THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
NGHIỆN CỨU HỌC THUYẾT NGHIỆP THEO LUẬN CÂU XÁ
NGHIỆN CỨU HỌC THUYẾT NGHIỆP THEO
LUẬN CÂU XÁ
(phẩm phân biệt nghiệp)
I. DẪN NHẬP:
Sinh ra trong cuộc đời, hầu như ai cũng muốn phấn đấu để đạt được cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc trong cuộc sống đời thừơng không gì khác hơn những nhu cầu về cuộc sống vật chất hay những địa vị quan trong xã hội, gia đình mạnh khỏe bình yên… Thế nhưng ngay trước mắt ta cuộc sống với bao nhiêu là nghịch lý, những cái đối với một nhãn quan bình thường thì cho đó là những bất công, những sự sắp xếp của thần linh chớ ít khi họ đi tìm nguồn cội sâu xa của vấn đề. Thế thì, nguyên nhân của sự không bình đẳng giữa xã hội loài người là gì? Vì sao người này lại sinh trưởng trong cảnh xa hoa, mà bẩm tánh ngu dốt, người nọ thì bị chìm đắm trong cảnh nghèo khó mà bẩm tánh thông minh, người thì vừa nghèo vừa chậm chạp, kẻ nọ đã giàu lại lanh lợi? Có người suốt cuộc đời làm gì cũng gặp trắc trở, có người làm gì cũng thông suốt? Vì sao người này là bậc Vĩ nhân Thánh thiện, người kia là kẻ điêu trá sát nhân? Người này là một nghệ sĩ tài ba, nhà toán học, nhạc sĩ từ khi mới lọt lòng, người kia sinh ra đã mù điếc què quặt? Người này vừa trông thấy đã có cảm tình, người kia vừa trông thấy đã khó chịu?... Đối với những sự sai khác không bình đẳng này, cần phải có một hoặc nhiều nguyên nhân hay chỉ là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn? Không một thức giả nào lại cho rằng sự không bình đẳng này chỉ là một sự may rủi mù quáng hay là sự ngẫu nhiên tình cờ.
Theo đạo Phật, tất cả những sự cách biệt sai khác, không những do sự di truyền, hoàn cảnh chung quanh và của thức ăn uống mà thâm sâu cốt tủy nhất là do nghiệp lực của tự mỗi người. Nói cách khác, do gia tài chúng ta hưởng thụ từ những nghiệp chúng ta đã tạo ra ở quá khứ và tạo ra từng giây từng phút trong hiện tại cộng lại. Chúng ta chịu trách nhiệm đối với hạnh phúc hay sự đau khổ của chính chúng ta (cá nhân và tập thể) thiên đường hay địa ngục đều do ta tạo nên. Chúng ta là kết tinh của tất cả những nghiệp do chúng ta đã gây ra.Theo Phật giáo, vị trí của con người là tối thượng. Con người là vị thầy riêng của mình, và không có ai hay năng lực nào ngồi để phán xét số phận của họ, vì Đức Phật đã dạy:
“Này thanh niên Bà La Môn, chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là nhân tố phán xét”
II. NỘI DUNG:
1. CHÚNG TA LÀ NGUYÊN NHÂN TẠO NGHIỆP:
Nghiệp là phương pháp để phân biệt sự hành vi tốt hay xấu. Vui hay khổ mà ta đã được đều là qủa định theo từ nghiệp chánh và nghiệp bất chánh, khi gặp quả tốt hay xấu nên hiểu rằng là qủa của nghiệp xảy đến là bởi tự mình sáng tác. Như thế hiểu biết chân chánh ta không quên mình khiến trách kẽ khác và thừa nhận rằng quả vui hoặc khổ hằng phát sanh từ nghiệp của mình tạo từ nhiều kiếp qúa khứ. Qủa của nghiệp xảy ra từ hành vi của chính mình khi mình tạo nghiệp duyên lành, quả lành sẽ trở lại, hành nghiệp bất thiện (làm dữ) cũng sẽ đến như nhau mà thôi.
Từ đó lời Phật dạy, không nên sưu tầm cái tốt xấu từ nơi nào khác hay ở người nào, sự hành thiện nghiệp đạo đức lấy đời làm chủ, đức tín hướng thiện từ bi, hoặc chánh pháp, thì phải tìm xét cẩn thận trong chính mình, chẳng hạn, nghiệp chánh bằng khẩu, không được nói dối, bỏ sự nói dối nếu không biết nói không biết, biết nói biết, không có nói không có, thấy nói thấy, không thấy nói không thấy v v....
Không nên xúi dục người cho bất hòa cùng nhau, được nghe bên này, không đến nói bên kia, cho họ bất hòa cùng nhau tránh sự gây chia rẽ, khuyến khích những người đã hòa nhau, Vui thích khi đảng phái hòa nhau, luôn luôn thốt lời hòa giải và khiêm tốn, không chửi mắng, không thốt lời thô lỗ, không tỏ lời bất nhã đến người khác, không nói lời hoang đường vô ích, chỉ bàn những chuyện hữu ích, có giá trị thanh cao.
1.1. Luật vận hành của nghiệp:
Nghiệp thuộc về danh uẩn. Chúng ta biết có năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Tư hay ý chí thuộc về hành uẩn. Hành uẩn là danh (phần tinh thần), và cũng như các tâm sở khác, nó chỉ kéo dài một sát-na ngắn ngủi. Nó xuất hiện, dừng lại một chút, rồi diệt. Nhưng tư hay ý hành không giống với các tâm sở khác ở chỗ nó có khả năng để lại một tiềm lực nào đó. Khi nó diệt, nó không biến mất hoàn toàn. Nó để lại một sức mạnh hay tiềm lực để cho ra quả, khi những cơ hội thuận tiện cho quả ấy xuất hiện. Một người làm nghiệp ở đời này, nhưng kết quả có thể xảy ra hoặc đời này hoặc đời kế, có khi ở một đời nào đó sau đời kế không chừng.
Nghiệp hay ý chí (tư) có tiềm lực cho quả, và tiềm lực này là một năng lực rất lớn. Nghiệp không chấm dứt cùng với cái chết (thể xác) của đời này; nó cứ tiếp tục và tiếp tục mãi. Thế nhưng chúng ta không thể nói rằng nghiệp được chứa ở đâu trong thân hay tâm của chúng ta vì mọi vật đều vô thường và thay đổi liên tục. Nghiệp cũng vô thường và biến diệt như vậy, nhưng nó để lại một tiềm lực trong dòng tương tục của các chúng sanh, để rồi khi những cơ hội được xem là thuận tiện cho quả, những quả ấy sẽ xuất hiện.
Ngoài ra chúng ta còn phải biết phân biệt đâu là quả của nghiệp quá khứ, đâu là nghiệp hiện tại nữa. Nghiệp hiện tại không phải là quả của nghiệp quá khứ. Quả của nghiệp quá khứ là tâm quả (vipāka). Tâm quả là thành quả của nghiệp quá khứ, nhưng tâm quả ấy không ảnh hưởng gì đến việc thực hiện những hành động thiện hay bất thiện trong hiện tại. Nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện không phải là kết quả của nghiệp quá khứ; đúng hơn, chúng ta đang tích luỹ nghiệp mới trong kiếp hiện tại, và nghiệp đó sẽ cho quả trong tương lai.
1.2. Phân Loại Nghiệp:
Nghiệp được sắp thành nhiều nhóm và loại khác nhau. Một trong những cách phân loại là chia nghiệp thành thiện (tốt) và bất thiện (xấu). Có mười thiện nghiệp, tức mười ‘tư’ thiện hay hành động thiện. Sở dĩ gọi đó là thiện nghiệp vì chúng xuất hiện cùng với những trạng thái tâm thiện, những tâm sở thiện, và cho ra quả thiện.
- Thiện nghiệp thứ nhất là bố thí (dāna). Chúng ta cần thực hành hạnh bố thí vì, nhờ chia sẻ với người khác những gì chúng ta có, chúng ta tạo được thiện nghiệp (kusala kamma) cũng gọi là công đức. Thiện nghiệp này sẽ cho quả trong các kiếp tương lai. Bố thí còn giúp chúng ta thực hành hạnh xả ly. Chẳng hạn, tôi có thể còn dính mắc vào chiếc máy đánh chữ này, song nếu cho nó đến người khác, tôi không chỉ bỏ cái máy, mà còn bỏ cả sự dính mắc của tôi vào cái máy ấy nữa. Hành vi dứt bỏ sự dính mắc này gọi là vô tham (alobha). Và khi tâm chúng ta thoát khỏi tham (lobha), nó được giải thoát, trong sáng và định tĩnh. Như vậy, chúng ta được khuyến khích nên thực hành hạnh bố thí càng thường xuyên càng tốt.
- Thiện nghiệp thứ hai là trì giới. Trì giới là thọ giới và giữ gìn giới. Đối với người Phật tử tại gia, ngũ giới là đòi hỏi tối thiểu: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm (tà hạnh trong các dục), không nói dối, không uống rượu và các chất say. Vào những ngày trai giới, cần giữ thêm ba giới nữa cho đủ tám giới. Ba giới mới thêm đó là: không ăn sau giờ ngọ (12 giờ trưa), không nghe nhạc và trang điểm, và không nằm ngồi trên những giường cao và sang trọng. Giới (sīla) là nền tảng của định (samādhi) hay thiền.
- Thiện nghiệp thứ ba là tu thiền hay tu tập tâm. Đây là thiện nghiệp thù thắng nhất mà chúng ta có thể làm trong đời này: hành thiền minh sát vipassanā.
Thiện nghiệp thứ tư là cung kính, tỏ lòng kính trọng người khác, nhất là người lớn tuổi. Ở phương Đông, người trẻ kính trọng người già là chuyện tất nhiên. Theo cách này, tương quan giữa cha mẹ và con cái, giữa thầy và trò, v.v… được quy định bởi phép cung kính này.
- Thiện nghiệp thứ năm là phục vụ, làm điều tốt cho người khác; chẳng hạn giúp một cụ già hay phụ nữ băng qua đường, hoặc mang giúp họ những vật nặng. Một loại phục vụ khác là công quả cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Khi bạn quét dọn, lau chùi, hoặc tu sửa chùa chiền, đó là sự phục vụ hay công quả tốt đẹp nhất.
- Thiện nghiệp thứ sáu là hồi hướng công đức . Khi bạn có được chút công đức (phước thiện) nào, bạn nên chia sẻ điều này với những người khác. Chia sẻ công đức hay hồi hướng công đức tự nó là một phước báu, vì thế ta nên chia sẻ với mọi người. Hồi hướng công đức không có nghĩa rằng ta lấy một phần công đức của mình đem cho người khác. Thực ra, nó chỉ có nghĩa là chúng ta để cho mọi người có cơ hội thâu thập công đức cho chính bản thân họ mà thôi. Xưa có một thiện nam hỏi Đức Phật Độc-giác (Pacceka Budha) rằng nếu một người chia phước đến người khác, công đức của họ có vì thế mà giảm đi hay không? Đức Phật Độc-giác bảo anh ta: “Nếu như anh có một cây đèn, từ cây đèn đang cháy này, anh thắp sáng cây đèn khác, ánh sáng của nó sẽ không giảm đi khi châm sang cây đèn đó, mà càng trở nên sáng hơn cùng với việc thắp sáng cây đèn mới này. Cũng vậy, khi anh hồi hướng hay chia phần phước đã làm đến mọi người, phước của anh không giảm mà thực sự còn tăng trưởng thêm vì có một phước báu mới (từ việc mở rộng lòng quảng đại này)”
- Thiện nghiệp thứ bảy là tuỳ hỉ công đức hay hoan hỉ với phước sự của người khác, có nghĩa là khi người khác làm được những việc phước thiện, bạn chỉ cần nói lên lời “sādhu, sādhu, sādhu”, tức là “lành thay, lành thay, lành thay”, hoặc khi người khác chia phước đến bạn, bạn nói “sādhu, sādhu, sādhu” để chứng tỏ rằng bạn rất hoan hỉ với việc phước của họ, và nhờ tâm hoan hỉ này, bạn tạo được cho mình một phước báu.
- Thiện nghiệp thứ tám là thính pháp hay lắng nghe pháp. Đây là một phước báu lớn, một thiện nghiệp lớn. Nhờ nghe pháp, bạn sẽ hiểu pháp, và khi đã hiểu pháp bạn có thể tránh làm các điều bất thiện và làm được những điều thiện.
- Thiện nghiệp thứ chín là thuyết pháp , đàm luận pháp. Thiện nghiệp này có liên quan đến thiện nghiệp thứ tám.
- Thiện nghiệp thứ mười là uốn nắn tri kiến . Chúng ta phải có sự hiểu biết đúng về nghiệp. Nghiệp là tài sản riêng của chúng ta, chúng ta là chủ nhân của nghiệp và không ai khác có trách nhiệm đối với hành động hay nghiệp của chúng ta được.
1.3. Phản Tỉnh Về Nghiệp:
Phản tỉnh về nghiệp là cách tốt nhất để loại trừ sự oán giận. Có khi bạn đang hành thiền tâm từ, oái oăm thay bạn lại cảm thấy oán giận vì phải rải tâm từ đến một người có thể đáng ghét đối với bạn. Cách để loại trừ oán giận trong trường hợp này là suy xét về nghiệp kể như tài sản riêng của mình.
Nhờ phản tỉnh như vậy, ta có thể loại trừ được lòng oán giận. Hiểu biết về nghiệp cũng thúc đẩy tinh thần tự lực. Bởi lẽ nghiệp là của riêng mỗi người và chúng ta là nhà kiến trúc cho số phận của mình. Chúng ta phải nương tựa chính bản thân mình chứ không dựa vào ai khác. Để có được những quả báo tốt, chúng ta phải làm được nghiệp tốt. Vì các chúng sinh sẽ gặt hái những kết quả theo nghiệp họ đã tạo, không ai có thể giúp người khác trong việc gặt hái những kết quả đó. Ngoài lời dạy về tinh thần tự lực này ra, sự hiểu biết về nghiệp còn dạy cho chúng ta tinh thần trách nhiệm cá nhân nữa. Chúng ta phải có trách nhiệm đối với chính bản thân, và bất luận điều gì chúng ta đã và đang làm, chỉ một mình chúng ta chịu trách nhiệm về hành động đó. Khi chúng ta gặp những hoàn cảnh thuận lợi, đó là kết quả của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ. Cũng thế, khi chúng ta rơi vào những nghịch cảnh, chúng ta phải chịu trách nhiệm về việc đó mà không thể đổ thừa cho ai được.
Có sự hiểu biết và niềm tin vào quy luật của nghiệp là một đòi hỏi cơ bản đối với người Phật tử. Đạo Phật rất nhấn mạnh đến điểm này. Với niềm tin và sự hiểu biết ấy, chúng ta làm những việc thiện, và những việc thiện này là những việc thiện thù thắng nhất vì được làm với sự hiểu biết về nghiệp và quả của nghiệp. Khi làm một việc thiện với sự hiểu biết về nghiệp, việc làm đó kể như có đủ ba nhân thiện, đó là vô tham, vô sân, và vô si. Khi những thiện sự của chúng ta được kèm theo bởi ba nhân thiện này, chúng sẽ cho quả trong các kiếp sống tương lai, quan trọng hơn hết là được tái sinh làm người có đủ ba nhân. Thường những người được sinh ra với ba nhân thiện này có thể đắc thiền hoặc đạo quả Niết-bàn trong đời hiện tại.
1.4. Nghiệp Phân Theo Phận Sự (Kicca Kamma Catuka).
Sanh nghiệp - Janaka kamma: Nghiệp tạo ra các danh uẩn và sắc uẩn vào sát-na thụ thai cũng như trong suốt đời của một cá nhân.
Trì nghiệp - Upatthambhaka kamma: Nghiệp hỗ trợ cho sanh nghiệp cũng như cho hiệu quả của sanh nghiệp trong suốt đời cá nhân ấy.
Chướng nghiệp - Upapālaka kamma: Nghiệp cản trở, làm suy yếu, gián đoạn, hay chậm trễ quả của sanh nghiệp.
Đoạn nghiệp - Upaghātaka kamma: Nghiệp không những cắt đứt hiệu quả của sanh nghiệp mà còn hủy diệt luôn sanh nghiệp và tạo ra quả riêng của nó. Nói cách khác, nghiệp này làm cho người ta chết đột ngột và phải tái sinh hợp theo đoạn nghiệp.
1.5. Nghiệp Theo Ưu Tiên Cho Quả - (Pākadānaparīyāya kamma catukka)
Cực trọng nghiệp - Garuka kamma: Là loại nghiệp mạnh đến nỗi không nghiệp nào khác có thể chặn được phận sự của nó trong kiếp kế. Nói cách khác, nó là nghiệp chắc chắn sẽ cho quả trong đời sau.
Cực trọng nghiệp xấu có năm – pañcānantariya kamma - hay còn gọi là ngũ vô gián nghiệp, đó là: (1) phá hòa hợp tăng, (2) làm cho Đức Phật chảy máu, (3) giết một vị Alahán, (4) giết cha, (5) giết mẹ. Ngoài ra tà kiến cố định như đoạn kiến v.v… cũng được xếp vào loại này.
Ngược lại, năm thiện nghiệp sắc giới (tức năm bậc thiền tế sắc) và bốn thiện nghiệp vô sắc giới (tức bốn thiền vô sắc) là những cực trọng nghiệp tốt. Các đạo siêu thế (Lokuttara magga) cũng có năng lực cực trọng như thế, vì nó đóng kín vĩnh viễn các cánh cửa đi vào bốn ác đạo.
Cận tử nghiệp - Āsanna kamma: là nghiệp được thực hiện hay nhớ lại vào lúc lâm chung.
Thường nghiệp - Āciṇṇa-kamma: là nghiệp được thực hiện một cách đều đặn, hoặc cũng có thể được thực hiện chỉ một lần, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nó.
Tích lũy nghiệp - Kaṭattā-kamma: hay nghiệp không rõ rệt, nghĩa là nghiệp được làm một lần rồi quên ngay.
Vào lúc cuối cùng của đời người, nếu chúng ta có bất kỳ một cực trọng nghiệp nào, nghiệp này sẽ tạo ra quả của nó khi chúng ta chết và làm duyên cho kiếp sống kế của chúng ta.
1.6. Nghiệp Theo Thời Gian Cho Quả- ( Pākakāla kamma catuka)
Hiện báo nghiệp - Diṭṭhadhamma vedanāya kamma: nghiệp cho quả trong kiếp hiện tại.
Sanh báo nghiệp - Upapajjavedaniya kamma: nghiệp cho quả trong kiếp kế (kiếp thứ hai)
Hậu báo nghiệp - Aparāpariyavedaniya kamma: nghiệp cho quả từ kiếp thứ ba trở đi cho đến kiếp cuối cùng khi người ấy chứng đắc Niết Bàn.
Vô hiệu nghiệp - Ahosi kamma: Nghiệp không còn cho quả nữa.
Trong việc nghiên cứu các tiến trình tâm (vīthis) chúng ta thấy tâm đại thiện (mahā kusala citta) và tâm bất thiện (akusala citta) làm nhiệm vụ như javana (tốc hành) bảy lần trong những trường hợp bình thường. Tư tâm sở (cetanā) kết hợp với tốc hành tâm đầu tiên được định danh là Diṭṭhadhamma vedanīya kamma - hiện báo nghiệp, tức nghiệp sẽ cho quả của nó ngay trong đời này. Nếu không cho quả trong đời này nó sẽ trở thành vô hiệu lực.
1.7. Nghiệp Theo Nơi Quả Nghiệp Xảy Ra ( Pākathāna kamma Catukka):
Bất thiện nghiệp - Akusala kamma: nghiệp cho quả trong bốn cảnh khổ (apāya - địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và atula)
Thiện nghiệp dục giới - Kāmāvacara kusala kamma: nghiệp cho quả trong bảy cõi vui dục giới (kāmaloka: cõi người và sáu cõi chư thiên dục giới)
Thiện nghiệp sắc giới - Rūpāvacara kusala kamma : nghiệp cho quả trong mười sáu cõi sắc (Rūpa loka)
Thiện nghiệp vô sắc giới - Arūpāvacara kusala kamma: nghiệp cho quả trong bốn cõi vô sắc (arūpā loka)
2. NGHIỆP VÀ NGHIỆP QUẢ (KARMA):
Đã là con người ở trong thế gian này, ai ai cũng phải trải qua những thành bại thịnh suy, nhục vinh vui khổ. Có người thì nghĩ rằng cuộc đời của chúng ta chẳng qua là sự an bài của số mạng hay thiên mạng. Họ tin rằng con người sinh ra mọi việc đều do số định sẵn, hoặc ông trời đã sắp đặt cho. Bởi thế trong nho giáo có câu: “Nhơn nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”. Tạm dịch : "Người mong như thế, lẽ trời chưa vậy."
Nhưng nếu quả thật có một ông trời mà có quyền quyết định mọi hành động và số mạng của chúng ta, thì đời sống của chúng ta thử hỏi có còn thú vị gì chăng? Khi ông trời muốn ta vui, thì ta được vui. Còn nếu ông trời muốn ta khổ, thì ta phải khổ. Nói một cách khác thì mọi sự khổ vui của con người do số định sẵn, thì con người phải chấp nhận số phận của mình, gặp hoàn cảnh nào cam chịu hoàn cảnh đó. Nếu gặp phải cảnh quá khắc nghiệt, thì họ đâm ra than trời trách đất, cho rằng trời đất đã chơi xấu họ và làm cuộc đời họ thêm điêu tàn.
Chúng ta biết giáo lý của Đức Phật thì cao thâm còn kinh điển thì thiên kinh vạn quyển, nhưng nếu chúng ta ngẩm nghĩ lại thì tựu trung toàn bộ giáo pháp đã đăt trọng tâm vào một chữ “nghiệp’ mà thôi. Bởi vì nếu không có nghiệp thì không có luân hồi, không còn sanh tử, không có tái sanh, không còn đau khổ, và sẽ không còn chúng sinh, không còn Bồ tát nữa. Thế giới này sẽ không còn gọi là trần gian, mà sẽ đổi lại thành thế giới Cực lạc.
3. NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI:
Trong số trùng trùng điệp điệp những mối dây liên kết và buộc chặt mọi hiện tượng trong vũ trụ qua quy luật tương liên và tương kết (pratityasamutpada) Đức Phật đã chọn ra mười hai mối dây kết nối nhau (dvadasanga pratityasamutpada) trực tiếp liên quan đến các chúng sinh có giác cảm, có nghĩa là trong số này có cả chúng ta. Sự hiện hữu của chúng ta là một chuỗi dài tiếp nối giữa nguyên nhân và hậu quả :
Nguyên nhân này sinh ra hậu quả kia, hậu quả kia lại sinh ra nguyên nhân khác, (chữ lý duyên khởi trong kinh sách Hán ngữ dùng trong trường hợp này rất phù hợp, thế nhưng nếu dùng để chỉ một thể dạng bao quát hơn tức là sự tương liên giữa mọi hiện tượng - pratityasamutpada - thì không được thích nghi lắm).
Chuỗi tiếp nối đó biểu hiện những hành động (nghiệp) của chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại, và đồng thời tạo ra các nguyên nhân mới đưa đến sự hiện hữu của chúng ta trong tương lai.
Chuỗi dài tiếp nối của mười hai "nút thắt" hay mối dây nhân-quả (nidana) đó gọi là thập nhị nhân duyên và thường được tượng trưng bằng một bánh xe gọi là bánh xe luân hồi, bánh xe của sự sống, bánh xe của sự hiện hữu, bánh xe xoay vần của nghiệp lực,v.v..., tiếng Phạn là bhavacakra.
Vòng ngoài cùng của bánh xe luân hồi (bhavacakra) được tượng bằng 12 hình ảnh (xem hình). Tuy nhiên trong khuôn khổ tìm hiểu sự vận hành của nghiệp đưa đến sự tái sinh thì chúng ta chỉ cần quan tâm đến ba mối dây nhân-duyên (nidana) đầu tiên cũng đủ giải thích tại sao chúng ta lại đang hiện hữu trong cảnh huống như thế này.
3.1. Sự tiếp nối của nghiệp qua các kiếp sống:
Sau hết xin nêu lên một khía cạnh khá "gai góc" nếu không muốn nói là "nghịch lý" liên quan đến khái niệm về nghiệp. Đó là cái "cảm giác" của một cá thể trong kiếp sống hiện tại phải nhận chịu hậu quả phát sinh từ một hành động do một "cá thể khác" đã thực thi trong kiếp sống trước. Vậy phải nhìn vấn đề này như thế nào ?
Xin nêu lên hai giả thuyết như sau :
1- Nếu một cá thể nào đó thực thi một hành động và sau đó cũng chính cá thể ấy "đầu thai" để nhận lãnh hậu quả phát sinh từ hành động trước đó của nó thì trong trường hợp này sẽ không có gì biến đổi hay thay đổi giữa hai kiếp sống : "cái tôi" hay "cái ngã" đương nhiên trở thành trường tồn và bất biến và mang tính cách hoàn toàn cá thể.
2- Nếu có một cá thể thực thi một hành động và lại có một cá thể khác, hoàn toàn ngoại lai không liên hệ gì với cá thể thực thi hành động trước đây phải đứng ra nhận lãnh hậu quả của hành động ấy, thì trong trường hợp này sẽ xảy ra một sự nghịch lý hay phi lý đối với quy luật tương liên và tương tác giữa mọi hiện tượng, bởi vì cá thể hành động và cá thể nhận lãnh hậu quả không liên hệ gì với nhau, mỗi cá thể tượng trưng cho một sự chấm dứt trọn vẹn.
Đó là một cách phá vỡ cấu trúc của hiện thực, tức không tôn trọng quy luật nối kết giữa mọi hiện tượng. Đấy là chưa nói đến sự mâu thuẫn trong cách biện luận vì giữa hai cá thể thì không có sự tương liên thế nhưng hành động thì lại tạo ra hậu quả.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét