THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

NHỮNG ĐIỄM KHÁC NHAU CỦA BALAMON VÀ PHẬT GIÁO

NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP:………………………………………………………………3 II. NỘI DUNG: CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC TÔN GIÁO ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:…………………………..5 CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC BÀ LA MÔN:……………………..5 2.1. Tư Tưởng Rg – Veda:…………………………………………………….6 2.2. Tư Tưởng Bà La Môn (Brahmanas) hay Phạm Thư:……………………..7 2.3. Tư Tưởng Aranyaka (Sấm Thư) và Upanisad (Áo Nghĩa Thư):………....8 2.3.1. Vấn Đề Tri Thức: Tự Ngã (Atman) và Đại Ngã (Brahman):…………...9 2.3.2. Triết Lý Xã Hội và Lý Tưởng Đạo Đức: ………………………………9 Thuyết Nhiệm Vụ và Luân Hồi Nghiệp Báo:………………………………...10 2.3.3. Lý Tưởng Giải Thoát:………………………………………………….12 2.4. Điểm Tương Đồng và Dị Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ và Phật Giáo:……13 III: KẾT LUẬN:……………………………………………………………….14 TÀI LIỆU THAM KHẢO:…………………………………………………….15 NHỮNG ĐIỄM KHÁC NHAU CỦA BALAMON VÀ PHẬT GIÁO I. DẪN NHẬP: Nếu tư tưởng triết học phương Tây chú ý đến mạch lạc lý luận, đến nhận thức hiểu biết thế giới xung quanh, truy tìm chân lý ở bên ngoài con người bằng suy luận lôgic và thực nghiệm khoa học thì ngược lại, triết học phương Đông là triết lý suy tư trừu tượng, luôn chú ý đến bản chất đời sống tâm linh cũng như sự tương ứng tương đồng giữa nội tâm và ngoại cảnh, tìm “con đường giải thoát” bằng “thực nghiệm tâm linh”, mà triết học Ấn Độ cổ đại là một điển hình chứng minh điều ấy! Nhắc đến Ấn Độ là gợi nhớ về xứ sở của thiên nhiên nghiệt ngã và nhiều triết thuyết nhất ở phương Đông. Nơi ấy, người ta quan niệm rằng con người được sinh ra bởi Phạm thiên và sau khi chết trở về với Phạm thiên. Đó là lối thoát cuối cùng cho con người của nền triết học đa phức này. Con người chỉ được định đoạt sau khi chết còn lúc sống chỉ cúi đầu tuân chịu và an phận theo số mệnh của chính mình. Thế nhưng, ngày nay người ta phải công nhận rằng đó là chiếc nôi của văn minh nhân loại. Đã có không ít những triết gia Tây phương đang quay trở lại để nghiên cứu về “Ánh sáng Á Châu”. Thế nhưng, chúng ta những người được sinh ra và lớn lên ngay trên một trong những vùng đất văn minh Châu Á, thì ít ai có chút ý niệm tìm hiểu về những triết thuyết vốn phát sinh từ chính đất nước của mình. Chính vì ý niệm ấy, qua môn học triết học Ấn Độ, người viết quyết định chọn “Tư Tưởng Bà-la-môn Giáo” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của mình. Tuy nhiên vì là thế hệ hậu sinh, kiến thức không những đã thiển cận, mà sở học còn ở dạng tầm chương trích cú nên người viết nghĩ rằng; để viết trọn vẹn, chính xác về tư tưởng và hệ thống triết lý của một tôn giáo là một vấn đề khó khăn không tưởng. Ở đây, qua những tài liệu hiện có của giáo sư hướng dẫn, và nhất là những quyển sách có giá trị cũng như mang tính thuyết phục cao về sử liệu như Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, của Thích Mãn Giác do Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn ấn hành năm 2007; quyển Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, của Will Durant, do Nguyễn Hiến Lê dịch được Nhà Xuất Bản Văn Hóa ấn hành năm 1996, người viết sẽ bám sát tài liệu, phân tích và so sánh cũng như đối chiếu với những kiến thức đã được học, ngõ hầu có thể hiểu một cách chính xác hơn, sâu sắc hơn về một nền tư tưởng lớn và lâu đời nhất trong nền văn minh nhân loại. II. NỘI DUNG: CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC TÔN GIÁO ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI: Ấn Độ Cổ là một bán đảo rộng lớn – một “tiểu lục địa” thuộc miền Nam Châu Á, bao gồm cả Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay. “Tiểu lục địa” Ấn Độ có hình dạng giống như một hình tam giác lộn ngược mà đỉnh của nó cứ như muốn vươn dài ra Ấn Độ Dương bao là. Hai mặt Đông Nam và Tây Nam giáp với Ấn Độ Dương, phía Bắc núi thì non trùng điệp với dãy Himalaya hùng vĩ , chia cắt Châu Á ra làm hai phần, ở đó có hai con sông lớn: Ấn Hà và Hằng Hà. Từ hai con sông này hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn háo cổ xưa và rực rỡ nhất Châu Á. Phía Nam Ấn Độ là cao nguyên Decan được đánh dấu bởi dãy đồi núi rậm rạp Viadhya vắt ngang từ Tây sang Đông, một vùng đất nghèo nàn, cằn cỗi, khô hạn và quanh năm nắng nóng. Cao nguyên Decan thấp dần về phía nam vươn dài ra Ấn Độ Dương, phía Đông là vịnh Bengal, phía Tây là biển Ả Rập, tạo thành đầu mối giao thông hàng hải xung yếu giữa ba châu Á, Phi, Úc; đồng thời cũng là pháo đài quân sự có tầm quan trọng đặc biệt của xứ Ấn cổ đại. Ấn Độ là đất nước đa chủng tộc, đa dân tộc đến nỗi được mệnh danh là “Phòng triển lãm chủng tộc trên thế giới” . Trong khoảng 4000 – 1000 (BC), Ấn Độ tập trung nhiều sắc dân, nhưng đáng kể nhất là giống người Dravidian. Giống người này có đời sống khá ổn định và tập trung chủ yếu ở vùng Punjap, hình thành một nền văn hóa nông nghiệp gọi là văn minh Ấn Hà. Nền văn minh này được các nhà khảo cổ học về sau đánh giá là phát triển rực rỡ và ổn định trải suốt khoảng 2800-1800 năm BC . Đến thế kỷ XIII (BC), giống dân Aryan (vốn là dân du mục và rất thiện chiến) từ vùng Caucasia tràn xuống và đánh chiếm vùng này, đồng thời thu phục và đồng hóa luôn giống dân bản địa. Lúc đầu, khi tộc người Aryans du nhập vào đất Ấn, họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang định cư làm ruộng. Trải qua một thời gian dài hàng mấy trăm năm, đời sống người dân Aryan dần dần được ổn định, phú túc. Một khi con người không cần tiêu phí các năng lượng của mình vào các vấn đề mưu sinh, con người bắt đầu nghĩ đến một đời sống tâm linh toàn vẹn hơn. Và người ta cho rằng do khí hậu nóng nắng gay gắt của xứ này đã khiến người Ấn có khuynh hướng đi vào rừng ngồi dưới tàng cây sum sê bóng mát để tâm hồn mình chìm đắm trong trạng thái trầm mặc. Do đó, nguồn tư tưởng triết học Ấn Độ hay triết học Bà-la-môn cổ đại có lẽ được tính từ đây. CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC BÀ LA MÔN: Chúng ta biết rằng, ở thời đại tối sơ, con người vì không giải thích được những hiện tượng xảy ra xung quanh mình nên luôn sợ sệt trước những điều kỳ bí, vĩ đại trong thiên nhiên. Chính vì vậy, người ta phải dùng thần thoại để giải thích những hiện tượng ấy. Trước tiên, người ta tin chỉ có một vị thần, đó là thời kỳ độc thần giáo, dần dần người ta tin thêm vài vị thần khác như thần mưa, thần gió, thần núi, thần sông,… đó là thời kỳ đa thần giáo. Sau đó, họ cho tất cả mọi vật đều có thần và đó là thời kỳ phiếm thần giáo. Có thể nói đây là thời kỳ biểu hiện trình độ tinh thần của nhân loại trong giai đoạn bán khai, nên hầu hết đều nhìn sự vật theo quan điểm thần bí, quyết định bởi sự tin tưởng vào những mãnh lực, những ảnh hưởng và hoạt động mà các giác quan không thấy được, nhưng thực có. Đây là một sự kết hợp giữa chủ nghĩa vật chất và tinh thần của con người thời tiền sử. Một mặt họ cho rằng thế giới là thực có; nhưng mặt khác họ lại tin rằng đời sống của con người là do các vị thần linh cai quản. Với sự du nhập của người Aryans, Ấn Độ chuyển từ nền văn minh Ấn Hà sang nền văn minh Aryan-Ấn Độ, mà sau này người ta gọi là tư tưởng triết học Bà-la-môn. Ngày nay, nếu muốn nghiên cứu về nền triết học này người ta dựa trên các tập kinh Veda, một trong những nền tảng xưa cũ nhất của văn chương Ấn Độ. Nghĩa đen của từ Veda là “biết”, do đó kinh Veda chứa tất cả cái biết của dân Aryans khi du nhập vào lưu vực Ấn Hà. Nhưng sau này nó được giai cấp Bà-la-môn cho rằng đó là những Thánh kinh hay Điển tịch do Phạm Thiên phô diễn, bao gồm trong bốn tập: 1. Rg Veda: Lê Câu Phệ Đà hay Độc Tụng Vệ Đà 2. Yajur Veda: Đa Nhu Vệ Đà hay Tế tự Vệ đà 3. Sama Veda: Sa ma Vệ Đà hay Ca vịnh Vệ đà 4. Arthara Veda: A tha va Vệ đà hay Nhương tai Vệ đà. Bốn bộ Veda này được sáng tác trong khoảng 10 thế kỷ (từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ V trước công nguyên). Mỗi bộ Veda thường được chia làm 4 phần: 1. Mantras: thánh ca; 2. Brahmana: nghi thức tế tự; 3. Aranyaka: những lời dạy trong rừng, sự chuyển tiếp giữa nghi thức và suy luận triết học; 4. Upanishad: những lời giải thích triết lý áo nghĩa Veda. Và phát triển trong ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất gồm những bài ca tụng được tìm thấy trong Rg Veda (khoảng 1500-900 BC) gọi là thời đại Rg Veda, giai đoạn thứ hai gồm những nghi lễ tế tụng, văn chú nguyện và quy luật giáo điều, được tìm thấy trong Yajur Veda, Sama Veda, và Arthava Veda (khoảng 900-700 BC) gọi là thời đại Bà-la-môn hay Phạm Thư; giai đoạn thứ ba giải thích các huyền lý trong kinh Veda (xuất hiện khoảng 700-500 BC) gọi là thời đại Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Ngoài ra, còn có một giai đoạn trung gian giữa hai thời đại Phạm Thư và Áo Nghĩa Thư, đó là thời Sấm Thư. Thời này gồm nhữn bộ luận thư của những người ẩn dật tu tập trong rừng sâu. Và đó là những bộ luận thiên về thực nghiệm tâm linh, một trong những bộ luận làm cho Upanishad trở nên siêu việt về mặt nghĩa lý. 2.1. Tư Tưởng Rg – Veda: Dân tộc Aryan Ấn Độ cư ngụ ở vùng Punjap ngày một phồn thịnh và phát triển, nhất là về mặt tư tưởng tôn giáo. Vì thế, dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển đầu tiên; đó là bộ Rig Veda (Lê-câu-phệ-đà), 40 quyển. Bộ kinh này xuất hiện vào khoảng 1500 – 1000 năm trước công nguyên và được xem là nguồn tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà-la-môn giáo, là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh và triết học Ấn Độ và cũng là cơ sở để khai triển cho những tư tưởng hậu lai. Nội dung của bộ kinh này chỉ là những bài ca tán có tính cách thần thoại, nhưng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ quan và nhân sinh quan . Bộ kinh Rg-veda bao gồm những bài thơ ca tụng các vị thần linh khác nhau. Người Aryan rất sùng thượng thần linh, đến nỗi hễ nhắc đến học là người ta nói đến một tôn giáo đa thần giáo: “Nhà nào cũng có bàn thờ cúng lễ, ngày nào cũng dành tiền riêng của gia đình ra mua lễ vật dâng cúng trong nhà, dâng cúng ngoài đền. Hàng năm còn tổ chức đến mấy lần đại lễ cho toàn khu, cho toàn bộ tộc hay cho toàn thể cộng đồng tôn giáo về dự. Người đi dự lễ đông như kiến cỏ, dầu tốn kém mấy cũng không kỳ quản . Đối với họ, mỗi vị thần tượng trưng cho một quyền năng khác nhau trong hiện tượng thiên nhiên ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người dân Aryan nguyên thủy. Chẳng hạn: thần đá, thần cây, thần gấu, thần cọp, thần sông, thần núi, thần tinh tú… Tuy nhiên vị thần đóng vai trò quan trọng đối với người dân Aryan là thần Lửa (Agni). Thần Lửa chằng những hiển hiện trong bếp lò, ở mặt trời mà còn ẩn náu vô hình trong mây, gỗ, đá, trong tâm của con người; vừa biểu hiện cho dục vọng vừa là nguyên lý của nhiệt độ sự sống. Ngoài quan điểm về tín ngưỡng tôn giáo, Thánh kinh Veda còn biểu hiện sự nỗ lực không ngừng của các tư tưởng gia Aryans luôn tìm hiểu năng lực thần bí của thiên nhiên trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ: Từ đâu mà có thế giới này? Thế giới này sáng tạo hay không sáng tạo Chỉ có Ngài Ở trên cao trông nom thế giới là biết được hay không biết được Và đến đây, tư tưởng Rg Veda đã tiến được một bước khá dài; từ chủ nghĩa đa thần sang chủ nghĩa nhất thần, từ tâm trạng sợ hãi thế lực tự nhiên ở bên ngoài đã phản tỉnh vào trong nội giới để cố tìm tòi nguyên lý của tạo vật và đi đến thống nhất các phương diện đa nguyên sai biệt vào một vũ trụ quan, trong đó có một đồng nhất thể cơ bản, không có biên giới nhất định, tuyệt đối giữa các vật. Điều đó có nghĩa là; tuy thần linh ở khắp mọi nơi, nhưng thượng đế là nguồn sống lưu thông trong toàn thể, điều động vũ trụ, lưu hành trong các vì sao cũng như vào quả đất, ở trong nước cũng như ở trong cây cỏ, động vật hay nhận loại. Đây là một vũ trụ quan vật linh, vạn hữu, nhất thần . 2.2. Tư Tưởng Bà La Môn (Brahmanas) hay Phạm Thư: Nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà-la-môn giáo là thời đại Brahmanas, xuất hiện vào khoảng 1000 – 800 năm trước công nguyên. Tư tưởng của thời kỳ này liên quan đến Thánh giáo Phạm Thiên về nghi lễ gọi là Brahmana. Giai đoạn này người ta không chú ý đến thần linh nữa, mà chú trọng vào cách thức cúng bái tế lễ, vì tinh thần vật linh cho rằng cử chỉ và sự xếp đặt không gian có hiệu quả đem lại quyền năng của thần linh. Do vậy mà tục cúng bái ngày càng bành trướng. Những nghi thức cúng tế phức tạp ấy được tìm thấy trong Yajur Veda và Artharva Veda mà phần lớn hướng vào mục đích chữa bệnh, cầu sức khỏe và sống lâu, tránh tai ương hay tìm quyền năng hiệu nghiệm. Chẳng hạn, “Phải đọc thần chú để có con, để khỏi sẩy thai, để sống lâu, để khỏi bị tai nạn bịnh tật, để ngủ được, để diệt được hoặc để làm nản lòng kẻ thù” . Họ tuyệt đối tin tưởng vào hiệu lực của phép cúng tế, thờ tự, đến nỗi: “Nếu thầy cúng lúc bình minh không làm lễ cúng, thì mặt trời sẽ không mọc; mưa sẽ không rơi và thế giới sẽ bị hủy diệt” Như vậy, ở thời Brahmana ngườ ta tin tưởng rằng nhờ phép cúng tế mà vạn vật sinh trưởng. Đây cũng là lý do để phát sinh ra hạng người chuyên việc cúng lễ, đó là tập cấp Bà-la-môn, một đẳng cấp cao nhất trong bốn đẳng cấp xã hội được tìm thấy cuối thời Rg Veda. Người ta cho rằng, bốn giai cấp này là do đấng Phạm Thiên (Brahma) sáng tạo ra. Trong đó, Bà-la-môn được sinh ra từ miệng của Phạm Thiên, Sát-đế-lợi được sinh ra từ hai cánh tay, Phệ-xá từ bắp chân và cuối cùng là Thủ-đà-la được sanh ra từ đôi bàn chân của Ngài. Như thế, sự phân chia đẳng cấp của xã hội Ấn Độ có lẽ bắt nguồn từ đây. Thậm chí, đến thời Brahmana sự phân chia này còn nghiêm khắc và cực đoan hơn. Như vậy, có thể nói, tính chặt chẽ nghiêm ngặt của đẳng cấp là điểm nổi bật của xã hội Ấn Độ và nó cũng là “Chướng ngại cơ bản trên con đường tiến bộ và hùng cường của Ấn Độ” . 2.3. Tư Tưởng Aranyaka (Sấm Thư) và Upanisad (Áo Nghĩa Thư): Do bất mãn với giới giáo sĩ câu chấp vào hình thức lễ nghi tôn giáo mà bỏ mất nguồn căn bản thực nghiệm tâm linh, nên một số cá nhân đã tìm vào nơi thanh vắng để thực nghiệm lại trực giác siêu nhiên của các thi sĩ thấu thị thời Veda. Họ quan niệm rằng: “Người ta có thể cúng lễ, thờ phượng, thi hành những việc từ thiện, bác ái để hỗ trợ cho đời sống đạo đức; nhưng việc thực nghiệm tâm linh vẫn là chính yếu, không thể từt bỏ được . Và tư tưởng thời Sấm thư được ra đời trong những ngày tháng đó. Sau khi đã tìm được môi trường thích hợp để trầm tư mặc tưởng, học bắt đầu thành lập trong rừng những trung tâm học thuật kinh điển Veda. Mục tiêu chính của những trung tâm này là chuẩn bị cho người học một cuộc sống tinh thần dài lâu và có ý nghĩa qua phương pháp thực hiện tâm linh để hiểu biết và giác ngộ mối tương quan giữa người và vũ trụ. Hơn nữa người học không những có sự hiểu biết tri thức, mà quan trọng nhất là tạo mọi điều kiện để họ có đời sống tâm linh lâu dài, thực nghiệm và giác ngộ sự tương quan mật thiết giữa nhân sinh quan và vũ trụ quan. Và chính trong giai đoạn này Bà La Môn giáo đã đạt đến đỉnh cao nhất. Sau khi đã tìm thấy và diễn đạt ở thánh ca veda, Họ đã thực nghiệm mối quan hệ giữa người và vũ trụ là một không hai. Tức là tính đồng nhất của vạn vật. Và từ đây tư tưởng Áo Nghĩa Thư ra đời. Tư tưởng này dựa vào nền tảng king veda mà phát triển đến đỉnh cao của nền triết học Ấn độ. Và trong những bộ Veda đầu tiên, triết lý chỉ mới xuất hiện dưới dạng mầm mống, phôi thai. Đến Upanishad, tư tưởng triết học mới thực sự trở thành hệ thống, mặc dù chỉ mới ở dạng mầm mống, phôi thai nhưng lại cực kỳ quan trọng, bởi hầu hết những dòng sông triết học ở Ấn Độ đều từ mạch nguồn nước này mà ra. Đối với tư tưởng Upanishad thì được diễn đạt qua ba phương diện: 2.3.1. Vấn Đề Tri Thức: Tự Ngã (Atman) và Đại Ngã (Brahman): Khác với người dân Châu Âu say sưa với vấn đề hiện tượng, mong muốn chinh phục, làm chủ thiên nhiên và thành đạt trên một thế giới mà họ coi là hữu thực; cũng khác với dân Trung Hoa cố gắng lo ổn định xã hội để có một đời sống trần gian giàu có, hạnh phúc; hầu hết người Ấn trước thế kỷ XX chỉ nghĩ đến giải thoát. Nghĩa là ra khỏi cái thế giới mà họ cho là huyễn cảnh, chỉ toàn đau khổ và giả dối. Họ muốn đạt tới vĩnh hằng, một cảnh giới siêu việt, an lạc, bất sinh, bất diệt. Muốn được như thế, người ta phải đi tìm chân tướng của sự vật. Mà trước khi thấy được chân tướng của sự vật, người ta phải thấy được chân tướng của mình, thấy được chân tướng của mình tức là đạt ngộ, giải thoát. Bởi “Chân lý chỉ có thể đạt được, đồng thời sự giải thoát thành tựu khi đồng nhất được thực tại siêu hình nơi cá nhân với Thực tại tối cao” . Và đó là lý do tư tưởng Upanishad ra đời. Bởi trọng tâm chính yếu của triết học này là tìm hiểu về nguyên tắc tuyệt đối Brahma (Đại Ngã) và tri thức để hòa nhập vào cái tuyệt đối ấy, là đường lối duy nhất để đạt đến Chân lý, quay về nội tâm của mình để thực nghiệm tâm linh. Thực nghiệm tâm linh là tìm cho ra cái “Ngã” tự hữu ở ngoài và ở trên mọi giới hạn của thân xác và tinh thần. Cái “Ngã” ấy là một thực thể siêu hình tiềm tàng ở nội tâm, cho nên hướng tìm là “tri ngã tự thân”. Biết “Ngã” tức là nhận ra “cái ta chân thực” ở trong ta là một thực thể bất sinh bất diệt, đồng thể với Đại Ngã toàn năng, toàn trí là nguyên lý cấu tạo và điều khiển vũ trụ, và cũng là căn do của mọi sự sống cho nên hằng sống. “Brahman là nguồn sống của tất cả ánh sáng. Brahman ở đằng trước, Brahman ở đằng sau, Brahman ở bên phải và bên trái, Brahman ở chót vót trên cao và ở tận cùng đáy sâu. Brahman là cái vĩ đại nhất” là thực tại tối cao. Còn Atman là hơi thở, là bản tính của sự sống , “Atman chẳng thể nhận biết được bởi học vấn, bởi sức mạnh của trí óc” . Và hòa luyện tiểu vũ trụ (Atman) vào Đại vũ trụ (Brahman) là mục đích tối hậu mà tư tưởng Áo Nghĩa Thư hướng đến. Và như vậy có nghĩa là, khi có bất cứ ai đã hòa nhập cái tôi của chính mình vào cái đồng nhất của vũ trụ thì người ấy sẽ được giải thoát, được sanh thiện. Đó chính là thực tại tuyệt đối Brahman. Do đó mà Atman luôn có mặt khắp môi nơi ở trong tất cả hành động, mọi dục vọng, mọi trạng thái, trong năng lực của sự sống hiện hữu khắp cùng vũ trụ. Có thể nói ý tưởng Brahman đồng đẳng với Atman trở thành tư tưởng căn bản cho nền triết học Bà la môn. Upanihsad đã đưa ra lời giải thích đáp rằng đó là tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Brahman cũng chính là Atman (Linh hồn hay tự ngã) tức là nhấn mạnh chân ngã tronmg mỗi cá nhân. Tuy nhiên nó không phải là cái “tôi” thường tình, như ta vẫn nghĩ mà chính nó đồng nhất với Brahman , là đồng thể. “Tinh thần và vũ trụ tối cao” 2.3.2. Triết Lý Xã Hội và Lý Tưởng Đạo Đức: Thuyết Nhiệm Vụ và Luân Hồi Nghiệp Báo: Đối với xã hội đương thời thì sự phân chia giai cấp ở Ấn độ bấy giờ quá rõ ràng. Chính điều đó đã làm cho con người khổ đau. Nhất là những giai cấp thấp như Thủ đà la chẳng hạn. Và mỗi giai cấp đều có một nhiệm vụ khác nhau. Bà La Môn là giai cấp cao nhất chuyên lo việc thực hiện nghi thức tế lễ, là những nhân vật trung gian để nối kết, thông giao giữa con người với thần linh.Giai cấp Sát Đế Lợi như thái tử Sidhatha của chúng ta, là dòng dõi vua chúa cai quản nhân dân vệ mặt quân sự, buôn bán, ổn định trật tự xã hội. Nói chung mỗi giai cấp đều có mọt nhiệm vụ riêng biệt và phải chấp nhận với số phận của chính mình không thể nào vươn lên trong cuộc sống. Và giai cấp Bà La Môn mãi muôn đời là giai cấp tối thượng nhất từ trước đến nay. Trong sách Lịch Sử Triết học cổ đại, Doãn Chính viết : “Ưu tú nhất trong loài sinh vật là loài động vật, ưu tú nhất trong loài động vật là giống vật có lý tính, ưu tú nhất trong loài động vật có lý tính là loài người, ưu tú nhất trong loài người là người Bà La Môn. Người Bà La Môn sinh ra sớm nhất và có sự hiểu biết về kinh veda nên cần phải thống trị toàn thế giới” . Và hơn thế nữa, theo tuyết bổn phận và nhiệm vụ để xây dựng cơ sở luân lý đạo đức thì mỗi con người từ khi chào đời và lớn lên trưởng thành cho đến chết phải trãi qua bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên đi học. Trong thời gian này nguưuời học trò đối với thầy phài nhất như nghe lời thầy, chấp nhân mọi khắc khe mới có thể kế thừa cái tinh hoa trí tuệ và sự huyền diệu của thần linh. Giữa thầy và trò luôn có sợi dây liên kết chặt chẽ không thể tách rời. Sau khi học xong đến tuổi thành niên thì người này có thể trở về với gia đình, kết hôn, làm nhiệm vụ của một gia trưởng, cũng cố địa vị trong xã hội, cung dưỡng các Bà La Môn. Trách nhiệm trọn vẹn giao quyền lại cho con trai người đó sẽ tiếp tục vào rừng sâu, thực hành pháp đồng nhất, hòa điệu cái ta “Atman” vào cái đồng nhất vũ trụ. không còn phải lo cho mình, sống hòa đồng với tự ngã bất diệt thì người ấy sẽ đi lang thang hành khất. Nói chung, kế hoạch sống toàn diện qua 4 giai đoạn này của triết Ấn Độ có mục đích hướng dẫn con người thực hiện sự giải thoát tại thế, chứ không đợi phải qua kiếp sau. Có vào đời và sống trong như vậy, người ta mới có lý do để khao khát một cuộc sống xuất thế, siêu thoát, mới có đủ nhẫn nại chịu đựng cuộc sống khổ hạnh trên đường tu cuối đời. Chính vì thế: Nếu trong giai đoạn đầu không học được gì Trong giai đoạn hai không lập được sự nghiệp gì Và trong giai đoạn ba không thành người đức hạnh Con người biết làm gì trong giai đoạn bốn của đời y . Điều đó cho thấy, thực tại tối cao chỉ có thể đạt được khi con người đã chứng nghiệm được đầy đủ cuộc sống trần gian và không bị lệ thuộc vào những giá trị giả tạm, lừa dối. Và chỉ khi nào con người nhìn rõ được những giá trị trần gian là hư ảo, vượt lên trên những sự hư ảo ấy với một tâm hồn an bình, người ấy mới thành bậc thượng trí và giải thoát tại thế. Và nếu như thời Rg-veda, Brahman thì chưa hề có quan niệm nghiệp báo, nếu có thì chỉ đề cập đến đời sống kiếp sau. Trong khi đó, luân hồi nghiệp báo thật sự đã xuất hiện trong thời Upanisad. Thuyết này lấy luân hồi nghiệp báo làm cơ sở, nghĩa là bất cứ một sự tồn tại nào cũng đều do một nguyên nhân trước đó tạo ra. Sự tồn tại, hiện hữu của một con người như thế nào là do chính họ tạo ra trong quá khứ, họ gọi đó là nghiệp; Nghiệp như thế nào thì quả như thế ấy. Nếu hành động thiện thì được quả lành, làm ác thì chịu quả xấu. và số phận tương lai con người như thế nào thì tùy thuộcvào hành vi của người đó. Và có thể nói: “Người ta sẽ trở nên tốt vì hành động tốt, và trở nên xấu vì hành đông xấu. Và như người ta có hành vi tốt đẹp sẽ đầu thai vào kiếp tốt đẹp; hoặc thành Bà la môn; hoặc thành người quý tộc; hoặt thành thương nhân. Những kẻ có hành vi xấu ss4 phải đầu thai vào những kiếp xấu xa như kiếp chó lợn hay những kẻ nô lệ tôi tớ” . 2.3.3. Lý Tưởng Giải Thoát: Qua những gì vừa trình bày, chúng ta thấy đối với người Bà-la-môn cổ đại, đời sống vật lý của con người là không thực hiện hữu và toàn thế giới đều chịu một quy luật chi phối máy móc của nghiệp thức trong vòng luân hồi sinh tử. Và khái niệm giải thoát ra đời. Tư tưởng Upanishad đề cập đến ba phương pháp giải thoát như sau: 1. Con đường thực hành: đây là phương pháp giải thoát thông qua sự thực hành các nghi thức tế tự. 2. Con đường tri thức: là con đường thực nghiệm để nhận thức tính nhất quán giữa tự ngã và linh hồn vũ trụ như một thực thể tuyệt đối và duy nhất. 3. Con đường hiến dâng: đây là con đường đòi hỏi người thực hành phải dâng hiến cuộc đời mình cho Đấng Phạm Thiên. Giải thoát - theo quan điểm của các đạo sĩ Ấn Độ là trạng thái đoạn tuyệt hoàn toàn với 3 cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Trong đó Dục giới là cảnh giới của loài hữu tình hướng về tình dục và thực dục; Sắc giới là cảnh giới của những thể vật chất có hình sắc như: thân xác, nhà cửa, cây cối, núi sông… còn Vô Sắc giới là cảnh giới không có vật chất. Cả ba cõi này đều thuộc về thế giới hiện tượng, chịu sự chi phối của không gian và thời gian. Giải thoát là trạng thái tâm thức con người không còn lệ thuộc vào thế giới hiện tượng nữa, mặc dù thân xác vẫn còn đó. Giải thoát là tình trạng tự ngã Atman đã ra khỏi vòng vây của vô minh, hiển lộ hoàn toàn trong tâm thức con người giác ngộ. Khi tự ngã Atman xuất đầu lộ diện trong con người tức là Đại Ngã Brahman cũng hiện diện trong con người, vì Brahman và Atman vốn đồng nhất thể. Về vấn đề này, các đạo sĩ thấu thị trong Upanishad đã mô tả thành 4 trạng thái: 1. Thân cận với thực tại thiêng liêng. 2. Đồng tính và phản ánh vinh quang của thực tại thiêng liêng. 3. Sống chung một cõi với thực tại thiêng liêng. 4. Hoàn toàn đồng hóa với thực tại thiêng liêng. 2.4. Điểm Tương Đồng và Dị Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ và Phật Giáo: Qua cái nhìn tổng quan về tư tưởng của Bà-la-môn giáo, chúng ta thấy vấn đề trung tâm mà cả Ấn Độ và Phật Giáo cùng quan tâm đó là giải quyết vấn đề nhân sinh bằng phương châm thực tiễn chứ không phải chỉ suy tư những điều không tưởng viễn vông. Điểm quan sát cơ bản của cả hai đều xoay quanh vấn đề “Bản Ngã”. Bản Ngã là trung tâm của vũ trụ, là cuốn sách chứa đầy ý nghĩa thâm áo và có một giá trị vô cùng cao cả. Vũ trụ là phản ảnh rộng lớn của con người. Đứng trên lập trường nhân sinh để quy định bản chất của vũ trụ. Con người là tiểu vũ trụ trong cái đại vũ trụ. Phật giáo cũng thừa nhận rằng, vũ trụ chẳng qua chỉ là sản phẩm do tâm biểu hiện. Vì thế mà Phật giáo có sự nhất trí với Ấn giáo về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Ngoài ra, thuyết nghiệp báo và luân hồi của Phật giáo hình như hoàn toàn tương đồng với Ấn giáo. Nghiệp là những hành vi thiện hay ác mà ta đã tạo tác ở kiếp trước được cất chứa trong tạng thức của ta để đến kiếp này trờ thành động lực chi phối vận mệnh của ta. Với thuyết nghiệp báo – luận hồi đem lại một ý nghĩa bao quát: tất cả hữu tình đều là họ hàng, thân thuộc của nhau. Mặt khác, nếu nói cả hai đều quan niệm yếm thế và giải thoát thì dễ gây hiểu lầm. Bởi ngày nay, người ta hiểu từ “yếm thế” là lánh đời, là chán đời, những người tu theo đạo yếm thế là những người đi tìm hạnh phúc ngoài thế gian. Trong khi đó, người Ấn ngày xưa thì quan niệm rằng cõi trời là sung sướng cao tột, nhưng không phải là chỗ vĩnh viễn yên vui. Do đó, muốn giải quyết vấn đề nhân sinh phải lấy sự giải thoát làm mục tiêu cứu cánh. Nhưng nếu muốn được như thế, thì chỉ có thiền định là phương pháp tối ưu, là quan niệm thực tiễn của hầu hết các giáo phái thời bấy giờ. Đó cũng là lý do vì sao các pháp tu thiền như: Tam Muội (Samadhi), Tĩnh lự (Dhyana) và Du già (Yoga)… đều xuất phát từ xứ Ấn. III: KẾT LUẬN: Như vậy có thể nói, tư tưởng triết học Bà La Môn với bộ kinh Veda đã thể hiện được nền văn minh cổ đại cho đất nước Ấn độ nói riêng và đóng góp văn minh thế giới nói chung. Người dân Ấn luôn tự hòa về điều đó. Chính nơi đây đã thể hiện tính chung nhất của vạn hữu nhưng vẫn còn có khuyết điểm của chúng. Chính tư tưởng phân chia giai cấp, cầu thần linh tạo cho con người không thể vươn lên được. Song Ấn độ đã tạo nên nhiều thành tựu về mọi phương diện như toán học, y khoa… cho nhân loại. Và đây cũng chính là vùng đất đã sản sinh một bậc vĩ nhân cho nhân loại, với một triết lý chứa đựng chất liệu từ bi, bình đẳng, đem lại hạnh phúc an lạc thật sự cho nhân loại. Ngày xưa, chính đức Phật khi còn là Thái Tử cũng đã học tập kinh Veda, vì thế mà giáo lý của Ngài cũng phần nào bị ảnh hưởng. Thế nhưng, ảnh hưởng không có nghĩa là giống nhau hoàn toàn. Do đó, người học Phật muốn phân định rõ thì buộc phải có một sự nghiên cứu tìm tòi và so sánh giữa hai tưởng giống và khác nhau ở điểm nào là điều tối quan trọng. Bởi lẽ, chúng ta là những người tu sĩ Phật giáo, là những người con của đức Phật, và là những người “Thừa Như Lai Sứ Tác Như Lai Sự” thì hẳn nhiên chúng ta phải có trách nhiệm như thế nào. Thứ nhất là bản thân chúng ta phải học tập Phật pháp để có thể hoằng pháp lợi sanh, thứ hai là chúng ta mới có thể giáo dục cho Phật tử. Từ đó mới có thể tạo nên một khối đoàn kết bảo trì Phật pháp cửu trụ lâu đời tại thế gian. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ Cổ Đại, Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 1999. 2. Hà Thúc Minh, Triết Học Ấn Độ, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ CHí Minh, 2002. 3. Thích Nữ Vân Liên, Triết Học Bà La Môn, Tài Liệu Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh, 2008. 4. Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1989. 5. Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, Nhà Xuất Bản Văn Hóa Sài Gòn, 2007. 6. Will Durant, Nguyễn Hiến Lê dịch, Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Nhà Xuất Bản Văn Hóa, 1996. 7. Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2005.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét