THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN A LẠI DA THỨC TRONG DUY THỨC HỌC

MỤC LỤC: I. DẪN NẬP: II. NỘI DUNG: 1.Sự hình thành của a lai da thức: 2. Chân như là căn bản của sự huân tập: 2.1. Nguồn gốc của vô minh: 2.2. Vô minh huân tập: 2.3. Chân như huân tập: 2.4. Tự thể tướng huân tập: 2.5. Dụng huân tập: 3. Chức năng và sự vận hành của A-lại-da: 3.1. Tâm Thức A Lại Da: 3.2. Mạt-na tác động đến A-lại-da: 3.3. A-lại-da thức chịu huân tập và duy trì chủng tử: 4. giải thích về a lai da thức: 5. Bất biến tùy duyên: 6. Thích nghĩa về cái danh của A -lại-da thức: 6.1. Những tên khác của A -lại-da thức: III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN A LẠI DA THỨC TRONG DUY THỨC HỌC I. DẪN NHẬP: Duy Thức Học, môn nghiên cứu tìm hiểu nguyên ủy của hiện tượng vạn pháp để xác lập một luận cứ, cho người tìm hiểu học và đọc có thể biết được. Duy Thức Học là phương tiện chỉ nam hướng dẫn phương pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tư duy bên mặt trừu tượng. Do vậy, Duy Thức Học, còn gọi là Pháp Tướng Duy Thức Học, ý nghĩa đầy đủ rõ ràng hơn. Thức Thứ Tám cũng còn gọi là Tâm vương, là ông vua của tâm. Có nghĩa là thức có quyền năng nhiều nhất trong 7 thức kia. Chính thức nầy nếu tu hành giác ngộ sẽ biến thành Ðại Viên Cảnh Trí. Còn thức thứ bảy (Mạt Na Thức = Thức chấp giữ) sẽ biến thành Bình Ðẳng Tánh Trí. Thức thứ sáu sẽ chuyển thành Diệu Quan Sát Trí và năm thức còn lại là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức sẽ biến thành Thành Sở Tác Trí. Có tu hành giác ngộ thì tất cả thức ấy đều biến thành 4 trí tuệ siêu việt thế gian nầy. Còn nếu chúng ta không chịu khơi dậy chủng tử thiện trong thức thứ tám nầy mà cứ mãi gìn giữ chủng tử ác và tà kiến thì thức nầy cứ mãi là thức ác; một hạt mầm không tốt và cứ thế lấn mãi nơi mảnh đất thứ tám nầy thì cái thiện sẽ không có chỗ ngự trị. Nếu ta mê thì mình mãi mãi vẫn là phàm phu. Nếu ta tỉnh thì ta sẽ thành A La Hán, Bồ Tát và Phật. Phật, Bồ Tát, A La Hán tự tánh vốn không khác với chúng sanh; nhưng tự tánh của Bồ Tát luôn luôn sáng sủa; còn tự tánh của chúng ta luôn bị mây mù che phủ. Do vậy chúng ta chỉ cần vén bức màn vô minh sanh tử nầy bằng cách đẩy lùi đám mây đang che khuất mặt trời trí tuệ ấy là được. Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng. Có nghĩa là: Hay chứa, thuộc về chỗ chứa và chứa ngã chấp từ sự yêu thích. Ðiều ấy có nghĩa là thức nầy chứa cả thiện và ác. Các ác pháp khi được các chủng tử huân tập ở bên ngoài kích thích và khởi lên, cuối cùng vẫn tàng chứa nơi thức nầy và đồng thời cũng do bên ngoài kích thích mà tạo cho các thiện pháp cũng khởi lên, rồi huân tập vào bên trong. Rồi cả 2 thiện ác ấy dầu là chứa một cách tự nhiên hay chứa một cách có điều kiện, cũng là nơi căn bản để giữ lại sự hiểu biết từ bên ngoài đưa đến. Khi một sự việc đã xảy ra, thức nầy tự chấp vào cái đúng, cái sai ấy; nên thuộc về ngã ái chấp tàng. I. NỘI DUNG: 1. Sự hình thành của a lai da thức: Dòng chảy của các biến cố tâm thần mà bạn trải nghiệm, để lại hạt mầm – chủng tử – của nghiệp trong thức lưu trữ, gọi là Tạng thức, Hàm tàng thức: A-lại-da thức. Các hạt mầm được tồn trữ trong nhà kho đó cho tới sau cùng, khi hội đủ các điều kiện thích đáng, chúng chín muồi và rồi ảnh hưởng lên các biến cố về sau. A-lại-da thức chứa đựng mọi kinh nghiệm trong kiếp sống của mỗi con người và nguồn gốc của tất cả các quan niệm tinh thần. Theo quan điểm của Pháp tướng tông thì A-lại-da thức là nơi tập hợp mọi nghiệp quá khứ rồi tới một thời điểm nhất định, tác động lên kiếp tái sinh. Và cá thể thật ra chỉ là dòng sinh diệt tiếp nối của vô số chủng tử của nghiệp, do đó, không có một bản ngã cố định. Lúc này, bạn đang trải nghiệm các kết quả hành động của bạn trong quá khứ, vì những hành động ấy ảnh hưởng lên thức lưu trữ của bạn – và hết thảy những gì bạn từng làm trong quá khứ được bảo tồn chất chồng, đang ảnh hưởng lên hiện tại của bạn. Do thế, có thể có một lỗ trống giữa một sự cố có tính nghiệp báo với các kết quả của nó, mà không cần giả thiết phải có một bản ngã hay một linh hồn đang tiếp tục thường tại. Vì tàng trữ và tác động nên A-lại-da thức còn được gọi là Căn thức, thức căn bản của mọi hiện tượng. A-lại-da thức gồm chứa 7 thức kia, từ đó phóng chiếu thành bóng ảnh khiến con người có cảm giác như thật về những cái là hình hài, sắc tướng, âm thanh, mùi vị, ý tứ,... - tức là cuộc đời. Như thế, cuộc đời vốn chỉ là bóng ảnh, ở trong nhận thức, phát sanh từ nhận thức và tắt mất vào đó. Cuộc đời dứt tuyệt vào thời điểm A-lại-da thức và 7 thức kia không còn nhận ra nó. 2. Chân như là căn bản của sự huân tập: Nếu dựa vào bản thể của vạn hữu để kiến thiết một thế giới lý niệm gọi là Chân như có tính cách bất biến, thử hỏi trong thế giới lý niệm đó vạn hữu sinh khởi như thế nào? Sau đây sẽ trình bày hai cách luận giải vấn đề sinh khởi thế giới hiện tượng, một trên phương diện tu tập, một trên phương diện nhận thức. Trên phương diện tu tập, đặt trọng tâm vào sự huân tập, Luận Đại thừa khởi tín giải thích các pháp tạp nhiễm và thanh tịnh sinh khởi không dứt là do huân tập bởi Vô minh và Chân như. Nhưng trước hết, thử hỏi Vô minh sinh khởi như thế nào? 2.1. Nguồn gốc của vô minh: Về nguồn gốc của vô minh, Luận nói rất ngắn gọn: “Do không thông suốt pháp giới nhất thể tuyệt đối, nên không tương ưng với tâm mà hốt nhiên khởi vọng niệm, do đó gọi là vô minh.” Pháp Tạng giải thích chữ “hốt nhiên” ở đây không liên quan đến thời gian mà dùng để nói vô minh là nguyên nhân độc nhất phát sinh tất cả mọi khát vọng ô nhiễm. Không có pháp nào là nguyên nhân của nó, bởi thế mới bảo nó hốt nhiên xuất hiện. Hốt nhiên cũng có nghĩa là vô thủy, ở ngay tại buổi tối sơ. Thật sự là có khởi thủy, nhưng không có một pháp nào có trước vô minh, do đó nói hốt nhiên tức vô. Có luận giải cho rằng hốt nhiên có nghĩa là bất thức hay không ý thức lý do. Đạo sư Tử Tuấn thuộc Hoa nghiêm tông ví vô minh với bụi hay mây thình lình hiện khởi: “[Vô minh] giống như bụi bỗng dưng tụ lại trên mặt gương, hay giống như mây thình lình kéo phủ trời.” 2.2. Vô minh huân tập: Về vấn đề vô minh huân tập, Pháp Tạng giải thích trong phần đầu Quyển thượng, Đại thừa Khởi tín luận nghĩa ký, Tuệ Sỹ dịch giải: “Huân tập bởi vô minh có hai ý nghĩa. Huân tập bởi căn bản, vì thành tựu nghiệp thức. Huân tập bởi ái và kiến đã khởi, vì do đây mà thành tựu phân biệt sự thức. Trong vô minh huân tập, tức huân tập bởi vô minh, nói căn bản huân tập hay huân tập bởi căn bản, đó là do bất giác thuộc gốc rễ (căn bản bất giác), Chân như bị lay động và huân tập (huân động) mà thành nghiệp thức v.v... Huân tập bởi kiến và ái đã khởi, đó là do bất giác thuộc ngọn ngành (chi mạt bất giác) huân tập thể của tâm khiến trở thành thức phân biệt sự. Văn đoạn trên nói, thức này y trên phiền não ái và kiến mà tăng trưởng. Nhưng ngọn sinh từ gốc, nên nói là “đã khởi” (sở khởi). Đó là điều mà kinh Thắng Man nói, “Vô minh trụ địa sinh khởi hết thảy bốn trụ phiền não.” 2.3. Chân như huân tập: Về vấn đề Chân như huân tập, vì “vô minh” phủ định “minh” nên vô minh không có thực thể, vô minh là một vô thể. Trên phương diện luận lý, vô thể không thể bị huân tập hay che phủ. Do đó, hầu tránh vấn đề huân tập một vô thể như vô minh, Nguyên Hiểu, một Luận sư người Triều Tiên, đề xướng thuyết nội huân, tức “pháp lực huân tập. Đó là lực do nội huân bởi pháp Chân như. Y trên lực huân tập này mà tu tập tư lương, dẫn đến phát triển sự tu hành như thực trong hàng Thập địa, cho đến Vô cấu địa thời phương tiện được mãn túc. Từ đó, phá tướng sinh diệt bên trong của hòa hiệp thức (tức a-lại-da thức), hiển lộ tính bất sinh bất diệt. Đó là ý nghĩa câu văn: phá hòa hiệp hiệp thức tướng, hiển hiện pháp thân. Lúc bấy giờ bèn diệt tâm tương tục (tức ý thức, thức thứ sáu) trong nghiệp tướng chuyển tướng, khiến cho tâm bản giác tùy nhiễm được trở về căn nguyên, thành trí thuần tịnh Trong đây, tương tục thức cũng vẫn là tâm sinh diệt nội tại của hòa hiệp thức. Nhưng để hiển hiện pháp, nên nói là phá hòa hiệp thức. Vì để thành tịnh trí của Ứng thân nên nói là diệt tướng của tương tục thức. Song, không diệt tâm tương tục mà chi diệt tướng của tâm tương tục.” Pháp Tạng nương theo thuyết nội huân để thuyết minh thế nào là Chân như huân tập. “Thế nào là sự huân tập sinh khởi pháp tịnh không đứt đoạn? Do có pháp Chân như có khả năng huân tập vô minh, rồi do lực của nhân duyên huân tập khiến cho vọng tâm trở thành nhàm chán cái khổ và lạc của sinh tử để mong cầu Niết-bàn. Do bởi nhân duyên là vọng tâm này có sự nhàm chám và mong cầu mà Chân như được huân tập. Đoạn trước chia làm hai. Phần đầu thuyết minh Chân như nội huân vô minh khiến thành nghiệp thanh tịnh (tịnh nghiệp). Sau đó, chính dụng thanh tịnh (tịnh dụng) này huân ngược trở lại Chân như, tăng thế lực. Cái trước là huân tập bản hữu (bản huân), Cái sau là huân tập tân sinh (tân huân).” 2.4. Tự thể tướng huân tập: “Chân như huân tập có hai nghĩa: tự thể tướng huân tập và dụng huân tập. Tự thể tướng huân tập, là từ đời vô thủy đến nay vốn có sẵn pháp vô lậu và được trang bị nghiệp bất khả tư nghị (bất tư nghiệp) tác thành tính của cảnh giới. Do hai nghĩa ấy, sự huân tập hằng diễn ra mà do lực của nó khiến chúng sinh chán khổ lạc của sinh tử để mong cầu Niết-bàn, tự tin thân mình có pháp Chân như nên phát tâm tu hành. Nói là từ vô thủy, v.v..., cho đến nghiệp bất tư nghị (dẫn văn đoạn trên), nghĩa là, bản giác vốn bất không, nó được gọi là pháp vô lậu. Pháp ấy một cách âm thầm huân tập (minh huân) chúng sinh. Nó không phải là vật thể sờ ra đó để có thể nhận biết. Vì vậy gọi nó là bất tư nghiệp. Trong đây, nghiệp, là tác dụng của sự huân tập một cách âm thầm. Nói là tác thành tính của cảnh giới (tác cảnh giới tính), đây là thuyết minh không phải do trực tiếp huân tập vọng tâm kia khiến nó có sự chán và cầu, để thành trí quán chiếu. Nhưng nó (vọng tâm) làm cảnh giới được quán chiếu cho trí quán chiếu. Theo cách luận giải của Pháp Tạng thời câu “tự thể tướng huân tập” thường được hiểu là “nội huân”. Nội huân là xung động nội tại của Chân như có công dụng dẫn xuất trạng thái tri giác từ trạng thái bất tri giác, thức từ vô thức. Nó có khả năng hoạt hiện mọi sự đặc thù, hiển bày công đức của tự thể, biểu thị công đức của tánh. 2.5. Dụng huân tập: Về dụng huân tập, thời dụng của chân như huân tập là duyên tố ngoại lực. Theo Phật pháp thời cái gì cũng phải có nhân tố và duyên tố, nhân duyên hội đủ mói được hoàn thành. Chẳng hạn, phải có nội lực của chân như huân tập, lại phải gặp Phật đà, Bồ tát, và Thiện hữu làm duyên tố cần yếu thời mới biết chán cái khổ của sinh tử, biết tin cái vui của niết bàn, biết tu những điều lành căn bản, mới đi thẳng một cách mau lẹ đến tuệ giác niết bàn. 3. Chức năng và sự vận hành của A-lại-da: Tánh vô phú vô ký Các biến hành cũng vậy Hằng chuyển như nước dốc A la hán thì xả. Nghĩa là tánh của A lại da thức không bị ngăn che, không phải là thiện và cũng không phải là ác. Các tâm sở biến hành Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư nương nơi A lại da thức cũng không bị ngăn che và cũng vô ký, như như không thiện lẫn không ác. A lại da thức sanh diệt, chuyển biến không ngừng như dòng thác lũ. Đến địa vị A la hán thì xả. Như trên đã nói chỉ vì mê vọng nên Chân Tâm bị chiếu soi và chuyển biến ra có các chủng tử và hiện hành. Các chủng tử và hiện hành làm nhân duyên cho nhau, được huân tập xông ướp mà biến đổi thành vô lượng các chủng tử và hiện hành khác gồm đủ mọi chủng loại với đủ mọi tánh chất, hữu lậu, vô lậu hoặc trung tánh. Vô lậu là thiện, hữu lậu là ác, trung tánh là vô ký, là không thiện cũng không ác. Các chủng tử và hiện hành cứ liên miên được chiếu soi, chuyển biến rồi lại đem chứa vào trong Tàng Thức. Tàng Thức ví như một nhà kho chứa tất cả các chủng tử và hiện hành mà không phân biệt là loại gì, thiện, ác hay là vô ký. Xấu hay tốt, nhiễm hay tịnh là tánh chất riêng của các chủng tử và hiện hành chứ tánh chất của Tàng thức thì không nhiễm cũng không tịnh, xấu hay đẹp là tự ở các đồ vật trong kho chứ cái kho chứa chỉ có nhiệm vụ chứa đựng mà thôi. Các chủng tử được gieo vào mảnh đất A lại da ví như các hình ảnh xấu đẹp, xanh vàng phản chiếu trên mặt gương sáng. Gương sáng nghĩa là gương không dính bụi, không bị ngăn che, là tượng trưng cho tánh vô phú vô ký của thức A lại da, nhận chứa tất cả các chủng tử mà không phân biệt tốt xấu, thiện ác hay nhiễm tịnh. 3.1. Tâm Thức A Lại Da: Tâm thức a lại da này là căn bản phát sinh tất cả mọi việc hiện hành, nghĩa là tất cả mọi hiện tượng đều có hột giống "chủng tử" ẩn núp trong thức này, tâm thức a lại da chứa đựng tàng thức huấn tập nhóm quen, như trà mà ướp hoa sen lâu ngày trà có mùi hoa sen. Thức này có năng lực gìn giữ tất cả mọi kinh nghiệm của cá nhân, không cho lạc mất. những kinh nghiệm ấy, nếu gặp nhân duyên và cơ hội thuận tiện sẽ có thể phát hiện trong ý thức bằng những ý kiến khôn ngoan tân kỳ... Chính nhờ ở thức a lại da này mà bao nhiêu điều học hỏi, suy nghĩ, cảm giác, tượng tượng... không mất đi được, tất cả đều được ghi nhớ và gìn giữ. Thức a lại da không có hình thể, không phải riêng thành một khối đặc biệt nào mà là gồm cả vũ trụ bao la vô cùng. Mỗi người của chúng ta đều có một thức a lại da riêng để nắm giữ tất cả những kinh nghiệm của mình, không lẫn lộn với a lại da của kẻ khác. Ta học hỏi rộng, kinh nghiệm nhiều, thì tri thức của ta nhờ đó mà rộng rãi quảng bác hơn kẻ khác. Tuy nhiên a lại da của ta cùng với a lại da của vạn pháp vẫn là một, cho nên mới có sự ảnh hưởng của tự nghiệp và cộng nghiệp đối với con người. Tự nghiệp là cái nghiệp của riêng mình gây ra mình phải gánh chịu đã đành, hễ có một vị tri thức đã giác ngộ phát ra một ý tưởng, hoặc thốt ra một lời nói, thì có chư vị tri thức ở mười phương đều hưởng ứng và phụ họa thêm, làm vang động cả đất trời thần thánh tiên phật... Các vật trong cõi trần đều thụ hưởng cảm nhận làn sóng tư tưởng ấy rồi truyền tiếp ra, không một vật nào tránh khỏi, Tỷ như chuỗi ngọc thánh linh, như đá quý kim cương khéo kết, các hột ngọc đều truyền được ánh sáng cho nhau... 3.2. Mạt-na tác động đến A-lại-da: “A-lại-da thức được xem mênh mông như biển cả, bản thân nó không chủ động tạo tác. Nhưng một khi Mạt-na tác động lên A-lại-da thức thì những chủng tử nằm sẵn trong A-lại-da thức được khởi động và thao tác những sự vật tưởng chừng như khách quan. Mạt-na là thức phân biệt tức thời khách thể chủ thể, tạo nên ý thức nhị nguyên, ý thức về cái ‘ta’ và cái ‘không phải ta’. Sáu giác quan (kể cả ý thức) là những kẻ báo cho Mạt-na các thông tin từ bên ngoài, không hề đánh giá tốt xấu. Và chính Mạt-na là kẻ đánh giá phải trái hay dở, ra lệnh cho sáu ý thức kia hoạt động và phản ứng. Đồng thời Mạt-na thức lại đưa các cảm giác hay chủng tử đó vào A-lại-da thức. Chủng tử này lại là kẻ ảnh hưởng và tạo tác lên thế giới bên ngoài và vòng tròn ấy tiếp tục vô cùng tận. Mạt-na được xem là gạch nối giữa sáu ý thức kia và A-lại-da thức. Nó là kẻ tưởng mình có một cái ta, là kẻ gây ‘ô nhiễm’ lên A-lại-da thức. Muốn tránh vòng tròn ô nhiễm vô tận đó, hành giả phải chấm dứt hoạt động đầy phân biệt của Mạt-na, biến thức này thành ‘Bình đẳng tính trí’, là thức đứng trên mọi tính chất nhị nguyên. Nhờ đó hành giả đạt được tri kiến về tính chất huyễn hoặc của vạn sự.” 3.3. A-lại-da thức chịu huân tập và duy trì chủng tử: A-lại-da thức là “vô ký tánh”, nghĩa là: tính cách của thức này, nó không nhất định ghi là thiện, hay ghi là ác gì, vì bản thể nó là phi thiện, phi ác. Bởi cái thể tánh của nó không thiện, ác, nên mới trống rỗng thế, sở dĩ nó mới nạp thụ được những điều nhiễm, điều tịnh của 7 thức trước nó huân ướp vào, riết riết rồi thành thói quen, gọi là huân tập. Sau khi nó đã bị xông ướp rồi, thì, đối với chủng tử (Năng tánh) của các pháp nhiễm, tịnh ấy, nó liền cầm giữ mãi không buông. Tỷ như, cái ve chứa dầu Nhị Thiên Đường kia, mặc dù dầu đã hết, mà “hơi dầu” vẫn còn ở mãi trong ve chẳng phai. Đó là ví dụ cái lẽ: A-lại-da, sau khi nó nạp thọ 7 thức trước huân ướp rồi, những cái tính chất (chủng tử) là hơi hám đã thành, đã quen rồi đó, nó cũng hàm ở trong A -lại-da thức, cầm giữ mãi chẳng buông; với trong, thì trụ trì nơi căn thân, với ngoài nó chấp trì nơi khí giới, thế đều là hai nghĩa “sở biến”, “sở duyên” của A -lại-da thức. Về “phần tướng” của thức này có 3 thứ: 1-Dón về sự “huân tập” của 7 chuyển thức trước, nó thành ra chủng tử (bản năng); 2-Dón về phần tướng nơi cảnh “sở biến”, thì có núi, sông, đất liền; 3-Dón về căn thân nơi tâm “năng biến”, thì có thân thể năm căn; cái thân thể này, là chỗ để cho thức A -lại-da nó chấp thụ, mà đồng thời, thân thể đây cũng bị A -lại-da thức nó nương để làm tự thể, hay sanh tái “giác thụ” và cảnh giới “xúc thụ”, từ đây, cái thân ấy nó thành phần một người bạn với A -lại-da thức, để cùng đồng an vui, cũng đồng đau khổ rồi!. 4. giải thích về a lai da thức: Trong “môn sanh diệt”, thức “A -Lại-Da” nó đứng đối nhau với “Phật tánh”: Thế là đồng nhau với học thuyết của Huyền Trang. Thức “A -Lại-Da” do nơi “vô minh” mà có “3 tể tướng”, ấy là chẳng đồng nhau với học thuyết của Huyền Trang. Huyền Trang nhận cho thức có “4 phần” là cái bổn tánh của “thức hữu vi, hữu lậu” không cần còn dùng vô minh làm duyên; Sở dĩ A -Lại-Da thức là “vô phú vô ký”, nó chỉ nương nhau với 5 tâm sở của “biến hành”. Chân Đế nhận rằng: “3 tể tướng” mặc dù tức là bổn tướng của A -Lại-Da thức, nhưng, không có vô minh, thì, không có chủng tử, chẳng có chủng tử thì, chẳng có “chủng tử thức”; sở dĩ giữa 12 nhân duyên vô minh nó là số một, vô minh duyên: (leo: liên lạc) qua Hành. Hành duyên qua Thức, chính là cái bằng cứ rằng “vô minh làm duyên; sanh ra 3 tể tướng.” Lại nữa, Huyền Trang nhận rằng: “Thức A -Lại-Da” là “tánh Y tha khởi”, sở dĩ nên biết, nên dứt đi; còn “Phật tánh” là “tánh viên thành thật” sở dĩ nên chừng, tức là chỉ có 8 thức mà thôi. Chân Đế nhận rằng: Trong kinh Pháp Hoa nói: “Phật chủng tùng duyên khởi”: giống Phật là từ nơi đủ duyên mà sanh, nghĩa là Phật tánh thì chẳng những Phật tánh đã trải qua bên sanh diệt rồi. Nếu như đến trong chân tánh mà nói thì chẳng những Phật tánh là “viên thành thật tánh”, mà đến A -Lại-Da thức tất cả cũng là có chân như vô vi, cũng là viên thành thực tánh, cái lẽ mà có “sanh diệt môn”, có “chân như môn” đó, đều là cái lý tự nhiên phải vậy giữa “thanh tịnh pháp giới”, sở dĩ trên A -Lại-Da thức có “nhứt tâm”, tức là cái “thức thứ 9 – Bạch tịnh thức” rồi. 5. Bất biến tùy duyên: Trước hết, trong quá trình nhân quả, có định luật và trật tự. Đó là lý thuyết về nghiệp cảm. Tuy nhiên đây không phải là nhân quả hiểu theo khoa học Tây phương. Không có nguyên nhân đầu tiên hay nguyên nhân cứu cánh (mục đích). Những sáng hóa hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong liên tục thời gian như một chuỗi dây xích. Chuỗi xích này được chia thành 12 bộ phận gọi là Mười hai chi Duyên khởi. Cả 12 chi tạo thành một vòng tròn liên tục gọi là Bánh xe Sinh hóa hay bánh xe luân hồi. Sự tiếp diễn của đời sống luân hồi trong một vòng tròn và cứ thế mà vòng tròn được tái diễn mãi mãi. Mỗi giai đoạn của luân hồi là một nhân khi được nhìn từ hiệu quả của nó và là một hiệu quả nếu nhìn từ nhân đi trước. Cũng có thể nói, có nhân có quả, và có quả trong nhân. Không có gì cố định trong lý thuyết này. Về duyên khởi luận, giáo lý Tiểu thừa thuộc về nghiệp cảm duyên khởi. Thứ đến là a-lại-da duyên khởi. Pháp tướng tông nêu lên thuyết này là để giải thích căn nguyên của nghiệp. Nghiệp được chia thành ba nhóm, thân, khẩu, và ý nghiệp. Nhưng tâm là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động, luật duyên sinh phải được đặt vào kho tàng tâm ý, tức Tàng thức hay A-lại-da thức. Do Lai tức cái động lực tạo ra dòng vận động của duyên khởi chính là tâm thức. Theo Duy thức, a-lại-da thức là “kho chứa hạt giống” của mọi hiện hữu. Hạt giống hay chủng tử là “công năng sai biệt trực tiếp sản sinh kết quả của chính nó”. Khi trào vọt vào thế giới khách quan (hiện hành), nó sẽ được phản ảnh để trở thành một chủng tử mới (tân huân). Những chủng tử cố hữu, những hiện hành, và những chủng tử tân huân hỗ tương phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một vòng tròn mãi mãi tái diễn tiến trình trước sau như nhất. Đấy gọi là a-lại-da duyên khởi. 6. Thích nghĩa về cái danh của A -lại-da thức: “A-già-na" tiếng Phạm, Tàu dịch âm ra chữ Nho, mà ta đọc là (A-ñaø-na), hay là “A -lại-da”; dịch nghĩa là “tàng” hay “tạng.” Tàng: dấu chứa. Tạng: kho dựa. Chữ “tàng” có 3 nghĩa: 1- Năng tàng: hay chứa. Tức: thức thứ 8 nó hay chứa dựa tất cả những chủng tử nghiệp của thiện và ác (tịnh - nhiễm, hay giác - mê, vô lậu - hữu lậu). 2- Sở tàng: chỗ chứa hay bị chứa. Tức là thức thứ 8 nó bị những chủng tử (cũng như bản năng) của cả thảy thiện nghiệp, ác nghiệp lợi dụng làm chỗ để chứa dựa. Đổi câu nói lại: Tức là nhân vì sau khi nào là căn thân, khí giới, nào là hết thảy pháp tạp nhiễm, đã thực hiện ra rồi, thì, thức A -lại-da nó trở lại bị tất cả “pháp tạp nhiễm” lợi dụng, để làm chỗ để dấu che rồi. 3- Chấp tàng: cầm chứa, tức là cầm chứa cái “ngã ái” bởi vì thức thứ 7 hằng giờ chấp nhận cái “kiến phần” để yêu – cưng rằng cái “ngã: chủ tể”, cái bị chấp làm “ngã kiến” – cũng như “phần thấy” – năng giác – của A -lại-da thức nó hiện hành, thời là, cái “kiến phần” ấy hành ra cái xứ sở của thức thứ 7 nó lấy làm chỗ yêu dấu để giấu giếm. Với ý nghĩa của “tam tàng” nói sơ lược là thế đó, chứ với ý nghĩa rộng của nó, thì, hẳn không phải chỉ trong manh hẹp, bài vắn này, mà tường thuật cho hết! Trên Duy Thức Triết Học đã gọi: “Hạo hạo tam tàng bất khả cùng: Man mác ba tàng chẳng thể cùng”, đại ý rằng: Với nghĩa tam tàng ấy, thật là khó hiểu cho cùng tận được! Vì thể lượng nó rất kín đáo, quá sâu rộng, không bờ, đáy! Bởi vì, A-lại-da thức: về phần “sở tàng” đã là tất cả hạt giống của thiện nghiệp, ác nghiệp, nhiều đến vô cùng! Nên chi, về một phương diện phần “Năng tàng” của nó cũng lại vô cùng! Cả “Tạp nhiễm pháp” đem tàng trữ vào A -lại-da thức, đã là Đại đa số chẳng khá tột, sở dĩ, một mặt về phần sở tàng của nó, cũng rộng vô cùng vô tận! 6.1. Những tên khác của A -lại-da thức: Giữa “pháp giới” hết thảy sự, lý, tất cả tâm, vật kêu chung làm “nhất thế pháp”, chỗ “tổng căn cứ” của nhất thế pháp ấy, tức là “Thức”, với chúng sanh trong chín pháp giới, đều kêu là “A -lại-da thức”, chỉ có đức Thích -ca Văn Phật, mới được gọi là “Vô cấu thức”. Sở dĩ thức A -lại-da ấy, nó có mỗi mỗi danh tự chẳng đồng: 1- “A-lại-da thức”: Đó là tiếng ta đọc theo chữ Nho, mà, Tàu dịch âm theo chữ Phạm, dịch nghĩa là “tàng thức”, là nói: Thức này nó hay hàm tàng tất cả chủng tử của thiện nghiệp, ác nghiệp. 2- “Vô một thức”: Đó là tiếng ta đọc theo chữ Nho, do ngài Chân Đế Pháp sư đời Lương bên Tàu, dịch âm nơi chữ Phạm, nghĩa là: Thức này nó bảo tồn tất cả các chủng tử, chẳng cho mất và hư hoại. 3- “A-não-na thức”: Tiếng ta đọc theo chữ Nho, do Tàu dịch âm nơi chữ Phạm, dịch nghĩa: “Chấp trì”, cắt nghĩa theo tiếng ta là: cầm giữ. 4- “Chủng tử thức”: Rằng thức đây là chủng tử của các pháp, vì nó năng nảy nở ra chư pháp (Vạn hữu giữa vũ trụ). 5- “Hiện thức”: ý nói các chủng tử đều do nơi thức này để mà phát hiện ra những hiện tượng gì, kết quả chi. 6- “Bổn thức”: Gọi rằng thức này nó làm gốc rễ tất cả các pháp. 7- “Trạch thức”: Thức này nó làm trụ sở cho tất cả chủng tử. 8- “Căn bổn thức”: Nó cùng đồng với nghĩa của “Bổn thức” trên, trong giáo pháp Tiểu thừa gọi cái danh tự “căn bổn thức” ấy. 9- “Đệ nhất thức”: Từ gốc đến ngọn thì thức này là đệ nhất. 10- “Đệ bát thức”: Đếm từ ngọn đến gốc thì thức này là thức thứ 8. 11- “Sở tri y thức”: “Sở tri” tức là các pháp nhiễm và tịnh, thức đây là chỗ y cứ của các pháp tịnh, các pháp nhiễm. 12- “Cúng sanh tử huấn thức”: Tâm với vật, mặc dầu có khi liên lạc, có lúc gián đoạn nhau, như chủng tử của tâm vật nó ở trong thức đây, vẫn chẳng dứt hẳn. 13- “Dị thục thức”: Dị thục đây nó có 3 nghĩa: 1- qua thời khác mới chín. Ví như trái cam từ sanh đến chín, ắt chẳng phải một thời. 2- Qua loài khác mới chín. Như cam từ non đến chín, hình trái và mùi vị, giống loại đều khác. 3- Biến đổi khác đi mới chín, như cam từ non đến chín, hình trái, mùi vị nó trải qua mỗi mỗi cơn biến đổi khác đi. Nghĩa là: cái thức đây, nó hay dẫn đi đầu thai chẳng đồng một thời, vì quá khứ, hiện tại, vị lai; chẳng đồng một loại, vì tiền ấm thân, hậu ấm thân, đều để cho thành thực quá báo thân. III. KẾT LUẬN: Đạo Phật không vướng vào duy-tâm, không vướng vào duy vật, nhưng cũng không phải một nhị nguyên thuyết. Duy thức học đạo Phật chủ trương rằng ngũ uẩn tức là toàn thể những hiện tượng vật lý, tâm lý (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đều là những thứ phát hiện của “chủng tử” tiềm tại trong A-lại-da-thức (Alaya – vinnana) mà thôi. Tất cả chủng-tử, hiện hạnh gom góp chung lại, gọi là A-lại-da. Sau khi thân xác tiêu hoại, thiếu điều kiện để “hiện hành”. Các hiện tượng tâm lý trở về tiềm phục nơi A-lại-da. Như thế, không có một linh hồn tồn tại ngoài thể xác. Cái tác dụng tinh thần kia, sự hiểu biết phân biệt yêu ghét kia không hiện hành nữa, thì sao gọi là còn linh hồn được. Tuy nhiên A-lại-gia-thức sẽ biến chuyển, chín muồi, để đem tất cả năng-lực chủng tử mà phát hiện ra một thế giới mới, một hoàn cảnh mới, một sinh mệnh mới. Nghe nói thế, có người sẽ cho rằng đạo Phật đã rơi vào duy tâm. Nhưng không, không có một A-lại-gia tồn tại độc lập. Mà có nhiều A-lại-da của nhiều chúng sinh. A-lại-da này tồn tại nhờ sự hiện tồn của A-lại-gia khác, và các A-lại-da khác cũng tồn tại nhờ A-lại-da này. Tất cả đều vâng theo luật tương quan tương duyên mầu nhiệm. Ý thức chủ quan của ta nằm gọn trong A-lại-da ta. Thế-giới khách-quan tồn tại ngoài y thức ấy, nhưng không phải chỉ là một thế giới hiện hạnh của riêng A-lại-da ta, mà là một thế-giới hiện hạnh do vô số A-lại-da cộng-đồng kiến-tạo. Với mặc dầu giá trị của một thứ học thuật nào, đều chẳng phải chỉ bằng vào một số ít người đi tuyên truyền, mà có thể tính cho là nên việc, hay khá dùng để xét định gì được, vô luận như thế nào, cốt nó phải đem ra có một sự thật cứng rắn, không ai có thể phá hoại được, để cấp cho đại chúng xem, là được rồi, tưởng không cần khéo tổ chức, khôn tuyên truyền, giỏi rủ ren, dùng vũ lực gì! Nó phản lạ: mặc dầu giá trị của một học thuật nào, cũng không phải chỉ bằng vào một số ít người, mà có thể xô đổ hay đả đảo gì được. vũ trụ quan của Duy Thức Triết Học, thì, chẳng phải luận điệu như thế; nhà Duy Thức Triết Học, nói về toàn bộ của vũ trụ thì, mỗi mỗi đều là cái “tướng phần” của A -lại-da thức. Đổi câu nói lại toàn thể vũ trụ, đều là bởi A -lại-da thức nó biến hiện ra đó. Sở dĩ vũ trụ đầy dẫy ở trong thức A -lại-da ấy, bất quá vũ trụ ở trong A -lại-da thức đó, đều chẳng phải như những trạng huống mà chúng ta đồng đến đặng, mà là giữa vũ trụ những chủng tử của vô cùng tạp nhiễm phẩm pháp, nó dồn chứa ở trong A -lại-da thức ấy, sự phát sinh hiện hành của chủng tử ấy, phi trải qua thức A -lại-da ấy nó nạp thọ chủng tử của các pháp để huân tập thành thục, là chẳng sinh khởi gì được. Sở dĩ nói: Thâu giữ chủng tử là “Tự tướng của A -lại-da thức, tất cả nhiễm pháp được sanh, là nhân tướng của A -lại-da thức”; do sức lực của nhiễm pháp huân tập, khiến cho A -lại-da thức nó tiếp nối nhau mà sanh, là “quả tướng” của A -lại-da thức. Nhân đó toàn thể vũ trụ cũng đều là “tướng phần” của A -lại-da thức. Tất cả hữu tình (chúng sinh) đều có thức A -Lại-Da, đều có Phật tánh; thì, lẽ ra, tất cả hữu tình, vừa đồng thời là chúng sinh, cũng vừa đồng thời là thành Phật. Nhưng, mà trên thật sự chẳng như vậy, là bởi với nhân duyên hành đạo cũng như tu học chẳng đồng nhau. Huyền Trang nhận cho rằng: thức A -Lại-Da, bổn tính nó tuy là Chân như, là đến “viên thành thật tánh” mà nói thì vậy, chứ chẳng phải đến nơi “sinh diệt môn” mà nói thế đâu. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1) Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka), Hòa thượng Tịnh Sự dịch, xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1990. 2) Vi Diệu Pháp Nhập Môn, Tỳ kheo Giác Chánh, xuất bản tại Sài Gòn trong thập niên 1970. 3) Siêu Lý Học, Tỳ kheo Giác Chánh, xuất bản tại Sài Gòn trong thập niên 1970. 4) Thắng Pháp Tập Yếu Luận, Hòa thượng Minh Châu dịch, Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973. Chùa Kỳ Viên (Washington DC) in lại năm 1989. 5) Duy Thức Học. Tạp chí Phật Giáo Việt Nam -Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản – số 19, ra ngày 15 – 2 , Mậu Tuất. 6) Duy Thức Học Thông Luận. Nxb Tôn Giáo, 2003, tr. 24. 17. Trương Mạn Đàm chủ biên. 7) Duy Thức Tư Tưởng Luận. tập I, Đại thừa văn hóa xuất bản xã , 1970, Đài Bắc. 8) Đại tạng kinh Việt Nam: Kinh Tiểu Bộ I. Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1999. 9) Nguyễn Đăng Trung: Bản Chất Của Cuộc Sống. Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 2002. 10) Thích Thiện Siêu: Thức Biến .Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 2002. 11) Trương Mạn Đàm chủ biên, Duy Thức Học Đích Phát Triển Dữ Truyền Thừa. Đại thừa văn hóa xuất bản xã, 1970, Đài Bắc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét