THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
BÀI GIẢNG LUẬN CÂU XÁ
BÀI GIẢNG LUẬN CÂU XÁ
Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội
Lớp Cao Đẳng chuyên khoa TP.HCM
Giảng viên phụ trách: ĐĐ. Thích Giác Hiệp
Đề cương mỗi bài giảng sinh viên có thể download tại:
http://phatgiao.vn/giaoduc/baigiang
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tên môn học: Triết học Câu-xá
2. Mã số môn học: 303TH
3. Cấu trúc môn học:
a. Tổng số tiết: 72 tiết
b. Số tiết lý thuyết:
c. Số tiết thực hành:
d. Số tiết bài tập, thảo luận:
4. Điều kiện tiên quyết:
5. Tóm tắt mục tiêu môn học: Giúp sinh viên nắm bắt được triết học Hữu bộ.
6. Đối tượng: Tăng Ni Học Viện Phật giáo và Cao Đẳng Phật học
ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
GIỚI THIỆU LUẬN CÂU-XÁ
I. LỊCH SỬ
A. Sự hình thành
B. Giải thích thuật ngữ
C. Tác giả
II. VĂN CHƯƠNG A-TỲ-ĐÀM
A. 7 tác phẩm của Thượng-tọa bộ
B. 7 tác phẩm của Nhất-thiết-hữu bộ
C. Câu-xá luận
1. Lý do tạo luận
2. Kết cấu bộ luận Câu-xá
3. Câu-xá sở thuộc:
a. Kinh
b. Luận
4. Câu-xá lưu truyền:
a. Ấn Độ
b. Trung Quốc
c. Nhật Bản
III. TRIẾT HỌC
A. Phân pháp
B. Thuyết nhân quả
C. Thuyết tam thế thật hữu
D. Thuyết cực vi
E. Chủ trương Niết-bàn
F. Phá ngã
IV. ĐẠI Ý CÁC PHẨM LUẬN CÂU XÁ
A. Phẩm 1 Phân biệt giới
B. Phẩm 2 Phân biệt căn
C. Phẩm 3 Phân biệt thế gian
D. Phẩm 4 Phân biệt nghiệp
E. Phẩm 5 Phân biệt tuỳ miên
F. Phẩm 6 Phân biệt Hiền Thánh
G. Phẩm 7 Phân biệt trí
H. Phẩm 8 Phân biệt định
I. Phẩm 9 Phá ngã
V. KẾT LUẬN
Phẩm Phân Biệt Giới
I. GIỚI THIỆU
II. Pháp hữu lậu và vô lậu
A. Giải thích danh từ hữu vi và hữu lậu
1. Pháp hữu vi
2.Pháp hữu lậu
3. Phân tích các uẩn
4. Ý nghĩa sắp xếp các uẩn
5. Thiết lập 3 khoa: Uẩn, xứ, giới
B. Pháp vô lậu
1. Hư không vô vi
2. Trạch diệt vô vi
3. Phi trạch diệt vô vi
C. Ý nghĩa việc thiết lập 3 khoa
III. KẾT LUẬN
Phẩm Phân Biệt Căn
I. ĐẠI Ý
II. NỘI DUNG
A. Nói về 22 căn
B. Ý nghĩa các pháp câu sinh (hỗ tương sinh khởi)
C. Tính chất của các pháp (câu sinh) hỗ tương sinh khởi
1. Tích chất hỗ tương sinh khởi của sắc pháp
2. Tánh chất hỗ tương sinh khởi của tâm, và tâm sở
D. Thuyết nhân quả
1. Sáu nhân
2. Bốn duyên
3. Năm quả
III. KẾT LUẬN
Phẩm Phân Biệt Thế Gian
I. Đại ý
II. Nội dung
A. Khái quát về quan niệm thế gian
B. Các cõi
C. Lưu chuyển
D. Vô ngã, duyên khởi
E. Sự thành hoại của thế gian
1. Hạn lượng thế giới
2. Thể chất của thế giới
3. Thời kỳ thành hoại của thế giới
4. Trạng thái khi thế giới trụ, hoại, và trống không
III. Kết luận
Phẩm Phân Biệt Nghiệp
I. Đại ý
II. Nội dung
A. Định nghĩa
B. Nghiệp trong Câu-xá
C. Nghiệp được nói trong các kinh
D. Nguyên nhân hành động
E. Nghiệp và kết quả
G. Nghiệp trong các bản sớ giải
H. Bồ-tát hành thiện
I. Ba hành động công đức
III. KẾT LUẬN
\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\\
Phẩm Phân Biệt Tùy Miên
I. Đại ý
II. Nội dung
A. Các loại tuỳ miên
B. Tuỳ phiền não/chi mạt hoặc
C. Tính chất của tuỳ miên
D. Yếu tố phát sinh phiền não
E. Phươ\
pháp dứt trừ phiền não
1. Biết tánh chất của hoặc
2. Hiểu thật tướng của các pháp
III. Kết luận
Phẩm Phân Biệt Hiền Thánh
I. ĐẠI Ý
II. NỘI DUNG
A.Tính chất của Thánh đạo
B. Nhị đế
C. Tứ đế
D. Tứ thiện căn
E. Quả vị
III. KẾT LUẬN
Phẩm Phân Biệt Trí
I. ĐẠI Ý
II. NỘI DUNG
A. Đặc tính các lọai trí
B. Hành tướng của trí
C. Công đức nhờ chứng đắc trí
1. Công đức riêng
2. Công đức phổ thông
III. KẾT LUẬN
Phẩm Phân Biệt Định
I. ĐẠI Ý
II. NỘI DUNG
A. Các định
1. Bốn tịnh lự
2. Bốn định vô sắc
3. Tám đẳng chí
4. Bốn tịnh định
B. Công đức nhờ thành tựu định
1. Bốn vô lượng tâm
2. Tám giải thóat
3. Tám thắng xứ
4. Mười biến xứ
III. KẾT LUẬN
Phẩm Phá Ngã
I. ĐẠI Ý
II. NỘI DUNG
A. Nguồn gốc
B. Khái niệm về ngã trong giai đoạn Phệ-đà
C. Khái niệm vô ngã trong Phật giáo
D. Bác bỏ chấp ngã của Độc-tử bộ
1. Lý luận
2. Theo kinh điển
E. Bác bỏ ngã của các triết gia
G. Bác bỏ ngã của Số luận
III. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Chaudhury, Sukomal, Analytical Study of the Abhidhamakosa, Calcutta: Firma KLM Private Limited, 1983.
2. 演培法師,俱舍論頌講記,臺北市:天華出版事業, 中華民國六十七年.
Diễn Bồi Pháp sư , Câu Xá Luận Tụng Giảng Kí , Đài Bắc thị : Thiên Hoa xuất bản sự nghiệp , Trung Hoa Dân Quốc lục thập thất niên
3. Leo M.Pruden,(tr.) Abhidharmakośabhāṣyam, (4 Vols.) California: Asian Humanities Press, 1988-1990.
4. Mitra, Rajendralala, The Sanskrit Buddhist Literature of Nepal, New Delhi: Cosmo Publications, 1981.
5. Nariman, J.K., Literary History of Sanskrit Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
6. Sogen, Yamakami, Systems of Buddhistic Thought, New Delhi: Cosmo Publications, 2002.
7. Takakusu, Junjiro., The Essentials of Buddhist Philosophy, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1998.
8. 張曼濤,(ed.) 俱舍論研究,臺北市:大乘文化出版社, 中華民國六十七年.
Trương Mạn Đào ,(ed.) Câu Xá Luận nghiên cứu , Đài Bắc thị : Đại Thừa Văn Hóa xuất bản xã , Trung Hoa Dân Quốc lục thập thất niên
9. Winternitz, Maurice, A History of Indian Literature, (Vol. II), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1996.
ĐĐ. Thích Giác Hiệp
Đề cương: Luận Câu-xá (2)
GIỚI THIỆU LUẬN CÂU-XÁ
Giảng viên: ĐĐ. Thích Giác Hiệp
I. LỊCH SỬ
A. Sự hình thành
B.Thuật ngữ
C. Tác giả
II. VĂN CHƯƠNG A-TỲ-ĐÀM
A. Luận thư Thượng-toạ bộ
B. Luận thư Nhất-thiết-hữu bộ
C. Luận câu-xá
III. TRIẾT HỌC
A. Phân chia pháp
B. Thuyết nhân quả
C. Thuyết tam thế thật hữu
D. Thuyết cực vi
E. Các loại niết-bàn
F. Phá ngã
IV. KẾT LUẬN
I. LỊCH SỬ:
A. Sự hình thành:
Bộ luận Câu-xá có một vai trò quan trọng trong sự phát triển văn chương Phật giáo ở Ấn độ và Trung quốc, văn chương Nhất Thiết Hữu bộ. Tông Câu-xá dựa vào bộ luận Câu-xá để làm nền tảng lập tông. Luận Câu-xá là một trong những bộ luận thuộc luận tạng Nguyên Thuỷ. Bộ luận Câu-xá là một trước tác của ngài Thế Thân. Tác phẩm này được ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào giai đoạn 563-567 TL, và ngài Huyền Trang dịch lại vào năm 651-654TL. Tác phẩm đề cập nhiều lãnh vực của Phật giáo như:
- Bản thể học
- Tâm lý học
- Đạo đức học
- Vũ trụ quan
Ở Trung quốc, sau khi dịch phẩm của ngài Chân Đế được hoàn thành, tông Câu-xá chính thức thành lập. Do vậy ngài Chân Đế được xem là sơ tổ của tông này ở Trung quốc. Câu-xá tông được gọi là trường phái thật hữu, vì nó chủ trương các pháp thật hữu trong mọi thời, quá khứ, hiện tại và vị lai.
B. Giải thích thuật ngữ
Câu-xá là phiên âm từ tiếng Sanskrit: kośa, tên tắt bộ luận Abhidharma-kośa của ngài Thế Thân (316 – 396 AD)(Vasubandhu). Abhidharma-kośa nghĩa là chỗ chứa, pháp tối thắng. Có nhiều cách giải thích, Đại Tỳ-bà-sa giải thích có 24, luậnn Câu-xá viết theo quan điểm của trường phái Kinh lượng bộ. Thế nhưng Câu-xá luận không chỉ trích Nhất thiết hữu bộ, mà hệ thống và ủng hộ. Bộ luận này đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử văn chương Nhất thiết hữu bộ.
C. Tác giả
Sinh năm 316 tịch năm 396 TL (hoặc có giả thuyết: 320-380 TL)
Gia đình Bà-la-môn
Giả thuyết cho rằng có 2 Thế Thân
Xuất gia theo trường phái Nhất-thiết-hữu bộ
Sau theo quan điểm Kinh Lượng bộ
Được anh chuyển hoá sang Đại thừa.
D. Luận thư:
Ngài Thế Thân muốn làm rõ nghĩa lý phải trái của giáo nghĩa Hữu bộ. Do đó, Ngài giảng Đại-tì-bà-sa, ban đầu viết 600 bài tụng căn bản; sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng Hữu bộ, Ngài viết thêm văn trường hàng. Mục đích nhằm:
Loại bỏ tư tưởng bè phái
Loại bỏ tư tưởng cố chấp
Loại bỏ tư tưởng khen minh chê người
II. TRIẾT HỌC
A. Phân chia pháp
Theo trường phái này, tất cả các pháp trong vũ trụ chia ra làm 2 loại chính: Hữu vi (saṃskṛta) và Vô vi (asaṃskṛta). Pháp Hữu vi có 4 loại bao gồm 72 pháp. Vô vi có 3 pháp. Tổng cộng Pháp Hữu vi và Vô vi là 75 pháp.
B. Thuyết nhân quả
1. SÁU NHÂN TRỰC TIẾP
a Năng tác nhân
b Câu hữu nhân
c Đồng loại nhân
d Tương ưng nhân
e Biến hành nhân
f Dị thục nhân
2. BỐN DUYÊN:
a Nhân duyên
b Thứ đệ duyên
c Tăng thượng d\uyên
d Sở duyên duyên
3. NĂM QUẢ
a Tăng thượng quả
b Sĩ dụng quả
c Đẳng lưu quả
d Dị thục quả
e Ly hệ quả
C. Thuyết tam thế thật hữu
Tam thế thật hữu nghĩa là tất cả các pháp hữu vi và vô vi đều tồn tại vĩnh viễn trong 3 đời, quá khứ, hiện tại và vị lai không có gián đoạn. Lý thuyết này là một trong những quan điểm triết học gây tranh luận nhất của trường phái Nhất thiết hữu bộ.
D. Thuyết cực vi
Cực vi tiêu biểu cho một quan điểm số lượng của sự hiện hữu. Thuyết này phát triển vào thời gian sau này. Thuyết cực vi cho rằng có 3 loại cực vi:
1. Vi tế cực vi,
2. Hữu hình cực vi, và
3. Vi trần cực vi
E. Các loại niết-bàn
Niết-bàn là mục đích của người tu, học Phật pháp. Niết bàn là trạng thái thoát khỏi/giải thoát sự trói buộc của các lậu hoặc, một trạng thái tâm lý an lạc. Niết-bàn có thể được chia ra làm 2: 1. Hữu dư y niết-bàn và 2. Vô dư y niết-bàn.
F. Phá ngã
Phẩm cuối cùng của luận Câu-xá là phẩm “Phá ngã”, chủ yếu là phá trừ chủ trương tà kiến đương thời của ngoại đạo cho rằng có thật ngã và ngã của Độc tử bộ.
IV. KẾT LUẬN
- Luận Câu-xá hệ thống hoá tư tưởng Nhất Thiết Hữu Bộ
- Tác giả cũng có đưa ra quan điểm của Kinh Lượng bộ
- Luận Câu xá được truyền bá ở Ấn độ, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật bản…
Luận Câu-xá (3) PHÂN BIỆT GIỚI
11/07/2009
(Dhātunirdeśa)
I. Đại ý:
- Kính lễ Thế Tôn
- Mục đích tạo luận của luận sư
- Ý nghĩa và lợi ích của luận
- Thuyết minh về bản thể/tính chất của pháp hữu vi và vô vi
II. Nội dung:
A. Pháp hữu vi
Trong thế gian này tuy có nhiều pháp thế nhưng không ngoài hai loại hữu vi và vô vi, như: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Pháp hữu vi bao gồm: khổ, tập, đạo.
Pháp hữu vi được nêu:
又諸有為法 謂色等五蘊
亦世路言依 有離有事等 (Đ.29.2.1)
1. Pháp hữu vi: tính chất của chúng luôn:
- Thay đổi
- Sinh diệt
- Không trường cửu…
2. Pháp hữu lậu: là các pháp hữu vi ngoại trừ Đạo đế
- Lậu hoặc/phiền não tuỳ thuận tăng trưởng:
+ Gây mê vọng
+ Tổn hại thiện căn
+ Nghịch Thánh ý
+ Môi trường chấp trước…
+ Nhân của 3 cõi
3. Phân tích các uẩn: Phần này có 2:
a. Sắc
Tính chất của sắc uẩn là băng hoại, thay đổi, do tác động của lạnh, nóng, đói, khát…
b. Các uẩn khác: thọ, tưởng, hành, thức
- Thọ: có 3 trạng thái cảm nhận, tri giác, lãnh thọ, lãnh nạp: khổ, lạc, và phi khổ phi lạc.
- Tưởng: bản chất có nó là nhận rõ, nắm bắt đối tượng
- Hành: tức thay đổi, tạo tác. Ngòai 4 uẩn: sắc, thọ, tưởng, thức, tất cả các pháp hữu vi còn lại đều thuộc hành uẩn.
- Thức: nhận thức rõ ràng từng vấn đề, đây là sự tri nhận, sự tiếp thu từng cảnh riêng.
4. Ý nghĩa sắp xếp các uẩn:
a. Thứ lớp từ thô đến tế: 5 uẩn được xếp theo thứ tự từ dễ nhận thấy cho đến vi tế khó cảm nhận.
b. Thứ lớp nhi\]ễm: Theo thứ tự tác động của phiền não.
c. Thứ lớp tuỳ hí:
d. Thứ lớp giới biệt
5. Thiết lập 3 khoa: Uẩn, xứ, giới
Nghĩa của uẩn, xứ, giới là: tích tụ, cửa ngõ, giới. Tích tụ nhiều phẩm loại sai khác gọi là uẩn; căn, cảnh là nơi phát sinh tâm, tâm sở, nên gọi là xứ; tự tánh các pháp sai biệt nên gọi là giới.
B. Pháp vô vi: 3 pháp vô vi, tính chất:
- Không đổi thay
- Không chướng ngại
- Phiền não không tuỳ thuận tăng trưởng, xa lìa hệ phược
1. Hư không vô vi: vô ngại, vì tánh của nó là không chướng ngại
2. Trạch diệt vô vi: nhờ trí tuệ quyết định nên xa lìa được những trói buộc
3. Phi trạch diệt vô vi: Rốt rao làm ngăn ngại các pháp sẽ sinh, nên gọi là phi trạch diệt
C. Ý nghĩa thiết lập 3 khoa: Sở dĩ nói 3 khoa là vì
1. Ngu: chấp trước sắc tâm, tùy theo loại chấp mà nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới.
2. Căn tánh: hữu tình căn tính cao thấp, 3 loại khác nhau, nên tùy theo đó nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới
3. Sự ưa thích: thích nghe tóm lược, vừa hay rộng nên tùy theo đó nói 5 uẩn, 12 xứ hay 18 giới
III. Kết luận:
- Đức Phật công hạnh tự lợi, lợi tha viên mãn, vượt mọi Thánh chúng. Ngài đã diệt trừ tất tri che đậy chân thật.
- Tính chất của pháp hữu vi là biến dịch, sinh diệt
- Tính chất của pháp hữu lậu là phát sinh phiền não, phiền não tuỳ thuận phát sinh.
- Tính chất của pháp vô lậu là phiền não không thể tuỳ thuận phát sinh.
Đề cương: Câu-xá (4) PHẨM 2: PHÂN BIỆT CĂN (Indriyas)
`I. ĐẠI Ý:
Phẩm Phân Biệt Căn có một số nội dung:
1. 22 căn, khả năng và tác dụng của các căn này
2. Ý nghĩa các pháp câu sinh
3. Tính chất của pháp câu sinh
4. Nhân quả. Sáu nhân, bốn duyên và năm quả
Vì phẩm này đề cập nhiều loại như vậy nên 阿毘達磨順正理論 còn gọi phẩm này là phẩm Sai biệt.
II. NỘI DUNG:
1. Nói về 22 căn:
Quan trọng nhất trong hình thành nghiệp đó là sự hoạt động của các căn. Nếu các căn thiện phát triển thì nghiệp thiện phát sinh. Nếu các căn nhiễm phát triển thì ác nghiệp phát sinh. Luận Câu xá chia căn ra làm 22 loại.
22 căn gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (cơ quan phát thức), nam căn, nữ căn (sự sai biệt của hữu tình), mạng căn (khả năng tồn tại của một chúng sinh), ưu, hỷ, khổ, lạc, xả (thuộc pháp ô nhiễm), ý căn (khả năng tiếp nối sinh tử tự tại, tùng hành), tín, tấn, niệm, định, tuệ (năm căn thanh tịnh), vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri (3 căn vô lậu), 8 căn sau thuộc pháp thanh tinh.
Căn mang ý nghĩa: Tối thắng, Tự tại, Quang hiển. Thể của căn vượt trội nên gọi là tối thắng, dụng vượt trội gọi là tự tại, thể dụng vượt trội gọi là quang hiển. Do căn có nghĩa tăng thượng nên gọi là căn, mọi sự việc đều nhờ chúng mà tăng thượng. Nhờ sự tăng thượng này mà các pháp đều hiệu hữu.阿毘達磨藏顯宗論: 以增上義別說為根。彼彼事中得增上故。雖增上 義諸法皆有。(Đ.29.795.1)
1. Năm căn
Năm căn như: mắt, tai… mỗi một căn có khả năng tăng thượng trong 4 khía cạnh:
a. 莊嚴身, b. 導養身, c. 生識, d. 不共事
2. Ý căn
Đây là tâm vương, làm chỗ tựa cho 6 thức. Ý căn có khả năng tăng thượng trong 2 khía cạnh là: tiếp nối đời sau, và tự tại tuỳ hành (tự vận hành)
3. Hai căn: nữ, nam có khả năng tăng thượng. Đối với 2 giới tính chúng khác nhau về giới tính (chúng loại nam, nữ hữu tình), khác nhau về hình tướng (tiếng nói, hình dáng)
4. Ưu, hỷ, khổ, lạc, xả (5 thọ căn)
Đối với pháp nhiễm, tịnh có khả năng tăng thượng, các pháp nhiễm ô, pháp thanh tịnh.
5. Tín, tấn, niệm, định, tuệ
Tăng thượng cho các pháp thanh tịnh.
6. Mạng
Nó có công năng tăng thượng đối với sự tồn tại. Mạng căn cũng là dị thục.
7. Ba căn vô lậu
Luận Câu-xá tóm tắc ý nghĩa 3 căn:
見 修 無 學 道 依 九 立 三 根 (Đ.29.14.3)
Ba căn vô lậu là: vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri dựa theo ba đạo: kiến đạo, tu đạo, vô học đạo để kiến lập và lấy 9 căn: ý, hỷ, lạc, xả, tín, tấn, niệm, định, tuệ làm thể.
a. Vị tri đương tri 未知當知: Sẽ biết điều chưa được biết. Ở địa vị kiến đạo có những điều chưa từng biết (khổ, tập, diệt, đạo), nay có hành tướng biết đang chuyển khởi. gọi đó là vị tri đương tri.
b. Dĩ tri căn已知: ở địa vị tu đạo, không có cái chưa từng biết, đã biết tất cả những điều cần nên biết (khổ, tập, diệt, đạo). Do thường xuyên liễu tri nên gọi là dĩ tri căn.
c. Cụ tri具知: Ở địa vị vô học đạo, biết mình đã biết nên gọi là tri, tức biết rõ Thánh đế đã biết. Có được cái biết này nên gọi là cụ tri. Hoặc huân tập cái biết này thành tánh nên gọi là cụ tri.
2. Ý nghĩa các pháp câu sinh
Các pháp hữu vi tuy tính chất bất đồng, thế nhưng không thể đơn độc phát sinh. Chúng phải có những pháp khác đồng thời, nương nhau mới phát sinh, nên gọi là câu sinh. Các pháp theo Câu xá tuy nhiều nhưng có thể liệt vào 5 loại: 1. sắc, 2. tâm, 3. tâm sở, 4. tâm bất tương ưng hành, 5. Vô vi.
Sự câu sinh của các pháp có liên quan đến tâm vương và tâm sở.
心心所必俱 諸行相或得 (Đ.29.18.3)
Tâm và tâm sở nhất định phải cùng sinh khởi, nếu thiếu một thời các pháp không khởi.
1. Tâm sở pháp:
Loại này gồm 46 thứ chia thành 6 nhóm:
a Đại địa pháp có 10 thứ:
受想思觸欲 慧念與作意
勝解三摩地 遍於一切心 (Đ.29.19.1)
Có 10 loại: thọ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thẳng giải, tam ma địa
Địa chỉ cho tâm vương. Tâm vương là mảnh đất mà tâm sở hiện hành và lưu hành trên đó. 10 tâm này có công dụng rất lớn thông cả 3 tâm, thiện, ác và vô ký.
b Đại thiện địa pháp có 10 thứ:
信及不放逸 輕安捨慚愧
二根及不害 勤唯遍善心 (Đ.29.19.1 ~ p.19.2)
Có 10 loại: tín, cần, xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an, bất phóng dật
10 tâm sở này thuộc thiện tánh nên gọi là thiện.
c Đại phiền não địa pháp có 6 thứ:
癡逸怠不信 惛掉恒 唯 染 (Đ.29.19.3)
Có 6 loại: si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử
Tánh của 6 tâm sở này thuộc về ác và hữu phú vô ký, nhiễm ô hay làm não loạn lòng người.
d Đại bất thiện địa pháp có 2 thứ:
唯遍不善心 無慚及無愧 (Đ.29.20.1)
Có 2: vô tàm, vô quý
Vì tánh của 2 tâm sở này thuộc về ác, và khắp các ác tâm đều có nó xuất hiện nên gọi là đại bất thiện.
e Tiểu phiền não địa pháp có 10 thứ:
忿覆慳嫉惱 害恨諂誑憍
如是類名為 小煩惱地法 (Đ.29.20.1)
Có 10 loại: phẩn, phú, san, tật, não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu
Bản tánh của nó giống như đại phiền não. Nó chỉ khởi lên riêng biệt theo đệ lục ý thức nên gọi là tiểu phiền não
f Bất định địa pháp:
Có 8 loại: tầm, tứ, hối, miên,tham, sân, mạn, nghi
Tánh chất của các loại tâm sở này không thuộc thiện như đại thiện địa, cũng không nhiễm ô như đại và tiểu phiền não địa pháp và đại bất thiện địa pháp. Nó tuỳ lúc trở thành thiện, hoặc ác, hoặc vô ký. Cho nên nó được gọi là bất định
2. Tâm bất tương ưng hành:
Có 14 loại: đắc, phi đắc, mênh căn, đồng phận, vô tưởng định, vô tưởng quả, diệt tận định, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân
Các loại này không tương ứng với tâm pháp nên gọi là tâm bất tương ưng hành để phân biệt với tâm sở. hành là hành uẩn.
3. Tính chất của các pháp câu sinh:
Dù Hữu bộ chủ trương các pháp là thực hữu, nhưng vẫn chấp nhận quá trình thành hoại.
相謂諸有為 生住異滅性(Đ.29.27.1)
此於諸法能起名生。能安名住。能衰名異。能壞名滅。(Đ.29.27.1)
1. Tích chất hỗ tương sinh khởi của sắc pháp:
Sắc pháp là chỉ cho từ căn thân đến khí thế giới sơn hà, đại địa đều do 4 đại năng tạo: đất, nước, gió, lửa và 4 đại sở tạo (cũng gọi là 4 vi trần): sắc, hương, vị, xúc hoà hợp tạo thành. Chính trong mỗi đại hay trong mỗi cực vi cũng đều có hoà lẫn các đại hay các cực vi khác.
2. Tánh chất câu sinh của tâm, và tâm sở:
Tâm sở có thứ thuộc thiện tánh, có thứ thuộc ác tánh, có thứ thuộc vô ký tánh và có thứ thông cả 3 tánh. Do vậy nên khi tâm vương khởi thiện thời cùng tương ưng với tâm sở thiện. Khi tâm vương khởi ác thời cùng với tâm sở ác tương ưng. Khi tâm vương khởi vô ký tất phải cùng tâm sở vô ký tương ưng
4. Nhân quả:
Câu xá chủ trương 6 nhân, 4 duyên, 5 quả
1. Sáu nhân:
能作及俱有 同類與相應
遍行并異熟 許因唯六種 (Đ.29.30.1)
năng tác cập câu hữu đồng loại dữ tương ứng
biến hành tịnh dị thục hứa nhân duy lục chủng
a. Năng tác nhân:
Đây là yếu tố chính trong việc tạo ra quả. Nhân này còn phân chia ra làm 2: (1) Hữu lực năng tác nhân và, (2) Vô lực năng tác nhân.
(1) Hữu lực năng tác nhân là động lực hỗ trợ trực tiếp đưa đến kết quả.
(2) Vô lực năng tác nhân là nhân đối với kết quả không có hỗ trợ trực tiếp và cũng không gây chướng ngại.
b. Câu hữu nhân:
俱有互為果 如大相所相
心於心隨轉(Đ.29.30.2)
Thông thường về mặt thời gian, luôn luôn nhân trước quả sau, tức nhân quả khác thời. Nhưng về mặt không gian nhân quả lại đồng thời, cùng có một lúc, một chỗ nên gọi là câu hữu nhân. Câu hữu nhân có 2 thứ:
1) Hỗ vi quả câu hữu nhân: tức nguyên nhân hỗ tương. Không có vật nào đứng riêng lẻ mà thành.
2) Đồng nhất quả câu hữu nhân: tức nguyên nhân hợp đồng. Một người không thể tổ chức thành một xã hội. Nhiều người cùng mục đích mới tổ chức thành xã hội.
c. Đồng loại nhân:
同類因相似 自部地前生(Đ.29.31.1)
Nhân quả tương tự gọi là đồng loại. nghĩa là tất cả các pháp hữu lậu ở quá khứ và hiện tại có nhân quả đồng loại.
d. Tương ưng nhân:
相應因決定 心心所同依 (Đ.29.32.2)
Tương ưng nhân liên quan đến tâm vương và tâm sở. Tương ưng nhân giống như câu hữu nhân, vì nó là một phần của câu hữu nhân. Chỉ khác là câu hữu nhân có phạm vi bao quát cả vũ trụ vạn hữu sắc tâm. Còn tương ưng nhân thì chỉ giới hạn ở tâm vương và tâm sở.
e. Biến hành nhân:
遍行謂前遍 為同地染因 (Đ.29.32.3)
Biến hành đồng nghĩa với đồng loại. Nó là một phần của đồng loại. Nhưng đồng loại có phạm vi quán thông cả vũ trụ, còn biến hành này chỉ giới hạn ở 11 phiền não biến hành của tâm sở.
f. Dị thục nhân:
異熟因不善 及善唯有漏 (Đ.29.33.1)
Như do nhân thiện nghiệp mà cảm quả báo vui, do nhân ác nghiệp mà cảm quả báo khổ. Nhưng vui là vui, khổ là khổ, không thể bảo tự thân sự vui khổ là thiện hay ác mặc dù quả báo vui khổ là do nghiệp nhân thiện ác gây ra.
2. BỐN DUYÊN:
Duyên nghĩa là quan hệ, tương quan. Sự vật hình thành và tồn tại giữa những mối quan hệ chằng chịt phức tạp. có 4 duyên:
說有四種緣 因緣五因性
等無間非後 心心所已生
所緣一切法 增上即能作 (Đ.29.36.2)
a. Nhân duyên:
Đây là yếu tố quan hệ mật thiết trực tiếp với kết quả. Nên trong 6 nhân nói trên trừ năng tác nhân, còn lại đều thuộc vào nhân duyên này.
b. Thứ đệ duyên:
Nghĩa là tiếp nối, còn gọi là Đẳng vô gián duyên. Đây là là nói về tâm và tâm sở. tâm và tâm sở diễn ra trong trật tự liên tục từ hiện tượng trước đến hiện tượng sau.
c. Sở duyên duyên:
Gọi tắt là duyên duyên. Là duyên của sở duyên, của đối tượng. Chỉ cho khi tâm pháp sanh khởi ắt phải có đối tượng tức sở duyên. Nếu không có cảnh sở duyên thì tâm pháp chẳng có thể sanh khởi.
d. Tăng thượng duyên:
Nghĩa là khi các pháp sanh khởi duyên này không chướng ngại mà còn hổ trợ. Nó có 2 loại
(1) Thuận tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm sự thuận lợi để phát triển, như mưa gió thuận thời đối với hoa màu.
(2) Nghịch tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm một cách trái ngược làm lụn bại, như hạn hán đối với hoa màu.
3. Năm quẢ:
5 quả này chia ra làm 2 loại lớn:
a. Quả hữu vi: Quả hữu vi có 4:
(1) Dị thục quả: Còn gọi là quả báo. Do nhân dị thục chiêu cảm quả báo. Quả này cùng với nhân đã chẳng cùng thời, lại cũng chẳng tương tuỳ, tánh chất cũng chẳng giống nhau.
(2) Đẳng lưu quả: còn gọi là y quả, tập quả. 2 nhân đồng loại và biến hành sanh ra quả. Quả tương tự như nhân nên gọi là đẳng, quả từ nhân sanh ra nên gọi là lưu.
(3) Sĩ dụng quả: Còn gọi là sĩ phu quả. Sĩ là người, dụng là tác dụng của năng lực. Sĩ dụng là tác dụng của người. Có 2 thứ:
- Nhân sĩ dụng: Chỉ năng lực con người hoặc loài có tri giác tạo ra với trí tuệ và chân tay qua các công cụ lao động.
- Pháp sĩ dụng: Chỉ các pháp có năng lực tác động tạo ra quả giống như con người.
(4) Tăng thượng quả: nương theo tăng thượng lực của năng tác nhân và 4 duyên hợp thành mà có được kết quả. Như có làm việc thì có kết quả. Tiến trình hình thành kết quả không bị chướng ngại.
b. Quả vô vi:
Ly hệ quả: Ly hệ là thoát ly sự ràng buộc của phiền não vô minh.
III. KẾT LUẬN:
Qua tính chất của 22 căn, chúng ta biết được sự tác dụng của mỗi loại, nó có thể đem lại pháp tịnh, và nó cũng có thể đem lại pháp nhiễm.
Sự hỗ tương sinh khởi của tâm sở và tâm bất tương ưng giúp cho các pháp sinh khởi
Sáu nhân, bốn duyên và năm quả cho chúng hiểu rõ được mối quan hệ nhân quả trong các pháp.
Đề cương: Luận Câu-xá (5) Phân Biệt Thế
I. Ý chính:
Phẩm phân biệt thế gian có các nội dung chính:
A. Hữu tình và vô tình thế gian
1. Ba cõi
2. Ngũ thú tạp cư
3. Thất thức trụ
4. Cửu hữu tình cư
B. Chúng sinh và luân hồi sinh tử
1. Tứ sinh
2. Tồn tại hỗ tương
3. Vô ngã
C. Duyên khởi
1. 12 nhân duyên
2. Tính chất 12 nhân duyên
3. 4 loại duyên khởi
4. Nhân quả
D. Thọ mạng và tử của hữu tình
1. Tứ thực
2. Thức lúc chết
3. Trung hữu
E. Khí thế gian
F. Thời gian và không gian
II. Nội dung
A. Ba cõi:
Theo phân chia của luận Câu xá, 3 cõi chính:
1. Dục giới/Cõi dục (kāmadhātu):
Cõi Dục gồm chung cả năm loài: trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở xen lộn thành một địa gọi là ngũ thú tạp cư địa. Có bốn thứ phiền não chi phối chúng sinh ở cõi này như: tham, sân, si, mạn
2. Cõi Sắc : Cõi Sắc có bốn địa là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Có ba thứ phiền não chi phối chúng sinh ở cõi này như: tham, si, mạn.
3. Cõi Vô sắc: Cõi Vô sắc cũng có bốn địa: Không vô biên xứ địa, Thức vô biên xứ địa, Vô sở hữu xứ địa và Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa. Có ba thứ phiền não chi phối chúng sinh ở cõi này như: tham, si, mạn,
Vũ trụ thế giới tuỳ theo nghiệp lực trình độ sai khác của chúng sinh mà chia ra 3 tầng gọi là 3 cõi. Trong đó mỗi cõi lại tuỳ theo lòng tham dục nặng nhẹ mà chia ra cõi Dục và 6 bậc trời cõi Dục. Tuỳ theo sức thiền định cạn sâu mà chia ra làm nhiều bậc thiền thuộc cõi sắc và cõi vô sắc.
B. Lưu chuyển:
Hữu tình thế gian, như đã được đề cập gồm: 3 cõi, 4 loài, 6 đường khác nhau nhưng đều ở trong vòng luân hồi, sinh tử trải qua 4 giai đoạn hữu:
1. Tử hữu: xả bỏ báo thân.
2. Trung hữu: giai đoạn sau khi bỏ báo thân cho đến khi đủ duyên đầu thai .
3. Sinh hữu: giai đoạn trung hữu chờ tái sinh, do vọng tưởng khởi lên tâm ái dục đầu thai.
4. Bản hữu: Chỉ thời gian từ sinh hữu cho đến tử hữu.
C. Duyên khởi:
Duyên khởi (Law of Dependent Origination) được xem là điểm giáo lý trọng tâm của Phật giáo. Nó có một ảnh hưởng nhất định đến nên triết học thế giới. Học thuyết này chứng minh sự hình thành thế giới không phải là sự sáng tạo của thần linh, siêu nhiên, thượng đế. Học thuyết nhấn mạnh rằng thế giới được hình thành là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhân duyên. Chính vì vậy chúng có tính tạm bợ, nhất thời, khổ đau.
從惑生惑業 從業生於事
從事事惑生 有支理唯此 (Đ.29.49.2)
Tùng hoặc sinh hoặc nghiệp, tùng nghiệp sinh ư sự
Tùng sự sự hoặc sinh, hữu chi lý duy thử
Như trên do hoặc, nghiệp, khổ (cũng gọi là hoặc, nghiệp, sự) mà chúng sinh trải qua bốn giai đoạn hữu lưu chuyển từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai, vô chung, vô thỉ. Hoặc, nghiệp, sự lại là cách diễn đạt khác về 12 nhân duyên. Luận 25 Câu xá (Đ. 29.48.3) giải thích mười hai duyên theo:
1. 一者剎那 (kṣaṇika) Sát-na duyên khởi:
Là một sát-na trong tâm cùng lúc đầy đủ mười hai chi. Ở đây theo dạng nhân qủa đồng thời, có nhân là có quả.
2. 二者連縛Liên phược duyên khởi
Duyên khởi không gián đoạn theo quan hệ nhân trước quả sau.
3. 三者分位 Phân vị duyên khởi
Căn cứ vào thọ quả hiện tại để tìm cái nhân sinh ra nó, và cũng từ đó căn cứ vào tác nhân hiện tại mà biết quả vị tương lai.
4. 四者遠續 Viễn tục duyên khởi
Sự duyên khởi liên tục của 12 chi nhân duyên này không những chỉ một đời, hai đời, ba đời mà còn nhiều đời.
Chuỗi 12 nhân duyên này nối tiếp mãi không ngừng đời này sang đời khác cho tới khi hành giả chứng niết-bàn, không còn luân hồi sinh tử.
D. Khí thế gian:
1. Hạn lượng thế giới:
Thế giới vô lượng có thể chia ra ba hạng: Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới, Đại thiên thế giới. Gọi chung là Tam thiên đại thiên thế giới.
2. Thể chất của thế giới
Thế giới được cấu thành bằng 4 trần: sắc, hương, vị, xúc. Và 4 trần này lại do cực vi hợp thành. Cực vi là vật thể rất vi tế, không thể chia chẻ được nữa, nếu chia chẻ ra nữa nó sẽ hoá thành hư không. Mỗi cực vi đều có 4 tánh chất là cứng, ướt, nóng, động (cố thể, dịch thể, nhiệt lực, động lực hay khí thể)
- Tánh cứng rắn có tác dụng bảo trì mọi vật
- Tánh thấp ướt có tác dụng gom dính mọi vật, kết mọi vật
- Tánh ấm nóng có tác dụng thành thục mọi vật
- Tánh chuyển động có tác dụng làm tăng trưởng mọi vật.
3. Thời kỳ thành hoại của thế giới:
Thế giới cứ xoay vần tiếp nối qua bốn thời kỳ: thành, trụ, hoại, không. mỗi thời kỳ là một Trung kiếp, đủ 4 Trung kiếp là 1 Đại kiếp.
4. Trạng thái khi thế giới trụ, hoại, và trống không:
Thế giới trong thời trụ gồm 20 Tiểu kiếp. Trong 20 Tiểu kiếp này, tuổi thọ con người có 19 lần tăng lên đến 80.000 tuổi, và 19 lần giảm xuống 10 tuổi. Khi tuổi thọ con người đạt 80.000 thì thân hình đẹp đẽ, tự phát ánh sáng, đi lại nhẹ nhàng như bay. Thế nhưng không biết tu tập nên phát sinh nhiều tính xấu hành động xấu, làm cho tuổi thọ mỗi ngày mỗi giảm đến định mức 10 tuổi, thì có 3 tai biến nhỏ xảy ra: 1) đao binh tai, 2) tật dịch tai và, 3) cơ cẩn tai.
III. Kết luận
Phẩm giới thiệu về các khái niệm:
- Các cõi
- Nguyên nhân đưa đến sự hiện hữu của 2 loại thế gian
- 4 tướng của khí thế gian
Tuy Câu-xá chủ trương “Tam thế thật hữu, pháp thể thường hằng” nhưng vẫn chấp nhận sư chuyển b
iến không ngừng của các pháp.
Luận Câu-xá (6) PHÂN BIỆT NGHIỆP
I. Đại ý:
Đây là quan điểm của Nhất Thiết Hữu bộ về nghiệp. Nội dung căn bản của phẩm này:
A. Giới thiệu về nghiệp: định nghĩa về nghiệp
B. Nghiệp được nói trong các kinh: phẩm giải thích nhiều loại nghiệp được đề cập trong các kinh
C. Nhân hành động: những nguyên nhân đưa đến hành động tốt và những nguyên nhân đưa đến hành động xấu.
D. Nghiệp và kết quả: tạo những nghiệp gì sẽ dẫn đến những kết quả như thế nào
E. Nghiệp trong các bản sớ giải: nghiệp được các bản sớ giải giải thích
F. Bồ-tát: Bồ-tát hành thiện, dẫn đến việc thành tựu 32 tướng tốt trong tương lai, được sinh trong nhà quyền quý…
G. Ba hành động công đức: bố thí, đức hạnh và thiền định
II. Nội dung:
A. Định nghĩa:
Mở đầu phẩm nghiệp luận Câu xá khẳng định:
世別由業生 思及思所作
思即是意業 所作謂身語 (Đ.29.67.2)
1. Các lọai nghiệp
a. Vô biểu nghiệp: avijñapti
có 3 loại: 1) Luật nghi vô biểu: Thuộc thiện, có 3: a. Biệt giải thoát luật nghi, b. Tịnh lự luật nghi, c. Vô lậu luật nghi. 2) Bất luật nghi vô biểu: thuộc ác, 3) Phi luật nghi phi bất luật nghi.
b.Biểu nghiệp: vijñapti
- Thân biểu: nhờ tư lực giúp nghiệp khởi thông qua thân, gọi là thân biểu nghiệp
- Ngữ biểu nghiệp: lời nói, âm thanh.
此身語二業 俱表無表性 (Đ.29.67.2)
2. Tính chất của nghiệp: Bản chất của nghiệp:
Nghiệp có 3 tính: thiện, ác, vô ký. Nhưng chỉ có tính thiện và ác mới là nghiệp, còn vô ký không phải nghiệp
Căn cứ vào 2 tánh thiện, ác, mỗi tính đều có 4 thứ là thắng nghĩa, tự tính, tương ưng, đẳng khởi. Nghĩa là có 4 thứ thiện và 4 thứ ác như sau:
Bốn thứ thiện và Bốn thứ ác:
勝義善解脫 自性慚愧根
相應彼相應 等起色業等(Đ.29.71.1)
B. Nghiệp được nói trong các kinh:
Câu xá luận 15 tổng kết 11 loại nghiệp được các kinh nêu như sau:
1) Tam tánh nghiệp: (80.3) tức 3 nghiệp: thiện, ác và vô ký. Tính chất của thiện nghiệp là an ổn, đưa đến quả niết-bàn, tiệm trừ chúng khổ. Tính chất chất của ác nghiệp thì ngược lại, tức bất an ổn…
2) Phước phi phước nghiệp(81.1)
福非福不動 欲善業名福
不善名非福 上界善不動 (Đ.29.81.1)
Chỉ cho các loại nghiệp ở cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Thiện nghiệp cõi dục gọi là phước vì quả khả ái đem lại lợi ích cho hữu tình, nó thanh tịnh. Bất thiện nghiệp gọi là phi phước, đem lại quả bất khả ái, tổi hại hữu tình.
3) Tam thọ nghiệp: chỉ cho 3 cảm thọ
a) Thuận lạc thọ, các nghiệp thiện từ cõi dục đến tầng thiền thức 3.
b) Thuận khổ thọ, là các nghiệp bất thiện ở cõi dục
c) Thuận bất khổ bất lạc thọ, từ Tam thiền lên đến trời Hữu đỉnh.
4) Tam thời nghiệp: Nghiệp có chia ra làm 2 định và bất định. Thời kỳ nghiệp thọ quả báo có hiện tại và vị lai, và thọ báo theo thứ tự hoặc thọ báo trong tương lai, thuận hậu thọ.
5) Thân tâm thọ nghiệp: Tức nghiệp do tâm thọ, nghiệp do thân thọ.
a) Tâm thọ là nghiệp thọ quả báo (dị thục) tương ưng với đệ lục ý thức. Ví dụ như thiện nghiệp ở từ trung gian định của Sắc giới đến cõi trời Hữu đỉnh.
b) Thân thọ tức nghiệp chiêu cảm quả dị thục do thân lãnh thọ, như ác nghiệp ở cõi dục.
6) Ba nghiệp khúc uế trược:
說曲穢濁業 依諂瞋貪生 (Đ.29.83.3)
7) Hắc bạch nghiệp: Do tính chất của nghiệp tạo ra không giống nhau nên Phật chia nghiệp thành 4 loại, gồm:
- Hắc nghiệp: bất thiện nghiệp cõi dục gọi là hắc
- Bạch nghiệp: thiện nghiệp cõi sắc gọi là bạch
- Hắc bạch hắc bạch nghiệp: nghiệp lành dữ xen lộn nhau thọ quả báo khả ái phi khả ái xen trộn ở cõi dục.
8) Tam mâu ni nghiệp:
3 nghiệp thanh tịnh, thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh.
9) Ba ác hạnh: tức tức ba nghiệp ác của thân, ngữ, ý (ý bao gồm cả tham, sân, tà kiến)
10) Mười nghiệp đạo:
Thân: có 3 sát, đạo, dâm, ngữ có 4: nói dối, hai lưỡi, thô ác, thêu dệt, ý có 3: tham, sân, tà kiến
11) Ba tà hạnh: Tức tà ngữ, tà nghiệp và tà mạng
C. Nghiệp trong các bản Sớ giải
1. Nghiệp chướng: tạo vô gián nghiệp (ngũ vô gián: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hoà hợp Tăng, làm thân Phật ra máu)
2. Phiền não chướng: có 2 tính
- Số hành: phiền não hằng khởi
- Mãnh lợi: thượng phẩm phiền não
c. Dị thục chướng, quả báo đau khổ trong 3 cảnh giới: Nhất thiết ác thú, Bắc câu lô châu, Vô tưởng thiên
D. Nguyên nhân hành động:
Nghiệp bất thiện khi phát sinh chúng bắt nguồn từ tam bất thiện căn, tham, sân, si. Nghiệp thiện phát khởi từ tam thiện căn, vô tham, vô sân, vô si
Ví dụ như nghiệp bất thiện, sát sanh, bắt nguồn từ lòng tham
1. Tham: chuẩn bị sát sanh, + như muốn sát sanh để lấy một bộ phận/thân phần nào của con thú, + sát sanh để lấy tài vật+ sát sanh để vui chơi, để tự vệ…
2. Sân: giết thỏa mãn sự sân, để trả thù, rửa hận
Si: + giết để tế tự, cầu phước…
E. Bồ-tát
Bồ-tát sở dĩ thành tựu được 32 tướng tốt trong tương lai, được sinh trong gia đình quyền quý, là người nam, đầy đủ các căn…nhờ hành thiện nghiệp.
F. Ba hành động công đức
1. Bố thí
2. Trì giới
3. Thiền định
III. Kết luận:
Luận Câu-xá (7) Phân Biệt Tuỳ Miên
PHÂN BIỆT TUỲ MIÊN
(Anuśaya)
I. Đại ý:
Thế giới được hình thành do nghiệp và tuỳ miên. Tuỳ miên tên gọi khác của phiền não hay hoặc. Nghiệp là nguyên nhân gần và tuỳ miên là nguyên nhân xa, chúng cùng tương ưng để tạo ra thế giới mê vọng. Nội dung phẩm này nói về các loại phiền não, tên gọi, và ảnh hưởng của chúng.
II. Nội dung:
A. Các nghĩa của tuỳ miên:
Tuỳ miên có 4 nghĩa: vi tế, tuỳ tăng, tuỳ trục, tuỳ phược
Câu xá
微細二隨增 隨逐與隨縛
住流漂合執 是隨眠等義(Đ.29.108.1)
Vi tế nhị tuỳ tăng tuỳ trục dữ tuỳ phược
trụ lưu phiêu hiệp chấp thị tuỳ miên đẳng nghĩa
1. Vi tế: Vì căn bản phiền não hiện tiền rất vi tế, hành tướng của nó rất khó biết rõ nên gọi là vi tế.
2. Tuỳ tăng: Tăng nghĩa là đối với sở duyên và pháp tương ứng có khả năng phát triển.
3. Tuỳ trục: Nó thường theo hữu tình gây ra các tội lỗi, nên gọi là tuỳ trục
4. Tuỳ phược: Nó thường hiện khởi trói buộc hữu tình, khi chúng ta không muốn nó vẫn sinh, cố ngăn nó vẫn khởi, nên gọi là tuỳ phược
Khi phiền não/tuỳ miên hoạt động nó có đủ 10 tính chất:
一堅根本: Tạo ra gốc rễ kiên cố, khó diệt trừ
二立相續: Tạo thành một chuỗi liên tục, nghĩa là tái tạo liên tục
三 治自田: tự chăm sóc, nghĩa là bổ sung cho phiền não tiếp tục khởi
四引等流: Sản sinh phiền não phụ, như ghét sinh ra giận
五發業有: Đưa đến hành động
六攝自具: Tập hợp, tích tụ các nguyên nhân
七 迷所緣: làm cho con người có nhận thức sai lầm đối với đối tượng nhận thức.
八導識流: Nó dẫn dòng thức đến đối tượng, hay đến với sinh tử
九越善品: làm cho xa lìa việc thiện
十廣縛義: Tạo ra sự trói buộc, ràng buộc vào hiện hữu
Bàn rộng về 10 thứ tuỳ miên
B. Căn bản phiền não/tuỳ miên:
隨眠諸有本 此差別有六
謂貪瞋亦慢 無明見及疑 (Đ.29.98.2)
Tuỳ miên chư hữu bổn, thử sai biệt hữu lục
Vị tham sân diệc mạn, vô minh kiến cập si
Căn bản tuỳ miên sai biệt có 6 loại, đó là: 1. tham, 2. sân, 3. si, 4. mạn, 5. nghi, 6. ác kiến.
Ác kiến có 5: a. thân kiến, b. biên kiến, c. tà kiến, d. kiến thủ, e. giới cấm thủ.
1. Tham: tài, sắc, danh, thực, thuỳ…những thứ làm con người khởi tâm ưa thích, tìm cầu.
3. Sân: tâm không thoả mãn đối với lục trần hay đối với người khác.
4. Si: không phân biệt phải trái mà chỉ hành động theo tham, sân.
5. Mạn: Tâm cao mạn gọi chung là mạn, có 7 loại:
a. Mạn: tâm cao mạn so sánh, đối với người thua mình, tự cho mình hơn, đối với người bằng mình, tự cho mình bằng.
b. Quá mạn: đối với người bằng mình lại cho mình hơ. Đối với người hơn mình lại cho mình bằng.
c. Mạn quá mạn: có tâm cao mạn, đối với người hơn mình lại cho mình hơn,
d. Ngã mạn: có tâm chấp ngã, ngã sở rồi sanh ra cao mạn, dương dương tự đắc, dù không công nhiên so sánh hơn thua với người,
e. Tăng thượng mạn: chưa học, chưa tu, chưa chứng lại tự cho đã học, đã tu, đã chứng,
f. Ty mạn: có tâm cao mạn, mình thua người nhiều, lại tự cho là chỉ thua chút ít, không chịu phục tùng người hơn; hoặc tự mãn với chút ít học thức, đạo đức mà không cầu tiến
g. Tà mạn: có tâm cao mạn. Tự thị về những kiến giải và cách tu tập tà vạy mà khinh khi lấn lướt người khác
5. Nghi: là tánh nó do dự lưng chừng, không nhận định rõ lý nhân quả về mặt mê cũng như mặt ngộ
6. Ác kiến: thấy biết sai lầm, cố chấp làm chướng ngại đạo và tâm sở thiện. Ác kiến lại có 5:
a. Thân kiến: gồm ngã kiến và ngã sở kiến, chấp tự ngã và ngã sở.
b. Biên kiến: chấp có thật ngã, khi chết ngã sẽ tồn tại
c. Tà kiến: Tà kiến chỉ cho những thấy biết sai lệch điên đảo. Tà kiến còn chỉ cho sự phủ nhận nhân quả chính đáng và chấp nhận nhân quả sai trái.
d. Kiến thủ: Tức chấp chặt 3 thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến trên cho là đúng
e. Giới cấm (thủ có 2 loại:
- Không phải là nhân chấp là nhân, tức chấp trì những giới cấm không hợp lý
- Không phải đạo lý chấp là đạo lý, tức tin những đạo lý không đưa đến sự giải thoát.
10 phiền não trên được chia ra làm 2:
1. 5 độn sử: Vì tánh của chúng trì độn, có rễ sâu dày khó trừ.
1. tham, 2. sân, 3. si, 4. mạn, 5. nghi
2. 5 lợi sử: 5 ác kiến được gọi là 5 lợi sử vì tánh của nó mãnh lợi, không có căn rễ sâu dày, dễ đoạn trừ
1. thân kiến, 2. biên kiến, 3. tà kiến, 4. kiến thủ, 5. giới cấm thủ . Hai thứ độn sử và lợi sử này lại chia ra làm 2 loại: a. mê lý hoặc và b. mê sự hoặc.
a. Nhận định sai lầm về đạo lý (Mê lý hoặc):
Mê lầm về đạo lý nhân quả, như: vô thường, vô ngã, Tứ đế. Mê lý hoặc còn là kiến hoặc. Kiến hơặc có 88 sử, là căn cứ vào đa số phiền não ở cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà quy định. Khi mê lý Tứ đế ở cõi Dục thì sẽ khởi ra 32 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Sắc thì khởi ra 28 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Vô sắc thì khởi ra 28 sử.
32 sử ở cõi Dục là mê lý Khổ đế khởi lên 10 sử (5 độn sử và năm lợi sử) mê lý Tập đế khởi 7 sử (trong 10 sử trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ), mê lý Diệt đế khởi lên 7 sử (như Tập đế), mê lý Ðạo đế khởi lên 8 sử (tức trong 10 sử trừ Thân kiến, biên kiến).
28 sử ở cõi Sắc và Vô sắc là trong số 32 sử của cõi Dục, ở cõi Sắc trừ thêm 4 phiền não sân do mê lý Tứ đế nên còn lại 28 sử. Ở cõi Vô sắc cũng vậy.
b. Nhận định sai lầm về sự tướng của vũ trụ (Mê sự hoặc):
Là mê lầm tham đắm về sự tướng, sắc thinh của vũ trụ vạn vật. Mê sự hoặc cũng gọi là tư hoặc, tu hoặc. Tư hoặc có 81 phẩm (bậc). Ở đây chia ba cõi ra làm chín địa, mỗi địa có chín bậc tu hoặc. Như vậy, 9x 9= 81 phẩm.
Như vậy, tự thể của tư hoặc ở cõi Dục có bốn thứ là tham, sân, si, mạn; ở cõi sắc có ba thứ là tham, si, mạn, ở cõi vô sắc cũng có ba thứ là tham, si, mạn. Cộng cả ba cõi thành mười thứ tư hoặc, mười tư hoặc này cộng với 88 sử thuộc kiến hoặc thành 98 sử, được gọi là căn bản phiền não.
C. Tuỳ phiền não/chi mạt hoặc upakleśas:
Chúng được tạo ra tiếp theo sau căn bản phiền não. Có 19 thứ chi mạt hoặc tuỳ tùng theo căn bản nổi lên, đó là:
1. Phóng dật, 2. Giải đãi, 3. Bất tín, 4. Hôn trầm, 5. Trạo cử, 6.Vô tàm, 7. Vô quý, 8. Phẫn, 9. Phú, 10. Xan, 11. Tật, 12. Hối, 13. Miên, 14. Não, 15. Hại, 16. Hận, 17. Siểm, 18. Cuống, 19. Kiêu
D. Phân loại đa dạng (dựa vào tính chất của tuỳ miên):
Ngoài sự phân chia các loại phiền não ra thành căn bản phiền não và tuỳ phiền não ra, chúng ta còn có thể chia các món phiền não ra thành các loại sau đây theo tính chất của chúng:
Tam phược, Tam lậu, Tứ bộc lưu, Tứ ách, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ thuận hạ phần kiế, Ngũ thuận thượng phần kiết, Lục cấu, Cửu kiết, Thập triền
E. Yếu tố phát sinh phiền não:
Do 3 nhân duyên các phiền não phát khởi:
1. Do yếu tố tiềm ẩn: lòng tham khởi lên là do hạt giống tham sẵn có trong tâm chưa được đoạn trừ, chưa biết rõ.
2. Do cảnh giới: tức đối tượng/duyên.
3. Do gia hạnh: Tức là sự phân biệt sai lệch đối với đối tượng (phi lý tác ý, nếu tác ý lạc thanh tịnh thì gọi là như lý tác ý)
F. Phương pháp dứt trừ phiền não:
1. Liễu tri tính chất tuỳ miên:
Căn bản phiền não và tuỳ phiền não đều nằm trong 2 loại: kiến hoặc và tư hoặc. Đoạn trừ kiến hoặc nhờ ba nguyên nhân, đoạn trừ tư hoặc nhờ một nguyên nhân.
Ba nguyên nhân đoạn trừ kiến hoặc có:
a. Do biết cảnh sở duyên
b. Do năng duyên đoạn
c. Do sở duyên đoạn
Một nguyên nhân đoạn trừ Tư hoặc:
Nhân đối trị đoạn.
2. Hiểu thật tướng của các pháp:
Câu xá thích luận:
已知行無常 復觀彼變異
故說諸受苦 正遍覺智者(Đ.29.267.3)
Dĩ tri hành vô thường phục quán bỉ biến dị
cố thuyết chư thọ khổ Chánh biến giác tri giả
Luận thuyết:
諸所有惡趣 此及他世間
皆無明為根 貪欲所等起(Đ.29.640.3)
Chư sở hữu ác thú thử cập tha thế gian
Giai vô minh vi căn tham dục sở đẳng khởi
III. Kết luận:
luận Câu-xá (8) Phân Biệt Hiền Thánh
Phẩm phân biệt Hiền Thánh bàn về: sự giác ngộ, quả vị tu chứng, như các quả Thánh: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và A-la-hán, những con đường (māgas)/giai đoạn đi đến giải thoát hoàn toàn, Tứ đế, Nhị đế...
I. Ý chính:
A. Tính chất của đạo
Thông qua thiền định và kiến đế phiền não được đoạn trừ. Kiến đế tức hiểu các đế. Có những phiền não được đoạn trừ nhờ hiểu các đế, có những loại nhờ tu tập thiền định.
B. Các đế
1. Thứ tự
2. Khổ đế
3. Tập đế
4. Nhị đế
C. Kiến đạo: sơ khởi tu tập
1. Văn, tư, tu
2. Thân, tâm viễn ly
3. Tu tập thiền quán
4. Noãn
5. Đảnh
6. Nhẫn
7. Thế đệ nhất
D. Kiến đạo:
1. 16 trạng thái tinh thần
2. śraddhānusārin, dharmānusārin
3. śrotaāpanna
4. sakaḍāgāmi
5. anāgāmin
E. The Aśaikṣa path
Arhat
F. Các đạo khác (the vaious path)
1. 4 đạo (gia hạnh, vô gián, giải thoát, thắng tấn)
2. 37 phẩm trợ đạo
II. Nội dung:
A. Tính chất của đạo:
見道唯無漏 修道通二種 (Đ.29. 113.c)
Kiến đạo thuộc vô lậu. Tu đạo thông cả hữu lậu và vô lậu. Vì kiến đạo có thể đoạn trừ phiền não trong tam giới
1. Kiến đạo (見道, sa. darśana-mārga)
2. Tu tập đạo (修習道, sa. bhāvanā-mārga)
3. Vô học đạo (無學道, sa. aśaikṣa-mārga)=Cứu cánh đạo (究竟道, sa. niṣṭhāmārga).
B. Các đế:
1. Thứ tự
Trước tiên hành giả quán sát sự khổ, sau đó tìm nguyên nhân. Trước quán khổ diệt, tiếp đến quán nguyên nhân diệt khổ. Cũng vậy ví như thầy thuốc nhìn thấy bệnh phải tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, trạng thái hết bệnh và phương cách chữa trị.
2. Khổ đế:
苦由三苦合 如所應一切
可意非可意 餘有漏行法(Đ.29.114.2)
Ba khổ:
- Khổ khổ:
- Hành khổ:
- Hoại khổ:
3 khổ nằm trong 3 phương diện:
a. Khổ về thân: Những thứ tác động vào thân ta gây bất xứng ý, đưa đến cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Ví dụ như khi ta bị bệnh, thương tích đây là những đau đớn của thể xác.
b. Khổ về tâm: Chỉ cho những sự khổ đau vì mong cầu không toại nguyện hoặc những điều không vừa ý mình xảy đến.
c. Khổ về cuộc sống vật chất thay đổi
3. Tập đế: Nói rõ những nguyên nhân đưa đến khổ đau
Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau. Đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Tập đế nói rõ nguyên nhân sản sinh ra quả khổ. Nguyên nhân sản sinh ra quả khổ là nghiệp và phiền não. Nguyên nhân của khổ là tham ái. Do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái.
4. Nhị đế: (Đ.29.116.2)
a. Tục đế
Từ quan điểm tương đối các pháp dường như có thật, như sơn hà, đại địa. Chúng ta gọi chúng với những tên khác nhau.
b. Chân đế
Khác với tục đế là chân đế. Như một vật bị hư họai không còn nữa, nhưng ý nghĩ về vật đó vẫn còn, như vậy vật đó tồn tại (absolute existence). Ví dụ như vật chúng ta chia chẻ ra thành nhiều phần nhỏ, cực vi, chúng ta vẫn còn nhớ vật đó, mùi nó trong tâm trí
C. Tu tập
Một hành giả phát tâm tu tập thiền định, nhận chân các pháp, trước tiên cần nương vào giới. Tiếp đến vị này đạt tri kiến. Vì mục đích này, hành giả không tạo nghiệp, tâm xa lìa tư tưởng ác, sẽ khởi 4 thiện căn thù thắng: Noãn vị, Đảnh vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất vị.
D. Quả vị:
1. 16 trạng thái tinh thần
2. śraddhānusārin, dharmānusārin
3. śrotaāpanna
4. sakaḍāgāmi
5. anāgāmin
E. The Aśaikṣa path
Bậc Thánh, Arhat, đã dứt trừ kiến hoặc và tư hoặc. A-la-hán có 6 hạng, tuỳ theo mức độ tu chứng. Có hạng bị thoái thất có hạng không bị.
F. Các đạo khác (the vaious path)
Các đường hướng tu hành khác, như: 4 đạo (gia hạnh, vô gián, giải thoát, thắng tấn), 37 phẩm trợ đạo
III. Kết luận:
Đề cương: Luận Câu-xá (9) Phân biệt trí
I. Ý chính của phẩm:
A. Mối tương quan giữa Nhẫn, Trí, Kiến
B. Đặc tính của 10 trí
C. Khía cạnh của 10 trí
D. Phân tích 10 trí
E. 18 pháp bất cộng
F. Công đức phổ thông
II. Nội dung:
Bằng cách phát triển, hoàn thiện tinh thần chúng ta phát huy được năng lực trí trí. Trí tuệ rất quan trọng, nhờ trí tuệ mà các lậu hoặc được đoạn trừ. Thế trí không có khả năng này.
A. Mối tương quan giữa Nhẫn, Trí, Kiến:
Thể của nhẫn, trí, kiến là tuệ tâm sở. Tuy nhiên do tuệ tâm sở có các tác dụng khác nhau nên có 3 tên gọi này.
- Tuệ tâm sở suy đạt gọi là kiến
- Tuệ tâm sở quyết đoán gọi là trí
- Tuệ tâm sở chấp nhận gọi là nhẫn
B. Các loại trí:
Luận Câu xá nêu:
智十總有二 有漏無漏別
有漏稱世俗 無漏名法類(Đ.29.134.3)
Trí thập tổng hữu nhị, Hữu lậu Vô lậu biệt
Hữu lậu xưng thế tục, Vô lậu danh pháp loại
(tất cả có 10 trí chia làm 2 loại, hữu lậu và vô lậu, hữu lậu gọi là thế tục, vô lậu gọi là pháp, và loại trí)
1. Trí hữu lậu:
Sự hiểu biết hạn cuộc trong phạm vi thế gian, như: sơn, hà, đại địa, nó còn bị đối trị. Do những đặc tính giới hạn này nên nó được gọi là trí thế tục.
2. Trí vô lậu:
Trí vô lậu là loại trí tuệ thanh tịnh, không bị các loại phiền não chi phối. Nó gồm 2 loại: Pháp trí và Loại trí
a. Pháp trí: là trí tuệ biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên.
b. Loại trí: là trí cùng loại tương tợ với Pháp trí, có khả năng biết lý Tứ đế của 2 cõi trên ngang qua lý Tứ đế ở cõi Dục. Do vậy cho nên có khả năng dứt trừ mọi phiền não do mê lý Tứ đế của 2 cõi trên.
Ngoài ra còn có 4 thứ: Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Đạo trí. Chúng có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên. Ở Vô học vị khởi lên 2 loại trí: a. Tận trí và, b. Vô sinh trí.
a. Tận trí: Bậc Thánh vô học biết rằng: ta đã biết khổ, ta đã dứt tập, ta đã chứng diệt, ta đã tu đạo. Đó gọi là Tận trí vì trí này biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế.
云何盡智。謂無學位若正自知我已知苦。我已斷集。我已證滅。我已
修道。由此所有智見明覺解慧光觀是名盡智。(Đ.29.135.1)
b. Vô sinh trí: Vô sinh trí là đối với tác dụng biết, đoạn, chứng, tu thành tựu được phi trạch diệt. Gọi là vô sinh.
云何無生智。謂正自知我已知苦不應更知。廣說乃至。我已修道不應更修。由 此所有廣說乃至。是名無生智。(Đ.29.135.1)
Ngoài ra còn có Tha tâm trí. Đây là trí biết được tâm tư của kẻ khác.
Tóm lại có tất cả 10 trí: thế tục trí, pháp trí, loại trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tha tâm trí, tận trí, vô sinh trí. Sở dĩ hữu lậu trí và vô lậu trí lại chia ra làm 10 trí là vì 7 duyên. Luận Câu xá nói:
由自性對治 行相行相境
加行辦因圓 故建立十智 (Đ.29.135.2)
Do tự tánh, đối trị, hành tướng, hành tướng cảnh
Gia hạnh, biện, nhân viên, cố kiến lập thập trí
a. 自性故立世 俗智 Do tự tánh nên lập thế tục trí. Vì thế tục trí là pháp hữu lậu thế tục không thể lấy trí thắng nghĩa vô lậu làm tự tánh.
b. 對治故立法 類智Do đối trị mà lập ra pháp trí, loại trí. Vì hai trí này có khả năng đối trị phiền não của cõi Dục và 2 cõi trên.
c. 行相故立苦 集智 Do hành tướng khác biệt nên lập ra khổ trí, tập trí.
d. 行相境故立滅 道智 Do hành tướng và cảnh lập ra diệt trí, đạo trí. Vì về hành tướng năng duyên của 2 trí này không đồng nhau.
e. 加行故立他 心智Do gia hạnh mà lập ra tha tâm trí.
f. 事辦故建立盡智 Do việc đã thành tựu nên lập ra tận trí.
g. 因圓故立無生智 Do nhân viên mãn lập ra Vô sinh trí.
C. HÀNH TƯỚNG CỦA TRÍ:
Trong 10 trí, Pháp trí duyên Tứ đế của cõi Dục hiện ra 16 hành tướng. Pháp trí duyên 2 cõi trên cũng hiện ra 16 hành tướng. Câu xá tụng:
行相實十六 此體唯是慧 (Đ.29.137.1)
Hành tướng thật thập lục, thử thể duy thị tuệ
Tu hành 16 hành tướng để đối trị 16 bệnh vọng chấp.
1. Quán 4 hành tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã của Khổ đế là để đối trị bốn vọng chấp: chấp thường, chấp lạc, chấp ngã sở (tức các sở hữu của ta), chấp ngã.
2. Quán 4 hành tướng: nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế để đối trị bốn vọng chấp của ngoại đạo: vô nhân luận, nhất nhân luận, thường nhân luận, năng sinh luận.
3. Quán 4 hành tướng: diệt, tịnh, diệu, ly của Diệt đế để đối trị bốn vọng chấp: sinh cõi trời tự tại là niết bàn, tự thể sẵn giải thoát, niết bàn là hoại diệt như bị bùa chú, giải thoát rồi vẫn sinh tử.
4. Quán bốn hành tướng: đạo, như, hành, xuất của Đạo đế để đối trị bốn vọng chấp: không có đạo giải thoát, khổ hạnh là chánh đạo giải thoát, không tu đạo mà sinh tử vẫn thanh tịnh, chấp Thánh đạo không có khả năng giải thoát.
D. Công đức riêng biệt (18 pháp bất cộng):
Luận Câu xá nói:
十八不共法 謂佛十力等
論曰。佛十力四無畏三念住及大悲。如是 合名為十八不共法。(Đ.29.140.2)
Đây là những công đức của Phật, đặc biệt chỉ có Phật mới đạt được, các vị Thánh khác và phàm phu không có được. Cho nên gọi là bất cộng công đức, có 18 thứ: 10 lực, 4 vô uý, 3 niệm trụ và đại bi tâm
1. 10 lực: không gì lay chuyển được
a. Xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ Phật mà thật thể là 10 trí vừa nói trên biết rõ việc gì hợp lý, không hợp lý.
b. Nghiệp báo trí lực: Trí biết rõ nghiệp nhân như vậy sẽ cảm quả báo như vậy.
c. Tịnh lự giải thoát đẳng trí lực: Trí biết đúng thật về các thiền định giải thoát.
d. Căn thượng hạ trí lực: trí biết rõ căn tánh cao thấp của chúng sanh.
e. Chủng chủng thắng giải trí lực: trí biết rõ tâm niệm mừng vui, quyết đoán của chúng sanh.
f. Chủng chủng giới trí lực: trí biết được mọi tính loại sai khác của chúng sinh.
g. Biến thủ hành trí lực: Tất cả các pháp hành đều đưa đến quả, chỉ Phật mới biết rõ.
h. Túc trú tuỳ niệm trí lực: trí biết rõ những đời quá khứ của mình
i. Túc trú sinh tử trí lực: trí biết rõ chúng sinh chết chỗ này sinh chỗ nọ.
j. Lậu tận trí lực: Trí chứng nhập niết bàn, trạch diệt.
2. Bốn vô uý:
a. Chánh đẳng giác vô uý
b. lậu tận vô uý
c. nói pháp chướng đạo vô uý
d. Nói pháp diệt tận khổ vô uý
3. Ba niệm trụ: Phật luôn an trụ trong chánh niệm, chánh tri.
a. Khi duyên cảnh thuận không sinh tâm hoan hỷ.
b. Khi duyên cảnh nghịch không sinh tâm lo buồn.
c. Khi duyên cảnh không thuận nghịch không sinh tâm hoan hỷ và lo buồn.
4. Đại bi: Đại bi ở đây khác với bi, Đại bi lấy trí thế tục làm thể. Vì nó duyên đến chúng sinh đau khổ trong 3 đời. Có đủ 5 nghĩa như sau mới gọi là đại (Đ.29.141.1):
a. 資糧 Tư lương đại: nhờ đại phước đức, đại trí tuệ làm tư lương mới thành tựu được.
b. 行相 Hành tướng đại: vì có năng lực dứt 3 thư khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) cho chúng sinh.
c. 所緣 Sở duyên đại: duyên khắp tất cả chúng sinh trong 3 cõi.
d. 平等 Bình đẳng đại: làm lợi ích cho tất cả chúng sinh không phân biệt thân, sơ.
e. 上品Thượng phẩm đại: ở phẩm bậc cao nhất không còn tâm tâm bi nào sánh bằng. nên đem đại bi tâm này so sánh với bi tâm khác có 8 sự bất đồng.
E. Công đức phổ thông:
Những công đức của Phật đạt được hàng Thánh và phàm phu cũng có thể đạt được, như 3 loại mà hàng Thanh văn cũng đạt được:
1. Hạnh vô tránh:
2. Nguyện trí:
3. Bốn vô ngại giải:
無礙解有四 謂法義詞辯
名義言說道 無退智為性(Đ.29.142.1)
III. Kết Luận:
- Có những lọai trí chỉ có Phật chứng đạt
- Có những lọai trí Phật, Thinh văn, chúng sanh
- Trí là nhân đạt giác ngộ
- Trí tuệ có được là nhờ vào sức tu tập, gia hạnh hữu lậu dần dần phát đạt cho đến tận trí, vô sinh trí.
Luận Câu-xá (10) Phân Biệt định
Định là pháp tu giúp hành giả chứng đạt giác ngộ. Thực hành thiền định giúp hành giả kiểm sóat các căn, tiến xa hơn nữa phá trừ chấp ngã. Như vậy, thiền định là pháp tu căn bản.
I. Cấu trúc phẩm:
A. Giới thiệu tổng quát
1. Bốn định sắc
a. Chú tâm đối tượng
b. Định nghĩa
c. Giá trị đạo đức thiền định
d. Đặc tính 4 định
2. Bốn định vô sắc:
a. Tên 4 lọai định
b. Định thanh tịnh
c. Định không thanh tịnh
B. Tổng kết
II. Nội Dung:
A. BỐN TỊNH LỰ
Ðịnh có hai:
1. Sanh đắc định: khi sinh tự nhiên có định, nhờ tu tập từ trước.
2. Tu đắc định: nhờ tu tập dần dần chứng đắc.
1. Sơ thiền:
初 具伺喜樂 後漸離前支(Đ.29.145)
Trong lúc chuyên chú tâm vào một đối tượng nào đó, tình dục dần dần bị loại trừ, và tiến đến tiêu diệt tâm ác. Và trong trạng thái xa lìa dục và ác ấy người tu thiền cảm thấy vui mừng và an nhiên tự tại. Nghĩa là hành giả nếm được mùi vị an lạc của pháp. Tuy nhiên ở giai đoạn này đã có sự phân biệt đối tượng và còn có tư lự cho nên về phương diện biểu tượng vẫn chưa được trầm tĩnh. Cho nên gọi là sơ thiền, tức chỉ cho bậc đầu tiên chuyên tâm trầm tĩnh về tinh thần.
2. Nhị thiền:
內淨即信根 喜即是喜受 (Đ.29.146.3)
Nghĩa là nếu hành giả chứng được Nhị thiền, thâm tín được phát sinh
Hành giả cứ như thế mà tu hành tiến lên nữa cho đến khi phương diện biểu tượng cũng trầm tĩnh, không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập trung vào một điểm duy nhất. trên nhờ sự trầm tĩnh về phương diện tinh thần hành giả cảm thấy vui mừng, còn ở đây nhờ sự trầm tĩnh về phương diện biểu tượng mà hành giả cảm nhận niềm vui. Ở đây hành giả cùng một lúc điều phục được tình ý và chế ngự sự tạp loạn của biểu tượng.
3. Tam thiền: Cứ như thế tu hành tiến thêm một bước nữa, bỏ tâm an vui, trở về với trạng thái hoàn toàn bình tĩnh, cho đến chánh niệm, chính trí, thân thể đạt đến cảnh giới nhẹ nhàng. Đây gọi là Tam thiền. Chỉ cho sự giải thoát cả niềm vui sướng đã đạt được ở nhị thiền. Tâm tập trung ở đây cũng bắt đầu phát sinh tác dụng tuệ tri.
4. Tứ thiền: Từ đây tiến thêm nữa thì sự nhẹ nhàng của thân thể cúng không còn, tựa hồ như không còn thấy sự tồn tại của nó, hoàn toàn siêu việt tâm khổ vui; sự bình tĩnh càng được thuần hoá đến bất động để trở thành trạng thái sáng như mặt gương, ngưng tụ và phẳng lặng như nước không gợn sóng. Đây là tứ thiền. Đến giai đoạn này hành giả thấy suốt đối tượng của quán tưởng là bản thân của mình. Nghĩa là tâm cảnh tuyệt đối bình đẳng, không còn thấy có chủ quan khách quan đối đãi nữa.
B. BỐN ÐỊNH VÔ SẮC
1. Không vô biên xứ: là lối tu khám phá tất cả mọi quan niệm vật chất, chỉ nghĩ về không gian vô biên, trong tâm cắt đứt với mọi tướng sai biệt của ngoại giới. Kinh Trung A-hàm, kinh Phân biệt quán pháp, kinh số 164, nói:
2. Thức vô biên xứ: Tiến lên tiếp xúc với nội giới mà suy niệm về các tướng sai biệt sinh khởi trong thức.
3. Vô sở hữu xứ: là pháp tu tiến hơn nữa, siêu việt cả không gian và thức, đi đến chỗ quán tưởng hết thảy sự tồn tại vật chất đều không có.
4. Phi tưởng phi phi tưởng: Ba định trước tuy đã tiêu diệt hết các tướng sai biệt trong và ngoài để đi đến chân không, nhưng vẫn còn tưởng hết thảy không. Cho nên, lại phải tiến lên một bậc nữa, tu tập vô tưởng mà cũng không phải vô tưởng, tức là pháp tu định hoàn toàn thấu suốt quan niệm tất cả không. So với Tứ thiền điều hoà cả chỉ và quán thì Tứ vô sắc định chuyên về phương diện chỉ mà thôi.
Bốn tịnh lự và bốn định vô sắc cũng còn gọi là tám đẳng chí.
Ngoài Bát đẳng chí ra còn có một loại định tương tự như đinh Phi tưởng phi phi tưởng, đó là Diệt thọ tưởng định. Đến bậc này thì cả thọ lẫn tưởng đều hoàn toàn tiêu diệt. Theo diễn tả thì người tu định này chẳng khác gì người chết, duy có điểm khác nhau đó là người chết đã chấm dứt mọi hoạt động của 3 nghiệp thân, khẩu, ý, hơi ấm, năm cảm quan bị phá huỷ, còn người tu định này thì 5 căn vẫn còn y nguyên, thọ, hơi ấm không mất.
C. BỐN THỨ TỊNH ÐỊNH
Chia tịnh đẳng chí ở trên ra làm bốn phần:
1. Thuận thối phần định, là thuận với phiền não dễ bị thối thất
2. Thuận trú phần định là thuận với tự địa mà an trú, không thối không tiến
3. Thuận thắng tấn định là thuận theo đị trên mà tiến lên
4. Thuận quyết trạch phần định là thuận với vô lậu tiến đến kiến đạo
D. Công đức nhờ thành tựu định
1. Bốn vô lượng tâm
2. Tám giải thoát
3. Tám thắng xứ và mười biến xứ
勝處有八種 二如初解脫
次二如第二 後四如第三(Đ.29.151.3)
III. Kết luận:
Luận Câu-xá (11) Phá ngã chấp
Nội dung phẩm cuối, luận Câu-xá, bác bỏ lý thuyết về ngã do Độc tử bộ chủ trương. Ngoài ra, luận sư, Thế Thân, còn bác bỏ quan điểm về ngã của Số Luận (Sāṃkhya), Thắng Luận (Vaiśeṣika)...
I. Cấu trúc:
A. Giới thiệu
1. Tính ưu việt của chánh pháp
2. Sự nguy hại của chấp ngã
B. Bác bỏ lý thuyết của Độc tử bộ
1. Biện luận để bác bỏ
2. Dẫn chứng Thánh điển để bác bỏ
3. Học thuyết của Độc tử bộ sai lầm
C. Bác bỏ chủ trương ngã của các luận sư
D. Bác bỏ ngã của Số luận
II. Nội dung:
A. Giới thiệu
Mở đầu phẩm luận khẳng định ngoài chánh pháp không thể tìm được sự giải thóat trong các giáo lý khác. /Vì các giáo lý khác bị hủ hóa bởi chấp trước một bản ngã, như luận nêu:
虛妄我執所迷亂故(Đ.29.152, b25)
Theo truyền thống Tây Tạng, phẩm 9 này có tựa là “giải thích về phá ngã chấp” An Exposition of the Refutation of the Pudgala.
Theo các bản luận xưa phẩm này “Quyết định ngã” phần phụ lục của phẩm 8.
Theo Luận thích, phần này có tựa “Luận về phá ngã”
Ngài Chúng Hiền không đề cập đến phẩm 9 (Ngộ-Nhập, biệt danh Chúng-Hiền Saṃghabhadra, Tăng-Già-Bạt-Đà-La)
B. Bác bỏ lý thuyết của Độc tử bộ
1. Độc Tử Bộ:
Người sáng lập phái là Ðộc Tử (s: vātsīputra), vốn theo đạo Bà-la-môn.
(Để hiểu rõ hơn về Độc Tử Tăng, Ni sinh có thể nghiên cứu nhận định của các vị Tổ sư: Yaśomitra, Śāntideva, Candrakīrti…)
Độc Tử cho rằng trong mỗi cá nhân có một bản ngã, một Bổ-đặc-già-la (補 特 伽 羅; s: pudgala; p: puggala), không giống cũng không khác với 5 uẩn. Thậm chí nó tiếp tục tồn tại trong niết-bàn.
然犢子部執有補特伽羅其體與蘊不一不異。(Đ.29.152.3)
Độc Tử bộ cho rằng Bổ-đặc-già-la không phải ngũ uẩn, không phải lìa ngũ uẩn mà có. Bổ-đặc-già-la giữ mối tương tiếp các đời, duy trì chuyển tiếp sinh tử.
2. Biện luận để bác bỏ
Nếu Bổ-đặc-già-la là một thực thể nó sẽ khác với các uẩn, vì tính chất của nó riêng biệt, như mỗi uẩn có 1 tính chất khác nhau (nó do duyên tạo nên không thể tồn tại vĩnh hằng)
3. Dẫn chứng Thánh điển để bác bỏ
Kinh Tương ưng, phần 22b, Vô ngã tưởng, cuộc đối đáp giữa đức Phật và các vị Tỳ-kheo về 5 uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức để cuối cùng đưa đến kết luận 5 uẩn là vô thường, khổ, vô ngã:
Kinh Na Tiên Tỳ kheo, phần I, Vô ngã hay danh, Na Tiên Tỳ-kheo nói,
Hiệp các món gọng, thùng, bánh, mui... theo một mẫu mực nào đó thì thành một cái mà người ta tạm gọi là xe. Cũng như thế, hiệp tất cả đầu, mặt, tay, chân, hơi thở, lời nói, sự khổ, sự vui, điều lành, điều dữ... thì cũng thành một đơn vị mà người ta tạm gọi là cái "ta" để tiện bề phân biệt. Chứ thật ra thì không có cái "ta" chơn thật nào cả!
4. Bác bỏ tranh luận của Độc tử bộ
Kinh nói có 5 loại sai lầm khởi lên khi chấp có ngã:
- Ngã kiến khởi, hữu tình kiến, đoạ ác thú
- Đồng với ngoại đạo
- Đi con đường không phải chân lý
- Tâm không ngộ nhập tính không, không tịnh tín, không thể an trụ, không đạt giải thoát.
- Pháp các bậc Thánh không thể làm cho được thanh tịnh
C. Bác bỏ chủ trương ngã của các luận sư ngoại đạo
- Saṃkhya
- Vaiśeṣika
III. Kết luận:
- Phẩm này được xem là phần phụ lục phẩm 8
- Nội dung bác bỏ các chủ trương có một ngã tồn tại
- Đặc biệt nội dung phẩm, ngài Thế Thân đề nhiều điểm giáo lý liên quan đến Nhất-thiết-hữu bộ và Kinh Lượng bộ. Nhưng trên tổng thể ngài đứng về Kinh Lượng bộ
- Tuy có nhiều học thuyết Phật giáo khác nhau về sự hình thành hữu tình, nhưng phần lớn đều không có chủ trương một thực ngã thường hằng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét