THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014
QUAN ĐIỂM VỀ ĐỨC PHẬT
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. những quan điểm của đại chúng bộ:
2. Bảng Đối Chiếu Luận Điểm Các Bộ Phái:
1. a. Luân điểm về Phật:
b. các luận điểm về bồ tát:
c. các luận điểm về các quả vị thanh văn:
d. các vấn đề khác:
3. Học thuyết căn bản và đồng nhất của
Đại Chúng Bộ, Nhất Thuyết Bộ, Thuyết Xuất Thế Bộ và Kê Dận Bộ :
4. Nhận định tự thân về những quan điểm
Phật thân của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ:
5. quan điểm thứ 3. 諸 如 來 語 皆 轉 法 輪 。
Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân.
5.1. Chuyển Pháp Luân:
5.2. Bài học giáo huấn từ đức Phật:
5.3. Thần lực thuyết pháp của Phật:
a. Bản chất thuyết pháp của Phật:
b. Hai thần lực thuyết pháp:
c. Nội dung thuyết pháp của Phật
d. Các hình thức thuyết pháp:
5.4. Đức Phật tùy duyên thuyết Pháp:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUAN ĐIỂM VỀ ĐỨC PHẬT
I. DẪN NHẬP:
Tác giả Dị tông luận là bồ tát Thế hữu, thuộc Thuyết hữu bộ. Niên đại của ngài là bách kỷ 4 sau Phật nhập niết bàn. Thế hữu cũng dịch là Thiên hữu, hoặc dịch âm là Bà tu mật. Ngài là người mà Thiền tông nói là tổ thứ 7, còn tựa của Bà tu mật tập thì nói sẽ nối đức Từ tôn mà thành Sư tử như lai. Thế nhưng ngài Thế hữu thủ tọa kiết tập Đại tỳ bà sa (bách kỷ 7 sau Phật niết bàn) thì không phải là ngài. Tác phẩm của ngài trong Hoa tạng thấy có Phẩm loại túc luận và Giới thân túc luận (là 2 trong số 6 túc luận), Bà tu mật tập và luận này. Xét văn cách luận này mà thôi cũng đủ để thấy ngài là một tác giả bác học, nghiêm chỉnh và tự tín. Nội cái việc đối với ngài Đại thiên ngài không có lời chữ nào cho thấy có ý công kích, cũng đủ chứng tỏ phong cách của ngài.
Dị tông luận (Dị bộ tông luân luận) là 1 trong vài tác phẩm được thấy trong Hoa tạng, nói về học thuyết của các bộ phái tiểu thừa. Các bộ phái này, có 20 tất cả, dĩ nhiên phong phú đến phức tạp về học thuyết. Học thuyết ấy chắc chắn cho thấy giai đoạn trước đó là gì và giai đoạn sau đó là gì. Vậy mà tài liệu để được biết đến thì quá ít. Dị tông luận đã giúp được phần nào trong việc này.
Dị tông luận có 3 bản Hoa dịch. Bản 1 chưa xác định được dịch giả, gọi tắt là Tần dịch. Bản 2 là của ngài Chân đế, gọi tắt là Lương dịch. Bản 3 là của ngài Huyền tráng, gọi tắt là Đường dịch. Bản này là định bản, được dịch vào ngày tiền Vu lan 1226 (682), và do chính đại sư Khuy cơ giải thích bằng cách vừa tham dự công việc phiên dịch của thầy vừa nghe thầy giảng giải mà ghi chép lại, mệnh danh Dị bộ tông luân luận thuật ký, hiện có trong Vạn 83/211-234, và gọi tắt là Thuật ký.
II. NỘI DUNG:
1. những quan điểm của đại chúng bộ:
Về hệ Đại chúng bộ, đoạn một], học thuyết căn bản và đồng nhất của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ, là 4 bộ này cùng nói.
(1) Thân của chư Như lai toàn là siêu xuất thế gian.
(2) Chư Như lai không có pháp hữu lậu.
(3) Lời nói của chư Như lai toàn là chuyển pháp luân.
(4) Chư Như lai dùng một âm thanh nói tất cả pháp.
(5) Những điều chư Như lai nói đều là đúng nghĩa.
(6) Sắc thân của chư Như lai thật không có giới hạn.
(7) Uy lực của chư Như lai cũng không có giới hạn.
(8) Thọ lượng của chư Như lai càng không có giới hạn.
(9) Chư Như lai không có tâm lý thấy chán thấy đủ trong sự giáo hóa chúng sinh cho họ có đức tin trong sáng.
(10) Chư Như lai không ngủ và không mộng mị.
(11) Chư Như lai giải đáp các câu hỏi một cách không đợi suy nghĩ.
(12) Chư Như lai lúc nào cũng không nói danh, cú và văn, vì các Ngài thường ở trong chánh định, nhưng các loại chúng sinh nói các Ngài nói danh, cú và văn, và hoan hỷ phấn chấn [theo danh, cú và văn ấy].
(13) Chư Như lai thì tâm thức trong một sát na mà biết rõ tất cả pháp.
(14) [Chư Như lai thì] tâm trí một sát na thích ứng bát nhã là thấu triệt tất cả pháp.
(15) Chư Như lai thì trí tận diệt và trí không sinh thường xuyên hiện hành cho đến lúc nhập vào niết bàn.
(16) Chư Bồ tát vào thai mẹ thì không ai chấp thọ làm tự thể cái tinh huyết hóa hợp, cái tinh huyết hóa hợp mà mới đọng lại thì như bọc nhọt, đã đọng thì cứng hơn, và đọng cứng rồi thì cứng dần hơn nữa.
(17) Chư Bồ tát khi vào thai mẹ thì bằng hình voi trắng.
(18) Chư Bồ tát khi ra thai mẹ thì đều từ hông bên phải.
(19) Chư Bồ tát không có ý tưởng ái dục, giận dữ và tác hại.
(20) Chư Bồ tát muốn lợi ích chúng sinh mà nguyẹẤn sinh chỗ dữ thì tùy ý sinh đến.
(21) Cái trí ngoại biên hiện quán trong một sát na mà biến tri mọi sự sai biệt của 4 thánh đế.
(22) Năm thức nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ô nhiễm đã có mà ly nhiễm cũng có.
(23) Sắc giới và Vô sắc giới đều có đủ cả 6 thức.
(24) Năm sắc căn thì thể chất là khối thịt nên không phải mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hơi, lưỡi nếm mùi, thân biết xúc.
(25) Trong giai đoạn đẳng dẫn vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có cái tâm thuần hóa, vẫn có cái ý tản mạn.
(26) Việc làm hoàn tất thì không có sự chấp thủ.
(27) Các vị Dự lưu thì tâm và tâm sở biết được đặc tính.
(28) Có vị La hán bị kẻ khác dẫn dụ, còn sự không biết, còn điều hoài nghi, người khác giúp vào, thánh đạo nhờ tiếng.
(29) Khổ có thể dẫn ra thánh đạo.
(30) Nói khổ cũng có thể giúp [cho sự dẫn ra ấy].
(31) Tuệ giác mới là da hành có năng lực loại trừ khổ não, lại có năng lực dẫn ra yên vui.
(32) Khổ cũng là sự ăn.
(33) Điều vị thứ 8 cũng có thì gian lâu dài.
(34) Cho đến Thế đệ nhất vẫn có thể nói là có thoái thất.
(35) Dự lưu có thể thoái chuyển chứ La hán không thể thoái chuyển.
(36) Không có cái gọi là chánh kiến thế gian, không có cái gọi là tín căn thế gian.
(37) Không có cái gọi là pháp vô ký.
(38) Vào chánh tánh ly sanh thì khi đó có thể nói cắt đứt hết thảy mọi sự kết buộc.
(39) Các vị Dự lưu có thể làm mọi điều ác đi nữa cũng không làm 5 tội vô gián.
(40) Kinh của Phật nói toàn là liễu nghĩa.
(41) Vô vi có 9, đó là trạch diệt, phi trạch diệt, hư không, không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi phi tưởng, duyên khởi tánh, thánh đạo tánh.
(42) Tâm tánh thì bản tịnh, nói bất tịnh là vì bụi bặm phiền não làm cho ô nhiễm.
(43) Tùy miên không phải tâm, không phải tâm sở, không có đối tượng.
(44) Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên, và nên nói tùy miên không thích ứng với tâm, triền phược mới cùng tâm thích ứng.
(45) Quá khứ và vị lai không thực có bản thể.
(46) Toàn thể pháp xứ không phải được thấy biết, không phải được nhận thức, mà là được thông đạt.
(47) Không có gì gọi là trung hữu.
(48) Các vị Dự lưu cũng có tịnh lự.
Đại loại như vậy là học thuyết căn bản và đồng nhất [của 4 bộ phái].
Còn học thuyết chi tiết và dị biệt của 4 bộ phái là
(1) Như các thánh đế sai biệt thế nào thì các hiện quán cũng sai biệt như vậy.
(2) Có một ít pháp là tự tác, có một ít pháp là tha tác, có một ít pháp là câu tác, có một ít pháp là duyên sinh.
(3) Có thể trong một lúc mà có 2 tâm cùng nổi lên.
(4) Thánh đạo với phiền não có thể có sự cùng lúc hiện hành.
(5) Nghiệp với quả có thể có sự đồng thời chuyển hiện.
(6) Chính hạt giống làm mầm mộng.
(7) Sắc căn đại chủng có chuyển biến mà tâm với tâm sở không chuyển biến.
(8) Tâm khắp thân.
(9) Tâm tùy căn và cảnh mà có sự co giản.
2. Bảng Đối Chiếu Luận Điểm Các Bộ Phái:
1. Cá a. Luân điểm về Phật:
ĐẠI CHÚNG BỘ, NHẤT THUYẾT BỘ, XUẤT THẾ VÀ KÊ DẬN BỘ
HỮU BỘ
CÁC BỘ PHÁI KHÁC
Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian.
Tất cả các đức Như Lai không còn hữu lậu.
Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân. Tám chi thánh đạo là chánh pháp luân, chứ không phải lời nói của Như Lai đều là chuyển pháp luân. Đa văn bộ: Năm âm thanh của đức Phật gồm: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã và Niết bàn tịch tĩnh là những giáo lý siêu xuất thế gian vì năm âm thanh này có khả năng chỉ ra con đường giải thoát; Còn những âm thanh khác của Như Lai là những giáo lý thế gian.
Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp. Đức Phật không thể dùng một âm mà nói tất cả các pháp.
Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa. Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa.
Sắc thân của Như Lai không có giới hạn.
Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn.
Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn.
Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín nhưng các Ngài không có tâm chán ngán hoặc thỏa mãn. Lòng từ bi của chư Phật không duyên vào chúng sanh.
Đức Phật không có ngủ và nằm mộng.
Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ.
Đức Phật không bao giờ nói về danh, cú, văn vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh, cú, văn liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi
Chư Phật trong một sát na tâm liễu tri tất cả các pháp.
Chư Phật trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã biết được tất cả các pháp.
Lậu tận trí và vô sanh trí của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc Niết-bàn.
Các kinh của đức Phật thuyết đều là liễu nghĩa. Không phải tất cả kinh Phật thuyết đều là liễu nghĩa, bởi vì chính đức Phật tự nói có những kinh không liễu nghĩa.
Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa giống nhau, nhưng Thánh đạo của ba thừa mỗi mỗi đều khác biệt. - Hóa địa bộ: Chư Phật và hàng Nhị thừa đều đồng một thánh đạo, và đồng một con đường giải thoát.
- Pháp tạng bộ: Sự giải thoát của Phật và Nhị thừa tuy đồng nhưng Thánh đạo lại khác.
- Hóa địa bộ: Trong tăng có Phật (hiện hữu), nên cúng dường chư tăng thì sẽ được phước báo rất lớn chứ không phải chỉ có cúng dường chư Phật mới được.
- Pháp tạng bộ: Phật tuy ở trong tăng nhưng cúng dường riêng cho đức Phật thì được phước báo rộng lớn còn cúng dường cho chư tăng thì không bằng.
b. các luận điểm về bồ tát:
ĐẠI CHÚNG BỘ, NHẤT THUYẾT BỘ, XUẤT THẾ VÀ KÊ DẬN BỘ
HỮU BỘ
CÁC BỘ PHÁI KHÁC
Tất cả các vị Bồ-tát khi nhập thai đều không chấp thọ các trạng thái: Yết-lạt-lam, Át-bộ-đàm, Bế-thi và Kiện-nam của thai nhi làm tự thể. Tuyết sơn bộ: Bồ-tát khi vào thai không có khởi tâm tham ái.
Tất cả Bồ-tát khi vào thai mẹ đều hiện hình voi trắng.
Tất cả Bồ-tát xuất thai đều bằng hông bên phải.
Tất cả Bồ-tát đều không có khởi tư tưởng tham dục, tư tưởng sân hận, tư tưởng ác hại. Có thể nói Bồ-tát vẫn còn là chúng sanh, vì chưa đoạn trừ các kiết sử. Tuyết sơn bộ: Bồ-tát vẫn còn là phàm phu.
Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ: Bồ-tát vẫn chưa thoát khỏi ác đạo
Bồ-tát vì muốn lợi ích cho hữu tình, nguyện sanh vào ác thú liền như ý thọ sanh.
c. các luận điểm về các quả vị thanh văn:
ĐẠI CHÚNG BỘ, NHẤT THUYẾT BỘ, XUẤT THẾ VÀ KÊ DẬN BỘ
HỮU BỘ
CÁC BỘ PHÁI KHÁC
Có vị A-la-hán vẫn còn bị người khác dẫn dụ, vẫn còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và nhờ vào tiếng (khổ) mà thánh đạo phát khởi.
Đa văn bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ và Tuyết sơn bộ: Có vị A-la-hán bị người khác dẫn dụ, cũng còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và thánh đạo nhờ vào tiếng (khổ) mà phát khởi.
Mọi việc làm điều đã hoàn tất (A-la-hán), không còn chấp chứa một pháp nào. Không phải tất cả các bậc A-la-hán đều chứng được trí vô sanh. Pháp tạng bộ: Thân thể của A-la-hán đều là vô lậu.
Bậc A-la-hán thì không thối chuyển. Có vị A-la-hán còn bị thối chuyển. Hóa địa bộ: A-la-hán thì nhất định không còn thối chuyển.
Độc tử bộ: Giải thoát rồi vẫn đọa, Bởi do tham khởi lên. Đạt vui sướng “an, hỉ”, “Lạc hạnh” đưa đến lạc.
Có vị A-la-hán tu tập chuyển hóa tùy theo từng chi phần duyên khởi.
Có vị A-la-hán chuyên tu tập để tăng trưởng phước nghiệp. Hóa địa bộ: Không có A-la-hán tăng trưởng phước nghiệp.
Các bậc A-la-hán đều có pháp hữu học và vô học.
Các vị A-la-hán đều được tĩnh lự (định) nhưng không phải lúc nào tĩnh lự cũng hiện tiền (thường hằng).
A-la-hán vẫn còn thọ lãnh nghiệp báo cũ (quá khứ).
Bốn quả vị sa môn không nhất định phải chứng đắc lần lượt (từ thấp đến cao).
Các quả vị Dự lưu cũng đạt được tĩnh lự
Các vị Dự lưu vẫn còn tạo nghiệp ác chỉ trừ tội vô gián Ẩm quang bộ: Tất cả các pháp hữu học đều có quả Dị thục.
Dự lưu còn có thối chuyển. Dự lưu không còn thối chuyển. Hóa địa bộ: Dự lưu cũng có thể thối chuyển.
Các vị Dự lưu có thể thấu rõ tự tánh của tâm và tâm sở.
Địa thứ 8 (Dự lưu hướng) cũng được trụ lâu dài.
Hóa địa bộ: Có Tề-thủ-bổ đặc-già-la.
d. các vấn đề khác:
ĐẠI CHÚNG BỘ, NHẤT THUYẾT BỘ, XUẤT THẾ VÀ KÊ DẬN BỘ
HỮU BỘ
CÁC BỘ PHÁI KHÁC
Trong một sát na tâm dùng trí Hiện quán biên biết khắp tất cả các tướng sai biệt của Tứ đế.
Có thể nói Bốn niệm xứ gồm thâu tất cả các pháp.
Hóa địa bộ: Tám chi phần thánh đạo đều được bao hàm trong Tứ niệm xứ.
Tất cả các tĩnh lự đều nằm trong Tứ niệm xứ.
Trong bảy Đẳng chí thì giác chi có thể chứng đắc, còn những Đẳng chí khác thì không có. Hóa địa bộ: Nếu đoạn trừ được những kiết sử thuộc “Tu sở đoạn” ở cõi Dục thì gọi là Ly dục chứ không phải là Kiến sở đoạn.
Ở Đẳng dẫn vị vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có tâm điều phục, có tác ý thanh tịnh. - Ở Đẳng dẫn vị thì không còn phát ra ngôn ngữ.
- Ở Đẳng dẫn vị chắc chắn không còn mệnh chung.
Tánh địa pháp (thế đệ nhất pháp) vẫn còn thối chuyển. Pháp thế đệ nhất chắc chắn không còn thối chuyển.
Khi nhập Chánh tánh ly sanh mới có thể nói là đoạn trừ tất cả các Kiết sử. Nếu chưa chứng nhập Chánh tánh ly sanh, còn ở địa vị phàm phu thì chưa được gọi là siêu việt. Kinh Lượng bộ: Nếu không lìa thánh đạo thì có thể hoàn toàn chấm dứt các uẩn.
Như Thánh đế có các tướng sai biệt, cũng như thế, Hiện quán đều có các tướng sai biệt. Bốn thánh đế đều là pháp hiện quán theo thứ tự. Hóa địa bộ: Cả Bốn thánh đế đều hiện quán trong một lúc. Thấy được Khổ đế liền thấy tất cả các đế, nhưng cần phải thấy được (thánh đế) rồi mới thấy được như thế.
- Nương hai chánh định Không và Vô nguyện có thể chứng nhập Chánh tánh ly sanh.
- Tư duy các Hành ở Dục giới cũng chứng đắc Chánh tánh ly sanh. Độc tử bộ: Nhẫn, Danh, Tướng và Thế đệ nhất, bốn pháp này có thể hướng nhập Chánh tánh ly sanh.
Khi chứng nhập Chánh tánh ly sanh, trong 15 tâm đầu gọi là Hành hướng, còn tâm thứ 16 gọi là Trụ quả. Độc tử bộ: Nếu đã chứng đắc Chánh tánh ly sanh thì 12 tâm đầu gọi là Hành hướng, còn tâm thứ 13 mới gọi là Trụ quả.
Thuyết giả bộ: Chứng đắc Thánh đạo là nhờ vào phước đức chứ không thể nhờ vào sự tu tập.
Thuyết giả bộ: Thánh đạo cũng không thể bị hư hoại.
Thánh đạo và phiền não đều cùng hiện khởi.
Không nương vào Tĩnh lự cũng có thể chứng được Chánh tánh ly sanh, và cũng có thể đắc quả vị A-la-hán.
Nương vào thân hình ở cõi Sắc và Vô sắc thì tuy có thể chứng A-la-hán nhưng không thể nhập Chánh tánh ly sanh.
Nương vào thân hình ở cõi Dục không chỉ chứng nhập Chánh tánh ly sanh mà còn có thể chứng đắc quả vị A-la-hán.
Nếu đã chứng nhập Chánh tánh ly sanh, nương vào pháp thế gian thì cũng có thể chứng đắc quả vị Tư-đà-hàm và A-na-hàm.
Năm thức của thân gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có nhiễm ô và lìa nhiễm ô. Các thức của sắc thân như nhãn nhĩ… vừa nhiễm ô vừa không có nhiễm ô. Chúng chỉ có thể nắm giữ tự tướng mà không có khả năng phân biệt. Độc tử bộ: Năm thức vừa nhiễm ô, vừa không nhiễm ô.
Hóa địa bộ: Năm thức vừa nhiễm ô vừa không nhiễm ô.
Hóa địa bộ: Sáu thức cùng tương ưng với Tầm và Tứ.
Thể chất của năm Sắc căn là khối thịt nên mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi mùi, lưỡi chẳng nếm mùi, thân không biết sự xúc chạm.
Hóa địa bộ: Các Uẩn xứ giới thường luôn hiện hữu trong hiện tại.
Thuyết giả bộ: Mười hai xứ không phải thật hữu.
Ở cõi Sắc và Vô sắc mỗi thân đều đủ sáu thức.
Khổ (thọ) cũng là thức ăn. Thuyết giả bộ: Khổ không phải là Uẩn.
- Khổ có thể dẫn dắt vào thánh đạo.
- Tiếng khổ có thể trợ giúp (ngộ đạo).
Trí tuệ làm gia hạnh có thể diệt trừ được các khổ, cũng có khả năng đưa đến an lạc.
Không có Chánh kiến thế gian. Có cái gọi là Chánh kiến thế gian, Hóa địa bộ: Có Chánh kiến thế gian.
Không có Tín căn thế gian. Có Tín căn thế gian Hóa địa bộ: Không có Tín căn thế gian.
Không có pháp vô ký. Có pháp vô ký. Hóa địa bộ: Không có Tĩnh lự xuất thế.
Pháp vô vi gồm có 9 loại: 1) trạch diệt, 2) Phi trạch diệt, 3) Hư không, 4) Không vô biên xứ, 5) Thức vô biên xứ, 6) Vô sở hữu xứ, 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 8) Duyên khởi chi tánh (12 chi phần duyên khởi), 9) Thánh đạo chi tánh (tám chi phần thánh đạo). - Tất cả các chi phần của Duyên khởi chính là pháp hữu vi.
- (Trong tứ đế), 3 đế là hữu vi, còn 1 đế là vô vi.
- Các pháp hữu vi có 3, vô vi cũng có 3. Hóa địa bộ: Pháp vô vi gồm có 9 loại, gồm: 1) Trạch diệt, 2) Phi trạch diệt, 3) Hư không, 4) Bất động, 5) Thiện pháp chơn như, 6) Bất thiện pháp chơn như, 7) Vô ký pháp chơn như, 8) Đạo chi chơn như, 9) Duyên khởi chơn như.
Tâm tánh vốn thanh tịnh nhưng vì bị tạp nhiễm bởi khách trần phiền não nên mới nói bất tịnh.
Tâm bao trùm khắp cả thân. Tâm và Tâm sở pháp đều có thật thể.
Tâm tùy theo căn và cảnh mà có sự co giãn. Tâm và Tâm sở chắc chắn phải có đối tượng (sở duyên).
Tự tánh không tương ưng với tự tánh, tâm không tương ưng với tâm.
Tùy miên chẳng phải Tâm, chẳng phải Tâm sở pháp, cũng không có đối tượng (sở duyên). Tất cả các loại tùy miên là Tâm sở, cùng tương ưng với Tâm và đều có đối tượng. Hóa địa bộ:
- Tùy miên không phải tâm, không phải Tâm sở và cũng không có cảnh sở duyên.
- Tự tánh của Tùy miên thường luôn hiện hữu trong hiện tại
Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên. Cho nên mới nói tùy miên không tương ưng với tâm mà triền phược lại tương ưng với tâm. Tất cả tùy miên thuộc triền phược, nhưng không phải tất cả triền phược đều thuộc tùy miên. Hóa địa bộ: Tùy miên khác với triền phược, vì tự tánh của tùy miên không tương ưng với tâm nhưng tự tánh triền phược lại tương ưng với tâm.
Quá khứ và vị lai không có thật thể . Quá khứ, vị lai đều có thật thể. Hóa địa bộ: Quá khứ vị lai thì không có thật, hiện tại và vô vi thì có thật.
Hóa địa bộ (Quan điểm dị biệt): Quá khứ, vị lai đều có thật thể.
Tất cả các Pháp xứ không phải là cái được biết, được nhận thức và được thông đạt. Tất cả các Pháp xứ đều là những cái được biết, được nhận thức và được thấu đạt. Hóa địa bộ: Tất cả các Pháp xứ đều là những pháp được biết, được nhận thức.
Cũng không có thân trung hữu (ấm). Duy chỉ có cõi Dục và Sắc giới là có thân trung ấm. Hóa địa bộ: Chắc chắn không có thân trung ấm.
Hóa địa bộ: (quan điểm dị biệt) Cũng có thân Trung ấm.
Có một số pháp tự sanh khởi, có một số pháp do cái khác làm ra, có một số pháp do cả hai cùng làm ra, lại có một số pháp do các duyên sanh ra. .
Thuyết giả bộ: Không có cái chết phi thời (bất đắc kỳ tử) mà tất cả do nghiệp đời trước mà có
Trong cùng một thời điểm có thể có hai tâm cùng sanh khởi. Trong một (sát na) tâm của Thế đệ nhất pháp gồm có 3 phẩm.
Độc tử bộ: Bổ-đặc-già-la không phải uẩn cũng không phải phi uẩn, do nương sự kết hợp của uẩn xứ giới mà giả đặt tên như thế.
Kinh Lượng bộ: Có thắng nghĩa Bổ-đặc-già-la.
Nghiệp và quả Dị thục đều cùng lúc chuyển biến. Thuyết giả bộ: Nghiệp tăng trưởng làm nhân nên quả Dị thục chuyển đổi.
Hóa địa bộ: Nghiệp chính là Tư.
Hóa địa bộ: Không có thân nghiệp và khẩu nghiệp.
Ẩm quang bộ: Nếu nghiệp quả đã thành thục thì không, nghiệp quả chưa thành thục thì có.
Ẩm quang bộ: Các pháp đã đoạn trừ và đã biến tri thì không có. Còn chưa đoạn trừ và chưa biến tri thì có.
Chủng tử chính là hạt mầm. Ẩm quang bộ: Có Hành lấy quá khứ làm nhân, nhưng không có Hành nào lấy vị lai làm nhân.
4 đại và 6 sắc căn có chuyển biến (thay đổi) nhưng Tâm và Tâm sở không chuyển biến. Hóa địa bộ: Từ khi mới nhập bào thai cho đến khi chết thì các đại chủng của Sắc căn đều chuyển biến, Tâm và Tâm sở cũng chuyển biến như thế.
Tướng của 3 pháp hữu vi, mỗi thứ đều có thật thể riêng biệt.
Hữu bộ cho rằng tất cả các pháp đều nằm trong hai loại: Danh và Sắc.
Sanh và lão (bệnh tử) là vô thường, thuộc Hành uẩn và không cùng tương ưng với Tâm. Kinh Lượng bộ: Có cái Uẩn căn biên, và có cái Uẩn một vị.
Phàm phu cũng có thể đoạn trừ được tham dục và sân hận. Hóa địa bộ: Chúng sanh thì chưa đoạn trừ được tham dục và sân nhuế.
Kinh Lượng bộ: Trong hàng phàm phu vẫn có thánh pháp.
Ngoại đạo có thể chứng đắc ngũ thông. Tuyết sơn bộ, Hóa địa bộ và Pháp tạng bộ: Không có ngoại đạo chứng đắc ngũ thông.
Độc tử bộ: Ngoại đạo cũng chứng đắc ngũ thông.
Chư thiên cũng có người sống đời phạm hạnh. Tuyết sơn bộ: Không có chư thiên sống đời phạm hạnh.
Hóa địa bộ: Cũng không có chư thiên sống đời phạm hạnh.
Con người sống ở Bắc-câu-lô-châu không thể xa lìa cấu nhiễm nên bậc thánh không sanh ở đó cùng cõi trời Vô tưởng.
Có chúng sanh trụ trong thiện tâm mà chết.
- Chấp rằng có tướng chúng sanh (và ý niệm giải thoát) thì chưa phải giải thoát.
- Do bám chấp vào các hiện hữu liên tục nên mới giả lập thành chúng sanh.
- Có thể nói tất cả các Hành đều chấm dứt trong một sát na,
- chắc chắn không có một pháp nào được di chuyển từ đời trước qua đời sau mà chỉ có Bổ-đặc-già-la thế tục di chuyển mà thôi.
- Đang còn sống mà các Hành đã chấm dứt hoàn toàn thì các Uẩn không còn chuyển dịch thay đổi. Độc tử bộ: Các hành chỉ tạm tồn tại và hoại diệt trong một sát na. Nếu lìa Bổ-đặc-già-la thì không pháp nào có thể chuyển tiếp từ đời trước sang đời sau, nhưng vì nương vào con người nên mới có sự di chuyển.
Hóa địa bộ, Ẩm quang bộ:
- Tất cả các hành đều chấm dứt trong một sát na nên chắc chắn không có một pháp nào được chuyển biến từ đời trước qua đời sau.
Kinh Lượng bộ: Các Uẩn có thể di chuyển từ đời trước đến đời sau.
Hóa Địa bộ và Chánh lượng bộ: Đại địa thì tồn tại lâu dài.
Thuyết giả bộ: Các hành xoay vần đối đãi hòa hợp nên giả gọi là khổ mà không có sĩ phu dụng.
Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ và Pháp tạng bộ: Cung kính cúng dường tháp miếu không được phước báo to lớn.
Hóa địa bộ: Cung kính cúng dường tháp miếu chỉ được phước báo nhỏ.
Có thiện pháp làm nhân (sanh tử trong 3 cõi). Hóa địa bộ: Thiện pháp không phải là nhân (sanh tử trong 3 cõi).
Có Tầm vô lậu. Hóa địa bộ: Không có Tầm và Tứ vô lậu.
Hóa địa bộ: Tầm và Tứ tương ưng với nhau.
Có Tĩnh lự (định) xuất thế.
3. Học thuyết căn bản và đồng nhất của Đại Chúng Bộ, Nhất Thuyết Bộ, Thuyết Xuất Thế Bộ và Kê Dận Bộ :
Học thuyết căn bản và đồng nghĩa của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ đồng cho rằng:
1. Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian.
2. Tất cả các đức Như Lai không còn hữu lậu.
3. Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân.
4. Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp.
5. Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa.
6. Sắc thân của Như Lai không có giới hạn.
7. Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn.
8. Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn.
9. Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín nhưng các Ngài không có tâm chán ngán hoặc thỏa mãn.
10. Đức Phật không có ngủ và nằm mộng.
11. Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ.
12. Đức Phật không bao giờ nói về danh, cú, văn vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh, cú, văn liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi.
13. Chư Phật trong một sát na tâm liễu tri tất cả các pháp.
14. Chư Phật trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã biết được tất cả các pháp.
15. Lậu tận trí và vô sanh trí của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc niết bàn.
4. Nhận định tự thân về những quan điểm Phật thân của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ:
Với những quan điểm về Phật thân của hai bộ phái Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ, chúng ta thấy tuy có nhiều quan điểm sai khác.
Thượng Tọa bộ thì cho rằng đức Phật thực tế, có lịch sử và là con người bằng xương bằng thịt như mọi người, từ một người bình thường như mọi người, cũng sanh ra, lớn lên, có vợ con, nhưng Ngài đã có nghị lực phi thường, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khổ tu phạm hạnh công phu và đạt được Phật quả. Quan điểm này cho chúng ta thấy tự tin rằng mình cũng có khả năng tu tập và cũng có thể đắc quả như Phật nếu chúng ta công phu tu hành tinh tấn. Trong một số bài kinh của Phật giáo Nguyên thủy đã chứng minh quan điểm đức Phật có trong lịch sử.
Trong Trung Bộ, Tôn giả A Nan giải thích tại sao đức Phật được coi là cao hơn A La Hán mặc dù cả hai có mục tiêu đạt đến cùng giống nhau. Tôn giả A Nan nói rằng không một tỳ kheo nào được xem là có đầy đủ tất cả những ưu tú trong các hình tướng của họ như Đức Phật. Hơn nữa, Đức Phật là người khởi đầu của con đường mà trước đó không có hoặc bị quên lãng, bậc thiện thệ hoặc bậc công bố về một đạo lộ mà các bậc Thanh Văn theo tu tập. Tại một nơi mà khuynh hướng Thánh hóa quá mạnh khiến các nhà Tiểu thừa thời kỳ đầu chỉ giữ nổi tánh cách con người của Đức Phật một hoặc hai thế kỷ sau khi đức Phật tồn tại, khi các kinh điển được coi như thành hình rõ ràng. Nhưng thật ra, đức Phật là một nhân cách lớn, trong lúc đức Phật tại tiền, tăng chúng đã xem Ngài như bậc siêu nhân:
“ Những tỳ kheo nói bậc Thánh nhân có ba mươi hai tướng tốt và chỉ có bậc Thánh mới sở hữu được hảo tướng và hai hạnh nghiệp”. Kinh Phật nói rằng đức Phật có 32 tướng của thánh nhân và thân Như Lai được làm bằng kim cương có mười lực và bốn vô úy. Vì vậy, đệ tử của Ngài tin tưởng tuyệt đối vào Đức Phật Thích Ca và vô cùng kính ngưỡng Ngài. Chính đức Phật nói Ngài là bậc Thế gian giải và Như Lai và biết rằng tương lai bản chất siêu phàm của Ngài sẽ được mở rộng và làm rộng lớn hơn. Mặc dù sự nhập Niết Bàn của Ngài đã cho thấy sự giới hạn của con người bị chi phối bởi luật vô thường, nhưng các đệ tử củ Ngài cũng luôn luôn xem Ngài là một nhân cách phi phàm. “ Này A Nan, nếu ngươi muốn, Như Lai có thể sống một kiếp hoặc hơn một kiếp”; “ Đức Phật đã đưa chân Ngài ra khỏi quan tài” khi Ngài Ca Diếp từ xa về đảnh lễ cũng là yếu tố cho các đệ tử của Phật tin rằng đức Phật Thích Ca là một siêu nhân, bất tử. Và bản chất siêu phàm của Đức Phật được truyền qua nhiều thế hệ sau này và được mở rộng ra với nhiều đoạn kinh cuối cùng đã tạo nên các truyền thuyết về đức Phật như trong truyện Bổn Sanh. Theo những kinh điển như vậy, sự giác ngộ của đức Phật đạt được không chỉ bằng phương pháp thực hành khổ hạnh mà còn mang dấu vết của vô số hạnh nghiệp Ngài đã làm trong những đời sống trước trong vô số kiếp và đức Phật được mô tả như một siêu nhân, Ngài có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tuyệt vời.
Nhìn chung, theo Tiểu thừa sau này và Đại thừa, đã xem đức Phật như bậc Thiên nhân sư và đã gán những phẩm chất phi phàm cho Ngài, không chỉ sau khi Ngài nhập Niết Bàn mà ngay cả khi Ngài còn sống. Những phẩm chất này gồm cả mặt trí tuệ và đạo đức và ngay cả thân vật lý cũng tạo cho Ngài chuyển hóa từ vị trí con người đến vị trí của một thực thể tối hậu trong thế giới. Về thân thể của Phật, giữa Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa bộ tuy có những ý kiến bất đồng, nhưng về tinh thần lực tuyệt điểm của Phật thì trên đại thể, cả hai đều nhất trí. Nghĩa là hai bộ đều thừa nhận rằng tinh thần của Phật là hoàn toàn vô lậu, xuất thế gian, siêu tự nhên và ý lực của Ngài là vô biên. Tuy không phải hoàn toàn nhất trí mà ở một vài điểm vẫn có chỗ bất đồng. Đại chúng bộ muốn đề cao tinh thần vô biên của Phật đến cực độ, còn Thượng Tọa bộ thì vẫn muốn thừa nhận trong tinh thần của Phật cái tác dụng tâm lý thông thường.
Chúng ta có thể lấy ví dụ điển hình như Đại chúng bộ cho rằng tâm lực của Phật chỉ trong một sát na , tức là chỉ một tích tắc thôi có thể biết hết thảy các pháp, nói cách khác, một sát na tâm biết hết ngoại cảnh, kể cả tác dụng của tâm và tự thể của tâm cũng có thể biết. Do đó mà bất luận một sự vật gì trong thế gian nêu ra, đức Phật đều giải đáp được ngay mà không cần phải suy nghĩ. Phật trong một sát na tâm có thể phát khởi một lời, trong một sát na ngữ có thể nói một chữ, Thanh Văn, Độc giác trong một sát na tâm có thể phát khởi một lời, trong một sát na ngữ không thể nói một chữ. Lại nữa, một sát na tâm biết hết thảy pháp, một sát na tâm sở bát nhã, biết hết thảy pháp. Vì vậy tâm của đức Phật không có vô ký mà tràn đầy trí giải thoát thường trụ bất diệt.
Thượng Tọa Bộ thì ngược lại, chủ trương của Thượng Tọa bộ về thần lực của Như Lai tuy là vô biên nhưng trong một sát na không thể nào biết hết thảy các pháp. Như Lai muốn biết rõ hết thảy các pháp vẫn cần có sự tác ý đặc biệt. Nếu không có sự chú ý đặc biệt thì chi trong giới hạn ba nghìn thế giới mà thôi. Khi Phạm Thiên đến thỉnh Phật thuyết Pháp, Phật đã nói: “ Phạm Thiên như mặt trời, tự tại chiếu các phương là nghìn thế giới, trong nghìn thế giới, ta được tự tại”. Như vậy chúng ta thấy rằng chính đức Phật cũng nói Ngài chỉ được tự tại trong phạm vi của nghìn đại thiên thế giới mà thôi, đó là chứng minh cụ thể về giới hạn. Nếu muốn biết mười phương thế giới thì vẫn cần có sự chú ý, và do đó, cũng cần có thứ lớp thời gian. Và nếu đề cập tới tính chất đối tượng thì về ngoại cảnh có thể trong một sát na biết được, nhưng về nội cảnh, tức là tâm, tâm sở và câu hữu pháp thì không thể nào cùng một lúc trong sát na mà biết được. Bởi vì cái đương thể của tâm và tâm sở, dù là Phật đi nữa, nhưng nếu không ý niệm kế tiếp thì vẫn không thể nhận thức được. Hữu bộ cho rằng sự hoạt động tâm lý của con người là một tâm kế tục, đây tức là điểm của sự chú ý, chứ không thể có hai tâm phát khởi cùng một lúc, vì thế, dù là Phật cũng không ngoài công lệ đó. Do đó mà sự phát khởi của tâm trí vô sinh trí cũng là kế tục, không những không thể cùng hoạt động trong một lúc, mà dù là Phật đi nữa cũng vẫn có tâm vô ký, vì thế không thể bảo là tận trí và vô sinh trí thường hằng tùy chuyển được. Phật đôi khi cũng có trạng thái vô ký phổ thông, do đó, tuy là Phật nhưng khi giải đáp mọi vấn đề không nhiều thì ít, cũng cần phải suy nghĩ.
Tuy cùng thừa nhận rằng tính thần lực của Phật là vô hạn, nhưng cách giải thích của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa bộ lại khác. Do vậy đã đưa đến cuộc tranh luận lớn về việc Phật thuyết pháp.
Nếu nói về thân thể của Phật, nói theo một khía cạnh, thì thân thể của Phật nhưng nhiên thuộc về bản chất cũng có những điểm cộng thông với thân thể của người thường, đồng thời nhìn nhận ở một khía cạnh khác, chúng ta có thể công nhận rằng nhờ nhiều kiếp tu hành, trong thời đại Bồ Tát đã đầy đủ bai mươi hai tướng, cho nên, đến khi thành tựu đạo quả thì thân thể đó đã hoàn toàn biến thành một linh thể siêu nhiên. Đây là quan điểm của Đại Chúng Bộ, cũng là đại biểu cho chủ trương của Nhất thiết bộ và Thuyết xuất thế bộ. Đối với những bộ phái vừa nêu này, đức Phật không những chỉ thanh tịnh ở lĩnh vực tinh thần, mà ngay cả về phương diện nhục thể cũng hoàn toàn vô lậu. ( Nói theo thuật ngữ là: 18 giới đều là vô lậu). Cách thuyết minh thích ứng với Bồ Tát quan của Đại Chúng Bộ là cho rằng thân sinh của Phật không phải do nghiệp lực chiêu cảm mà là vì nguyện độ sanh nên thị hiện đầu thai. Lúc đầu chủ trương này chỉ chuyên đứng trên lập trường nhục thể của Phật mà nói, nhưng một khi nó đã thành hình, thì không thể không tiến đến một kết luận tất nhiên rằng đức Phật, về mặt nhục thể đã là siêu tự nhiên. Theo Tôn luân luận thì từ Đại Chúng Bộ cho rằng: “ sắc thân của Như Lai không có giới hạn”, “ uy lực của Như Lai cũng không có biên té”, và “ thọ lượng của Như Lai cũng không vô hạn”. Cho rằng nhục thể của Như Lai là vô lậu, là xuất thế gian thì kết luận hiển nhiên là Phật đã vượt ra ngoài giới hạn của thời gian và không gian vậy. Với lại thệ của Phật là hóa độ chúng sinh, do đó, “Phật hóa chúng sinh khiến cho họ có đức tin trong sáng”.Chúng ta thấy chủ trương này của Đại Chúng bộ là một chủ trương rất tiến bộ. Bởi vậy, từ lập trường “ Thân của chư Như Lai toàn là siêu xuất thế gian; Chư Như Lai không có pháp hữu lậu” đã đạt đến kết luận như trên.
Nhìn chung, trong những giai đoạn tiến triển của luận lý, tuy Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa bộ có nhiều điểm bất đồng, nhưng dù sao đi nữa, nếu kết luận có tối hậu vẫn chưa có điểm dừng lại. Vì vậy Đại Chúng Bộ vẫn còn có nhiều bàn cãi về thân Phật cho đến sau này và phát triển đến thuyết về Tam thân Phật là Pháp thân, Ứng thân và Báo thân. Và hoàn toàn trái ngược về quan điểm Phật siêu xuất thế gian của Đại Chúng bộ thì Thượng Tọa bộ vẫn giữ lập trường của mình về thân Phật thế gian để khảo sát bản tính của Phật. Theo Thượng Tọa bộ, sở dĩ là Phật là chỉ về phương diện tinh thần mà thôi, còn về lĩnh vực nhục thể, dù Phật có đủ ba mươi hai tướng, có sức mạnh vĩ đại, nhưng nhục thể vẫn là nhục thể. Bản thân Phật tuy đã xa lìa mọi phiền não, nhưng đối với người khác, có khi Phật vẫn là đối tượng dẫn khởi phiền não của họ. Trong khi nói Phật không bị các pháp thế gian làm ô nhiễm có nghĩa là Phật không bị những thứ đắc thất, lợi hại, khổ lạc của thế gian làm động tâm, nói cách khác, Phật đã thoát ly hẳn lợi, danh, xưng, lạc, suy, hủy, khổ, cơ ở thế gian. Do vậy, vật bài tiết của Phật là bất tịnh, về thọ mệnh cũng chỉ tự do lưu thọ được ba tháng và xả thọ hai mươi năm chứ quyết không phải vô hạn định và, như thế thì điều dĩ nhiên là dung tích cũng không thể là vô hạn. Đó là quan điểm Phật thân của Hữu Bộ. Do đó, bản thệ của Phật là độ sinh, nhưng cái phương tiện tức là nói về sinh thân là để hóa độ, mà nhân duyên hóa độ hết thảy là sự kiến lập pháp thân, cũng là Tăng già và pháp nghĩa, là phương pháp rất hợp lý. Vì vậy mới có sự so sánh tội nghiệp khinh trọng giữa sự làm thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng, cho rằng làm cho thân Phật chảy máu, duy chỉ phá hoại cái sinh thân của Phật mà thôi, tức là tội nhẹ hơn, chứ phá hòa hợp tăng tức là hủy diệt pháp thân Phật, tội rất nặng. “Này Thiện Nam tử! Như Lai hai người đấu võ, hoặc dùng dao gậy chém đập tuôn máu, dầu đánh nhau đến chết mà chẳng nghĩ tưởng là giết nhau, thời nghiệp tướng ấy nhẹ mà chẳng nặn. Đối với đức Như Lai vốn không có tâm giết hại, dẫu làm cho thân Phật ra máu, thời nghiệp này cũng nhẹ mà chẳng nặng. Vì giáo hóa chúng sanh đời vị lai, nên đức Phật thị hiện nghiệp báo”.
Vậy nên Phật diệt độ là diệt thật chứ không phải giả diệt, khác hẳn chủ trương Đại Chúng bộ cho rằng thọ mệnh của Phật có thể kéo dài đến không hạn lượng.
Nhìn chung, Thượng Tọa bộ vẫn một mực coi Phật như một người thường mà thành, còn Đại Chúng bộ thì chủ trương cái gọi là pháp thân quyền hóa mà dẫn khởi thành Phật. Về phía Thượng Tọa bộ thì cho rằng chỉ cần có tăng già và pháp nghĩa là tinh thần của Phật vẫn có thể vẫn có thể hoạt động chứ không quan hệ gì đến sự hiện diện của sinh thân Phật. Ngược lại, Đại Chúng bộ luôn luôn lấy Phật làm trung tâm, nếu không thừa nhận thường trụ của Phật làm căn nguyên cho Tăng già và pháp nghĩa thì khó mà hoàn thành được quan điểm cứu độ.
5. quan điểm thứ 3. 諸 如 來 語 皆 轉 法 輪 。
Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân.
5.1. Chuyển Pháp Luân:
Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp [trong] 49 năm, mới bắt đầu thì chưa đạt đến Như Lai, có một số Pháp được giảng là một số năm trước đã từng được giảng rồi. Nhưng Ông giảng không ngừng, cho đến những năm cuối trước khi niết bàn thì những điều Ông giảng đã khác rất nhiều so với trước đó. Là vì Ông đã nhận thức không ngừng, đề cao không ngừng, Ông cũng liên tục tu. Thực ra Ông cũng không lưu lại cho con người Pháp Lý của vũ trụ; ấy là con người hiện đại gọi đó là Pháp, là kinh thư. Phật Thích Ca Mâu Ni khi tại thế cũng không [viết] kinh thư, mà là người đời sau căn cứ theo hồi ức về lời Phật Thích Ca từng giảng; khi chỉnh lý là có sai sót. Hàm nghĩa chân chính trong lời Thích Ca Mâu Ni giảng đã phát sinh biến đổi rồi, nhưng người thời đó cũng chỉ được phép cho họ biết đến mức độ vậy mà thôi. Đó đều không phải ngẫu nhiên, mà phải là như thế. Vì ai trong quá khứ cũng không dám đưa những thứ tu luyện viết ra một cách minh bạch rõ rành rành lưu lại cho con người được; gì cũng phải để người ta ngộ. Con người trong mê không biết gì cả, chính là rât khó ngộ vậy.
Phật Thích Ca Mâu Ni khi tại thế đã lưu lại những thứ cho con người, chủ yếu là ‘giới luật’. Cuối cùng, khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, đệ tử của Ông hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni, rằng: ‘Khi Sư tôn đi rồi, chúng con lấy ai làm Thầy?’ Phật Thích Ca Mâu Ni bèn nói: ‘Hãy lấy Giới làm Thầy’. Trên thực tế, Ông đã lưu lại giới điều [khiến] người tu luyện có thể viên mãn. Đó là [những gì] Ông đã quy định ra trong những năm còn sống; những người sau này căn cứ theo lời giảng của Ông mà viết ra một số điều [nay] được coi là Kinh. Tôi chính là lần đầu tiên chân chính đưa những điều tu luyện lưu lại cho con người; đó là xưa nay chưa từng có. Tôi làm điều mà người trước chưa từng làm, lưu lại cho con người một “chiếc thang” dẫn lên trời.
Thực ra tôn giáo có hai mục đích: Một là thật sự khiến những ai rất tốt mà có thể tu luyện lên được đắc Đạo; hai là có thể khiến đạo đức của xã hội nhân loại được duy trì ở mức độ khá cao. Đó đều là hai việc mà tôn giáo cần làm. Thực ra, điều tôi truyền này đây không phải tôn giáo. Nhưng mà, chân chính truyền Pháp và độ nhân cũng có một tác dụng giống như thế: Chân chính khiến người đắc Đạo tu luyện, cấp chư vị một con đường [tu]; cũng có thể khiến rất nhiều những ai từng nghe Pháp, từng đọc sách, tuy rằng chưa muốn tu luyện, thì họ cũng minh bạch được một [Pháp] Lý, do vậy họ sẽ không hữu ý đi làm những việc không tốt, những việc xấu; Ông cũng như thế, có thể khiến mức độ đạo đức của nhân loại được duy trì ở trạng thái khá cao, cũng là có tác dụng giống như vậy. Chân chính truyền công, dạy người, đó chẳng phải chính là độ nhân sao?
5.2. Bài học giáo huấn từ đức Phật:
Rất nhiều người giải thích những điều của Phật Thích Ca Mâu Ni, nói Thích Ca Mâu Ni giảng là có ý thế này, là có ý thế kia. Đó chỉ là tại tầng thứ của họ mà họ ngộ ra là như thế. Có người khai mở thiên mục, tại các tầng thứ khác nhau nhìn thấy một số chân tướng nhưng cũng không có sự cao thâm và đột phá không gian thật to lớn mà Phật Thích Ca Mâu Ni ở tầng thứ Như Lai nhìn thấy. Còn những người khai mở thiên mục tại tầng rất thấp ấy, không gian [họ] thấy rất ít, không gian vũ trụ [họ] thấy được là rất thấp. Vì tầng thứ khác nhau có tồn tại [Pháp] Lý khác nhau, vậy nên họ nói là thế này, nhưng thực ra không phải như thế. Người giải thích loạn cả Phật Pháp ấy đều dẫn người ta nhập vào cái khung theo chỗ tự họ nhận thức được. Vậy chư vị thử nói họ là can nhiễu Phật Pháp hay là duy hộ Phật Pháp? Nên mới nói, không ai có thể động [sửa] kinh sách ấy dù chỉ một chữ! Hãy chiểu theo nguyên nghĩa trong kinh sách mà ngộ mà tu! Không ai có thể tuỳ ý giải thích bất kể một chữ trong Kinh Phật. Tại các tầng thứ khác nhau mà bàn về nhận thức cá nhân của mình là khả dĩ; mọi người có thể trao đổi thể hội với nhau: ‘Tôi ngộ ra rồi, hiện nay tôi ngộ ra ý nghĩa này; tôi nhận ra đây là nói rằng tôi làm việc đó không tốt, tôi nên cải tiến như thế như thế hoặc lời này nói về tôi, chỉ về những việc tôi thiếu sót, tôi cảm thấy thật tốt’. Khi họ lại đề cao nữa rồi lại đọc, thì họ phát hiện cũng câu nói ấy lại có nhận thức mới. Chính là đề cao, đều là ngộ và lý giải như vậy.
5.3. Thần lực thuyết pháp của Phật:
a. Bản chất thuyết pháp của Phật: Như Lai thuyết pháp lìa tứ cú: nhất, dị, đồng, chẳng đồng, hữu, vô, phi hữu phi vô, thường, vô thường, lìa nơi hữu vô, kiến lập, phủ nhận, phân biệt kết tập, chơn đế duyên khởi, đạo diệt, giải thoát… Sự thuyết pháp của Như Lai lấy đó làm gốc, phi tánh, phi tự tại, phi vô nhân, phi vi trần, phi thời, phi tự tánh tương tục mà vì chúng sanh thuyết pháp.
b. Hai thần lực thuyết pháp: (1) Hiện thân thuyết pháp. (2) Là vô ngôn thuyết, chỉ dùng tay quán đảnh, truyền thọ địa vị Như Lai.
- Khiến mọi người lễ Phật, nghe pháp, hỏi nghĩa và tiếp nhận. Như Lai có vô lượng thần lực để lợi lạc chúng sanh
- Nương hai thứ thần lực Phật thì tất cả phàm phu cũng phải có biện tài thuyết pháp. Vì chẳng cần trụ nơi thần lực mà tự có vậy.
- Khi vào thành, hiện sức oai thần của Phật, khiến các thứ vô tình như núi đá, cây cối và nhạc cụ, thành ấp, cung điện đều tự nhiên phát ra tiếng âm nhạc, dù mù, điếc, câm, ngọng có vô lượng khổ, đều được giải thoát.
c. Nội dung thuyết pháp của Phật
- Phật thuyết duyên khởi, nhân duyên sanh, không chấp nhận nguyên nhân đầu tiên (duy thần, duy vật và duy tâm).
d. Các hình thức thuyết pháp: thế giới Hương Tích và quốc độ Phổ Hiền Như Lai, chỉ dùng ngó nhìn, khiến các Bồ Tát đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và Tam Muội Thù Thắng. Có cõi Phật làm ra hình tướng, hoặc nhướng mày, hoặc chớp mắt, hoặc cười, hoặc ngáp, hoặc tằng hắng, hoặc tưởng niệm, hoặc lay động, mà hiển bày các pháp.
5.4. Đức Phật tùy duyên thuyết Pháp:
Đức Phật tuyên bố rằng chân-lý chỉ có một, cứu cánh Niết-bàn chỉ có một và những gì Ngài thuyết ra chỉ nhằm mục đích đưa tới sự lợi ích, những gì không có sự lợi ích thì Ngài không thuyết - Trung Bộ Kinh.
Khi Đức Phật nắm một nắm lá trong tay, Ngài day Ngài Ananda: "Những gì Như Lai hiểu nhiều như lá rừng, và những gì Như Lai nói ra như nắm lá trong bàn tay." Vì sao? Vì những gì Ngài nói ra là để đưa tới sự lợi ích, còn những gì Ngài hiểu thì trong đó có những điều không đưa tới sự lợi ích nên Ngài không nói. Như vậy, điều này cho chúng ta thấy rằng cho dù Đức Phật có thuyết nhiều pháp môn đi chăng nữa thì cũng chỉ có một mục đích duy nhất trước sau như một là giúp chúng sanh thoát khỏi khổ.
Như một người lương y, tùy theo chứng bệnh của mỗi bệnh nhân mà bốc thuốc, bốc thuốc làm sao cho phù hợp với bệnh của từng người thì bệnh nhân mới hết bệnh. Do đó, người lương y bốc thuốc không phải lúc nào cũng giống nhau, mà tùy theo bệnh của từng người mà thuốc có khác nhau. Tương tự như vậy, Đức Phật tùy theo căn tánh của mỗi chúng sanh mà thuyết Pháp. Nhưng nên nhớ rằng Pháp của Đức Phật thuyết ra không vì lý đó mà có sự mâu thuẫn nhau, chẳng hạn lúc này Ngài nói như thế này rồi sau đó lại nói ngược trở lại - chuyện này không hề có.
Đức Phật tùy theo căn cơ chúng sanh mà thuyết Pháp là như thế nào? Chẳng hạn đối với chúng sanh có cơ trí nhiều, trí tuệ vững mạnh, Đức Phật nói ngắn gọn hoặc nói Pháp cao; đối với chúng sanh trí tuệ không nhạy bén thì Ngài nói Pháp thấp hoặc giảng giải cặn kẽ, có chúng sanh Ngài nói Pháp thuận thứ (từ thấp đến cao) với họ, lại có những chúng sanh khác xét thấy có khả năng thấy được đạo quả thì Đức Phật thuyết Pháp để đưa họ vào con đường xuất ly. Như vậy Pháp của Đức Phật thuyết, tuy có cao thấp tùy theo căn cơ của chúng sanh, nhưng trước sau vẫn như một, chứ không hề có sự mâu thuẫn nhau. Từ tạng Kinh cho đến tạng Luật , tất cả đều nhất quán với nhau, không hề có sự mâu thuẫn. Chỉ có điều là ở đoạn Kinh này Đức Phật nói ngắn, ở một đoạn Kinh khác Ngài nói rộng ra, ở một đoạn Kinh khác, Ngài lại nói thật dài. Mục đích là để tế độ cho chúng sanh, giúp cho họ sống một cuộc sống hướng thượng hoặc có thể đắc được đạo quả.
III. KẾT LUẬN:
Mỗi thế hệ con Đức phật cần phải đóng góp phần của mình vào trong kho tàng kinh luận. Chúng ta thấy điều đó đã xảy ra trong lịch sử của giáo đoàn Đức Phật. Ngay sau khi Bụt nhập diệt, Luận Tạng đã được thành lập. Và sau đó thỉnh thoảng xuất hiện các bậc đạo sư làm mới lại giáo lý, diễn bày giáo lý một cách mới mẻ và thích hợp với tâm trạng và hoàn cảnh của thời đại họ. Chúng ta cần học kinh luận với trí thông minh và với tinh thần tự do. Như vậy chúng ta mới phát kiến được những điều mới lạ phù hợp với thời đại mà ta đang sống. Chúng ta không làm nô lệ cho ai cả, dù là nô lệ cho Tổ và Phật. Bởi vì Như Lai không muốn chúng ta làm nô lệ. Và các Tổ đã không làm nô lệ cho Bụt. Các Tổ đã tiếp tục công trình của Phật và đã tạo ra Đạo Phật Đại Thừa với nhiều giáo lý trong đó có giáo lý Duy Biểu. Chúng ta cần tiếp nhận tinh thần tự do đó của các Tổ và tiếp tục làm những công việc như các Tổ đã làm, như thầy Thế Thân, thầy Vô Trước, thầy Pháp Tạng... Muốn trả ơn Tổ và Thầy một cách thích đáng thì phải biết sử dụng các điều Tổ và Thầy trao lại để đi xa hơn. Chúng ta phải học những điều Bụt dạy, Tổ dạy, Thầy dạy để tiếp xúc với những khó khăn, những vấn đề thực tế của thời đại mình để làm sáng lên những viên ngọc đã được Bụt và Tổ trao truyền. Làm được điều đó là đã đóng góp được vào lịch sử của giáo đoàn Đức Phật vậy.
Đọc kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo Đại Chúng Bộ , chúng ta sẽ thấy các vị Thánh đệ tử không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật sự trung thành giáo nghĩa Thượng Tọa Bộ của Đức Phật. Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng nhất. Trong mắt các vị thầy theo Thượng Tọa Bộ Phật giáo hay các học giả đương đại cố gắng trung thành với thánh điển Nikaya mà cho rằng những gì ngoài ba Tạng Pali là ngụy tạo, thì sự cáo buộc đó hết sức nguy hiểm, vì tạo thêm hố ngăn cách tư tưởng giữa hai truyền thống từ mấy ngàn năm qua. Cách nhìn đó không phù hợp với xu thế hiện đại, bởi phương tiện truyền thông, và những kỹ thuật khoa học ngày nay đã giúp cho con người vượt mọi ranh giới lãnh thổ và khái niệm. Ngày nay các nhà học giả Phật giáo phần lớn đều chấp nhận một số tư tưởng Đại Chúng Bộ là những tư tưởng của đạo Phật phát triển từ giáo lý Thượng Tọa Bộ. Nếu chúng ta chịu khó so sánh bốn tập A Hàm (Trung Hoa) với các tập Pali Nikaya tương đương, thì chúng ta sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm Trung Hoa lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pali! Thái độ của một số Phật tử Đại Thừa ngược lại xem những gì Thượng Tọa Bộ là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận ba tạng Pali, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh hoa tốt đẹp nhất và Thượng Tọa Bộ nhất của lời Phật dạy. Cho nên khi học tập và nghiên cứu, chúng ta cần phải thoát ra khỏi những tượng đài quá lớn của các học giả có một bề dày nghiên cứu, nhưng chưa có quá trình tu tập thì cần phải có sự độc lập trong nhận thức, để tránh tình trạng nô lệ kiến thức. Bởi một con sư tử được làm bằng vàng thì râu hay đuôi, cũng đều có giá trị như nhau trong mắt của thợ kim hoàn. Chính vì vậy mà đức Phật từng khuyên chúng sinh: “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” Cho nên người ta còn bảo nhau, đạo Phật là đạo đến để nắm bắt chứ không phải đến để chiêm ngưỡng!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu ủy viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.
2) KIMURA TAIKEN. Việt dịch: HT. Thích Quảng Độ. Tiểu Thừa Phật giáo tư tưởng luận. Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản 1969.
3) HT Thích Thanh Kiểm. Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. 1993.
4) Trần Trúc Lâm, Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn độ. NXB Phươngd Đông 2007.
5) HT. Thích Thiện Hoa, Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ. 1966.
6) Andrew Skilton (Dharmacari Sthiramati) Tỳ-kheo Thiện Minh chuyển dịch. Đại Cương Lịch Sử Phật Giáo Thế Giới.
7) H.T Thích Phước Sơn, 3 kỳ Kiết tập kinh điển. Báo Giác Ngộ, 1997.
8) Triều Tâm Ảnh và Minh Đức. Sử Phật Giáo Thế Giới – Ấn Độ – Trung Quốc (Tập 1) NXB Thuận Hóa. 2008
9) Cao Hữu Ðính, Văn Học Sử Phật Giáo, Hương Sen, Việt Nam, 1996
10) HT. Thích Thiền Tâm, Phật Học Tinh Yếu, Thiên thứ nhất, Việt Nam, 1999
11) ÐÐ. Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Việt Nam, 1999
12) ÐÐ. Thích Tâm Hải, Phật Học Cơ Bản, Tập 2, Việt Nam, 1999
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét