THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

THUYẾT NGHIỆP TRONG CÂU XÁ LUẬN

NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN MỤC LỤC: I: DẪN NHẬP: II: NỘI DUNG: 1. Sơ Lược Về Luận Câu Xá: 2. Nghiệp Trong Câu Xá Luận: 2.1. Định nghĩa: 2.2 Nguồn gốc của nghiệp: 2.3. Thể Tính của Nghiệp: 2.4. Vô biểu nghiệp (avijñapti ): 2.5. Biểu nghiệp (vijñapti): 2.6. Tính chất của nghiệp: 2.6.1. Bốn thứ thiện: 2.6.2. Bốn thứ ác: 3. Nghiệp Được Nói Trong Các Kinh: 3.1. Tam tánh nghiệp: 3.2. Phước phi phước nghiệp: 3.3. Tam thọ nghiệp: 3.4. Tam thời nghiệp: 3.5. Thân tâm thọ nghiệp: 3.6. Ba nghiệp khúc uế trược: 3.7. Hắc bạch nghiệp: 3.8. Tam mâu ni nghiệp: 3.9. Ba ác hạnh: 3.10. Mười nghiệp đạo: 3.11. Ba tà hạnh: 4. Một Số Nhận Định Về Nghiệp Trong Câu Xá Luận: 4.1 Nghiệp Và Quả: 4.3. Lợi Ích Và Ứng Dụng: 4.2. thái độ tâm lý tiếp thọ nghiệp: III: KẾT LUẬN: Thư Mục Tham Khảo: THUYẾT NGHIỆP TRONG CÂU XÁ LUẬN I: DẪN NHẬP: Sinh ra trên cõi đời này, ai cũng mong muốn mình có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc và hoàn hảo về mọi mặt. Nhưng khi bước vào cuộc sống thực tế, nào có được như ý muốn. Quả thật, khi nhìn lại cuộc đời trong mỗi chúng ta không ai không đặt câu hỏi, tại sao trên thế gian này có người sinh ra được hưởng giàu sang, phú quý trong khi ấy kẻ khác phải sống trong cơ hàn, khốn khổ? Tại sao người kia lại thông minh suất chúng, kẻ nọ lại ngu muội tối tăm? Tại sao người này sinh ra với bản tánh hiền lương, còn người nọ lại sẵn nết dữ hung từ khi mới lọt lòng? Sự khác nhau đó là do ai bày ra mà bất công như vậy? Do Thượng Đế ư ? Do ngẫu nhiên hay định mệnh. Người có trí không thể chấp nhận những lý do ấy, mà cũng không tin nơi sự rủi may mù quáng, chắc hẳn có một lý do nào đó hợp tình hợp lý, hợp với quy luật cuả sự tồn tại, là sự thật của cuộc đời, là chân lý khách quan đang chi phối và tạo ra sự khác biệt ấy trong từng con người cụ thể. Theo Luận Câu Xá tất cả những sự cách biệt, sai khác đó không những do di truyền và hoàn cảnh chung mà thâm sâu cốt tủy nhất là do nghiệp của mỗi người. Hay nói cách khác là do gia tài của chúng ta hưởng thụ từ những nghiệp mà chúng ta đã tạo ra ở quá khứ và tạo ra trong từng giây, từng phút trong hiện tại hợp lại. Trong kinh Phật có dạy: “Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là điểm tựa của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu. Thật vậy, nghiệp đối với mỗi chúng sanh như hình với bóng. Chúng ta vì vô minh, không thấy được sự thật của cuộc đời nên đã bị đắm chìm vào biển khổ. Từ vô thủy đến nay chúng ta đã trải qua biết bao cuộc thăng trầm trong kiếp sống, nguyên nhân chính là do nghiệp mà ta đã tạo ra, nên ta phải chịu thọ lãnh. Vậy muốn hết khổ ta phải làm gì ? Hòa Thượng Thích Thiện Hoa có dạy “Muốn hết khổ, lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn diệt nghiệp trước phải trừ vô minh.” Quả thật, chúng ta phải dùng ánh sáng của trí tuệ để xua tan đi màn đêm tăm tối của vô minh, hay nói cách khác chỉ có con đường tu tập mới chuyển được nghiệp của mình. Vì muốn chuyển hóa khổ đau của mình và người, nên người viết đã cất công góp nhặt tài liệu viết về “Thuyết nghiệp trong Câu Xá Luận ” để hình thành nên cuốn luận văn này. Trước là soi lại tâm mình để tu sửa, sau là cùng sang sẽ với mọi người. Qua quá trình tham khảo kinh sách, tài liệu về đề tài này, người viết đã tìm thấy những nghiên cứu tổng quát về nghiệp trong nhiều tác phẩm, được viết bởi các nhà học giả. Điển hình như: Đại Cương Luận Câu Xá của Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, do nhà xuất bản Tôn Giáo, ấn hành năm 2000. Phật Học Phổ Thông do Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992, trong đó tác giả Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đã phân tích nghiệp về khía cạnh thập thiện nghiệp. Với đề tài này người viết dựa vào kinh sách và những tài liệu có liên quan, kết hợp với bài giảng của giáo thọ sư để tìm hiểu một số vấn đề sau: • Sơ lược về Luận Câu Xá • Nghiệp trong Câu Xá Luận • Nghiệp được nói trong các kinh • Một số nhận định về nghiệp trong Câu Xá Luận Để hoàn thành tốt tiểu luận này, người viết sử dụng phương pháp định nghĩa, giải thích và phân tích để làm nội dung thêm sáng tỏ. Bên cạnh đó, người viết còn dùng phương pháp dẫn chứng, chứng minh hầu làm tăng thêm phần thuyết phục nơi người đọc. Có lẽ đây là một đề tài không thể thiếu và rất thiết thực cho hàng tu sĩ cũng như phật tử đang sống trong xã hội ngày nay. Đồng thời là vấn đề cấp bách thức tỉnh cho những ai đang lầm đường lạc lối, quay cuồng theo vật chất xa hoa, bỏ quên chính mình, để sớm nhận ra đâu là khổ đau triền miên, đâu là hạnh phúc vĩnh cữu. Từ đó chọn cho mình con đường đi đúng trong lộ trình giải thoát tâm linh. II: NỘI DUNG: 1. Sơ Lược Về Luận Câu Xá: A-tì-đạt-ma-câu-xá-luận (zh. 阿毗達磨俱舍論, sa. abhidharmakośa-śāstra) thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là Báu vật của A-tì-đạt-ma, tên khác là Thông minh luận (zh. 通明論), là bộ luận quan trọng nhất của Thuyết nhất thiết hữu bộ, được soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. “Tác giả luận này là Luận sư Bà-tấu-bàn-đậu (Vasubandhu - cựu dịch là Thiên Thân, tân dịch là Thế Thân), người Bắc Ấn Ðộ, sanh trong khoảng 900 năm sau Phật nhập diệt, tại đô thành Bố-lâu-sa-bố-sa (Purusapura), nước Kiền-đà-la (Gandhara), họ Kiều-thi-la, chủng tộc Bà-la-môn.” Như đã biết, luận này nhằm mục đích phá thiên chấp của Hữu bộ để làm sáng tỏ chân lý của giáo pháp. Tuy nhiên, để thấy rõ chân lý ấy, Luận được trình bày như sau: Toàn bộ luận này có 30 cuốn chia làm 9 phẩm: 1. Giới phẩm (zh. 界品, sa. dhātunirdeśa): 2 quyển 2. Căn phẩm (zh. 根品, sa. indriyanirdeśa): 5 quyển 3. Thế gian phẩm (zh. 世間品, sa. lokanirdeśa): 5 quyển 4. Nghiệp phẩm (zh. 業品, sa. karmanirdeśa): 6 quyển 5. Tuỳ miên phẩm (zh. 隨眠品, sa. anuśayanirdeśa). 3 quyển 6. Hiền thánh phẩm (zh. 賢聖品, sa. pudgalamārganirdeśa): 4 quyển 7. Trí phẩm (zh. 智品, sa. jñānanirdeśa): 2 quyển 8. Định phẩm (zh. 定品, sa. samādhinirdeśa): 2 quyển 9. Phá ngã phẩm (zh. 破我品, sa. pudgalaviniścaya): 1 quyển Chín phẩm này nhằm thuyết minh hai điều: Tám phẩm đầu (29 quyển): Thuyết minh sự tướng của các pháp. Phẩm Phá ngã (1 quyển): Thuyết minh lý vô ngã. Hoặc nói rõ hơn, toàn bộ Luận không ngoài thuyết minh về bốn nghĩa chính sau đây: 1. Thể dụng của vũ trụ vạn hữu (phẩm Giới và Căn). 2. Nhân và quả của mê (các phẩm 3, 4 và 5). 3. Nhân và quả của ngộ (các phẩm 6, 7 và 8). 4. Ðạo lý vô ngã (phẩm 9). 2. Nghiệp Trong Câu Xá Luận: 2.1. Định nghĩa: Nghiệp theo tiếng sansrit gọi là Karma, Pàli gọi là Kamma, có nghĩa là hành động có tác ý (volitinan action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn bắt nguồn từ những tạo tác của tâm (ý), thông qua những hoạt động của thân, miệng và ý, gọi chung là tam nghiệp. Do đó, một hành động (tạo tác), nếu không phát sinh từ tâm, thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động ấy chỉ được gọi là hành động duy tác (kriyà). Và như vậy định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm. Thế nên Đức phật có dạy: “Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác ý là nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động , bằng thân , khẩu hay ý.” 2.2 Nguồn gốc của nghiệp: Mở đầu phẩm Nghiệp, luận Câu xá khẳng định: 世別由業生  思及思所作   思即是意業  所作謂身語 (Đ.29.67.2) Thế biệt do nghiệp sanh Tư cập tư sở tác Tư tích thị ý nghiệp Sở tác vị thân ngữ Sự sai biệt của thế gian là do nghiệp sinh (thế biệt do nghiệp sinh). Bất cứ một kết quả nào cũng có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân đưa đẩy con người trong sinh tử đó là nghiệp và hoặc. Hoặc chỉ cho phiền não, tức tâm hư vọng, nhận thức sai lầm sự lý của vũ trụ vạn hữu, sinh tâm đắm trước. Rồi từ sự sai lầm đắm trước đó, khởi lên những hành vi nơi thân, nói năng nơi miệng, đó là nghiệp. Chính nghiệp là nguyên nhân trực tiếp, còn hoặc là trợ duyên gián tiếp. Có thể nói, do vô minh nên chúng sinh tạo nghiệp.Trong kinh phật có dạy “ phàm cảm giác con người này lảnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy đoạn diệt các nghiệp quá khứ; với sự tạo tác trong nghiệp mới, sẽ có diễn tiến trong tương lai, nghiệp được đoạn diệt, do nghiệp được đoạn diệt; diệt khổ được đoạn; do khổ được đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt, do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ được đoạn tận.” 2.3. Thể Tính của Nghiệp: Thuyết minh về thể tánh của nghiệp, là đề cập đến hai nghiệp, ba nghiệp và năm nghiệp. Hai nghiệp là tư nghiệp và tư dĩ nghiệp. Chính sự hoạt động tư lự phân biệt trong nội tâm là tư nghiệp. Từ đó phát ra hành động nơi thân, nói năng nơi miệng, đó là tư dĩ nghiệp. Ba nghiệp là từ hai nghiệp này chia ra: thân nghiệp, ngữ nghiệp tức tư dĩ nghiệp, và ý nghiệp tức tư nghiệp. Năm nghiệp lại là từ ba nghiệp trên chia ra, tức là trong hai nghiệp thân và ngữ đều có hai loại biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Năm nghiệp như thế nào? Bất luận là một việc gì, trước tiên ta suy nghĩ, tính toán về việc đó, đó là ý nghiệp. Khi sự tính toán được phát động ra nơi thân với những nét rõ rệt trông thấy được, đó là thân biểu nghiệp, nhưng trong khi đang khởi lên thân biểu nghiệp, bên trong vẫn có những năng lực vô hình, chiếu trong quy luật nhân quả kích động thúc đẩy thân hành động hoặc không hành động, đó là thân vô biểu nghiệp, vì năng lực nầy tiềm ẩn khó trông thấy được. Ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp cũng tương tự như thế. 2.4. Vô biểu nghiệp (avijñapti ): có 3 loại: 1) Luật nghi vô biểu: Thuộc thiện, có 3: a. Biệt giải thoát luật nghi, b. Tịnh lự luật nghi, c. Vô lậu luật nghi. 2) Bất luật nghi vô biểu: thuộc ác, 3) Phi luật nghi phi bất luật nghi. 2.5. Biểu nghiệp (vijñapti): Thân biểu: nhờ tư lực giúp nghiệp khởi thông qua thân, gọi là thân biểu nghiệp. Ngữ biểu nghiệp: lời nói, âm thanh. 此身語二業   俱表無表性 (Đ.29.67.2) Thử thân ngữ nhị nghiệp Câu biểu vô biểu tánh. 2.6. Tính chất của nghiệp: Nghiệp có 3 tính: thiện, ác, vô ký. Nhưng chỉ có tính thiện và ác mới là nghiệp, còn vô ký không phải nghiệp.Căn cứ vào 2 tánh thiện, ác, mỗi tính đều có 4 thứ là thắng nghĩa, tự tính, tương ưng, đẳng khởi. Nghĩa là có 4 thứ thiện và 4 thứ ác như sau: 勝義善解脫   自性慚愧根 相應彼相應   等起色業等 (Đ.29.71.1) Thắng nghĩa thiện giải thoát Tự tánh tàm quý căn Tương ưng bỉ tương ưng đẳng khởi sắc nghiệp đẳng 2.6.1. Bốn thứ thiện: 1. Thắng nghiã thiện: Chỉ Niết-bàn rất an ổn, vĩnh viễn, bặt dứt dấu vết thống khổ. Thắng nghĩa có nghĩa là tuyệt vời, tuyệt đối. 2. Tự tánh thiện: Tức chỉ cho năm tâm sở tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, có tự thể là thiện, chứ không nhờ cái khác mới có như tương ưng và đẳng khởi thiện. 3. Tương ưng thiện: Tức những tâm sở nhờ tương ưng với năm tâm sở tự tánh thiện ở trên mà thành, chứ tự thể nó không phải là thiện. 4. Ðẳng khởi thiện: Chỉ cho thân, ngữ thiện nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tánh thiện và tương ưng thiện mà khởi lên. 2.6.2. Bốn thứ ác: 1. Thắng nghĩa ác: Chỉ sanh tử, và sanh tử tự tánh rất là khổ, xấu ác cùng cực. 2. Tự tánh ác: Chỉ năm tâm sở: vô tàm, vô quý, tham, sân, si; vì tự thể nó là ác, chứ không phải chờ tương ưng, đẳng khởi mới thành ác. 3. Tương ưng ác: Chỉ các tâm tâm sở mà tự tánh không phải ác, nhưng và tương ưng với năm tâm sở tự tánh ác mà thành. 4. Ðẳng khởi ác: Chỉ thân, ngữ ác nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tánh ác và tương ưng ác mà khởi lên. Vô ký tánh chỉ có thắng nghĩa vô ký, tức chỉ cho hư không vô vi và phi trạch diệt vô vi. Vì thể của hai vô vi này là thường trú, nên gọi là thắng nghĩa, nhưng nó không phải là cái chứng đắc của đạo nên không được gọi là thiện mà chỉ gọi là vô ký. Ngoài ra, trong 46 tâm sở, thứ nào cũng thông cả hai hoặc ba tánh, nhưng không có thứ nào thuần là vô ký, nên không lập tự tánh vô ký, và đã không có tự tánh vô ký thì cũng không có tương ưng và đẳng khởi vô ký. 3. Nghiệp Được Nói Trong Các Kinh: Câu xá luận 15 tổng kết 11 loại nghiệp được các kinh nêu như sau: 3.1. Tam tánh nghiệp: tức 3 nghiệp: thiện, ác và vô ký. Tính chất của thiện nghiệp là an ổn, đưa đến quả Niết bàn, tiệm trừ chúng khổ. Tính chất chất của ác nghiệp thì ngược lại, tức bất an ổn… 3.2. Phước phi phước nghiệp: 福非福不動   欲善業名福 不善名非福   上界善不動 (Đ.29.81.1) Phước phi phước bất động Dục thiện nghiệp danh phước Bất thiện danh phi phước Thượng giới thiện bấc động. Chỉ cho các loại nghiệp ở cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Thiện nghiệp cõi dục gọi là phước vì quả khả ái đem lại lợi ích cho hữu tình, nó thanh tịnh. Bất thiện nghiệp gọi là phi phước, đem lại quả bất khả ái, tổi hại hữu tình. 3.3. Tam thọ nghiệp: chỉ cho 3 cảm thọ  Thuận lạc thọ, các nghiệp thiện từ cõi dục đến tầng thiền thức 3.  Thuận khổ thọ, là các nghiệp bất thiện ở cõi dục  Thuận bất khổ bất lạc thọ, từ Tam thiền lên đến trời Hữu đỉnh. 3.4. Tam thời nghiệp: Nghiệp có chia ra làm 2 định và bất định. Thời kỳ nghiệp thọ quả báo có hiện tại và vị lai, và thọ báo theo thứ tự hoặc thọ báo trong tương lai, thuận hậu thọ. 3.5. Thân tâm thọ nghiệp: Tức nghiệp do tâm thọ, nghiệp do thân thọ.Tâm thọ là nghiệp thọ quả báo (dị thục) tương ưng với đệ lục ý thức. Ví dụ như thiện nghiệp ở từ trung gian định của Sắc giới đến cõi trời Hữu đỉnh. Thân thọ tức nghiệp chiêu cảm quả dị thục do thân lãnh thọ, như ác nghiệp ở cõi dục. 3.6. Ba nghiệp khúc uế trược: 說曲穢濁業   依諂瞋貪生 (Đ.29.83.3) Thuyết điển uế độc nghiệp Y siểm sân tham sanh. 3.7. Hắc bạch nghiệp: Do tính chất của nghiệp tạo ra không giống nhau nên Phật chia nghiệp thành 4 loại, gồm: A. Hắc nghiệp: bất thiện nghiệp cõi dục gọi là hắc. B. Bạch nghiệp: thiện nghiệp cõi sắc gọi là bạch. C. Hắc bạch hắc bạch nghiệp: nghiệp lành dữ xen lộn nhau thọ quả báo khả ái phi khả ái xen trộn ở cõi dục. 3.8. Tam mâu ni nghiệp: 3 nghiệp thanh tịnh, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh. 3.9. Ba ác hạnh: tức tức ba nghiệp ác của thân, ngữ, ý (ý bao gồm cả tham, sân, tà kiến). 3.10. Mười nghiệp đạo: Thân: có 3 sát, đạo, dâm, ngữ có 4: nói dối, hai lưỡi, thô ác, thêu dệt, ý có 3: tham, sân, tà kiến. 3.11. Ba tà hạnh: A. Tức tà ngữ, tà nghiệp và tà mạng. 4. Một Số Nhận Định Về Nghiệp Trong Câu Xá Luận: 4.1 Nghiệp Và Quả: Qua những gì trình bày ở trên, chúng ta thấy nghiệp là một định luật phổ biến và công bằng. Nghiệp là một định luật có hiệu lực trong phạm vi riêng biệt, không chịu ảnh hưởng của một tha lực nào. Nghiệp chính là cốt lõi của giáo lý nhân quả, tính chất và mức độ của nghiệp vô cùng phức tạp. Trong sự báo ứng, khã năng trổ quả đã dính liền với nghiệp. Trong hành động của thân khẩu ý đã có tiềm tàng năng lực tạo ra kết quả, cũng như trong hạt mầm đã có tiềm lực tạo nên cây và sanh ra trái. Sự liên quan giữa hạt giống và hoa trái cũng như giữa nghiệp và quả, hay nói cách khác trong nhân đã có mầm của quả, và các yếu tố duyên trong tiến trình nhân - duyên- quả, nhiều khi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nghiệp. Một khi đã gieo tạo nhân, tức phải gặt quả, lúc này, nơi này, hay lúc khác, nơi khác, ở kiếp hiện tại hay trong kiếp vị lai. Ngày hôm nay ta gặt hái những gì mà chính ta đã gieo trong hiện tại hay trong quá khứ. Đức phật cũng từng dạy “y vào ngiệp mà chịu duyên báo, thiện, ác đều có quả của nó.” Trong bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm có dạy là chúng ta gieo giống nào sẽ gặt quả nấy. Hành thiện sẽ thâu quả lành, hành ác sẽ thâu quả dữ, hãy gieo giống tốt, ta hưởng quả lành. Thật vậy, tất cả quả đều có nhân, và cái đặc tính của người là cái quả thu hoạch được của sự suy nghĩ, hành động trong thời quá khứ của ta. Theo giáo lý nghiệp trong Luận Câu Xá, chúng ta không nhất định phải bị trói buộc trong hoàn cảnh nào, vì nghiệp không phải là số mạng, cũng không phải là tiền định do oai lực huyền bí nào đã định đoạt cho ta một cách bất khã kháng, chính hành động thiện hay ác của ta, gây phản ứng lành hay dữ. Chúng ta phải có trách nhiệm với hành động đã gây ra từ thân, khẩu, ý của chính mình. Nếu quyết định chánh đáng (yoniso manasikara) thì tạo thiện nghiệp, nếu quyết định sai lầm (ayoniso manasikara) thì tạo nghiệp bất thiện. Mặc dù đối tượng có đáng được ưa thích hay không, ta vẫn có thể tạo một nghiệp thiện hay bất thiện theo ý muốn, thí dụ như khi gặp người thù nghịch, tức nhiên là sự giận dữ phát sanh ngoài ý muốn của ta, nhưng bậc thiện trí thức có thể chế ngự tâm mình, thay vì nổi giận thì rải tâm từ đến người ấy. Vì lý do đó mà Đức Phật dạy: “Tự mình làm điều ác / Tự mình làm nhiễm ô / Tự mình ác không làm / Tự mình làm thanh tịnh / Tịnh, không tịnh tự mình / Không ai thanh tịnh ai.” Qua lời dạy trên cho chúng ta thấy rõ nghiệp thiện hay bất thiện đều do mình tạo ra chứ không ai khác. Khi hiểu rõ nghiệp và quả, chúng ta có thể tránh tạo ra những ác nghiệp, làm khổ cho mình và người khác, hầu mở ra con đường đi đến an vui hạnh phúc cho mình và người. 4.2. thái độ tâm lý tiếp thọ nghiệp: Ðây là một vấn đề vô cùng quan trọng trong giáo lý nghiệp, mỗi người đều có cái nghiệp riêng do vô minh, ái thủ đã tạo nên. Đương nhiên phải đối diện với nghiệp quả của mình, sự trốn tránh nghiệp lực là điều vô ích. Khi đã gieo nhân nào thì phải gặt hái kết quả, dù nơi này hay nơi khác, kiếp hiện tại hay trong kiếp tương lai, như trong kinh Pháp Cú số 127 Đức Phật dạy: “Không trên trời giữa biển / Không lánh vào động núi, / Không chỗ nào tên đời / Trốn được quả ác nghiệp.” Thế nên, vấn đề quan trọng được đặt ra đối với người đang trên đường tu tập, không phải là nghiệp mà chính là thái độ tâm lý tiếp thọ nghiệp. Như một nhà sư vô cớ bị tù, ở trong tù mà lòng thì vô cùng bình an, không hề dao động; nghĩa là nhà sư ấy, không còn bị nghiệp lực chi phối nữa. Chẳng hạn, cùng một hành động xảy ra đối với hai người, nhưng thái độ thọ nhận hành động (nghiệp) thì hoàn toàn khác nhau, như trường hợp "nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột". Do đó, đối với nghiệp thái độ tâm lý của người tiếp thọ, quan trọng hơn chính cái nghiệp ấy. Ngài Huyền Giác, trong Chứng đạo ca, bảo rằng: "Sát na diệt khước A Tỳ nghiệp", có nghĩa là khi đã giác ngộ thì mọi nghiệp chướng (nặng như A Tỳ) trong tích tắc cũng đều băng tiêu. Vì lý do này, nên trong kinh thường nói đến thọ nghiệp (chịu đựng nghiệp) và phi thọ nghiệp (không bị chi phối bởi nghiệp). Thế nên, trong cuộc sống nếu chúng ta có ý thức và trách nhiệm với những gì mình tạo ra qua thân, khẩu, ý thì khi nghiệp quả đến chúng ta sẽ ung dung đón nhận mà không hề oán trách, than van. Đây là thái đọ chính chắn, vững chãi giúp cho con người tự hoàn thiện chính mình để hướng đến tương lai tốt đẹp. 4.3. Lợi Ích Và Ứng Dụng: Nghiên cứu học hỏi và hiểu biết đúng đắn về thuyết nghiệp trong Câu Xá Luận, sẽ mang lại nhiều lợi ích và những bài học kinh nghiệm trong cuộc đời. Chính giáo lý nghiệp đem lại cho người tu sĩ cũng như hàng phật tử tại gia, niềm hy vọng, cũng như chỗ nương tựa và sự khích lệ tinh thần, để can đảm vững bước trên con đường hoàn thiện nhân cách, đạo đức và tâm linh của mình. Niềm tin nơi nghiệp báo sẽ nâng cao giá trị của con người, kích thích lòng nhiệt thành và sự tinh tấn. Bên cạnh đó, thuyết nghiệp còn giúp cho người học Phật biết rằng, phải lảnh lấy trách nhiệm đối đau khổ hay hạnh phúc của chính mình, nên cố gắng khắc phục những khuyết điểm, hầu tránh tạo thêm nghiệp ác, từ đó đi đến con đường an vui, hạnh phúc. Chúng ta biết rằng, những gì mình suy nghĩ, nói năng hay hành động với sự cố ý thì sẽ tạo ra nghiệp và chính nghiệp lực ấy đưa chúng ta lên hay xuống, từ kiếp này hay kiếp khác, mãi mãi trong vòng sanh tử luân hồi. Một khi hiểu rõ ràng định luật nghiệp báo, con người không bao giờ tin vào định mệnh hay một đấng siêu nhiên , thần quyền nào, có thể quyết định số phận của chúng ta. Người có trí tuệ không bao giờ van vái cầu xin được cứu rỗi, trái lại đặt trọn niềm tin vào chính mình , vào sự tinh tấn của mình để tự giải thoát. Hiểu được thuyết nghiệp trong Luận Câu Xá con người luôn luôn mở rộng tình thương, tha thứ và thông cảm đối với mọi người chung quanh. Chúng ta không lên án kẻ hư hèn tội lỗi, bởi vì mọi người điều có khả năng và cơ hội để tự cải thiện lấy chính bản thân của họ khi có cơ duyên đầy đủ. Hiện tại có những người xấu xa, đau khổ …nhưng chúng ta hy vọng rằng trong một lúc nào đó, họ cũng có thể trở thành người tốt có cuộc sống an vui, hạnh phúc và có thể đạt được giải thoát tối thượng. Trong Kinh Đại Phẩm đức Phật cũng từng dạy: “Người nào sau khi thấy được sự sai trái trong tội lỗi và sửa đúng theo pháp sẽ có được sự ngăn ngừa trong tương lai.” Tóm lại, thuyết nghiệp trong câu xá luận giúp con người bình tĩnh, sáng suốt biết nhận lấy trách nhiệm của mình, từ đó họ luôn luôn thận trọng trong từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói và trong suy nghĩ của họ. bên cạnh đó còn giúp nhân loại có cái nhìn khách quan về cuộc đời, và tạo nền tảng vững chắc về đạo đức nhân bản, không làm khổ mình, không làm khổ người khác. Nhờ đó góp phần xây dựng nếp sống gia đình hạnh phúc, xã hội công bằng, một thế giới hòa bình văn minh và thịnh vượng. III: KẾT LUẬN: Thuyết nghiệp (Karma) là một trong những thuyết quan trọng của Câu Xá Luận. Nghiệp điều hành cuộc sống của chúng ta. Khi hiểu được nó, sống và hành động theo sự hiểu biết của mình, chúng ta sẽ có được cuộc sống an tịnh. Nếu không sống phù hợp, không hiểu được hậu quả của việc làm, chúng ta sẽ khổ đau. Con người là nghệ nhân của chính mình, thay vì như những hoạ sĩ tạo những hình tượng, hoạ phẩm, thì đối với chúng ta, qua thân, khẩu, ý tạo nên những kinh nghiệm cảm xúc tinh thần, thể xác. Phật dạy để thoát khỏi nghiệp chúng ta loại trừ tham, sân, si. Vô tham, vô sân, vô si sẽ giải toả được nghiệp. Khổ đau khởi lên từ vô minh, diệt vô minh tất cả chuỗi duyên khởi cũng chấm dứt. Con người phải hiểu rõ tính chất và sự vận hành của nghiệp để mỗi cá nhân đều lo lắng làm sao cho mỗi hành động của mình, mỗi lời nói và ý nghĩ của mình đều thiện lành, có ích đối với bản thân, đối với người khác và đối với toàn xã hội. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực sống hướng thiện khi tuổi còn xuân, khi sức còn khỏe, đừng bao giờ đợi nước đến chân mới nhảy, như thế sẽ không kịp. Khi trong tâm có sự bao dung, rộng lượng, nhân từ thì dù nghiệp quả có đến, sức ảnh hưởng của nó lên cuộc sống của chúng ta không đáng kể. Ngược lại, trong tâm có sự ích kỷ, xấu xa, nhỏ mọn thì khi nghiệp quả đến, dù là nghiệp quả nhỏ, cũng tác động lên cuộc sống của chúng ta đáng kể. Giống như, đức Phật ví dụ, “như bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ, nước trở thành mặn không uống được. Nếu bỏ một nắm muối vào sông hằng thì ảnh hưởng được xem như không có gì.” Thế nên, với khả tính vi diệu tiềm tàng bên trong bản thể sâu nhiệm, con người có thể đạt thành mục tiêu tối hậu của đời sống, đó là thực nghiệm sự chuyển hóa toàn diện và tận gốc rễ nơi tự thân, để giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não, khổ đau rốt ráo. Chỉ có con đường này, cảnh giới này mới thật sự kết thúc chuỗi xích trói buộc của sanh tử luân hồi từ vô thỉ kiếp. Tóm lại, chúng ta thấy, thuyết nghiệp trong Luận Câu Xá giúp cho con người sống có được ý thức, trách nhiệm với từng ý nghĩ, hành động và việc làm của chính mình, từ đó giảm trừ những việc ác, tăng trưởng các điều lành. Đây là nếp sống thánh thiện để vượt khỏi khổ đau và đưa đến chân hạnh phúc. Thư Mục Tham Khảo: A. Đại Phẩm, tập II [ 175] , Tỳ Khưu INDACANDA,( dịch) .Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội, 2005. B. Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu, (dịch) , Thành Phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2000. C. Tạp A Hàm, quyển I, Thích Thiện Siêu, Thành Phố Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam , 1993. D. Tăng Chi Bộ Kinh , tập I,III. Thích Minh Châu, Thành Phố Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật HọcViệt Nam, 1996. E. Kinh Trung Bộ III, bài 101. Thích Minh Châu (dịch), Thành Phố Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cức Phật Học Việt Nam, 1992. F. Hòa Thượng Thích Quảng Độ (dịch), Nguyên Thuỷ Phật Giáo Tư Tưởng Luận, TPHCM, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2007 G. Thích Thiện Siêu. Đại Cương Luận Câu Xá, Học Viện Phật Giáo Việt Nam Huế: nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội, 2000

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét