THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
NGHIỆN CỨU HỌC THUYẾT NGHIỆP THEO LUẬN CÂU XÁ
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. CHÚNG TA LÀ NGUYÊN NHÂN TẠO NGHIỆP:
1.1. Luật vận hành của nghiệp:
1.2. Phân Loại Nghiệp:
1.3. Phản Tỉnh Về Nghiệp:
1.4. Nghiệp Phân Theo Phận Sự:
1.5. Nghiệp Theo Ưu Tiên Cho Quả:
1.6. Nghiệp Theo Thời Gian Cho Quả:
1.7. Nghiệp Theo Nơi Quả Nghiệp Xảy Ra:
2. NGHIỆP VÀ NGHIỆP QUẢ (KARMA):
2.1. Bốn thứ ác là:
3. NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI:
3.1. Sự tiếp nối của nghiệp qua các kiếp sống:
3.2. Hãy lấy từ bi làm tôn giáo của mình:
3.3. khổ và nghiệp:
3.4. Tánh chất của Nghiệp:
4. NGHIỆP ĐƯỢC GIẢI THÍCH THEO LUẬN CÂU XÁ:
5. NGHIỆP VÀ VÔ NGÃ
5.1. nghiệp là nền tảng của đạo đức:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
NGHIỆN CỨU HỌC THUYẾT NGHIỆP THEO
LUẬN CÂU XÁ
(phẩm phân biệt nghiệp)
I. DẪN NHẬP:
Sinh ra trong cuộc đời, hầu như ai cũng muốn phấn đấu để đạt được cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc trong cuộc sống đời thừơng không gì khác hơn những nhu cầu về cuộc sống vật chất hay những địa vị quan trong xã hội, gia đình mạnh khỏe bình yên… Thế nhưng ngay trước mắt ta cuộc sống với bao nhiêu là nghịch lý, những cái đối với một nhãn quan bình thường thì cho đó là những bất công, những sự sắp xếp của thần linh chớ ít khi họ đi tìm nguồn cội sâu xa của vấn đề. Thế thì, nguyên nhân của sự không bình đẳng giữa xã hội loài người là gì? Vì sao người này lại sinh trưởng trong cảnh xa hoa, mà bẩm tánh ngu dốt, người nọ thì bị chìm đắm trong cảnh nghèo khó mà bẩm tánh thông minh, người thì vừa nghèo vừa chậm chạp, kẻ nọ đã giàu lại lanh lợi? Có người suốt cuộc đời làm gì cũng gặp trắc trở, có người làm gì cũng thông suốt? Vì sao người này là bậc Vĩ nhân Thánh thiện, người kia là kẻ điêu trá sát nhân? Người này là một nghệ sĩ tài ba, nhà toán học, nhạc sĩ từ khi mới lọt lòng, người kia sinh ra đã mù điếc què quặt? Người này vừa trông thấy đã có cảm tình, người kia vừa trông thấy đã khó chịu?... Đối với những sự sai khác không bình đẳng này, cần phải có một hoặc nhiều nguyên nhân hay chỉ là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn? Không một thức giả nào lại cho rằng sự không bình đẳng này chỉ là một sự may rủi mù quáng hay là sự ngẫu nhiên tình cờ.
Nghiệp (Karma) là một đề tài nghiên cứu lớn của các nhà triết học và tôn giáo Ấn Ðộ, Phật giáo cũng không ngoại lệ. Nó luôn luôn là đề tài thảo luận sôi nổi của con người, con người từ đâu sinh ra và sẽ đi về đâu sau cuộc sống này, là câu hỏi muôn thuở và mãi mãi về sau. Ðể lý giải vấn đề này, các nhà triết học, các nhà tôn giáo đã không ngừng nỗ lực để đi tìm câu trả lời, nhưng kết quả lời giải không cùng chung một đáp số, nguyên nhân là mỗi tôn giáo, mỗi triết học đứng từ nhiều góc độ khác nhau trong xã hội, điều đó đã dẫn đến những quan điểm khác nhau cùng một đề tài thảo luận. Thế thì, câu hỏi: Trong những cách lý giải ấy, lời giải đáp nào hợp lý, và lời giải đáp nào không hợp lý, ai là người đủ tư cách để thẩm định vấn đề này? Chắc chắn sẽ không có lời giải đáp, nhưng mỗi người trong chúng ta có đầy đủ tư cách để xem xét và lựa chọn chúng, trên nguyên tắc biết tôn trọng sự thật, có nghĩa là cái gì thật sự mang lại bình an và lợi ích cho chính bản thân mình và xã hội, thì cái ấy được gọi là cái đúng, và nó phải được tôn trọng và biểu dương, cho dù cái ấy núp dưới hình thức hay danh hiệu nào. Ngược lại, cái gì không đúng với sự thật, không ích lợi gì cho mình và cho xã hội thì cái ấy, không phải là cái chúng ta bận tâm suy nghĩ
II. NỘI DUNG:
1. CHÚNG TA LÀ NGUYÊN NHÂN TẠO NGHIỆP:
Nghiệp là phương pháp để phân biệt sự hành vi tốt hay xấu. Vui hay khổ mà ta đã được đều là qủa định theo từ nghiệp chánh và nghiệp bất chánh, khi gặp quả tốt hay xấu nên hiểu rằng là qủa của nghiệp xảy đến là bởi tự mình sáng tác. Như thế hiểu biết chân chánh ta không quên mình khiến trách kẽ khác và thừa nhận rằng quả vui hoặc khổ hằng phát sanh từ nghiệp của mình tạo từ nhiều kiếp qúa khứ. Qủa của nghiệp xảy ra từ hành vi của chính mình khi mình tạo nghiệp duyên lành, quả lành sẽ trở lại, hành nghiệp bất thiện (làm dữ) cũng sẽ đến như nhau mà thôi.
Từ đó lời Phật dạy, không nên sưu tầm cái tốt xấu từ nơi nào khác hay ở người nào, sự hành thiện nghiệp đạo đức lấy đời làm chủ, đức tín hướng thiện từ bi, hoặc chánh pháp, thì phải tìm xét cẩn thận trong chính mình, chẳng hạn, nghiệp chánh bằng khẩu, không được nói dối, bỏ sự nói dối nếu không biết nói không biết, biết nói biết, không có nói không có, thấy nói thấy, không thấy nói không thấy v v....
Không nên xúi dục người cho bất hòa cùng nhau, được nghe bên này, không đến nói bên kia, cho họ bất hòa cùng nhau tránh sự gây chia rẽ, khuyến khích những người đã hòa nhau, Vui thích khi đảng phái hòa nhau, luôn luôn thốt lời hòa giải và khiêm tốn, không chửi mắng, không thốt lời thô lỗ, không tỏ lời bất nhã đến người khác, không nói lời hoang đường vô ích, chỉ bàn những chuyện hữu ích, có giá trị thanh cao.
1.1. Luật vận hành của nghiệp:
Nghiệp thuộc về danh uẩn. Chúng ta biết có năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Tư hay ý chí thuộc về hành uẩn. Hành uẩn là danh (phần tinh thần), và cũng như các tâm sở khác, nó chỉ kéo dài một sát-na ngắn ngủi. Nó xuất hiện, dừng lại một chút, rồi diệt. Nhưng tư hay ý hành không giống với các tâm sở khác ở chỗ nó có khả năng để lại một tiềm lực nào đó. Khi nó diệt, nó không biến mất hoàn toàn. Nó để lại một sức mạnh hay tiềm lực để cho ra quả, khi những cơ hội thuận tiện cho quả ấy xuất hiện. Một người làm nghiệp ở đời này, nhưng kết quả có thể xảy ra hoặc đời này hoặc đời kế, có khi ở một đời nào đó sau đời kế không chừng.
Nghiệp hay ý chí (tư) có tiềm lực cho quả, và tiềm lực này là một năng lực rất lớn. Nghiệp không chấm dứt cùng với cái chết (thể xác) của đời này; nó cứ tiếp tục và tiếp tục mãi. Thế nhưng chúng ta không thể nói rằng nghiệp được chứa ở đâu trong thân hay tâm của chúng ta vì mọi vật đều vô thường và thay đổi liên tục. Nghiệp cũng vô thường và biến diệt như vậy, nhưng nó để lại một tiềm lực trong dòng tương tục của các chúng sanh, để rồi khi những cơ hội được xem là thuận tiện cho quả, những quả ấy sẽ xuất hiện.
Ngoài ra chúng ta còn phải biết phân biệt đâu là quả của nghiệp quá khứ, đâu là nghiệp hiện tại nữa. Nghiệp hiện tại không phải là quả của nghiệp quá khứ. Quả của nghiệp quá khứ là tâm quả (vipāka). Tâm quả là thành quả của nghiệp quá khứ, nhưng tâm quả ấy không ảnh hưởng gì đến việc thực hiện những hành động thiện hay bất thiện trong hiện tại. Nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện không phải là kết quả của nghiệp quá khứ; đúng hơn, chúng ta đang tích luỹ nghiệp mới trong kiếp hiện tại, và nghiệp đó sẽ cho quả trong tương lai.
1.2. Phân Loại Nghiệp:
Nghiệp được sắp thành nhiều nhóm và loại khác nhau. Một trong những cách phân loại là chia nghiệp thành thiện (tốt) và bất thiện (xấu). Có mười thiện nghiệp, tức mười ‘tư’ thiện hay hành động thiện. Sở dĩ gọi đó là thiện nghiệp vì chúng xuất hiện cùng với những trạng thái tâm thiện, những tâm sở thiện, và cho ra quả thiện.
- Thiện nghiệp thứ nhất là bố thí (dāna). Chúng ta cần thực hành hạnh bố thí vì, nhờ chia sẻ với người khác những gì chúng ta có, chúng ta tạo được thiện nghiệp (kusala kamma) cũng gọi là công đức. Thiện nghiệp này sẽ cho quả trong các kiếp tương lai. Bố thí còn giúp chúng ta thực hành hạnh xả ly. Chẳng hạn, tôi có thể còn dính mắc vào chiếc máy đánh chữ này, song nếu cho nó đến người khác, tôi không chỉ bỏ cái máy, mà còn bỏ cả sự dính mắc của tôi vào cái máy ấy nữa. Hành vi dứt bỏ sự dính mắc này gọi là vô tham (alobha). Và khi tâm chúng ta thoát khỏi tham (lobha), nó được giải thoát, trong sáng và định tĩnh. Như vậy, chúng ta được khuyến khích nên thực hành hạnh bố thí càng thường xuyên càng tốt.
- Thiện nghiệp thứ hai là trì giới. Trì giới là thọ giới và giữ gìn giới. Đối với người Phật tử tại gia, ngũ giới là đòi hỏi tối thiểu: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm (tà hạnh trong các dục), không nói dối, không uống rượu và các chất say. Vào những ngày trai giới, cần giữ thêm ba giới nữa cho đủ tám giới. Ba giới mới thêm đó là: không ăn sau giờ ngọ (12 giờ trưa), không nghe nhạc và trang điểm, và không nằm ngồi trên những giường cao và sang trọng. Giới (sīla) là nền tảng của định (samādhi) hay thiền.
- Thiện nghiệp thứ ba là tu thiền hay tu tập tâm. Đây là thiện nghiệp thù thắng nhất mà chúng ta có thể làm trong đời này: hành thiền minh sát vipassanā.
Thiện nghiệp thứ tư là cung kính, tỏ lòng kính trọng người khác, nhất là người lớn tuổi. Ở phương Đông, người trẻ kính trọng người già là chuyện tất nhiên. Theo cách này, tương quan giữa cha mẹ và con cái, giữa thầy và trò, v.v… được quy định bởi phép cung kính này.
- Thiện nghiệp thứ năm là phục vụ, làm điều tốt cho người khác; chẳng hạn giúp một cụ già hay phụ nữ băng qua đường, hoặc mang giúp họ những vật nặng. Một loại phục vụ khác là công quả cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Khi bạn quét dọn, lau chùi, hoặc tu sửa chùa chiền, đó là sự phục vụ hay công quả tốt đẹp nhất.
- Thiện nghiệp thứ sáu là hồi hướng công đức . Khi bạn có được chút công đức (phước thiện) nào, bạn nên chia sẻ điều này với những người khác. Chia sẻ công đức hay hồi hướng công đức tự nó là một phước báu, vì thế ta nên chia sẻ với mọi người. Hồi hướng công đức không có nghĩa rằng ta lấy một phần công đức của mình đem cho người khác. Thực ra, nó chỉ có nghĩa là chúng ta để cho mọi người có cơ hội thâu thập công đức cho chính bản thân họ mà thôi. Xưa có một thiện nam hỏi Đức Phật Độc-giác (Pacceka Budha) rằng nếu một người chia phước đến người khác, công đức của họ có vì thế mà giảm đi hay không? Đức Phật Độc-giác bảo anh ta: “Nếu như anh có một cây đèn, từ cây đèn đang cháy này, anh thắp sáng cây đèn khác, ánh sáng của nó sẽ không giảm đi khi châm sang cây đèn đó, mà càng trở nên sáng hơn cùng với việc thắp sáng cây đèn mới này. Cũng vậy, khi anh hồi hướng hay chia phần phước đã làm đến mọi người, phước của anh không giảm mà thực sự còn tăng trưởng thêm vì có một phước báu mới (từ việc mở rộng lòng quảng đại này)”
- Thiện nghiệp thứ bảy là tuỳ hỉ công đức hay hoan hỉ với phước sự của người khác, có nghĩa là khi người khác làm được những việc phước thiện, bạn chỉ cần nói lên lời “sādhu, sādhu, sādhu”, tức là “lành thay, lành thay, lành thay”, hoặc khi người khác chia phước đến bạn, bạn nói “sādhu, sādhu, sādhu” để chứng tỏ rằng bạn rất hoan hỉ với việc phước của họ, và nhờ tâm hoan hỉ này, bạn tạo được cho mình một phước báu.
- Thiện nghiệp thứ tám là thính pháp hay lắng nghe pháp. Đây là một phước báu lớn, một thiện nghiệp lớn. Nhờ nghe pháp, bạn sẽ hiểu pháp, và khi đã hiểu pháp bạn có thể tránh làm các điều bất thiện và làm được những điều thiện.
- Thiện nghiệp thứ chín là thuyết pháp , đàm luận pháp. Thiện nghiệp này có liên quan đến thiện nghiệp thứ tám.
- Thiện nghiệp thứ mười là uốn nắn tri kiến . Chúng ta phải có sự hiểu biết đúng về nghiệp. Nghiệp là tài sản riêng của chúng ta, chúng ta là chủ nhân của nghiệp và không ai khác có trách nhiệm đối với hành động hay nghiệp của chúng ta được.
1.3. Phản Tỉnh Về Nghiệp:
Phản tỉnh về nghiệp là cách tốt nhất để loại trừ sự oán giận. Có khi bạn đang hành thiền tâm từ, oái oăm thay bạn lại cảm thấy oán giận vì phải rải tâm từ đến một người có thể đáng ghét đối với bạn. Cách để loại trừ oán giận trong trường hợp này là suy xét về nghiệp kể như tài sản riêng của mình.
Nhờ phản tỉnh như vậy, ta có thể loại trừ được lòng oán giận. Hiểu biết về nghiệp cũng thúc đẩy tinh thần tự lực. Bởi lẽ nghiệp là của riêng mỗi người và chúng ta là nhà kiến trúc cho số phận của mình. Chúng ta phải nương tựa chính bản thân mình chứ không dựa vào ai khác. Để có được những quả báo tốt, chúng ta phải làm được nghiệp tốt. Vì các chúng sinh sẽ gặt hái những kết quả theo nghiệp họ đã tạo, không ai có thể giúp người khác trong việc gặt hái những kết quả đó. Ngoài lời dạy về tinh thần tự lực này ra, sự hiểu biết về nghiệp còn dạy cho chúng ta tinh thần trách nhiệm cá nhân nữa. Chúng ta phải có trách nhiệm đối với chính bản thân, và bất luận điều gì chúng ta đã và đang làm, chỉ một mình chúng ta chịu trách nhiệm về hành động đó. Khi chúng ta gặp những hoàn cảnh thuận lợi, đó là kết quả của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ. Cũng thế, khi chúng ta rơi vào những nghịch cảnh, chúng ta phải chịu trách nhiệm về việc đó mà không thể đổ thừa cho ai được.
Có sự hiểu biết và niềm tin vào quy luật của nghiệp là một đòi hỏi cơ bản đối với người Phật tử. Đạo Phật rất nhấn mạnh đến điểm này. Với niềm tin và sự hiểu biết ấy, chúng ta làm những việc thiện, và những việc thiện này là những việc thiện thù thắng nhất vì được làm với sự hiểu biết về nghiệp và quả của nghiệp. Khi làm một việc thiện với sự hiểu biết về nghiệp, việc làm đó kể như có đủ ba nhân thiện, đó là vô tham, vô sân, và vô si. Khi những thiện sự của chúng ta được kèm theo bởi ba nhân thiện này, chúng sẽ cho quả trong các kiếp sống tương lai, quan trọng hơn hết là được tái sinh làm người có đủ ba nhân. Thường những người được sinh ra với ba nhân thiện này có thể đắc thiền hoặc đạo quả Niết-bàn trong đời hiện tại.
1.4. Nghiệp Phân Theo Phận Sự (Kicca Kamma Catuka).
Sanh nghiệp - Janaka kamma: Nghiệp tạo ra các danh uẩn và sắc uẩn vào sát-na thụ thai cũng như trong suốt đời của một cá nhân.
Trì nghiệp - Upatthambhaka kamma: Nghiệp hỗ trợ cho sanh nghiệp cũng như cho hiệu quả của sanh nghiệp trong suốt đời cá nhân ấy.
Chướng nghiệp - Upapālaka kamma: Nghiệp cản trở, làm suy yếu, gián đoạn, hay chậm trễ quả của sanh nghiệp.
Đoạn nghiệp - Upaghātaka kamma: Nghiệp không những cắt đứt hiệu quả của sanh nghiệp mà còn hủy diệt luôn sanh nghiệp và tạo ra quả riêng của nó. Nói cách khác, nghiệp này làm cho người ta chết đột ngột và phải tái sinh hợp theo đoạn nghiệp.
1.5. Nghiệp Theo Ưu Tiên Cho Quả - (Pākadānaparīyāya kamma catukka)
Cực trọng nghiệp - Garuka kamma: Là loại nghiệp mạnh đến nỗi không nghiệp nào khác có thể chặn được phận sự của nó trong kiếp kế. Nói cách khác, nó là nghiệp chắc chắn sẽ cho quả trong đời sau.
Cực trọng nghiệp xấu có năm – pañcānantariya kamma - hay còn gọi là ngũ vô gián nghiệp, đó là: (1) phá hòa hợp tăng, (2) làm cho Đức Phật chảy máu, (3) giết một vị Alahán, (4) giết cha, (5) giết mẹ. Ngoài ra tà kiến cố định như đoạn kiến v.v… cũng được xếp vào loại này.
Ngược lại, năm thiện nghiệp sắc giới (tức năm bậc thiền tế sắc) và bốn thiện nghiệp vô sắc giới (tức bốn thiền vô sắc) là những cực trọng nghiệp tốt. Các đạo siêu thế (Lokuttara magga) cũng có năng lực cực trọng như thế, vì nó đóng kín vĩnh viễn các cánh cửa đi vào bốn ác đạo.
Cận tử nghiệp - Āsanna kamma: là nghiệp được thực hiện hay nhớ lại vào lúc lâm chung.
Thường nghiệp - Āciṇṇa-kamma: là nghiệp được thực hiện một cách đều đặn, hoặc cũng có thể được thực hiện chỉ một lần, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nó.
Tích lũy nghiệp - Kaṭattā-kamma: hay nghiệp không rõ rệt, nghĩa là nghiệp được làm một lần rồi quên ngay.
Vào lúc cuối cùng của đời người, nếu chúng ta có bất kỳ một cực trọng nghiệp nào, nghiệp này sẽ tạo ra quả của nó khi chúng ta chết và làm duyên cho kiếp sống kế của chúng ta.
1.6. Nghiệp Theo Thời Gian Cho Quả- ( Pākakāla kamma catuka)
Hiện báo nghiệp - Diṭṭhadhamma vedanāya kamma: nghiệp cho quả trong kiếp hiện tại.
Sanh báo nghiệp - Upapajjavedaniya kamma: nghiệp cho quả trong kiếp kế (kiếp thứ hai)
Hậu báo nghiệp - Aparāpariyavedaniya kamma: nghiệp cho quả từ kiếp thứ ba trở đi cho đến kiếp cuối cùng khi người ấy chứng đắc Niết Bàn.
Vô hiệu nghiệp - Ahosi kamma: Nghiệp không còn cho quả nữa.
Trong việc nghiên cứu các tiến trình tâm (vīthis) chúng ta thấy tâm đại thiện (mahā kusala citta) và tâm bất thiện (akusala citta) làm nhiệm vụ như javana (tốc hành) bảy lần trong những trường hợp bình thường. Tư tâm sở (cetanā) kết hợp với tốc hành tâm đầu tiên được định danh là Diṭṭhadhamma vedanīya kamma - hiện báo nghiệp, tức nghiệp sẽ cho quả của nó ngay trong đời này. Nếu không cho quả trong đời này nó sẽ trở thành vô hiệu lực.
1.7. Nghiệp Theo Nơi Quả Nghiệp Xảy Ra ( Pākathāna kamma Catukka):
Bất thiện nghiệp - Akusala kamma: nghiệp cho quả trong bốn cảnh khổ (apāya - địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và atula)
Thiện nghiệp dục giới - Kāmāvacara kusala kamma: nghiệp cho quả trong bảy cõi vui dục giới (kāmaloka: cõi người và sáu cõi chư thiên dục giới)
Thiện nghiệp sắc giới - Rūpāvacara kusala kamma : nghiệp cho quả trong mười sáu cõi sắc (Rūpa loka)
Thiện nghiệp vô sắc giới - Arūpāvacara kusala kamma: nghiệp cho quả trong bốn cõi vô sắc (arūpā loka)
2. NGHIỆP VÀ NGHIỆP QUẢ (KARMA):
Đã là con người ở trong thế gian này, ai ai cũng phải trải qua những thành bại thịnh suy, nhục vinh vui khổ. Có người thì nghĩ rằng cuộc đời của chúng ta chẳng qua là sự an bài của số mạng hay thiên mạng. Họ tin rằng con người sinh ra mọi việc đều do số định sẵn, hoặc ông trời đã sắp đặt cho. Bởi thế trong nho giáo có câu: “Nhơn nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”. Tạm dịch : "Người mong như thế, lẽ trời chưa vậy."
Nhưng nếu quả thật có một ông trời mà có quyền quyết định mọi hành động và số mạng của chúng ta, thì đời sống của chúng ta thử hỏi có còn thú vị gì chăng? Khi ông trời muốn ta vui, thì ta được vui. Còn nếu ông trời muốn ta khổ, thì ta phải khổ. Nói một cách khác thì mọi sự khổ vui của con người do số định sẵn, thì con người phải chấp nhận số phận của mình, gặp hoàn cảnh nào cam chịu hoàn cảnh đó. Nếu gặp phải cảnh quá khắc nghiệt, thì họ đâm ra than trời trách đất, cho rằng trời đất đã chơi xấu họ và làm cuộc đời họ thêm điêu tàn.
Chúng ta biết giáo lý của Đức Phật thì cao thâm còn kinh điển thì thiên kinh vạn quyển, nhưng nếu chúng ta ngẩm nghĩ lại thì tựu trung toàn bộ giáo pháp đã đăt trọng tâm vào một chữ “nghiệp’ mà thôi. Bởi vì nếu không có nghiệp thì không có luân hồi, không còn sanh tử, không có tái sanh, không còn đau khổ, và sẽ không còn chúng sinh, không còn Bồ tát nữa. Thế giới này sẽ không còn gọi là trần gian, mà sẽ đổi lại thành thế giới Cực lạc.
2.1. Bốn thứ ác là:
1. Thắng nghĩa ác: Chỉ cho sanh tử luân hồi. Vì sanh tử tự bản chất nó là rất khổ, xấu xa.
2. Tự tánh ác: Chỉ cho năm tâm sở vô tàm, vô quý, tham, sân, si. Vì tự tánh nó là ác chứ không phải chờ tương ưng, đẳng khởi mới ác.
3. Tương ưng ác: Chỉ cho các tâm sở mà tự tánh không phải ác, nhưng vì tương ưng với năm tâm sở tự tánh ác mà hóa ra ác.
4. Ðẳng khởi ác: Chỉ cho thân ngữ ác nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tánh ác và tương ưng ác mà khởi lên.
Vô ký tánh thì chỉ có thắng nghĩa vô ký, đó là chỉ cho hư không vô vi, phi trạch diệt vô vi. Hai vô vi này thể nó thường trú nên gọi là thắng nghĩa. Nhưng nó không phải là kết quả chứng đắc của sự tu đạo, nên không phải là thiện mà chỉ là vô ký. Ngoài ra trong 46 tâm còn lại, không có thứ nào thuần là vô ký, nên không lập tự tánh vô ký, và đã không có tự tánh vô ký thì cũng không có tương ưng và đẳng khởi vô ký.
3. NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI:
Trong số trùng trùng điệp điệp những mối dây liên kết và buộc chặt mọi hiện tượng trong vũ trụ qua quy luật tương liên và tương kết (pratityasamutpada) Đức Phật đã chọn ra mười hai mối dây kết nối nhau (dvadasanga pratityasamutpada) trực tiếp liên quan đến các chúng sinh có giác cảm, có nghĩa là trong số này có cả chúng ta. Sự hiện hữu của chúng ta là một chuỗi dài tiếp nối giữa nguyên nhân và hậu quả :
Nguyên nhân này sinh ra hậu quả kia, hậu quả kia lại sinh ra nguyên nhân khác, (chữ lý duyên khởi trong kinh sách Hán ngữ dùng trong trường hợp này rất phù hợp, thế nhưng nếu dùng để chỉ một thể dạng bao quát hơn tức là sự tương liên giữa mọi hiện tượng - pratityasamutpada - thì không được thích nghi lắm).
Chuỗi tiếp nối đó biểu hiện những hành động (nghiệp) của chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại, và đồng thời tạo ra các nguyên nhân mới đưa đến sự hiện hữu của chúng ta trong tương lai.
Chuỗi dài tiếp nối của mười hai "nút thắt" hay mối dây nhân-quả (nidana) đó gọi là thập nhị nhân duyên và thường được tượng trưng bằng một bánh xe gọi là bánh xe luân hồi, bánh xe của sự sống, bánh xe của sự hiện hữu, bánh xe xoay vần của nghiệp lực,v.v..., tiếng Phạn là bhavacakra.
Vòng ngoài cùng của bánh xe luân hồi (bhavacakra) được tượng bằng 12 hình ảnh (xem hình). Tuy nhiên trong khuôn khổ tìm hiểu sự vận hành của nghiệp đưa đến sự tái sinh thì chúng ta chỉ cần quan tâm đến ba mối dây nhân-duyên (nidana) đầu tiên cũng đủ giải thích tại sao chúng ta lại đang hiện hữu trong cảnh huống như thế này.
3.1. Sự tiếp nối của nghiệp qua các kiếp sống:
Sau hết xin nêu lên một khía cạnh khá "gai góc" nếu không muốn nói là "nghịch lý" liên quan đến khái niệm về nghiệp. Đó là cái "cảm giác" của một cá thể trong kiếp sống hiện tại phải nhận chịu hậu quả phát sinh từ một hành động do một "cá thể khác" đã thực thi trong kiếp sống trước. Vậy phải nhìn vấn đề này như thế nào ?
Xin nêu lên hai giả thuyết như sau :
1- Nếu một cá thể nào đó thực thi một hành động và sau đó cũng chính cá thể ấy "đầu thai" để nhận lãnh hậu quả phát sinh từ hành động trước đó của nó thì trong trường hợp này sẽ không có gì biến đổi hay thay đổi giữa hai kiếp sống : "cái tôi" hay "cái ngã" đương nhiên trở thành trường tồn và bất biến và mang tính cách hoàn toàn cá thể.
2- Nếu có một cá thể thực thi một hành động và lại có một cá thể khác, hoàn toàn ngoại lai không liên hệ gì với cá thể thực thi hành động trước đây phải đứng ra nhận lãnh hậu quả của hành động ấy, thì trong trường hợp này sẽ xảy ra một sự nghịch lý hay phi lý đối với quy luật tương liên và tương tác giữa mọi hiện tượng, bởi vì cá thể hành động và cá thể nhận lãnh hậu quả không liên hệ gì với nhau, mỗi cá thể tượng trưng cho một sự chấm dứt trọn vẹn.
Đó là một cách phá vỡ cấu trúc của hiện thực, tức không tôn trọng quy luật nối kết giữa mọi hiện tượng. Đấy là chưa nói đến sự mâu thuẫn trong cách biện luận vì giữa hai cá thể thì không có sự tương liên thế nhưng hành động thì lại tạo ra hậu quả.
3.2. Hãy lấy từ bi làm tôn giáo của mình:
Theo giáo lý nhà Phật, luật nhân quả được giải thích rằng mỗi sự việc xảy ra sẽ có một sự kiện khác đi theo sau đó. Hệ quả xảy ra có an lạc, hạnh phúc hay khổ đau, khó chịu, có lợi hay có hại cho người khác và cho chính mình, tất cả đều tùy thuộc vào nguyên nhân ban đầu của hành động đó. Luật nhân quả dạy rằng gieo gió sẽ gặp bão, trồng cam sẽ được quả ngọt, trồng chanh ắt phải hái trái chua, đem niềm vui đến cho người, mình sẽ được hạnh phúc, gây khổ đau cho người, mình sẽ chịu sự bất hạnh. Người ta không thể thoát khỏi nghiệp quả của mình một khi chính mình đã gây tạo. Có nhiều cách tạo ra nghiệp tốt để hóa giải đi những nghiệp xấu mà chính mình đã cố ý hay vô tình gây ra trước đó. Bài viết này xin cống hiến 12 cách mà bạn có thể làm được ngay trong kiếp này để đời sống của bạn thay đổi.
Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là theo tôn giáo hay mộ đạo. Người ta không cần phải là một tín đồ Phật giáo hay thuộc về tín ngưỡng nào đó để có thể tạo nghiệp tốt. Con người chỉ cần thể hiện thái độ tử tế ân cần với người khác. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nhắc nhở: “Tôn giáo của tôi là lòng từ bi”.
Như vậy đã tạo nghiệp tốt rồi, không phải chỉ tử tế với người khác trong chốc lát mà phải luôn luôn, suốt cuộc đời của mình, trong mọi phương diện của đời sống, trong mọi mối liên hệ, trong mỗi công việc làm, trong tất cả những giao tiếp; Khi chúng ta tiếp cận một việc gì mình làm, được thể hiện tấm lòng từ bi, thì khi đó chúng ta đang tạo nghiệp tốt, và đó là loại nghiệp tốt tạo ra hệ quả mà tất cả mọi người khác đều tử tế với mình. Đó là phương cách chắc chắn nhất để gây dựng cuộc đời mà trong đó những phiền não khổ đau sẽ tiêu tan.
3.3. khổ và nghiệp:
"Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Thôi đừng trách lẫn Trời gần Trời xa".
"Nghiệp" là những hành động có cố ý, có chủ tâm. Nếu có sự cố ý "ác", dù mới chỉ là ý ác hay là đã phát tác thành lời nói hoặc hành động ác, thì "ác nghiệp" cũng đã được hình thành và đeo đẳng chúng ta như một món nợ phải trả, nếu trả không xong kiếp này thì trả tiếp trong kiếp sau. Món nợ ấy chính là nỗi khổ não mà chúng ta đang có trong kiếp này. Ngược lại, nếu chúng ta đang được hạnh phúc, thì đó là sự tưởng thưởng cho "thiện nghiệp" ta đã tạo ra từ kiếp trước. Đó là luật "nhân qủa, nghiệp báo, luân hồi". Nói... dài dòng thế thôi, chứ ai cũng biết cả. Đạo lý này thể hiện ngay trong nếp sống hàng ngày của rất nhiều người, ví dụ những lời thề thốt "sẽ trả nợ ở kiếp sau vì kiếp này chẳng trọn tình nghĩa", hoặc "Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo", trong ngôn ngữa giao tiếp thì có "tội nghiệp", "nghề nghiệp".... v.v...
Kiếp này... kiếp sau, chẳng ai thấy bao giờ, vì thế mới cần niềm tin. Nếu một người có niềm tin vững chắc vào luật "nhân qủa, nghiệp báo luân hồi" thì khi gặp những nỗi bất hạnh khổ não, người ấy vẫn được an nhiên tự tại, không than van sầu khổ, oán trách số phận hay người khác, vì người ấy tin rằng nỗi bất hạnh ấy là kết qủa của ác nghiệp chính mình tạo ra trong qúa khứ hay từ kiếp trước, bây giờ mình phải trả nợ. Trả nợ bằng cách nào? -- chỉ có một con đường duy nhất là lấy "thiện nghiệp" để trả nợ cho "ác nghiệp", tức làm điều lành như bố thí, phóng sinh, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối... sống hiền lành không xung đột gây gỗ với ai... Làm càng nhiều điều lành càng tốt để trả dứt nợ cũ và tích lũy thêm "thiện nghiệp" dành cho mai sau hoặc kiếp sau được sống hạnh phúc. Đấy là sự diệu dụng của luật "nhân quả, nghiệp báo luân hồi".
3.4. Tánh chất của Nghiệp:
Nghiệp có thiện tánh, ác tánh, vô ký tánh. Tuy nhiên chỉ có ác và thiện tánh mới là nghiệp, chứ vô ký tánh không đủ sức mạnh tạo thành quả nên không gọi là nghiệp.
Nhưng sao gọi rằng thiện, ác, vô ký?
Luận Bà Sa cuốn 11 nói: "Nếu pháp gì hay chiêu cảm quả khả ái, khả lạc thì gọi là thiện, nếu chiêu cảm quả báo không khả ái, không khả lạc thì gọi là ác; trái với cả hai sự đó thì gọi là vô ký".
Luận Câu Xá 15 nói: "Nghiệp an ổn hay chiêu cảm quả báo khả ái, và Niết-bàn, tạm thời và vĩnh viễn xa lìa thống khổ gọi là thiện. Nghiệp không an ổn hay chiêu cảm quả báo bất khả ái gọi là ác. Còn nghiệp trái hai tánh trên gọi là vô ký. Ðây là căn cứ vào sự cảm quả để phân biệt ba tánh thiện, ác, vô ký.
Luận Câu Xá 13 lại còn căn cứ vào nguyên do để chia ba tánh thiện, ác, vô ký, mỗi tánh đều có bốn thứ là: Thắng nghĩa, Tự tánh, Tương ưng, Ðẳng khởi.
1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ có Niết-bàn, vì Niết-bàn an ổn vĩnh viễn bặt dứt dấu vết thống khổ. Thắng nghĩa có nghĩa là tuyệt đối.
2. Tự tánh thiện: Chỉ cho năm tâm sở: Tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si. Năm tâm sở này tự thể nó là thiện chứ không phải nhờ vào cái khác mới thiện. Mọi sự thiện đều lấy nó làm gốc.
3. Tương ưng thiện: Chỉ những tâm sở như: Tín, cần, khinh an v.v... nhờ tương ưng, tương hợp với năm tâm sở tự tánh thiện trên kia mà thành chứ tự thể nó không phải là thiện.
4. Ðẳng khởi thiện: Chỉ cho thân ngữ thiện nghiệp là do sự phối hợp bằng nhau giữa tự tánh thiện và tương ưng thiện mà có.
4. NGHIỆP ĐƯỢC GIẢI THÍCH THEO LUẬN CÂU XÁ:
Thuyết minh về thể tánh của nghiệp là đề cập đến hai nghiệp, ba nghiệp, năm nghiệp. Hai nghiệp là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Chính sự hoạt động phân biệt suy từ trong nội tâm, đó là Tư nghiệp. Từ đó phát sinh ra hành động và nói năng nơi thân và miệng, đó là Tư dĩ nghiệp. Lại từ hai nghiệp này chia ra làm ba nghiệp là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp và Ý nghiệp. Thân nghiệp, Ngữ nghiệp tức là Tư dĩ nghiệp. (Do tư duy, cố ý rồi mới phát sinh ra hành động) còn ý nghiệp tức là tư nghiệp. Lại từ ba nghiệp này chia ra năm nghiệp, tức từ Thân nghiệp chia ra Thân biểu nghiệp, và Thân vô biểu nghiệp, từ Ngữ nghiệp cũng chia ra Ngữ biểu nghiệp và Ngữ vô biểu nghiệp. Như đồ biểu dưới đây:
Tư nghiệp Ý nghiệp Ý nghiệp
Tư dĩ nghiệp Thân nghiệp Thân biểu nghiệp
Thân vô biểu nghiệp
Ngữ nghiệp Ngữ biểu nghiệp
Ngữ vô biểu nghiệp
Bất luận làm một việc gì, trước tiên ta suy nghĩ tính toán việc đó và cố ý làm cho được, đó là ý nghiệp. Khi sự tính toán cố ý được phát động ra nơi thân với những nét biểu lộ rõ rệt trông thấy được, đó gọi là Thân biểu nghiệp. Nhưng trong khi đang khởi lên Thân biểu nghiệp, bên trong nội tâm vẫn có một năng lực vô hình không biểu lộ rõ rệt, nó cứ theo luật nhân quả kích động thúc đẩy thân hành động hoặc đừng hành động, đó là Thân vô biểu nghiệp, vì năng lực này tiềm ẩn khó trông thấy được, Ngữ biểu nghiệp và Ngữ vô biểu nghiệp cũng tương tự như vậy.
Nghiệp là sự hoạt động tư duy của nội tâm, cố nhiên lấy tâm sở Tư làm thế. Tâm sở tư này có ba giai đoạn: Ðầu tiên là thẩm lự tư, tức sự suy nghĩ lựa chọn, tiếp đó là quyết định tư tức sự quyết định sau khi đã phân biệt chọn lựa, sau hết là phát động tư tức tư trong khi phát động ra nơi thân và khẩu. Tư tâm sở có khả năng khiến thân thể vận động gọi là động thân tư. Chính cái động thân tư là thể của thân biểu nghiệp. Tư tâm sở có khả năng phát động ra ngôn ngữ gọi là phát ngữ tư. Chính cái phát ngữ tư này làm thể của ngữ biểu nghiệp.
Nghiệp có nghĩa là tạo tác, mà tạo tác tức là tư tâm sở, hay sự cố ý. Chính cái tư tâm sở đó dựa nơi thân phát hiện, gọi là thân nghiệp, dựa nơi miệng phát hiện gọi là ngữ nghiệp, dựa nơi ý phát động gọi là ý nghiệp. Ba nghiệp sở dĩ khác nhau vì có thân, ngữ, ý khác nhau, chứ thực thể không ngoài tư tâm sở.
Ngoài các loại nghiệp nói trên, luận Câu Xá cuốn 17 còn đề cập hai thứ Dẫn nghiệp và Mãn nghiệp. Dẫn nghiệp là nghiệp dẫn đến quả báo chung (cựu dịch là Tổng báo nghiệp); Mãn nghiệp là nghiệp dẫn đến quả báo riêng (Cựu dịch là Biệt báo nghiệp). Ví như loài người tuy không đồng nhau về cơ thể trai, gái, lớn, bé, mập, gầy, xấu, đẹp, cao, lùn, mạnh, yếu; về trí tuệ sáng, tối, lanh, chậm; về tánh tình lành, dữ, nhiều tham sân si ngã mạn, ít tham sân si ngã mạn, cho đến sang, hèn, thọ, yểu, cuộc đời suông sẻ hay gặp khó khăn... nhưng vẫn là đồng nhất dưới dạng con người chứ không phải trời, hay thú vật. Nguyên nhân đưa đến kết quả đồng nhất đó gọi là Dẫn nghiệp. Còn mọi sự bất đồng về cơ thể, trí tuệ, tánh tình giữa người này và người khác, đó gọi là biệt báo và nguyên nhân đưa đến biệt báo đó gọi là Mãn nghiệp. Vậy khi nghiệp thiện hoặc ác mà phải sanh đến cõi lành hay cõi dữ, đó là do Dẫn nghiệp. Tuy đồng sanh ra ở cõi lành hoặc dữ nhưng từ cơ thể đến tánh tình, không ai giống ai, đó là do Mạng nghiệp gây nên.
-- Luận Câu Xá 17 giải thích rằng: "Nhất nghiệp dẫn nhất sanh, đa nghiệp năng viên mãn". Do một nghiệp dẫn sanh một đời, do nhiều nghiệp làm cho trọn vẹn.
Ví như người thợ vẽ, phác họa hình dáng một đồ hình tổng quát là một con người hay một con trâu chẳng hạn, đó ví dụ cho Dẫn nghiệp; lại từ trên đồ hình đó tô vẽ thêm đủ các bộ phận, màu sắc đây ví dụ cho Mãn nghiệp.
5. NGHIỆP VÀ VÔ NGÃ:
Có một số người cho rằng, học thuyết “Nghiệp” và học thuyết “Vô ngã” ở trong Phật giáo mang ý nghĩa mâu thuẫn. Lý do mà họ đưa ra quan điểm này, vì học thuyết Nghiệp của Phật giáo mang ý nghĩa lý giải mối quan hệ giữa nhân và quả. Người làm ác ắt hẳn thọ nhận hậu quả xấu, người hành thiện chắc chắn hưởng quả báo lành. Thế nhưng, học thuyết Vô ngã mang ý nghĩa bài xích có một chủ thể thường hằng bất biến, đó là Ngã (àtman). Nếu cho rằng không có ngã thường hằng, ai là kẻ tác nhân và ai là kẻ đi thọ nhận hậu quả của hành động. Do vậy, họ đưa đến kết luận : Học thuyết Nghiệp và Vô ngã của đạo Phật mang tính mâu thuẫn lẫn nhau. Ðứng về mặt luận lý học, lập luận như vậy là lập luận hợp lý, nhưng xét về mặt nhân cách và tư tưởng của đức Phật, thì lẽõ nào đức Phật là một người tự xưng là bậc giác ngộ hoàn toàn, đầy đủ trí tuệ, thấy và biết như thật, lại không thấy điểm mâu thuẫn này sao? Phải đợi đến những người hậu thế mới phát hiện điểm mâu thuẫn này? Nếu như chúng ta cho rằng lời dạy của ngài là sự nhất quán về ý nghĩa, thì vấn đề này chúng ta giải thích như thế nào?
5.1. nghiệp là nền tảng của đạo đức:
Học thuyết Nghiệp của đạo Phật không giống những học thuyết nghiệp của những Tôn giáo khác. Học thuyết nghiệp của Phật giáo được xây dựng trên nguyên tắc Duyên khởi, là chân lý của cuộc đời, vì nó không có một sự vật trong thế gian, cũng như không có một tư duy, tư tưởng nào của con người được thành lập ngoài nguyên tắc chung này. Đó là lý do tại sao rong “Kinh Tạp A Hàm”, đức Phật dạy:
“Pháp Duyên khởi không phải là pháp do ta tự tạo ra, cũng không phải do người khác tạo ra. Như Lai có xuất hiện ở đời hay Như Lai không xuất hiện ở đời, thế gian vẫn vận hành theo nguyên tắc Duyên khởi này...”.
Ðây là lời đức Phật xác định giá trị của pháp Duyên khởi, nó là quy luật tự nhiên của vũ trụ, dù đức Phật có nói hay không nói thì quy luật này vẫn tồn tại và mọi vật vận hành theo quy luật này, đức Phật chỉ là người đầu tiên khám phá qui luật này mà thôi. Có thể nói, không những chỉ có giáo lý Duyên khởi mà hầu như toàn bộ giáo lý của Ngài đều mang đặc tính như thế, nếu chúng ta nghiên cứu một cách nghiêm túc sẽ thấy điều đó. Chẳng qua, người làm công tác truyền bá giáo lý của ngài còn nhiều giới hạn, hơn nữa mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tâm tư tình cảm, tập tục tín ngưỡng của từng địa phương cũng khác nhau, vì muốn truyền bá giáo pháp của Ngài, cũng chính vì vậy lời dạy trong sáng của Ngài cũng theo đó bị đồng hóa những tín ngưỡng, những phong tục tập quán của dân gian, đây là điểm mà chúng ta cần lưu ý.
III. KẾT LUẬN:
Nghiệp (kamma) là một trong những giáo lý căn bản của Phật giáo. Nói đến nghiệp là nói đến đạo lý mối quan hệ giữa nhân và quả. Thông thường chúng ta hiểu và lý giải về đạo lý nhân quả trong đạo Phật mang tính vật lý hơn là góc độ tác dụng của tâm lý. Ví dụ, vì kiếp trước không bố thí cúng dường cho nên kiếp này bị nghèo khổ; hoặc vì kiếp trước không cúng hoa hương cho Phật cho nên kiếp này có thân hình xấu xí. Tại sao? không có lời giải thích. Cách giải thích nhân quả nghiệp báo đó là cách giải thích thiếu cơ sở luận chứng, đứng từ mặt hình thức phân tích, mối quan hệ giữa nhân và quả không chặt chẽ. Theo tinh thần Phật giáo, học thuyết Nghiệp hay thuyết nhân quả được đức Phật sử dụng, thường đề cập đến góc độ tâm lý nhiều hơn là vật lý. Nói đến nhân quả nghiệp báo là nói qui luật công bằng và phân minh. Với người có tâm nóng giận thì người ấy sẽ chịu hậu quả khổ đau về sự nóng giận đó; Người có lòng si mê cho nên người ấy sẽ chịu sự đau khổ về tâm si đó. Cái nhân của nó là sân, là si, cho nên có cái quả là khổ. Sân và si là trạng thái của tâm lý không phải vật lý, khổ cũng là trạng thái tâm lý, như vậy là mối quan hệ hợp lý và rất rõ ràng. Trong “Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt” có đề cập đến loại nhân quả nghiệp báo theo kiểu nhìn từ hình thức bên ngoài, nhưng đó là cách giáo dục cho người có trình độ Phật học còn kém, cho nên đức Phật phải sử dụng phương tiện này, để khích lệ cho quần chúng làm việc phước việc thiện . Đó là lý do tại sao đức Phật phải nói “Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt” nhằm mục đích nói lên quan điểm chính của Ngài về nghiệp đó là mối quan hệ nhân quả của tâm lý, không phải là những hình thức bề ngoài, vì người giàu người đẹp chưa chắc gì người đó có hạnh phúc; Người nghèo người xấu cũng chưa chắc gì họ đã khổ. Theo đạo Phật, nguyên nhân của hạnh phúc hay khổ đau khổ chính là có trí tuệ hay không có trí tuệ. Đây là quan điểm cơ bản của đạo Phật.
Nghiệp không phải là học thuyết riêng của Phật giáo, nó là học thuyết có trước Phật giáo, cụ thể là Kỳ Na giáo cũng có học thuyết Nghiệp. Nhưng quan điểm Nghiệp của Phật giáo và Kỳ Na giáo không giống nhau về mặt chủ trương giống nhau về danh xưng. Phật giáo chủ trương có ba nghiệp là thân khẩu và ý, Kỳ Na giáo cũng chủ trương như vậy. Nhưng sự khác nhau giữa hai tôn giáo là: Kỳ Na giáo rất chú trọng Thân nghiệp, xem Thân nghiệp như là động cơ chính của mọi tội lỗi, cho nên phái này chủ trương diệt nghiệp bằng cách tu khổ hạnh, có nghĩa là đày đọa thân xác này để giải trừ nghiệp chướng. Nhưng Phật giáo thì không chủ trương như vậy, trong ba nghiệp đặc biệt Phật giáo rất chú trọng đến Ý nghiệp, cho rằng Ý nghiệp là nguồn gốc của mọi hành vi thiện ác, muốn diệt trừ hành vi bất thiện, trước tiên phải sửa đổi nhận thức sai lầm. Do vậy, phương pháp tu tập trong Phật giáo là chuyển hóa nghiệp lực hay sửa đổi tâm tư bất thiện.
Nói đến Nghiệp là nói đến mối quan hệ nhân quả. Nói đến nhân quả là nói đến mối quan hệ logic giữa người tạo nhân và người thọ quả phải là một người, không thể nói ông A tạo nhân, ông B lại là người chịu quả. Nếu như vậy thì thuyết nhân quả và vô ngã trong Phật giáo có sự mâu thuẫn, vì nếu vô ngã thì ai là người tạo nhân và ai là người thọ nhận hậu quả? Vấn để ở đây cần phải tìm hiểu khái niệm “vô ngã” vốn đức Phật đã mô tả. Vô ngã tiếng Phạn là anatmam người Hoa dịch là phi ngã, vô ngã, có nghĩa là không có chủ thể. Khái niệm “Vô ngã” được hiểu là không có ngã, phủ nhận ngã tính, nhưng khái niệm “Phi ngã” là khái niệm mô tả “không thuộc của tôi” có nghĩa là tôi không làm chủ được cái gì cả. Từ những định nghĩa này cho thấy, chúng ta hiểu khái niệm anatmam như là vô ngã là sai với tinh thần đức Phật, vì đức Phật xác định rằng, có 5 yếu tố sắc thọ tưởng hành và thức kết thành cái gọi là ngã, trong đó cái nào là nguyên nhân chủ yếu? không, tất cả đều như nhau, do đó cái gọi là ngã đó chỉ là giả danh, nó không làm chủ được thân này, ngay cả bịnh đau già cả cũng không làm chủ được, thì làm sao gọi là ngã. Như vậy giữa khái niệm anatmam nên dịch là “Phi ngã” thì đúng hơn. Thế thì giữa khái niệm nghiệp và khái niệm phi ngã không có gì là mâu thuẫn.
Học thuyết Nghiệp báo của đạo Phật là học thuyết xây dựng đời sống có có hạnh phúc và an lạc cho con người, nó cũng là học thuyết xây dựng một xã hội lành mạnh và đạo đức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
a. Thích Minh Châu- Trung Bộ Kinh III, VNCPHVN 1996
b. Thích Minh Châu- Tăng Chi Bộ Kinh II,III, VNCPHVN 1996
c. Thích Minh Châu- Tương Ưng Bộ Kinh IV, VNCPHVN 1996
d. Thích Minh Châu- Trường Bộ Kinh I, II, VNCPHVN 1996
e. Thích Minh Châu- Thắng Pháp Tập Yếu Luận II, lưu hành nội bộ 1996
f. Thích Minh Châu- Kinh Pháp Cú, NXB Tôn Giáo 2000
g. Thích Minh Châu- Trung A Hàm Kinh, VNCPHVN 1996
h. Minh Chi- Các Vấn Đề Phật Học, NXB Tp. Hồ Chí Minh 1999
i. Minh Chi- Thuyết Bốn Đế, giáo án giảng tại Học Viện-lưu hành nội bộ 2005
j. Thích Quảng Độ-Tiểu Thừa PG Tư Tưởng Luận, lưu hành nội bộ 2000
k. Cao Hữu Đính- Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, lưu hành nội bộ 1997
l. Huệ Quang Phật Học Tự Điển, tập III, NXB Tổng Hợp TP. HCM 2004
m. [19]. Thích Giải Quảng- Giáp Trình Lịch Sử PG Ấn Độ, lưu hành nội bộ 2000
n. Thích Hoàn Quan- Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh, lưu hành nội bộ 1997
o. Thích Chơn Quang- Nghiệp Và Kết Quả, NXB Tôn Giáo 2000
p. Thich Trí Quang- Sa Di Và Sa Di Ni tập III, lưu hành nội bộ 1999
q. Thích Trí Quang- Kinh Di Giáo, lưu hành nội bộ 1999
r. Thích Trí Quang- Từ Bi Thủy Sám Văn, NXB Tôn Giáo 2004
s. Thích Thiền Tâm- Phật Học Tinh Yếu I,II,III, NXB Tp. HCM 1999
t. Phật Học Hàm Thụ – Nghiệp Báo, NXB Tp HCM 2000
u. Thích Thiện Siêu- Đại Cương Câu Xá Luận, NXB Tp. HCM 1992
v. Thích Thiện Siêu- Ngũ Uẩn Vô Ngã, NXB Tôn Giáo 1999
w. Thích Thiện Siêu- Luận Câu Xá NXB Tôn Giáo 2000
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét