THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
ÁP DỤNG TỨ NIỆM XỨ NGANG QUA SỰ HÀNH TRÌ GIỚI ĐỊNH TUỆ
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Giới là con đường duyên thành Phật Đạo:
1.1. Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già:
1.2. Ba Yếu Tố (Mục Đích) Của Việc Chế Giới:
1.3. Nền Tảng Xây Dựng Đạo Đức Theo Giới Luật Phật Giáo:
1.4. Giới luật phật giáo đối với dời sốn hiện tại:
2. Chánh Định trong Phật giáo:
2.1. Thiền định thực hành:
2.2. Các tầng thiền định:
2.3. Các loại thiền định:
2.4. Thiền định quán chiếu vào một chủ đề:
2.5. Phương tiện chính là nền tảng cứu cánh:
3. Con đường phát triển trí tuệ:
3.1. Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy:
3.2. Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa:
3.3. Tuệ giác biểu hiện:
3.4. Giác ngộ là tuệ tri về tứ diệu đế:
4. Tu tập Bốn chân lý:
4.1. Địa vị quan trọng của tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo:
4.2. Giáo lý về Trung đạo hay Con đường tám nhánh
4.3. Ứng dụng Giới – Định - Tuệ vào xã hội hiện tại:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
ÁP DỤNG TỨ NIỆM XỨ NGANG QUA SỰ HÀNH TRÌ
GIỚI ĐỊNH TUỆ
ĐỂ THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ GIẢI THOÁT
I. DẪN NHẬP:
Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: "Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế".
Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ điệu đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: "Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ thánh đế" (Trung Bộ kinh I). Đức Phật cũng dạy: "Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra".
Cho đến lúc sắp nhập Niết bàn dưới cây sa la song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lý Tứ đế: "Các thầy Tỳ kheo, đối với Bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp" (kinh Di Giáo, Trí Quang dịch).
Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ diệu đế đã được xác định bởi chính Đức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài. Trải qua hơn 2.500 năm, giáo lý Tứ diệu đế vẫn được tất cả các bộ phái Phật giáo, Nguyên thủy hay Đại thừa, đều xiển dương và hành trì.
II. NỘI DUNG:
1. Giới là con đường duyên thành Phật Đạo:
Người nào giữ giới thanh tịnh, dừng các điều ác, làm các điều lành thì phước tự nhiên đến, như Trần Châm là anh ruột của đại sư Trí Khải, một hôm gặp vị tiên Trương lão quả nhìn tướng nói ông chỉ còn sống được một tháng, ông buồn bã về gặp Đại sư Trí Khải, được đại sư chỉ dạy Lục diệu pháp môn, trong đó có một pháp ngồi thiền, theo dõi hơi thở, do vậy dừng các điều ác lại. Quả tình một tháng sau không bị chết, mà sau này còn thọ đến 94 tuổi, sau khi chết sanh về cõi trời. Hay như chuyện sa di cứu bầy kiến mà không bị chết yểu, thọ thêm nhiều năm nữa. Đó là đức của giới hạnh khiến phước tự nhiên đến.
Nhờ những công đức tu tập giữ giới trong ngày sẽ đẩy quý vị đến cảnh giới an ổn, giống như một chiếc phi thuyền muốn bay ra khỏi trái đất phải có lực đẩy. Khổng Tử nói: “Sáng nghe đạo, chiều chết cũng cam lòng”. Chúng ta giữ giới thanh tịnh, bố thí, cúng dường, tạo các thiện pháp thì không bao giờ sợ bị nghiệp chơi xấu cả. Nghiệp tuy vô tướng, không có hình nhưng đâu vào đó, rất sòng phẳng. Cho nên giữ gìn giới pháp và tu tập thì chúng ta sẽ có niềm tin.
Trong Kinh A Hàm Phật dạy, người giữ gìn giới pháp có năm công đức:
1. Ở trước hội chúng không có sợ hãi.
2. Nếu chưa giải thoát, chết sanh về cõi trời.
3. Bậc mô phạm cho trời người.
4. Quỷ thần cung kính.
5. Tâm thần bình ổn, lúc sống cũng như lúc chết.
1.1. Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già:
Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng đoàn và giữ gìn bản thểTỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật.
Giới luật có công năng dứt trừ nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử. Không chỉ thọ hưởng phước lành ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm cẩn thì cuộc sống sẽ an vui, thân tâm luôn thanh thản.
Luật Ma Ha Tăng Kỳ, tập I, Phật bảo Xá Lợi Phất: “Có 10 việc lợi ích nên chư Phật Như Lai vì đệ tử chế giới…
Mười việc lợi ích đó là:
1. Vì nhiếp phục Tăng chúng.
2. Vì nhằm triệt để nhiếp phục Tăng chúng.
3. Vì muốn cho Tăng chúng an lạc.
4. Vì để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.
5. Vì để cho những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.
6. Vì để cho những người không tin khiến họ tin tưởng.
7. Vì để cho những người đã tin tăng thêm lòng tin.
8. Vì muốn dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.
9. Vì để cho những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.
10. Vì muốn cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Vì thế, giáo pháp của Phật đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân. Sự chu toàn đạo đức của mỗi cá nhân sẽ trang nghiêm cho đoàn thể. Mỗi Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni sống đúng như Pháp, như Luật sẽ là nguồn năng lực vô biên cho sự lớn mạnh của Tăng già. Và một khi Tăng đoàn đã thực sự thanh tịnh hòa hợp thì không một thế lực nào có thể lấn áp hay phá hoại được. Phật pháp nhờ đó mà ngày càng vững mạnh tỏa sáng. Cuộc sống chung quanh cũng nhờ đó mà được ảnh hưởng tốt đẹp.
1.2. Ba Yếu Tố (Mục Đích) Của Việc Chế Giới:
Xã hội không phải là một cá nhân đơn lẻ mà cả một tập thể. Do đó, trong cuộc sống, nếu không không có giới luật quy ước thì sẽ khó mà bảo vệ được đoàn thể tăng già và sự an lạc của tự thân và tha nhân. Do vậy, giới pháp Phật chế ra cũng không ngoài ba yếu tố chính:
a. Phòng ngừa sự chướng ngăn thánh đạo
b. Bảo vệ sự hoà hợp trong Tăng thân
c. Tránh sự cơ hiềm của thế gian.
1.3. Nền Tảng Xây Dựng Đạo Đức Theo Giới Luật Phật Giáo:
Đạo Phật sống không phải vì cá nhân mà vì xã hội do đó đạo Phật tồn tại cũng không ngoài xã hội. Tuy hướng về mục đích giải thoát nhưng tinh thần của Phật giáo là tinh thần nhập thế dấn thân, đặt nền tảng lợi ích của tập thể, của số đông lên trên mọi lợi ích của cá nhân. Chính ý nghĩa của Tăng già đã khẳng định nên tinh thần đó. Do vì Phật giáo luôn đề cao lợi ích của con người nên giới luật Phật giáo không thể tách rời hay biệt lập với nền đạo đức thế gian.
Trong một chừng mực nào đó thể coi đạo đức đồng nghĩa với hạnh phúc. Do vậy, nếu hạnh phúc là đích đến của xã hội thì giới luật Phật giáo hoàn toàn đáp ứng một cách đầy đủ các điều kiện để xây dựng nền tảng đạo đức, hạnh phúc, một xã hội tốt đẹp và thái bình. Bởi giới luật Phật giáo được xây dựng trên căn bản Giới Định Tuệ. Giới định tuệ là ba mặt của một vấn đề, không thể tách rời nhau. Trong giới luôn có sự hiện hữu của Định, Tuệ. Định và Tuệ làm điểm tựa và soi sáng cho Giới.
1.4. Giới luật phật giáo đối với dời sốn hiện tại:
Giới luật Phật giáo ngay từ xưa đã khẳng định được vai trò trọng yếu của nó trong đời sống tăng đoàn cũng như sự trường tồn của chánh pháp. Và ngày nay, giới luật không những không còn giá trị mà ngược lại nó lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Chúng ta cần lưu ý rằng, thời Phật tại thế, Tăng đoàn đa phần là những bậc thánh giả vô lậu tu tập, sinh hoạt thế mà vẫn còn có những hữu lậu phát sinh làm quấy nhiễu đời sống thanh tịnh, hoà hợp đến nỗi khiến đức Phật phải chế giới luật để ngăn chặn và bảo vệ. Còn trong thời đại ngày nay, tăng đoàn Phật giáo không những bị những vật lợi ích vật chất chi phối một cách sâu nặng, tâm trí u ám, nghiệp chướng sâu dày mà bên cạnh đó còn có những kẻ lợi dụng những danh nghĩa khác nhau trà trộn vào Phật giáo để phá huỷ đạo Phật. Hiện tượng này không phải hiếm mà nhan nhãn khắp mọi nơi, mọi tự viện và tỉnh thành. Điều đáng buồn hơn là tăng già Phật giáo lại bị điều khiển bởi những nhân vật này khiến cho Phật giáo không còn đúng với nguyên nghĩa của nó. Tất nhiên trong những trường hợp ấy, giới luật không phải không phát huy được tác dụng mà bởi vì sự lãng quên của những người hành trì hay bởi sự cố tình vùi dập của một vài thành phần bất chánh trà trộn vào trong tăng già đó.
2. Chánh Định trong Phật giáo:
Chánh định là bước quan trọng cuối cùng trên con đường đưa đến hạnh phúc (Bát Chánh Đạo) của Đức Phật. Khi tâm đã khinh an, định tĩnh, thì những chướng ngại cản trở hạnh phúc không thể phát khởi. Hơn thế nữa, khi ngồi thiền, chúng ta có thể trụ tâm định tĩnh trên đối tượng tâm phát sinh cùng với thức. Định giúp chúng ta phá vỡ được vẻ bề ngoài giả tạo của các đối tượng này để có cái thấy rõ ràng về tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Với chánh định, ta càng tinh tấn hành thiền, và chúng ta đạt được nhiều tiến bộ trên đạo lộ.
Thông thường khi chúng ta nói rằng ai đó đang “định tâm”, ta muốn chỉ đến bất cứ điều gì từ việc đắm chìm trong một chương trình truyền hình, đến đăm chiêu trong một ván cờ, đến hoạch định một tội ác. Nhưng loại định mà Đức Phật dạy như là một chi phần của Bát Chánh Đạo có ba đặc tính đặc biệt: thiện, nhất tâm và sử dụng chánh niệm để phát triển trí tuệ.
2.1. Thiền định thực hành:
“Không phải ngồi sững mới là Thiền. Tâm chẳng trụ trong, chẳng trụ ngoài, không giao-động, không rời đạo-pháp mà sinh-hoạt với thế-gian, làm lợi-ích cho đời cũng là Thiền”
Bồ-tát Duy-Ma-Cật.
Về phương-diện thực-hành phương-pháp thiền-định, tùy theo hoàn- cảnh, trình-độ và mục-đích mà sự thực-hành có khác nhau :
- Thiền-định quán-chiếu vào lỗi-lầm để tìm phương khắc-phục.
- Thiền-định quán-chiếu vào một vấn-đề tìm ra giải-pháp.
- Thiền-định để tìm một trạng-thái thư-giãn thân tâm.
- Thiền-định quán-chiếu vào từng hoạt-động của thân-xác để luyện sự gom-thần định-trí tăng-cường thần-huệ.
- Thiền-định quán-chiếu vào mọi khổ-ách để sống chung hoà-bình với nó, hầu giữ thân tâm được an-tịnh, xa rời đau-khổ.
2.2. Các tầng thiền định:
Tâm định sâu xa có thể dẫn đến những sự chứng ngộ sâu sắc nhất được gọi là “thiền định” hay jhana. Thiền định thì luôn thiện và nhất tâm. Tuy nhiên hãy nhớ rằng tâm định này vẫn chưa phải là chánh định nếu chánh niệm không có mặt. Với tâm định viên mãn, mức tiến triển đến giác ngộ của ta được tăng tốc.
Nếu làm chậm quy trình đó lại, chúng ta có thể ý thức về từng sát na của định. Mục đích của công phu tu thiền là để duy trì sự tĩnh thức để tâm định có thể chuyển vào từng sát na tâm kế tiếp, liên tục không gián đoạn. Tuy nhiên mức độ tĩnh giác này rất khó. Từng sát na tâm quá nhỏ đến nỗi gần như ta không thể tưởng tượng ra.
Có người xin Đức Phật cho một thí dụ về sát na của tâm. Ngài trả lời rằng Ngài không thể cho một thí dụ nào. Ngài nói rằng không thể diễn tả được sự nhanh chóng, thoáng chốc của từng sát na. Tuy nhiên, giả sử có một màng nhện rất nhỏ, rất mong manh, và bạn muốn mang cây nến đến đốt. Bạn cần bao lâu để đốt màng nhện đó? Gần như cây đèn vừa được đưa đến gần, màng nhện đã cháy. Đức Phật dạy rằng trong chỉ một khoảng thời gian ngắn như thế, hàng ngàn sát na tâm có thể phát khởi, tăng trưởng, rồi qua đi. Với thí dụ này, Đức Phật muốn diễn tả rằng sự nhanh nhạy của tâm thì gần như không thể nghĩ bàn.
2.3. Các loại thiền định:
Định là một từ ngữ có nghĩa rất rộng , có thể bao hàm cả Thiền. Khi cần xác định rõ tính chất của Định, các kinh thường để nguyên âm chữ Tam-muội hoặc Tam-ma-địa(Samàdhi). Thực ra Samàdhi là bản thể của Định. Còn tự tánh, tự tướng của Định và những trạng thái Định khác thì rất nhiều. Theo Thành Duy Thức Liễu Nghĩa Đăng quyển 5, có đến 7 từ tiếng Phạn được người Trung Hoa dịch là Định, tuần tự như sau:
1.– Tam-ma-hý-đa (Samàhita), Hán dịch: Đẳng dẫn: “Đẳng” là trạng thái thân tâm an ổn, xa lìa trạo cử và hôn trầm. “Dẫn” nghĩa là do tu tập Thiền định mà phát sanh công đức thắng diệu. “Đẳng dẫn” chỉ chung cho Định hữu tâm và Định vô tâm, nhưng không chung cho tán vị (trạng thái tán loạn).
2.– Tam-ma-địa, Tam muội (Samàdhi), Hán dịch: Đẳng trì, Chánh tâm hành xứ: Tu tập định này thì tâm an trụ 1 cảnh, nghĩa là tâm bình đẳng nhiếp trì. Đẳng trì chỉ chung cho Định và Tán, nhưng chỉ có ở Định hữu tâm mà không có ở Định vô tâm. Đây là bản thể của Định.
3. – Tam-ma-bát-đểå (Samàpati), Hán dịch: Đẳng chí: Nếu tu được định này thì chánh thọ hiện tiền, tâm tánh sáng tỏ, an lạc thù thắng, ở cảnh nhiễm mà không nhiễm, không bị thoái lui, đạt đến chỗ thân tâm bình đẳng. Đẳng chí chỉ chung cho Định hữu tâm và Định vô tâm, nhưng không chung cho tán vị. Đây là tự tướng của Định.
4.– Đà-na-diễn-na, Thiền na (Dhỳana), Hán dịch: Tĩnh lự : Lắng tâm quán tưởng. Tĩnh lự chỉ chung cho Định hữu tâm và Định vô tâm, hữu lậu và vô lậu, nhưng chỉ có ở Định cõi Sắc, chứ không có ở Định Vô sắc.
5.– Chất-đa-ế-ca-a-yết (Cittaikàgratà), Hán dịch: Tâm nhất cảnh tánh: Nhiếp tâm vào một cảnh, tinh tấn siêng năng tu tập, tâm tập trung vào một đối tượng. Đây là tự tánh của Định.
6. – Xa-ma-tha (Samàtha), Hán dịch: Chỉ, Chánh thọ: Ngăn dứt các pháp bất thiện của các căn, lìa những ý niệm tà vạy, diệt trừ tất cả phiền não tán loạn để tâm được vắng lặng.
7.– Hiện pháp lạc trú (Drsta-dharma-sukha-vihàra): Tu tập Thiền định, lìa tất cả vọng tưởng, thân tâm vắng lặng, hiện được pháp hỷ và an trụ chẳng động. Tức ở hiện đời do tu tập các Tịnh định, Vô lậu định… mà hưởng thọ pháp lạc của Định. Hiện pháp lạc trú chỉ có ở 4 Định cơ bản của cõi Sắc.
2.4. Thiền định quán chiếu vào một chủ đề:
Theo nguyên nghĩa của thiền-định cơ-bản là một phương tu để lắng đứng vọng-tưởng tán-loạn, tập-trung tinh-thần trong một cảnh-giới thuần nhất để tâm ngộ-nhập vào chân-lý, như Đức Thích-Ca ngồi dưới gốc bồ đề suy tư về nguyên-nhân của tứ-khổ, mà Ngài đã quán-triệt được đạo lý-nhiệm màu tìm ra con đường giải-thoát khỏi luân-hồi tứ-khổ. Ngày nay thiền-định được áp-dụng rộng rãi trong nhiều tầng lớp, với nhiều mục-đích khác nhau, nhưng nói đến thiền-định là người ta liên-tưởng ngay đến phương-pháp thiền-định này.
Phép thiền-định quán chiếu vào một chủ-đề ngày nay được áp-dụng rộng-rãi không những trong giới tu-hành mà ngay cả những nhà lãnh-đạo chính-trị, giới kinh-doanh, kể cả những nhà thể-thao, võ-học....họ cũng dùng thiền-định để tìm hiểu thấu suốt một vấn-đề nào đó, hầu tìm ra giải-pháp tối- ưu.
2.5. Phương tiện chính là nền tảng cứu cánh:
Thiền định là nền tảng của quả giác ngộ. Nhưng để thành tựu Thiền định cần phải có nhiều phương tiện dành cho nhiều căn cơ khác nhau. Nghĩa là nếu không có phương tiện sẽ khó có được Thiền định. Vì vậy chúng ta có thể nói phương tiện để đạt được Thiền định cũng chính là nền tảng, là cứu cánh giác ngộ. Từ đây, Phật giáo được phát triển thành nhiều tông phái khác nhau, nhiều pháp môn khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên cơ sở giúp hành giả đạt được Thiền định.
Nếu nghiên cứu Phật giáo bằng nhãn quan như thế, người học sẽ không bị vướng mắc bởi những chủ trương khác nhau giữa các tông phái. Nếu Giới – Định – Huệ được xem là ba môn học Vô lậu thì bất cứ pháp môn nào giúp hành giả trì giới tức đó là pháp môn đúng đắn. Trong kinh hay nói: “Nhân giới sanh định, nhân định pháp huệ”, theo thiển ý người viết, câu này nên hiểu là ngay nơi giới có định, ngay nơi định có huệ.
3. Con đường phát triển trí tuệ:
- Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại.
- Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!).
Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung :
Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị.
* Đó là " tam vô lậu học ", tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).
* Đó là " văn, tư, tu ", tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) : sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña).
3.1. Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy:
Vai trò của trí tuệ trong đạo Phật nguồn gốc (primitif) và đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất rõ ràng, sáng sủa : trí tuệ là phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và giải thoát khỏi khổ đau. Bài "Trí tuệ trong đạo Phật" của HT Thích Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và đầy đủ về vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều căn bản trong giáo lý của đạo Phật Nguyên thủy.
Nếu chúng ta lấy " vòng mười hai nhân duyên " (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy trong vòng trầm luân của con người chính là vô minh (avijjâ). Vì vô minh là đầu mối của vấn đề, cho nên trí tuệ chính là giải đáp của vấn đề.
Trong " con đường chánh tám nẻo " (atthangika-magga), chánh kiến (sammâ-ditthi) và chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự tu tập (trong khi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới, sila, và chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định, samâdhi). Dĩ nhiên sự tu tập theo đạo Phật không thể phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của con đường đó phải được đi đều với nhau, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy trong sự phân chia đó môt trình tự phù hợp với những gì xẩy ra trong tâm lý con người. Phải nhiếp được thân khẩu ý (giới), thì mới tinh tấn, niệm và định tâm được (định), và như vậy thì mới hiểu và nhìn rõ được sự thật (huệ).
3.2. Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa:
Trí tuệ chính là sợi giây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là "Cổ phái Trí tuệ"(Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là "Tân phái Trí tuệ"(Nouvelle Ecole de Sagesse).
Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng : một bên là trí tuệ và một bên là đức tin.
Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa ( Prajñâpâramitâ-sûtra), (toàn bộ in ra được 600 quyển!), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối(paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm.
3.3. Tuệ giác biểu hiện:
Trong bản tâm của mỗi chúng sinh vốn có đầy đủ đức tính trong lành và sáng suốt. Nhưng do bụi trần cấu uế che phủ, nên bản tính uyên nguyên sáng suốt ấy chưa có cơ hội để hiển bày. Như ánh sáng của mặt trăng xưa nay vẫn thường soi chiếu, nhưng tại đám mây giăng kín cả không gian, nên vạn vật phải bị chìm vào trong đêm tối, và đến khi áng mây trôi qua thì khắp không gian đều được sáng tỏ. Cũng vậy, mỗi khi ngọn đèn tuệ giác ở trong tâm ta được thắp sáng, thì bóng tối vô minh không còn. Lúc bấy giờ, niềm an lạc và hạnh phúc chân thực luôn luôn được hiện hữu trong ta, và lan tỏa đến cho mọi người.
Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe nói tới ngày Phật đản. Tức là ngày mà Đức Phật thị hiện ra giữa cuộc đời này, để chỉ cho nhân loại thấy rõ giá trị đích thực của sự sống và giúp cho tất cả chúng sinh vượt thoát phiền não, khổ đau! Hình ảnh Đức Phật sơ sinh là biểu tượng cho tuệ giác ở trong tâm thức của chúng ta phát khởi. Đức Thế Tôn đã từng dạy rằng: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Như Lai là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành”. Nghĩa là, trong bản tâm của mỗi con người đều có trí tuệ giác ngộ và sẽ thành Phật. Nhưng tại vì ta bị tham lam, giận hờn và si mê trói buộc, sai khiến, cho nên tuệ giác “đáng tôn quý” ấy chưa có cơ hội để biểu hiện. Ngày hôm nay, nhờ có phước duyên gặp được Chánh pháp và thực hành theo lời Phật dạy, nên tâm trí ta được thắp sáng và thấy rõ bản chất sinh động của cuộc đời!
3.4. Giác ngộ là tuệ tri về tứ diệu đế:
Nhìn từ một góc độ khác, sự giác-ngộ có thể được xem là sự tuệ tri về Bốn Chân Lý Thánh hay Tứ Diệu Đế . Tứ Diệu Đế bao gồm thực trạng đau khổ của mọi hiện hữu hay khổ đế (dukkha ariya sacca), nguyên nhân gây ra các đau khổ của hiện hữu hay tập đế (dukkha samudaya ariya sacca), trạng thái vắng mặt toàn bộ khối đau khổ hay diệt đế (dukkha nirodha ariya sacca) và con đường thánh đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ hay đạo đế.
Tuệ tri về bốn chân lý cao thượng là thấu rõ bằng trí tuệ rằng (i) sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, cầu không được là khổ; nói chung, năm thủ uẩn là khổ; (ii) tuệ tri được nguyên nhân của khổ là tham ái, yếu tố dẫn đến tái sanh; (iii) tuệ tri được trạng thái vắng mặt toàn bộ tham ái và đau khổ (Niết-bàn), và (iv) tuệ tri được con đường Thánh Đạo Tám Ngành là con đường giải thoát đau khổ.
Thật rõ ràng để thấy rằng Tứ Diệu Đế biểu thị một phương pháp thực nghiệm tâm linh hay khảo sát một đối tượng như chúng thật sự là: thấy một đối tượng, xác định nguồn gốc của nó, biết chắc tình trạng vắng mặt của nó như thế nào, và các phương pháp để đạt được trạng thái đó. Tứ Diệu Đế còn được sánh ví với tiến trình của y học trước một căn bệnh: chứng bệnh, nguyên nhân gây bệnh, trạng thái lành bệnh, và những phương thuốc chữa trị. Cũng vậy, Đức Phật như một vị lương y về sự tu tập tinh thần (Tăng Chi Bộ Kinh II, 692; IV, 49) đã chỉ rõ cho chúng ta thấy về bốn giai đoạn của một quá trình thực nghiệm tâm linh, vượt thoát khỏi mọi đau khổ: nhận chân rõ bản chất khổ của những sự vật ở đời, xác định nguyên nhân phát sinh những sự khổ ấy, trạng thái vắng mặt đau khổ, và những phương pháp diệt trừ đau khổ.
Lại nữa, Tứ Diệu Đế cần phải được tuệ tri với ba chuyển (tipariva.t.tam) và mười hai hành tướng (dvàdasàkàram). Ba chuyển là ba tri kiến tương ứng liên hệ đến mỗi Đế của Tứ Thánh Đế, tạo nên tất cả mười hai hành tướng. Tri kiến đầu tiên là nhận ra mỗi Đế như nó là (sacca~nà.na, thị chuyển). Tri kiến thứ hai là nhận ra cái gì nên được làm về mỗi Đế (kicca~nà.na, khuyến chuyển): sự thật về hiện trạng đau khổ cần phải hiểu rõ, nguyên nhân gây ra đau khổ cần phải được tiêu trừ, trạng thái vắng mặt toàn bộ đau khổ cần phải được chứng ngộ, và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ cần phải được tu tập. Tri kiến thứ ba là nhận ra sự hoàn thành của cái gì nên được làm (kata~nà.na, chứng chuyển).
4. Tu tập Bốn chân lý:
Giáo lý đạo Phật không phải là một học thuyết, mà là một công trình tu tập, có thực hành mới biến lý thuyết thành thực tiễn, thành chất liệu sống trong mỗi con người, như ăn cơm mới no, uống nước mới hết khát. Đó là chỗ khó khăn của người Phật tử, không thể nhờ cậy vào ai tu giúp cho mình, hoặc ai ban cho mình được giải thoát, hết khổ.
Trong kinh đưa ra 3 giai đoạn nhận thức và hành trì đối với Bốn chân lý, thuật ngữ gọi là Tam chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển.
1)- Đối với Khổ đế: Thị chuyển là nhận thức, hay nhận diện cái khổ. Thấy được khổ là bước đầu tiên; nếu không thấy, không biết thì sẽ không có hành động diệt khổ. Khuyến chuyển là đi sâu hơn vào bản chất cái khổ, khởi lên ước muốn đoạn trừ khổ. Chứng chuyển cảm nhận một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất của khổ đau.
2)- Đối với Tập đế: Thị chuyển là nhận diện nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy. Chứng chuyển là tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.
3)- Đối với Diệt đế: Thị chuyển là nhận thức được sự vắng mặt của đau khổ là hạnh phúc, là không có đau khổ, ta phải thấy điều ấy. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn được hạnh phúc, hưởng được niềm vui, thanh thản an lạc của đời sống. Chứng chuyển là đạt được, hưởng thụ thật sự trạng thái an lạc ấy.
4)- Đối với Đạo đế: Thị chuyển là nhìn thấy con đường, thấy được phương pháp diệt khổ, thấy rõ rằng đây là con đường đưa đến giải thoát; nói cách khác, thấy được lối thoát ! Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đi trên con đường ấy, khởi hành trên lộ trình ấy. Chứng chuyển là đi trên con đường ấy một cách trọn vẹn.
Tóm lại, đối với mỗi chân lý, chúng ta đều phải nhận thức rõ ràng. Từ nhận thức thông suốt sẽ dẫn đến ước muốn hành động, và cuối cùng đạt được mục đích. Chúng ta phải thấy rõ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư duy của chính mình, cái nào có đau khổ, gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ chúng; ta chuyển hóa nó để hưởng được niềm an bình hạnh phúc của Diệt đế. Hạnh phúc hay đau khổ đều xuất phát từ nơi thân tâm của chúng ta.
4.1. Địa vị quan trọng của tứ diệu đế trong giáo lý phật giáo:
Tứ Diệu Ðế là giáo lý căn bản của đạo Phật, không phải riêng đối với Tiểu Thừa mà chung cho cả Ðại Thừa nữa. Người tu hành muốn có một kết quả chắc chắn, không thể bỏ qua Tứ Diệu Ðế được. Pháp môn nầy, tuy tiến chậm, nhưng khi tiến được bước nào là chắc bước nấy. Pháp môn nầy tuy không đưa thẳng người tu hành đến quả vị Phật, nhưng với một sự tinh tấn và quyết tâm nó có thể dễ dàng đưa người tu hành đến quả vị A La Hán. Rồi từ quả vị A La Hán, hành giả sẽ tu thêm một pháp môn khác của Ðại Thừa, để tiến đến quả vị Phật. Căn cơ nào, trình độ nào cũng có thể tu theo pháp môn nầy được, chứ không phải như một số pháp môn khác, phải cần có một trình độ học thức cao và một trí tuệ trên mức trung bình mới có thể theo được. Vì thế, nó là một pháp môn phổ thông cho cả hai phái Tiểu Thừa lẫn Ðại Thừa, Nam tông và Bắc tông. Ngày nay pháp môn này là pháp môn được phổ biến nhất trên thế giới. Các Phật tử Âu Mỹ hầu hết đều tu theo pháp môn nầy và những tập sách nghiên cứu về đạo Phật, của những nhà Phật học tây phương đều nói nhiều nhất về Tứ Diệu Ðế.
4.2. Giáo lý về Trung đạo hay Con đường tám nhánh
Ngay sau khi phê phán hai chủ trương là khoái lạc thái quá và khổ hạnh thái quá, Đức Phật đưa ra con đường thứ ba là Trung đạo (Majjhima Patipada). "Từ bỏ cả hai cực đoan ấy, Như Lai đã chứng ngộ "Trung đạo" (Majjhima Patipada), là con đường đem lại nhãn quan (cakkhu) và tri kiến (nana) và đưa đến an tịnh (vupasamaya), trí tuệ cao siêu (abhinnaya), giác ngộ (sambhodhaya), và Niết bàn"
Trung đạo không phải là con đường nằm giữa hai thái cực mà là con đường vượt lên trên hai thái cực. Từ điển Phật học quan niệm: "Trung có nghĩa là bất nhị, là tuyệt hết đối đãi, là mục song phi song chiến, là đạo trung hòa không thiên lệch về một phía", điều đó có nghĩa con đường trung đạo là con đường chấm dứt mọi đối đãi nhị nguyên như thường-đoạn; có-không; phải-trái…
Trong các giai đoạn phát triển về sau của Phật giáo, cách hiểu về Trung đạo cũng có nhiều ý kiến khác nhau, như Pháp tướng cho Duy thức là Trung đạo, Tam luận cho Bát bất là Trung đạo, Thiên Thai cho Thực tướng là Trung đạo, Hoa Nghiêm cho Pháp giới là Trung đạo… Tuy vậy, trong kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật xác quyết rằng con đường Trung đạo chính là Bát Chánh đạo hay con đường tám nhánh.
4.3. Ứng dụng Giới – Định - Tuệ vào xã hội hiện tại:
Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh đến sắc thái thực tiễn của giáo lý, đến sự ứng dụng tri kiến vào đời sống một cách thiết thực, để nhìn vào chiều sâu của cuộc sống, chớ không phải chỉ nhìn suông trên bề mặt.
Trí tuệ thành đạt bằng sự thấu triệt và sự phát triển tâm và trí, có trí tuệ chơn chính giúp cho hành giả hiểu biết một cách chu toàn và thông suốt các pháp trọn vẹn.
Đối với Đức Phật, toàn thể giáo lý của Ngài tập trung vào sự ứng dụng và hành trì để đạt đến sự chứng ngộ thật tướng của các Pháp, chứ không phải lý thuyết suông. Chủ tâm và mục tiêu của Phật Giáo là giải thích cặn kẻ trọn vẹn vấn đề đau khổ và sanh tử luân hồi.
Trong khi các nhà triết học Aán Độ đang lao vào cuộc tranh luận về bản nguyên của vũ trụ là vật chất hay tinh thần, thì Đức Phật tuyên bố rằng Ngài theo con đường trung đạo, Ngài hiểu rằng cuộc tranh luận ấy sẽ là bất tận với trình độ hiểu biết của Ngài , ở thời bấy giờ thì không ai có khả năng để đánh bại đối thủ như Ngài, do đó cuộc tranh luận không thiết thực giúp ích gì cho nhân loại đang bị đau khổ, cần phải cứu chữa ngay. Mục đích của Đức Phật ra đời là giúp cho nhân loại ra khỏi bể khổ sanh tử luân hồi.
Giới luật đem lại lơi ích rất lớn cho người, nhứng ai đã thọ giới của Phật thường có cuộc sống ôn hoà, dù là người xuất gia hay tại gia, nếu người sống theo tinh thần giới Luật. Vì Giới Luật đào tạo cho con người từ nhân cách xấu thì chuyển thành nhân cách tốt và có một nếp sống đạo đức của một con người. Từ đó, chúng ta phải cố gắng tu tập thiền định, để giúp cho tâm mình vắng lắng trong suốt, tập trung đến một đối tượng trở nên mạnh mẽ, nhận định rõ ràng, thì tuệ giác được phát sinh, nhờ có trí tuệ giác được phát sinh, nhờ có trí tuệ mà chúng ta làm việc gì cũng không mắc phải lỗi lầm. Gây đau thương cho xã hội.
III. KẾT LUẬN:
Giáo dục của Phật Giáo không phải chỉ là huấn luyện cho một đứa trẻ trở thành một nhà trí thức để hành nghề giữa một địa vị an bài trong xã hội. Mà trí thức cần chuyển hoá thành trí tuệ đưa con người đến chánh kiến, trí thức là một phần trong toàn thể thành phần của con người. Cứu cánh của nền giáo dục Phật giáo là đưa con người trở về con người toàn diện. Con người toàn diện là người thể hiện chánh kiến trong từng động tác thường nhật của cuộc sống.
Tóm lại, ý nghĩa giáo dục của Phật Giáo ngang qua Giới _Định _ Tuệ là nhằm cải tạo, xây dựng và huấn luyện tự thân , tự tâm , tất cả những người đệ tử Phật và những nhà đạo đức chân chính, cũng như tất cả mọi thời đại, nhằm đạt được thanh tịnh an lạc giải thoát tự thân và tự tâm trong cuộc sống tại thế gian này. Đồng thời , xây dựng một nhân sinh quan và một thế quan an lạc hạnh phúc thật sự.
Bằng khả năng hành trì liên tục của con người, nổ lực thân để vươn lên, đoạn trừ các điều ác, thực hành các điều thiện, trong sạch hoá tự thân, được định tĩnh và làm chủ bản thân và hoàn cảnh , đoạn trừ lậu hoặc thành tựu trí tuệ, giải thoát cứu cánh, ngang qua phương pháp giáo dục Giới – Định - Tuệ.
Qua sự trình bày khái quát về Tam học, chúng ta thấy Giới - Định - Tuệ có mối tương quan mật thiết với nhau. Đây là ba mặt của một thực tại, cho nên trong Giới có Định, có Tuệ; trong Định có Giới, có Tuệ; trong Tuệ có Giới, có Định. Mức độ thăng hoa của một trong ba chi phần này có liên quan đến hai chi phần kia. Có Tuệ mới biết đâu là Giới, mới định được tâm; càng thực hiện Giới tức là càng thực hiện các quy luật tự nhiên, càng hiểu biết về thực tại hơn, từ đó mới hiểu được tâm, ổn định tâm; có ổn định được tâm thì tâm mới thanh tịnh, cái biết từ đó sẽ rõ ràng và đưa đến Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Mối quan hệ biện chứng này đã được Đức Phật xác chứng:“ Tay trái làm sạch tay phải, tay phải làm sạch tay trái. Đây cũng thế, có trí tuệ thì có giới hạnh, có giới hạnh thì có trí tuệ. Giới hạnh làm thanh tịnh trí tuệ, trí tuệ làm thanh tịnh giới hạnh”.
Mục đích của mỗi người xuất gia là để giải thoát sinh tử, thực chứng Niết Bàn. Cho nên việc tu học Giới - Định - Tuệ là một việc đương nhiên. Trong quá trình tu tập của Giới - Định - Tuệ đó, đối với hàng hữu học, thì không thể có cái học chuyên biệt về một chi phần nào mà không liên hệ đến hai chi phần kia. Thế nên bậc Cổ đức nói:
Buộc tâm lấy Giới làm dây
Lắng tâm lấy Định dựng xây đạo tràng
Rõ tâm đuốc tuệ soi đàng
Tâm không cảnh tịch Niết Bàn an vui.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Thích Trí Thủ, Tâm Như Trí Thủ Toàn Tập. TPHCM: NXB TPHCM, 2002, Tr.116
2. Thật Dụng Phật Học Từ Điển (chữ Hán). Trung Hoa Dân quốc thứ 23, Hương Cảng Phật Kinh xuất bản, tr. 918
3. Thích Đổng Minh (dịch). Luật Ngũ Phần Tập I, Quyển 1 (lưu hành nội bộ). 1997, tr. 6
4. Thích Đổng Minh dịch, Luật Ngũ Phần Tập II, Q.22 (lưu hành nội bộ). 1997, Tr. 204
5. Thích Trí Thủ, Yết Ma Yếu Chỉ. TPHCM, Trường Cao Cấp PHVN , 1991, tr.11
6. Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, VNCPHVN, 1998. 3.
7. Kinh Pháp Cú, Phạm Kim Khánh dịch, 1971. 4- Maha Thongkham và Huỳnh Văn Niệm soạn dịch
8. Chuyển Pháp Luân và Tứ Diệu Ðế, năm 1995, Sài Gòn. 5- PTS. Doãn Chính, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, NXB. Thanh Niên, HN, 1999. 6- PTS. Doãn Chính.
9. Thích Minh Châu, Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, dịch năm 1986
10. Thích Minh Châu, Kinh Sợ Hãi Và Khiếp Đảm, Trung Bộ I, dịch năm 1992
11. Thch Minh Châu, Kinh Bốn Niệm Xứ, Trung Bộ I, dịch năm 1991
12. Thích Minh Châu, Trung Bộ I, dịch năm 1992
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét