THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
THIỀN QUÁN LÀ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG ĐẾN BÌNH AN VÀ TRÍ TUỆ
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
Trang
I. DẪN NHẬP:………………………………………………………………3
II. NỘI DUNG:………………………………………………………………4
1. Thế nào là thiền ?..................................................................................4
2. vai trò của chánh niệm trong thiền quán:……………………………….5
3. lợi ích của thiền: ………………………………………………………….5
4. ứng dụng thiền trong xã hội: ………………………………………………6
5. thiền quán con đường dẫn đến hiện tại an lạc trú và giải thoát :……….6
II. KẾT LUẬN:…………………….…………………………………………..7
TÀI LIỆU THAM KHẢO:………………………………………………….7
THIỀN QUÁN LÀ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG ĐẾN
BÌNH AN VÀ TRÍ TUỆ
I. DẪN NHẬP:
Bằng sự bình an của cõi lòng, con mắt tuệ nhẹ nhàng như người thi sĩ dạo chơi giữa vườn hoa trăm sắc… Ở đó, thời gian dù trước, dù sau không hề chi phối, chỉ có lúc này, phút giây hiện tại là hoa nở bướm bay sắc màu trang hoàng lộng lẫy. Hạnh phúc tìm trong mỗi bước chân đi với sự thể nhập hiểu biết tự thân theo từng phút giây đương niệm.
Mới hay rằng, những khát khao hướng về chân lý, tìm cầu giải thoát không ở đâu xa, trên trời cao hay dưới lòng sâu biển cả. (mà ngay trong phút giây này tự tìm về trong mỗi người để thấy được hai phần Danh và Sắc là những hợp chất kết hợp với nhau tạo thành một tiểu vũ trụ đầy đủ tánh sanh diệt, sớm đổi chiều thay đang thôi thúc con người đi về hướng chông gai, góc cạnh khổ sầu).
Thiền – là một phương pháp, là lối sống được mọi người quan tâm. Đồng thời phương pháp Thiền cũng rất đa dạng phong phú đòi hỏi người học, người hành trì phải có cái nhìn rộng rãi, bao quát và sự nhận định sáng suốt. Hơn nữa, trãi qua chiều dài lịch sử Thiền đã được phát triển, xiển dương thành nhiều nhánh. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, người viết chỉ xin được giới hạn về Thiền tứ niệm xứ với dàn bài nội dung như sau:
II. NỘI DUNG:
2. THẾ NÀO LÀ THIỀN ?
Thiền, cách nói tắt của “Thiền na”, phiên âm theo Hán Việt của chữ Phạn Jhana hay Dhyana trong Sanskirt.
Theo từ điển Phật học Huệ Quang, Dhỳana hay Jhāna ngoài tiếng phiên âm là Thiền-na , còn được phiên âm là Đà-diễn-na,, Trì-a-na, dịch là tĩnh lự, tư duy tu tập, nghĩa là tư duy trong sự vắng lặng.
Thiền còn được dùng để dịch chữ Bhāvana có thể hiểu như là một sự tiến triển, phát triển tâm linh, sự tu tập tâm, sự luyện tâm. Mà tiếng Anh thường dịch là Metal development. Samadhi thường dịch là Định, Thiền định, tâm định. Tiếng Anh thường dịch là concentration, Meditation.
Cho nên, nói vể bảy giai đoạn thanh tịnh hóa tâm thức Đức Phật cũng đã dạy rất rõ ràng qua bài Kinh Trạm Xe, trong Kinh Trung Bộ, bài số 26 theo tiến trình sau “Giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh, Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo tri kiến thanh tịnh và tri kiến thanh tịnh”.
1. Giới thanh tịnh: Tức là tuân giữ nghiêm túc những giới đã được thọ bằng sự nỗ lực, tự giác.
2. Tâm thanh tịnh: Là nhiếp phục năm triền cái, đưa tâm an trú vào các thiền na.
3. Kiến thanh tịnh: Là phân biệt rõ danh – sắc, sự thấy đúng về danh và sắc được an lập trên nền tảng sáng suốt và vượt qua những ảo tưởng về tự ngã.
4. Đoạn nghi thanh tịnh: Thấy rõ sự hiển bày của tâm lý và vật lý qua sự thật duyên khởi, sự tồn tại và sự tan rã của các cảm thọ, các tưởng nên không còn nghi ngờ gì nữa.
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh: Với sự tỉnh giác mà hiểu biết rằng trên con đường phát triển trí huệ rộng lớn thì cảm thọ hỷ lạc đều là chướng ngại. Nên rõ biết cái gì là Đạo và cái gì là chướng Đạo, và tự biết chắc rằng: giờ đây đã có hạnh phúc thật sự.
6. Đạo tri kiến thanh tịnh: Giai đoạn này người tu tập thấy rõ hiện tượng tan rã của các quá trình thân và tâm, thấy không có cái gì hiện hữu nữa, các đối tượng chú tâm tan rã. Hành giả thấy rõ ba pháp Ấn: Khổ (Dukkhàt), vô thường (Aniccatà), vô ngã (Anattatà).
7. Tri khiến thanh tịnh: nghĩa là tâm hoàn toàn thanh tịnh do thấy và biết. Trong giai đoạn này hành giả đi vào các tầng thánh đạo quả (Dự lựu, nhất lai, bất lai và A la hán) sau khi thành tựu Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát chánh đạo.
Từ bảy giai đoạn tu tập đó đã cho ta thấy rằng những lời Phật dạy để đạt được giải thoát không ngoài sự tự nỗ lực để khám phá chính bản thân mình. Đó là sự tiếp xúc nội tại, là cái nhìn hướng vào trong bằng con mắt Chánh kiến. Từ đó hiểu mình đang có những gì, cần những gì và cái gì đang hiện hữu và mất đi. Con người này, tấm thân hằng ngày đi, đứng, nói, cười, buồn, vui, thương, ghét thật ra chỉ là hợp chất được cấu tạo bởi sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Chính sự hợp tác giữa hai phần Danh và Sắc ấy lại luôn luôn ẩn chứa bao nhiêu là sự xung đột và dần đưa đến sự tan hoại. Càng tiếp xúc với mình để tránh lạc lõng, lo sợ vì mất phương hướng và hành giả hiểu rõ sự tu tập Thiền định theo lộ trình Giới – Định – Tuệ, hiểu rõ 12 duyên khởi và Tam Pháp Ấn.
2. VAI TRÒ CỦA CHÁNH NIỆM TRONG THIỀN QUÁN:
Chúng ta đã biết Thiền Quán có quan hệ với năm lực rất chặt chẽ. Ở đây, niệm vị như thân xe, tới – định và tấn – tuệ giống như 2 cặp xe song mà.
Niệm có tín nhiều sẽ nhanh phát sinh định, nhưng Định nhiều sẽ sanh hôn trầm.
Niệm có tinh tấn nhiều, quán sát nhiều sẽ sinh ra trạo cử, phóng dật (suy tư nhiều). Do đó, hành giả phải quân bình năm lực tín – tấn – niệm định thì Tuệ giác mới phát sinh.
Trong năm lực, tín là thềm thang đầu tiên để chuyên sâu vào thực hành, áp dụng những phương pháp mà Phật đã dạy. Đức tin cũng là một phần của sự thực tâp Thiền dẫu rằng nó không tích cực hoạt động trong khi thực tập Thiền nhưng Tín – đức tin, là một thành phần của năm lực không thể tách rời.
3. LỢI ÍCH CỦA THIỀN:
Người mới xuất gia được hướng dẫn thực tập chánh nhiệm tỉnh giác qua “Tỳ ni nhật tụng thiết yếu” lấy đó làm qui tắc để thúc liễm thân tâm và rải lòng thương tưởng đến muôn loài chúng sanh. Gần như làm bất cứ việc gì cũng phải ý thức một cách rõ ràng, tinh xác việc làm đó và cầu mong an lạc đến cho mọi người. Ngoài ra, việc chính yếu là Thiền hành và thực tập tọa Thiền, trong quá trình thực tập này phải luôn luôn có Thầy hướng dẫn cụ thể từ khâu lý thuyết, chuẩn bị thân tâm đến cách tọa Thiền, tư cách ngồi và các điều hòa, theo dõi hơi thở cứ từng bước theo đó cũng có những kết quả nhất định.
Chính vì vậy, khi một người dâng trào niềm khát khao hạnh phúc, đã dệt nên những ước mơ tuyệt vời mong thắp sáng chân lý trong tim, sưởi ấm vạn triệu tấm lòng. Thì những người như thế dù phải trải qua một khoảng thời gian khả dĩ nào đó và cả khó khăn, gian khổ họ vẫn đầy đủ nghị lực mà bền lòng, kiên chí đưa ước mơ về hiện thực. Đàm luận về Phật pháp bằng ngôn ngữ, lý lẽ minh chứng hùng hồn nhưng để thể nhập Phật pháp lại bằng sự im lặng tuyệt đối. Để từ cái hiểu biết thuộc về trí văn và trí tư mà hiểu được bản chất thật của tục đế mà dần hướng về trí tu bằng con đường thiền quán.
4. ỨNG DỤNG THIỀN TRONG XÃ HỘI:
Cuộc sống hôm nay có quá nhiều thành tựu mà con người tạo ra. Tuy nhiên, tỷ lệ thuận với niềm tự hào ấy là nổi âu lo, bất trắc về bệnh tật thiên tai, tội ác và những điều nông nỗi trong suy nghĩ của lớp trẻ kế thừa. Đó cũng là 2 mặt của đời sống hiện tại, cho nên, nếu chấp nhận sự phát triển đời sống vật chất bằng niềm tự tin, hãnh diện thì cũng là chấp nhận nỗi đau, lo toan – bề trái của những hạnh phúc vật chất. Nên ta tự hỏi rằng: liệu có con đường nào khác hay không? Cũng như một nhà sữa chữa, khi xây phía này được hoàn thành đẹp đẽ, phía kia lại được bắt đầu. Hơn nữa, một nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã nói rằng: “Con người hiện đại có một chân bị cột vào máy bay phản lực, còn chân kia thì bị kẹt cứng vào chiếc xe bò” vì bởi những hiện thực cụ thể và những ước vọng mãi là những hướng ngược chiều nhau. Nên mỗi ngày con người cứ tiếp nhận thêm chông chênh khập khiễng bởi những khiếm khuyết, đổ vỡ trong cuộc sống.
5. THIỀN QUÁN CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN HIỆN TẠI LẠC TRÚ VÀ GIẢI THOÁT:
Cuộc sống giải thoát, Niết bàn được bắt đầu từ sự thực hành tứ niệm xứ. Qua phương pháp thiết thực là hạt ngọc quý giá trong kho tàng kinh điển, mà mỗi chúng ta có thể mài giũa bằng sự thể nghiệm tu trì biến giáo lý trên giấy mực khô cằn thành dòng máu nóng luân lưu nuôi dưỡng cơ thể. Vì thế, dẫu giàu sang hay nghèo hèn thiện lương hay tội lỗi, đều có khả năng hiểu biết về Thiền và thực tập Thiền để được sống bình an, trí tuệ. Chúng ta với thân phận làm người cũng như một chiếc máy vi tính mà trong đó: đời sống tâm linh như một trang web độc đáo, phong phú mà tự ta cần truy cập. Để từ đó có cách sống khác: thật thà, hiểu biết. Tất cả đều phải được bắt đầu từ đây – những phút giây hiện tại… Đang bước chân trên đất, nghe tiếng chuyển mình của mầm xanh cây cỏ, nghe tiếng thở của gió dịu dàng… Đang uống trà, thưởng thức được vị đậm đà đang luân lưu trong bầu huyết quản… Đang nhặt cỏ, hái rau, sửa soạn bữa an bằng tất cả sự tin yêu, trân trọng và thông cảm, sẽ chia cho nhau bằng chính đôi tay nhiệm màu của mình.
II. KẾT LUẬN:
Chúng ta ai cũng mong mình là người hiểu biết (trí tuệ) và sống được đời bình an, thanh thản. Nào ai có nghĩ rằng hạnh phúc có giá trị nhất là phải tự thân tìm thấy nó ngay trong lòng của khổ đau. Vì bởi, người ta không có những phút giây thăng trầm trong cuộc chiến đấu, vượt lên những khúc mắc dày vò luyến thương, ghét bỏ của chính mình. Tự thân lặn hụp trong đời sống nội tâm – trong góc tối của lòng mình đầy những vô minh, trần cấu mà khơi nguồn tát nước, vén áng mây mờ để xua tan những nổi khổ, niềm đau. Cho hiểu lộ tâm thái sâu trầm, tĩnh lặng như mặt nước đầy không gợn sóng, phản chiếu trọn vẹn ngoại cảnh một cách nhi nhiên, trong sáng.
Thiền là pháp môn tịch tĩnh, thù diệu thuần nhất theo lộ trình Giới – Định – Tuệ. Là con đường chính thống không gây tác dụng phụ gì cho thân và tâm mà còn giúp hành giả chứng hiện tại lạc trú, có khả năng đoạn tận tham ưu, vơi nhẹ các bất thiện nên hoàn toàn được xem là nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng. Do đó mỗi người cần thực tập một cách kiên trì, giản dị mười lăm phút, hai mươi phút, sáu mươi phút và sống trọn vẹn trong từng hơi thở vô ra, dài ngắn… thưởng thức không khí trong lành, nhờ hơi thở điều hòa, nhờ nuôi dưỡng các cảm thọ hỷ lạc, nhờ tâm gột sạch các triền cái nên con mắt sáng suốt, thân thể khỏe mạnh, tim, mạch, phổi hoạt động điều hòa sẽ giúp hành giả tiến dần đến cứu cánh phạm hạnh, chứng được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thích Minh Châu, Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, dịch năm 1986
[2] Thích Minh Châu, Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm, Trung Bộ I, dịch năm 1992
[3] Thích Minh Châu, Kinh Bốn Niệm Xứ, Trung Bộ I, dịch năm 1991
[4] Thích Minh Châu, Trung Bộ I, dịch năm 1992
[5] Thích Minh Châu, Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, Trung bộ III, năm 1991
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét