THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

ÁP DỤNG TỨ NIỆM XỨ NGANG QUA SỰ HÀNH TRÌ GIỚI ĐỊNH TUỆ ĐỂ THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ GIẢI THOÁT

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: 1. GIỚI ĐỊNH TUỆ LÀ TẦM QUAN TRỌNG TRONG THIỀN HỌC: 1.1. Địa vị quan trọng của tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo: 1.2. Chúng ta phải học và thực hành pháp tứ diệu đế: 1.3. ánh sang là tuệ giác: 2. CON ĐƯỜNG TU TẬP GIỚI-ĐỊNH-TUỆ: 2.1. Tam vô lậu học là ba pháp môn thù thắng: 2.2. Giới - Định - Tuệ Con Đường Xuất Thế: 2.3. Tuệ giác của người tu: 3. GIÁC NGỘ VÀ GIẢI THOÁT TRONG TỨ DIÊU ĐẾ: 3.1. Người con phật với pháp tứ đế: 3.2. Chúng ta phải học và thực hành Tứ Diệu Đế như thế nào? 3.3. Phương tiên chính là nền tảng cứu cánh: 3.4. Giác ngộ là tri kiến như lai: 3.5. Vị trí tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo: III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: ÁP DỤNG TỨ NIỆM XỨ NGANG QUA SỰ HÀNH TRÌ GIỚI ĐỊNH TUỆ ĐỂ THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ GIẢI THOÁT I. DẪN NHẬP: Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ điệu đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: "Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ thánh đế" (Trung Bộ kinh I). Đức Phật cũng dạy: "Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra". Tứ Diệu Đế đã được đức Phật sắp đặt theo một thứ tự rất khôn khéo, hợp lý, hợp tình. Ngày nay các nhà nghiên cứu Phật học Âu Tây, mỗi khi nói đến Tứ Diệu Ðế, ngoài cái nghĩa lý sâu xa, nhận xét xác đáng, còn tóm tắt tán thán cái kiến trúc, cái bố cục, cái thứ lớp của toàn bộ pháp môn ấy. Trước tiên, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại của cõi đời. Cái thảm cảnh bi đát nầy có nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta; những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ được, chứ không phải những sự thật xa lạ ở đâu đâu. Ðã là một chúng sanh, ai không có sanh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết v.v... Và những trạng thái ấy đều mang theo tánh chất khổ cả. Ðã có thân, tất phải khổ. Ðó là một chân lý rõ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét. Khi chỉ cho mọi người thấy cái khổ ở trước mắt, ở chung quanh và chính trong mỗi chúng ta rồi, đức Phật mới đi qua giai đoạn thứ hai, là chỉ cho chúng sanh thấy nguồn gốc, lý do của những nỗi khổ ấy. Ngài đã từ hiện tại đi dần về quá khứ, đã từ bề mặt đi dần xuống bề sâu, đã từ cái dễ thấy đến cái khó thấy. Như thế là lý luận của Ngài đã đặt căn bản lên thực tại, lên những điều có thể chứng nghiệm được, chứ không phải xa lạ, viễn vong, mơ hồ. II. NỘI DUNG: 1. GIỚI ĐỊNH TUỆ LÀ TẦM QUAN TRỌNG TRONG THIỀN HỌC: Phật giáo là một ngôi nhà được xây dựng trên căn bản của sự giác ngộ thì Thiền định chính là nền móng vững chắc nâng đỡ ngôi nhà kiên cố ấy. Tất cả các kinh điển, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, Đức Phật cũng tuyên thuyết giáo lý của mình dựa trên cơ sở Thiền định. Thiền định là một từ ngữ đặc biệt sáng tạo của những thiên tài Trung Hoa, sau khi quán triệt giáo lý giác ngộ của Phật. Bởi lẽ nếu truy nguyên từ ngữ, Thiền định là từ gọi ghép của Thiền và Định. Khi chỉ nói Thiền hoặc nói Định, người ta có quyền phê phán hoặc phân tích rằng có sự thiên lệch giữa Định và Huệ, giữa Chỉ và Quán. Còn khi gọi chung Thiền định thì từ ngữ đã vượt qua nhị nguyên, bao hàm mọi khía cạnh của pháp tu và hiển nhiên không có sự đối đãi. Khổ nỗi, trong lý luận trạch pháp của người đời sau, phần nhiều hay chỉ ra sự khác biệt và hơn kém của Thiền và Định, từ đó mới có sự khích bác nhau về phương pháp thực hành. Thế rồi, kinh nghiệm trực giác của Thiền tông vô tình phủ lên vấn đề một màn sương đầy bí nhiệm đối với sự học giải, khiến cho mỗi lần ai đề cập đến chuyện Ngộ là bị đấm ngay một câu hỏi đầy cản trở: Chưa ngộ thì làm sao nói đến chuyện ngộ? Quả là nếu không uống nước thì không thể biết được nước nóng hay lạnh, thậm chí đối với người thực hành thiền định thâm sâu mà chưa chứng ngộ thì vẫn không thể nói chính xác được sự giác ngộ. Nhưng chẳng lẽ các cánh cửa đều đóng kín? Phương tiện nào dành cho những kẻ sơ cơ? Cách thức hiểu rõ một bài kinh hay nhất là tụng thật kỹ bài kinh ấy chứ không phải là xem qua luận giải của người sau. Chẳng hạn khi được học pháp Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Xứ trong Tứ Diệu Đế, có thể tư tưởng của ta đã bị đóng khung bởi khái niệm mà một số học giả thừờng cho rằng thuộc Tiểu thừa, thậm chí bị phân biệt bởi cái tên hàm ý thấp kém: Như Lai Thiền, nghĩa là không đặc biệt như Tổ Sư Thiền. Nhưng khi tụng kinh Tứ Niệm Xứ, ta thấy rằng từng câu chữ trong kinh không bao giờ có sự thiên lệch. Ba môn học vô lậu: Giới, Định, Huệ gần như có mặt ø cùng khắp trong tất cả các kinh điển. Có khác chăng là một số kinh điển đề cao khía cạnh Phật của sự giác ngộ, như kinh Pháp Hoa chẳng hạn, thì trái lại, Thiền tông lại đề cao tinh thần giác ngộ của Phật tánh. Trong các tông phái Phật giáo, mục đích giác ngộ có thể được diễn tả khác nhau về tên gọi, nhưng cách thức để đạt đến không nằm ngoài Thiền Định, dù đó là Hiển giáo hay Mật giáo. Do vấn đề giáo lý có sâu cạn khác nhau nên cảnh giới ngộ có sự sai biệt. Tiểu thừa đoạn hết phiền não trong ba cõi, chứng lý tịch diệt. Tông Duy Thức của Đại thừa thì nói về sự ngộ nhập Duy Thức tánh. Tam luận tông đề xướng đến chỗ cái không bất khả đắc, Hoa Nghiêm nói chứng nhập Thập Phật cảnh giới, Thiên Thai nói chứng Chư pháp thật tướng, Thiền tông thì lại chủ trương Kiến tánh thành Phật. 1.1. Địa vị quan trọng của tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo: Tứ Diệu Ðế là giáo lý căn bản của đạo Phật, không phải riêng đối với Tiểu Thừa mà chung cho cả Ðại Thừa nữa. Người tu hành muốn có một kết quả chắc chắn, không thể bỏ qua Tứ Diệu Ðế được. Pháp môn nầy, tuy tiến chậm, nhưng khi tiến được bước nào là chắc bước nấy. Pháp môn nầy tuy không đưa thẳng người tu hành đến quả vị Phật, nhưng với một sự tinh tấn và quyết tâm nó có thể dễ dàng đưa người tu hành đến quả vị A La Hán. Rồi từ quả vị A La Hán, hành giả sẽ tu thêm một pháp môn khác của Ðại Thừa, để tiến đến quả vị Phật. Căn cơ nào, trình độ nào cũng có thể tu theo pháp môn nầy được, chứ không phải như một số pháp môn khác, phải cần có một trình độ học thức cao và một trí tuệ trên mức trung bình mới có thể theo được. Vì thế, nó là một pháp môn phổ thông cho cả hai phái Tiểu Thừa lẫn Ðại Thừa, Nam tông và Bắc tông. Ngày nay pháp môn này là pháp môn được phổ biến nhất trên thế giới. Các Phật tử Âu Mỹ hầu hết đều tu theo pháp môn nầy và những tập sách nghiên cứu về đạo Phật, của những nhà Phật học tây phương đều nói nhiều nhất về Tứ Diệu Ðế. 1.2. Chúng ta phải học và thực hành pháp tứ diệu đế: Một giáo lý căn bản, quan trọng như Tứ Diệu Ðế, người Phật tử không thể không hiểu được. Không hiểu biết về Tứ Diệu Ðế là không hiểu biết gì về giáo lý đạo Phật cả. Người Phật tử, hơn ai cả, phải thấu triệt cõi đời là khổ. Muốn thế, không gì hơn là hãy lắng nghe đức Phật dạy về Khổ đế, vì chỉ có Khổ đế mới nói lên một cách tường tận đầy đủ, chính xác về mọi nỗi khổ đau của cõi đời. Thấy rõ được mọi nỗi khổ đau rồi, ta cần tìm hiểu vì đâu có khổ, nguyên nhân của khổ là đâu. Vì chỉ khi nhận thấy được nguồn gốc của nó, mới có thể diệt trừ tận gốc nó được. Ðiều này, cũng không chỗ nào nói rõ ràng, phân tích ràng mạch bằng Tập đế. Nhưng thấy được mọi nỗi đau khổ của cõi đời và nguồn gốc của nó, không phải để mà chán ngán, khóc lóc, rên siết. Nếu thế thì không có gì tiêu cực bi quan bằng. Một số dư luận tưởng lầm đạo Phật là yểm thế bi quan là vì họ đã dừng lại ở hai phần đầu của Tứ Diệu Ðế. Nhưng người Phật tử không dừng lại đó. Ðã thấy đau khổ làm cho cuộc đời xấu xa, đen tối, khổ đau, thì phải diệt trừ đau khổ. Hạnh phúc không đâu xa, hạnh phúc hiện ra sau khi đã diệt trừ được đau khổ. Ðau khổ lùi chừng nào thì hạnh phúc đến chứng ấy, như bóng tối tan đi đến đâu thì ánh sáng thay vào đến đó. Muốn thấy ánh sáng của Niết Bàn thì phải thực hiện những lời dạy của Phật trong Diệt đế. Muốn thực hiện Niết Bàn thì phải có đủ phương tiện. Những phương tiện nầy, đức Phật đã cung cấp một cách đầy đủ trong trong Ðạo đế. Như thế, đức Phật Thích Ca đã làm đầy đủ nhiệm vụ của kẻ dẫn đường cho chúng ta đi từ cõi đời đen tối đến quả vị A La Hán. Ngài đã đặt vào tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn rõ ràng về cuộc hành trình và ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện cần thiết trong chuyến đi vĩ đại ấy. 1.3. ánh sang là tuệ giác: Trong hành tinh này, ánh sáng là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với con người và vạn vật đang hiện hữu. Ánh sáng tạo nên sự quang hợp hữu cơ của các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên, là chất liệu để giúp cho muôn hoa được đâm chồi trổ nhụy và hiến tặng cho đời những đóa hoa tươi thắm nhất. Ở một khía cạnh khác của cuộc sống, ánh sáng sẽ làm xua tan đi những bóng đêm tăm tối của cuộc đời. Ánh sáng trong Đạo Phật được nói đến với tên gọi là Trí tuệ. Trí tuệ ấy sẽ là ngọn hải đăng đưa người vượt qua biển mê, là ngọn đèn soi đường dẫn lối đưa hành giả đi vào đạo lộ giải thoát. Với ý nghĩa thiêng liêng ấy, Đức Phật đã giảng dạy trong trong Kinh Tăng Chi Bộ về bốn loại ánh sáng. Kinh chép như sau: Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn ?Ánh sáng mặt trăng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng ngọn lửa, ánh sáng trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ. Tại sao Trí Tuệ là ánh sáng tối thượng nhất trong bốn loại ánh ? Bởi vì ánh sáng của Trí Tuệ luôn là yếu tố cần thiết và cũng là chi phần đầu tiên trên bước đường đoạn tận các lậu hoặc, chứng ngộ giải thoát. Điều này được minh chứng trong kinh A Hàm, Đức Phật đã nêu lên sự sai khác của người ngu và người trí. Trong đó sự sinh khởi của nguy hiểm, tai họa, tức giận hay bị vô minh tham ái che lấp, làm cho hành giả không thể vượt thoát sanh tử khổ đau chỉ hiện hữu trong người ngu. Còn trái lại đối với người trí thì tất cả những khổ đau trên đã nêu đều vắng bặt. 2. CON ĐƯỜNG TU TẬP GIỚI-ĐỊNH-TUỆ: Mục đích tối hậu của Phật giáo là giải thoát, thực chứng Niết Bàn. Cho nên toàn bộ những lời dạy của Đức Phật chỉ nhằm đưa người ta đến cái biết, cái nhìn đúng thực tại. Suy cho cùng thì mọi học thuật trên thế gian cũng chỉ nhằm mục đích trình bày cái sở kiến, cái biết mà thôi. Nhưng cái sở kiến, cái biết của thế gian chỉ là cái biết bề ngoài, tức là cái biết chưa trọn vẹn. Cái biết trọn vẹn có công năng chiếu rọi, thấu nhập vào mọi sự, trạng thái biết như vậy gọi là Giác, Đại Giác, Chứng ngộ, Giải thoát vậy. Đó là cái biết của chư Phật, là cả một khối nhất như của toàn bộ thực tại không thể phân chia, không thể nghĩ bàn. Giáo lý của Đạo Phật là nhằm đưa một người bình thường từ cái biết chưa trọn vẹn, đến cái biết trọn vẹn, cái biết tối thượng. Trong mục tiêu đó, Phật giáo chia cái học về thực tại vốn đồng nhất, tròn đầy này ra làm ba mặt: Giới học - Định học và Tuệ học. Ba môn học Giới – Định – Tuệ cũng được gọi là ba môn học vô lậu. Trên phương diện thế gian ba môn Giới – Định – Tuệ đưa người học đến kết quả hữu lậu trong tam giới, chưa liễu thoát sinh tử nên gọi là Tam học. Trên phương diện xuất thế gian ba môn này đưa hành giả đến quả vị vô lậu không còn rơi rớt trong vòng hữu lậu, mà siêu xuất ngoài tam giới nên gọi là Tam vô lậu học. 2.1. Tam vô lậu học là ba pháp môn thù thắng: Về Tam học, chúng ta thấy Giới - Định - Tuệ có mối tương quan mật thiết với nhau. Đây là ba mặt của một thực tại, cho nên trong Giới có Định, có Tuệ; trong Định có Giới, có Tuệ; trong Tuệ có Giới, có Định. Mức độ thăng hoa của một trong ba chi phần này có liên quan đến hai chi phần kia. Có Tuệ mới biết đâu là Giới, mới định được tâm; càng thực hiện Giới tức là càng thực hiện các quy luật tự nhiên, càng hiểu biết về thực tại hơn, từ đó mới hiểu được tâm, ổn định tâm; có ổn định được tâm thì tâm mới thanh tịnh, cái biết từ đó sẽ rõ ràng và đưa đến Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Mối quan hệ biện chứng này đã được Đức Phật xác chứng:“ Tay trái làm sạch tay phải, tay phải làm sạch tay trái. Đây cũng thế, có trí tuệ thì có giới hạnh, có giới hạnh thì có trí tuệ. Giới hạnh làm thanh tịnh trí tuệ, trí tuệ làm thanh tịnh giới hạnh”. Mục đích của mỗi người xuất gia là để giải thoát sinh tử, thực chứng Niết Bàn. Cho nên việc tu học Giới - Định - Tuệ là một việc đương nhiên. Trong quá trình tu tập của Giới - Định - Tuệ đó, đối với hàng hữu học, thì không thể có cái học chuyên biệt về một chi phần nào mà không liên hệ đến hai chi phần kia. Thế nên bậc Cổ đức nói: Buộc tâm lấy Giới làm dây Lắng tâm lấy Định dựng xây đạo tràng Rõ tâm đuốc tuệ soi đàng Tâm không cảnh tịch Niết Bàn an vui. 2.2. Giới - Định - Tuệ Con Đường Xuất Thế: Rải rác trong Tam tạng Giáo điển, chúng ta gặp những lời dạy của Đức Phật cho chúng đệ tử về Tam Vô Lậu Học; đó là Giới, Định và Tuệ. Sỡ dĩ gọi là Tam Vô Lậu Học vì đây là ba môn giúp hành giả tu tập để thoát khỏi khổ đau, phiền muộn ngay trong hiện tại. Giới Định Tuệ là con đường xuất thế của những bậc thượng sĩ mà người xuất gia đệ tử Phật luôn quan tâm học hỏi, tu tập để đạt mục tiêu tối hậu của mình là thực chứng Niết Bàn. Giới, Định và Tuệ vốn là ba mặt của một thực tại. Nếu tu tập đúng pháp chúng ta sẽ thấy rằng trong Giới luôn có Định và Tuệ; cũng vậy, trong Tuệ vốn có sẵn Giới và Định. Kinh Trường Bộ IV, Kinh Sonadanda, Đức Phật dạy: Ở đâu có Giới hạnh, ở đó có Trí tuệ. Ở đâu có Trí tuệ, ở đó có Giới hạnh. Người có Giới hạnh nhất định có Trí tuệ, người có Trí tuệ nhất định có Giới hạnh. Giới hạnh và Trí tuệ là tối thắng nhất trên đời. Trong quá trình tu tập Giới Định Tuệ, chúng ta thấy mức độ thăng tiến của ba chi phần này luôn có sự liên quan hỗ tương lẫn nhau. Khi Giới được tăng trưởng thì Định và Tuệ cũng sẽ tăng trưởng theo. Giới Định Tuệ được xem là nội dung cốt yếu cho sự tu học của các vị Tỳ-kheo trong thời Đức Phật còn tại thế. Đây là con đường duy nhất mà một vị Tỳ-kheo phải kinh qua để tiến đến Giác ngộ, Giải thoát. Tu học chính là tu học về Giới, Định và Tuệ. Có thể nói rằng Giới Định Tuệ là cốt lõi của toàn bộ giáo lý đạo Phật nên vào những ngày cuối cùng của đời mình, trên đường từ thành Vương Xá đến thành Câu Thi Na để nhập Niết Bàn, Đức Phật luôn giảng đi giảng lại về Giới Định Tuệ cho các Tỳ-kheo và các hàng đệ tử. 2.3. Tuệ giác của người tu: Với tuệ nhãn tinh khiết siêu phàm, Đức phật thấy chúng sanh chết từ kiếp này tái sinh vào một kiếp khác, rồi với bao nhiêu cảnh tượng sang hèn đẹp xấu, khổ vui sinh diệt tùy thuộc vào hành vi tạo tác của mỗi người. Tất cả đều do chúng sanh tạo nghiệp, rồi từ năng lực của nghiệp này trở lại dẫn chúng sanh đi trong các đường, thọ các thứ quả báo khác nhau. Khi dùng tuệ giác thấy rõ những kiếp sống của mình và của tất cả chúng sanh, mọi tăm tối vô minh điên đảo từ vô lượng kiếp không còn nữa, trí tuệ của Thế Tôn càng siêu việt, càng trùm khắp hơn. Cho nên chúng ta tu theo pháp của Phật là không còn chấp ngã nữa, vì thấy thân tâm này hư giả, không thật, trôi lăn nhiều đời nhiều kiếp đến nay, thọ nhận biết bao khổ báo. Nhờ xả bỏ hết nên đạt được trí tuệ thanh tịnh giải thoát hoàn toàn. Học hiểu Phật pháp rồi, chúng ta thấy bản thân mình có thể thực hiện được trí tuệ, bằng cách lắng buông những vọng tưởng lăng xăng. Khi đó tâm định yên định thì tuệ phát ra. Phát huy được tuệ giác như thật rồi thì cuộc sống này, thân này, tâm này và tất cả mọi hiện tượng chung quanh, ta có thể làm chủ được. Định tuệ đầy đủ, chúng ta cũng có thể chứng được Túc mạng minh, Thiên nhãn minh như Phật vậy. Nên nói về trí giác, thì ai cũng có thể tu tập và thành tựu được. Điểm ưu việt của đạo Phật là nói lên tinh thần toàn giác và phần giác, tức sự tự do trong từng pháp tu, từng công phu của mỗi người. Tùy trình độ, tùy công phu mà chúng ta được phần giác hay toàn giác, mỗi người thực hiện tu tập theo khả năng của mình. Đó là niềm vui, sự phấn khởi, độc lập không bị lệ thuộc của người tu Phật. Như nói đến pháp tu thiền là nói đến tự tại, giải thoát. 3. GIÁC NGỘ VÀ GIẢI THOÁT TRONG TỨ DIÊU ĐẾ: Nhìn từ một góc độ khác, sự giác-ngộ có thể được xem là sự tuệ tri về Bốn Chân Lý Thánh hay Tứ Diệu Đế (P. Cattàri Ariya Saccàni)Tứ Diệu Đế bao gồm thực trạng đau khổ của mọi hiện hữu hay khổ đế (dukkha ariya sacca), nguyên nhân gây ra các đau khổ của hiện hữu hay tập đế (dukkha samudaya ariya sacca), trạng thái vắng mặt toàn bộ khối đau khổ hay diệt đế (dukkha nirodha ariya sacca) và con đường thánh đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ hay đạo đế (dukkha nirodha gàmini-pa.tipadà ariya sacca). Kinh điển ghi chép rằng tiến trình giải thoát của đức Phật được khởi đi bằng sự tuệ tri về bản chất đau khổ của đời sống thế tục; kế đến là tâm hạnh kiên quyết muốn thoát khỏi tình trạng thế tục của cuộc sống đau khổ đó, và sau cùng là sự chứng đạt Niết-bàn bằng con đường thiền định về bốn chân lý thánh. Thật rõ ràng để thấy rằng Tứ Diệu Đế biểu thị một phương pháp thực nghiệm tâm linh hay khảo sát một đối tượng như chúng thật sự là: thấy một đối tượng, xác định nguồn gốc của nó, biết chắc tình trạng vắng mặt của nó như thế nào, và các phương pháp để đạt được trạng thái đó. Tứ Diệu Đế còn được sánh ví với tiến trình của y học trước một căn bệnh: chứng bệnh, nguyên nhân gây bệnh, trạng thái lành bệnh, và những phương thuốc chữa trị. Cũng vậy, Đức Phật như một vị lương y về sự tu tập tinh thần đã chỉ rõ cho chúng ta thấy về bốn giai đoạn của một quá trình thực nghiệm tâm linh, vượt thoát khỏi mọi đau khổ: nhận chân rõ bản chất khổ của những sự vật ở đời, xác định nguyên nhân phát sinh những sự khổ ấy, trạng thái vắng mặt đau khổ, và những phương pháp diệt trừ đau khổ. 3.1. Người con phật với pháp tứ đế: Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản, là một pháp môn phổ thông chắc chắn đạt đến kết quả chứng ngộ chân lý, thoát khỏi luân hồi đau khổ được an vui tự tại. Bằng pháp Tứ Diệu đế, Đức Phật đã chỉ ra rõ ràng cho chúng ta thấy hai cảnh giới tương phản: Phiền não khổ đau và Niết bàn an tịnh, đồng thời vạch ra hai con đường ngược nhau là con đường đi vào mê lầm tội lỗi và con đường hướng đến hào quang trí giác sáng lạng. Vì vậy, người Phật tử phải học tập Tứ Diệu Đế trước hết nhận chân thực chất cuộc sống là khổ đau mà nguyên nhân là bởi mê lầm chấp trước vọng động của chính bản thân mình gây ra. Khi đã nhận rõ chân lý đau khổ của cuộc đời ( Khổ đế) và nguồn gốc của mọi thống khổ ( Tập đế), người Phật tử không than thở khóc lóc, van xin cũng không bi quan tiêu cực, trốn đời mà cần phải tích cực chiến đấu để diệt trừ khổ đau đen tối đạt đến hạnh phúc tươi sáng ( Diệt đế), có nghiã là Phật tử phải phấn đấu thực hành những phương pháp tu hành, những phương tiện mà Đức Phật đã chỉ dạy trong Đạo đế. Cuộc hành trình từ bến mê trầm luân đến bờ giác ngộ giải thoát thật khó khăn gian khổ, nhưng tất cả mọi người ai cũng có thể thực hiện và đến đích thành công, miễn là chúng ta đi đúng theo tấm bản đồ quí giá là pháp Tứ Diệu đế mà Đức Phật đã truyền giao cho. 3.2. Chúng ta phải học và thực hành Tứ Diệu Đế như thế nào? Người học Phật mà không hiểu biết về Tứ Diệu Ðế là không hiểu biết gì về giáo lý đạo Phật. Trước hết chúng ta phải nhìn rõ cuộc đời là khổ. Muốn thế, không gì hơn là hãy lắng nghe đức Phật dạy về Khổ đế, vì chỉ có Khổ đế mới nói lên một cách tường tận đầy đủ, chính xác về mọi nỗi khổ đau của cuộc đời. Nhận diện được mọi khổ đau rồi, ta cần tìm hiểu vì sao có khổ, nguyên nhân của khổ là gì. Vì chỉ khi nhận thấy được nguồn gốc của nó ta mới có thể diệt trừ tận gốc nó được. Ðiều này được trình bày rõ ràng, rành mạch qua Tập đế. Nhưng thấy rõ được những khổ đau và nguồn gốc của nó, ta không được bi quan, chán nản mà dừng lại ở đó. Ta phải tìm đường diệt trừ đau khổ. Hạnh phúc không đâu xa, hạnh phúc hiện ra sau khi đã diệt trừ được đau khổ. Ðau khổ lùi chừng nào thì hạnh phúc đến chừng ấy, như bóng tối tan đi đến đâu thì ánh sáng lan đến đó. Ngược lại của đau khổ là hạnh phúc, là niết bàn. Đó là những lời dạy của Phật trong Diệt đế. Muốn đạt tới Niết Bàn thì phải có đủ phương tiện. Những phương tiện này đức Phật đã cung cấp một cách đầy đủ trong trong Ðạo đế. Như thế, đức Phật Thích Ca đã đặt vào tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn rõ ràng về cuộc hành trình dẫn đến giải thoát và ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện cần thiết trong chuyến đi vĩ đại ấy. Chúng ta chỉ còn lên đường và bước đi ! 3.3. Phương tiên chính là nền tảng cứu cánh: Thiền định là nền tảng của quả giác ngộ. Nhưng để thành tựu Thiền định cần phải có nhiều phương tiện dành cho nhiều căn cơ khác nhau. Nghĩa là nếu không có phương tiện sẽ khó có được Thiền định. Vì vậy chúng ta có thể nói phương tiện để đạt được Thiền định cũng chính là nền tảng, là cứu cánh giác ngộ. Từ đây, Phật giáo được phát triển thành nhiều tông phái khác nhau, nhiều pháp môn khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên cơ sở giúp hành giả đạt được Thiền định. Nếu nghiên cứu Phật giáo bằng nhãn quan như thế, người học sẽ không bị vướng mắc bởi những chủ trương khác nhau giữa các tông phái. Nếu Giới – Định – Huệ được xem là ba môn học Vô lậu thì bất cứ pháp môn nào giúp hành giả trì giới tức đó là pháp môn đúng đắn. Trong kinh hay nói: “Nhân giới sanh định, nhân định pháp huệ”, theo thiển ý người viết, câu này nên hiểu là ngay nơi giới có định, ngay nơi định có huệ. Tất nhiên, căn cơ chúng sanh khác nhau nên có nhiều phương tiện. Điều đó không có nghĩa là tông phái này thấp hoặc cao hơn tông phái kia. Sự cao thấp chỉ có trong phương tiện của mỗi tông phái mà thôi. Đến với tông phái nào là do nhân duyên, hoàn cảnh, điều kiện của mỗi hành giả chứ không phải căn cơ cao thấp. Chẳng hạn Tịnh độ tông chủ trương Niệm Phật, hoặc là Trì danh, hoặc là Quán tưởng, hoặc là Thật tướng Niệm Phật, xét cho cùng có những phương tiện cao tột mà không phải căn cơ bình thường có thể thực hiện được. 3.4. Giác ngộ là tri kiến như lai: Từ một cách tiếp cận khác, giác ngộ trong Phật giáo còn có nghĩa là sự tuệ tri về bản chất "như thị" của mọi sự vật. Nghĩa là nhìn sự vật đúng như bản chất của chúng là, mà không hề có thêm vào bất kỳ mọi áp đặt, thuộc tính nào lên bản thân chúng. Kinh điển Đại thừa, nhất là kinh Pháp Hoa đã triển khai một cách rốt ráo thái độ nhận thức đúng với bản chất của sự vật thành nguyên lý "thập như thị" đó là: như thị tánh, như thị tướng, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh. Giá trị đạo đức của cách nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng là, nằm ở chỗ nó giúp cho hành giả không chấp thủ vào thế giới ngoại tại và thế giới cảm xúc và phản ứng của chúng. Nhờ vậy hành giả có thể sống ung dung tự tại trong đời, vượt thoát khỏi mọi trói buộc. Một khi trói buộc không còn, tâm hành giả sẽ giải thoát và sự giải thoát đó được thực hiện bằng trí tuệ. 3.5. Vị trí tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo: Như trên đã trình bày, tứ Diệu đế là nền tảng của giáo lý đạo Phật, không phải riêng giáo lý Nguyên thủy mà giáo lý Đại thừa cũng vậy. Giáo lý Đức Phật thuyết trong 45 năm, được chia là năm thời nhưng tựu trung không ngoài tứ Diệu đế, chỉ sai khác ở thời gian trình bày, địa điểm trình bày và hình thức trình bày mà thôi. Ngài Xá-lợi-phất, đệ tử thượng túc có trí tuệ đệ nhất của Phật đã ca ngợi giáo lý tứ Diệu đế như sau: "Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân mọi loài động vật đều nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân voi là lớn nhất trong tất cả các dấu chân về mặt to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong tứ Thánh đế. Như vậy, tứ Diệu đế là giáo lý nền tảng trọng yếu của Phật giáo, của con đường đi đến giải thoát. Cho đến nay, giáo lý này vẫn là giáo lý nền tảng của các bộ phái Phật giáo, không một nhà nghiên cứu nào có thể phủ nhận điều này. III. KẾT LUẬN: Con người đau khổ không phải vì thiếu thốn vật chất, tiền của, danh vọng, mà chính là vì vô minh. Sự mê muội làm cho con người chưa nhận thức đúng đắn bản chất của cuộc đời. Đạo Phật chỉ dẫn cho con người một hướng đi, một lối thoát, cung cấp phương tiện để cho con người khai mở kho tàng trí tuệ của chính mình. Định nghĩa về vô minh, Đức Phật dạy: "Chính là không biết rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, này các Tỳ kheo, đấy gọi là vô minh" (Tương Ưng V). Và ngược lại là minh, là trí tuệ. Dưới cái nhìn của trí tuệ, mối quan hệ duyên sinh của Bốn chân lý hiển lộ rõ ràng, thấy được một chân lý là thấy được toàn bộ chân lý. Đức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy nguyên nhân của khổ, thấy khổ diệt, thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được nguyên nhân của khổ, cũng thấy được khổ, thấy được khổ diệt và con đường đưa đến diệt khổ. Ai thấy được khổ diệt, cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được con dường đưa đến khổ diệt, thì cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ và sự diệt khổ" (Tương Ưng V). Nhận thức đúng như thế là Chánh kiến, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tu tập Bốn chân lý; nói cách khác, Chánh kiến đi hàng đầu trong mọi pháp môn. Nhận thức sáng tỏ ấy còn gọi là Kiến đạo. Giáo lý Bốn chân lý vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xã hội đương thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con người và xã hội hiện đại. Đặc tính của giáo lý Tứ diệu đế là con đường Trung đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Giáo lý Tứ diệu đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đã dạy. Giáo lý Tứ diệu đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO: a. Đức Phật và Phật Pháp (Narada - Phạm Kim Khánh dịch) b. Đức Phật lịch sử (H.W. Schumann - Trần Phương Lan dịch) c. Đức Phật đã dạy những gì (W. Rahula - Trí Hải dịch) d. Ấn Độ Phật giáo sử luận (Viên Trí biên soạn) e. Kinh Tăng Nhất A Hàm – Tập 3 – Đại Tạng Kinh Việt Nam – 1997 f. Kinh Trung A Hàm – Tập 1 – Đại Tạng Kinh Việt Nam – 1992 g. Kinh Tăng Nhất A Hàm – Tập 3 – Đại Tạng Kinh Việt Nam – 1997 h. Đại tạng kinh Việt Nam, HT.Thích Minh Châu dịch, VCNPHVN, 1995. 2- HT. Narada. i. Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, VNCPHVN, 1998. 3. j. Kinh Pháp Cú, Phạm Kim Khánh dịch, 1971. 4- Maha Thongkham và Huỳnh Văn Niệm soạn dịch k. Chuyển Pháp Luân và Tứ Diệu Ðế, năm 1995, Sài Gòn. 5- PTS. Doãn Chính, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, NXB. Thanh Niên, HN, 1999. 6- PTS. Doãn Chính. l. Thích Minh Châu, Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, dịch năm 1986 m. Thích Minh Châu, Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm, Trung Bộ I, dịch năm 1992 n. Thch Minh Châu, Kinh Bốn Niệm Xứ, Trung Bộ I, dịch năm 1991 o. Thích Minh Châu, Trung Bộ I, dịch năm 1992

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét