THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013
ĐÔI NÉT VỀ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM
Mục Lục
A. Dẫn Nhập
TỔNG QUAN VỀ NGÔI CHÙA
B. Nội Dung
I. Đối tượng nghiên cứu
II. Phương pháp nghiên cứu
III. Thực hiện nghiên cứu
III.1. Thực trạng
III.2. Đánh giá
III.2.1. Vị trí địa lý
III.2.2. Lịch sử ngôi chùa và vị Tổ khai sơ.
III.2.3. Đường xá
III.2.4. Kiến trúc ngôi chánh điện
III.2.5. Tổ đường
III.2.6. Đông lang và tây lang
III.2.7. Tam quan
III.2.8. Bảo tháp
IV. Hoạt động của chùa
IV.1. Tu học
IV.2. Văn hóa giáo dục
IV.3. Hoằng pháP
IV.4. Dự Báo Và Phát Triển
IV.5. Kết Quả Của Giải Pháp
C. Kết Luận.
ĐÔI NÉT VỀ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM
A. DẪN NHẬP:
Từ khi đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam thì chùa chiền cũng hiện diện khắp nơi, đáp ứng nhu cầu truyền giáo, nhu cầu tín ngưỡng, tinh thần của nhân dân. Từ đó, ngôi chùa trở thành chỗ nương tựa tinh thần và biểu tượng đạo đức của xã hội Việt Nam. Có những ngôi chùa có mặt một cách khiêm tốn hài hòa trong lòng thôn xóm, được sự chăm sóc trân trọng của dân làng và trở thành chùa làng. Có những ngôi chùa được xây dựng nguy nga, đẹp đẽ, kiến trúc độc đáo, biểu tượng cho văn hóa nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Chùa Việt Nam qua 20 thế kỷ, đã thực hiện sứ mạng của mình là giáo dục đạo lý làm người, xây dựng nền tảng đạo đức cho xã hội, bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc, nhất là trong thời kỳ đen tối nhất của lịch sử.
Tác dụng của ngôi chùa được thấy qua giá trị thẩm mỹ, khung cảnh thiên nhiên, nghệ thuật kiến trúc. Một ngôi chùa luôn luôn gần gũi với thiên nhiên, hài hòa với môi trường, yên tĩnh phù hợp với điều kiện thăng hoa tâm lý, cảm xúc… Cảnh chùa trong văn học, trong lòng người luôn là hình ảnh êm diệu, ngọt ngào và thanh thoát. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” là câu nói cửa miệng của dân tộc Việt Nam. Sự ảnh hưởng của ngôi chùa đối với tâm tư tình cảm quần chúng thật là sâu sắc và bền chặt. Ngôi chùa trở thành biểu tượng của quê hương, như hai câu thơ đầy mộc mạc của Nguyễn Bính như sau:
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng, bỏ gió chao ôi bỏ chùa.
Tình cảm thiết tha nồng nàn đó, chứng tỏ ngôi chùa là dấu ấn văn hóa ở trong lòng người Việt Nam. Ngôi chùa thật sự đã tác dụng thăng hoa tâm lý, tình cảm của con người. Trong bài viết này người viết chọn Quảng Hương Già Lam xin giới thiệu Đôi Nét Về Tu Viện Quảng Hương Già Lam.
TỔNG QUAN VỀ NGÔI TỰ VIỆN
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Kiến trúc cảnh quan và mỹ thuật là một bộ môn cần phải có sự quan sát, tìm tòi và thực tế cuộc sống của ngôi chùa mình đang cư trú. Như thế chúng ta mới hình dung ra và cảm nhận được khi làm bài. Cũng chính vì thế người viết chọn ngôi chùa mà em đang cứ trú để khảo sát. Đó chính là ngôi tự viện Quảng Hương Già Lam Tu viện. Một tự viện có môi trường tốt để đào tạo tăng tài, cũng góp phần xây dựng giáo hội sau này.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài những gì chúng ta cần nghiên cứu, còn đòi hỏi tính thực tế, phài biết hình dung quan sát, phân tích để tổng hợp lại những tư liệu liên quan, nhận xét và đánh giá chung của đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Đây chính là những phương pháp rất thực tế mà mỗi tăng sinh cần có đủ để hoàn chỉnh yêu cầu bài cần có.
III. THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
III.1. THỰC TRẠNG
• Tự nhiên, văn hóa: Ngôi chùa luôn là hồn thiên của dân tộc. mà ngôi chùa già Lam cũng chính là ưu việt của điều kiện ấy, tự nhiên con người được sự ưu đãi của thiên nhiên. Chùa nằm phía sau của đường Lê Quang Định, với không gian của chùa ngày một lớn nên rất hợp với nơi tu tâm cũng như hợp với những tăng sinh trong việc học tập và nghiên cứu.
Trước kia, nơi đây là vùng trung tâm của thành phố (Gia Định). Bây giờ cũng có phần sầm uất nhưng so với những Quận huyện xung quanh thì khu vực này phát triển không mạnh lắm, thay vào đó xã hội hay khu vực con người xung quanh có trật tự, hay nói khác hơn an ninh không có gì phải nói bởi như thế so với trước kia hay những khu vực lân cận thì tốt hơn nhiều.
• Lịch sử khí hậu và môi trường:
Vùng Sài Gòn Gia Định ngày xưa là một vùng mới lạ, vùng khai khẩn đất hoang, nhưng sau năm 1975 đến ngày nay đã thay da đổi thịt. Dân cư đông đúc, khí hậu thoáng mát. Đặc biệt là những khu vực quanh chùa có sự thoáng mát khí hậu tương đối trong lành so với toàn bộ khu vực thành phố, tự viện có diện tích tương đối rộng, xa sự ồn náo của dân và xung quanh không có những công ty hay xí nghiệp, những khí đốt và chất thải cũng có sự hạn chế. Từ đó mà ngôi tự viện nằm trong sự an toàn của khí hậu và chịu ảnh hưởng của môi trường.
III.2. ĐÁNH GIÁ:
III.2.1. Vị trí địa lý
Tu viện tọa lạc tại số 498/11 đường Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Tu viện do Hòa thượng Thích Trí Thủ sáng lập vào năm 1960, là nơi tu học của các học Tăng cấp đại học.
Tu viện ban đầu có tên là Giải Hạnh Già Lam, đến năm 1964 được đổi tên là Quảng Hương Già Lam. Quảng Hương là tên một học Tăng đã vị pháp thiêu thân vào năm 1963 ở Sài Gòn.
Tu Viện Quảng Hương Già Lam
Tu viện Quảng Hương Già Lam thuộc hệ phái Bắc tông, thiền phái Lâm Tế. Người khai kiến Quảng Hương Già Lam là Hòa thượng Thích Trí Thủ. Số lượng Tăng thường trú và tạm trú hiện nay là 80 vị. Hiện nay Hòa thượng Thích Đức Chơn làm Viện chủ, Thượng tọa Thích Nguyên Giác Trụ trì.
Sau đây là những lời của Hòa thượng Thích Đức Chơn Viện chủ Tu viện Quảng Hương Già Lam nói về lịch sử của ngôi chùa và vị Tổ khai sơn Quảng Hương Già Lam. Tư liệu này được trích dẫn từ Đặc San Về Cội 2009. Lễ tưởng niệm 25 năm ngày Hòa thượng Ân sư viên tịch (1984 – 2009), kỷ niệm lần thứ 40 ngày Về Cội (1969 – 2009).
• Địa hình và không gian tự viện là một danh lam ở thành phố Hồ Chí Minh, tuy không nằm trong danh sách của ngôi Chùa danh lam thắng cảnh thế nhưng có kiến trúc cổ đại mà vẫn mang sắc thái văn hóa dân tộc, đây là một kiến trúc mang nét đặc thù của xứ Huế, mang tính chất cổ kính, và là một điểm thắng tích mang dấu ấn của cuộc đấu tranh lịch sử của Phật giáo. Hơn thế nữa, nơi đây là địa điểm hình thành nên những cột mốc lịch sử của tiến trình thống nhất Phật giáo Việt Nam, từ khi ngôi Chùa mới được thành lập cho đến sau ngày Phật giáo được thực sự thống nhất toàn diện.
Chùa nhìn bao quát chung là một ngôi chùa thuận lợi trong việc thăm quan, học tập và cũng như mọi mặt trong cuộc sống. Tuy Chùa nằm phía trong của mặt tiền đường Lê Quang Định, cũng chính nhờ thế mà địa hình của ngôi chùa có phần cổ kín, ẩn hiện dưới những bóng cây xanh cổ thụ lâu năm tạo nên cảnh quan chùa thêm phần tĩnh mịch của ngôi Già Lam, không bị những ồn ào, tấp nập hối hả của phố thị.
• Cây Xanh: Những ai bước chân vào Già Lam là thấy tâm hồn nhẹ nhõm như trút bỏ tất cả những gì phiền muộn của cuộc sống, vào chùa như bước vào một cõi tâm linh mà con người cảm nhận được sự thanh thoát của tâm hồn.
Trước cổng tam quan. Có hàng cây xanh của Ngài Viện Chủ trồng, cộng chung với cây cổ thụ (xa cừ) tạo nên một vùng xanh của màu lá, tô đậm nét dịu dàng của ngày hè oi ả.
Phía trước chánh điện có 2 cây sa la và cây hoa ngọc lan làm khung viên chùa đã xanh tươi, nét dịu dàng cổ kính của ngôi chùa lại còn có hương thoảng của mùi hương mỗi ngày. Mùi đặc trưng của hai loài hoa ấy có sự nhẹ nhàng, hương vị thấm nhuần của đạo vị. Vả lại chính cây hoa ngọc Lan ấy ngày xưa được Ôn khai sơn chăm bón, ngoài hương vị lẩn tô xanh đẹp của ngôi chùa, nó còn là báo vật kỉ niệm thiêng liêng mà mỗi người con được Ôn cưu mang không thể không sót xa bùi ngùi nhớ về một đấng cha lành suốt cuộc đời vì đạo.
Ngoài ra, chùa có cây cảnh rất đẹp, nhất là những cây hoa mai. Trong chùa có hàng mai nhiều vô số, vào mùa xuân mai nở vàng khắp sân, vàng cả một gốc trời, những người tham quan thấy những chậu hoa mai mà không thổn thức lòng. Nhìn chung, những ngay bình thường, cảnh quan khu vườn rất mộc mạc, nhưng nó mang lại sự dịu hiền của màu nắng chói chang ấy, nhờ cây xanh hấp thụ và tỏa khí oxy mà khuôn viên chùa trở nên quang thoáng, khí hậu trở nên ôn hòa sao ấy.
III.2.2. Lịch sử ngôi chùa và vị Tổ khai sơn
Vào năm 1960, có một số Tăng sinh các Phật học viện miền Trung học xong Tú tài hai, vào Sài Gòn học không có chỗ ở. Quý thầy xin gởi Tăng sinh ở các chùa rất khó khăn. Do đó, Hòa thượng Thích Trí Thủ đích thân đi tìm chỗ để xây Tăng xá cho học Tăng ở đi học.
Sau một thời gian lặn lội tìm kiếm, cuối cùng Hòa thượng cũng đã chọn được lô đất với diện tích 3.940 m2 của ông bà Bùi Văn Sử tọa lạc tại số 300 đường Lê Quang Định, xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay là 498/11 Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh).
Bức Hoành Phi Quảng Hương
Mục đích kiến tạo Quảng Hương Già Lam ban đầu là làm nơi cư trú cho sinh viên Tăng có điều kiện tu học để tương lai có khả năng phụng sự Đạo cũng như đời. Do đó, học Tăng được tự do chọn môn học thích hợp với khả năng và sở trường của mình. Thời gian qua Quảng Hương Già Lam đã đào tạo được nhiều giáo thọ, bác sĩ, dược sĩ, kiến trúc sư, kỷ sư, giáo sư triết học, văn học, trú trì v.v… đi nhiều nơi trong cũng như ngoài nước phụng sự Đạo pháp và nhân loại. Việc đào tạo Tăng tài là mục đích chính của Quảng Hương Già Lam từ ngày thành lập đến nay. Mặc dù đất nước cũng như Đạo pháp có nhiều biến chuyển, đổi thay nhưng Quảng Hương Già Lam vẫn trước sau như một, hoằng pháp lợi sanh là sự nghiệp.
Đầu tiên Hòa thượng khai sơn đặt tên chùa là GIẢI HẠNH GIÀ LAM, sau ngày thầy Quảng Hương tự thiêu, vào năm 1964, Ngài đổi tên là QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM. GIẢI HẠNH, chữ GIẢI là hiểu biết, kiến giải, học hỏi. HẠNH là hành trì. GIẢI HẠNH là học và hành. Tu và học cả hai phải song song mới có hiệu quả, nên Hòa thượng đặt tên GIẢI HẠNH GIÀ LAM - nơi chúng Tăng ở tu và học, chứ không phải chỉ học thôi hay chỉ chuyên tu. Hạnh giải tương ưng là vậy. Nhưng chữ GIẢI HẠNH lúc ấy còn mới quá, chưa quen nên Phật tử thường gọi chùa Già Lam cho gọn. GIÀ LAM là tiếng Phạn nói tắt, nói đủ là là TĂNG GIÀ LAM MA (sanghãmã) nghĩa là khu vườn chư Tăng ở, tức là Tăng viên hay Tăng viện, tự viện, chùa v.v…
Bức Hoành Phi Già Lam
QUẢNG HƯƠNG là tên của một thầy xuất thân từ Phật học viện Hải Đức Nha Trang, được Giáo hội bổ nhiệm làm trú trì chùa Khải Đoan - Buôn Ma Thuột. Thời Pháp nạn năm 1963, thầy phát nguyện tự thiêu để bảo vệ Chánh pháp. Trước khi thiêu, thầy về ở tạm tại chùa Già Lam, đến ngày 05-10-1963 (18-08 năm Quý Mão) vào lúc 12 giờ trưa, thầy châm lửa tự thiêu tại bồn binh chợ Bến Thành - Sài Gòn. Sau đó, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cướp xác thầy. Ba hôm sau, họ đến báo cho chùa biết là họ đã đem chôn xác thầy Quảng Hương tại nghĩa trang Quân đội Gò Vấp (hiện nay là công ty xe hơi đường Quang Trung Gò Vấp). Họ chỉ cho một ngôi mộ mới đắp đất có tấm bảng bằng ván ghi tên thầy Quảng Hương rõ ràng. Từ đó, hằng năm đến ngày giỗ thầy, chúng tôi đến đốt hương, tảo mộ cúng dường. Nhưng sau 1975, lúc có lệnh giải tỏa nghĩa trang Quân đội Gò Vấp, chúng tôi đến hốt cốt đem về chùa thờ, lúc đào lên chỉ thấy cái hòm trống rỗng, không có gì trong đó cả! Lúc ấy mới biết chính quyền Ngô Đình Diệm đã thủ tiêu xác của thầy rồi!
Tại Già Lam, trong lúc chờ đợi đến ngày tự thiêu để thực hiện hạnh nguyện của mình, thầy đã tự tay trồng cho Già Lam một cây ngọc lan phía bên hông phải chánh điện, hiện giờ cây đã cao to xanh tốt, hàng năm đến mùa trổ hoa thơm ngát sân chùa, và thầy đã viết lời phát nguyện như sau:
Thảm trạng đau lòng khi pháp nhược
Quê hương tan tóc lúc ma cường
Cờ thiêng phất phới đang tung gió
Bạo quyền triệt hạ khắp Nam phương!
Chủ trương kỳ thị nền Phật giáo
Mở đầu chính sách đổ lư hương!
Hỡi ơi! Tín ngưỡng thiêng liêng ất
Bị kẻ bạo tàn giáng họa ương.
Những ai tàn bạo giáng họa ương
Gây nên thảm cảnh đoạn can trường
Ai kẻ đứng lên đòi tín ngưỡng
Bắn giết giam cầm khảo đả thương
Tôi người tu sĩ trong Phật giáo
Không lẽ ngồi nhìn cảnh nhiễu nhương.
Phát nguyện thiêu thân cầu Tam bảo
Hộ trì đạo Phật được miên trường.
Thích Quảng Hương .
Đó là toàn bộ lời của Hòa thượng Thích Đức Chơn Viện chủ Tu Viện Quảng Hương Già Lam tường thuật lại. Đây cũng là tài liệu quý hiếm mà xưa nay chúng ta chưa biết được. Như vậy, Tu Viện Quảng Hương Già Lam là do Hòa thượng Thích Trí Thủ khai sơn vào năm 1960 tại Gò Vấp Gia Định, nay là phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây là tiểu sử của Hòa thượng khai sơn Tu viện Quảng Hương Già Lam.
Tiểu sử Hòa thượng Thích Trí Thủ
Tượng Hòa Thượng Thích Trí Thủ Ngày Về Cội 2009
Hòa thượng húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Trí Thủ. Hòa thượng sanh giờ Hợi ngày 19. 9 năm Kỷ Dậu tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một dòng tộc nối đời sùng mộ Phật pháp. Hòa thượng thuộc thế hệ thứ tám của họ Nguyễn, họ khai canh và khai khẩn làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hòa thượng đã sớm có duyên thoát trần, năm 17 tuổi được thiền sư Viên Thành thế độ cho tu học ở chùa Tra Am (Huế), đến năm 20 tuổi thọ cụ túc tại giới đàn chùa Từ Vân (Đà Nẳng). Tại giới đàn này, Hòa thượng đỗ thủ Sa di nên khi trở về chùa được bổn sư ban cho pháp hiệu Thích Trí Thủ. Nhờ sự chỉ dạy tận tình và chu đáo của bổn sư, cùng lòng tinh cần tham phương cầu học với các bậc cao Tăng thạc đức, Hòa thượng đã kiện toàn cho mình một sở học chín chắn về Phật pháp, đặc biệt là Luật học.
Năm 27 tuổi, Ngài làm trú trì chùa Ba La ở Vĩ Dạ (Huế). Từ đấy, lấy Chánh pháp và lợi sinh làm sự nghiệp, Hòa thượng cùng chư tôn túc đương thời lèo lái con thuyền đạo pháp vượt qua một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và thăng trầm của dân tộc và Phật giáo nước nhà. Ngoài việc hằng ngày trì kinh bái sám, nghiên cứu, trước tác và phiên dịch kinh điển, lấy đó làm công phu nuôi dưỡng tuệ mạng cho mình, Ngài đã tận tụy hòa đồng với mọi Phật sự hoằng pháp lợi sanh: tham gia lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, phong trào đấu tranh bảo vệ Phật giáo; cùng chư tôn đức xây dựng hệ thống giáo dục Tăng Ni và Phật tử, xây dựng Giáo hội, xuất bản báo chí, thành lập các cơ sở kinh tế tự túc để tài trợ cho công tác đào tạo Tăng tài của các Phật học viện v.v…
Sự nghiệp nỗi bật nhất, và cũng là mối bận tâm hàng đầu trong suốt cuộc đời Hòa Thượng, đó là công việc nuôi dạy học chúng để đào tạo Tăng tài. Chính qua sự nghiệp này mà nhiều bậc anh tài của Phật giáo Việt Nam đã ra đời, góp phần làm rạng rỡ cho đạo pháp và dân tộc; cũng chính qua sự nghiệp này mà ân đức của Ngài đã để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong lòng nhiều thế hệ học Tăng có cơ hội gắn bó thân thiết với Ngài trên bước đường tu thân hành đạo. Hòa thượng đã mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo. Vào lúc 21 giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 1984 (tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý) Hòa thượng thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ di quan phụng Tổ tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền .
Hình Hòa Thượng Thích Trí Thủ
III.2.3. Đường xá:
Ngôi tự viện trước kia, đây là vùng mới khai khẩn, dân cư thưa thớt. Phía trước là ngôi Tịnh Xá Ngọc Phương và chùa Châu An. Khu vực của ngôi Già Lam là vùng nghĩa trang, nên ảnh hưởng đến cuộc sống dân bản địa rất nhiều, đường sá lầy lội. Theo dòng thời gian dân cư đông đúc, dân cư sống nhiều hơn nên đường mỗi ngày một hoàn thiện.
Đường nằm trong hẽm của Đường Lê Quang Định, tuy nói là hẽm nhưng hẽm khá lớn thuận tiện cho xe lớn nhỏ di vào, cộng chung sân tự viện rất lớn nên những ngày lễ lớn của chùa cũng không ảnh hưởng gì đối với số lượng người đến tham dự.
Từ chùa ra đường, con hẽm không xa lắm, vừa thuận lợi việc đi lại vừa đảm bảo được sự đi lại và tránh sự ồn ào của xe cộ. Đây là một diều kiện thuận lợi cho Chư Tăng ở chùa mà khó có thể một ngôi tự viện nào ở thành phố có được như thế.
Nhìn chung, đường sá ở khu vực xung quanh chùa tương đối ổn định so với ngôi Già Lam thánh địa. Cũng chính nhờ như thế mà chùa lánh xa được hoạt động của con người. Đó chính là điều kiện tu học tốt của con người nói chung và tăng sinh nói riêng trong vấn đề phát triển tâm linh.
III.2.4. Kiến trúc cảnh quan của ngôi Già Lam
Chánh Điện
Ngôi chánh điện đầu tiên là căn nhà tranh vách gạch xây năm 1962. Đến năm 1964 bị triệt hạ để xây chánh điện mới bằng bê tông cốt thép hình bát giác, mái đúc dán ngói âm dương, gồm 2 tầng. Tầng trên thờ Phật, tầng dưới là trai đường. Lễ đặt đá vào ngày 19- 09 năm Giáp Thìn (24- 10- 1964). Sau 5 tháng thi công là hoàn thành. Lễ thỉnh Phật an vị ngày 15- 02 năm Ất Tỵ (17- 03-1965).
Số lượng Phật tử quy tụ về chùa tu học ngày càng đông, mỗi khi làm lễ không đủ chỗ đứng. Do đó, chánh điện được trùng tu bằng cách nối tiếp và mở rộng thêm phía trước. Nối từ ngôi chánh điện bát giác ra đến tượng Quán Âm lộ thiên. Lễ khởi công trùng tu lần này vào ngày 19- 09 năm Tân Dậu (16- 09-1981), và hoàn thành sau 6 tháng thi công. Lễ Khánh tạ vào ngày 19- 02 năm Nhâm Tuất (24- 03- 1982). Trong dịp này, chùa tổ chức Đại Giới đàn truyền trao giới pháp cho một số đông Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa, Thập thiện và Bồ tát xuất gia - tại gia. Như vậy chánh điện đã qua hai lần trùng tu.
Điện Phật
III.2.5. Tổ đường
Tổ đường là dãy nhà nằm ngay phía sau chánh điện, rộng 7m, dài 11m, gồm 1 trệt 2 lầu. Tầng trệt thờ linh ảnh, cúng quải hằng ngày. Tầng lầu một là bàn thờ Hòa thượng Thích Trí Thủ, thờ liệt vị Tổ sư và chư Tôn đức Tăng đã viên tịch. Tầng lầu hai làm phòng lưu niệm, cất giữ hình ảnh và các kỷ vật của Hòa thượng khai sơn. Nhà Tổ được xây xong năm 1967.
Phía trước hậu tổ có một bức hoành phi bốn chữ Hán:
廣 香 伽 藍 QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM.
Phía bên phải có một câu đối bằng chữ Hán:
香 薰 海 衆 樹 僧 才 轉 僧 輪 上 求 下 化 無 住 生 心
Hương huân hải chúng thọ tăng tài truyền tăng luân thượng cầu hạ hóa vô trú sanh tâm.
Tổ Đường
Phía bên trái cũng có một câu đối bằng chữ Hán:
廣 演 三 乘 建 法 幢 擊 法 皷 此 界 他 方 不 二 順
Quảng diễn tam thừa kiến pháp tràng kích pháp cổ thử giới tha phương bất nhị tùy thuận.
Phía bên phải cũng có một bức hoành phi bốn chữ Hán:
化 育 恩 深 HÓA DỤC ÂN THÂM
phía bên trái cũng có một bức hoành phi bốn chữ Hán:
叢 林 大 樹 TÒNG LÂM ĐẠI THỌ.
III.2.6. Đông lang và tây lang
- Đông lang là phía bên phải ở ngoài nhìn vô chánh điện. Phía này có 2 dãy lầu. Dãy trước 1 trệt 1 lầu. Tầng trệt phía trước dùng làm văn phòng của chùa, phần sau và toàn bộ trên lầu làm phòng ở của chư Tăng. Diện tích dãy lầu này rộng 11m, dài 24m, xây xong năm 1966.
Dãy lầu phía sau là thiền thất 1 trệt 1 lầu, rộng 6m, dài 11m, xây xong năm 1970. Dãy này dành riêng cho chư tôn Hòa thượng ở. Trước năm 1975, có Hòa thượng Đệ I Tăng thống ở. Sau năm 1975, Hòa thượng Thích Thiện Minh ở. Hiện tại Hòa thượng Thích Trí Quang đang ở.
- Tây lang là phía bên trái chánh điện. Từ phía Tam quan nhìn vào tuần tự như sau: Dãy thứ nhất 1 trệt 1 lầu, rộng 7m, dài 15m, là nhà để hài cốt Phật tử. Tầng lầu hai có ngôi tháp nhỏ 3 tầng thờ hài cốt chư Tăng. Dãy này xây xong năm 1972. Dãy lầu kế tiếp 1 trệt 1 lầu, rộng 11m, dài 24m, xây xong năm 1976. Tầng trệt làm giảng đường, tầng lầu làm phòng chư Tăng ở.
Tượng Phật Nhập Niết Bàn Tại Giảng Đường
Dãy nhà sau giảng đường 1 trệt 2 lầu. Tầng trệt, một nửa trước làm kho và phòng để xe gắn máy của Tăng sinh; nửa sau làm phòng ăn của Phật tử. Tầng lầu một là phòng ở của chư Tăng. Tầng lầu hai là thư viện và lớp học. Sau nhà ăn của Phật tử là nhà bếp, phòng trai soạn khá rộng rãi thoáng mát, đầy đủ tiện nghi.
III.2.7. Tam quan
Tam quan đúc bê tông cốt thép, cổ lầu, được xây xong năm 1986. Có 3 cửa. Cửa giữa thường xuyên đóng, cửa hai bên mở suốt ngày đêm, vì ngoài tam quan có tường bao bọc và cổng ra vào bảo vệ rồi. Cổng tam quan chia thành hai khu vực: Sân ngoài cho xe hơi ra vào và đậu lại ở đó. Sân trong để cây cảnh, có rất nhiều cây cảnh quý như: mai, mai chiếu thủy, trắc bá diệp, sa la, nguyệt quế... tạo ra môi trường sinh thái hài hòa và quang cảnh thiên nhiên đẹp.
Cổng Tam Quan
- Phía ngoài:
Tầng trên thờ ngài Hộ Pháp, có hai câu đối chữ Hán:
衛 伽 籃 而 清 凈,
護 佛 法 以 場 存.
Vệ già lam nhi thanh tịnh,
Hộ Phật pháp dĩ trường tồn.
Tầng dưới có bốn câu đối chữ Hán:
廣 開 方 便 門 善 闡 蹭 伽 普 健 法 幢 于 處 處,
香 遍 莊 嚴 土 茲 培 道 樹 高 僄 德 本 於 重 重.
道 無 頓 漸 非 實 非 權,
理 絕 兩 邊 即 心 即 物.
Quảng khai phương tiện môn thiện xiển tằng già phổ kiến pháp tràng vu xứ xứ,
Hương biến trang nghiêm độ tư bồi đạo thọ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng.
Đạo vô đốn tiệm phi thật phi quyền,
Lý tuyệt lưỡng biên tức tâm tức vật.
- Phía trong:
Tầng trên thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn, có hai câu đối chữ Việt:
Nghìn mắt sáng soi bao ước nguyện,
Nghìn tay cứu vớt vạn nguy nan.
Tầng dưới có bốn câu đối chữ Hán:
佛 門 廣 大 出 入 隨 緣
自 他 兼 利 入 不 二 門
空 地 莊 嚴 色 香 不 異
真 俗 互 融 闡 第 一 義
Phật môn quảng đại xuất nhập tùy duyên,
Tự tha khiêm lợi nhập bất nhị môn.
Không địa trang nghiêm sắc hương bất dị,
Chơn tục hỗ dung xiển đệ nhất nghĩa.
Tam quan là cổng vào chùa được thiết kế ba lối vào, theo tinh thần giáo lý Phật giáo tam quan có ba ý nghĩa:
Không quan có ý nghĩa xét sự vật đều không có thật tính, thật tướng, mọi pháp vốn không. Thể hiện tư tưởng về tánh không trong Phật giáo.
Giả quan có nghĩa xét sự vật, các pháp đều biến hóa, giả tạm, vô thường. Thể hiện quan điểm vô thường trong giáo lý Phật giáo.
Trung quan có ý nghĩa quán sự vật theo tư tưởng trung đạo trong giáo lý Phật giáo. Nhiều chùa thiết kế theo hai cổng vào gọi là nhị quan, hoặc năm cổng vào gọi là ngũ quan .
III.2.8. Bảo Tháp
Quảng Hương Gìa Lam có hai ngôi bảo tháp:
Tháp thứ nhất, có 3 tầng nằm trên lầu ba của dãy nhà thờ cốt phía Tây lang, đây là tháp thờ cốt chư Tăng.
Tháp Thờ Cốt Chư Tăng
Tháp thứ hai là tháp của Hòa thượng khai sơn, cao 7 tầng nằm phía Đông lang, gần hậu Tổ và thiền thất, xây xong cuối năm 1984. Nhục thân Hòa thượng khai sơn nằm trong kim quan bằng gỗ Giáng Hương; kim quan lại nằm trong kim tỉnh xây gạch. Trên nắp kim tỉnh có tượng Phật A Di Đà đứng cao 3m20. Tháp xây bằng đá chẻ, tứ giác, bảy tầng, đường nét rất nghệ thuật, quang cảnh thật hùng vĩ, kết hợp chan hòa sắc thái Việt Nam và mẫu hình kiểu kiến trúc của Phật giáo phương Nam. Bảo tháp được tôn trí sau chánh điện về phía phải (từ ngoài nhìn vào) song hàng với Tổ đường, chệch về phía phải ngôi nhà lưu tàng vật kỷ niệm của Hòa thượng khai sơn. So với toàn khuôn viên của chùa, khuôn viên của tháp chiếm khoảng 1 phần 8 diện tích.
Mặt tháp quay về hướng Tây. Khi vào cổng tam quan, đi qua dãy lầu phía tay phải, có vẻ sâu hun hút, chúng ta nhìn thấy bảo tháp bảy tầng. Trước tháp là một sân rộng tráng xi măng, với hai cấp đủ cho khoảng 500 Phật tử đứng hành lễ. Sân được trang trí với nhiều chậu cây kiểng, hoa lá và bồn cây, như mai , trắc bá diệp, sa kê, nguyệt quý.
Tháp Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Tháp cao 7 tầng, khoảng 10 thước tây, uy nghiêm đẹp đẽ, nhưng khiêm nhường, thanh nhã. Châu tháp hình vuông rộng 9 thước tây, cao 9 tấc. Chung quanh chân tháp xây bằng gạch thẻ, ngoài gắn một lớp đá chẻ hình chữ nhật, màu xanh, kẻ mạch.
Trên nền tháp bao quanh bằng một lớp tường cao 6 tất, tô đá rửa màu xi măng đen. Khoảng giữa ba phía tường (sau và hai bên ) có chậu xi măng gắn liền với tường, hình chữ nhật, rộng 5 tấc, dài 1 thước 3 tấc trồng sứ Thái Lan, hoa màu đỏ, tết đến khoe sắc với mai vàng.
Bốn góc tường là bốn trụ vuông, mỗi bề 5 tấc, trên gác bốn đèn chậu cũng bằng xi măng đen. Tường phía trước bảo tháp, cao giống tường ba phía, nhưng hai đầu không nối liền với trụ. Hai khoảng trống là hai cấp thang lên nền tháp, với năm cấp, rộng 9 tấc và bốn con kỳ lân chồm về phía chân thang. Giữa lòng tầng một của bảo tháp là tượng Phật A Di Đà, cao 1 thước 2 kể cả đài sen, do Hòa thượng thỉnh từ hồi còn sinh tiền.
Tượng Phật Di Đà Trong Tháp
Trên tầng một của tháp là sáu tầng tháp hình dáng cổ lầu, được bóp dần để có hình tháp nhọn. Đỉnh tháp là hình tháp Xá lợi, kiểu Nam truyền. Thân tháp toàn láng bằng xi măng. Các góc tháp nơi cong, có hình đầu long phụng. Các, hình rồng, phụng, lân mang ý nghĩa kiến trúc cổ truyền của đình chùa Việt Nam.
Con số bảy tiêu biểu, theo truyền thống Ấn Độ. Bảy tầng tháp tiêu biểu cho lý tưởng siêu tuyệt viên mãn tối thượng của Đức Phật. Số tầng tháp xây cho các vị sư, tiêu biểu cho đức hạnh của vị sư viên tịch. Vào thời phong kiến, các Hòa thượng, Tăng và Trú trì được xây tháp từ 5 tầng đến 7 tầng. Còn những vị sư bậc dưới có thể xây từ 1 đến 3 tầng.
Bảo tháp tại Tu viện Quảng Hương Già Lam được khởi công xây dựng sau ngày cúng thất và hoàn chỉnh hình thành trong ngày đại tường của Hòa thượng, năm 1986.
Bia tưởng niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ
Hòa-thượng họ Nguyễn, húy Văn Kính, Pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu (1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. 17 tuổi xuất gia, 20 tuổi thọ cụ túc giới, tự pháp đời thứ 48 phái thiền Lâm Tế .
Với chí nguyện thượng cầu hạ hóa Hòa thượng là một trong những vị đi đầu trong các cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà. Mở nhiều Phật- học viện, trùng tu nhiều phạm vũ, khai sơn Quảng Hương Già Lam, mở nhiều đại giới đàn và phiên dịch giảng giải Kinh, Luật, Luận, Hòa-thượng không ngừng tiếp dẫn hậu lai cho Tăng tín đồ được nhờ ơn pháp vũ.
Bia Tưởng Niệm
Xuất thế tinh chuyên đã vậy, nào quên nhập thế độ sinh. Dầu tuổi già chẳng ngại đến thân, hạnh Phổ- Hiền lợi đời lợi đạo. Biết thế sự lắm phen khe khắt, tâm hồn luôn hoan hỷ bao dung. Mãn cơ duyên tứ đại trả về đây. Song thọ Ta la chúng sanh truy niệm: Như thị chân, như thị huyễn, Như thị công đức trang nghiêm. Hòa thượng viên tịch ngày mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý 1984. Tháp bia hình thành 19. 9 Ất Sửu 1985.
IV. Hoạt động của chùa
IV.1. Tu học
Về tu học mỗi thành viên phải tuân giữ giới luật mà mình đã thọ, ngoài ra cũng phải tuân thủ theo nội quy của Tu viện đề ra. Về vấn đề tu học Tu viện lấy việc tụng kinh lễ sám làm cơ bản. Có 6 thời tụng kinh và lễ sám trong một ngày: khuya 4:00 lạy theo nghi thức lễ sám của Hòa thượng khai sơn, 4:45 tụng kinh Lăng Nghiêm, 10:30 cúng ngọ và cúng linh, 16:00 công phu chiều, 19:00 tụng kinh tối, 21:00 tọa thiền. Riêng 3 tháng an cư còn có thêm hai thời tụng kinh: sáng 7:30, chiều 14:30 và lễ cúng nghi thức quá đường thọ trai buổi trưa theo truyền thống. Mỗi tháng có 2 ngày Bố tát là ngày 15 và 30, hai ngày tụng kinh Di Giáo và lạy thù ân là 14 và mùng một. Tăng chúng Già Lam sống và tu học trên tinh thần cởi mở, tự do, khép mình trong nền tảng của giới luật và biết tôn trọng nếp sống kỉ cương, nội quy của Tu viện. Hằng ngày Tăng chúng thường sách tấn nhau tu học. Mỗi chủ nhật cuối tháng, Tăng chúng họp để kiểm điểm các ưu khuyết trong quá trình tu học cũng như công tác hằng ngày .
IV.2. Văn hóa giáo dục
Về văn hóa, Tu viện có một phòng phát hành kinh sách, một thư viện sách rất lớn và đầy đủ các loại sách nghiên cứu. Toàn bộ Kinh sách để tại Thư viện. Đại tạng kinh gồm có: bộ Đại Chánh Tân tu, Tục tạng, tạng Càn Long, Đại tạng Nhật Bản, Đại tạng Đại Hàn, Đại tạng Việt Nam, Tạng Pali. Các kinh, sách chữ Hán, chữ Phạn, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt v.v… trên ngàn cuốn.
Về giáo dục, Tăng sinh ở Tu viện hiện nay phần lớn đang theo học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài chương trình nội điển, Tu viện luôn tạo điều kiện thuận lợi cho học Tăng có cơ hội học tập các chương trình khác để làm phương tiện phục vụ công việc hoằng pháp sau này như ngoại ngữ, vi tính hay các chuyên môn cần thiết khác. Ba tháng an cư kiết hạ, chư Tăng còn được học thêm 4 môn: Luật Tỳ kheo, nghi lễ, kinh Lăng Già và tiếng Sanskrit. Nhìn chung, điều kiện học hành cho học Tăng được quan tâm đúng mức.
IV.3. Hoằng pháp
Song song với việc đào tạo Tăng, Quảng Hương Già Lam còn lo việc tu học cho giới cư sĩ tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di bằng cách mở lớp giáo lý, khóa tu Bát quan trai, lớp học tình thương cho các con em nghèo thất học, tổ chức Gia đình Phật tử giáo dục lớp thanh thiếu niên, làm từ thiện xã hội, tặng nhà tình thương, bắc cầu, đào giếng, xây chùa, tạo tượng, đúc chuông, in ấn kinh sách, tụng niệm bái sám nguyện cầu âm siêu dương thái pháp giới chúng sanh đồng triêm lợi lạc.
IV.4. Dự Báo Phát Triển:
Ngôi tu viện Quảng Hương Già Lam được xây dựng từ thời Ôn Trí Thủ. Thời ấy nơi đây chỉ là một tăng xá để tăng sinh có nơi cư trú học tập, nên ngôi chánh điện chỉ là khu bát giác rất nhỏ, phật tử cũng ít người tới lui chiêm bái hay lễ phật.
Theo thời gian, trãi qua bao thế hệ trú trì, ngôi tự viện có sự đổi mới. Từ ngôi bát giác xây thêm phía trước và đổ thêm một tấm làm chỗ lễ bái của chư Tăng và phật tử, đó chính là nguyện vọng cũng như tạo điều kiện cho người phật tử đến chùa lễ Phật học hỏi theo tín ngưỡng. Ngôi bát giác ở tầng trệt hồi trước làm thư viện, nhưng do chư Tăng ngày ở một nhiều nên xây thêm phía tây lang một phòng dể chuyển thư viện về đó. Ngôi bát giác bây giờ là phòng chư tăng ăn cơm (trai đường).
Theo như Thượng Tọa trú trì Thích Nguyên Giác đang nhiệm. Nếu được thuận duyên trong việc xây dựng trong tương lai, thì chùa vẩn giữ nguyên theo mô hình hiện tại. Nhưng do thời trước đây như một tăng xá để chư tăng lưu trú trong việc học hành và nghiên cứu nên chánh điện hơi nhỏ. Điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng thì từ mô hình cũ ấy ta xây rộng thêm. Con người mỗi ngày một đông, vật chất kinh tế cũng phát triển theo tỉ lệ thuận với con người vì nhu cầu cuộc sống, thì vấn đề tâm linh cần phải bổ sung thêm nhiều nên việc xây dựng là điều phải làm trong nay mai.
Như thế, nếu muốn ngôi chùa trở nên khang trang thuần hóa hơn thì có cuộc cách mạng đổi mới toàn diện về ngôi chánh điện. Do cũng xây dựng trong thời kì xưa, có sự chắp vá nên không được hoàn bị, chánh điện nhỏ so với hai dãy hành lang Đông- Tây. Đây chính là điểm yếu cần có hệ thống trùng tu lại, một thiết bị có bản vẽ và có qui mô hơn nữa như thế mới hợp với khu đất của chùa cũng như hài hòa trông mô hình xây dựng.
IV.5. Dự Báo Của Giải Pháp.
Đây chỉ là dự báo trong tương lai, được hay không là tùy vào sự đóng góp vật chất của bá tánh và giấy tờ cho phép của sở xây dựng. Nhưng đây chính là ước mong của Thượng Tọa Trụ Trì cũng như phật tử. Để xây dựng một ngôi Già Lam thánh địa khang trang hơn, tiện nghi và trang nghiêm hơn trong những ngày giổ cũng như những ngay lễ vía lớn.
Già Lam Quảng Hương được phát xuất người miền trung bộ. Nên phần nhiều ảnh hưởng của ngôi chùa theo kiểu phong Huế, có một nét cổ kín, thiêng liêng. Từ kiến trúc cho đến cách sinh hoạt đều có cốt cách trầm lặng mà uy nghiêm. Lối sống không xu bồ, chánh điện cũng như phòng tăng có nét ấm cúng hài hòa trong kiến trúc. Từ những phong thái ấy mà phật tử cũng như những người vào chùa có sự khiêm cung nhã nhặn.
+ Khuyết điểm của ngôi chùa là đường xá hơi khó khăn trong lưu thông.
+ Hướng cổng tam quan không hướng ra được hướng đường
+ Chùa Già Lam hồi xưa chỉ là bát giác nhỏ nên qua thời gian được mở rộng bằng sự chắp vá nên không được như ý. Phần nhà đông lang và tây lang quá rộng so với chánh điện nên chùa có sự nhỏ bé. Trong tương lai xây chánh điện phải lớn hơn so với nhà tăng, có như thế nhìn vào chùa có sự khang trang và trân trọng. Cho nên tương lai là dự báo cần phải có nghiên cứu và bản vẽ thiết thực của ngôi Già Lam mới tạo được nét gì đó liên hoàn so với ngôi chùa có bề dày lịch sử và có nhiều vị tôn túc có giá trị và tiếng nói mạnh trong hàng tăng lữ.
+ Hai ngôi mộ cổ không thể di dời nên khi làm chùa hay sinh hoạt có hơi khó khăn. Thế nhưng:
Đây là ưu điểm cũng như nết văn hóa cổ truyền của phật giáo. Một ngôi chùa lí tưởng, một môi trường hoàn bị cho những tăng sinh trẻ từ tỉnh lên thành thị học tập. Nếu nói là khuyết điểm thì chùa nào cũng có. Nhưng so sánh tất cả các ngôi chùa đang hiện tại ở thành phố thì ngôi TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM là một ngôi chùa rất hợp với như chí nguyện của Tiếp tăng độ chúng.
C. Kết Luận
Ngôi chùa với mái ngói đỏ, cổ kính rêu phong, với hình ảnh uốn cong vươn lên nền trời và tiếng chuông ngân nga khoang nhặt; nó không những là một thực tại sinh động, như để lắng đọng, xoa dịu những tâm hồn lạc lõng, mà còn là biểu tượng của nghệ thuật, khơi gợi vô vàn cảm hứng sáng tác cho những tâm hồn mẫn cảm với thi ca, nặng tình với quê hương, đồng bào ruột thịt; và cũng là nếp sống muôn đời của tổ tông, nếp sống đạo đức, ươm mầm trí tuệ.
Chuông vẫn nao nao nhớ lạ lùng,
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung,
Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Tu viện Quảng Hương Già Lam hiện diện giữa đất Sài Gòn Gia Định hôm nay bắt nguồn từ hoài bảo đào tạo Tăng tài, phụng sự đạo pháp và dân tộc của cố đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ. Nương nhờ tâm nguyện ấy của Ngài, học Tăng mọi miền về đây lưu trú để tu tập và theo học các trường. Trải qua 45 năm, với bao thăng trầm, thịnh suy của cuộc thế, đến hôm nay, Quảng Hương Già Lam luôn cố gắng để xứng đáng với tâm nguyện của cố đại lão Hòa thượng khai sơn, đưa Quảng Hương Già Lam đi vào sinh hoạt theo nề nếp Tăng già và tạo điều kiện thuận tiện cho Tăng chúng tu học.
SÁCH THAM KHẢO
1. Võ Văn Tường, Danh Lam Việt Nam. TP. Hồ Chí Minh 2007
2. Nguyễn Bá Lăng, Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam. Viện Đại Học Vạn Hạnh PL.2516
3. Nội San Quảng Hương số 1. PL.2549 – DL.2005
4. Nội San Quảng Hương số 2. PL.2550 – DL.2006
5. Đặc San Về Cội. PL.2552 – DL.2009
6. Trần Hồng Liên, Phật Giáo Ở Thành Phố Hồ Chí Minh. NXB Tổng hợp TP. HCM, 2007
7. Phan Quang Định (dịch) Tìm Hiểu Mỹ Thuật Phật Giáo. NXB Mỹ thuật 2005
8. Thích Thiện Minh, Trần Văn Huân (dịch), Nghệ Thuật Và Kiến Trúc Phật Giáo. NXB TP. HCM, 2000
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét