhớ, ức niệm, suy tưởng, chú tâm quan sát hay hướng tâm đến một đối tượng nào đó thuộc tâm thức và giữ cho đối tượng đó luôn luôn sinh động ở trong tâm, theo đó tâm được an trú, định tĩng và sáng suốt. Đây là phép luyện tâm trong đạo Phật, có khả năng chuyển đổi tâm thức từ tán loạn sang định tĩnh, từ cấu uế sang thanh tịnh, từ xáu ác sang hiền thiện, hoặc có khả năng chuyển hóa cái nhìn từ u ám đến sáng suốt, từ mê lầm sang giác ngộ.
5. CHÁNH NIỆM KHỞI LÊN VỌNG NIỆM DIỆT:
Bộ não của chúng ta tựa như một thùng chứa lưu giữ hết thảy những gì chúng ta để vào trong đó. Nếu phần lớn thời gian chúng ta hấp thụ những thứ liên quan đến bạo lực, sắc dục, tiền bạc và xung đột với những người khác để đấu tranh cho lợi ích cá nhân thì những thông tin này sẽ hình thành đủ loại tư tưởng bất thuần trong tâm trí chúng ta. Những suy nghĩ này không tự dưng biến mất. Thay vào đó, nó vĩnh viễn chiếm cứ không gian trong tâm trí chúng ta bằng cách trở thành các quan niệm hậu thiên. Cách tốt nhất để loại bỏ những suy nghĩ không đúng đắn là hấp thụ những điều lương thiện, từ bi và khoan dung, và thay thế những suy nghĩ bất thuần bằng những suy nghĩ chân chính. Bất kỳ một hình thức nào khác với nỗ lực cưỡng chế của con người sẽ không thể loại bỏ những suy nghĩ không đúng đắn.
Để loại bỏ những suy nghĩ không đúng đắn trong tâm trí, cách duy nhất là lấp đầy tâm trí chúng ta với các suy nghĩ đạo đức và thiện lương. Ngoài ra không có cách nào khác! Hành vi được điều khiển bởi tâm hồn và chỉ một tâm hồn lương thiện mới có thể sản sinh ra một con người lương thiện.
6. CÁCH NHẤT TÂM, TINH TẤN CHUYỂN HÓA VỌNG NIỆM:
Gặp được Phật pháp rất khó! Trên đời này không có pháp nào thoát ly sinh tử, chỉ có giáo pháp của Phật mới ra khỏi sanh tử luân hồi. Vì thế, gặp được rồi thì mình phải cố gắng để vững bền trong chánh pháp. Cho nên, Phật dạy tất cả đều phải tinh tấn, nhất tâm. Nhưng chúng ta lại có cái lỗi là luôn phóng dật, giãi đãi. Trong Luật, những khi có việc gì thì các vị Trưởng lão, các vị Đại đức đều khuyên nhắc: “Phải tinh tấn, chớ phóng dật”. Chỉ có hai điều đó thôi! Phóng dật ở thân khẩu thì dễ biết, còn ở tâm ý thì rất khó biết. Hễ duyên theo lục trần đều là phóng dật. Phóng dật thì trôi theo sanh tử. Tinh tấn thì đạt Niết-bàn. Người tu hành phải tinh tấn thì mọi khó khăn đều sẽ vượt qua, mọi công đức sẽ đạt được.
Vọng tâm, vọng niệm dễ sanh. Những phiền não, nghiệp chướng cũng dễ phát khởi. Do vì cảnh duyên bên ngoài trợ giúp mấy thứ đó phát triển, tăng trưởng. Mình ở trong thời mạt pháp, lấy sức người để tu hành cũng giống như ở nơi giữa dòng sông, chẳng những là nước mà lại có sóng lớn nữa, luôn luôn lúc nào cũng có sóng hết. Trong đó phải bơi lội thì việc đó cần cố gắng lắm mới được. Có cố gắng mới thành công.
7. KHÔNG TRỪ VỌNG TƯỞNG THÌ CHẲNG THỂ KHAI NGỘ:
Khi chúng ta chưa hiểu được "sinh tử đại sự" thì cũng đáng buồn thảm, bi ai giống như cha mẹ qua đời vậy. Do đó, lúc tham Thiền thì phải luôn luôn dụng công tu hành, chớ lãng phí một giây một phút và cũng chớ buông lung. Dụng công tới lúc "lô hỏa thuần thanh," công phu chín muồi, thì tự nhiên sẽ có cảm ứng. Có cảm ứng thì công phu mới tương ưng. Cho dù đã khai ngộ rồi quý vị cũng vẫn phải không ngừng cố gắng tiến tới trước. Ðừng lười biếng, đừng tự giam hãm mình nơi "hóa thành;" đừng cho rằng tới đây là hết, rồi không muốn tiến thêm nữa. Những ý tưởng như vậy chính là các hòn đá cản trở sự tu hành.
Biết rõ ràng là vọng tưởng không làm ta khai ngộ, vậy thì tại sao vẫn cứ khởi vọng tưởng chứ? Biết rõ ràng đó là vọng tưởng mà tại sao không quét sạch chúng đi? Ðó chính là khuyết điểm của đa số người đời - biết rõ mà vẫn cố ý vi phạm. Nói rõ ra tức là quý vị vẫn "không thể nhìn thủng, chẳng thể buông bỏ," vẫn còn chấp trước cái này, câu nệ cái nọ, chấp nam chấp nữ..., kết quả là lãng phí hết thời giờ quý báu.
8. HỌC CÁCH AN TÂM:
Cái tâm thức của chúng ta đã quen việc thổi phồng những kinh nghiệm khổ đau, phiền não đến một cấp độ quá đáng khiến mình trở nên hoảng hốt, sợ hãi. Do vậy, mà căn bệnh thêm nặng. Bệnh, khổ, bất an, va chạm, v.v… cũng vậy! Nói chung, tâm mình hay ‘thêm mắm, dặm muối’ vào những kinh nghiệm tiêu cực, xấu xa khiến cho cái kết quả trông thật là xấu tệ! Tất nhiên, không ai muốn đi tìm sự bất an, va chạm bao giờ! Nhưng chính việc đi chùa giúp mình cách tu để cái bất an, va chạm không làm mình khổ đau nhiều. Nếu mình cứ tiếp tục trốn chạy và chỉ đi tìm những nơi ‘không có’ bất an, va chạm thì suốt đời mình sẽ không tu được gì vì đi chùa là để học cách đối diện với bất an, va chạm hầu tìm ra cách để đối trị chúng.
Như Phật có dạy: ‘Đi tìm cái an ngay trong cái bất an; đi tìm cái hết khổ ngay trong cái khổ!’. Như mình bị đau lưng, hay nhức đầu, chính cái chỗ đau lưng hay nhức đầu đó là nơi làm mình khổ
III. KẾT LUẬN:
Như vậy, khi chúng ta biết điều khiển cái tâm của mình và những kinh nghiệm tu tập, thì ta sẽ nắm rõ được tâm vượn và ngựa ý của mình nó đi đến đâu, theo dõi nó, nắm chắc dây cương thì đó chính là phương pháp mà mình có thể liễu tri, biết được cái tâm của mình lên xuống như thế nào. Ngay khi chúng ta còn tỉnh táo, nhận chân được mọi hình tướng của các pháp, không bị màn vô minh che khuất. Chúng ta sẽ tận dụng thời gian đó, nỗ lực trong mọi hoàn cảnh, trở về bản tánh thanh tịnh vốn có của chúng ta. Pháp môn nào chúng ta cũng có thể tu tập và quan trọng là chúng ta biết vọng là tu, khi làm biết làm, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm v.v… ta đều nhận biết nó thì đây là phương pháp đầy đủ ý nghĩa để tâm mình luôn luôn là phàm trong thánh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Tâm lý học đại cương (Nguyễn Xuân Thức – NXB ĐHSP – 2008)
2. Phát triển Nhận thức, học tập và giảng dậy (NXBGD – 1998)
3. Trí tuệ và đo lường trí tuệ (Trần Kiều – NXB Chính trị QG – 2005)
4. Các lý thuyết phát triển tâm lý người (NXB ĐHSP – 2003 – Phan Trọng Ngọ)
5. Một số công trình Tâm lý học (A.N.Leonchiép – 2003)
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét