THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

THI SĨ BÙI GIÁNG MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT CÕI THƠ

MỤC LỤC: I. LỜI DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG : 1. CHƯƠNG MỘT: 1.1. Chênh vênh giữa hai thái cực: 1.2. CUỘC ĐỜI: 1.3. DỊ BIỆT: 1.4. ĐI VÀO CÕI THƠ BÙI GIÁNG: CHƯƠNG 2: 1. THƠ VÀ LÝ TƯỞNG: 1.1. một Cõi xuân trong thơ Bùi Giáng: 1.2. Phật giáo trong thơ Bùi Giáng: III. NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA BÙI GIÁNG: IV. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO THI SĨ BÙI GIÁNG MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT CÕI THƠ I. LỜI DẪN NHẬP: Thi ca chính là trò chơi của ngôn ngữ, nhưng cũng giống như biết bao trò chơi khác trên mặt đất tưng bừng hương sắc này đã khiến con người ta lao tam khổ tứ, nó đã đưa kẻ chịu chơi kia bước vào những trận cuồng phong bão tố của tâm hồn. Còn hơn thế nữa, nó lại là trò chơi Thế Mệnh dẫn dắt thi sĩ vượt qua từng cấp độ tâm linh, thường xuyên bức bách kẻ chịu chơi kia phải đối diện chính mình giữa từng trạng huống, giữa những chiều sương phai tịch hạp hay giữa thị thành vàng tím đỏ xanh. Bùi Giáng là một hiện tượng nổi bật của văn học miền Nam nói riêng, cả nước nói chung gần nửa thế kỷ qua. Ông được biết đến không chỉ ở tài thơ lẫy lừng, sự quảng bác, trí năng quán thế của mình, mà còn ở chính con người, đời sống phiêu hốt đến kỳ bí có một không hai trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi Bùi Giáng gắn liền với những giai thoại, vô số những giai thoại, chắc chắn nhiều thế hệ sau này sẽ còn nhắc đến. Bùi Giáng - người thơ, không ở trong trạng thái bình thường cả tâm hồn lẫn nghệ thuật. Sự đòi hỏi về mình, cho mình cái tuyệt đối trong sáng tạo là yếu tố căn bản cho mỗi cá nhân làm văn học, nghệ thuật. Tuyệt đối, con người từ vạn cổ đã đi tìm tuyệt đối. Nhưng tuyệt đối cũng như chân lý, chúng không phải vật thể để con người có thể dùng mắt nhìn, dùng tay sờ, dùng trực giác phán đoán và phân tích chúng qua suy luận. Tuyệt đối là vô hình, vô ảnh. Nó sống do mơ ước, cũng chết theo mơ ước! Cũng chính vì con người ham tìm tuyệt đối nên mới nảy sinh tiến bộ. Cái tuyệt đối biến mất, và trở thành tương đối lúc con người tưởng rằng đã tới nó. Vậy, cái điều thi nhân mơ ước giữa cõi Thơ, đi tìm tuyệt đối trong tư tưởng, ngôn ngữ, mãi mãi chỉ là thất bại! Trăm năm Trăm năm gian khổ trường kỳ Tình yêu gian khổ thuận tùy phút giây Buồn vui chất chứa mỏi mềm Chất chồng chất ngất ngày đêm chán chường II. NỘI DUNG : 1. CHƯƠNG MỘT: 1.1. Chênh vênh giữa hai thái cực: Có khi ông như một kẻ lãng du phiêu bồng coi cuộc đời là một chuyến rong chơi bất tận, có khi ông lại như một bậc thi ca đạt đến tầm nhà thơ của những nhà thơ, có khi ông lại toát ra vẻ hiền triết… và có lúc ông trở về với trạng thái của một người chếnh choáng trong cơn điên đời… Ông chính là nhà thơ Bùi Giáng, một Hoàng Tử Bé từng để lại dấu ấn với nhiều người dân Sài Gòn một thuở. Ở đời chút kỷ niệm cỏ thơm Ở đời sáng uống cà phê Quán trong hẻm nhỏ như quê quán nhà Ngoại ô thành phố phồn hoa Ấy Sài - Gòn, ấy thiết tha bấy chầy Phồn hoa nô nức lắm thay Càng hăm hở lắm càng ngây thơ nhiều …Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa… Vì có lẽ Em đi tới một tương lai xa hút Anh già nua ngồi lặng lẽ chắp tay Từng kỷ niệm mấy chục năm tê buốt Ngồi bên đường chờ đợi bóng mây bay Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa. 1.2. CUỘC ĐỜI: Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 [Bính Dần] tại làng Thanh Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Họ Bùi nguyên gốc ở Nghệ An, sau dời đến Quảng Nam lập nghiệp kể từ đời Hậu Lê, quy tụ bao quanh các xã Vĩnh Trinh, Lệ Trạch, Cù Bàn, An Lâm, Cổ Tháp và Thành Châu. Tổ đình họ Bùi đặt tại Thủ Đức. Cha Bùi Thuyên thuộc đời thứ 16 dòng họ Bùi ở đây. Do người vợ cả qua đời sớm, Bùi Thuyên lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiều. Bùi Giáng con thứ hai của Bùi Thuyên và Hà Thị Kiều, nhưng là con thứ năm nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, Bùi Giáng được gọi theo cách gọi miền Nam, Sáu Giáng. Cha ông là Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiều. Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiều, nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng. Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu. Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn. Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa. Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Đào Duy Anh. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành chung. Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh. Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử tới Hà Tĩnh để tiếp tục học. Từ Quảng Nam phải đi bộ theo đường núi hơn một tháng rưỡi, nhưng khi đến nơi, thì ông quyết định bỏ học để quay ngược trở về quê, để đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước. Ông tinh tường về Anh, Đức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Anh, tiếng Đức lúc nào, nhưng khi nghiên cứu triết học Đức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và "trí quên" rất độc đáo. Quên của ông cũng là một hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại. Giáo sư Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài " Nhớ Về Ba NgườI Em LỗI Lạc" trong giai phẩm Quảng Đà 94: " Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Giáng cũng mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa". " Với tất cả Bùi Giáng" của Trần Phong Giao, Bùi Giáng lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu và chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông. Đó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của " người thầy cũ và cũng là người anh" thiếu chính xác dấu ấn trong giai đoạn 9 năm "kháng chiến" đã ảnh hương sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia "kháng chiến" theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn…" Sau 3 năm "chia cằt" đất nước, phân ranh Quốc-Công, ông mới chọn lựa ranh giới giữ hai miền. Bài thơ "nỗi lòng Tô Vũ" của ông đã ghi" kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê nơi núi đồi miền Trung Việt". Không bao giờ muốn và để ai đề cập "tiểu sử", theo ông "Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn". Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt. Tặng Đất. Quốc sắc thiên hương đắp đọa đày Đọa đày quốc sắc chi cho lắm Ý trời vô tận vói hụt tay Chỉ riêng tình đất tôi sờ được Bài thơ tặng đất mỏng như dày Chính sự kín đáo trong đời sống tình cảm riêng tư của Bùi Giáng khiến cho những ai muốn tìm hiểu về gia thế của ông để mong, qua cuộc đời, có thể giải mã một số bài thơ đều thất vọng. Bùi Giáng chẳng bao giờ muốn đề cập đến thân thế sự nghiệp vì theo ông thì “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa ly kỳ gay cấn”. Vậy thì việc tìm hiểu của chúng ta có làm trái ý nguyện của thi sĩ quá cố chăng? 1.3. DỊ BIỆT: Nói tới thơ Bùi Giáng là nói tới một thể điệu ngôn ngữ kỳ lạ, dị thường, vừa chân phương đằm thắm thiết thân thiết cốt, vừa dữ dội, xô ùa, đùa giỡn, dặt dìu, lay lắt cơn gió phù du cát bụi dưới trời trăng hóa hiện, cưỡng bức ngữ điệu ngôn thanh về phương trời khác. Gọi như thế kể cũng không ngoa lắm, bởi Bùi Giáng đã được người đời dành cho nhiều tên gọi, thích hợp với lối sống, cử chỉ, thái độ...thậm chí tới tư tưởng của Bùi Giáng: Thi Sĩ Kỳ Dị, Nhà Thơ Siêu Hình, Nhà Thơ Điên - thực sự không phải vậy mà đó chỉ là tâm trạng bi đát của một người thơ bị bủa vây khốc liệt - thích khoác lên mình vẻ trang nghiêm đạo mạo của một ngôi sao sáng trên vòm trời văn học miền Nam trước đây. Bùi Giáng một nhà thơ, dịch giả và nhà nghiên cứu văn học có hàng loạt biệt danh trào lộng do thiên hạ đặt cho như : Trung Niên Thi Sĩ, Brigitte Giáng, Giáng Monroe, Đười Ươi Thi Sĩ, Bùi Bê Bối, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê...Bùi Giáng còn được thiên hạ gọi: Bùi Hiền Sĩ, Bùi Tiên Sinh, Bùi Chân Không, Ban Chủ Cái Bang, Quái Vật Linh Thiêng, Bùi Giáng Chủ, Bùi Số Dách, Bùi Văn Chiêu Lỳ...chứng tỏ bản thân Bùi Giáng, sự tồn tại của Bùi Giáng đã không khác một hiện tượng cà rỡn, và khi Bùi Giáng điên, tưởng cũng là một sự cà rỡn mà chỉ Bùi Giáng mới rõ. Uống ly rượu Uống ly rượu cuối cùng này Gẫm bao ngày tháng đã dày công phu Công lao dai dẳng trầm phù Xiết bao tuế nguyệt đắp bù tháng năm Đền bù xiết kể bao lăm Đáp đền muôn một trăm năm dại khờ Khờ như dại , dại như thơ Dại không biết thẹn trơ trơ điên cuồng Tuổi giờ đã xế bóng buông Xế chiều đủng đỉnh không buồn không vui Xưa nay dư luận có nhiều người nghi vấn: Bùi Giáng có mắc bệnh điên hay không ? Có nhiều bài đề cập đến vấn đề này, trong đó có người khẳng định Bùi Giáng điên, trong khi một số khác đã quan niệm trái ngược. Nhà văn Trần Đới xác định: "Một sự thực là Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi Giáng bất mãn trước bất cứ thời thế nào. Bởi lẽ dễ hiểu Bùi Giáng chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cõi văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà người ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó...Bây giờ người thi sĩ này chỉ còn một cách duy nhất để sáng tác nguồn cảm hứng kia là sống." Không ai biết Bùi Giáng, đọc Bùi Giáng mà không mến mộ Bùi Giáng. Sự thật là vậy. Cho rằng Bùi Giáng tỉnh cũng được, điên cũng được, mà tỉnh hay điên thì Bùi Giáng cũng đã để lại cho đời những vần thơ trác tuyệt. Bùi Giáng mở ra một thế giới thi ca ảo diệu. Có người may mắn được gần gũi với Bùi Giáng đã phát biểu: "Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Ta nghĩ thầm nếu có được thêm ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta còn được lạ lùng, kỳ ảo biết bao nhiêu" . Lập luận này thiết nghĩ cũng không đến nỗi ngoa lắm. Vì có lẽ Rồi có lúc ngẫu nhiên em chợt thấy Rằng anh điên như từng đã điên rồi Vì điên ấy là triều vui tràn giậy Ngập bến bờ của tình mộng chia trôi 1.4. ĐI VÀO CÕI THƠ BÙI GIÁNG: Tới nguồn thơ Bùi Giáng thể điệu thi ca mới đầy phép lạ. “Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời”, là nhịp cầu khói sương vời vợi nối kết giữa đôi bờ càn khôn tịch hạp. Trên lối về ngôn ngữ của Tương Ứng Mở phơi, bước đi của ngôn ngữ, tư tưởng thi ca Bùi Giáng trên một tiếng gọi sơ đầu, một tiếng gọi Tái Tân Thanh nào ở cuối nẻo đoạn trường dâu biển, cũng tự lòng người mà ra, để bước về với cuộc tắm gội phục sinh, được thị hiện giữa trùng điệp ngữ ngôn. Câu hỏi mở ra chắc chắn không có lời đáp. Bởi vì, thơ đích thực là tiếng gọi sơ đầu đã mất “tâm tình một nẻo quê chung”, “là tiếng vượn trầm nơi rừng sâu”. Là thanh âm của vầng trăng in soi trong dòng nước chảy. Nước chảy vì đã chảy. Như Khổng Tử nói rằng: “Thiên hà ngôn tai!-Trời có nói gì đâu”. Tiếng gọi sơ đầu được nghe lại, dội lại trong tâm tình của hòa âm, tương ngộ. Mưa nguồn hòa âm. Thơ từ đó là tiếng lòng mở phơi tương ứng, là cái không nghĩ bàn, bất khả suy tư. Thơ Bùi Giáng là nếp gấp bất tư nghì của Vô ngôn. “Nhân gian tận kiến thương sơn hữu Thùy thính cô viên đề xứ thâm” (Tuệ Trung Thượng Sĩ) Nhân gian thấy tận ngàn non sáng Ai nghe u xứ vượn u u. (Bùi Giáng dịch) - Ngồi đây nói chuyện Lúc trời cao thổi gió xuống xanh nguồn Lời sẽ câm trên miệng Những nơi nào còn hơi thở luôn luôn. - Bình minh thơ dại hai môi Lời chưa nói cũng là lời đã trao. (Mưa Nguồn-Bùi Giáng). Ngôn ngữ thi ca Bùi Giáng vừa đầy ẩn ngữ lai rai ngàn thu rớt hột, vừa lộng lẫy, tưng bừng cuộc rong chơi tang bồng, thần thông du hí tam muội. Đó là cõi thơ mở phơi với những tâm hồn đồng điệu. Là cõi thơ ngàn thu rớt hột, cho nên ta lắng nghe và nghe ra bản hòa âm trong bất tận của lịch sử dị thường, tức là thời gian, hữu thể và hư vô, bụi hồng lẽo đẽo, giọt dài ly biệt đều sang trang, mở lòng, mở cõi: Ta nghe ra điều gì? Một sự mới lạ nào không ngừng bừng hiện. Như đóa sen im lặng tương giao, tương ngộ ở đó và tỏa nở chừ đây. Đây đó là gì? Là lời rằng suốt cõi, là con đường chào nhau, nối kết cõi bờ, núi sông hòa chan giữa lòng người trên lối về cố quận. Từ đó, thi ca Bùi Giáng đi về trùng ngộ với vằng vặc bất khả diễn bày, của Nhật Nguyệt hằng soi, bày tỏ, nhiếp dẫn một cõi bờ lưu không không xứ trong suốt một cõi niềm thương yêu không bờ bến, với tâm tình phụng hiến, dâng tặng nguồn ẩn mộng bi tâm, mật hạnh bát ngát Bồ-tát mẫu thân. Chạm vào thơ Bùi Giáng là chạm vào thế giới âm thanh đìu hiu, phiêu hốt, lẫm liệt, đầy hoang vu của lòng mình, như hạt mưa chan chứa giữa lòng cỏ hoa. Ấy là điệu thở phiêu bồng, đầy chiêm bao hòa chan cát bụi, là ẩn ngữ u mật giữa dòng hiện sinh, là cỏ hoa điều ngự mà phơi phới phong nhiêu giữa Tồn lưu, là nghe xa vắng một âm thanh khác, một cung đàn thiên thu, một bờ bến khác, “của ban sơ hoài vọng giữa nhân gian”, là hiện thể giữa dòng sông cỏ hoa thường tại. Là tiếng nói đích thực giữa lòng mình, “Trăm năm trong cõi người ta”. CHƯƠNG 2: 1. THƠ VÀ LÝ TƯỞNG: 1.1. một Cõi xuân trong thơ Bùi Giáng: Những tác phẩm của Bùi Giáng rất nhiều nhưng nỗi bật nhất là tập thơ Mưa nguồn và những hình ảnh mùa xuân trong thơ ông. Người đọc như lạc vào vườn xuân với những nét xuân khác nhau theo từng cung bật cảm xúc của tác giả. Đó là cõi riêng của ông và cũng là niềm tin của ông. Ông tin tưởng vào muà xuân vì đó là một mùa đẹp nhất trong một năm và mùa xuân cũng là mùa hạnh phúc. Mùa xuân trong thơ ông đối với thời gian là vô cùng và không gian là vô tận. “Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích”. (Bờ xuân,Mưa nguồn, tr.38-39) Ông sử dụng nhiều điệp ngữ “xuân”“xuân bữa trước, xuân bữa sau, xuân bốn bên”. Dụng ý ở đây muốn nói lên một mùa xuân miên viễn, lòng ông lúc nào cũng tràn ngập mùa xuân. Dù trong vòng chu kỳ của một năm chỉ có ba tháng mùa xuân, xuân đi rồi xuân sẽ trở lại, nhưng mấy ai cảm nhận được xuân từng “bữa” như ông. Phải chăng ông xem xuân giống như những “bữa ăn” cho nên ông tận hưởng được mùa xuân ấy trong từng “bữa” đó là thời gian, còn không gian là “xuân bốn bên” nghĩa là nơi nào cũng có mùa xuân cả. So với xuân của chu kỳ trời đất, xuân của Bùi Giáng hiện hữu trong giờ phút hiện tại và vây hãm, tấn công nhưng nó lại mang đến cho ông một hạnh phúc. Ngôn từ rất Bùi Giáng, mấy ai nói xuân “vây hãm tấn công” bao giờ. Chỉ có Bùi Giáng mới thế, ông có “điên” trong ngôn ngữ hay không điều đó không biết nữa. Chỉ có ông mới hiểu nỗi cái ngôn ngữ của ông. Dù không biết ông có “điên” hay không nhưng nếu tinh ý ta vẫn thấy ông “hạnh phúc” trong mùa xuân mà ông cảm nhận. Khác với mùa xuân của trời đất theo chu kỳ ba tháng trong một năm, còn xuân của ông là từng “bữa” cái “bữa” đó ông đã thưởng thức nó trong niềm hạnh phúc thẩm sâu vào trong tận hồn ông, mà nói rõ hơn là cảm nhận bằng “Tâm”. Giống như những câu thơ trong bài thơ Nguyên Đán của nhà thơ Xuân Diệu: “Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi xuân đến đã lâu rồi Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.” Không những ông tận hưởng mùa xuân trong cả không gian và thời gian mà còn tin vào một mùa xuân miên viễn như tin một cánh én sẽ báo tin một mùa xuân đang về. Hình ảnh chim én bay, báo hiệu mùa xuân cho nhân loại. Đây là một niềm vui chung chứ chẳng phải riêng một mình ông. Khi chim én về báo hiệu mùa xuân đến, xua tan đi mùa đông đầy băng tuyết giá lạnh để cho những cây khô nẩy lộc đâm chồi: Én đầu xuân tuyết đầu đông Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa.(Mưa nguồn, tr.62) Ông đồng cảm nghĩ với nhạc sĩ Văn Cao, trong ca khúc Xuân đầu tiên của Văn Cao có đoạn: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về…” Xuân đến lòng người ai lại chẳng vui, ai chẳng nao nức, ai chẳng muốn gặp lại cố nhân, những người đã xa vắng từ bao giờ. Xuân về cho lòng người một cảm giác ấm cúng, thân thương, khó tả: Mùa xuân hẹn thu về em trở lại Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại Với dòng trong em hẹn ở bên đường Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa Mùa xuân hẹn thu về em trở lại Bên đời đi còn giữ mãi hay không Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng. (Về cố quận, Mưa nguồn, tr.61) Những câu thơ của ông thật lạ, không giống như những mùa xuân của thiên hạ hay tả là mùa xuân có bướm có hoa. Mùa xuân của Bùi Giáng là “hạnh phúc” mà hạnh phúc của ông chỉ trong những câu nói bỏ lững, chính vì vậy ta mới thấy ông cảm nhận ở “Tâm: “Thuở xưa kia…bờ nước ấy xưa kia” Câu thơ không mang một nội dung gì cả, “thuở xưa kia” là thuở nào, xưa là từ bao giờ, “bờ nước ấy” là bờ nào, rồi lại nhắc thêm một lần “xưa kia” nữa. Phải chăng mùa xuân của ông là một sự hoài niệm, khắc khoải, chờ đợi, hay là mơ ước cho một mùa xuân đẹp sẽ đến khi ông khát khao một nàng thơ nào đó sẽ trở về. Nhưng dù thế nào thì ông cũng cảm nhận được hạnh phúc trong mùa xuân của mình. Ông đã sớm linh cảm rằng cuộc đời của ông chỉ xoay vòng trong một tọa độ mà tọa độ đó được xác đinh bởi không gian “Cố quận” và thời gian “Nguyên xuân” đễ đến nổi ông phải thối lên rằng: Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay Chợt có lúc hai chân dừng một lượt Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này. (Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82) Mùa xuân trong thơ ông có lúc đã rất vui, rất hạnh phúc, nhưng cũng lại có mùa xuân đau đớn, tái tê thể hiện qua câu: “Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay”. Cỏ đẹp thế, mùa xuân đẹp thế nhưng bị giẫm nát lúc nào không hay biết. Phải chăng ông đã rất đau đớn một điều gì đó, tâm hồn ông đã giằn xé hay xót xa cho kiếp cỏ cây hay cho thân phận con người. Với ý nghĩ này Trịnh Công Sơn cũng xót xa cho thân phận của “cỏ” qua ca khúc Cỏ xót xa đưa: “Trên đời người trổ nhánh hoang vu Trên ngày đi mọc cánh lá mù Những tim đời đập lời hoang phế Dưới mặt trời ngồi hát hôn mê Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa.” “Cỏ” trong thơ của Bùi Giáng cũng như trong nhạc của Trịnh Công Sơn đều đau đớn như nhau. Cỏ như thân phận kiếp người cũng bị con người chà đạp, cỏ cũng biết xót xa biết tủi nhục, biết tái tê, biết rơi lệ. Như vậy, mùa xuân trong câu thơ này của Bùi Giáng cũng u buồn, chứ đâu phải mùa xuân trong câu thơ nào của ông cũng vui. Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào (…) Người viết mãi một màu xanh cho cỏ Người viết hoài một màu cỏ cho xuân… (Bài ca Quần Đảo, tr.22-23) Với thơ ông, mùa xuân của đất trời hay xuân trong lòng thì cũng có lúc xuân buồn, cũng có lúc xuân vui, có lúc xuân hạnh phúc nhưng cũng có lúc xuân xót xa. Có những mùa xuân đã qua đi không bao giờ trở lại nhưng cũng có những mùa xuân ở mãi trong lòng ông. Rồi suốt một đời, ông đã ấp ủ một mùa xuân và ông vẽ cho chính mình một chân dung chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân. Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ (Bài ca Quần Đảo, tr.11) Không biết năm mười sáu tuổi đã xảy ra biến cố gì trong cuộc đời ông mà bến xuân trong ông đã chìm tắt? Điều đó cũng chẳng ai biết, chỉ biết là ông làm thơ từ dạo ấy, khoảng vào năm 1942, tại Huế, như theo lời kể của ông trong đầu sách Lời Cố Quận. Đọc thơ ông người đọc như lạc vòa một cánh rừng u tịch, không biết lối ra, không định hình được hướng, Người đọc choáng ngợp với từ từ, từng ngữ, từng câu thơ ông. Họ say sưa, họ suy nghĩ, … nhưng không thể hiểu hết những gì ông viết trong thơ. Trong khi họ còn đang đắm mình với cỏ cây hoa lá trong mùa xuân của ông thì bất chợt đâu đây lại nghe một lời chào như hư như thực: Thưa rằng nói nữa là sai Mùa Xuân đang đợi bước ai đi vào Hỏi rằng: đất trích chiêm bao Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau.(Chào Nguyên Xuân) Mùa xuân trong thơ Bui Giáng còn ở bước chân của ai nữa kia. Xuân cũng có thể theo người mà về chứ chẳng cần có chim én. Phải chăng là mùa xuân của tâm hồn khi tâm hồn tràn ngập niềm vui thì một bước chân nhè nhẹ cũng là một hạnh phúc. Nhưng sao trong những câu thơ này Bùi Giáng tự hỏi rồi lại tự trả lời. Ông có cô đơn không? Có lẽ tâm trạng ông vừa hạnh phúc vừa cô đơn chăng? Chính vì cô đơn nên ông mới độc thoại với chính mình. Có khi ông rất mơ hồ, rất triết lý nhưng có khi ông lại rất thực tại: Khi xuân đến có bảo xuân đừng đến cũng không được mà khi xuân đi có nắm giữ xuân lại thì cũng không thể. Hai câu thơ của Bùi Giáng nói lên chu kỳ của trời đất rất bình thường thôi nhưng nghe lại không bình thường. Có cái gì đó hay hay, lạ lạ, không dùng ngôn ngữ bay bướm, phóng đại gì cả, tuy rất đời thường nhưng lại rất khác thường. Có cái gì đó rất hay theo kiểu của Bùi Giáng mà ta không thể nói nên lời. 1.2. Phật giáo trong thơ Bùi Giáng: Đọc thơ của Bùi Giáng không những ta thấy được nét xuân mà còn thấy đầy triết lý của Phật giáo. Giống như Trịnh Công Sơn những ca từ trong ca khúc Trịnh thấm đượm tinh thần Phật giáo thì từ ngữ trong thơ của Bùi Giáng cũng mang nhiều hơi hướng của Đạo Phật. Cũng vô lý như lần kia dưới lá Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh. (Hư vô và vĩnh viễn) Mấy ai trong cuộc đời này hiểu được cuộc sống là “vô thường” biến đổi không ngừng nghỉ. Có lẽ ông cảm nhận điều này nên ông đã làm một kẻ lữ hành rong chơi suốt cả một đời không vướng víu. Ông giống như một gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa cứ mãi lang thang cả một đời đến khi sực tỉnh lại thì mới nhận chân ra được “đời chỉ là cõi tạm”, chỉ là “quán trọ trần gian” thôi, có gì đâu mà vui. Cõi tạm thì vô thường mà quán trọ chỉ là chỗ nghỉ chân. Cõi tạm này chẳng biết bắt đầu từ khi nào và kết thúc từ bao giờ. Nhưng có điều mà ông biết được đó là cái chết. Cái chết là điều gì đó thương tâm của kiếp người mà không ai tránh khỏi, cũng như kiếp hoa rồi cũng sẽ úa tàn: “Lỡ từ lạc bước bước ra Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng.” (Chớp biển, tr.45) Nếu gọi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ của “Tình yêu và thân phận” mà trong đó yếu tố thân phận là yếu tố đã làm cho Trịnh Công Sơn trở nên bất hữu thì Bùi Giáng cũng có thể gọi là thi sĩ của “Tình yêu và thân phận”. Trong “cái thân phân” đó con người đã gặp nhau, đã vui sướng, đã đau khổ, đã dằn vặt, đã cấu xé lẫn nhau: Trong xã hội người khốn khổ về vật chất nhất là những kẻ “đầu đường” “xó chợ” thì với triết lý của nhà Phật con người chỉ là một “gã cùng tử” không hơn không kém. “Gã cùng tử” chỉ biết rong chơi, lang thang đây đó, cho đến một lúc nào đó: “Biển dâu sực tỉnh giang hà Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.(Áo xanh) thì mới nhớ đến quê nhà. Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường, biến hoại, không hằng hữu, chỉ có quê nhà mới là nơi êm ấm, là chốn bình yên. Mỗi con người ai không có một quê hương, một chốn để về. Lang thang suốt một đời rồi mới: Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm Là quê thân thiết biết bao chừng (Người về) Ông nhận chân ra được quê nhà ấy ở trong lòng, nghĩ là sự cảm nhận của tâm. Chỉ có “chân tâm” mới là quê nhà thật sự. Chỉ có hạnh phúc thật sự là ở mãi trong tâm: Lòng chim gieo sáng dệt vân sa Trên bước đường xuân trở lại nhà Mở sách chép rằng: vui một sáng Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta (Áo xuân, 1942) Phải chăng Bùi Giáng muốn trở về với “chân tâm” của mình hay là khéo nhắc mọi người đừng đi tìm chân hạnh phúc ở đâu xa mà chính là ở tâm mình. Ông đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo và trong thơ ông. Ngôn từ tuy có khác nhưng ý nghĩa thì tương đồng, thế mới nói chân lý chỉ có một nhưng phương tiện là rất nhiều. Trở lại quê nhà ở đây không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và giá trị của hạnh phúc này phải đánh đổi bằng bao nhiêu năm lang thang nơi xứ lạ quê người. “Đường đi ngõ quạnh lang thang, Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay. Trái tim mỗi mỗi mỗi ngày, Mỗi giờ phút đọng mây trời rung rinh”. Điều này ứng với giáo lý của nhà Phật là: “Tâm viên, ý mã” (Tâm như con vượn truyền cành, ý như con ngựa chạy rong trên đường.) Bùi Giáng hiểu được điều này, chính vì vậy mà ông muốn “trở về cố quận” để tìm lại cõi “nguyên xuân” của kiếp người. Cõi “nguyên xuân” đó chính là quay về với tự thân của cuộc sống đời thường mà bấy lâu nay con người ta bỏ quen. Cứ tưởng hạnh phúc nằm ở đâu xa xôi lắm con người cứ mãi khát khao đi tìm, đâu có ngờ hạnh phúc nằm ở những điều giản dị nhất của cuộc sống. “Hạnh phúc đâu chỉ là những nụ cười mà con tô điểm thêm bằng những giọt nước mắt. Hạnh phúc đâu chỉ là ánh mặt trời ấm áp mà còn là vầng trăng lạnh lẽo đêm thâu. Bùi Giáng đã nhận chân ra được hạnh phúc nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen không danh lợi. Ông tìm vui trong những gì đơn sơ nhất, giản dị nhất mà mỗi người ai cũng có thể tìm được: “Mỗi sáng tôi nhìn mặt trời mọc trong mây, Mỗi chiều tôi nhìn mặt trời lặn trong mây, Suốt ngày tôi lắng tai nghe tiếng chim hót trong lá cây reo, Và nhìn thấy rất nhiều mùa xuân mênh mông đang đi tới”. (Nhìn thấy – “Đêm ngắm trăng” tr.27) Ông tận hưởng cuộc sống với mỗi sáng sớm được còn nhìn thấy mặt trời mọc trong mây, mỗi chiều cũng được thấy mặt trời lặng trong mây, và lđược lắng nghe tiếng chim hót trong khoảng trời mênh mông vô tận. Cuộc sống tấp nập hối hả đã làm cho con người mãi chạy theo vật chất, với công việc, những mối quan hệ xã hội chằn chịt, những lo toan vây hãm, đâu có ai có thời gian để tận hưởng cuộc sống, dù chỉ là được nhìn cảnh bình minh và hoàng hôn. Cuộc sống rất ngắn ngủi, sang còn tối mất như cánh phù dung sớm nở tối tàn. Chỉ có giờ phút hiện đại mới tìm thấy được hạnh phúc mà hạnh phúc đó là trạng thái của Niết Bàn. Niết Bàn hiện hữu trong từng hơi thở, trong từng thớ thịt của mạch sống chứ đâu phải ở đâu xa xôi. Niết bàn là sự hiện hữu của cái nhìn, cái thấy trong giây phút hiện tại khi tâm tỉnh giác. Tỉnh giác với tự thân và tỉnh giác ở cảnh vật mà ở đây trong thơ ông là tỉnh giác với thiên nhiên qua ánh nắng của mặt trời. Chỉ bao nhiêu đó thôi là đã đủ giàu có, thế mà tại sao con người vẫn mãi lang thang làm gả cùng tử, đến lúc nào đó gã cùng tử muốn quay trở về cố quận, dù đường về có quá xa xôi. Trịnh Công Sơn cũng nói: Cuộc hành trình về cố quận của Bùi Giáng quả thật là dài, nhưng đâu đó ông cũng đã gặp được những triết lý của Phật giáo để rồi từ đó ông đem nó vào trong thơ ca của ông, nó trở thành chất liệu sống của ông theo từng năm tháng. Những tháng ngày một mình trên lộ trình của cuộc sống thông qua những câu thơ bình dị mà trác tuyệt là cả một tâm hồn siêu thoát. Cho nên có người còn gọi ông là “vị Bồ tát của văn chương”. Đúng vậy, ông đã từ bỏ một cái ràng buột, “ồn ào của cuộc sống để thong dong bước vào đạo”. Đó là hạnh nguyện hay chỉ là một sự ngẫu nhiên của cuộc đời ông hoặc là cái nghiệp văn chương của ông phải như thế. Dù sao đi nữa thơ ông cũng mang đầy tâm trạng, mang đầy màu sắc mà màu sắc Phật giáo là một kho tàng vô giá mà ông đã may mắn bắt gặp được. Âu đó cũng là một phần thưởng của hạnh phúc đã dành cho ông và từ đó ông đem ban tặng đến tất cả mọi người qua những vần thơ tuyệt tác. III. NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG TÁC PHẨM CỦA BÙI GIÁNG: Bùi Giáng không chỉ làm thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận triết học, Bùi Giáng còn viết rất nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thơ. Nếu ai đã từng đọc nhữn tác phẩm của ông sẽ thấy đằng sau những ngôn từ đó là một tâm hồn mênh mang huyền diệu, những cung bậc cảm xúc của một con người đa tài. Khác với những tác giả khác chỉ thiên về một lĩnh vực văn hoặc thơ hay tùy bút còn Bùi Giáng thì viết nhiều thể loại nhưng thể loại nào cũng hay cả. Ngôn từ trong thơ ông đa dạng, nhiều ẩn ý, nhiều hình tượng và đặc biệt là mang đầy triết lý phương Đông mà nổi bật nhất là triết lý Phật giáo. Đọc thơ ông người đọc như lạc vào một khu rừng của từ ngữ, trong đó những con chữ thi nhau nhảy múa, hát ca. Ngôn ngữ đó, Bùi Giáng đã đưa kinh Phật về với những gì dung dị nhất mà người đọc vẫn có thể cảm nhận nó qua những cảnh vật, những vật dụng, hoặc thiên nhiên như hoa lá cỏ cây. Mùa xuân trong thơ của ông có khi buồn, khi vui, khi hạnh phúc, khi xót xa. Những câu từ vừa siêu nhiên, vừa trần tục, vừa ngây ngô, vừa điên dại đã làm cho người đọc như lạc vào cõi ba đào tuý luý tình mộng đổ xiêu của mình. Cõi thơ Bùi Giáng mang bóng dáng của huyền thoại nữa hư nữa thật. Nhưng dù sao đi nữa phải công nhận một điều thơ ông hay mà lạ, không lẫn lộn với thơ của bất cứ ai. Chính vì vậy mà ta có thể gọi là độc đáo ‘rất Bùi Giáng. IV. KẾT LUẬN: Bùi Giáng là một thi sĩ kỳ lạ mà có người đã mệnh danh ông là “thi sĩ Bồ Tát”, vì ông đã cống hiến cả đời mình cho văn chương. Sự cống hiến không mệt mỏi cho đến cuối đời. Ông hào phóng với cuộc đời và ban tặng những gì tin túy nhất trong tư tưởng của ông để có những tác phẩm dâng đời. Xét về cuộc sống của ông có cái gì đó rất bình dị không hoa hòe, không phô trương, không chấp trước. Chính vì thế mà ông trở nên khác người đến nổi người đời còn cho là ông điên. Nhưng thực ra ông sống tùy duyên không vướng bận, ông muốn thoát ra khỏi những vật chất bám víu với những cái cảnh nhà cao, cửa rộng mà lại trở về với thế giới nguyên sơ để không phải lụy phiền. Bùi Giáng một mình đi trên con đường thênh thang trong cả cuộc sống và trong cả văn chương, nhưng trên bước độc hành đó ông đã bắt gặp những tâm hồn đồng điệu như Nguyễn Du, Trịnh Công Sơn và đặc biệt là bắt gặp cả một kho tàng giáo lý của nhà Phật thì đó quả thật là một điều hạnh phúc. Ông bắt gặp được một nguồn hạnh phúc, một niềm vui thật sự để từ đó bước vào cõi nguyên sơ và sống với nó qua những vần thơ bình lặng. Thơ ông vừa lãng mạn, tinh nghịch, lại vừa hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Có những bài thơ vừa độc thoại và vấn đáp xoay quanh tình yêu và thân phận, lẽ sinh tồn trong cuộc sống bể dâu đầy khắc nghiệt. Ông yêu cuộc đời nên không muốn cuộc đời tổn thương, ông thương con người nên không muốn than phận kiếp người phải đau khổ, nên thơ ông như ẩn chứa những tâm trạng khắc khoải hoài vong. Thơ ông vừa cổ kính vừa hiện đại, “có màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu...” Bùi Giáng đã bắt gặp hình ảnh của chính mình ở trong thơ, và tấm bi kịch đó ông đã vẽ nên những bức tranh có khi vui tươi, có khi ảm đạm, có khi có nghĩa và có lúc cũng trở trên sáo rỗng. Chính vì vậy mà ông đã rất “ngông” không những ở trong thơ mà luôn cả với đời sống hiện thực của ông. Người viết xin mượn lời của T.Khuê nhận định để thay lời kết: “Dù sao chăng nữa, ông cũng đã tạo được một mẫu ngông thời đại, sáng tạo một kiểu say sưa, chán đời của thế kỷ 20, khác với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ 19 hoặc Tản Đà ở đầu thế kỷ 20” . TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. T Khuê, mục từ Bùi Giáng trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004. 2. Nhiều người viết, Đặc tuyển Thi sĩ Bùi Giáng, tạp chí Thời văn số 19, 1997. 3. Giao Hưởng, Bùi Giáng có điên không?, http://www.thamtutu.net/chinh-tri-xa-hoi/bui-giang-co-dien-that-khong.html 4. Đặng Tiến, Bùi Giáng nguồn xuân 5. Đặng Tiến, Nguồn Bùi Giáng 6. Yến Tử, Phật giáo trong thơ Bùi Giáng, nguồn Liễu Quán 7. Nguyên Cẩn, Đi tìm cõi xuân trong thơ Bùi Giáng, www.daitangkinhvietnam.org

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét