THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: 1. Nguồn gốc của triết học 1.1. Nguồn gốc nhận thức: 1.2. Nguồn gốc xã hội: 2. Giá Trị của Triết Học: 2.1. Ý nghĩa đạo đức của triết học và ngôn ngữ của nó: 2.2. Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức: 2.3. triết học liên văn hóa: Một trải nghiệm tự thân: 2.4. triết học và hư cấu: 3. các chiều hướng triết học: 3.1. Triết Học như là môn học về nguyên lý tối hậu: 3.2. Triết Học như là công cụ khoa học: 3.3. Triết Học như là môn học giúp con người đạt tới tri thức chân thực: 4. Triết Học và Tôn Giáo, Nghệ Thuật, Khoa Học: 4.1. Bản chất và quy luật của đời sống tinh thần: 4.2. Quan hệ giữa triết học với tôn giáo: 4.3. Linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm: 4.4. Tôn giáo và chân lý: 4.5. Thần học và Triết học: 5. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người: 5.1. bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội: 5.2. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử: 5.3. Trách nhiệm và nhiệm vụ: 5.4. Triết Học như là một lối biểu hiện tính chất tồn tại của con người: 6. Biện chứng giữa cá nhân và xã hội: 6.1. Khái niệm quần chúng nhân dân: 6.2. Khái niệm cá nhân trong lịch sử: 6.3. Vai trò của quần chúng nhân dân: 6.4. Vai trò của lãnh tụ: 7. Con người là chủ thể hay thị trường là chủ thể? 7.1. Phê phán xã hội và cuộc tìm kiếm con người nhân cách: 7.2. Phê phán thẩm mỹ và cuộc tìm kiếm con người nhân cách: 7.3. Tính chất phi nhân cách của cơ chế thị trường: III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI I. DẪN NHẬP: Đã đến lúc khép lại phần lược khảo vắn vỏi và còn nhiều dang dở về những vấn đề của triết học, nên trong phần kết luận này, chúng tôi thấy cần phải thẩm định lại giá trị và lý do cần nghiên cứu triết học. Việc xem xét này càng trở nên cần thiết hơn khi thực tế cho thấy có nhiều người, do chịu ảnh hưởng của khoa học hay những công chuyện thực tiễn, nên có khuynh hướng nghi ngờ, cho rằng triết học có là điều gì tốt hơn ngoài những lối phân biệt ngây ngô, vô bổ, tầm thường, “chẻ sợi tóc ra làm tư” và rút cục là những cuộc tranh luận chỉ tổ liên quan đến những đề tài tri thức hết sức vẩn vơ. Quan điểm như thế về triết học có lẽ một phần do nhận thức sai lầm về mục đích của cuộc sống, phần khác do cách hiểu thiên lệch về kiểu sản phẩm mà triết học cố gắng đạt được. Khoa học vật lý nhờ vào những phát minh của nó mà hữu dụng đối với vô số người vốn chẳng biết gì về nó. Cho nên người ta khuyến khích nghiên cứu vật lý không chỉ vì, hay ít là lúc đầu, những lợi ích trên sinh viên, nhưng đúng hơn là vì hiệu quả đối với nhân loại nói chung. Như thế, tính hữu dụng không thuộc về triết học. Nếu nghiên cứu triết mang lại giá trị cho số đông người khác, hơn là cho sinh viên khoa triết, thì điều đó phải diễn ra cách gián tiếp, thông qua những hiệu quả đối với đời sống của những ai truy tầm nó. Do đó, chính nơi những hiệu quả ấy mà người ta phải truy tìm trước tiên giá trị của triết học, hơn là bất cứ chỗ nào khác. II. NỘI DUNG: 1. Nguồn gốc của triết học Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định. 1.1. Nguồn gốc nhận thức: Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? ... trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học. Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận. 1.2. Nguồn gốc xã hội: Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định. 2. Giá Trị của Triết Học: Các nhà triết học tuy thích nói, nhưng lời họ nói hầu như chẳng ích lợi gì, không thể làm cho mùa màng tốt hơn, không thể làm cho máy bay bay nhanh hơn, càng không thể tự cứu mạng sống của mình khi chới với trong dòng nước. Tóm lại, trong suy nghĩ của nhiều người, triết học không thể giải quyết những vấn đề thực tế, không thể làm thức ăn nuôi sống con người. Triết học quả là một thứ không thể ăn được, nhưng như Aristole từng nói, suy nghĩ về triết học như thể là một sự việc tiến hành sau khi đã no bụng. Sở dĩ chúng ta cần có triết học, cần có thứ mang tính tinh thần đó bởi vì chúng ta là con người, chúng ta không chỉ có Sống mà còn Muốn sống và hy vọng Sống tốt hơn. Cho nên chúng ta mới tìm phương thức sống, đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Quan điểm về triết học có vẻ phát xuất một phần từ khái niệm sai lạc về các mục đích của cuộc đời, một phần từ khái niệm sai lạc về loại ích lợi mà triết học tìm cách đạt tới. Nhờ các phát minh của nó, khoa học vật lý mang lại lợi ích cho vô số những người hoàn toàn không biết gì về nó, vì thế khoa vật lý được khuyên học, không chỉ vì ảnh hưởng của nó đối với sinh viên, mà vì ảnh hưởng của nó đối với loài người nói chung. Lợi ích này không thuộc về triết học. Nếu học triết học có lợi ích nào với những người không phải là sinh viên triết học thì đố cũng là một lợi ích gián tiếp mà thôi. Thông qua ảnh hưởng của nó trên đời sống của những người học triết học. Do đó chính trong những ảnh hưởng này chứ không phải ở đâu khác, mà giá trị của triết học được chúng ta tìm kiếm. 2.1. Ý nghĩa đạo đức của triết học và ngôn ngữ của nó: Trong khía cạnh quan niệm như trên về nhà triết học-công dân, triết học rõ ràng cần phải tự tái tạo lại bản thân mình. Sự (tái) sáng tạo đạo đức của triết học là một thời đoạn của sự (tái) sáng tạo đạo đức của nền văn hoá. Vậy mà, mọi sự tái-sáng tạo đều giả định một sự sáng tạo trước nó, cái mà, với tư cách sự sáng tạo của con người, không bao giờ xuất phát từ hư vô. Sáng tạo luôn là một sự tái sáng tạo theo nghĩa nào đó, xuất phát từ cái đã được người khác sáng tạo từ trước. Trong triết học, cũng như trong nghệ thuật và khoa học, ký ức về quá khứ là một điều kiện của sự sáng tạo: thực hành triết học, đó là bước vào một truyền thống thực hành triết học. Giữa những thực tiễn đó, sự khác biệt nhau về mặt văn hoá, nổi lên những cách thức thực hành triết học cho rằng triết học có một chiều cạnh đạo đức. Truyền thống đạo đức này của triết học, cái đã tạo nên rất nhiều cách thức thấu hiểu và đảm nhiệm khác nhau mối quan hệ giữa triết học và đạo đức, đã để lại cho chúng ta một di sản quý giá những quan điểm, những khái niệm và những triển vọng cho sự nghiên cứu. Đó chính là công cụ giúp chúng ta triển khai việc tái sáng tạo một cách có đạo đức nền văn hoá triết học. Tính chính xác của tư duy không nhất thiết bao hàm sự bí hiểm của ngôn ngữ. Trên thực tế, lĩnh vực “triết học” hiện hành, sự bí hiểm của ngôn ngữ thường lại che giấu sự thiếu vắng của tư duy. Đối với nhà triết học không phải là nhà vua và dân chúng, trong quan điểm của họ không chỉ bao gồm vua và các nhà hàn lâm, thì sự giao tiếp của họ với mọi người trước hết đòi hỏi phải (tái) sáng tạo những hình thức văn tự độc đáo, kết hợp giữa tính khái niệm và tính tự sự. Vấn đề ngôn ngữ và văn tự của triết học không đơn thuần chỉ là một vấn đề về “phong cách” hay “hình thức”: phong cách và hình thức luôn biểu hiện và làm hình thành một quan niệm nào đó về mối quan hệ giữa triết học và xã hội. 2.2. Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức: Đập vào mắt trước tiên là, đối với triết học, thái độ của giới trí thức cũng thiếu văn hoá như đối với các giá trị tinh thần khác: giá trị tự thân của triết học bị phủ nhận, triết học phải khuất phục các mục tiêu xã hội-duy lợi. Các tiêu chí duy lợi-đạo đức giữ địa vị đặc biệt, địa vị thống trị độc đoán, giữ thế thượng phong mang tính áp chế của tình yêu đối với nhân dân, đối với giai cấp vô sản, thái độ sùng bài “nhân dân”, sùng bái lợi ích của nhân dân, sự đè nén về mặt tinh thần do chế độ chuyên chế gây ra - tất cả những điều này đã dẫn tới kết quả là trình độ văn hoá triết học của chúng ta quá thấp, kiến thức triết học và sự phát triển của triết học ít được phổ biến trong môi trường trí thức của chúng ta. Văn hoá triết học cao chỉ có thể gặp ở một vài cá nhân và đấy là sự khác biệt của họ với thế giới “trí ngủ”. Nhưng chúng ta không chỉ có ít kiến thức triết học - tai hoạ này có thể sửa chữa được – chúng ta còn có tư tưởng cho rằng triết học chân chính phải nằm trong vòng bí mật và khó hiểu, còn sáng tạo triết học thì thuộc về thế giới khác, thế giới huyền bí. Có thể có một số người đọc sách triết học, bề ngoài thì họ hiểu, nhưng bên trong họ cũng ít gắn bó với thế giới sáng tạo triết học, tương tự như với thế giới của cái đẹp vậy. Lý do không phải là do khiếm khuyết về mặt trí tuệ mà là ở sở nguyện, cái sở nguyện đã tạo ra môi trường trí thức ngoan cố truyền thống tức là cái môi trường đã có sẵn trong máu thịt của mình thế giới quan dân tuý và cách đánh giá mang tính duy lợi, vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Trong một thời gian dài người ta vẫn coi sáng tạo triết học là một cái gì đó gần như phi đạo đức, họ coi đấy là sự phản bội nhân dân, phản bội sự nghiệp của nhân dân. Người dành quá nhiều tâm trí cho các vấn đề triết học bị nghi là thờ ơ với quyền lợi của nông dân và công nhân. Giới trí thức có thái độ khắc khổ đối với triết học, họ đòi phải tiết chế để dành sức phục vụ cho chúa trời của mình, tức là nhân dân, dành sức cho cuộc đấu tranh với chế độ độc tài chuyên chế. Cái thái độ khắc khổ duy lợi-dân tuý đối với triết học như thế vẫn có ngay cả trong các trào lưu triết học mà bề ngoài có vẻ như đã vượt qua được tư tưởng dân tuý và từ bỏ chủ nghĩa duy lợi thô thiển rồi, vì đấy là thái độ đã ăn sâu bén rễ trong tiềm thức. 2.3. triết học liên văn hóa: Một trải nghiệm tự thân: Trong lúc ấy, chính văn hoá và triết học có một tương quan nội tại nền tảng, đến nỗi có thể nói nền tảng của văn hoá là triết học, và ngược lại, nền tảng của triết học là văn hoá, cả hai không thể tách rời. Nếu nhìn văn hoá là tổng thể ý nghĩa của những gì con người tác tạo nên khi xây dựng hiện hữu của chính mình và thế giới chung quanh, văn hoá chính là nổ lực của con người trả lời câu hỏi về ý nghĩa hiện hữu, giá trị của nhân sinh, tất cả những nổ lực phát xuất từ nhu cầu biện biệt đúng sai, truy tìm chân lý, hay nói cách khác từ nhu cầu yêu sự khôn ngoan, minh triết, thay vì sống trong vô minh. Câu hỏi khởi đầu triết học “làm thê nào để có một nhận thức đúng về sự vật” đặt nền tảng cho văn hoá. Từ triết lý về nhận thức đúng, sai, con người xây dựng giá trị nhân văn của mình. Hệ thống triết lý, tư tưởng là thành quả văn hoá. Có thể nói triệt để hơn: nhận diện văn hoá trước tiên chính là nhận diện tư duy của con người trong tương quan với chính mình, người khác và thế giới bên ngoài, có nghĩa nhận diện triết lý sống. Mỗi mẫu văn hoá là một quá trình nhào nặn tương quan giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể và đối tượng bên ngoài để đạt đến trình độ nhất thể, tự tri như là bản sắc văn hoá. Trong ý nghĩa ấy, I. Kant cho rằng thiên nhiên không khai sinh con người để đạt hạnh phúc mà để đạt được văn hoá. Văn hoá là mục đích cuối cùng của thiên nhiên trong tiến trình thể hiện con người tại thế trở nên tự do. Thiếu sự khôn ngoan sắp đặt, văn hoá sẽ hỗn mang, thiếu biện biệt, phê phán, văn hoá sẽ mất định hướng đúng đắn trong tiến trình biến đổi. Tách rời văn hoá ra khỏi triết học thì văn hoá sẽ bị mù, tách rời triết học ra khỏi văn hoá thì triết học sẽ bị rỗng, mất ý nghĩa tồn tại, chỉ còn là những bóng ma. 2.4. triết học và hư cấu: Cả hai vai trò này có một tác động của chủ thể và khách thể trong đời sống tinh thần của con người; tính chất đó dựa vào tình và lý để lý giải ngọn nguồn xuất hiện ở xã hội, luân lý đạo đức và nghệ thuật, bởi những dữ kiện trong đời đều nêu lên cái đẹp tức thẩm mỹ học, trọng tâm cái đẹp là tạo được sắc thái, âm thanh và tiêu chuẩn; ngay cả tôn giáo đưa dẫn con người đến gần cái đẹp, cái đẹp ở đây không có nghĩa là cái lý nhất quán của tôn giáo; một đòi hỏi có tính cách qui định và vô hiệu hóa, phi tôn giáo. Mặc nào cũng thế đều chứa một hiện tình đời sống tinh thần; tuy nhiên mặc thực xã hội và nghệ thuật đúng nghĩa là một đòi hỏi, một yêu cầu nhận thức, dù cho mỗi thứ có một chuẩn mực khác nhau nhưng tất cả là thực chất mà con người hiện diện như một thực thể. Triết học và hư cấu là bình diện ý thức làm nên chủ thể lý luận, một tri thức nhập thế là nhập cuộc có ý thức; nhưng trong trạng huống này con người trở thành vong thân bản thể, vô hình chung xa lìa nhân thế để còn lại bản thể độc nhất giữa đời này. Thời tư duy của mình sẽ biến dạng vào một vị trí chủ thể của vấn đề mà đánh mất vai trò khách thể của tương quan. Giấc mơ đó sẽ thành mây khói. Thái độ tri thức là vai trò khách thể và vai trò khách thể trở nên vai trò chủ thể đó là hai tác động mạnh nhất giữa người và vật thể. Do những yếu tính đó con người luôn luôn là một tư tưởng dự phóng (project) để tìm thấy một ý nghĩa cao đẹp hơn, nhưng phải là cái đẹp hiện hữu trong toàn thể, con người là một hữu thể hiện hữu do đó phải phù hợp với cộng đồng mới thành hình, hư cấu cũng ở trong lãnh điạ đó dù là ‘hư cấu’ là đặc chất hướng tới cộng đồng tức một cái. 3. các chiều hướng triết học: Triết học là một môn học về tư tưởng thấy trong bất cứ dân tộc nào. Tư tưởng, hay suy tư tự nó chưa phải là triết học. Chỉ có những suy tư có hệ thống, minh bạch xác đáng, có hiệu năng cũng như có tính chất khoa học mới đáng được gọi là triết học. Thế nên từ đông sang tây, tự cổ tới kim, triết học thường được định nghĩa như là nền học về sự khôn ngoan, hoặc như là một khoa học thực hành, hay như một công cụ của chân lý hay của thần học. Tự thời nhà Châu, những suy tư về vũ trụ, về Thượng Ðế và về định mệnh của con người đã được hệ thống cũng như bàn luận. Mặc dù danh từ triết học chỉ mới được dịch sang tiếng Trung Hoa từ Nhật ngữ vào cuối thế kỷ 19, ý nghĩa của triết học như là một hệ thống về sự khôn ngoan, về tính chất thực hành (đạo đức) đã thấy ngay trước thời Châu. Tương tự, mặc dù triết học mới chỉ xuất hiện một cách chính thức trong các trường học từ thời Pháp thuộc, Việt Triết như là một hệ thống tư tưởng về định mệnh Việt dân, về nếp sống, đạo đức cũng như tổ chức xã hội của dân tộc, đã xuất hiện ngay thời lập quốc, tức thời Hồng Bàng. Ðiểm mà chúng ta muốn bàn tới không phải chúng ta có một nền Việt Triết hay không, song là Việt Triết có những đặc tính gì, phương pháp chi, hiệu năng ra sao, v.v... Lý do dễ hiểu là, nếu chúng ta theo một chiều hướng triết học của tây phương, thí dụ triết học phân tích, hay chiều hướng thực chính, hay thực nghiệm, hay duy nghi, chúng ta khó có thể kiếm ra, đừng nói đến hiểu cái gọi là Việt Triết. 3.1. Triết Học như là môn học về nguyên lý tối hậu: Triết học, được sử sách ghi lại, phát hiện từ khi có lịch sử con người. Vào thời đầu, triết học được hiểu như môn học về những huyền bí, những sự biến đổi của thế giới thiên nhiên. Những hiền triết Hy Lạp quan sát sự kiện thiên biến vạn hóa, và tìm ra một nguyên lý, hay một động lực, hay một yếu tố để giải thích hiện tượng thiên nhiên. Họ hoặc nhận nguyên chất như thủy, hỏa, khí, hay yếu tố như vô định, số tượng, hoặc nguyên tử như là căn nguyên của người Tàu về luật biến hóa của vũ trụ. Ðạo, lưỡng cực, tứ tượng, bát quái, v.v... là những yếu tố cũng như biến dạng của vũ trụ. Trong Việt Triết, chúng ta cũng thấy những tư tưởng về vũ trụ (vũ trụ luận) tương tự. Qua những huyền thoại như truyện bà "Nữ Oa đội đá vá trời", hay truyện của ông "Bành Tổ", hay truyện "Lạc Long Quân với bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng", hay truyện "Thần Kim Quy", v.v..., ta thấy tư tưởng chính yếu của Việt Triết vẫn là đi kiếm một nguyên lý tối hậu giải thích vũ trụ, định mệnh con người và dân tộc. 3.2. Triết Học như là công cụ khoa học: Sự thực, như các triết gia nhận ra, là không có một yếu tố chi, cũng không có một nguyên chất nào, càng không có một động lực nào khác có thể giải thích được cái toàn thể, sự biến hóa, cũng như định luật của vũ trụ. Ðiều này, ngay từ thời Su-Cát từng ngạo cười những nhà ngụy biện, triết gia bắt đầu nhận ra sự vô bổ của những kiến thức về vũ trụ. Ðối với Su-Cát và ngay cả A-Lý-Ða-Ðức, triết học là triết học về con người! Thế nên, triết học mang một mục đích giúp con người nhận thức được chính con người. Lần đầu tiên chúng ta thấy xuất hiện môn nhân học. Song con người là gì? Câu hỏi hóc búa này, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được câu trả lời thỏa mãn. Ðể giải thích linh ư vạn vật, triết gia bắt buộc phải tìm kiếm những yếu tính khoa học (tức những yếu tính có thể giải thích, phán quyết, tiên đoán cũng như xác quyết sự vật hay hiện tượng. Hai tính chất phổ biến và tất yếu được coi như là yếu tính của khoa học. Theo các triết gia, những yếu tính này hoặc phải là lý tính với trường phái duy lý, hoặc là tinh thần với trường phái duy linh, hoặc là nguyên chất với trường phái duy vật; chúng có thể giải thích bản chất linh ư vạn vật của con người. 3.3. Triết Học như là môn học giúp con người đạt tới tri thức chân thực: Thế nhưng, định mệnh của con người không thể chứng minh một cách khoa học được. Ðịnh mệnh, Thượng Ðế, khát vọng về cực lạc, tuy chân thật song ta không dễ dàng gì chứng minh được sự hiện hữu cũng như bản chất của Ngài, cũng như khó có thể xác định được những khát vọng con người một cách minh bạch. Thượng Ðế chỉ mặc khải cho những người tin yêu Ngài. Thượng Ðế chỉ xuất hiện với những người đơn sơ như các trẻ nhỏ. Chính vì vậy, ngay vào thời Trung Cổ, các triết gia đã nhận ra điểm này khi họ xác định tính chất thiết yếu và ưu tiên của đức tin: credo ut intelligam (tin để hiểu), hoặc credo quia absurdum (tin vì phi lý). Ngay cả vào thời hiện đại, những triết gia duy lý như Khang-Ðức cũng phải chấp nhận một sự kiện, đó là ba nguyên tố như Thượng Ðế, Tự Do và Linh Hồn bất diệt là những sự thật hiển nhiên, song không thể dùng lý trí để chứng minh. Nhiều người bị ảnh hưởng của triết Tây Phương, thường nhận định là triết đông nói chung, và Việt Triết nói riêng, thiếu một nền trí thức luận, và nhất là phương pháp luận. Lối phê bình của họ một phần nào đúng, song cũng có phần sai. Trên thực tế, triết đông nói chung và Việt Triết nói riêng, quả thực không có cống hiến được một phương pháp hoàn toàn khoa học chắc chắn. 4. Triết Học và Tôn Giáo, Nghệ Thuật, Khoa Học: Khoa học và Triết học là thế giới của Trí thức và Trí tuệ. Khoa học là logic, là phân tích, là lý luận, là chứng cứ. Cả Khoa học và Triết học đều dùng chung một phương pháp đó là Logic. Không logic Khoa học không thừa nhận. Logic là cơ sở của mọi Lý thuyết; có logic các phương trình mới xác định được nghiệm, ngay cả khi xác định Vô nghiệm. Không logic Triết học không thừa nhận. Phép Biện chứng được Georg Wilheim Friedrich Hegel tìm ra, như một bước nhảy vĩ đại trong lịch sử của Triết học. Khoa học và Triết học là trò chơi của Trí tuệ, nó đi tìm Chân lý để HIỂU. Tôn giáo không phải là như vậy. Tôn giáo đi sâu và bên trong của Con người. Tôn giáo hoà nhập cái bản thể của Con người vào cái Toàn thể của Vũ trụ. Tôn giáo là đi tìm Chân lý để BIẾT. Cái không biết, thì đi tìm để hiểu. Con người thông thuờng chỉ đi tìm để hiểu những điều không biết. Con người không thể trải nghiệm được chuyển động của các hạt cơ bản trong thế giới Hạ nguyên tử. Cũng như con người không thể trải nghiệm được chuyển động của các vì sao trong giải Ngân hà. Nhưng tất cả những điều đó, con người có thể hiểu qua Thuyết Tương đối, qua việc bắn các chùm hạt, qua việc giải các phương trình trong Lý thuyết Chuỗi… Cái đã biết thì không cần hiểu nữa. Trải nghiệm rồi, biết được mọi góc cạnh, biết được mọi chiều kích, biết được mọi cung bậc, biết được mọi màu sắc, biết được mọi hương vị,… biết Tất cả, không còn phân biệt, vậy thì đầu cần gì phải hiểu nữa! Hiểu và Biết khác nhau như vậy. 4.1. Bản chất và quy luật của đời sống tinh thần: Các nhà duy vật, ngay từ thời cổ đại đã coi tinh thần là sự hoạt động lý luận. Chẳng hạn, Anxtốt đã coi hình thức cao nhất của tinh thần là tư duy về tư duy. Đến thế kỷ XVII-XVIII, các nhà triết học duy vật như Hôpxơ và Lôccơ lại coi tinh thần là sự kết hợp của các cảm giác. Triết học cổ điển Đức lại xem xét tinh thần từ góc độ ý thức và tự ý thức. Hêgen hiểu tinh thần như là sự thống nhất của tự ý thức và ý thức được thực hiện trong lý tính, đồng thời là sự thống nhất hoạt động thực tiễn và lý luận nhằm vượt qua cái tự nhiên, vượt qua bản thân mình trong quá trình tự nhận thức. Tư tưởng triết học duy vật biện chứng đã nhìn nhận đúng bản chất của tinh thần : Đó là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người. Mác viết : "Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó". Tư tưởng này cũng được Lênin khẳng định: "Đối với người duy vật, thì "cái đang tồn tại trên thực tế” là thế giới bên ngoài mà cảm giác của chúng ta là hình ảnh của thế giới đó". Các nhà triết học duy vật biện chứng hiện đại cũng khẳng định rằng: "Tinh thần, theo nghĩa rộng của từ là một khái niệm đồng nhất với cái quan niệm, với ý thức là hình thức hoạt động tâm lý cao nhất; theo nghĩa hẹp của từ thì đồng nghĩa với khái niệm tư duy". 4.2. Quan hệ giữa triết học với tôn giáo: Mối quan hệ giữa triết học với tôn giáo trong sự phát triển tư tưởng của nhân loại là một vấn đề rất phức tạp; Đối với Phương Đông, sự phức tạp này lại nhân lên gấp bội, nhất là với các học giả Phương Tây. Có nhiều lí do gây nên sự phức tạp này. Trước hết về mặt địa lý, đây là một vùng rộng lớn với nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau; Về mặt lịch sử, đây là vùng đất có lịch sử nhiều nghìn năm tồn tại và phát triển; Về văn hoá, là cái nôi của các nền văn minh, nơi đây đã sản sinh ra nhiều nền văn hoá đỉnh cao của nhân loại từ thời Cổ đại, nơi ra đời của nhiều tôn giáo thế giới; Về tri thức triết học, trong truyền thống tư tưởng Phương Đông không có sự phân chia rõ nét giữa triết học và tôn giáo, chúng hoà quyện vào nhau, khó tách biệt. Thông thường các nhà nghiên cứu châu Âu thường tiếp cận với các vấn đề của Phương Đông từ góc độ của bộ môn Phương Đông học, ít tiếp cận từ góc độ lịch sử triết học. Thêm vào đó sự hạn chế về tư liệu, tài liệu, về ngôn ngữ đã làm cho vấn đề đã phức tạp lại càng thêm phức tạp đối với họ. 4.3. Linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm: Thể xác con người là vật chất và linh hồn thật sự là ý thức của con người. Mỗi con người, đều có 2 phần là thể xác và linh hồn. Theo triết học duy tâm, linh hồn sẽ quyết định thể xác. không thay đổi cho đến cuối đời. Như vậy, so với linh hồn, thể xác rất thấp bé, không giá trị. Thể xác chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian, nhưng linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu. Nhiều nhà triết học cũng đã nhấn mạnh linh hồn vĩnh cửu, ví dụ như Decater có nói “tôi tư duy là tôi tồn tại”. Sự tồn tại của con người thực chất là sự tồn tại linh hồn chứ không phải tồn tại về thể xác. Thật vậy, một người có thể chết đi theo quan niệm “cái chết” thông thường nhưng có thể họ sẽ sống mãi trong lòng của mọi người, đối với mọi người họ không bao giờ chết. Dưới góc nhìn triết học duy tâm, phần nào con người đã không được sống thật với chính bản thân, với chính linh hồn vì đã bị cái thể xác rang buộc. Chẳng hạn, vì thể xác, con người ta phải cần cái ăn, cái mặc, nếu không ăn thì thể xác không tồn tại, nếu không mặc thì thể xác trở nên xấu xí. Từ đó dẫn đến người ta đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp…Dẫn đến sự tranh đua, sự ham muốn, … Điều đó phải chăng đã góp phần giết chết linh hồn? Và tất cả những điều đó phải chăng chỉ để bồi dưỡng cho thể xác tầm thường? Con người chung sống với nhau trên trái đất, có mối liên hệ với nhau. Nhưng trong cuộc sống đó, mối liên hệ đại đa số là mối liên hệ về thể xác. 4.4. Tôn giáo và chân lý: Muốn sống được “Đức Từ Tâm”, trước hết chúng ta phải hiểu và phân biệt cho rõ ràng về tôn giáo, triết học và chân lý của loài người. Trước khi học đạo đức thương mình thì các bạn cần nên hiểu biết về chân lý sống của con người. Nói đến chân lý thì xin các bạn đừng hiểu lầm chân lý là triết lý, là tôn giáo, là khoa học, v.v... Chân lý là một điều đã xác định được bản chất sự sống của loài người một cách cụ thể và thực tế, không cần phải thêm bớt, dù bất cứ ở thời nào nó cũng hợp thời, chứ không có lỗi thời. Những điều nói ra đúng như thật mới được gọi là chân lý, còn chưa đúng như thật thì không được gọi là chân lý. Loài người điên đảo vì những nỗi thống khổ của kiếp người, nên có nhiều nhà trí thức hiểu biết phát minh và đưa ra nhiều triết thuyết như: triết thuyết này, triết thuyết kia; tôn giáo này, tôn giáo kia. Mục đích đưa ra là để mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Nhưng họ không ngờ là đã bị lầm lạc, vì những triết thuyết và những tôn giáo của họ là tưởng tri chứ không phải liễu tri. Họ tưởng rằng những triết thuyết và tôn giáo của họ sẽ đưa con người đi đến một cuộc sống hạnh phúc, an vui, nhưng nào ngờ nó đi ngược lại. Đi ngược lại, nên các triết thuyết và tôn giáo thường hay sửa đổi và thêm bớt. 4.5. Thần học và Triết học: Đâu là mối tương quan chính yếu giữa triết học và thần học, hai nẻo đường suy tư, một cách nào đó có vẻ như mâu thuẫn và nghịch chiều, nhưng cùng dẫn đến đích chân lý. Chúng ta thử đi lại những chặng đường của tiến trình lịch sử suy tư của hai hình thái tri thức này để tìm ra những điểm tương đồng và quan hệ hỗ tương giữa chúng. Thần học là khoa học về Thiên Chúa, cố gắng tập trung một cách có hệ thống và hữu cơ, tất cả những yếu tố của đức tin để đáp ứng sự tìm kiếm của trí tuệ dưới sự hướng dẫn của Ánh Sáng đã nhận được, làm cho đức tin đâm rễ sâu vào trong cuộc sống con người và để cho đức tin dễ thông đạt hơn, có khả năng hơn nhằm trả lời những vấn nạn, làm phong phú hóa đời sống con người và làm tăng triển những tương quan tốt đẹp giữa họ. Còn triết học là nỗ lực của lý trí tìm kiếm những nguyên lý tối hậu của thực tại và của hiện hữu. Triết học tham gia vào lý giải những vấn nạn đó và có tham vọng giải quyết một cách rốt ráo mọi vấn đề. Nhưng càng đi sâu, triết học càng bị bế tắc, bởi nó chỉ quanh quẩn ở chốn “lưu đày” của kiếp nhân sinh với tầm nhìn của một con gà rảo bước tìm thức ăn trong khu vườn. Chào đời từ cái nôi Logos – Lời Thiêng, lý trí thần minh, thần học nắm lấy ngọn cờ đảm nhận trật tự thế giới, nắm giữ quy luật thống nhất vạn vật và thể hiện một sức mạnh nội tại phi thường, chi phối và chế ước toàn bộ quá trình tự nhiên lẫn đời sống con người. Thần học vào cuộc bằng những tuyên bố chắc nịch và những phán quyết đầy xác tín. 5. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người: Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên. Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên. Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. "Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình". Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. 5.1. bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội: Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội...) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. 5.2. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử: Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu". Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người. 5.3. Trách nhiệm và nhiệm vụ: Quy luật xã hội (và thị trường) đòi buộc chúng ta phải có trách nhiệm vớí xã hội theo nghĩa nhiệm vụ phải “đáp trả” lại cho xã hội và tha nhân những gì mà chúng ta được hưởng từ xã hội và tha nhân (hay từ cơ chế thị trường), thí dụ nhiệm vụ đóng thuế, thi hành nhiệm vụ công dân (mà chúng ta nhầm với nghĩa vụ). Người chủ xí nghiệp có trách nhiệm với công nhân, phải chia sẻ lợi tức... với mọi nhân công của mình, trong khi người công nhân phải có trách nhiệm với xí nghiệp, với sản phẩm, vân vân, nơi người đó đương ăn lương. Trách nhiệm này dựa trên quy tắc xã hội và quy chế thị trường kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại,” “có đi có lại mới toại lòng nhau,” tức là “song lợi”. Chữ trách nhiệm gắn liền với chữ lợi: lợi lớn trách nhiệm nặng, lợi nhỏ trách nhiệm nhẹ; lợi rộng trách nhiệm nhiều, lợi hẹp trách nhiệm ít. Mỗi người, để có lợi cho mình, phải có trách nhiệm đóng góp sức lực, trí óc, tài năng. Tùy theo cái lợi lớn hay bé, nhiều hay ít mà người chủ phải có trách nhiệm to hay nhỏ, nặng hay nhẹ. Như vậy, trong xã hội tư bản ngày nay, “phục vụ công nhân,” “phục vụ xã hội,” “giúp đỡ nông dân,” “chăm sóc phụ lão ấu nhi,” và ngay cả công việc chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp, huấn nghệ, sinh đẻ, hôn nhân, lễ táng, vân vân, đều được hiểu và tổ chức theo nguyên lý trên. Giới chủ chăm sóc công nhân không phải là vì kính trọng công nhân là con người. Họ coi công nhân hay nhân viên như là công cụ ngang hàng với công cụ, hay nhiều khi dưới cả công cụ. Tương tự, nhưng với một nền pháp luật chặt chẽ hơn, nhà nước có bổn phận phải “lo cho” dân, bởi lẽ người dân đóng góp công sức và của cải cho nhà nước. Nhà nước ý thức ra được sự tương quan song phương giữa người dân và nhà nước dựa trên cái lợi chung: không có dân thì cũng chẳng có nhà nước. “Dân vi trọng, quân vi khinh” (mà thầy Mạnh Tử chủ trương) không có nghĩa là nhà vua không quan trọng, hay người dân cao trọng, mà nên được hiểu theo nghĩa của mối lợi tương quan này. Như vậy, ta có thể nói, trách nhiệm nơi đây dựa theo quy luật của chủ thuyết duy lợi, vụ lợi hay thực dụng. Theo quy luật này, không ai đòi buộc chúng ta phải đáp trả, (trả ơn, báo ơn, đáp ơn, đền ơn, hoặc ngược lại trả oán, báo oán...) hay giúp đỡ những “người dưng nước lã,” những người mà chúng ta không có quan hệ, chẳng ân chẳng oán, cũng chẳng lợi lộc gì. Không nhà nước nào có quyền bắt công dân nước khác, thậm chí ngay cả kiều bào, phải đóng thuế cho nhà nước này. Lý do rất đơn giản, người ngoại quốc và kiều bào đâu có được hưởng quyền lợi nào từ cái nhà nước ấy. 5.4. Triết Học như là một lối biểu hiện tính chất tồn tại của con người: Tuy hướng về quan niệm của một nền triết lý thực hành, chúng ta cũng không được phép gạt bỏ những quan niệm về triết học như một lối biểu tượng của con người cá nhân, hay con người tại thế, hay của con người ý thức về thân thể, cảm giác cũng như định mệnh của mình. Vào đầu thế kỷ 20, khi nhận ra hiện tính của con người, tức bản chất tại thế, hiện sinh, hiện thực, cũng như cảm giác đã từng bị các triết học duy lý, duy linh, duy vật và duy tâm gạt bỏ… Suy tư về hiện tính của con người là một phần quan trọng trong triết đông nhất là Việt Triết. Tuy không hoàn toàn đồng ý với nhiều chuyên gia nhận định là triết đông thiếu hữu thể học cũng như trí thức luận và siêu hình học, chúng tôi phải chấp nhận là, triết học ở Việt Nam trên thực tế là triết hiện sinh. Hai luận văn của Giáo Sư Vũ Ðình Trác về triết học của Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du chứng minh rõ điều này. Tuy thế, chúng ta phải chú ý là, khi nói tới hiện sinh, ý nghĩa chính là hiện tính tức tính chất hiện thể và thực thể của cuộc sống nhân sinh, chứ không phải cái hiện tượng của thân thể như thấy trong các phân tích của Sa-Thời, Ca-Mỹ và nhất là Mặc-Lự Phong-Ðệ. 6. Biện chứng giữa cá nhân và xã hội: Là một hiện tượng lịch sử, quan hệ cá nhân - xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác. Trong giai đoạn cộng sản nguyên thuỷ, không có sự đối kháng giữa cá nhân và xã hội. Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội căn bản là thống nhất. Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ cá nhân và xã hội vừa có thống nhất vừa có mâu thuẫn và mâu thuẫn đối kháng. Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiện của xã hội mới tạo tiền đề cho cá nhân, để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bản sắc riêng của mình, phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội mới. Vì vậy, xã hội xã hội chủ nghĩa và cá nhân là thống nhất biện chứng, là tiền đề và điều kiện của nhau. Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá nhân. Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thực hiện. Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vật chất và tinh thần. Mặt khác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên. Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu lợi ích cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung vì một tương lai tốt đẹp. 6.1. Khái niệm quần chúng nhân dân: Quá trình vận động, phát triển của lịch sử diễn ra thông qua hoạt động của khối đông đảo con người được gọi là quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một cá nhân hay một tổ chức, nhằm thực hiện mục đích và lợi ích của mình. Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời đại mà quần chúng nhân dân bao hàm những thành phần, tầng lớp xã hội và giai cấp khác nhau. Như vậy, quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định. Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sau đây: Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân. Thứ hai, những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân dân. Thứ ba, những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội. 6.2. Khái niệm cá nhân trong lịch sử: Trong mối liên hệ không rách rời với quần chúng nhân dân, những cá nhân kiệt xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tiến trình lịch sử; đó là những vĩ nhân, lãnh tụ. Để trở thành lãnh tụ gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, lãnh tụ phải là người có những phẩm chất cơ bản sau đây: Một là, có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu thế vận động của dân tộc, quốc tế và thời đại. Hai là, có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế và thời đại. Ba là, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hy sinh quên mình vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại. Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào, nếu lịch sử đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất hiện những lãnh tụ, đáp ứng yêu cầu của lịch sử. 6.3. Vai trò của quần chúng nhân dân: Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động của quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội. quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất. Lực lượng sản xuất cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc. Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song, vai trò của khoa học chỉ có thể phát huy thông qua thực tiễn sản xuất của quần chúng nhân dân lao động, nhất là đội ngũ công nhân hiện đại và trí thức trong nền sản xuất xã hội, của thời đại kinh tế tri thức. Điều đó khẳng định rằng, hoạt động sản xuất của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần. Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học, nghệ thuật, văn học, đồng thời, áp dụng những thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức... của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của các dân tộc trong mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội. Mặt khác, các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành giá trị phổ biến. 6.4. Vai trò của lãnh tụ: Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ có nhiệm vụ chủ yếu sau: Thứ nhất, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại trên cơ sở hiểu biết những quy luật khách quan của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội. Thứ hai, định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách mạng. Thứ ba, tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhằm hướng vào giải quyết những mục tiêu cách mạng đề ra. Từ nhiệm vụ trên ta thấy lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong trào quần chúng Lênin viết: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào"1. Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải bài trừ tệ sùng bái cá nhân. Tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hóa cá nhân người lãnh đạo, sẽ dẫn đến tuyệt đối hóa cá nhân kiệt xuất, vai trò người lãnh đạo mà xem nhẹ vai trò của tập thể lãnh đạo và của quần chúng nhân dân. Căn bệnh trên dẫn đến hạn chế hoặc tước bỏ quyền làm chủ của nhân dân, làm cho nhân dân thiếu tin tưởng vào chính bản thân họ, dẫn đến thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng, không phát huy được tính năng động sáng tạo chủ quan của mình. 7. Con người là chủ thể hay thị trường là chủ thể? Thị trường ngày nay dựa vào những nguyên tắc sau: Tạo ra một quy chế trao đổi sản phẩm với sản phẩm, sức lao động với sản phẩm, công cụ với sự phát minh công cụ, công cụ với sản phẩm, vân vân. Mục đích của quy chế là giải quyết thặng dư hay thiếu thốn, và do đó tạo ra lợi nhuận tối đa. Dĩ nhiên, để có được lợi nhuận tối đa, cần phải có sản phẩm, người sản xuất, người tiêu thụ, phục vụ, chuyên chở... Đó là tạo ra quan niệm tiêu thụ và xã hội tiêu thụ như là mục đích chính của kinh tế thị trường. Tạo ra một xã hội tiêu thụ đòi hỏi kích cầu người dân có càng nhiều nhu cầu càng tốt. Nhưng đồng lúc cũng giúp người dân có đủ khả năng để tiêu thụ. Do đó, thị trường không chỉ thỏa mãn nhu cầu, mà còn dùng mọi cách để tạo ra nhu cầu mới, và tìm đủ phương thế để quyến rũ người dân lao đầu vào tiêu thụ, giúp họ tiêu thụ và đủ khả năng tiêu thụ. Kinh tế thị trường, do đó, tạo ra một thế giới mà người tiêu thụ có cảm giác là họ “giàu” hơn, sống có chất lượng hơn. Và như vậy, tự ru ngủ mình với cảm giác hạnh phúc hơn, và bảo đảm hơn. Từ đây ta có thể nhận ra. Theo lý thuyết của kinh tế cổ điển thì một thị trường có vấn đề là khi nó mất quân bình giữa cung và cầu, giữa sản phẩm và người sản xuất và người tiêu thụ, giữa tư bản bất động và người nhu cần sản xuất, vân vân. Nếu xét từ quy luật trên thì cuộc khủng hoảng thị trường ngày nay không hẳn như vậy. Cung vẫn thừa thãi, và nhu cầu không bao giờ đủ. Thị trường bất động sản là một ví dụ. Nhà cửa trống rất nhiều, và rất nhiều người cần mua, nhưng chẳng mấy ai có đủ khả năng để mua. Vậy thì, như Marx đã nhận ra, thủ phạm chính là những mục đích giả tạo mà thị trường tự tạo ra, và với mục đích lợi nhuận vô đáy phá bỏ nguyên tắc quân bình. 7.1. Phê phán xã hội và cuộc tìm kiếm con người nhân cách: Phê phán xã hội bao gồm hai loại, phê phán mang tính chất tiêu cực và phê phán mang tính chất tích cực. Lối phê phán tiêu cực dựa trên phán đoán thẩm mỹ học cho rằng cái đẹp phải là cái hoàn toàn. Mà đã là hoàn toàn thì không thể thiếu sót, và cũng không thể không theo đúng với những gì mà nó phải có (tất yếu tính), và hợp với bản chất phổ quát của nó (phổ quát tính). Thế nên, công việc phê phán xã hội hay con người xã hội bắt đầu với việc tìm kiếm những khiếm khuyết khiến con người không là người, hay chưa thành người, hay là con người thiếu sót, v.v..Marx và những triết gia theo chủ trương phê phán áp dụng lối phê phán này để nhìn con người trong thể chế tư bản, hay trong chế độ phong kiến. Khi đi tìm gỉai đáp cho câu hỏi “con người là gì?” họ đã nhận ra tính chất phi nhân trong chế độ phong kiến (người nô lệ, phụ nữ, những sắc dân thiểu số, v.v. không được công nhận và đối xử như con người), tính chất bất nhân trong chế độ tư bản (người lao động bị bóc lột, và hạ cấp xuống hàng công cụ), tính chất vô nhân trong cơ chế thị trường (con người chỉ là những sản phẩm, hàng hóa). Từ đây Marx đi tìm nguyên nhân cũng như những yếu tố, điều kiện chính trị, xã hội, kinh tế, và ý hệ cản ngăn, hay khiến con người không có thể trở thành con người người đích thực. Chính vì vậy mà họ phân tích những biểu hiện tiêu cực, những thiếu sót, tức là những yếu tố, những điều kiện cót lõi khiến con người chưa phải, không phải, và không bao giờ là con người đích thực. Marx nhận định về nguyên nhân chính làm con người khốn cực, đó chính là bi kịch con người chưa nhận ra mình là người; đó là cấu trúc xã hội cố định coi con người chỉ là những phụ tùng nho nhỏ trong bộ máy xã hội vận hành một cách máy móc. Mà cơ cấu xã hội như vậy bao gồm những điều kiện kinh tế xác định con người chỉ là món hàng giao dịch; những điều kiện chính trị khiến con người không thể tự chủ, mà chỉ là những công cụ trong tay giới lãnh đạo; và những điều kiện ý hệ xác quyết và hạn chế con người, hay phủ định con người. 7.2. Phê phán thẩm mỹ và cuộc tìm kiếm con người nhân cách: Đi xa hơn lối phê phán xã hội, đó là phê phán thẩm mỹ. Phê phán thẩm mỹ bắt đầu với những phê phán tiêu cực (như đã trình bày ở phần trên), nhưng kết thúc với tính cách tích cực hơn. Dựa trên nền tảng siêu hình của thẩm mỹ học, phê phán tích cực đặt ra câu hỏi là làm thế nào để có thể đạt tới được cái mục tiêu tối hậu, đó là con người hoàn hảo. Do đó, thay vì phá đổ (cách mạng), ta phải xây dựng. Câu hỏi quan trọng bây giờ là “xây dựng như thế nào?”. Câu hỏi này bắt buộc ta phải đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi tiếp theo về mục đích và phương thế, về nền tảng siêu hình cũng như về khả thể của một xã hội hay thế giới lý tưởng. Ta bắt đầu với cảm giác. Nhìn một sự vật, một con người, hay một xã hội, ta có cảm giác sợ hãi, khó chịu, dễ chịu hay sung sướng vì nhiều lý do. Nhưng cảm giác đầu tiên đều từ chính hình thể, mùi vị, âm thanh của đối tượng ta nhìn, hay nghe, hay cảm nhận. Sau đó tới hành vi, ngôn ngữ, vân vân. 7.3. Tính chất phi nhân cách của cơ chế thị trường: Một khi chấp nhận bản chất siêu việt đòi buộc ta phải nhận ra con người vượt khỏi thế giới động vật và sự vật. Lý trí, thẩm mỹ, khát vọng, hưởng thụ... nói lên những tính chất căn bản nhất của con người thăng tiến, những tính chất mà ta không thấy nơi giới động vật khác. Hoặc nếu có một vài loại sinh vật gần con người, thì chúng vẫn còn bị hạn chế. Thí dụ trong lãnh vực sáng tạo và hưởng thụ, (ta thấy) động vật thiếu sáng tạo, và thiếu ý niệm hưởng thụ. Lý do, như đã nói trên, bản chất siêu việt chỉ thấy nơi loài người (và thần linh, theo con người hiểu). Chính bản chất siêu việt này, cộng với tự do tính, tự chủ tính, và lý tính làm nên con người nhân cách. Một con người nhân cách là một con người ý thức được tự do tính, tự quyết, tự chủ của mình, đồng thời nhận ra được mục đích thăng tiến là con người viên mãn, và tìm ra những phương thế hữu hiệu để có thể đạt tới mục đích trên. Một nền công lý như vậy cùng lắm thì cũng chỉ là một nền công bình mang tính cách tương đối mà tôi tạm gọi là sòng phẳng, có tính chất nhất thời, được chấp nhận cho một xã hội có cùng sinh hoạt, ở vào cùng một giai đoạn hay một xã hội nào đó, và cùng một giai cấp mà thôi. Nhưng, làm sao kiếm ra được một xã hội thuần nhất và đồng tính như vậy? Đó là một xã hội không hiện thực (như lịch sử đã chứng minh), và như vậy nền công bằng được cho là xây dựng trên đồng thuận có lẽ chỉ có trên lý thuyết mà thôi. Điểm mà chúng tôi muốn nhấn mạnh nơi đây, đó là nền công bình này không thể hiện thực bởi vì tự bản chất mâu thuẫn của nó. Nguyên lý tự do tối đa trong việc mưu lợi tạo ra tự do cạnh tranh, và nguyên lý coi lợi tức như là mục đích tối hậu, tự chúng đòi hỏi một sự bất quân bình. Ta khó có thể có được một nền công bình (cho rằng tương đối) nếu dựa trên chính sự đa tạp của xã hội, đa hóa của giai cấp và sự bất bình đẳng của con người, cũng như của lao động. Chính vì vậy mà công lý là một quan niệm bị lạm dụng nhiều nhất. Hàng lãnh đạo, giai cấp quyền thế, giới tài phiệt với quyền lực và đồng tiền trong tay, sẽ giải thích và thiết lập một hệ thống công bình có lợi cho họ, trong khi bá chúng bắt buộc phải chấp nhận loại “công bình” bất lợi này. III. KẾT LUẬN: Bất cứ một sinh hoạt nào đều là sinh hoạt con người. Do đó, sinh hoạt kinh tế (tài chính) cũng chỉ là một sinh hoạt con người. Mục đích của nó chính là con người. Như vậy, nó không được tách rời khỏi con người. Ngược lại, nó phải được xây dựng trên nền tảng con người. Nếu con người chỉ là một đồ vật, hàng hóa... thì giá trị của con người không phải là con người, mà do thị trường quyết định. Tiếp theo, sức lao động của con người không còn biểu lộ bản tính tự chủ, sáng tạo, nhưng chỉ còn là một món hàng hóa để trao đổi, hay một phương thế sản xuất hàng hóa. Một ngày lao động được đánh đổi bằng một hai đồng đô la ít ỏi ở Việt Nam hiện nay. Sức lao động rẻ hơn bèo, nói theo kiẻu nói bình dân. Điều đó có nghĩa là chính cái gía trị của con người cũng rẻ như bèo. Oái oăm thay, đồ vật, hàng hóa là sản phẩm con người tạo ra lại có giá trị cao hơn chính kẻ tạo ra chúng. Từ những nhận định trên, chúng tôi dựa theo các nhà đại hiền triết, từ Socrates tới đức Khổng, từ đức Phật cho tới đức Kitô, và biết bao triết gia như Marx, Maritain... cho rằng, một nền kinh tế lành mạnh trước hết phải là một nền kinh tế vì con người, cho con người và từ con người. Con người phải là chủ thể. Ngay cả khi kinh tế học nhìn con người như là một đối tưọng nghiên cứu, thì đối tượng này không giống các đối tượng sự vật khác, bởi lẽ đối tượng con người sống động, phát triển, và nhất là tự do và luôn thăng tiến. Nói cách chung, con người luôn mang tính chủ thể ngay cả khi làm đối tượng cho bất cứ nghiên cứu nào. Vì, con người tự bản chất phải là con người nhân cách, theo nghĩa một con người tự do, ý thức, lý trí, tự chủ, sáng tạo, hiện thực, liên đới và siêu việt. Chính tính nhân cách này cho ta thấy, con người luôn mang hai loại trách nhiệm, trách nhiệm chung trong một cộng đồng trong tư cách của công dân, tín đồ, thành viên hay “đồng” tộc, đồng bạn, đồng nghiệp, vân vân, mà ta gọi là bổn phận, nhiệm vụ và trách nhiệm con người trong tư cách là con người mang tính cách toàn diện, mà ta gọi là nghĩa vụ. Con người nhân cách, như đã nói trên, phải là con người mang tính cách toàn diện, và như vây, luôn có hai loại trách nhiệm, đó là bổn phận của một thành viên, và nghĩa vụ con người. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Đại cương triết học sử Trung Quốc, NXB Thanh niên, 1999. 2. Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học xã hội, HN, 2002. 3. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB CTQG, H, 1999. 4. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Bộ Giáo dục và Đào tạo), NXB CTQG, H, 2002. 5. Từ điển triết học, NXB Tiến Bộ, Matxcơva. 6. Trần Thái Đỉnh, Triết học Descartes, Nxb Văn học, 2005

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét