THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

QUAN ĐIỂM VỀ BỒ TÁT, QUẢ VỊ THANH VĂN CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: 1. những quan điểm của đại chúng bộ: 1.1. Quan điểm về thân tướng, thọ mạng và oai đức của đức phật: 1.2. Quan điểm về nghiệp lực và nguyện lực của một vị bồ tát: 1.3. Quan điểm về quá trình tu chứng và quả vị của các vị thanh văn: 1.4. Các vấn đề khác như thân trung ấm, nghiệp lực, căn trần thức, chủng tử, tâm và tâm sở, tùy miên, kiết sử, bổ đặc già la, phước đức, pháp tháp, thiền chứng, bát chánh đạo, vô vi . . 2.1. Quan điểm đức Phật của Đại Chúng Bộ: 2.2. Quan điểm đức Phật của Thượng Tọa Bộ: 3. Chướng ngại trong tu tập đạt các quả vị: 4. quan điểm thứ 22 眼 等 五 識 身 有 染 有 離 染 . 5. quan điểm thứ 23 色 無 色 界 具 六 識 身. 6. quan điểm thứ 24 五 種 色 根 肉 團 為 體 。眼 不 見 色 。耳 不 聞 聲 。鼻 不 嗅 香 。舌 不 嘗 味 。身 不 覺 觸. 7. quan điểm thứ 25 在 等 引 位 有 發 語 言。亦 有 調 伏 心。亦 有 淨 作 意。 7.1. Giữ Miệng Phòng Tâm: 7.2. tư duy thanh tịnh: 8. quan điểm thứ 26 所 作 已 辦 無 容 受 法 . 7. quan điểm thức 27 諸 預 流 者。心 心 所 法 能 了 自 性. III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO QUAN ĐIỂM VỀ BỒ TÁT, QUẢ VỊ THANH VĂN CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ I. DẪN NHẬP: Dị bộ tông luân luận là một trong vài tác phẩm được thấy trong Hoa tạng, nói về học thuyết của cá CAc bộ phái tiểu thừa. Các bộ phái này, có 20 tất cả, dĩ nhiên phong phú đến phức tạp về học thuyết. Học thuyết ấy chắc chắn cho thấy giai đoạn trước đó là gì và giai đoạn sau đó là gì. Vậy mà tài liệu để được biết đến thì quá ít. Dị tông luận đã giúp được phần nào trong việc này. “Dị Bộ Tông Luân Luận” là tác phẩm một cách khái quát tường thuật lại toàn bộ quá trình diễn biến của thời kỳ Phật giáo Bộ phái (370 TCN – 150 SCN), tóm tắt những quan điểm chính của các bộ phái, còn là đối tượng phê phán của Phật giáo Đại thừa. Thiết nghĩ, tác phẩm này được xem như là chiếc chìa khóa để tìm hiểu các nguồn tư liệu A tỳ đàm (abhidhamma) cũng như các kinh điển Phật giáo Đại thừa. Sau khi đức Thế Tôn, Đã nhập Bát-niết-bàn, Thời gian đã trãi qua, Được hơn một trăm năm. Bấy giờ trong Thánh giáo, Xuất hiện các bộ phái, Từ đó liền phát sanh, Các điều chẳng lợi ích. Chính vì bám chấp vào, Điều dị biệt như thế, Nên lần lượt phát sinh Thêm các bộ phái khác. Vì thế nên phải nương, Những lời đức Phật dạy , Phân biệt chấp dị ấy, Để họ sanh nhàm chán. Thế Hữu, bậc Bồ-tát, Đầy đủ trí tuệ giác, Xuất gia trong dòng Thích, Hành hạnh chân tỷ kheo, Thấy cảnh tượng như thế, Liền suy nghĩ đắn đo. Lại bình đẳng quán sát, Khắp tất cả thế gian, Nào quan điểm luận thuyết, Cứ trôi nổi quay cuồng, Rồi công kích đả phá, Lời dạy của Thế Tôn. Căn cứ các quan điểm, Ngài phân giải rõ ràng, Rằng tất cả phải nên, Thấy rõ lời Phật dạy, Hoàn toàn nương dựa vào, Thánh đế làm tiêu chuẩn . Cũng ví như có người, Đãi vàng từ trong cát, Người phật tử cũng thế, Phải chọn điều chân thật. II. NỘI DUNG: 1. những quan điểm của đại chúng bộ: 1.1. Quan điểm về thân tướng, thọ mạng và oai đức của đức phật: 1. Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian. 2. Tất cả các đức Như Lai không còn hữu lậu. 3. Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân. 4. Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp. 5. Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa. 6. Sắc thân của Như Lai không có giới hạn. 7. Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn. 8. Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn. 9. Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín nhưng các Ngài không có tâm chán ngán hoặc thỏa mãn. 10. Đức Phật không có ngủ và nằm mộng. 11. Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ. 12. Đức Phật không bao giờ nói về danh, cú, văn vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh, cú, văn liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi. 13. Chư Phật trong một sát na tâm liễu tri tất cả các pháp. 14. Chư Phật trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã biết được tất cả các pháp. 15. Lậu tận trí và vô sanh trí của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc niết bàn. 39. Các kinh của đức Phật thuyết đều là liễu nghĩa. 113. Lòng từ bi của chư Phật không duyên vào chúng sanh. 114. Chấp rằng có tướng chúng sanh (và ý niệm giải thoát) thì chưa phải giải thoát. 115. Có thể nói Bồ tát vẫn còn là chúng sanh, vì chưa đoạn trừ các kiết sử. 123. Tám chi thánh đạo là chánh pháp luân, chứ không phải lời nói của Như Lai đều là chuyển pháp luân. 124. Không có chuyện Phật dùng một âm mà nói tất cả các pháp. 125. Thế Tôn cũng còn nói những lời không như nghĩa. 126. Không phải tất cả kinh Phật thuyết đều là liễu nghĩa, bởi vì chính đức Phật tự nói có những kinh không liễu nghĩa. 160. Trong tăng có Phật (hiện hữu), nên cúng dường chư tăng thì sẽ được phước báo rất lớn chứ không phải chỉ có cúng dường chư Phật mới được. 161. Chư Phật và hàng Nhị thừa đều đồng một thánh đạo, và đồng một con đường giải thoát. 1.2. Quan điểm về nghiệp lực và nguyện lực của một vị bồ tát: 16. Tất cả các vị Bồ tát khi nhập thai đều không chấp thọ các trạng thái: Yết lạt lam, Át bộ đàm, Bế thi và Kiện nam của thai nhi làm tự thể. 17. Tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều hiện hình voi trắng. 18. Tất cả Bồ tát xuất thai đều bằng hông bên phải. 19. Tất cả Bồ tát đều không có khởi tư tưởng tham dục, tư tưởng sân hận, tư tưởng ác hại. 20. Bồ tát vì muốn lợi ích cho hữu tình, nguyện sanh vào ác thú liền như ý thọ sanh. 116. Nếu chưa chứng nhập Chánh tánh ly sanh, còn ở địa vị phàm phu thì chưa được gọi là siêu việt (giải thoát). 117. Do bám chấp vào các hiện hữu liên tục nên mới giả lập thành chúng sanh. 118. Có thể nói tất cả các hành đều chấm dứt trong một sát na, nên chắc chắn không có một pháp nào được di chuyển từ đời trước qua đời sau mà chỉ có Bổ-đặc-già-la thế tục di chuyển mà thôi. 119. Đang còn sống mà các Hành đã chấm dứt hoàn toàn thì các Uẩn không còn chuyển dịch thay đổi. 120. Có tĩnh lự (định) xuất thế. Cũng có Tầm vô lậu. 121. Có thiện pháp là có nhân (để chứng đắc thánh quả). 122. Ở quả vị Đẳng dẫn thì không còn phát ra ngôn ngữ. 127. Bồ tát vẫn còn là phàm phu. 128. Bồ tát khi vào thai không có khởi tham ái. 129. Không có kẻ ngoại đạo chứng đắc ngũ thông. 130. Cũng không có chuyện chư thiên sống đời phạm hạnh. 131. Có bậc A-la-hán vẫn còn bị người khác dẫn dụ, vẫn còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác mà được ngộ đạo và Thánh đạo nhờ vào tiếng (khổ) mà phát khởi. 132. Bổ đặc già la không phải uẩn cũng không phải phi uẩn, do nương sự kết hợp của uẩn xứ giới mà giả đặt tên như thế. 133. Các hành chỉ tạm tồn tại và hoại diệt trong một sát na. 134. Nếu lìa con người thì không pháp nào có thể chuyển tiếp từ đời trước sang đời sau, nhưng vì nương vào con người nên mới nói có sự di chuyển. 135. Ngoại đạo cũng chứng đắc ngũ thông. 1.3. Quan điểm về quá trình tu chứng và quả vị của các vị thanh văn: 25. Ở quả vị Đẳng dẫn vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có tâm điều phục, có tác ý thanh tịnh. 26. Mọi việc làm đều đã hoàn tất, không còn chấp chứa một pháp nào. 27. Các vị Dự lưu có thể thấu rõ tự tánh của tâm và tâm sở. 28. Có vị A la hán vẫn còn bị người khác dẫn dụ, vẫn còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và nhờ vào tiếng (khổ) mà thánh đạo phát khởi. 37. Khi nhập chánh tánh ly sanh mới có thể nói là đoạn trừ tất cả các kiết sử. 38. Các vị Dự lưu vẫn còn tạo nghiệp ác chỉ trừ tội vô gián. 47. Các quả vị Dự lưu cũng đạt được tĩnh lự. 48. Như Thánh đế có các tướng sai biệt, cũng như thế, Hiện quán đều có các tướng sai biệt. 49. Có một số pháp tự sanh khởi, có một số pháp do cái khác làm ra, có một số pháp do cả hai cùng làm ra, lại có một số pháp do các duyên sanh ra. 50. Trong cùng một thời điểm có thể có hai tâm cùng sanh khởi. 51. Thánh đạo và phiền não đều cùng hiện khởi. 52. Nghiệp và quả Dị thục đều cùng lúc chuyển biến. 53. Chủng tử chính là hạt mầm. 63. Nghiệp tăng trưởng làm nhân nên quả Dị thục chuyển đổi. 64. Nhờ phước đức nên chứng đắc thánh đạo, và Thánh đạo không phải do sự tu tập mà đạt. 65. Thánh đạo cũng không thể bị hư hoại. 66. Bồ-tát vẫn chưa thoát khỏi ác đạo. 67. Cung kính cúng dường tháp không được phước báo to lớn. 68. Bậc A-la-hán còn bị người khác dụ dẫn, cũng còn vô tri, v.v… 69. Hữu Bộ cho rằng tất cả pháp thật có đều nằm trong hai loại: danh và sắc. 70. Quá khứ, vị lai đều có thật thể. 71. Tất cả các pháp xứ đều là những cái được biết, được nhận thức và được thấu đạt. 77. Nương hai chánh định Không và Vô nguyện có thể chứng nhập Chánh tánh ly sanh. 78. Tư duy các hành ở dục giới cũng chứng đắc Chánh tánh ly sanh. 79. Khi chứng nhập Chánh tánh ly sanh, trong 15 tâm đầu gọi là Hành hướng (Tu-đà-hoàn hướng), còn tâm thứ 16 gọi là Trụ quả (Tu-đà-hoàn quả). 80. Trong một (sát-na) tâm của Thế Đệ Nhất pháp gồm có 3 phẩm. 81. Pháp thế đệ nhất chắc chắn không còn thối chuyển. 82. Dự Lưu không còn thối chuyển. Nhưng, có vị A la hán còn bị thối chuyển. 83. Không phải tất cả các bậc A-la-hán đều chứng được trí vô sanh. 84. Phàm phu cũng có thể đoạn trừ được tham dục và sân hận. 85. Ngoại đạo có thể chứng đắc ngũ thông. 86. Chư thiên cũng có người sống đời phạm hạnh. 87. Trong bảy Đẳng chí thì giác chi có thể chứng đắc, còn những Đẳng chí khác thì không có. 88. Tất cả các tĩnh lự đều nằm trong Tứ niệm xứ. 89. Không nương vào tĩnh lự cũng có thể chứng được Chánh tánh ly sanh, và cũng có thể chứng được quả vị A la hán. 98. Tất cả các chi phần của Duyên khởi chính là pháp hữu vi. 99. Có vị A la hán tu tập chuyển hóa tùy theo từng chi phần duyên khởi. 100. Có vị A la hán chuyên tu tập để tăng trưởng phước nghiệp. 101. Duy chỉ có cõi Dục và Sắc giới là có thân trung ấm. 102. Các thức của sắc thân như nhãn, nhĩ… vừa nhiễm ô vừa không có nhiễm ô. Chúng chỉ có thể nắm giữ tự tướng mà không có khả năng phân biệt. 107. Các bậc A-la-hán đều có pháp hữu học và vô học. 108. Các vị A-la-hán đều được tĩnh lự (định) nhưng không phải lúc nào tĩnh lự cũng hiện tiền (thường hằng). 109. A-la-hán vẫn còn thọ lãnh nghiệp báo cũ (quá khứ). 110. Có chúng sanh trụ trong thiện tâm mà chết. 111. Ở quả vị Đẳng dẫn chắc chắn không còn mệnh chung. 112. Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa giống nhau, nhưng Thánh đạo của ba thừa mỗi mỗi đều khác biệt. 136. Năm thức vừa nhiễm ô, vừa không nhiễm ô. 137. Nếu đoạn trừ được những kiết sử thuộc “Tu sở đoạn” (tu đạo sở đoạn) ở cõi dục thì gọi là Ly dục chứ không phải là Kiến sở đoạn (kiến đạo sở phá). 138. Nhẫn, Danh, Tướng và Thế đệ nhất, bốn pháp này có thể hướng nhập chánh tánh ly sanh. 144. Chúng sanh thì chưa đoạn trừ được tham dục và sân nhuế. 145. Không có hàng ngoại đạo chứng được ngũ thông. 146. Cũng không có chư thiên sống đời phạm hạnh. 147. Chắc chắn không có thân trung ấm. 148. Không có A la hán tăng trưởng phước nghiệp. 149. Năm thức vừa nhiễm ô vừa không nhiễm ô. 150. Sáu thức cùng tương ưng với Tầm và Tứ. 151. Có chúng sanh ngang trên đỉnh đầu. 152. Có Chánh kiến thế gian. 153. Không có Tín căn thế gian. 154. Không có Tĩnh lự xuất thế. 155. Cũng không có Tầm và Tứ vô lậu. 156. Nếu không có nhờ cái nhân (thiện) thì quả Dự lưu cũng có thể thối chuyển. Nhưng bậc A la hán thì nhất định không còn thối chuyển. 157. Các chi phần thánh đạo đều được bao hàm trong tứ niệm xứ. 162. Tất cả các hành đều chấm dứt trong một sát na. 163. Chắc chắn không có một pháp nào được chuyển biến từ đời trước qua đời sau. 164. Quá khứ vị lai đều có thật thể. 165. Cũng có thân Trung ấm. 166. Tất cả các pháp xứ đều là những pháp được biết, được nhận thức. 167. Nghiệp chính là Tư. 168. Không có thân nghiệp và khẩu nghiệp. 169. Tầm và Tứ tương ưng với nhau. 170. Đại địa là kiếp trụ. 171. Cung kính cúng dường tháp miếu chỉ được phước báo nhỏ. 172. Tự tánh của Tùy miên thường luôn hiện hữu trong hiện tại. 173. Các Uẩn xứ giới cũng thường luôn hiện hữu trong hiện tại. 1.4. Các vấn đề khác như thân trung ấm, nghiệp lực, căn trần thức, chủng tử, tâm và tâm sở, tùy miên, kiết sử, bổ đặc già la, phước đức, pháp tháp, thiền chứng, bát chánh đạo, vô vi . . 21. Trong một sát na tâm dùng trí Hiện quán biên biết khắp tất cả các tướng sai biệt của Tứ Đế. 22. Năm thức của thân gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có nhiễm ô và lìa nhiễm ô. 23. Ở cõi Sắc và Vô sắc mỗi thân đều đủ sáu thức. 24. Thể chất của năm sắc căn là khối thịt nên mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi mùi, lưỡi chẳng nếm mùi, thân không biết sự xúc chạm. 29. Khổ có thể dẫn dắt vào thánh đạo. 30. Tiếng khổ có thể trợ giúp (ngộ đạo). 31. Trí tuệ làm gia hạnh có thể diệt trừ được các khổ, cũng có khả năng đưa đến an lạc. 32. Khổ (thọ) cũng là thức ăn. 33. Địa thứ 8 cũng được trụ lâu dài. 34. Cho đến Tánh địa pháp có thể nói vẫn còn thối chuyển. (thế đệ nhất?) 35. Quả Dự lưu còn có thối chuyển, bậc A la hán thì không. 36. Không có chánh kiến thế gian, không có tín căn thế gian, cũng không có pháp vô ký. 40. Pháp vô vi gồm có 9 loại: 1) trạch diệt, 2) phi trạch diệt, 3) hư không, 4) không vô biên xứ, 5) thức vô biên xứ, 6) Vô sở hữu xứ, 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 8) Duyên khởi chi tánh (12 chi phần duyên khởi), 9) Thánh đạo chi tánh (tám chi phần thánh đạo). 41. Tâm tánh vốn thanh tịnh nhưng vì bị tạp nhiễm bởi khách trần phiền não nên mới nói bất tịnh. 42. Tùy miên chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở pháp, cũng không có đối tượng (sở duyên). 43. Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên. Cho nên mới nói tùy miên không tương ưng với tâm mà triền phược lại tương ưng với tâm. 44. Quá khứ và vị lai không có thật thể. 45. Tất cả các pháp xứ không phải là cái được biết, không phải là cái được nhận thức suy lường, cũng không phải là cái thông đạt. 46. Cũng không có thân trung hữu (ấm). 54. 4 đại và 6 sắc căn có chuyển biến (thay đổi) nhưng tâm và tâm sở không chuyển biến. 55. Tâm bao trùm khắp cả thân. 56. Tâm tùy theo căn (sở y = nơi nương tựa) và cảnh (sở duyên = đối tượng) mà có sự co giãn (mở rộng và thu hẹp). 57. Năm âm thanh của đức Phật gồm: vô thường, khổ, không, vô ngã và niết bàn tịch tĩnh là những giáo lý siêu xuất thế gian vì năm âm thanh này có khả năng chỉ ra con đường giải thoát; Còn những âm thanh khác của Như Lai là những giáo lý thế gian. 58. Có vị A la hán bị người khác dẫn dụ, cũng còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và thánh đạo nhờ vào tiếng (khổ) mà phát khởi. 59. Khổ không phải là Uẩn. 60. Mười hai xứ không phải thật hữu. 61. Các hành xoay vần đối đãi hòa hợp nên giả gọi là khổ mà không có sĩ phu dụng. 62. Không có cái chết phi thời (bất đắc kỳ tử) mà tất cả do nghiệp đời trước mà có. 72. Sanh và lão (bệnh tử) là vô thường, thuộc Hành uẩn và không cùng tương ưng với Tâm. 73. Các pháp hữu vi có 3 loại, vô vi cũng có 3. 74. Hành tướng của 3 pháp hữu vi mỗi thứ đều có tự thể riêng biệt. 75. Trong Tứ Đế, 3 đế là hữu vi, còn 1 đế là vô vi. 76. Bốn thánh đế đều là pháp hiện quán theo thứ tự. 90. Nếu nương vào thân hình ở cõi Sắc và Vô sắc thì tuy có thể chứng đắc A la hán nhưng không thể nhập Chánh tánh ly sanh. 91. Nương vào thân hình ở cõi Dục không chỉ chứng nhập Chánh tánh ly sanh mà còn có thể chứng đắc quả vị A la hán. 92. Con người sống ở Bắc câu lô châu không thể xa lìa cấu nhiễm nên bậc thánh không sanh ở đó cùng cõi trời Vô tưởng. 93. Bốn quả vị sa môn không nhất định phải chứng đắc lần lượt (từ thấp đến cao). 94. Nếu đã chứng nhập Chánh tánh ly sanh, nương vào pháp thế gian thì cũng có thể chứng đắc quả vị Tư đà hàm và A na hàm. 95. Có thể nói Bốn niệm xứ gồm thâu tất cả các pháp. 96. Tất cả các loại tùy miên là tâm sở, cùng tương ưng với tâm và đều có đối tượng. 97. Tất cả tùy miên thuộc triền phược, nhưng không phải tất cả triền phược đều thuộc tùy miên. 103. Tâm và tâm sở pháp đều có thật thể. 104. Tâm và tâm sở chắc chắn phải có đối tượng (sở duyên). 105. Tự tánh không tương ưng với tự tánh, tâm không tương ưng với tâm. 106. Có cái gọi là chánh kiến thế gian, tín căn thế gian, và pháp vô ký. 139. Nếu đã chứng đắc Chánh tánh ly sanh thì 12 tâm đầu gọi là Hướng hạnh, còn tâm thứ 13 mới gọi là Trụ quả. 140. Quá khứ vị lai thì không có thật, hiện tại và vô vi thì có thật. 141. Cả Bốn thánh đế đều hiện quán trong một lúc. Thấy được Khổ đế liền thấy tất cả các đế khác, nhưng cần phải thấy được (các thánh đế) rồi mới thấy được như thế. 142. Tùy miên không phải tâm, không phải tâm sở và cũng không có cảnh sở duyên. 143. Tùy miên khác với triền phược, vì tự tánh của tùy miên không tương ưng với tâm nhưng tự tánh triền phược lại tương ưng với tâm. 158. Pháp vô vi gồm có 9 loại, gồm: trạch diệt, phi trạch diệt, hư không, bất động, thiện pháp chơn như, bất thiện pháp chơn như, vô ký pháp chơn như, đạo chi chơn như và duyên khởi chơn như. 159. Từ khi mới nhập bào thai cho đến khi chết thì các đại chủng của sắc căn đều chuyển biến, tâm và tâm sở cũng chuyển biến như thế. 174. Phật tuy ở trong tăng nhưng cúng dường riêng cho đức Phật thì được phước báo rộng lớn còn cúng dường cho chư tăng thì không bằng. 175. Cúng dường tháp miếu sẽ được công đức thật rộng lớn. 176. Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa tuy đồng nhưng thánh đạo lại khác. 177. Không có ngoại đạo chứng đắc được ngũ thông. 178. Thân thể của A la hán đều là vô lậu. 179. Các pháp đã đoạn trừ và đã biến tri thì không có. Còn chưa đoạn trừ và chưa biến tri thì có. 180. Nếu nghiệp quả đã thành thục thì không, nghiệp quả chưa thành thục thì có. 181. Có các hành lấy quá khứ làm nhân, mà không có hành nào lấy vị lai làm nhân. 182. Tất cả các hành đều đoạn diệt trong một sát na. 183. Tất cả các pháp hữu học đều có quả Dị thục. 184. Các Uẩn có thể di chuyển từ đời trước đến đời sau. (Vì thuyết này nên) đặt tên bộ phái này Thuyết Chuyển. 185. Nếu không xa lìa thánh đạo thì có thể chấm dứt hoàn toàn các uẩn. 186. Có cái uẩn căn biên, và có cái uẩn một vị. 187. Trong hàng phàm phu vẫn có thánh pháp. 188. Có thắng nghĩa Bổ đặc già la. 2.1. Quan điểm đức Phật của Đại Chúng Bộ: Theo Dị Bộ Tông Luân Luận cho rằng quan điểm của Đại Chúng Bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết Xuất thế và Kê Dẫn bộ cho rằng thân Phật là thanh tịnh với sự mô tả như sau: 1). Thân của chư Như Lai toàn là siêu xuất thế gian. 2). Chư Như Lai không có pháp hữu lậu. 3). Lời nói của chư Như Lai toàn là chuyển pháp luân. 4). Chư Như Lai dùng một âm thanh nói tất cả pháp. 5). Những điều chư Như Lai nói đều đúng nghĩa. 6). Sắc thân của chư Như Lai thật không có giới hạn. 7). Uy lực của chư Như Lai cũn không có giới hạn. 8). Thọ lượng của chư Như Lai càng không có giới hạn. 9). Chư Như Lai không có tâm lý thấy chán thấy đủ trong sự giáo hóa chúng sinh cho họ có đức tin trong sáng. 10). Chư Như Lai không ngủ và không mộng mị. 11) Chư Như Lai giải đáp các câu hỏi một cách không đợi suy nghĩ. 12) Chư Như Lai lúc nào cũng không nói danh, cú và văn, vì các Ngài thường ở trong chánh định, nhưng các loại chúng sinh nói các Ngài danh, cú và văn, và hoan hỷ phấn chấn[ theo danh, cú và văn ấy]. 13). Chư Như Lai thì tâm thức trong một sát na mà biết rõ tất cả các pháp. 14). [ Chư Như Lai thì] tâm trí một sát na thích ứng bát nhã là thấu triệt tất cả pháp. 15).Chư Như Lai thì trí tận diệt và trí không sinh thường xuyên hiện hành cho đến lúc nhập vào Niết Bàn. 2.2. Quan điểm đức Phật của Thượng Tọa Bộ: 1). Hữu chất thân là bổn thân có hạn lượng. 2). Mỗi mỗi thân lớn nhỏ đều là hoá thân có hạn lượng. 3). Suy nghĩ của Phật thuộc về vô ký. 4). Đức Phật nói pháp có suy nghĩ và sắp đặt. 5). Như Lai có thùy miên. 6). Chư Như lai trong định không thấy được mọi sự vật bên ngoài. 7). Chư Như Lai trong một sát na không rõ biết được tất cả các pháp. 5. Cơ sở văn học trình bày những quan điểm về thân Phật: 5.1.Đức Phật trong Kinh tạng Đại Thừa: Trong Trung Luận (Mafdhyamika) và trong Thập bát thiên tụng Bát nhã Ba La Mật của đại sư Long Thọ đưa ra quan điểm về thân gồm có Sắc thân và Pháp thân. Sắc thân, hoặc ứng thân là chỉ cho thân thể, tướng thô và tướng tế tức thân xác của con người. Pháp thân có hai nghĩa: 1. Thân pháp, do con người giác ngộ thành Phật. 2. Nguyên lý siêu hình của vũ trụ tức Chân như. 3. Chướng ngại trong tu tập đạt các quả vị: Dục lạc và phương pháp thoát ly dục lạc là đề tài được nói đến rất nhiều trong kinh tạng Pàli. Rất nhiều bản kinh, đoạn kinh và câu kinh thuộc kinh tạng Pàli đề cập vấn đề này. Đức Phật từng nếm trải lạc thú thế gian, hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của nó nên dục lạc và phương pháp thoát ly dục lạc là đề tài mà ngài rất quan tâm giảng dạy cho các học trò mình. Một thông tin từ bản kinh Xà dụ cho biết: “Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn.” Về phương pháp thoát ly dục lạc, đức Phật cũng cho thấy một kinh nghiệm rất thiết thực. Trong Tiểu kinh Khổ uẩn, Ngài đã nói rõ về kinh nghiệm ấy: “Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,’ dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,’ và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.” 4. quan điểm thứ 22 眼 等 五 識 身 有 染 有 離 染 . Nhãn thức và 5 thức của thân có nhiễm ô và cũng lìa nhiễm ô. Trong năm thức cảm giác, thì nhãn thức cần cả chín duyên ; nhĩ thức cần tám duyên (không cần ánh sáng); còn tỉ thức, thiệt thức và thân thức chỉ cần bảy duyên (ba thức nầy không cần ánh sáng và không gian). Tịnh sắc căn là thần kinh hệ. Danh từ tịnh sắc căn là để phân biệt với danh từ phù trần căn. Phù trần căn là phần thô ở bên ngoài của năm giác quan, ví dụ con mắt. Tịnh sắc căn là phần vi tế ở bên trong mà ta không thấy được bằng mắt hay sờ bằng tay được, ví dụ như thần kinh thị giác, có khi gọi là thắng nghĩa căn. Hai lìa, ba hiệp ngắm trần thế: Hai lìa có nghĩa là có hai thức (nhãn thức và nhĩ thức) mà căn và cảnh không cần phải dính sát với nhau mà vẫn phát sinh ra thức. Ví dụ con mắt. Cái cây cách đó 20 thước mà con mắt vẫn có thể nhận thức được. Ba hiệp có nghĩa là đối với ba thức kia (tỉ thức, thiệt thức và thân thức) thì căn và cảnh phải có sự đụng chạm với nhau mới phát sinh ra thức được. Thân thể phải đụng chạm với cái bàn mới phát sinh ra thân thức được. Ngắm trần thế dịch từ chữ quán trần thế trong nguyên văn chữ Hán, có nghĩa là quán sát sự vật. Kẻ dại hay lầm thức với căn: Người ngây thơ cho rằng giác quan là thức. Họ lầm tưởng con mắt là cái thấy, lỗ tai là cái nghe. Kỳ thực mắt chỉ là một trong chín điều kiện để phát sinh ra nhãn thức. Cũng như âm thanh chỉ là một trong tám điều kiện để phát sinh ra nhĩ thức. Thức luôn luôn bao gồm cả chủ thể (kiến phần) và đối tượng (tướng phần). Trong nguyên văn chữ Hán Ngu giả nan phân thức dữ căn, ta thấy thầy Huyền Trang dùng chữ ngu hơi nặng nề, ở đây ta nên dùng chữ dại cho nhẹ nhàng bớt. Biến tướng quán không nhờ hậu đắc Chứng rồi chưa hẳn đã như chân. Trước hết chúng ta hãy học hai chữ hậu đắc. Hậu đắc có nghĩa là đạt được về sau. Khả năng nhận thức mà ta đạt được về sau gọi là hậu đắc trí. Trước đây thì ta chưa có thứ trí tuệ nầy, nhưng nhờ tu tập, nhờ công trình quán chiếu về tự tính vô thường, vô ngã, tương tức, tương nhập và tính không của vạn sự vạn vật mà ta đạt được một cái thấy đúng với thực tại. Cái thấy mà ta có được sau một thời gian tu tập gọi là hậu đắc trí. Hậu đắc trí khác với căn bản trí. Căn bản trí là thứ trí tuệ có sẵn từ muôn đời. Ta có thể dùng văn phạm tiếng Việt là trí hậu đắc và trí căn bản. Biến tướng có nghĩa là nương vào đó để tạo ra một đối tượng. Đối tượng của thực tại nhiệm mầu là chân như, là không. Chủ thể của thực tại đó là trí căn bản, vốn đã có sẵn từ muôn đời. Đây là thế giới của bản thể, là nước chứ không phải là sóng. Năm thức cảm giác tiếp xúc với thế giới hiện tượng, với thế giới của sóng. Khi năm thức cảm giác đã chuyển đổi những sai lầm rồi thì chúng có thể nhận thức được thực tại. Cái thực tại mà chúng nhận thức vẫn qua thế giới hiện tượng, nhưng không còn sai lầm nữa, cũng quán chiếu những đợt sóng, nhưng có thể thấy tự tính của những đợt sóng là không sinh không diệt, không cao không thấp. Cái thứ trí tuệ đó là trí hậu đắc. Trí tuệ nầy không dùng chân như để làm đối tượng. Đối tượng của nó là thế giới hiện tượng chứ không phải thế giới bản thể, cho nên gọi là chứng rồi chưa hẳn đã như chân. Đã là trong thế giới hiện tượng tức là còn sự phân biệt. Trí tuệ nầy có thể gọi là phân biệt trí. Phân biệt thức thì có thể còn vướng vào sai lầm, nhưng phân biệt trí thì không còn sai lầm nữa. Thiện có nghĩa là có tác dụng đưa tới an lạc, giải thoát. Ác có nghĩa ngược lại, làm cho mình chìm đắm trong luân hồi, khổ đau. Khi thức thứ 6 nghĩ tới việc thiện thì có tâm sở thiện tương ứng, hạt giống thiện được biểu hiện và như vậy ta đang đi tới an lạc, giải thoát. Khi nó nghĩ tới việc ác thì có tâm sở ác tương ứng và ta đang chìm đắm trong vô minh. Tánh là thiện, ác và vô ký. Giới là ba giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Thọ là cảm thọ; có ba loại: dễ chịu, khó chịu và trung tính. Thường biến đổi ở đây có nghĩa là thức thứ 6 có thể chuyển từ ác sang thiện, từ thiện sang vô ký. Nó cũng có thể chuyển từ dục giới sang sắc giới, từ sắc giới sang vô sắc giới. Bởi vì tuy là sống trong dục giới nhưng khi ý thức đi vào trong định, nó có thể đạt tới những trạng thái thiền định của cõi vô sắc và sắc. Cảm thọ cũng vậy: đang vui vẻ, có cảm giác dễ chịu; thì vì một nguyên nhân nào đó ý thức trở nên buồn rầu, khó chịu. Các tâm sở căn bản phiền não, tùy phiền não, các tâm sở thiện và các tâm sở khác nữa cứ thay phiên nhau đến rồi đi. Khi mới phát tâm tu học và có nhiều an lạc trong sự tu học thì chúng ta đã bước vào địa thứ nhứt là địa Hoan-hỷ. Tuy thế ý niệm về ngã và pháp vốn đã có sẵn trong thức A-lại-gia vẫn còn y nguyên trong chiều sâu tâm thức. Hạt giống chấp ngã và chấp pháp nầy được sinh ra cùng một lúc với thân mạng gọi là câu sinh ngã, pháp. Câu có nghĩa là cùng một lúc. Cho dù chúng ta đã an trú trong địa Hoan-hỷ nhưng cái thấy của chúng ta về thực tại của ngã và pháp vẫn còn xa lạ. Ta vẫn còn cho rằng giữa ta với người là hai thực thể khác nhau, niềm đau của mình không dính líu gì tới niềm đau của người khác, niềm vui của người khác không dính líu gì tới niềm vui của mình. Bởi vì hạt giống của câu sinh chấp ngã chưa được chuyển hóa. Ta cũng cho rằng bông hoa và mặt trời là hai thực thể riêng biệt, vật nầy không dính líu tới vật kia. Đó là hạt giống câu sinh chấp pháp vẫn còn nguyên vẹn trong thức A-lại-gia. Sự thực tập quán chiếu tính cách tương tức tương nhập của mọi sự vật, tính cách liên hệ mật thiết giữa ta với người sẽ làm cho hạt giống chấp ngã và chấp pháp được chuyển hóa dần. 5. quan điểm thứ 23 色 無 色 界 具 六 識 身. Sắc giới và Vô sắc giới đều có đủ cả 6 thức. Tâm vô sắc giới là tâm thuộc về lãnh vực vô sắc, vì tâm này vượt ra ngoài phạm vi sắc pháp nghĩa là đối tượng của những tâm này thuộc về phạm vi tâm pháp và chế định. Những tâm vô sắc cũng là những tâm thiền như tâm sắc giới, nhưng trạng thái những tâm này cao hơn và mạnh hơn. Cần chú ý là những tâm vô sắc nầy đều có trạng thái cũng như chi thiền giống với tâm ngũ thiền sắc giới và khi tính về thứ bậc thì nó thường được tính chung với tâm ngũ thiền sắc giới. Tâm thiền vô sắc giới được phân làm ba loại: tâm thiện vô sắc giới, tâm quả vô sắc giới và tâm duy tác vô sắc giới. 5.1. Tâm Thiện Vô Sắc Giới: Là tâm có kết quả sanh làm người cõi vô sắc. Những tâm nầy là những tâm thiền mà đối tượng là các đề mục suy diễn chứ không nương vào các đề mục sơ tướng bằng sắc pháp như những tâm sắc giới. Những tâm thiền vô sắc là những tâm thiền chứng đắc sanh khởi nơi phàm tam nhân và thánh quả hữu học. Khi chăm chú vào đề mục quang tướng ấy, thời một điểm sáng nhỏ như ánh sáng đom đóm sẽ xuất hiện từ đối tượng ấy. Khi ấy hành giả tập trung tư tưởng, muốn ánh sáng ấy lan tràn ra khắp hư không. Hành giả chú tâm như vậy cho đến lúc điểm sáng ấy chiếu diệu hòa đồng, chiếu khắp cả hư không. Hành giả cần nhớ là sự chiếu rọi hư vô vô biên đó chỉ là do sự tưởng tượng mà ra và được gọi là Kasiṇagghatimākāsā (hư không phát xuất từ đề mục hoàn tịnh). Từ đó, hành giả lấy đó làm đối tượng và niệm rằng " hư không không bờ mé ... hư không không bờ mé ...". Suy niệm như vậy cho đến lúc hành giả định tâm hoàn toàn vào đề mục ấy, tức là đã chứng và trú tâm thiền này. Nếu muốn và đủ nghị lực, hành giả có thể luyện lên bậc thiền cao hơn. Nếu không, khi mệnh chung, hành giả sẽ sanh về cõi vô sắc giới thuộc cõi không vô biên. Trong khi các tâm thiền sắc giới được phân biệt bởi các sở hữu tâm (Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Ðịnh và Xã) thì các tâm thiền vô sắc giới được phân biệt bởi các đề mục thiền định. Thiền sắc giới được định danh bởi thứ bậc cao thấp còn thiền vô sắc giới được định danh bởi các đề mục quán tưởng trong khi tu luyện tuy rằng cũng có sự cao thấp giữa các bậc thiền. 6. quan điểm thứ 24 五 種 色 根 肉 團 為 體 。眼 不 見 色 。耳 不 聞 聲 。鼻 不 嗅 香 。舌 不 嘗 味 。身 不 覺 觸. Năm sắc căn lấy khối thịt làm thể, nên mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi hơi, lưỡi không nếm vị, thân không biết xúc chạm. Ngũ căn là 5 quyền năng : Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn và Tuệ Căn, nói vắn tắt là Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Ngũ căn là năm căn lành được trình bày trong 37 phẩm trợ đạo, và còn được gọi là Ngũ thiện căn. Trong Duy thức cũng có Ngũ căn, nhưng là năm giác quan được trình bày theo thứ tự như sau : nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn. Đức Phật nói : cần phải giữ thăng bằng giữa Tín và Huệ, Tấn cân đối với Định. Nếu Tín quá mạnh, Huệ quá yếu thì trở nên mê tín, quá khích, dễ đi lạc vào tà kiến. Còn nếu Huệ quá nhiều, Tín quá ít thì trở nên, lý luận nhiều mà không thực hành vì lòng Tin chưa vững, tinh tấn chưa có. Dù ở bất cứ lứa tuổi nào, đứng trong mọi hoàn cảnh, người biết tận dụng tâm trí, khai thác tận dụng những khả năng của mình trong việc tu tập, là người hiểu được đạo Phật, hiểu được mục đích của đạo Phật, hiểu được giá trị thiết thực của đạo Phật đối với cuộc sống. Người tu theo Phật giáo chưa có trí tuệ Tam Minh thì chưa được xem là người có trí tuệ, chỉ có tri kiến giải thoát mà thôi. Tri kiến giải thoát lànhờ có giới luật. Nếu tri kiến không có giới luật thì tri kiến ấy là tri kiến phàm phu, tri kiến vô minh hay nói cho rõ hơn là tri kiến dục u tối. Thứ tri kiến này không được gọi là Tuệ căn. Cho nên, Tuệ căn ở đâu là Tam Minh ở đó, Tuệ căn là cội gốc của Tam Minh, Tam minh là pháp tu của Tuệ căn, Tuệ căn làm thanh tịnh Tam Minh, Tam Minh làm thanh tịnh Tuệ căn. Tại sao chúng ta bảo Tuệ căn làm thanh tịnh Tam Minh? Trước khimuốn hiểu câu này thì phải hiểu hai chữ Tuệ căn. Vậy Tuệ căn nghĩa là gì? Như trên đã dạy Tuệ căn là 37 phẩm trợ đạo. Nhờ tu tập 37 phẩm trợ đạo mà trí tuệ Tam Minh mới xuất hiện. Thưa các bạn! Các bạn có biết 37 phẩm trợ đạo là gì không? Khi nêu ra câu hỏi này các bạn sẽ cho chúng ta khinh rẻ các bạn, vì ai cũng biết 37 phẩm trợ đạo là những pháp môn tu hành của Phật giáo Nguyên thủy. Nếu các bạn trả lời như vậy thì chúng ta đâu có đưa ra câu hỏi này để làm gì? Về giới luật của Phật mà các bạn thường nghe trong kinh Nguyên Thủy Phật dạy những bài kinh mang tên tựa đề như: kinh Tiểu Giáo Giới La Hầu La, Kinh Đại Giáo Giới La Hầu La, kinh Giáo Giới Ca Chiên Diên, kinh Giáo Giới A Nan, v.v.. Như vậy 37 phẩm trợ đạo là Giới Hành của Đạo Phật, bởi vì 37 phẩm trợ đạo là pháp môn tu tập ngăn ác diệt ác pháp, ly dục diệt ngã xả tâm giúp cho tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là trí tuệ Tam Minh. đức Phật cho ví dụ: “Khi tâm thanh tịnh như nước hồ trong vắt, nhìn thấy đáy, rùa trạch cá tôm đều thấy cả, không có vật gì mà không thấy”. Khi thấy được như vậy là gì sao chúng ta có biết không? Đó là cái thấy biết của Tam Minh. Cái thấy biết của Tam Minh thì không có không gian trải dài và ngăn cách và không có thời gian chia cắt quá khứ, vị lai và hiện tại nên giống nước trong suốt như pha lê. Vì thế, chúng tôi mới bảo: “Tuệ căn làm thanh tịnh Tam Minh”. Năm căn này là nền tảng có khả năng sinh sản ra tất cả các pháp thiện, nên gọi là năm căn. Hơn nữa ‘căn’ ở đây nó cũng mang ý nghĩa tăng thượng, như trên chúng ta đã biết, năm loại căn này cũng có thể khiến cho con người sản sinh ra Thánh đạo vô lậu nên cũng gọi là căn. Theo Đại thừa nghĩa chương 16 nói về ý nghĩa của căn thì, “Vì sức mạnh của Năm căn này nghiên nặng hơn về việc sản sinh ra Thánh đạo xuất thế, nên gọi là căn.” Năm loại căn này còn có tác dụng dùng để đối trị với những người: không có lòng tin (bất tín), biếng nhác (giải đãi), buông lung (phóng dật), táy máy thân hình (trạo cử), phiền não vô minh, nên cũng gọi là căn. Ngoài ra theo phần một quyển 7 Chỉ Quán bổ hành truyện hoằng quyết thì, người tu hành tuy mần thiện chưa phát, vì căn chưa sinh, song nay nếu tu tập năm pháp này thì, sẽ khiến cho thiện căn sẽ sinh ra, nên năm pháp này được gọi là căn. Cuối cùng chúng ta phải lấy trí tuệ làm nền tảng và tinh tấn để thực hành những chánh pháp nầy. Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ phát tâm bố thí để giúp đời và giúp mình, cố gắng tập trung tư tưởng để diệt trừ vô minh vọng tưởng cũng như loại phá mọi phiền não và đạt cho được trí tuệ không phân biệt để sau cùng chứng được chân như. Với những thần lực vĩ đại do ngũ căn tạo ra thì chúng ta đã có đủ phương tiện cần thiết để đạt đến mục tiêu cuối cùng là chứng được Niết Bàn và thoát ra khỏi vòng sinh tử trầm luân. Hơn thế nữa, một khi đã đến được nơi nầy thì chúng ta sẽ là ánh sáng của chúng sinh và cũng là ruộng phước để chúng sinh gieo mầm an lạc. Cuối cùng, với lòng từ bi vô lượng, chúng ta có đủ cơ năng để giúp chúng sinh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát và hoàn toàn giác ngộ. 7. quan điểm thứ 25 在 等 引 位 有 發 語 言。亦 有 調 伏 心。亦 有 淨 作 意。 Trong giai đoạn Đẳng dẫn vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có cái tâm điều phục, vẫn có tác ý thanh tịnh. 7.1. Giữ Miệng Phòng Tâm: Cổ đức có câu: "Thiện ác lưỡng điều đạo, tu đích tu, tạo đích tạo" (thiện ác hai con đường, đường tu và đường tạo). Ðiều này nói ra hoàn toàn xác đáng. Tu cái gì? Tu đường thiện. Tạo cái gì? Tạo nghiệp ác. Thiện tri thức cảnh giác chúng ta mà không bao giờ chán, có điều chúng ta ngu si, không biết lãnh giáo những điều ngay, cứ việc ta ta làm, chỉ biết lợi cho mình mà không nghĩ lợi cho người khác và, nói cách khác là chỉ biết tạo nghiệp ác, không tu thiện, cho nên không thể nào ra khỏi sáu nẻo trong vòng luân hồi. Ý nghĩ của chúng ta kể ra thì vô lượng, vô biên, vô cùng tận. Niệm thì chạy lên thiên đàng, niệm thì xuống địa ngục. Vọng tưởng về thiện tức thuộc phạm vị thiên đàng, vọng tưởng về ác thì thuộc về địa ngục, do đó, chúng ta nhất cử nhất động, một lời nói một công việc làm, lúc nào cũng phải thận trọng, từng giờ từng khắc lưu tâm, đâu đâu cũng phải chú ý, trong ngoài như một. Trông bề ngoài thì hành động rất tốt, nhưng bên trong thì đầy vọng tưởng, cái đó cũng không mang lại kết quả. Phải làm sao cho trong ngoài như một, không chạy theo vọng tưởng mới được. Có những người trong tâm thì đầy vọng tưởng, nghĩ rằng người ngoài không ai biết, rồi cứ như vậy ngày ngày vọng tưởng, cho đến khi xuống địa ngục cũng mang theo, mà chính mình thì không biết tại sao đọa địa ngục. Những hạng người như vậy thật đáng thương! Chúng ta là người tu học, ở chung phải giữ miệng. Ðại chúng ở chung một nơi, phải đề phòng chuyện thị phi. Có câu nói rất chí lý: "Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập." Nghĩa là họa do bởi lời từ miệng thốt ra, bệnh cũng do từ miệng mang vào. Chúng ta không nên bạ đâu nói đấy, cố tránh chuyện phiền phức, giữ miệng cho kín là tốt hơn cả. Lại có câu: "Thị phi chỉ vì hay mở miệng, phiền não đều do cưỡng xuất đầu." Ðộc tọa phòng tâm, nghĩa là khi ngồi một mình chúng ta phải cẩn thận đề phòng tâm ý, chớ theo vọng tưởng, nhất là các tư tưởng về dâm dục. Người xuất gia càng phải đặc biệt chú ý, quản lý kỹ càng cái tâm, không cho những tư tưởng vô ích đến quấy nhiễu. Vọng tưởng thì ai ai cũng có, nhưng khi đã khởi vọng tưởng thì ta phải vận dụng các phương cách để khống chế, không cho vọng tưởng làm mưa làm gió. Những phương cách đó là hoặc ta niệm Phật, hoặc ta trì chú, hoặc giả ngồi thiền, bái sám, tóm lại kiếm một cái gì khác để làm, sao cho tinh thần tập trung lại thì sẽ không có vọng tưởng. Bất kể là phái nam hay phái nữ, hoặc giả là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, là người già hay trẻ nít, ai nói đạo lý chánh đáng thì ta nghe, ai nói không chánh đáng thì đừng có tin, chúng ta nhất định phải có con mắt chọn pháp (trạch pháp nhãn). Hợp đạo lý thì đi tới, không hợp đạo lý thì rút lui; chọn điều thiện mà theo, bất thiện thì sửa đổi, đó là quan điểm hết sức cơ bản của người tu. Có người biết rõ lỗi của mình mà không sửa đổi, biết mà vẫn làm quấy. Những hạng người này rất khó giáo hóa, họ chẳng kham nổi Phật pháp, chẳng thể học gì thêm. Người ta nói: "Gỗ mục khó đẽo gọt, tường bằng phân khó trét," nếu chính mình không tự giúp cho mình, tự mình coi thường mình, thì ai còn coi trọng mình, ai còn giúp đỡ mình nữa? Ðó là điều cần phải tự xét cho kỹ. 7.2. tư duy thanh tịnh: Hầu như tất cả mọi người đều muốn có được sự thanh tịnh tâm hồn trong đời sống của mình. Ai cũng muốn có được hạnh phúc để quên đi những khó khăn, vất vả và những lo âu của họ. Và tận hưởng những giây phút an lạc trong nội tâm và giải thoát khỏi những âu lo phiền muộn. Thanh tịnh tâm hồn là gì? Nó là một trạng thái vắng lặng và thanh bình của nội tâm cùng với một cảm giác tự do. Một khi không còn những suy nghĩ và lo lắng thì không có phiền muộn, căng thẳng và sợ hãi. Những giây phút như thế này không phải là hiếm có. Chúng ta trải nghiệm qua những giây phút này chẳng hạn như khi chúng ta đang chăm chú vào một vài công việc hấp dẫn hay hoạt động mà chúng ta yêu thích như là khi chúng ta xem một tập phim hay hoặc một chương trình ti vi hấp dẫn. Hoặc khi chúng ta ở bên cạnh một người mà chúng ta yêu thích hay khi đọc một quyển sách hay hoặc khi nằm phơi mình trên cát trắng dọc bờ biển. Mỗi ngày chúng ta phải đối diện với biết bao những điều không vừa ý, những bực bội và những tình huống mà những điều này vượt quá tầm kiểm soát của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi được những điều đó thì quá tốt nhưng không phải lúc nào cũng có thể làm được. Chúng ta phải học cách làm quen với những việc này và chấp nhận chúng một cách vui vẻ. Học cách để có thêm kiên nhẫn và khoan dung và độ lượng đối với mọi người và mọi tình huống. Đừng tham lam ôm đồm mọi thứ quá mức. Nên tập xả ly cả về tình cảm và tâm thần. Cố gắng nhìn cuộc đời mình và mọi người với một ít xả ly và một ít hệ lụy. Xả ly không phải là dững dưng, thiếu quan tâm và lạnh nhạt mà nó là một khả năng để tư duy và phán xét một cách công bằng và lô-gíc. Đừng nên lo lắng nếu bạn thất bại và tiếp tục thất bại trong việc thể hiện sự xả ly. Cứ cố gắng thực tập nó. Hãy để cho quá khứ đi qua. Hãy quên đi quá khứ và tập trung vào giây phút hiện tại. Không cần phải gợi lên những ký ức không vui và chôn vùi chính mình trong đó. Thực tập một vài cách để tập trung. Điều này sẽ giúp bạn tống khứ những ý nghĩ không vui và những lo lắng. Những thứ này đã cướp đi sự thanh thản trong tâm hồn bạn. Học cách để thiền tập. Thậm chí vài phút trong một ngày cũng có thể thay đổi cuộc đời bạn. Cuối cùng, sự an bình trong nội tâm sẽ đưa đến sự an bình của thế giới bên ngoài. Bằng cách tạo ra sự an bình trong thế giới nội tâm, chúng ta mang nó ra thế giới bên ngoài và điều có có thể ảnh hưởng đến nhiều người khác chung quanh nữa. 8. quan điểm thứ 26 所 作 已 辦 無 容 受 法 . Việc làm hoàn tất, không có sự chấp thủ. Thuở xưa người chân chính tu đạo, ở nhà tranh, tự mình cày ruộng, tự mình ăn; tuyệt đối không nhờ vào ngoại duyên. Vì mục đích diệt lòng tham, nên họ ở nhà lá mà tu hành. Hoặc giả họ bế quan, vì muốn làm cho học vấn và đạo đức mình được chắc thật. Nếu như chân chính tu Ðạo, thì có thể ở một mình đơn độc, nhưng không thể đơn độc tiếp thọ sự cúng dường của cư sĩ. Làm vậy là đem Chính-pháp biến thành Mạt-pháp, cũng là phá hoại Phật-giáo. Hiện tại người tu hành thích đơn độc tu ở nơi tịnh xá. Tại sao vậy? Bởi vì nếu họ không giữ giới luật thì chẳng có người nào thấy, phạm qui củ cũng không có ai biết được, có thể tùy tâm sở dục, muốn làm gì, chẳng có ai quản thúc, được tự do tự tại, có thể nói rằng không có ràng buộc gì cả. Hoặc giả có kẻ khác thì ở trong tịnh xá của mình chiêu tập một số cư sĩ, lại nói là làm pháp này hội nọ, nhưng thực tế chỉ là mượn áo nhà Phật, nhờ vào danh Phật để kiếm miếng ăn mà thôi. Có những người xuất gia, không dùng tiền cúng dường của cư sĩ vào những việc Phật sự, ngược lại lợi dụng tiền đó đi mua những vật xa xỉ, xe hơi, làm những điều ích lợi riêng tư. Hoặc giả là mua T.V., rồi ngày ngày coi T.V., quên lãng cả việc tụng kinh sớm tối. Hoặc giả là mua tủ lạnh để chứa những thức ngon vật lạ. Nói tóm lại, họ đắm trước sự hưởng thụ, tham đồ vật, tham sung sướng. Phong khí hiện tại chính thật là như vậy. Họ đem tính chất khổ hạnh của Phật-giáo hoàn toàn biến cải, thật là cô phụ sự khổ tâm của Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật xưa kia vậy! Có người nói: "Sinh ra trong thời đại nầy, mình cần phải coi T.V., cần phải biết tin tức quốc tế, nếu không thì là đui mù, câm điếc không biết gì cả." Bạn biết những chuyện ngoài đời rồi thì sao? Biết được chuyện ngoài đời, đến lúc chết có tránh được chăng? Có người lại nói: "Người tu hành có thể tránh được cái chết hay sao?" Bạn tu hành, tới khi chết cũng phải chết, song trước khi chết tâm mình sáng suốt, tuyệt đối không phiền não, không rối ren, an nhiên mà chết. Nếu mình không tu hành, tới lúc chết thì cũng chết vậy; nhưng chết một cách hồ đồ, mơ màng, mê muội. Không nhớ nam, cũng nhớ bắc, lòng không thanh tịnh, ôm hận mà chết. Ðó là chỗ khác biệt, quý-vị có biết chăng? Ðối với người tu hành chân chính, lúc chết tâm họ rất sáng suốt, biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu; rõ ràng không có mơ hồ gì cả, không quên đi bản lai diện mục của mình. Người không tu hành lúc tới thì mơ màng, khi đi thì lại càng hồ đồ, cả một đời mê muội. Họ không biết gì lý do gì mình tới, rồi vì sao đi. Cũng không biết từ đâu lại, rồi đi về đâu. Hoàn toàn mù mịt. Mục đích xuất gia là liễu sinh thoát tử, không phải vì hưởng thụ. Nên khi đã đi tu rồi cần gì tham lam vật chất hưởng thụ? Có lòng tham hưởng thụ thì cần gì xuất gia? Tôi chủ trương rằng bất luận ai muốn đơn độc trụ một ngôi chùa nhỏ để tìm cách hưởng thụ, thì chi bằng hoàn tục cho rồi. Bởi vì sao? Bởi vì hoàn tục so với đơn độc trụ một chùa nhỏ tốt hơn nhiều, không tạo nên những tội nghiệp vừa kể. Ðiểm đó hy vọng quý-vị đại chúng chú ý. Nói rằng người tu hành đơn độc trụ nơi một chùa nhỏ mục đích không phải là để tu hành mà tại tham đồ hưởng thụ cúng dường, câu nói đó nhất định có nhiều người không muốn nghe. Tôi không cần biết quý-vị có muốn nghe hay không, tôi vẫn nói vì nghĩ đến tiền đồ của Phật-giáo. Nên chi nói ra, khiến người khác khó chịu. Thêm một lần nữa: "Phàm là người xuất gia thích hưởng thụ, không có sự tu trì, thì bất quá chỉ đội lốt thầy tu thôi." Hy vọng các đạo hữu khuyến khích lẫn nhau, nhắc nhở lẫn nhau, đừng cố tình nói dối, đừng làm chuyện như "Bịt tai mà ăn cắp chuông." Lấy vải thưa che mắt thánh. 7. quan điểm thức 27 諸 預 流 者。心 心 所 法 能 了 自 性. Tâm và tâm sở của các vị Dự Lưu có thể biết được tự tính. Sự mong mỏi về năm loại cảnh trần bao gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc hay những mong muốn về những cảnh dễ chịu khác nếu tồn tại quá lâu sẽ sanh ra tham và tham quá độ thành ra dính mắc. Mắt muốn nhìn thấy sắc đẹp, tai muốn nghe lời nói ngon ngọt, mũi muốn hửi mùi thơm, lưỡi muốn nếm vị ngon, thân thể muốn có những xúc chạm dễ chịu. Tất cả những điều này khiến con người mê lầm và trở nên vô mình không biết chúng không thuộc về ta cũng như thay đổi vô thường. Cũng có người thích làm chức cao, thích nhận xét người khác, thích làm ăn kiếm tiền nhiều hay thích ở nhà cao sang trọng. Nhiều cái thích quay con người như chong chóng và biến con người sử dụng phương tiện của dục thỏa mãn tâm tham. Đây gọi là dục dục. Dục thứ hai gọi là tác dục. Vì có sự mong muốn nên có ý muốn làm điều mình mong muốn đó. Một cậu bé muốn nghe nhạc và điều này thúc đẩy cậu có ý mua một máy ipod để nghe. Một người tu sĩ với mong muốn giải thoát và cứu độ chúng sanh đã thúc đẩy ông có ý muốn tu tập, tham thiền, tụng kinh, buông bỏ mọi dính mắc. Dục thứ ba là pháp dục. Trường hợp giống như mong muốn đạt được kết quả của điều mình mong cầu. Người muốn thấy sắc đẹp nên mong muốn nhìn thấy người đẹp. Muốn nghe nhạc nên mong muốn nghe được âm thanh của bản nhạc mình yêu thích. Muốn tu tập có hạnh phúc nên mường tượng ra cảm giác hạnh phúc khi thực chứng hay đắc đạo. Sự mong mỏi làm con người tưởng tượng đủ thứ và tâm bắt đầu chạy vòng quanh, không còn an trụ trong thế giới hiện tại nữa. Con người bị dục lôi kéo đi, mất hết sự tự chủ và có thể dẫn đến việc phạm giới hay đánh mất đạo đức của mình. Dục phát sinh khi xuất hiện sự mong muốn về đối tượng cảnh trần và chánh niệm về cảnh trần sẽ kiểm soát được dục không cho cảnh kéo dục đi theo. Người ăn chay thấy thức ăn mặn có thể sẽ chảy nước miếng và khởi tâm muốn dùng nó. Nhưng nhờ có chánh niệm người này biết rằng ăn mặn sẽ phạm giới và khó giữ được lòng từ bi với muôn loài nên việc bày thức ăn mặn ra cũng không động đũa đến. Biết về cảnh trần sẽ không làm nô lệ cho nó, mà vẫn ngang nhiên dù cảnh trần đang lượn lờ khắp nơi. Dục không nắm giữ cảnh như trường hợp tâm tham nắm giữ cảnh, nên có thể nói dục hàm chứa những mong muốn đơn thuần, mang lại lợi ích cho bản thân và những người xung quanh. Chẳng hạn, lòng mong muốn thế giới hòa bình, mong trời mưa nơi khô hạn, mong dịch bệnh cúm heo mau chấm dứt tại Mexico hay có đủ tiền giúp trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái Tim Cho Em”. Không bám chắc vào cảnh làm cho dục trở nên lành mạnh hơn so với tham. Con người nhiều mơ ước và dĩ nhiên không phải tất cả đều thành. Sự mong ước này được ban đi nhiều hơn là thu vào nhưng kỳ thực đó lại là thoả mãn bản thân. Người làm công quả ở chùa để giúp nhà chùa sắp xếp các công việc chấp tác, tức là mang thuận lợi đến cho người khác nhưng bản thân lại có nhiều niềm vui, dĩ nhiên niềm vui này không được mua ở siêu thị hay nhà hát. Khi đã có sự mong muốn về cảnh, dục làm tiếp nhiệm vụ mong muốn tìm kiếm cảnh và như đã nói cảnh có thể thiện hay bất thiện. Chánh niệm về cảnh giúp con người biết dừng lại, lựa chọn và từ bỏ. Nếu tâm tham mạnh, cảnh bất thiện bị chi phối nhiều hơn, khi tâm tham yếu hay không có, cảnh thiện được chi phối nhiều hơn. Chánh niệm nhận ra tâm tham và giúp ta quay trở về với trạng thái nguyên thủy của tâm sở dục. Mong muốn giải thoát cũng là biểu hiện của dục nên giải thoát mà bị dính mắc thì cũng không thể giải thoát được. Giải thoát là điều đến tự nhiên nên có quyền mong ước về nó nhưng đừng bị kẹt vào nó. III. KẾT LUẬN: Chư Phật ba đời đều dạy « làm lành, lánh dữ và thanh lọc tâm » hay « Bố thí, Trì giới, Tham thiền » một cách tinh tấn, kiên trì và thông minh. Nếu chúng ta không được ở gần gủi một vị thầy để được dìu dắt từng bước, chúng ta bắt buộc phải tìm hiểu trước tiên qua Pháp học, rồi sau đó tự kiểm chứng bằng Pháp hành và nếu hội đủ nhân duyên thì Pháp thành sẽ hiễn bày. Muốn thanh lọc tâm trước hết phải tìm hiểu Tâm, sau đó hành thiền để rèn luyện và giải phóng nó. Bài viết trên đây một phần nào đã giải bày tất cả những khía cạnh của Tâm. Tuy chưa được hoàn hảo nhưng cũng cho chúng ta hiểu một cách tổng quát thế nào là Tâm. Bây giờ là phần của quí vị có muốn hay không muốn đi sâu tìm hiểu Tâm qua Pháp hành vậy. Mỗi thế hệ con Đức phật cần phải đóng góp phần của mình vào trong kho tàng kinh luận. Chúng ta thấy điều đó đã xảy ra trong lịch sử của giáo đoàn Đức Phật. Ngay sau khi Bụt nhập diệt, Luận Tạng đã được thành lập. Và sau đó thỉnh thoảng xuất hiện các bậc đạo sư làm mới lại giáo lý, diễn bày giáo lý một cách mới mẻ và thích hợp với tâm trạng và hoàn cảnh của thời đại họ. Chúng ta cần học kinh luận với trí thông minh và với tinh thần tự do. Như vậy chúng ta mới phát kiến được những điều mới lạ phù hợp với thời đại mà ta đang sống. Chúng ta không làm nô lệ cho ai cả, dù là nô lệ cho Tổ và Phật. Bởi vì Như Lai không muốn chúng ta làm nô lệ. Và các Tổ đã không làm nô lệ cho Bụt. Các Tổ đã tiếp tục công trình của Phật và đã tạo ra Đạo Phật Đại Thừa với nhiều giáo lý trong đó có giáo lý Duy Biểu. Chúng ta cần tiếp nhận tinh thần tự do đó của các Tổ và tiếp tục làm những công việc như các Tổ đã làm, như thầy Thế Thân, thầy Vô Trước, thầy Pháp Tạng... Muốn trả ơn Tổ và Thầy một cách thích đáng thì phải biết sử dụng các điều Tổ và Thầy trao lại để đi xa hơn. Chúng ta phải học những điều Bụt dạy, Tổ dạy, Thầy dạy để tiếp xúc với những khó khăn, những vấn đề thực tế của thời đại mình để làm sáng lên những viên ngọc đã được Bụt và Tổ trao truyền. Làm được điều đó là đã đóng góp được vào lịch sử của giáo đoàn Đức Phật vậy. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1) Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu ủy viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988. 2) KIMURA TAIKEN. Việt dịch: HT. Thích Quảng Độ. Tiểu Thừa Phật giáo tư tưởng luận. Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản 1969. 3) HT Thích Thanh Kiểm. Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. 1993. 4) Trần Trúc Lâm, Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn độ. NXB Phươngd Đông 2007. 5) HT. Thích Thiện Hoa, Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ. 1966. 6) Andrew Skilton (Dharmacari Sthiramati) Tỳ-kheo Thiện Minh chuyển dịch. Đại Cương Lịch Sử Phật Giáo Thế Giới. 7) H.T Thích Phước Sơn, 3 kỳ Kiết tập kinh điển. Báo Giác Ngộ, 1997. 8) Triều Tâm Ảnh và Minh Đức. Sử Phật Giáo Thế Giới – Ấn Độ – Trung Quốc (Tập 1) NXB Thuận Hóa. 2008 9) Cao Hữu Ðính, Văn Học Sử Phật Giáo, Hương Sen, Việt Nam, 1996 10) HT. Thích Thiền Tâm, Phật Học Tinh Yếu, Thiên thứ nhất, Việt Nam, 1999 11) ÐÐ. Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Việt Nam, 1999 12) ÐÐ. Thích Tâm Hải, Phật Học Cơ Bản, Tập 2, Việt Nam, 1999

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét