THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
TRONG XÃ HỘI THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG :
1. TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI:
1.1. chánh niệm và đạo đức:
1.2. Chuẩn mực đạo đức là gì?
1.3. Thế Nào để có một Đời Sống Đạo Đức:
1.4. Đạo đức Phật giáo giúp con người hướng thiện:
1.5. Hạnh phúc con người và đạo đức phật giáo:
2. PHẬT GIÁO VỚI VIỆC XÂY DƯNG ĐẠO ĐỨC VÀ LỐI SỐNG:
2.1. Rèn luyện đạo đức cho giới trẻ:
2.2. sống đạo đứclà trách nhiệm của chúng ta:
2.3. Tính xã hội và nhân bản của đạo đức Phật giáo:
3. ĐẠO ĐỨC NGƯỜI XUẤT GIA:
3.1. Đạo Đức Phật Giáo Thông Qua Việc Thực Tập Giới luật Căn Bản:
3.2. nguyên tắc đạo đức người con phật:
3.3.nghĩ về đạo đức Phật giáo:
3.4. Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Phật Giáo:
3.5.Tự nguyện, lạc quan và tích cực:
3.6. Xây dựng nếp sống đẹp theo lộ trình Giới – Định – Tuệ:
3.7. Đạo Đức Học của Giải Thoát:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
TẦM QUAN TRỌNG VÀ CON NGƯỜI, ĐẠO ĐỨC
TRONG XÃ HỘI THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO
I. DẪN NHẬP:
Sống trong bất kỳ xã hội nào, con người đều hằng ước mong cho mình có được một đời sống ấm êm hạnh phúc. Nhưng trên thực tế nhìn vào giữa lòng xã hội chúng ta tìm được bao nhiêu cuộc sống ấm êm. Một câu nói ví von mà ai đó đã gán cho cuộc đời mà chúng ta thường nghe "đời là bể khổ”. Điều đó một phần nào đã nói lên rằng cái khổ là một thực trạng đang tồn tại và bao trùm lên kiếp sống nhân sinh. Nói như vậy củng không có nghĩa là giữa cuộc đời này không có niềm vui, nhưng vấn đề là sự khổ - vui ấy được chúng ta nhìn nhận và hành sử như thế nào đó là sự khôn khéo của mỗi chúng ta. Bởi lẽ tất cả mọi nguyên nhân phát khởi đều chịu sự ảnh hưởng của nội tâm và tác động từ bên ngoài và dĩ nhiên chúng ta hoàn toàn có thể tái tạo một đời sống hướng thượng tốt đẹp làm biểu mẫu cho cuộc đời, đồng thời củng có thể trở thành những chất cặn bã cho xã hội. Muốn trở thành chất cặn bã của cuộc đời thì không khó nhưng để trở thành những bông hoa tươi đẹp giữa cuộc đời cần đòi hỏi bằng tất cả sự nổ lực phấn đấu của mỗi cá nhân mới có thể thành tựu được.
II. NỘI DUNG :
1. TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI:
Nói chung, con người là những động vật xã hội. Bất kể là ai, sự sống còn của người ấy tùy thuộc trên toàn thể cộng đồng nhân loại. Vì sự sống còn và phúc lợi của mỗi cá nhân lệ thuộc vào xã hội, nên nhu cầu nghĩ đến phúc lợi của người khác và quan tâm về nó xuất phát từ bản tính cơ bản của chúng ta. Nếu ta nhìn vào những con khỉ đầu chó, thí dụ thế, con khỉ già hoàn toàn lãnh trách nhiệm cho cả đàn. Trong khi những con khác đang ăn thì con khỉ đực già luôn luôn canh chừng ở bên cạnh chúng. Con thú mạnh hơn sẽ chăm sóc cả đàn vì lợi ích của xã hội loài thú.
Trong thời tiền sử, con người chúng ta không có nền giáo dục hay kỹ thuật. Căn bản xã hội con người còn đơn giản: tất cả mọi người cùng lao động và chia sẻ với nhau. Những người cộng sản nói đây là chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy: mọi người cùng làm việc và hưởng thụ với nhau. Rồi cuối cùng, nền giáo dục phát triển và chúng ta có một nền văn mình. Tâm thức (con người) trở nên phức tạp hơn và vì thế, lòng tham tăng trưởng. Điều đó dẫn đến lòng ganh tỵ và thù hận, rồi dần dần, chúng lớn mạnh hơn.
Ngày nay, trong thế kỷ hai mươi mốt, có quá nhiều sự thay đổi đã xảy ra (trong xã hội loài người). Sự khác biệt giữa chúng ta đã phát triển – (những sự khác biệt về) học vấn, nghề nghiệp và bối cảnh xã hội. Thậm chí có sự khác biệt về tuổi tác và chủng tộc – nhưng tất cả những điều này không quan trọng. Ở mức độ cơ bản, chúng ta vẫn là con người và tất cả đều giống nhau. Đây là mức độ của hàng trăm nghìn năm trước.
Thái độ của trẻ thơ là như thế. Chúng không quan tâm về bối cảnh xã hội, tôn giáo, chủng tộc, màu da hay sự giàu có của những đứa trẻ khác. Chúng cùng nhau nô đùa; chúng là những người bạn chân thật của nhau, cho đến khi nào chúng còn thân thiện với nhau. Bây giờ cứ cho rằng những người lớn như chúng ta thông minh và phát triển cao độ hơn trẻ con, nhưng chúng ta xét đoán bối cảnh xã hội của nhau. Chúng ta tính toán, “Nếu mình mĩm cười thì mình sẽ được những gì mình muốn không; còn nếu mình nhăn mặt thì mình sẽ mất mát điều gì hay không?”
1.1. chánh niệm và đạo đức:
Sự phát triển của thiền định một phần nào nhờ vào những nghiên cứu khoa học dẫn chứng những hiệu qủa của thiền định trên sức khỏe, bao gồm những tác dụng dương tính của thiền trên chức năng của bộ não Từ kết qủa của những nghiên cứu này, các chuyên viên y tế càng khuyến khích bệnh nhân nên tìm đến thiền định hầu giúp vượt qua những chướng ngại do các bệnh trạng của thân và tâm. Những khóa học về chánh niệm xuất phát từ truyền thống Phật giáo nhưng lại hoàn toàn biến thành phương pháp trị liệu thực tiễn trong dân gian.
Trước hết, có nhiều nghiên cứu khoa học về bộ não, chú trọng vào những xúc cảm như hạnh phúc và tình thương; đặc biệt người ta bắt đầu tìm đến với khoa học hay các khoa học gia, thay vì đến các tôn giáo, để tư vấn ý nghĩa dẫn đến một đời sống hạnh phúc và tình thương. Thứ đến là quan sát về ý niệm bản ngã và những đường hướng mà thiền định có thể làm thay đổi quan niệm đạo đức của con người.
1.2. Chuẩn mực đạo đức là gì?
Chuẩn mực đạo đức là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi xã hội. Chúng là hệ thống các phương pháp, cách thức thực hiện một việc gì đó theo một quy tắc chính thức được chấp nhận rộng rãi và có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội của một cá nhân, nhóm người hay xã hội.
Chuẩn mực đạo đức phản ánh những kết quả nghiên cứu về bản chất tự nhiên của đạo đức, luân lý, nhân cách, về sự lựa chọn về mặt đạo đức của con người, về cách thể hiện triết lý đạo đức. Chuẩn mực đạo đức thường được thể hiện thành những quy tắc hay chuẩn mực hành vi của các thành viên một xã hội, nhóm cá nhân, tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp. Khi đó, chuẩn mực đạo đức chính là tiêu chuẩn hành vi đạo đức của tổ chức. Đây là hình thức vận dụng phổ biến nhất của các chuẩn mực đạo đức trong thực tiễn.
Chuẩn mực đạo đức thường được những người quản lý các tổ chức, doanh nghiệp vận dụng vào thực tiễn quản lý, không phải bởi nó quan trọng hơn sứ mệnh công ty. Chuẩn mực đạo đức được coi là biện pháp thực hành cần thiết để điều hành một tổ chức trong một xã hội hỗn tạp, nơi mà các khái niệm đạo đức đóng vai trò quan trọng. Chuẩn mực đạo đức khác biệt với các chuẩn mực luân lý (moral code) ở chỗ, chuẩn mực luân lý thường được sử dụng ở phạm vi lớn hơn cho một nền văn hoá, một một tôn giáo hay một xã hội. Chuẩn mực đạo đức là các giá trị, triết lý hành động được chắt lọc từ các chuẩn mực luân lý vận dụng trong những hoàn cảnh nhất định cho một phạm vi hẹp hơn các đối tượng và mối quan hệ.
1.3. Thế Nào để có một Đời Sống Đạo Đức:
Tinh túy của đạo Phật là: nếu có khả năng, ta nên giúp đỡ người khác; nếu không thể giúp họ, thì tối thiểu nên hạn chế việc gây hại cho họ. Đây là tinh túy của cách sống một cuộc đời đạo đức.
Mỗi một hành động đều bắt nguồn từ một động cơ. Nếu ta phương hại người khác, điều này bắt nguồn từ một động cơ; và nếu ta giúp đỡ người khác, điều ấy cũng bắt nguồn từ một động cơ. Thế nên, để hỗ trợ hay phục vụ người khác, chúng ta cần một động cơ nào đấy. Vì thế, ta cần các khái niệm nào đó. Tại sao ta lại giúp đỡ và không phương hại người khác?
Ở đây, có hai cách tiếp cận khác nhau mà ta có thể chọn lựa. Với cách thứ nhất, ta nghĩ theo khía cạnh của sự quan tâm cho bản thân mình, rồi nếu ta có thể giúp đỡ ai đó, ta sẽ hành động; còn nếu không thể giúp, ta sẽ tự kềm chế mình để (không gây ra bất kỳ sự tổn hại nào). Cách tiếp cận khác là suy nghĩ theo khía cạnh của sự quan tâm về người khác và cũng như vậy, nếu ta có thể giúp họ, ta sẽ giúp; còn nếu không, ta sẽ tự kiềm chế để (không gây hại cho họ). Về khía cạnh kềm chế để không làm tổn thương người khác, ta sẽ nghĩ: “Nếu mình làm điều này, mình sẽ đối diện với những hậu quả tiêu cực bao gồm những hậu quả về mặt pháp lý” và thế là ta tự kềm chế mình vì lý do này, đó là sự tự chế vì lý do quan tâm đến bản thân mình. Bây giờ, khi suy nghĩ về người khác như một lý do, ta sẽ nghĩ: “Người khác cũng giống như mình. Họ không muốn khổ đau; vì vậy, ta sẽ tránh làm hại họ.”
Khi ta rèn luyện (tâm thức mình), trước tiên, ta nghĩ về bản thân rồi nghĩ đến người khác một cách nhiệt tình. Về mặt hiệu quả, việc nghĩ đến người khác một cách nhiệt tình là điều mãnh liệt hơn. Về phương diện giới Ba La Đề Mộc Xoa – tức biệt giải thoát giới, truyền thống giới luật của sự tu tập trong tu viện – nền tảng chính yếu là suy nghĩ về bản thân mình và vì vậy mà ta tránh việc gây hại cho người khác. Đó là vì ta đang hướng đến mục đích giải thoát. Về mặt tu tập bồ tát hạnh, lý do chính để không phương hại người khác là sự quan tâm đến phúc lợi của tha nhân. Có lẽ điều thứ hai, đó là tránh gây hại và giúp đỡ người khác trên căn bản vị tha, có một sự liên hệ với trách nhiệm phổ quát mà tôi rất thường đề cập đến.
1.4. Đạo đức Phật giáo giúp con người hướng thiện:
Với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, Phật giáo đã đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức con người và hướng tới một xã hội bác ái, góp phần tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế đã chứng minh Phật giáo tích cực tham gia các hoạt động từ thiện như: xây dựng trung tâm nuôi dưỡng những trẻ mồ côi; thành lập viện dưỡng lão, chăm sóc, nuôi dưỡng người già cô đơn không nơi nương tựa, cứu trợ người dân vùng thiên tai, mở lớp tình thương dạy chữ cho các cháu không có điều kiện đến trường, lập phòng khám từ thiện, tổ chức cai nghiện, giúp đỡ những mảnh đời éo le tái hoà nhập cuộc sống… Nói về những điển hình tín đồ, phật tử theo đạo Phật đã làm cho xã hội thì rất rất nhiều. Chính việc làm cụ thể đó kêu gọi và vận động hàng trăm nghìn tấm lòng từ bi của mọi người cùng đoàn kết giúp đỡ những cuộc đời không may mắn. Sức lan toả đạo đức và triết lý Phật giáo một phần chủ yếu là do các tăng ni, phật tử có nhân cách đạo đức trong sạch, thanh tao thực hiện. Chính nhân cách đó đã cảm hoá con người góp phần xây dựng những giá trị đạo đức và lối sống cho con người Việt Nam.
Đạo Phật đã tạo dựng cho các tín đồ, Phật tử một niềm tin vào luật nhân quả, vào vô thường, vô ngã… Niềm tin ấy sẽ chi phối ý thức đạo đức của con người, không chỉ ảnh hưởng đối với Phật tử mà còn lan toả và tác động đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Nó tạo ra cho con người một sức mạnh tinh thần để vượt lên cám dỗ vật chất, những trắc trở trong cuộc sống, hướng họ vào một lý tưởng sống tốt đẹp, vị tha. Tình thương và lòng nhân ái có thể giúp con người hạn chế bớt tính ích kỷ, từ bỏ tham, sân, si cốt lõi của những thói xấu, những mâu thuẫn, xung đột và bạo hành trong xã hội.
Hành vi đạo đức của những người có tín ngưỡng tôn giáo bị chi phối bởi niềm tin tôn giáo, khiến con người có thái độ thành kính, thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc những điều Phật dạy trong đời sống. Hiện nay, ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn, trong các ngày lễ của Phật giáo, người đi chùa rất đông. Những người đến chùa thuộc đủ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không chỉ là các cụ già mà còn có đông đảo những thanh thiếu niên, sinh viên, tri thức, những người buôn bán và cả cán bộ, công nhân, viên chức… Đa số người dân hiện nay tuy mức độ khác nhau nhưng đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo.
1.5. Hạnh phúc con người và đạo đức phật giáo:
Khi Ngài tuyên bố: "Này các tỷ-kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ nói nên sự khổ và diệt khổ" (Trung Bộ I, 140), lời tuyên bố xác nhận Ngài chỉ dạy cho loài người biết đến khổ và sự diệt khổ trong suốt 45 năm qua thuyết pháp của Ngài. Chúng ta được biết trong kinh Chuyển Pháp Luân, bản kinh đầu tiên của Ngài thuyết giảng cho 5 vị trước kia cùng tu khổ hạnh với Ngài. Ngài đã tuyên bố: "Ðây là khổ, đây là khổ cần phải được biết, đây là khổ đã được biết. Ðây là khổ tập, đây là khổ tập cần được đoạn diệt, đây là khổ tập đã được đoạn diệt. Đây là khổ diệt, đây là khổ diệt cần phải chứng ngộ, đây là khổ diệt đã được chứng ngộ. Đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là con đường khổ diệt cần phải hành trì , đây là con đường khổ diệt đã được hành trì. " Không những vậy ngài còn khuyên những đệ tử xuất gia của Ngài: "Này các Tỷ-kheo hãy du hành, vì hạnh phúc của quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư thiên và loài người". (Tương Ưng I, 128).
Những lời tuyên bố trên của đức Phật nêu rõ hoài bão tha thiết của Ngài là cứu khổ độ sanh, diệt khổ ưu, đem lại hỷ lạc cho tất cả loài hữu tình. Và như vậy chúng ta có thể định nghĩa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc và an lạc cho mọi loài chúng sinh, đặc biệt là loài người chúng ta. Cần đặc biệt nhấn mạnh đây là một nếp sống, không phải là những lời dạy luân lý hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động. Và nếp sống ấy cần phải đem ra hành trì, thực hiện, không phải để lễ bái cầu xin. Có thực hiện người hành trì mới hưởng được hạnh phúc an lạc, thiết thực hiện tại và ngay trong đời này (sandithiko akàliko), có thể thấy biết được (ehipassiko), không phải là một cảnh giới thiên đường xa xăm tưởng tượng.
2. PHẬT GIÁO VỚI VIỆC XÂY DƯNG ĐẠO ĐỨC VÀ LỐI SỐNG:
Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam. Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; lòng từ bi, bác ái góp phần cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thần là lành đùm lá rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ…. Những giá trị tích cực đó của Phật giáo càng được nhân lên với những hành động cụ thể, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,…. Giáo lý nhà Phật khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu làm đầu: “hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật”, “muôn việc ở thế gian không gì hơn công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ”. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh tâm, nơi chiêm nghiệm và cảm nhận…. Tất cả những điều đó là những giá trị tích cực, thiết thực góp phần giáo háo con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân bản, coi trọng thiên nhiên…. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phần xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham và sân là hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức của con người, chúng che khuất tầm nhìn và làm nhiễu loạn sự phán đoán của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tâm sân, đích thực là một thành tựu to lớn nhất của con người. Như thế Phật giáo đã góp những gái trị văn hoá tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất là cho tầng lớp trẻ hiện nay.
2.1. Rèn luyện đạo đức cho giới trẻ:
Giới trẻ luôn mải mê chạy theo cuộc sống mà quên đi yếu tố đạo đức tâm linh. Đạo đức chính là nền tảng để xây dựng một con người, một khi nền tảng bị lung lay thì làm sao có thể kiến tạo được một con người rường cột cho xã hội ? Một khi bị khủng hoảng, giới trẻ sẽ không còn nơi nương dựa vững chắc, đó chính là lý do hình thành những tệ nạn trong xã hội, tiêu cực trong cuộc sống. Do vậy, vai trò của phật giáo rất là quan trọng trong đời sống xã hội, vì nó giử gìn và phát huy đạo đức ở từng con người, yêu cầu của Phật giáo là cần phải giáo dục cho giới trẻ có một trình độ hiểu biết tư duy phân biệt rõ, tốt xấu hư thực và có khả năng kiểm soát các hành vi của chính mình bằng những bài pháp sinh động, cụ thể và phù hợp với mọi lứa tuổi. Cho nên đưa đạo Phật đến với tuổi trẻ, giúp cho các em tự tìm đường đi cho mình, tự quy định những giá trị sống thực cho chính đời mình. Tuổi trẻ cần được học hỏi để sống với tinh thần bao dung và đạt được giá trị hạnh phúc an vui khi theo đạo Phật, ứng dụng lời Phật dạy, luôn điều chỉnh hành vi và thái độ tiêu cực, để cho con người sống lạc quan và thấy rõ bản chất có ý nghĩa của cuộc đời, tuổi trẻ phải dũng mãnh sống hạnh phúc không bi quan, không bao giờ có tư tưởng đầu hàng khi đối mặt với những khó khăn, không phụ thuộc vào sự may rủi để hưởng thụ. Tất cả hoàn toàn phụ thuộc vào trí tuệ và phương pháp tu dưỡng và nhân cách sống của chính mình.
2.2. sống đạo đức là trách nhiệm của chúng ta:
Trước hết, đạo đức là vấn đề lớn và cần được hiểu là vấn đề chung, đòi hỏi sự quan tâm thực hành của mọi người như là giải pháp mang lại hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội. Tất nhiên, đạo đức không phải tự nhiên mà có, cũng như hạnh phúc không phải tự dưng mà có nếu không được nuôi dưỡng. Đạo đức cũng không ở trong từ ngữ hoa mỹ được định nghĩa thế này hay thế khác như món trang sức cho trí tưởng tượng. Đạo đức là một nếp sống và là nếp sống thiện, bỏ ác làm lành, được thể hiện qua các thái độ sống, cung cách ứng xử và tiếp xúc hằng ngày của con người, từ đấy hạnh phúc được biểu lộ. Do đó, đạo đức có thể được xem là đồng nghĩa với hạnh phúc và cần được nuôi dưỡng như chính hạnh phúc vậy. Quả thực, người biết nuôi dưỡng đạo đức là người biết nắm bắt hạnh phúc vậy.
Hơn thế, đạo đức còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tự thân cũng như đối với gia đình và xã hội, vì lẽ, đạo đức là hạnh phúc và việc xây dựng hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm của mỗi người sống nếp sống đạo đức, tức là người có trách nhiệm cao trong các mối quan hệ với gia đình và xã hội. Thiếu mất tinh thần trách nhiệm này, nghĩa là nếp sống thiếu đạo đức, thì chẳng những tự thân người có chịu bất hạnh, mà ngay cả gia đình và xã hội người ấy đang sống cũng chịu thiệt thòi, chịu bất hạnh do cuộc sống của vị ấy gây ra. Tục ngữ Việt Nam ta nói câu: "Một con sâu làm rầu nồi canh" hẳn đã nói lên được ý nghĩ này.
2.3. Tính xã hội và nhân bản của đạo đức Phật giáo:
Nếp sống đạo đức Phật giáo không thể thực hiện với những người sống một mình trong rừng sâu, xa lánh xã hội và mọi người. Tuy rằng, có không ít người do chưa thấu hiểu đạo Phật, cho rằng đạo Phật chủ trương một cuộc sống tách rời xã hội và thế giới hiện thực.
Nếu nghiên cứu với thái độ không thành kiến các giới luật mà Đức Phật chế định cho hàng tại gia cũng như xuất gia, dưới ánh sáng của kinh điển Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Đại thừa, chúng ta thấy rất rõ tính xã hội, tính nhân bản thể hiện đầy đủ trong những giới luật đó.
Ngoài tình thương, sự thông cảm với nỗi khổ đau và bất hạnh của tất cả chúng sanh, của mọi người, người Phật tử còn trau dồi lòng hỷ xả tức là thái độ sẵn sàng chia sẻ niềm vui với tất cả mọi chúng sanh, mọi người, và nhất là tâm buông xả không chấp thủ, không vướng mắc bất cứ điều gì. Cho nên dù hình thức bố thí là thế nào, là bố thí của cải, hay bố thí pháp (pháp thí), người Phật tử chỉ có một động cơ mà thôi thúc tức là lòng từ bi hỷ xả như đã nói. Một yếu tố nữa thúc đẩy người Phật tử thực hiện hạnh bố thí không mệt mỏi là trí tuệ. Với con mắt trí tuệ, người Phật tử không thấy sự khác biệt giữa mình và mọi người, mọi chúng sanh. Đó là quan điểm vô ngã, là tinh túy của đạo đức và triết lý Phật giáo. Chủ thuyết vô ngã hướng dẫn mọi hành vi ứng xử của người Phật tử, xuất gia hay tại gia.
3. ĐẠO ĐỨC NGƯỜI XUẤT GIA:
Ngày nay, người xuất gia có chút ít tri thức, thì đã vội vàng tập tành học cách chú giải, khảo cứu, biên chép… chẳng khác nào những thư sinh nhà Nho chuyên làm con mọt sách. Người có tri thức trình độ hơn chút nữa, thì tầm chương trích cú những lời dạy của cổ nhân, vay mượn một cách máy móc, biên chép lại thành sách rồi cho là của mình; nắm bắt những thứ cặn bả, vụn vặt như ngói gạch phế thải... của chư vị Tổ sư đã bỏ đi, vậy mà cứ cho là của mình sáng tác; thật đúng là làm trò thả hình bắt bóng, chẳng được gì cả, ngược lại còn làm trò cười cho kẻ trí! Những hạng người này, giảng kinh thuyết pháp nghe hùng hồn lắm, mỗi chữ mỗi câu đều phảng phất như lời chư Phật, chư Tổ, rất cao minh, nhưng khảo sát lại hành vi của họ thì chẳng khác nào những kẻ phàm phu tục tử. Thời kỳ mạt pháp, những hạng người bại hoại như vậy thật nhiều lắm!
Từ bỏ mọi sự nhiễm ô của thế tục, gọi là xuất gia. Xuất gia, điều đầu tiên phải nói đến là sự thanh cao và giản dị, cho nên, thiện hạnh thứ nhất mà người tu phải noi theo học tập là Thanh tố. Nhưng thanh cao mà không nghiêm chính thì chỉ là cái thói làm cao của kẻ cuồng sĩ. Người học Phật nhất định phải thâu nhiếp ba nghiệp thân, khẩu, ý cho thanh tịnh thì mới có cơ hội thành tựu đạo nghiệp, cho nên điều thiện hạnh thứ hai phải học là Nghiêm chính. Hành vi nghiêm chính cần phải nương nhờ thầy chỉ dạy, mới tránh khỏi sai lầm. Người thầy là bậc mô phạm, nuôi dạy ta thành người, cho nên điều thiện hạnh thứ ba là phải Tôn sư. Có cha mẹ sanh ta, nuôi ta lớn khôn, sau mới có thể tiếp nhận sự giáo dục của thầy, quên mất công ơn cha mẹ là bất hiếu, vong bản. Vả lại, giới hạnh luật nghi tuy rất nhiều, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hiếu hạnh, cho nên, thiện hạnh thứ tư là Hiếu thân. Kẻ trung thần xuất thân từ người con hiếu. Đạo lý trung hiếu phải vẹn toàn, chỉ biết có tình thân, không biết có ân quân chủ, quốc gia thì đó là hành vi của người tự tư tự lợi. Trong sách có ghi: “một người có phước, vạn dân đều nhờ”, là ý nói khi có một bậc quân chủ đức độ nhiếp chính thì quốc thới dân an, chúng ta nhờ vậy mà có thể được xuất gia, tự do đi lại khắp núi rừng sông suối để ẩn cư tu tập. Ân quốc gia cũng thật lớn thay! Cho nên, điều thiện hạnh thứ năm là phải trung thành với đất nước, Trung quân. Nhưng nếu chỉ biết đến đạo lý trung quân, tức là chỉ giao tiếp qua lại với các cấp chính quyền lãnh đạo, mà không quan tâm đến nhân dân, những người tín chủ đã ủng hộ mình tu tập thì cũng không tròn đạo lý.
3.1. Đạo Đức Phật Giáo Thông Qua Việc Thực Tập Giới luật Căn Bản:
Phật giáo, một tôn giáo lớn với tinh thần từ bi hỉ xã- vô ngã vị tha – tốt đời đẹp đạo luôn trăn trở và đồng hành với sự nghiệp giáo dục đạo đức nhân cách của con người. Trên tinh thần đó, Phật giáo trong nhiều thế kỷ qua đã có nhiều đóng góp trong việc truyền bá những phẩm hạnh cao quý nhằm giúp con người trở về nếp sống lành mạnh. Đặc biệt dưới thời nhà Trần, chính đức vua Trần Nhân Tông đã ứng dụng giáo lý Phật Đà vào công cuộc an dân trị quấc và đã đem lại rất nhiều sự thái bình cho đất nước.
Giáo lý căn bản trong Phật giáo nhằm xây dựng một con người có đầy đủ phẩm chất đạo đức đó chính là sự thực tập theo năm điều giới: không sát sanh, không trộn cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu.
Đây không phải là sự ràng buộc làm cho con người cảm thấy khó chịu mà đây chính là những hàng rào bảo vệ cho những cái ác, cái xấu không có cơ hội đi vào làm tổn hại đến ta, nó củng được ví như những điều luật quy định hướng dẫn người đi đường cần tuân thủ, nếu vượt qua điều lệ này ắt hẳn sẽ có những tai nạn xảy ra.
Nếu chúng ta nhìn nhận cho kỷ thì dễ thấy rằng những tệ nạn phát xuất bên ngoài xã hội củng tương đồng với những gì mà giới luật nhà Phật răng dạy.
3.2. nguyên tắc đạo đức người con phật:
-- Để đảm bảo đời sống đạo đức, văn hóa, trí huệ, hạnh phúc, an lạc, giải thoát của người Phật tử;
-- Để thực hành và phát huy tinh thần khế lý, khế cơ, ứng thế độ sanh, thắp sáng mãi thông điệp từ bi cứu khổ của đức Phật;
-- Căn cứ tinh thần ứng dụng giáo lý qua tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhằm xây dựng một tịnh độ cho tự thân, gia đình và xã hội;
Điều 1: Trước khi đi theo đạo Phật, bạn cần phải tìm hiểu, suy tư lời Phật dạy và luật tắc đạo đức này. Chỉ khi nào bạn nhận thấy rằng đạo Phật là lý tưởng, là chân lý, là sự sống, là sự trưởng thành đạo đức và trí tuệ, bạn hãy phát nguyện trở về sống với gia đình của đạo Phật.
Điều 2: Người Phật tử nên đến với đạo Phật bằng thái độ chánh kiến, chánh tư duy; vâng giữ và thực hành lời vàng Phật dạy, phù hợp với nếp sống chánh pháp, góp phần làm trong sạch và an lạc xã hội.
Điều 3: Người Phật tử là người sống phù hợp và trung thành với lý tưởng chánh pháp, thể hiện đạo đức, văn hóa, trí tuệ, hạnh phúc, an lạc và giải thoát của bản thân, gia đình và xã hội ngay hiện tại và về sau.
Ngũ giới, Thập thiện: Ngũ giới của Phật giáo là “đạo đức căn bản” làm người, nên phải tuân thủ giữ gìn; Thập thiện là “đạo đức tăng thượng” tịnh hóa nội tâm, thăng hoa nhân cách; nhân quả nghiệp báo là “đạo đức thiện ác” bất biến của thế gian. Hình phạt nghiêm khắc, cố nhiên có thể nhận được tác dụng tích cực nhất thời, nhưng vốn không phải là cách làm rốt ráo. Phật giáo lấy Ngũ giới, Thập thiện xem là chuẩn mực đạo đức nhân bản, khởi xướng “chớ làm các việc xấu, hãy làm những việc tốt”, không xâm phạm thân thể, tiền của, danh dự, tôn nghiêm của người khác, sửa đổi triệt để lòng người, khiến nhân luân cương thường có trật tự, làm cho nếp sống xã hội trở nên lương thiện. Ngũ giới, Thập thiện chính là chuẩn mực đạo đức của Phật giáo.
3.3.nghĩ về đạo đức Phật giáo:
"Đạo đức Phật giáo - với những giới luật (nguyên tắc trong cuộc sống cao đẹp) mang tính chất quy luật đặc thù (thập nhị nhân duyên, biến chuyển theo vòng lưu chuyển và hoàn diệt), trong thực tế vẫn nằm trong Định luật chung (lý duyên khởi) - trong cùng hệ thống cơ cấu xây dựng trên nền tảng lý luận của một phương pháp luận đúng đắn, liên kết nhiều mặt quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, hợp nhất thành một nguồn trí tuệ sáng suốt, hướng dẫn con người trong mọi hoạt động nhận thức một cách tốt nhất những vấn đề cần thiết trong cuộc sống..."
Một bộ phận khá rộng rãi dư luận xã hội thường nhìn giáo lý nhà Phật như một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo đặt niềm tin vào một lẽ sống đạo đức (luân lý) có tính nhân bản chung chung. Nhưng đứng trước kho tàng tư tưởng Phật học mênh mông hết sức phong phú và thâm sâu còn chứa đựng nhiều tiềm ẩn, các nhà tu hành và bác học uyên thâm trên thế giới đã đưa ra nhiều cách luận giải rất khác nhau: Có khuynh hướng chấp nhận cho đây chỉ đơn thuần là một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo, có khuynh hướng nặng nề ý nghĩa luân lý (đạo đức) và cũng có khuynh hướng đặt nặng về khía cạnh triết lý...
Riêng trong giới Phật giáo, cũng có nhiều cách nhìn khác nhau. Không ít những nhà tu hành thuần thành cho rằng tìm hiểu thực chất của giáo lý nhà Phật không phải là vấn đề quan trong.
3.4. Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Phật Giáo:
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, có khả năng duy trì kỷ cương quốc gia, khiến quốc gia không rối loạn, bảo vệ an toàn cho đời sống nhân dân, xã hội.
Lễ giáo mà Trung Quốc xưa kia lập ra, gọi là “tứ duy bát đức”, nhân luân “ngũ thường”, đều là kỳ vọng xây dựng nên một quốc gia thái bình thịnh thế “trung thứ nhân nghĩa” và phép tắc trật tự.
Với Phật giáo, toàn bộ nội dung tư tưởng Phật dạy là lấy con người làm gốc, gắn bó mật thiết với đời sống nhân quần xã hội, như Phật đà từng hướng dẫn phép trị nước cho các vị vua Tần-bà-sa-la, Ba-tư-nặc, A-xà-thế…, đó là “đạo đức chính trị”; Ngài giảng dạy và truyền thụ những nguyên tắc sống chung trong cùng một gia đình cho Thiện Sinh Tử, Ngọc Da Nữ, chính là “đạo đức gia đình”; Phật đà từng dùng thi kệ khuyên dạy cách tiêu xài đồng tiền, đại để nói rằng: vốn liếng, của cải kiếm được của mình nên chia làm bốn phần, một phần gọi là phí dụng hàng ngày trong gia đình, một phần dự trữ để dự phòng nhỡ có xảy ra bất trắc gì, một phần giúp đỡ bà con quyến thuộc hay những thân hữu, một phần bố thí vun đắp phúc đức”, chỉ dẫn người đời sử dụng đồng tiền đúng đắn, chính là “đạo đức của cải”.
Chuẩn mực đạo đức Phật giáo, bao hàm các quy phạm luân lý của thế gian, cả đến tu hành thánh hiền xuất thế gian.
3.5.Tự nguyện, lạc quan và tích cực:
Phật giáo nhằm tới việc lập quân bình cho đạo đức, chiêm nghiệm và trí huệ trên con đường tâm linh của mình. Người theo đạo Phật không thể hiện đạo đức như phương tiện để đạt tới cứu cánh. Họ biến các hành động công đức thành một yêu cầu thiết yếu cho kẻ sẽ thành tựu sự giác ngộ. Nói đúng hơn, vì mọi sự đều phát sinh trong tùy thuộc vào các điều kiện, người Phật giáo cho rằng căn bản đạo đức là điều kiện làm cho các đặc điểm khác của con đường đạo có khả năng phát sinh.
Ðiểm nổi bật thú vị so với các tôn giáo độc thần là ngũ giới của Phật giáo không có tính cách như các điều răn được ban cho bởi một thần linh ngoại tại đi kèm với lời hăm dọa rằng nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt. Ngũ giới đơn giản chỉ là bản tóm lược của Ðức Phật về một kiểu sống để cho từ trong con người nổi lên từ bi và trí huệ. Tuy có sẵn những lời chỉ dẫn ấy nhưng người Phật tử có tự do quyết định cách áp dụng nào tốt nhất cho hoàn cảnh cá nhân của mình, trong sự thừa nhận rằng mỗi khoảnh khắc và mỗi biến cố của mỗi người là cá biệt.
Dĩ nhiên, cần phải nhìn đạo đức học Phật giáo dưới ánh sáng của lý thuyết về nghiệp báo. Những dự tính tự nguyện tự chúng quyết định các trạng thái tương lai — và chính ý định mới đáng kể chứ chưa phải là hành vi thể hiện dự tính ấy — cho dù hệ quả nghiệp báo có khả năng nghiêm trọng hơn một khi ý định ấy đã được thực hiện.
3.6. Xây dựng nếp sống đẹp theo lộ trình Giới–Định–Tuệ:
Giới trong Phật giáo không phải là một hệ thống giáo lí mang tính giáo điều, cũng không phải là những luật lệ có tính chất áp đặt. Nó là những nguyên tắc sống phù hợp với tình cảm của con người và chuẩn mực đạo đức xã hội. Giới, được dịch từ chữ “śila” của tiếng Phạn, có nghĩa là: “phòng phi chỉ ác”. Giới trong Phật giáo được ví như là hàng rào ngăn ngừa mọi hành vi cử chỉ sai trái, tội lỗi của con người; chỉnh đốn tác phong và oai nghi của con người; giúp con người có đời sống mà bên ngoài thì trang nghiêm thân tướng, bên trong thì đầy đủ đức độ. Như vậy, giới chính là điều kiện giúp con người sống xứng đáng với một con người, giúp cho “tính người” trong mỗi con người được thể hiện một cách trọn vẹn.
Định trong Phật giáo là phương pháp rèn luyện kỉ luật tâm linh. Người hành trì định không phải nhằm mục đích đạt được thần thông để phi hành tự tại, mà là để loại trừ các cấu uế của tự tâm, làm chủ không để tâm chạy theo các dục tình bên ngoài.
Tuệ trong Phật giáo là nhờ vào sự tu tập thiền định mà có. Tuệ nầy không giống như trí thông minh thông thường của thế gian. Người có trí tuệ không phải là người có kiến thức uyên bác, học rộng hiểu nhiều, mà là người có cái nhìn đúng đắn, không lầm lạc: “Chân thật biết chân thật, không chân biết không chân”. Trong kinh Di giáo, đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của Tuệ: “Các thầy tỳ-kheo, nếu có trí tuệ thì không tham trước, thường tự soi sáng, tránh khỏi lỗi lầm, ở trong chánh pháp người ấy có thể giải thoát. Nếu không như vậy thì chẳng những không phải là người xuất gia cũng không phải là người thế tục, không biết gọi là gì”.
Quả là một phương pháp hoàn mãn, một con đường cao quý. Đây là con đường mà tự thân con người có thể thực hiện được bằng tất cả khả năng của mình ngang qua việc hành trì Giới, Định, Tuệ mà không phải nhờ vào một thế lực ngoại tại nào. Cho nên trong Phật giáo, thành tựu trọn vẹn Giới Định Tuệ tức là sống trọn với tinh thần Trung đạo, và như vậy là hành giả đã xây dựng một nếp sống đẹp hoàn mãn ngay trong cuộc đời nầy.
3.7. Đạo Đức Học của Giải Thoát:
Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: "Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?". Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận... Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế...? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v...
Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao... Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người.
Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : "Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức."
III. KẾT LUẬN:
Như vậy, vấn đề đạo đức trong xã hội học với đạo đức Phật giáo không nằm ngoài mục đích nhằm cải tạo con người, cải tạo xã hội, để từ đó giúp cho con người nhận thức được đâu là giá trị đích thực của cuộc sống. Sự giáo dục dục ấy được tập trung vào ở ba môi trường chính là gia đình, trường học và xã hội. Trong từng môi trường ấy đòi hỏi ở những người có chức trách phải thể hiện bằng tất cả tấm lòng tâm huyết của mình thông qua từng chức năng, công việc, và vai trò của mình.
Với gia đình đòi hỏi bổn phận những bậc cha mẹ cần dành nhiều thời gian chăm sóc con cái, phải có thái độ lắng nghe, chia sẽ nhằm tháo gỡ những vướng mắc mà con cái mắc phải.
Ơ trường học quý thầy cô phải là tấm gương sáng về trí tuệ và nhân cách để cho các học sinh học tập.
Đối với xã hội cần tạo thêm nhiều sân chơi bổ ích thích hợp với từng độ tuổi của giới trẻ.
Cần bài trừ những loại văn hoá không lành mạnh và hướng cho giới trẻ có một lối sống đầy ắp hoài bảo cống hiến, không thiên về cá nhân hưởng thụ. Luôn giang rộng vòng tay nhân ái và có chế độ quan tâm hơn đối với những trẻ có hoàn cảnh không may để giúp họ xoá đi những mặc cảm để có được một chổ đứng ổn định trong xã hội…
Bên cạnh đó đạo đức Phật Giáo phải được nhân rộng đến với mọi tầng lớp người dân mà nền tảng là cần giảng giải cho mọi người thấu rỏ về giá trị của việc ứng dụng năm giới của Đức Phật vào nếp sống hằng ngày.
Nếu mỗi chúng ta cùng chung tay hiệp lực quyết thực thi bằng tất cả trái tim của mình thì chắc chắn rằng từ trong gia đình đến ngoài xã hội sẽ đầy ắp những tấm gương sáng về con ngoan - trò giỏi, dâu hiền - rễ thảo, người tốt – việc tốt … và một đất nước Việt Nam văn minh giàu đẹp đó không phải là điều xa xôi.
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu dịch-Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993.
2. Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- 1996.
3. Thích Minh Châu dịch-Trung Bộ Kinh I, II, III- Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1992.
4. Thích Minh Châu dịch-Kinh Trường Bộ I-Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1996.
5. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001.
6. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998.
7. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo.
8. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét