THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

PHÂN TÍCH TÂM SỞ (cetosika) THEO THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN

NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN MỤC LỤC: I. NHẬP ĐỀ: II. NỘI DUNG: 1. TÂM LÀ GÌ? 1.1. tâm tái tục: 1.2. Những loại Tâm Tái Tục khác nhau: 2. VÌ SAO GỌI LÀ TÂM SỞ (cetasika)? 2.1. nguyên do có tâm sở: 2.2. Địa vị và số lượng của các tâm sở: 2.3. Tên của 51 món Tâm sở: 3. SỰ LIÊN QUAN VÀ HỆ THUỘC GIỮA TÂM VƯƠNG VÀ TÂM SỞ: 3.1. các tâm sở tương ưng với tâm vương có nhiều hay ít: 3.2. Các tâm sở tương ưng: 3.4. Tâm Tương ưng là gì? 3.5. Duy Tâm Sở Hiện, Duy Thức Sở Biến: 4. TÂM SỞ CHÚ TÂM – HÀNH TRÌ THANH TỊNH: 4.1. tâm sở Hôn trầm (thīnacetasika): 4.2. tâm sở thụy miên (middhacetasika): 4.3. tâm sở hoài nghi (vicikicchā cetasika): 4.4. Đối trị các tâm sở bất thiện: 5. TÂM SỞ TÁC Ý – ĐỊNH HƯỚNG CHO TÂM: 5.1. Tâm Sở Thắng Giải – Đừng Mê Mải–Bảo Hiểm Tâm(Adhimokkha cetasika): 6. BIỂU ĐỒ TÂM PHÁP: III). KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: PHÂN TÍCH TÂM SỞ (cetosika) THEO THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN I. NHẬP ĐỀ: Đức Phật đã nhắc nhở bá tánh về những ảnh hưởng xấu do điều bất thiện mà ra. Nghiệp bất thiện có khả năng tạo ra nghiệp chướng không mấy dễ chịu dưới hình thức tái sinh hay tạo ra những kinh nghiệm khó chịu qua các căn trong suốt cuộc đời chúng ta. Do thực hiện những hành vi bất chính, chúng ta phải mang tiếng xấu và mất hết bạn bè tốt. Vả lại, người nào đã phạm phải những điều tội lỗi sẽ không được thanh thản khi phải đối mặt với thần chết. Chúng ta đọc thấy điều này viết trong tác phẩm Tương Ưng Bộ Kinh. Có chánh kiến để hiểu rõ mối hiểm họa và những hậu quả tai hại do điều bất thiện gây ra, điều bất thiện lại có khả năng trợ duyên nhiều đến tâm thiện. Nhưng ngay khi tâm thiện đã diệt, tâm bất thiện lại có điều kiện chỗi dậy và ngay sát-na đó chúng ta không còn tin tưởng vào điều thiện hảo được nữa. Thí dụ như, chúng ta nói những lời nói cọc cằn hay phỉ báng ai đó và sau cơn thịnh nộ lôi đình đó, chúng ta chẳng hiểu được vì lý do gì ta lại xử sự tồi tệ đến như vậy. Rất có thể chúng ta sẽ ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì chúng ta đã thể hiện một con người khác biệt như vậy ở những sát-na khác nhau. Thực ra không có bản ngã nào xuất hiện tại sát-na thiện hay sát-na bất thiện nào cả, chỉ có nhiều loại tâm khác nhau xuất hiện khi có điều kiện thuận lợi mà thôi. Đôi khi ta thấy có tâm thiện nhưng tâm bất thiện lại xảy ra thường xuyên hơn. Không có “bản ngã” nào có thể ngăn cản được tâm bất thiện xuất hiện. Tâm và tâm sở phối hợp với nhau theo một quy luật (niyāma), tuy tâm dẫn đầu các tâm sở nhưng tâm sở lại đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình hình thành ô nhiễm hay thanh tịnh. Tâm chỉ có một pháp thực tính là “biết cảnh”, trong khi tâm sở có đến 46 pháp thực tính, mỗi pháp thực tính lại có sự vận hành riêng đối với cảnh. Nhận biết rõ từng pháp tánh riêng trong tập thể phức tạp của tâm và tâm sở, đòi hỏi hành giả phải suy nghiệm, phải nhận định theo phương án trí tuệ và đó cũng là điều cần thiết cho những ai đang dấn thân vào hành trình tu tập. Một số tâm sở ví như người có tính hài hòa, gặp ai cũng giao du bất kể tốt xấu. Những tâm sở loại này phối hợp trong cả tánh thiện, tánh bất thiện lẫn tánh không thiện không bất thiện. Một số tâm sở khác lại có tính “chuyên ngành”, chỉ gặp gỡ “thân tộc” của mình mà thôi, đó là những tâm sở Bất thiện hay những tâm sở Tịnh hảo. Một số tâm sở lại có với những nét tương đồng với nhau, nếu không biết rõ chúng, hành giả sẽ nhầm lẫn: “điều thiện” cho là bất thiện, “điều bất thiện” là thiện thì việc hành pháp sẽ gặp nhiều khó khăn đồng thời bị lệch hướng. “Không cốt lõi cho là cốt lõi Cốt lõi cho là không cốt lõi Sẽ không nhận được tinh hoa Do tà tư tà hạnh” II. NỘI DUNG: 1. TÂM LÀ Ì? Theo như Duy Thức học trong giáo lý Phật Đà Tâm còn gọi là Ý. Bản thân máu thịt con người không có tâm ý hiện hữu trong đó, thì chỉ là một khối thịt vô tri, vô xúc, gọi đó là chết. Ngược lại là sống khi tâm ý hiện hữu bên trong thân người, nên tâm ý gọi là đà sống của con người. Từ chỗ này cho ta hiểu thêm chữ sống là biết. Nói theo ngôn ngữ Trung Hoa là Thức, tức là biết. Cho nên tính chất của Tâm Ý là nhận biết, dù cho bản thân con người đang còn tươi tốt hay bất động tan rã, cái biết của Tâm Ý vẫn còn, không mất. Do vậy, chữ Tâm Ý được đi cùng với chữ Thức, gọi là Tâm Thức, Ý Thức. Tâm thanh tịnh trong sáng của chúng sinh, được đức Phật xác định đó là Phật tánh, là Như Lai tạng, đúng như lời Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Phật tánh là tánh thường hằng thanh tịnh, vắng lặng tuyệt đối, nên không sanh không diệt, không luân hồi. Nhưng sở dĩ chúng sanh bị sinh tử luân hồi là do bị vô minh, chất ô nhiễm bao phủ Phật tánh. Tâm Ý bị ô nhiễm, vô minh bao phủ dày đặc đen tối đó, được Lăng Già thay vào bằng cụm từ Thức A-Lại-Da để biểu thị cho cái Tâm Ý con người bị mất tánh trong sáng, bị vọng động, bị ô nhiễm. Cho nên con người thật của con người, một là con người có tâm Phật thật sự, hai là con người có tâm Atula, ngạ quỷ, súc sanh thật sự. 1.1. Tâm tái tục: Nhiều khi có những tâm phát sanh biết những cảnh khác nhau xuyên qua ngũ căn và ý môn. Khi tâm nhãn thức và nhĩ thức phát sanh thì chúng ta tham đắm vào chúng. Những tâm này phát sanh vì những nhân duyên khác nhau. Tâm nhãn thức và tâm tham biết cảnh sắc không phát sanh cùng một lúc, chúng thì khác nhau và có những chức năng khác nhau. Chúng ta sẽ hiểu nhiều về các loại tâm nếu, chúng ta biết chúng phát sanh theo thứ tự và chúng có chức năng gì. Mỗi tâm đều có chức năng riêng của nó (Kicca). Tâm có tất cả 14 chức năng. Tâm phát sanh ở thời điểm đầu tiên của kiếp sống cũng phải có một chức năng. Tái sanh là gì, và thật sự cái gì đi tái sanh? Chúng ta nói đến sự tái sanh của một em bé, nhưng trong thực tế, chỉ có danh và sắc tái sanh. Tái sanh là danh từ tục đế. Chúng ta nên xem xét tái sanh thật sự là gì. Danh và sắc sanh diệt luôn luôn và như vậy luôn luôn có sanh tử. Ðể hiểu nguyên nhân tái sanh, chúng ta nên biết những lý do nào danh sắc phát sanh ở khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống mới. 1.2. Những loại Tâm Tái Tục khác nhau: Trên thế gian này, chúng ta thấy nhiều chúng sanh khác nhau, con người và thú vật, tất cả đều có một sự xuất hiện khác nhau và có một đặc tính khác nhau. Chắc chắn chúng khác biệt từ những khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống, từ những khoảnh khắc của tâm tái tục. Chúng ta có thể nghĩ rằng chắc chắn có nhiều loại tâm tái tục, nhưng trái lại, chúng sanh chào đời trên thế gian này cũng có nhiều thứ giống nhau. Chúng ta cùng chia sẻ thế gian và cùng cảm nhận những cảm giác qua sáu căn, bất kể là dù chúng ta giàu hay nghèo. Do bởi những cảnh tượng mà chúng ta biết xuyên qua sáu căn, nên tâm thiện và tâm bất thiện. Tất cả những tâm này phát sanh trong đời sống hàng ngày, chúng là những tâm Dục giới (Kàmàvacaracitta). "Kàmà" có nghĩa là "dục lạc" hoặc là "những cảnh tượng của dục lạc". Tuy nhiên, tâm dục giới không những là các tâm có nguồn gốc tham ái; mà chúng còn có liên quan với cõi dục. Tái sanh làm người là kết quả của nghiệp thiện. Tâm tái tục phát sanh trong cõi người mà ở đó có các căn là kết quả của nghiệp thiện do tâm dục giới tạo tác. Nó không phải là kết quả của tâm thiền mà cũng không phải là tâm dục giới. Tâm thiền phát sanh khi chúng ta có sự an lạc ở mức độ "an chỉ tịnh", lúc đó chúng ta không biết chính các cảnh hiện diện do ngũ căn. Tâm thiền không phải là nguyên nhân tái sanh trong đời này. Như vậy, chúng sanh tái sanh trong cõi người có chung một điều là tâm tái tục của họ là kết quả của nghiệp thiện do tâm dục giới tạo tác. Ðối với những sự khác nhau về việc tái sanh làm người, chính là mức độ nghiệp thiện tạo ra tâm tái tục. 2. VÌ SAO GỌI LÀ TÂM SỞ (cetasika)? Gọi là tâm sở vì đó là những thành phần phụ thuộc vào tâm, nương vào tâm để sanh khởi lên. Nói cách khác, tâm sở là pháp luôn luôn phối hợp (sampayoga) với tâm. Có những câu pāli giải thích “sự phối hợp” như vầy: - “Có cùng với tâm, gọi là tâm sở” (đồng sanh với tâm là tâm sở). - “Khắng khít với tâm, gọi là tâm sở.” (chữ niyutti là bận rộn, vướng mắc). - “Không xa lìa nơi trú tâm nương trú, gọi là sở hữu tâm”. Không nên hiểu lầm câu kinh Pháp Cú: “Manopubbaṅgamā dhamma... ý dẫn đầu các pháp.... Cho rằng Ý là tâm, các pháp là tâm sở, nên tâm sanh trước rồi nương từ tâm sinh các tâm sở sinh lên sau. Thật ra cả tâm lẫn tâm sở đều hiện khởi cùng lúc, nhưng gọi tâm sở để nêu lên ý nghĩa “pháp tùy thuộc” tâm. Ví như vào giờ học cả thầy lẫn trò cùng có mặt, nhưng người ta gọi lớp của thầy A, lớp của thầy B ... để chỉ cho thành phần chính và thành phần phụ. Tâm sở có: - Trạng thái (lakkhaṇa): có sự nương dựa vào tâm (cittanissata). - Phận sự (rasa): không buông lìa tâm (aviyogupādana). - Thành tựu (paccupaṭṭhāna): có cùng một cảnh với tâm (ekāra - mmaṇa). - Nhân gần (padaṭṭhāna): có sự hiện hữu của tâm. 2.1. nguyên do có tâm sở: “Thức” là tác dụng của tâm, như bài kệ trước đã nói. Thật ra chỉ có một tâm, nhưng vì tác dụng không đồng, nên hiện ra ba món tục tướng là: Tâm, Ý, Thức; hay tám món tục tướng: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt na, A lại da. Nếu chính chắn xét kỹ cái tác dụng của nó, thì chẳng những phân làm ba hay tám mà lại vô số món tục tướng. Theo nhà Duy thức nói: Vì tám món tục tướng trứơc, nó tự tại hiện khởi, nên gọi rằng “Tâm vương”; còn các món tục tướng tương ưng (hiệp) với Tâm vương mà sanh khởi, thì gọi là “Tâm sở”, Muốn giải thích nghĩa này cho dễ hiểu, tôi xin lập một tỷ dụ dưới đây. 2.2. Địa vị và số lượng của các tâm sở: Các “Tâm sở” vì địa vị có thân và sơ, nên chia làm sáu loại, và vì trách nhiệm không đồng nhau, nên phân ra đến 51 món. Sáu loại Tâm sở 1. Biến hành- 5 món 2. Biệt cảnh-5 món 3. Thiện-11 món 4. Căn bản phiền não- 6 món 5. Tùy phiền não-20 món 6. Bất định- 4 món Có những Tâm sở rất thân mật với Tâm vương, không luận nơi nào hay giờ phút nào, đều không rời Tâm vương; cũng như ngày trước chức “Thừa tướng” thân cận với vua, hay ngày nay các Bộ trưởng rất mật thiết với Thủ tướng, tức là 5 món Tâm sở Biến hành. Chữ “Biến hành” nghĩa là: đi khắp, giáp tất cả. Có 4: 1. Khắp giáp tất cả thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai). 2. Khắp giáp tất cả Thức (tám thức) 3. Khắp giáp tất cả giới (tam giới) 4. Khắp giáp tất cả địa vị (từ phàm đến Thánh) 2.3. Tên của 51 món Tâm sở: 1. Biến hành Tâm sở, có 5: 1- Xúc, 2- Tác ý, 3- Thọ, 4- Tưởng, 5-Tư (Dụ như chức “Thừa Tướng”). 2. Biệt cảnh Tâm sở, có 5: 1- Dục, 2- Thắng giải, 3- Niệm, 4- Định, 5- Huệ (Dụ như các Bộ lại). 3. Thiện Tâm sở, có 11: 1- Tín, 2- Tàm, 3- Quý, 4- Vô tham, 5- Vô sân, 6- Vô si, 7- Tinh tấn, 8- Khinh an, 9- Bất phóng dật, 10- Hành xả, 11- Bất hại (Dụ như các vị Công Thần). 4. Căn bản phiền não, có 6: 1- Tham, 2- Sân, 3- Si, 4- Mạn, 5- Nghi, 6- Ác kiến (Dụ như các vị Gian Thần). 5. Tùy phiền não Tâm sở, có 20: 1- Phẫn, 2- Hận, 3- Phú, 4- Não, 5- Tật, 6- Xan, 7- Cuống, 8- Siểm, 9- Hại, 10- Kiêu, 11- Vô tàm, 12- Vô quý, 13- Trạo cự, 14- Hôn trầm, 15- Bất tín, 16- Giải đãi, 17- Phóng dật, 18- Thất niệm, 19- Tán loạn, 20- Bất chánh tri (Dụ như các quan lại tham ô). 6. Bất định Tâm sở, có 4: 1- Hối, 2- Miên, 3- Tầm, 4- Tư (Dụ như các vị Quan làm việc lưng chừng để ăn lương). 3. SỰ LIÊN QUAN VÀ HỆ THUỘC GIỮA TÂM VƯƠNG VÀ TÂM SỞ: Tâm vương tuy có quyền làm chủ và giữ gìn, mà không thể tự mình tạo nghiệp được nên phải có các Tâm sở. Nhưng làm chủ nếu không chơn chính, cũng như trên vua hôn quân thì ở dưới quần thần là các Tâm sở, cố nhiên phải làm loạn. Chính như người đời vì Tâm mình không tự chủ, nên bị tham, sân, si nổi lên, tạo ra các nghiệp trộm cướp, sát hạiv.v… không thể kềm chế được. Nếu Tâm sở không vâng mạng lịnh của Tâm vương, trái lại còn làm phản loạn thì Tâm vương phải bị nguy hiểm. Như người đời nói: “Vì tham tài lợi, nên trí khôn mờ”. Nghĩa là nói: Do Tâm sở “tham” tạo nghiệp, làm cho trí khôn của Tâm vương phải bị mờ. Hay có chỗ gọi: “Tâm bị sai khiến” tức là chỉ cho Tâm sở tạo nghiệp, sai khiến Tâm vương vậy. Thế nên phải biết: Tâm sở cùng Tâm vương rất quan hệ mật thiết. Tuy có thượng hạ phân định giai cấp như thế, nhưng đôi khi Tâm sở cướp quyền, thì Tâm vương phải bị nguy hiễm. Cũng như vị Quốc vương bị Quyền thần chấp chính thì không khỏi cái họa mất nước. Một bằng chứng: những người vì quá tham tài hiếu sắc, nên tâm trí của họphải bị cuồng loạn. 3.1. các tâm sở tương ưng với tâm vương có nhiều hay ít: ư “Dục”, nó chỉ mong muốn những việc của nó muốn; còn Thức thứ Tám này thì không có mong muốn, nên không tương ưng với “Dục Tâm Sở”. - “Thắng giải Tâm sở” là nó rành rõ những việc đã quyết định; còn Thức thứ Tám này thì mơ màng không rành rõ, nên không tương ưng với “Thắng giải Tâm sở”. -“Niệm Tâm sở”, nó chỉ ghi nhớ lại những việc đã qua; còn Thức này thì ám muội, không thể ghi nhớ, nên không tương ưng với “Niệm Tâm sở”. -“Định Tâm sở”, nó khiến cho tâm chuyên chú một cảnh; còn Thức này thì mỗi sát na (tíc tắc) nó duyên cảnh riêng khác nên không tương ưng với “Định Tâm sở”. -“Huệ Tâm sở” chỉ phân biệt chọn lựa những việc như: Thật, Đức, Nghiệp v.v…, còn Thức này thì nó mông muội, nên “Huệ Tâm sở” không tương ưng với Thức này. Thức thứ Tám này, trong nhân thì có thiện và ác, mà trên quả lại thuộc về tánh Dị thục vô ký, nên nó cũng không tương ưng với11 món Thiện tâm sở (thuộc về tánh lành) và 6 món Căn bản phiền não, cùng 20 món Tùy phiền não tâm sở (thuộc về tánh nhiễm ô). Bốn món Tâm sở “Bất định” như: - Ố tác (hối), miên, tầm, tư, thuộc về tánh Vô ký, lại có gián đoạn và không phải chơn Dị thục, nên cũng không tương ưng với Thức này. Thức thứ Bảy chỉ tương ưng với 18 mónTâm sở là: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái (bốn món trong Căn bản phiền não), năm món Biến hành, tám món Tùy phiền não, cùng với một món “Huệ” trong năm món Biệt cảnh. 3.2. Các tâm sở tương ưng: Năm tâm sở biến hành: Tác dụng tư lượng của thức thứ bảy được biểu hiện qua năm tâm sở biến hành là xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Năm tâm sở này có mặt trong tất cả các thức cho nên gọi là biến hành (universal). Những tâm sở khi tương ưng với một tâm vương (hay là một thức) thì nó mang tính chất và đường lối của tâm vương (thức) đó. Cho nên tâm sở xúc ở thức thứ tám khác (vô phú), mà xúc ở thức thứ bảy khác (hữu phú), xúc ở thức thứ sáu khác và xúc ở thức thứ năm cũng khác. Phải hiểu như vậy. Khi nói thức thứ bảy tư lượng, suy nghĩ thì sự tư lượng, suy nghĩ đó của thức thứ bảy khác với sự tư lượng, suy nghĩ của thức thứ tám. Ngã si (ātma-moha, ignorance about self) là một quan niệm sai lầm về ngã. Si nghĩa là hiểu lầm. Ví dụ như cho rằng ta là thân thể này, là cảm thọ này, tri giác này, còn những gì không phải là thân thể này, không phải là cảm thọ này, tri giác này thì không phải là ta. Những chuyện gì xẩy ra trên thế giới, cho những người khác thì không liên quan gì tới ta. Như vậy gọi là ngã si vì thật ra thì chúng ta có liên hệ tới vạn hữu, vạn vật. Chỉ nắm lấy một phần nhỏ và tạo ra bóng dáng của thực tại đó mà cho đó là cái ta thì cái ta đó không phải là cái ta chân thật cho nên mới gọi nó là ngã tướng, là đới chất chứ không gọi là tánh cảnh. Ngã kiến (ātma-dṛṣṭi, self view) là nhận thức sai lạc về ngã. Cho rằng có một cái ngã độc lập, thường tại ngoài những cái khác gọi là ngã kiến. Ngã mạn (ātma-māna, self-pride) là thái độ cho mình là giỏi hơn, hay hơn, đẹp hơn, quan trọng hơn. Ngã ái (ātma-sneha, self love) là yêu mình nhiều quá. Tất cả những lời nói, việc làm, suy tư đều mang nặng tính chất ràng buộc vào cái ta. Trong Mạt-na cũng có một trong năm tâm sở biệt cảnh là tâm sở Tuệ. Năm tâm sở biệt cảnh không hiện diện trong tất cả các thức. Năm tâm sở biệt cảnh là dục, thắng giải, niệm, định và tuệ. Dục (chanda - zeal): sự ham muốn nhìn vào sự việc gì đó để tìm hiểu. Thắng giải (adhimokṣa - certainty): khả năng nhận diện và xét đoán một sự vật nào đó Niệm (smṛti - mindfulness/memory): sự chú ý, có ý thức về một sự vật (dù có khi nó chỉ là hình ảnh trong quá khứ) Định: (samādhi - concentration): khả năng chú tâm vào một sự vật Tuệ/Huệ: (prajñā - understanding) trong Mạt-na, tuệ hay huệ là cái thấy, cái hiểu ta tưởng là đúng, trong khi chưa chắc cái hiểu đó đúng với chân tướng đối tượng. Chúng ta có thể nhầm về ý nghĩa của 5 tiếng Phạn chỉ 5 tâm sở biệt cảnh trên, vì trong các thức khác nhau, chúng cùng tên nhưng có ý nghĩa khác nhau. Cả năm tâm sở biệt cảnh trên đều bị ngăn che (hữu phú) trong Mạt-na, nên không giống với các tâm sở cùng tên trong A-lại-gia. 3.4. Tâm Tương ưng là gì? Trong 51 món Tâm sở, chẳng những tùy theo Tâm vương sanh khởi, mà gọi là “Tương ưng”, chính Tâm sở với Tâm sở đồng thời sanh khởi, cũng gọi là tương ưng. - Chữ “Tương ưng” nghĩa là hòa hiệp, hay không trái nhau. Cũng như quan vâng lệnh vua, tớ vâng lệnh chủ, đồng làm một việc, gọi là hòa hiệp không trái. Khi tôi tớ này cùng với tôi tớ kia đồng làm một việc, cũng gọi là hòa hiệp không trái nhau (tương ưng). Trong Thành Duy Thức Luận, giải nghĩa chữ “Tương ưng” có nói rằng: “Tuy hành tướng khác nhau, nhưng đồng một thời, đồng y một chỗ, đồng cảnh sơ duyên và đồng một việc (sự) thì gọi là “Tương ưng”. Nghĩa là Tâm vương và Tâm sở hoặc Tâm sở và Tâm sở, tuy hành tướng năng duyên mỗi món không đồng, nhưng cả hai đều đồng thời, đồng y một chỗ, đồng cảnh sở duyên hoặc đồng tự thể sự tướng, thì đều gọi là tương ưng. Nói “đồng cảnh sở duyên”, nghĩa là: đồng duyên một cảnh. – Nói “đồng sự tướng” nghĩa là: Tâm vương và Tâm sở mỗi món đều y một tự thể, không được nhiều ít và so le. Hoặc Tâm sở và Tâm sở, khi cùng nhau đồng thời, đồng y một chỗ, đồng duyên một cảnh và đồng một sự tướng, thì đều gọi là tương ưng. – Tỷ dụ như khi con mắt thấy hoa, thoạt sanh một tâm niệm tham xem hoa, thế gọi là tham Tâm sở cùng với Nhãn thức Tâm vương tương ưng. – Nếu đồng khi ấy, khởi lên một tâm niệm si mê, thì tâm niệm si mê này, cùng với tâm niệm tham, đồng một sát na, đồng y một căn, đồng duyên một cảnh và mỗu món đều y một tự thể, cũng được gọi là “Tương ưng”. Chỉ Tâm sở với Tâm sở kia tánh chất không đồng và cũng không đồng thời khởi, thì gọi là bất tương ưng. Dụ như khi tham xem hoa, không thể đồng trong một sát na khởi lên tâm sân, bởi vì tánh tham thì ưa muốn, còn tánh sân thì ganh ghét, rất trái nhau; cũng như hai người, một người tánh như lửa, một người tánh như nước, thì không thể làm bạn với nhau được, cho nên cũng không tương ưng. 3.5. Duy Tâm Sở Hiện, Duy Thức Sở Biến: Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật nói cho chúng ta biết, hư không pháp giới tất cả chúng sanh là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. “Tâm” này là chân tâm, còn “thức” là vọng tâm, chân tâm và vọng tâm là một tâm. Sao gọi là chân tâm, là vọng tâm vậy? Hoàn toàn giác ngộ gọi là chân tâm, kèm theo có mê hoặc là vọng tâm. Mê hoặc là sao? Chúng ta ở trong các buổi giảng thường nói vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trong tâm bạn chỉ cần có ba thứ này chưa loại bỏ sạch sẽ thì đây chính là vọng tâm, chân tâm không thể hiện tiền. Nếu các thứ này thảy đều gạn lọc hết rồi, hoàn toàn không còn nữa, thì chân tâm liền hiện tiền. Quyết không phải nói, ở ngoài vọng tâm còn có chân tâm, thế là không tìm ra rồi, vậy là chân tâm cũng không có. Cho nên nói “chân vọng không hai” chính là đạo lý này. Chỉ cần đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông xả thì chân tâm liền hiện tiền. Chân tâm là năng hiện, năng hiện vũ trụ hư không. Trong Phật pháp nói mười pháp giới y chánh trang nghiêm, ngay cả nhất chân pháp giới đều do chân tâm hiện ra. Từ đó cho thấy, chúng ta bị già, bị bệnh, bị chết là do vọng tâm tạo nên. Vọng tâm chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Giả như đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn hết, thì chúng ta và chư Phật Như Lai giống nhau, cũng là bất sanh bất diệt, không già, không suy, không bệnh. Đạo lý lớn này ở trong tất cả kinh luận đại thừa, Phật đều nhắc đến cho chúng ta, đây là cái mà chúng ta cầu! Cho nên, Phật và chúng sanh là bình đẳng, quyết định bình đẳng, không có cao thấp! 4. TÂM SỞ CHÚ TÂM – HÀNH TRÌ THANH TỊNH: Khi chú tâm đến một đối tượng nào đó thì tâm sở chú tâm khởi lên, tâm thức tràn ngập đối tượng được chú tâm. Người có thể trở thành đối tượng mà mình chú tâm. Chú ý đến một bông hoa, người trở thành bông hoa đó, chú ý đến em bé, người trở thành đứa bé đó. Có câu mình là cái mình nghĩ là như vậy. Không phải có một sự vật bên ngoài đi vào trong tâm thức rồi hoán chuyển bản thân mà trong giây phút ấy, đối tượng choán ngợp tâm khiến cho tâm không còn để các đối tượng khác chen vào nữa. Sự chú tâm là điều cơ bản giúp tâm an trú trên đối tượng. Chưa cần biết đối tượng đó như thế nào nhưng trước hết tâm tạm thời không đi lang thang. Do có chú tâm, người có thể niệm được và niệm miên mật, phẩm chất chú tâm tăng cao. Một số tâm sở có thể phát khởi trong lúc chú tâm như tâm sở xúc, tâm sở niềm tin, tâm sở tỉnh giác, tâm sở tham lam, tâm sở sân hận, tâm sở thọ, tâm sở tri giác, tâm sở ý hành hay tâm sở mạng căn. Tâm sở tham lam hay tâm sở sân hận phát khởi là do tâm bị dính mắc vào cảnh hay bị cảnh chi phối, quên đi nhiệm vụ nhận diện đơn thuần của chánh niệm. Chỉ cần thêm mắm muối vào cảnh, tô điểm nó bằng ý kiến riêng thì cảnh bị mất đi bản chất thanh tịnh vốn có. Cảm giác về đối tượng là tâm sở thọ cũng vậy, cảm giác gì cũng phải ghi nhận, không phải khống chế cảm giác mà biết về nó để không chìm đắm, không bị sai khiến. Chú tâm đàng hoàng, người không bị hớt hải trong cảnh hay suy nghĩ. Chú tâm không đàng hoàng, người ngụp lặn trong thế giới ảo, mà thế giói ảo ở đây là gì, là sự tham đắm, là sân hận, là si mê, là nghi ngờ, là tà kiến, là kiêu ngạo, là khoe khoang. Chánh niệm về chú tâm để biết người đang chú tâm, biết đối tượng mình đang chú tâm. Không nhất thiết phải chuyển đổi đối tượng chú tâm. Các pháp đều thanh tịnh thì chú tâm bất cứ đối tượng nào cũng vậy thôi. 4.1. tâm sở Hôn trầm (thīnacetasika): - Chỉ là sự không bén nhạy của tâm, không thích nghi, sự chần chừ, trầm lặng, lười biếng, dã dượi (của tâm)... Hôn trầm”là sự không nhạy bén của tâm (tâm không mạnh mẽ)”, tức là khi ấy tâm không muốn hoạt động, “co rúm” lại như lông gà gặp phải khí nóng của lửa. Hôn trầm là “sự không thích nghi của tâm”, tức là đối với việc làm nào đó, tâm cảm thấy không phù hợp. Như khi nghe pháp, người phật tử cảm thấy không thích thú, vì “không hiểu” hoặc “quá nhàm”.... “Sự lười biếng” hay “dã dượi” là hai ý nghĩa nổi bật nhất của hôn trầm. Hôn trầm làm cho tâm mất đi sự linh hoạt, hoạt bát. Khi hôn trầm có sức mạnh sẽ làm cho tâm dừng lại, không muốn hoạt động, chỉ muốn “tìm giấc ngũ”. Ví như người đi đường xa, không muốn đi nữa (không thích nghi với sự đi) nên dừng lại. Lẽ thường, người bịnh thường không muốn hoạt động, cũng vậy,tâm bịnh là tâm không muốn hoạt động. Tâm không muốn hoạt động là do tâm sở hôn trầm tác động. 4.2. tâm sở thụy miên (middhacetasika): Chỉ là sự không bén nhạy của thân, không thích nghi, sự che lấp, đậy khuất, bít ngăn bên trong, hôn mê, bần thần, sự buồn ngủ... Một ý nghĩa khác của thụy miên là “chậm chạp”, ví như trạng thái di chuyển của người bịnh nặng hay giống như sự di chuyển của người quá mệt mỏi hay gần kiệt sức. Sách Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo) có giải thích về hôn trầm vàthụymiên như sau: Hôn trầm có đặc tính (lakkhaṇa): Thiếu năng lực, mất hết nghị lực. Thụy miên có đặc tính: Không thích hợp với công việc, chậm chạp. Tuy cả hai tâm sở này luôn đi chung với nhau, nhưng mỗi tâm sở có những điểm giống nhau, đồng thời cũng có những nét khác nhau. Chúng giống nhau ở điểm: - Làm cho các pháp đồng sanh với chúng mất khả năng phát triển, ngăn chận sự năng hoạt của các pháp đồng sanh, khiến cho các pháp đồng sanh trở nên “cứng sượng”. - Là pháp đối nghịch của tinh tấn. Một khi hôn trầm thụy miên sinh khởi thì sự tinh tấn sẽ lui sụt, trạng thái bần thần, dã dượi, buồn ngủ xuất hiện ngay, đó là đặc trưng của hai tâm sở này. - Là pháp đối nghịch của “thích ứng – kammañnatā”. Chúng làm cho tâm cùng tâm sở khác trở nên ‘cứng sượng”, khó sử dụng. Điểm khác biệt của chúng là: - Hôn trầm làm cho tâm mất đi khả năng linh hoạt, tâm trở nên “cứng đờ”. Hôn trầm trực tiếp đối nghịch với tâm sở Tâm thích ứng (cittakamaññatā cetasika). - Thụy miên làm cho các tâm sở đồng sanh trở nên uể oải, chậm chạp, không muốn hoạt động. Thụy miên trực tiếp đối nghịch vối tâm sở Thân thích ứng (kāyakammaññatā cetasika). 4.3. tâm sở hoài nghi (vicikicchā cetasika): Nghi ngờ có hai loại:Hoài nghi thông thường, loại hoài nghi này không phải là tâm sở hoài nghi. Vị Thánh Alahán đôi khi cũng phân vân chưa biết phải đi về hướng nào khi đứng trưoớc ngả ba đường... Hoài nghi về thực tính pháp, đây mới là tâm sở hoài nghi. Trong phần này, hoài nghi có hai loại: - Hoài nghi về luân lý: Tức là hành động này là tốt hay xấu đây nhỉ? Là thiện hay bất thiện? Có lợi ích hay không lợi ích? Tâm phân vân, không quyết định được, đó là hoài nghi về luân lý. Theo bản Sớ giải thì hoài nghi về Đức Phật có 5 điều: 1- Phân vân không hiểu Đức Phật có thật sự chứng đắc Nhất thiết trí (sabbaññutāñāṇa) chăng?. 2- Phân vân không biết hào quang của Đức Phật có chiếu sáng nơi khuất (ám chỉ địa ngục không gian – lokantarika niraya) chăng?. 3- Phân vân không biết hào quang 6 màu của Đức Phật phóng ra khi suy xét tạng Luận, có đầy đủ chăng?. 4- Phân vân về sự kiện: Đức Phật dùng Song thông lực nhiếp phục ngoại đạo, rồi an cư mùa mưa ở cung trời Đạo lợi có thật chăng? 5- Phân vân rằng: Ngài thật sự trừ diệt vô minh bằng năng lực trí tuệ, điều này có thật không. Trong năm điều trên vào thời điểm hiện tại, thật khó mà kiểm chứng vì Đức Phật đã niết bàn. 4.4. Đối trị các tâm sở bất thiện: Trong các tâm sở bất thiện có một số tâm sở bị tâm sở khác đối trị rõ ràng, một số tâm sở bất thiện khác không có tâm sở đối trị rõ ràng, như tâm sở tà kiến hay tâm sở ngã mạn sinh khởi do “nắm giữ cái ta, nắm giữ cái của ta” ... Trên nguyên tắc cơ bản thì thiện đối trị với bất thiện, nhưng cũng có loại tâm sở Tợ tha đối trị với bất thiện, như: Tâm sở Thắng giải đối trị với tâm sở hoài nghi. Sau đây là những tâm sở trực tiếp đối trị tâm sở bất thiện: - Đối trị với tâm sở Si là tâm sở trí (ñāṇa cetasika). - Đối trị với tâm sở Vô tàm là tâm sở Tàm (hổ thẹn tội lỗi – hiricetasika). - Đối trị với tâm sở Vô quý là tâm sở Quý (ghê sợ tội lỗi – ottappacetasika). - Đối trị với tâm sở Phóng dật là tâm sở Niệm(saticetasika). “Này các tỳ khưu, phàm có những thiện pháp nào, tất cả chúng lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp”. “Không phóng dật” là tên gọi khác của niệm(sati). - Đối trị với tâm sở Tham là tâm sở Vô tham. - Đối trị với tâm sở Tà kiến là chánh kiến (tức trí tuệ). - Đối trị với tâm sở Ngã mạn là “không nắm giữ” (tức là tâm sở Vô tham). - Đối trị với tâm sở Sân là tâm sở Vô sân (adosacetasika). - Đối trị với tâm sở Ganh tỵ, là tâm sở Tùy hỷ (muditācetasika). - Đối trị tâm sở Bỏn xẻn là tâm sở Bi (karuṇācetasika). - Đối trị tâm sở Hối là tâm sở Hành xả. - Đối trị với tâm sở Hôn trầm là tâm sở Tâm nhu nhuyến (cittakammaññatā cetasika). - Đối trị với tâm sở Thụy miên là tâm sở Thân nhu nhuyến (kāyakammaññata cetasika). - Đối trị với tâm sở hoài nghi là tâm sở Thắng giải (adhimokkha cetasika). 5. TÂM SỞ TÁC Ý – ĐỊNH HƯỚNG CHO TÂM: Nếu tâm được đặt đúng hướng, nhiều lợi ích sẽ phát sinh. Lợi ích đây không mang ý nghĩa về tài sản, tình cảm hay những thứ dính mắc mà lại là sự giải thoát, biết sống hạnh phúc trong hiện tại và khả năng buông bỏ mọi thứ. Buông bỏ không có nghĩa là không gì cả theo cách như sở hữu một chiếc xe hơi rồi bố thí nó đi, không nắm giữ nó nữa. Buông bỏ hàm chứa ý nghĩa sở hữu một chiếc xe nhưng không lo lắng và sầu khổ nếu nó bị hỏng, mất mát hay già cỗi đi. Người đặt tâm đúng hướng có thể gọi là người trí tuệ, thấu hiểu mọi sự việc hay hiện tượng phát sinh đều do nhân duyên mà thành và cũng do nhân duyên mà diệt, nhưng chẳng có gì thành và cũng chẳng có gì diệt. Đi học, đi làm, để dành, tiết kiệm và nhu cầu đi lại khiến anh A quyết định mua xe hơi, nhưng nếu không ai bán xe hơi thì làm sao anh mua được. Khi anh mua rồi, phải có xăng, dầu diesel hay điện mới chạy được. Đến lúc xe chạy riết cũng phải hư và thay thế phụ tùng. Nếu xe cũ quá anh cũng phải bỏ nó đi. Rất nhiều yếu tố tạo nên chiếc xe và các yếu tố đầy đủ, chiếc xe có mặt. Lúc chiếc xe bị vứt bỏ, nó tan rã và chuyển sang các dạng vật chất khác nhau. Chiếc xe không biến mất hoàn toàn mà chỉ thay hình đổi dạng thôi. Sử dụng tâm tìm hiểu các nguyên nhân sinh ra hiện tượng hay các pháp, con người biết thực tính của các hiện tượng hay thực tính của các pháp đều như nhau, hợp rồi tan, thành rồi hoại. Điều chú ý là trước khi hợp hay sau khi tan, các hiện tượng không khác nhau nên không có sự phân biệt và trong lúc đang hợp hay đang thành, chúng chỉ là sự biểu hiện của các pháp, hay còn gọi là giả danh. Như lý tác ý làm nhiệm vụ thấy rõ ràng sự hợp tan của các hiện tượng và cứ thế làm hoài không có gì bắt nó ngưng được nếu mọi điều kiện cần thiết cho một hiện tượng có mặt đầy đủ. Thiện pháp tăng trưởng vì các nguyên nhân được hiểu rõ, con người sẽ hướng tâm đến các đối tượng an lạc, tầm cầu sự bình yên và tha thiết trong việc chế tác hạnh phúc. 5.1. Tâm Sở Thắng Giải – Đừng Mê Mải–Bảo Hiểm Tâm(Adhimokkha cetasika): Thắng giải là thoát ra nghi hoặc, lưỡng lự, phân vân hay áp chế. Sự hoài nghi là nguyên nhân của những suy nghĩ mang tính tà kiến và phát khởi những tri giác sai lầm. Thắng giải có khả năng áp chế hoài nghi, không bị kẹt vào tính chất đúng sai cũng không nằm trong phạm trù của thắng giải. Tâm không phân biệt cảnh mà chỉ biết về cảnh thôi nên tâm không bị dính mắc bởi các ý niệm nào. Tâm biết và có thể gọi tên cảnh nhưng không phân biệt cảnh tốt hay xấu. Giống như nhìn thấy lá vàng rơi thì biết lá vàng rơi, không liên quan gì đến việc rơi đẹp hay không đẹp, phong cảnh hữu tình hay buồn bã. Thắng giải đưa đến các quyết định phán xét hay hành động. Hành động có nghĩa hành động hay không hành động và không hành động là một loại hành động. Khi tâm có sự phân biệt, sự phân biệt này có thể đúng hoặc sai. Quyết định đúng đối với cảnh, con người sẽ có hành động thiện và quyết định sai đối với cảnh, con người sẽ có hành động bất thiện. Một người đang thất nghiệp tìm mãi không ra việc đang rất buồn khổ, người khác nhận ra cảnh này nên tìm cách an ủi và động viên giúp họ bớt khổ, nhưng nếu không biết lại nói lời chê bai hay so sánh, họ càng buồn khổ hơn. Bởi vậy nói có hiểu mới có thương, nói thương mà không hiểu chỉ mới thương bề ngoài, khi hiểu được rồi, tình thương chân thật hơn. Tâm vững trong cảnh và trở thành cảnh như Tứ Niệm Xứ nhắc tới quán thân trong thân. Quán niệm về thân trong thân theo đó hành giả hoàn toàn đặt vị trí của mình vào cảnh để quán chiếu, không đứng bên ngoài dòm ngó và phán xét. Quyết định của thắng giải là an trú vào cảnh nhưng không phụ thuộc vào cảnh. Nói an trú ở hiện tại nhưng không dính mắc vào hiện tại bởi vì hiện tại cũng phải buông bỏ. 6. BIỂU ĐỒ TÂM PHÁP: BẢN ĐỒ TÂM PHÁP: PHÁP TỤC ĐẾ CHÂN ĐẾ VÔ VI HỮU VI SẮC PHÁP DANH PHÁP TÂM SỞ TÂM VƯƠNG TÂM SIÊU THẾ TÂM HIỆP THẾ TÂM ĐÁO ĐẠI TÂM DỤC GIỚI TÂM SẮC GIỚI TÂM VÔ SẮC GIỚI TÂM DỤC GIỚI TÂM DỤC GIỚI TỊNH HẢO TÂM DỤC GIỚI VÔ TỊNH HẢO TÂM VÔ NHÂN TÂM BẤT NHÂN TÂM THAM TÂM SÂN TÂM SI 1).TÂM THAM THỌ HỶ HỢP TÀ VÔ TRỢ 2).TÂM THAM THỌ HỶ HỢP TÀ HỮU TRỢ 3).TÂM THAM THỌ HỶ LY TÀ VÔ TRỢ 4).TÂM THAM THỌ HỶ LY TÀ HỮU TRỢ 5).TÂM THAM THỌ XẢ HỢP TÀ VÔ TRỢ 6).TÂM THAM THỌ XẢ HỢP TÀ HỮU TRỢ 7).TÂM THAM THỌ XẢ LY TÀ VÔ TRỢ 8).TÂM THAM THỌ XẢ LY TÀ HỮU TRỢ TÂM SÂN TÂM SÂN THỌ ƯU HỢP PHẤN VÔ TRỢ TÂM SÂN THỌ ƯU HỢP PHẤN HỮU TRỢ TÂM SI TÂM SI THỌ XẢ HỢP HOÀI NGHI TÂM SI THỌ XẢ HỢP PHÓNG DÂT III). KẾT LUẬN: Sự thực chứng chân lý vô thường, khổ và vô ngã không chỉ xảy ra một cách bất ngờ, nhưng đó là kết quả do việc tu luyện trí tuệ hiểu biết trực tiếp thông qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông qua toàn bộ các giai đoạn phát triển trí tuệ khác nhau về cảnh dưới cùng những đặc tính: Danh pháp và sắc pháp xuất hiện ngay trong sát-na hiện tại này, trong cuộc sống đời thương. Đối tượng thì là một nhưng hiểu biết laị phát triển và nhận ra các thực tại rõ ràng hơn. Chính vì vậy mà hoài nghi về các thực tại và tà kiến về chúng cũng được dẹp bỏ. Chúng ta học biết được “các hiện thực sinh rồi diệt”. Nhưng thay vì trực tiếp hiểu biết chân đế đó chúng ta lại chỉ có thể suy tưởng đến chân đế mà thôi. Trạng thái đặc tính vô thường là thực chứng không phải là suy tưởng. Sự thể hiện đó “không tồn tại”. Đặc tính vô thường nơi các thực tại đó không thể nhận ra được ngay lúc ta bắt đầu tu luyện hiểu biết. Thoạt tiên hiểu biết phải phân định rõ ràng danh pháp xuất hiện chỉ là danh pháp và sắc pháp xuất hiện chỉ là sắc pháp. Danh pháp và sắc pháp là hai thực thể hoàn toàn khác nhau và cả hai không thể trở thành đối tượng cho chánh niệm cùng một lúc được, nhưng chúng ta vẫn thường hay nhầm lẫn về những trạng thái nơi cả hai thực tại này. Trên nguyên tắc, chúng ta biết rằng danh pháp cảm nghiệm được đối tượng và sắc pháp chẳng cảm nghiệm được gì hết, nhưng hiểu biết lý thuyết đó chỉ mang tính hời hợt nông cạn. Để có thể tu luyện được trí tuệ trực tiếp về các thực tại, trước hết chúng ta nên phân biệt sự khác nhau giữa những sát-na suy nghĩ về khái niệm như “con người, thân thể, hay cái nhà” và trong những sát-na đó chỉ có chánh niệm một thực tại mà thôi, như là cảnh sắc, sự cứng, hay thấy. Đây là những thực tại siêu việt, mỗi loại lại có chánh niệm, không thay đổi, cho dù chúng ta có gọi chúng với cái tên nào đi nữa. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. HT Minh Châu (dịch), Thắng Pháp Tập Yếu Luận, nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2005. 2. Thích Thiện Minh - Cư Sĩ Đức Tài, Tự Học Vi Diệu Pháp, NXB Tổng Hợp TP HCM, 2007. 3. Thích Giác Chánh, Vi Diệu Pháp Nhập Môn, Lưu hành nội bộ. 4. Thích Chánh Minh, Tâm Vấn Đáp, nxb.Tôn Giáo, Hà Nội, 2006. 5. HT. Thích Minh Châu, Tăng chi bộ kinh II, Viện NCPHVN, 1967, 1996. 6. Kinh Pháp Cú, HT. Thích Minh Châu dịch, 1996, Website: Quangduc.com. 7. Sư Cô Trí Hải dịch, VISUDDHIMAGGA (Thanh Tịnh Đạo), nxb. Đai Học Quốc Gia, Hà Nội, 2001. 8. Nārada Mahā Thera, Phạm Kim Khánh dịch, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Website: Quangduc.com. 9. HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, nxb. Tôn Giáo, 1999. 10. Aṅguttara Nikāya (Tăng Chi bộ), I, II, III, IV. Ấn hành năm 1967. 11. Saṃyutta Nikāya (Tương Ưng bộ), I, II, III, IV, V. Ấn hành năm 1982 12. Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh), I, II, III, IV. Ấn hành năm 1973. 13. Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh), I, II, III. Ấn hành năm 1973. 14. Thắng pháp tập yếu luận (abhidhammasaṅgaha). 15. Jākata (Kinh Bổn Sanh), Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2001.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét