THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013
“An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
CHƯƠNG I.
1. Chánh văn:
2. Phiên âm:
3. Dịch nghĩa:
III. NỘI DUNG:
CHƯƠNG II:
1. tư tưởng bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường triều đại nhà Lý:
2. Bối cảnh lịch sử Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Lý:
3. Giới thiệu tác giả - tác phẩm:
4. Nội dung tư tưởng bài văn bia:
4.1. Lý duyên khởi - vô ngã là nguồn gốc của thiện pháp:
4.2. Vai trò và công hạnh của Lý Thường Kiệt đối với quốc gia và phát triển đạo pháp:
4.3. Tiến trình xây dựng và phát triển chùa Báo Ân núi An Hoạch
4.3.1 Nguyên nhân xây chùa:
4.3.2 Vị trí địa lý và kiến trúc chùa:
4.3.3 Mô tả toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân:
5. Ý nghĩa và giá trị Chùa Báo Ân đối với đời sống xã hội Đại Việt:
IV. KẾT LUẬN:
SÁCH THAM KHẢO:
I. DẪN NHẬP:
Phật giáo Việt Nam từ thời du nhập, Khi Phật giáo ăn sâu vào lòng người và phát triển đến mức độ cực thịnh, đó chính là Phật giáo thời Lý – Trần. Nhưng khởi đầu cho việc phát triển Phật giáo là Thời Lý. Nhằm mục đích để cho đời sau biết được nền Phật giáo thời ấy thì thông qua việc xây dựng chùa. Nhưng muốn chứng tích được lưu truyền thì việc tạo dựng văn bia là điều tất yếu.
Những đóng góp của Phật giáo đối với quốc gia là một dấu ấn quan trọng, đáng nhớ. Chính vì thế, những vị vua triều Lý đặc biệt là Lý Thái Tổ, sau khi lên ngôi, việc đầu tiên là chủ trương ủng hộ Phật pháp với hành động thiết thực là lo xây dựng chùa chiền, dựng bia, lập tháp. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà sử thần Lê Văn Hưu khi nhận định đạo Phật thời Lý ông đã phát biểu: “Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế mới hai năm, nhà tông chưa xây đàn, xã tắc chưa dựng, đã tạo tác tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa sang các tự quán quốc lộ, độ hơn ngàn người làm tăng…” . Đồng thời sử gia Ngô Thì Sĩ thì nhận định như sau: “Vua Lý Thái Tổ thì sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, muốn kiến quốc đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp độ chúng tăng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật” . Như thế, cũng đủ biết Phật giáo trong giai đoạn này rất quan trọng, triều đình chủ trương lấy tư tưởng Phật giáo cai trị đất nước. Mục đích, muốn giữ vững biên cương lãnh thổ cũng như xây dựng đời sống văn hóa tâm linh, hướng người dân đến cuộc sống an lạc, thì mối quan hệ giữa “Đất vua – Chùa làng – Phong cảnh Bụt” càng không thể tách rời.
Để lưu giữ những gì tốt đẹp, đáng trân trọng ở thời đại nhà Lý, thì sự xuất hiện của văn bia là điều cần thiết không thể thiếu. Điển hình là bài “An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường, đã góp phần làm sáng tỏ giá trị cũng như tư tưởng Đại Việt vào thời vua Lý Nhân Tông. Qua đó, nội dung bài văn bia cũng nêu lên tinh thần hộ quốc an dân của nhà quân sự lỗi lạc Lý Thường Kiệt, với cuộc chinh phạt Chiêm Thành và chiến thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt (1077) làm rạng danh một anh hùng dân tộc, đồng thời cũng là tấm gương soi sáng cho hậu thế.
Với khả năng và sức học còn thiển cận, người viết đã chọn đề tài khảo sát bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” để trình bày trong tiểu luận của mình. Mong rằng qua bài viết này có thể đóng góp một số kiến thức nhỏ về một tác phẩm mang dấu ấn trong lịch sử nước nhà.
II. NỘI DUNG:
CHƯƠNG I.
1. Chánh văn:
安 荻 山 报 恩 寺 碑 记
朱 文 常
昭 昭 乎 妙 理 湛 寂 。照 物 物 而 物 不 相 侵 。荡 荡 乎 迥 彼 真 空 。纳 尘 尘 而 尘 莫 混 迹 。是 亦 不 谓 幽 深 宏 远 哉 。
佛 之 有 金 色 。人 之 有 佛 性 。而 不 能 自 觉 自 悟 也 。人 之 欲 征 者 。必 资 善 以 证 焉 。 所 可 参 者 。莫 大 于 像 法 。像 法 之 所 崇 莫 崇 于 净 剎 。 故 仿 优 阗 阿 欲 之 芳 踪 。挈 摩 腾 法 兰 之 遗 迹 。
今 有 太 尉 李 公 佐 皇 越 第 四 帝 。授 推 诚 。叶 谋 。保 节 。宁 正 。佐 理 ,翊 戴 功 臣 。 守 尚 书 令 。 开 府 。 钦 同 三 司 。 入 内 内 侍 省 。都 都 知。捡 校 太 慰 。兼 御 史 大 夫 遙 授 诸 镇 节 度 使 。同 中 书 门 下 平 章 事 。上 柱 国 。天 子 义 弟 。 开 国 上 将 军 越 国 公 。
食 邑 一 万 户 .食 实 封 四 千 户 。图 监 大 节 。言 受 缀 旒 。信 乎 六 尺 之 孤 可 托 。百 里 之 命 可 寄。
厥 后 乃 XX 于 师 。 北 征 邻 国 。西 讨 不 庭 。善 七 纵 七 擒 之 朕 敌 。非 汉有 韩 彭 之 功 。岂 齐 有 管 晏 之 烈
唯 公 辅 君 。国 家 殷 富 多 历 年 。所 可 垂 臣 道 千 古 之 熙 绩 也 。
至 壬 戌 之 岁 。皇 帝 特 加 清 化 一 军 。赐 公 封 邑 。群 牧 响 风 。万 民 慕 德 。正 县 西 南 有 山 ,高 而 且 大。名 安 获 。所 产 美 石 。其 石 公 家 之 贵 物 。莹 莹 色 如 蓝 玉 。青 青 质 拟 生 烟 然 后 凿 而 为 器 。其 器 也 。凿 为 响 磬 。扣 处 而 万 里 流 音 。月 作 铭 碑 。遗 文 而 千 龄 盖 固 。是 则 太 尉 李 公 祇 差 侍 者 甲 首 武 承 叨 一 名 。领 九 真 乡 人 也 。搜 其 山 。采 其 石 。十 有 九 年 。实 践 节 操 民 就 焉 。 战 战 而 若 履 轻 冰 恪 勤 特 。盈 ; 己 清 焉 。 兢 兢 而 类 乘 朽 索 。 自 省 曰 。 量 器 微 而 裁 重 本 智 小 而 煤 大 。积 尖 纤 而 岂 拂 。五 岳 渐 成 。注 滴 水 而 无 休 。四 溟 转 溢 。况 蒙 究 锡 之 踰 涯 以 何 能 之 报 效 。贤 愚 列 次 。贫 富 有 宜 。所 见 于 斯 处 者 。芟 夷 翠 野。草 建 仁 祠。号 为 报 恩 之 寺 也。端 伟 能 仁 之 相。次 列 菩 萨 之 容 。颜 丽 双 南。体 完 绘 事 。经 菅 于 己 卯 炎 天 。庆 成 於 庚 辰 噢 景 。其 屋 乃 臺 旦 借 丹 青 点 缀 。百 年 延 气 象 芬 芳 。前 依 赤 帝 之 方 。境 列 古 战 之 县 。省 分 攸 耿 。缘 茂 如 云 。后 联 翔 凤 之 嵎 。旁 耸 白 龙 之 岫 。橫 注 清 流 。势 成 一 带 。左 达 隅 XX 之 表 。之 鬲 分 为 之 间 .遙 拂 扶 桑 敬 宾 出 日 。 右 通 昧 谷 之 都 。逼 镇 尧 岳 之 巍 。夤 饯 斜 晖 隙 临 疏 牖 。双 影 特 涌 尖 丘 。桥 外 花 香。十 里 若 飘 浓 麝 。
但 愚 乃 学 文 眛 浅。胜 事 何 穷 。滥 矢 芜 词 。以 贻 铭 曰 。
空 门 虚 寂 。
俗 累 罕 缨 。
至 小 何 轻 。
吉 凶 由 己 。
祸 福 易 迎 。
尖 途 则 背 。
善 里 归 情 。
纤 尖 岂 让 。
山 岳 渐 成 。
滴 水 不 弃 。
河 海 相 盈 。
若 能 机 要 。
名 器 何 亏 。
贤 愚 列 次 。
贫 富 所 宜 。
明 恩 罔 极 。
何 以 报 之 。
强 芟 翠 野 。
草 建 仁 祠 。
前 分 井 亩 。
后 白 龙 嵋 。
右 通 尧 岫 。
左 达 嵎 夷 。
双 丘 甃 石 。
四 照 芳 花 。
次 列 菩 夹 。
中 坐 释 迦 。
体 完 禅 绘 。
凛 烈 不 磨 。
四 回 胜 事 。
一 境 繁 华 。
募 修 像 法 。
永 保 邦 家 。
名 畱 今 古 。
功 著 迩 遐 。
节 彼 山 兮 碧 龙 巅 。
被 美 石 兮 尤 至 坚 。
莹 莹 滑 兮 禀 自 然 。
青 青 质 兮 拟 生 烟
蒙 皇 锡 兮 十 九 年 。
讲 法 场 兮 仿 优 阗 。
所 庶 几 兮 生 日 迁 。
山 比 寿 兮 永 何 骞 。
沐 慈 恩 兮 福 果 圆 。
至 仁 道 兮 比 尧 天 。
纪 于 铭 兮 百 代 传 。
从 XX 言 兮 愧 后 贤 。
署 敏 书 郎 管 俱 御 府 :同 中书 健 编 修 :兼 守 清 化 寨 九 真 县 公 事 。
朱 文 常 述 。
2. Phiên âm:
An Hoặch sơn Báo Ân tự bi ký
Chiêu chiêu hồ diệu lý trạm tịch, chiếu vật vật nhi vật bất tương xâm; đãng đãng hồ quýnh bỉ chân không, nạp trần trần hỗn tích. Thị diệc bất vị u thâm hoằng viễn tai!
Phật chi hữu kim sắc, nhân chi hữu Phật tính nhi bất năng tự giác tự ngộ dã. Nhân chi dục chứng giả, tất tự thiện dĩ chứng yên. Sở khả tham giả mạc đại ư tượng pháp. Tượng pháp chi sở sùng, mạc sùng ư tịnh sát. Cố phỏng Ưu điền, A dục chi phương tung, kiết Ma đằng, Pháp lan chi di tích.
Kim hữu Thái úy Lý công, tá Hoàng Việt đệ tứ đế, thụ suy thành, hiệp mưu, bảo tiết, thủ chính, tá lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ, khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh, đô đô tri, kiểm hiệu thái úy kiêm ngự sử đại phu, giao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp nhất vạn hộ, thực thực phong tứ thiên hộ. Đồ lâm đại tiết, ngôn thụ xuyết lưu. Tín hồ lục xích chi cô khả thác; bách lý chi mệnh khả ký. Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch. Phi Hán hữu Hàn, Bình chi công; khởi Tề hữu Quản, Yến chi liệt. Duy công phụ quân, quốc gia ân phú đa lịch niên, sở khả thùy thần thiên cổ chi hi tích dã.
Chí Nhâm tuất chi tuế, hoàng đế đặc gia Thanh hóa nhất quân, tứ công phong ấp. Quân mục hướng phong; vạn dân mộ đức. Chính huyện Tây nam hữu sơn, cao nhi thả đại, danh An hoạch. Sở sản mỹ thạch. Kỳ thạch công gia chi quý vật. Oánh oánh sắc như lam ngọc; thanh thanh chất nghĩ sinh yên. Nhiên hậu lạc nhi vi khí. Ký khí tạc vi hưởng khánh, khấu xứ nhi vạn lý lưu âm; dụng tác minh bi, di văn nhi thiên linh cái cố. Thị tắc Thái úy Lý chỉ sai thị giả Giáp thủ Vũ Thừa Thao nhất danh, lĩnh Cửu chân hương nhân sưu kỳ sơn, thái kỳ thạch, thập hữu cửu niên. Thực tiễn tiết tháo, dân tựu chiến chiến nhi nhược ly khinh băng; khác cần đặc doanh, kỷ thanh căng căng nhi loại thừa hủ sách. Tự tỉnh viết: lượng khí vi nhi tài trọng, bản tiểu nhi mưu đại. Tích trần tiêm nhi khởi phất, ngũ nhạc tiệm thành; trú thuỷ nhi vô hưu, tứ minh chuyển dật. Huống mông cứu tích chi du nhan hà năng chi báo hiệu. Hiền ngu liệt thứ; bần phú hữu nghi. Sở kiến xứ giả, sam nhi thúy dã. Thảo kiến nhân từ, hiệu vi Báo ân chi tự dã. Đoan năng nhân chi tướng; thứ liệt Bồ tát chi dung. Nhan lệ song nam, thể hoàn hội sự. Kinh doanh ư kỷ mão viêm thiên: khánh thành ư Canh thìn áo cảnh ốc nãi nhất đán tá đan thanh điểm xuyết. Bách niên diên khí tượng phân phương. Tiền y xích đế chi phương, cảnh liệt cổ chiến chi huyện, tỉnh phân du cánh duyên mậu như vân; hậu liên. Tường phượng chi ngung, bàng tủng Bạch Long chi tụ, hoành trú thanh lưu, thế thành nhất đời. Tả đạt Ngung chi biểu, chi cách phân vi chi gian dao phất Phù tang, kính tân xuất nhật hữu thông muội cốc chi đô, bức trấn Nghiêu nhạc chi nguy, di tiễn tà huy khích lâm sơ dũ. Môn gian thạch thứu, song ảnh đặc dũng tiêm khâu; kiến ngoại hoa hương, thập lý nhược phiêu nùng xạ.
Đãn ngu nãi học văn muội thiển, thắng sự hà cùng, lạm thỉ vu từ, dĩ di minh viết:
Không môn hư tịch,
Tuy lụy hãn anh,
Cực vi nhi hiển,
Chí tiểu hà khinh.
Cát hung do kỳ,
Họa phúc dị nghinh,
Trần đồ tắc bội,
Thiện lý quy tình,
Tiệm trần khởi nhượng
Sơn nhạc tiệm thanh
Chích thủy bất khí
Hà hải tương doanh
Nhược năng cơ yếu,
Danh khí hà khuy
Hiền ngu liệt thứ
Bần phú sở nghi
Minh ân võng cực,
Hà dĩ báo chi.
Cưỡng sam thúy dã,
Thảo kiến nhân từ
Tiền phân tỉnh mẫu,
Hậu bạch long mi.
Hữu thông Nghiêu thụ,
Tả đạt Ngung di.
Song khâu thứu thạch,
Tứ chiêu phương hoa.
Thứ liệt Bồ tát
Trung tọa Thích Ca
Thể hoàn thần hội,
Lẫm liệt bất ma.
Tứ hồi thắng sự,
Nhất cảnh phồn hoa,
Mộ tu tượng pháp
Vĩnh bảo bang gia.
Danh lưu kim cổ,
Công trứ nhĩ hà.
Tiệt bỉ sơn hề bích long điên,
Bỉ mĩ thạch hề vưu chí kiên
Oánh oánh hoạt hề bẩm tự nhiên,
Thanh thanh chất hề nghĩ sinh yên.
Mộng hoàng tích hề thập cửu niên
Giảng pháp trường hề phỏng Ưu điền,
Sở thứ cơ hề thánh nhật thiên,
Mộc tứ ân hề phúc qảu viên.
Chi nhân đạo hề tỉ Nghiêu thiên,
Kỷ vu minh hề bách đại truyền,
Tùng tỏa ngôn hề quy hậu hiền.
Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm thủ Thanh Hóa trại, Cửu Châu
3. Dịch nghĩa:
Bài ký bia chùa Báo Ân núi An Hoạch
Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng hay sao!
Phật có sắc vàng như ngườ ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền. Cho nên, bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu điền, A Dục phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng. Pháp Lan. Nay có Thái úy Lý công giúp vua thứ tư triều Lý được trao chức: Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tà lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ly, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ. Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà hán có công quân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Ân. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh vượng nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy.
Đến năm Nhâm tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm quân Thanh Hóa cho ông làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính. Ở phía Tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An hoạch sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quí giá của mọi người. Sắc ông ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì mãi nghìn đời. Thế là Thái úy công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Tiết tháo được thể nghiêm nên dân qui phụ, vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình rằng lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền. Cho nên, tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thâm điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường phượng, bên cạnh vút đồi Bạch long, giòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi cõi ngung di, trong khoảnh giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn át ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng. Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế.
Minh rằng:
Cửa không vắng lặng,
Tục lụy ít gần gũi.
Cái tâm thể cực mờ mà cực rỡ,
Rất nhỏ nhưng nào có nhẹ.
Lành dữ đều bởi mình,
Họa phúc đều dễ đón.
Phải nên xa lánh con đường bụi bặm,
Hướng về làng xóm thiện duyên.
Há dám khước từ từng hạt bụi nhỏ,
Tích mãi sẽ trở thành non cao.
Đâu nỡ bỏ rơi từng giọt nước
Chứa dần sẽ tràn đầy song bể.
Nếu như hiểu rõ điều cơ yếu,
Thì danh và khí có sút kém đâu.
Hiền và ngu đều lần lượt góp phần,
Giàu hay nghèo đều thích nghi cả.
Ơn sáng không cùng,
Biết lấy gì báo đáp
Dẫy cỏ san đất,
Bắt đầu dựng một ngôi chùa.
Phía trước hướng về đồng ruộng dọc ngang,
Phía sau quay về đồi Bạch long
Bên hữu thông với non Nghiêu,
Bên tả suốt tới cõi ngung di.
Núi đá hai gò,
Hoa thơm bốn phía rực rỡ.
Phía dưới đặt tượng Bồ tát,
Chính giữa đặt tượng Phật Thích Ca.
Tượng Phật đã hàon thành, tranh Phật đã vẽ xong,
Tinh thần lẫm liệt không bao giờ phai mờ.
Xung quanh toàn cảnh đẹp,
Khắp một cõi phồn hoa,
Tu sửa tượng pháp,
Mãi mãi gìn giữ nước nhà.
Tiếng tăm để mãi xưa nay,
Công tích rạng rỡ xa gần.
Ngọn núi chót vót kia là ngọn núi Bích long,
Có nhiều đá quý đã dẹp lại bền
Sắc đá lóng lánh, đó là đặc tính tự nhiên,
Chất đá xanh xanh như khói mới bốc lên.
Đội ơn vua đã mười chín năm.
Cầu đảo ở pháp đường, bắt chước Ưu điền,
Ngày tháng của thánh nhân ngõ hầu đổi dời,
Mong cho tuổi như núi non, không bao giờ sút kém,
Tắm gội từ ơn, phúc quả vẹn tròn.
Đạo chí nhân sánh với trời Nghiêu.
Ghi ở bài minh này trăm đời lưu truyền,
Lời tủn mủn, sợ thẹn với các bậc hiền đời sau.
Dịch thơ:
Cửa không vắng lặng,
Tục tụy vào vương.
Nhỏ, nhưng rất nặng,
Kín, vẫn rõ ràng.
Mình gây lành dữ,
Họa phúc dễ mang.
Đường trần quay gót,
Xóm thiện bước sang.
Bụi nhỏ tích lại,
Thành ngọn núi vàng.
Giọt nước chứa lại,
Sông bể mênh mang.
Nếu hay cơ yếu,
Danh, khí trọn đường.
Hiền, ngu lần lượt,
Không kể giàu sang.
Lấy gì báo đáp,
Từ ơn khôn lường.
Dẫy cỏ san đất,
Dựng ngôi Phật đường.
Trước, ruộng ngang dọc,
Sau, Bạch long cương.
Hữu thông núi thẳm
Tả tới Phù tang.
Hai gò núi đá,
Hoa thắm ngát hương.
Dưới tượng Bồ tát,
Giữa tượng Phật vàng.
Tượng sơn tranh vẽ,
Lẫm liệt khác thường.
Bốn phen việc tốt,
Một cõi huy hoàng.
Tu sửa tượng pháp,
Nhà nước vững vàng.
Tiếng thơm muôn thưở
Công chói muôn phương.
Ngọn núi chót vót chừ là ngọn Bích long,
Đá kia đá đẹp chừ lại thêm bền.
Sắc long lanh chừ tinh bẩm tự nhiên,
Chất xanh xanh chừ chừ khói mới lên.
Đội ơn vua chừ đã mười chín niên,
Cầu pháp đường chừ bắt chước Ưu điền,
Ngày thánh ngõ hầu chừ đương độ biến thiên.
Mong thọ như non chừ mãi mãi bình yên,
Tắm từ ân chừ phúc quả vẹn tuyền.
Đạo chí nhân chừ sánh với Nghêu thiên.
Ghi bài minh chừ muôn thưở lưu truyền,
Lời quê vụng về chừ thẹn với hậu hiền.
Chu Văn Thường giữ chức Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cữu chân, trại Thanh Hóa, soạn thuật
III. NỘI DUNG:
CHƯƠNG II:
1. Nội dung tư tưởng bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường triều đại nhà Lý:
2. Bối cảnh lịch sử Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Lý:
Phật giáo thời Lý là một thời đại mở đầu cho sự cực thịnh của Phật Giáo Đại Việt. Từ khi vua Lý Thái Tổ mở đầu cho triều đại nhà Lý thì Ngài đã cho xây dựng rất là nhiều ngôi chùa, từ khi kinh đô cho đến thị thành, thôn quê, đều ban sắc lệnh xây dựng các ngôi tự viện. Thời đó vua, quan, quân trên dưới một lòng. Nên tới triều đại vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) thì có Quốc Công Lý Thường Kiệt. Tuy lúc này vua Lý Nhân Tông khi lên ngôi còn rất nhỏ, nhưng được sự ủy nhiệm của Thái Hậu Ỷ Lan, Ngài đã ra sức bảo vệ gian sơn nhà Lý. Sau khi bình loạn xong thiên hạ Ngài liền nhớ ơn đến vua và muốn đất nước được thái bình và vua được trị vì lâu dài mà ông đã cho người xây dựng chùa Báo Ân tại núi An Hoạch. Để ghi lại móc lịch sử thời thịnh trị của nhà Lý
Vì Phật giáo luôn song hành với dân tộc trong bối cảnh lịch sử nước nhà không chỉ độc lập, tự chủ trên cương giới lãnh thổ mà còn phát triển, thành tựu về mọi mặt. Các vua triều Lý đã thấm nhuần triết lý Phật giáo, và áp dụng triết lý ấy vào việc trị an xã hội một cách thiết thực, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.
Về phương diện văn hóa, họ dựng nên được cả một triều đại thuần từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị. Theo Hoàng Xuân Hãn viết trong sách Lý Thường Kiệt: “Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là ảnh hưởng của đạo Phật”. Với những nhà chính trị lấy đức từ bi làm căn bản, và những người xuất gia biết lo giáo dục sự thực hành đạo từ bi trong dân chúng, đời sống xã hội thời Lý trở thành thuần từ và đẹp đẽ. “Đạo đức và từ bi không làm cho dân nghèo nước yếu; trái lại, những yếu tố này đã tạo nên phú cường” . Vì những người lãnh đạo đất nước lúc bấy giờ, không chỉ biết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập cho nước nhà, mà còn biết sùng mộ Phật pháp, tạo điều kiện cho Phật giáo dễ dàng đến với quần chúng nhân dân.
Về bia minh của đời Lý, theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang có ghi lại rất nhiều, trên dưới mười bài. Trong đó, đặc biệt có tới hai bài nói về danh tướng tài ba Lý Thường Kiệt là: “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường và bài “Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh” của thiền sư Pháp Bảo soạn. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường soạn, dưới thời vua Lý Nhân Tông, để qua đó thấy được vai trò và công hạnh của Lý thường Kiệt đối với quốc gia và đạo pháp. Với những chiến thắng Chiêm Thành và giặc Tống, đã làm rạng danh một thời, để rồi tiếng thơm vẫn còn lưu mãi đến ngàn sau.
3. Giới thiệu tác giả - tác phẩm:
Tác giả của bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” là do Chu Văn Thường soạn. lúc bấy giờ ông đang giữ chức Thư Mẫu thư lang, Quản câu Ngự Phủ, Đồng trung thư Kiện Biên tu, Kiếm coi việc quan huyện Cửu Châu, trại Thanh Hóa. Ông được sự ủy nhiệm của Lý công Thường Kiệt mà khắc bản văn Bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch để lưu truyền cho đời sau biết vậy.
Tác phẩm này là một tấm bia được dựng ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, trấn Thanh Hóa. Bài văn bia nhằm ghi lại rõ công trạng của Lý Thường Kiệt và sự kiện xây dựng chùa Báo Ân, để lại cho hậu thế biết đến mà noi gương theo. Cũng để lại cho đời sau biết sự trung quân ái quốc của một vị công thần đối với đất nước Đại Việt dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128).
Thông qua bài văn bia, chúng ta cũng có thể biết Chu Văn Thường tuy là một vị quan cư sĩ, nhưng ít nhiều ông cũng đã thấm nhuần giáo lý nhà Phật một cách sâu sắc. Mục đích ông viết bài bia này là ghi lại công trạng và phẩm hạnh của Lý Thường Kiệt đã có công giúp vua Lý Nhân Tông trong việc cai trị đất nước cũng như phát triển đạo pháp. Tác phẩm này có giá trị nhân văn rất cao, qua đó chúng ta thấy giáo lý Phật giáo là cơ sở căn bản để xây dựng nhân cách con người. Mỗi cá nhân áp dụng giáo lý ấy, là góp phần làm cho đất nước yên bình, nhân dân ấm no hạnh phúc.
4. Nội dung tư tưởng bài văn bia:
4.1. Lý duyên khởi - vô ngã là nguồn gốc của thiện pháp:
Theo văn bia để lại .Phật giáo vào thời đại nhà Lý hầu như trở thành quốc giáo và là hệ tư tưởng ấy đã được thể chế triều đình tôn kính, áp dụng trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ thành quả đạt được với ý thức tự chủ, độc lập sau một thời gian dài bị giặc phương Bắc đô hộ. Cái lý “Duyên khởi - vô ngã” là nguồn gốc sinh ra các pháp lành, đã đi vào đời sống hiện thực, nó đã góp phần hóa giải các mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội.
Lý lẽ diệu huyền của vạn pháp, đã được tác giả đề cập ngay ở đầu đề của bài văn bia: “Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vắng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào.Đó chẳng phải là sâu xa rộng lớn hay sao?”. Cái thể tánh vắng lặng hư vô của vạn pháp chính là “tịch tịnh”, lặng lẽ nhưng vẫn chiếu sáng khắp hết mọi vật, không bị chướng ngại bất cứ pháp nào. Đó chính là tâm thanh tịnh hư vô, tâm vô ngã vị tha bình đẳng đối với tất cả các pháp, hay nói cách khác đó chính là “Phật tánh”. Chúng sanh do mê mờ nên không thấy được Phật tánh của chính mình, và càng không biết đầu mối của tất cả thiện pháp chính là “lý duyên khởi – vô ngã”. Cho nên nói: “Phật có sắc vàng như người ta có Phật tánh, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền”.
Có lẽ vì thế mà thời nhà Lý, từ vua, quan cho đến dân thường điều thấm nhuần tư tưởng ấy. Đồng thời noi gương các vị thiền sư cũng như các vị vua sùng mộ Phật pháp ở Trung Quốc và Ấn Độ như: Ma Đằng, Pháp Lan hay vua Ưu Điền, A Dục,v.v… Cho nên, việc khuyến khích xây dựng chùa chiền tạo phước của nhà Lý là việc làm trở thành nghiễm nhiên lúc bấy giờ.
Một trong những vị tướng lừng danh với những chiến công hiển hách như Lý Thường Kiệt, trong buổi đất nước thanh bình cũng trở về nương tựa Phật pháp, bằng hành động thiết thực là phát khởi xây dựng chùa chiền tạo phước cho bá tánh, mà chùa Báo Ân ở núi An Hoạch là một điển hình.
4.2. Vai trò và công hạnh của Lý Thường Kiệt đối với quốc gia và phát triển đạo pháp:
Theo lịch sử cho chúng ta biết là Lý Thường Kiệt là một vị khai quốc công thần của nhà Lý. Trên thì ông hết mực trung thành với vua, dưới thì ông thương dân như con vậy. Ông là một vị tướng tài giúp cho vua Lý Nhân Tông giữ yên bờ cõi, ông cũng được dân chúng rất là kính trọng. Sau khi bình định được thiên hạ ông hạ hết tâm, hết sức cùng triều đình giúp cho dân luôn có cuộc sống no đủ, sung túc.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm (1019 – 1105) tại làng An Xá, huyện Quảng Đức, khu vực phía Nam hồ Tây trong thành Thăng Long. Con của Ngô An Ngữ, gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng, vì có công lớn với triều đình nên được ban quốc tính, đổi lấy họ của vua nhà Lý nên gọi là Lý Thường Kiệt.
Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn. Năm 23 tuổi đã được bổ làm Hoàng môn chi hậu (tức thái giám), rồi được thăng đến chức Thái úy, làm quan dưới ba triều vua nhà Lý (Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông). Ông có công rất lớn trong việc xây dựng đất nước cũng như việc đánh Tống, bình Chiêm. Lý Nhân Tông từng ban cho ông hiệu Thiên tử nghĩa đệ (em kết nghĩa với vua), và theo bài văn bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường có nói ở thời Lý Nhân Tông ông giữ chức: “Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tá lý, dực đới công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân…”.
Có thể nói, Lý Thường Kiệt là một danh tướng có công trạng rất lớn đối với nhà Lý, đặc biệt là vua Lý Nhân Tông. Vì sau khi Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông mới 6 tuổi. Tất cả việc triều chính cho đến ngoại giao, nguyên phi Ỷ Lan giao cho ông trông coi.“Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm”. Dù được triều đình trọng dụng như thế, nhưng ông không tỏ ra kêu ngạo và ỷ quyền, một mực trung thành, đem hết tài đức ra để phục vụ cho đất nước.Trong quân sự, Lý Thường Kiệt là bậc đại danh tướng, là linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà ở thế kỷ XI; Trong chính trị, ông là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý; Trong lịch sử văn học, ông là cây đại bút, tác giả của Nam quốc sơn hà – áng hùng thi có giá trị thiêng liêng như bản tuyên ngôn lần thứ nhất của nước nhà. Đối với đạo pháp, ông là người có công chỉ đạo, trông coi việc xây cất chùa Linh Xứng ở Ngưỡng sơn, huyện Hà Trung và chùa Báo Ân ở trấn Thanh Hóa. Nương giáo lý Lục Độ của Phật giáo mà đối nhân xử thế, làm cho mọi người hết sức nễ phục.
Thái úy tánh tình khoan hòa, nhân từ giản dị, đổi dời phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn hòa. Chính giáo lý nhà Phật, khiến cho ông trong suốt thời gian trấn nhậm ở Thanh Hóa đã áp dụng vào việc hành xử chấp pháp một cách thành công, dân chúng nương đó mà an bình, xã hội nhờ thế ổn định kỷ cương, đúng như trong bài văn bia ở chùa Linh Xứng Nguyễn Công Bật đã nói: “…Thái úy có tính khoan hòa giúp đỡ quần chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên được nhân dân kính trọng. Dùng oai vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tù, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yêu dân, sự đẹp tốt đều ở đây cả”.
Nhờ thế, lòng dân tin vào chính quyền, có nghĩa là tin vào giáo lý đức Phật. Tại đây, con người mới hết lòng phục vụ đất nước, hết lòng phụng sự đạo pháp. Xây dựng chùa tháp, đúc chuông đồng, thờ Phật nhằm thể hiện tấm lòng vì dân vì nước. Và như thế, đến năm Nhâm Tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm cho thái úy quận Thanh Hóa làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức của ông. Ở đây, ông phát triển Phật pháp với công trình xây dựng ngôi chùa lấy tên là chùa Báo Ân trên núi An Hoạch, với tâm nguyện là muốn đền đáp tứ ân.
4.3. Tiến trình xây dựng và phát triển chùa Báo Ân núi An Hoạch
4.3.1 Nguyên nhân xây chùa:
Vì muốn cho người có chỗ sùng tin và nương theo để đến chổ chứng ngộ thì tượng pháp là một đều tất yếu, tượng pháp thì không gì bằng chùa chiền. Cho nên Lý công mới noi theo gương vua Ưu Điền, vua A Dục và phỏng theo tung tích của Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan mà Ngài cho người đi tìm nơi có phong thủy tốt mà cho xây dựng chùa. Khi đến núi An Hoạch thấy địa thế tốt nên cho xây dựng chùa Báo Ân. Cũng nhằm noi gương các vua triều ta mà cho xây dựng chùa Báo Ân để cũng nhằm Báo Ân vua đã thương tưởng và trọng dụng Ngài.
Với đức tính khiêm nhường, Lý Thường Kiệt một danh tướng tài ba, đức độ hơn người mà vẫn luôn dè dặt, như trong bài văn bia có ghi: “…vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bật, biết lấy gì báo đền…”. Cảm thấy ân huệ của vua ban thật là lớn lao đối với mình, Lý Thường Kiệt chẳng biết làm thế nào cho xứng, ông bèn sai thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao xuất lĩnh người ở hương Cửu Chân, hướng về phía Tây Nam huyện dò tìm núi đá khai khẩn lập nghiệp. Cũng nhằm noi gương các vua triều ta mà cho xây dựng chùa Báo Ân để cũng nhằm Báo Ân vua đã thương tưởng và trọng dụng Ngài.
4.3.2 Vị trí địa lý và kiến trúc chùa:
Vùng đất ở Thanh Hóa là một vùng đất thiên có rất nhiều khoáng sản quý. Như núi An Hoạch là một vùng đất có nhiều đá quý. Theo như bia khắc thì: “Thái úy Lý công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Vì ở phía Tây Nam huyện có một quả núi lớn cao gọi là núi An Hoạch. Sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quý giá của mọi người. Sắc óng ánh như chiếc ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi nghìn đời. Vùng núi An Hoạch là vùng núi linh thiêng và phong cảnh đẹp “phía Nam thì giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Phượng, bên cạnh vút đồi Bạch Long, dòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi Ngung Di, trong khoảng giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù Tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội Cốc, trấn át ngọn núi cao, tiến ánh tà dương thoáng lượt qua khe cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng”. Đây đúng là một vùng đất thiên cũng như bức tranh sơn thủy. Với âm hưởng như chốn thiền môn thanh tịnh nên Lý Thường Kiệt đã cho người ra công xây dựng chùa Báo Ân tại núi An Hoạch.
Chùa với kiến trúc mang âm hưởng của Kinh Đô Thăng Long, cùng hòa nguyện với phong cảnh hữu tình tạo nên không gian của một cảnh thiền lâm tịch tĩnh. “ Cho nên tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành”
Chùa Báo Ân có lối kiến trúc rất độc đáo, hạ đường chỉ là một nhà tranh, nhưng thượng đường lại lợp ngói. Bên trong có một pho tượng Phật rất xưa, cao gần 2m đặt ở giữa, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng. Pho tượng Phật xưa thiếp vàng, nay lớp vàng ấy đã bị phai hết, chỉ còn lớp sơn đen, nhưng trông rất đẹp. Pho tượng ngồi được đặt trên tòa sen, tòa sen đặt trên lưng một con vật bằng đá, điêu khắc rất tinh xảo. Con vật ấy có đầu hình lợn, tất cả được đặt trên một bệ đá, chạm theo lối điêu khắc của cổ vật Chàm. Trong chùa còn có nhiều bệ đá, trong số ấy có chạm hình aguda ở góc dưới. Các tảng đá kê cột cũng chạm hình hoa sen tinh xảo. Chùa với một kiến trúc thanh tao mà đậm nét thiền vị, lại nằm ở một nơi địa thế rất là thanh nhã, sơn thủy hữu tình tạo thành một bức tranh đẹp.
4.3.3 Mô tả toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân:
Trong bài văn bia ở chùa Báo Ân, Chu Văn Thường còn mô tả quan cảnh chùa thật khéo léo, với cái nhìn tổng thể từng chi tiết, làm cho người đọc cảm nhận một thế giới thần tiên được hiện lên trước mặt: “Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thanh điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Phượng, bên cạnh vút đồi Bạch Long, dòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi Ngung di, trong khoảng giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù Tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi, hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng”. Qua đó, chúng ta có thể hình dung toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân thật đẹp, giống như một bức tranh vẽ, vừa lộng lẫy vừa linh thiêng huyền tịch, vắng lặng và thanh tịnh.
5. Ý nghĩa và giá trị Chùa Báo Ân đối với đời sống xã hội Đại Việt:
Sau khi tìm hiểu nội dung bài văn bia ở Chùa Báo Ân núi An Hoạch, cũng như qua sự miêu tả của tác giả về ngôi chùa. Chúng ta thấy, đây là một vùng địa linh nhân kiệt, phong cảnh thần tiên thoát tục, rất phù hợp để xây dựng một ngôi già lam, là nơi giao hưởng giữa con người với thiên nhiên một cách sâu sắc.
Chùa Báo Ân có thể xem là một thành tựu về niềm tự hào của Phật giáo Đại Việt dưới thời nhà Lý nói riêng và của Phật giáo Việt Nam nói chung. Chùa được xem là một di sản văn hóa tâm linh giúp cho mọi người làm nơi nương tựa tinh thần, gạt bỏ những đua chen danh lợi bên ngoài, tất cả được bắt nguồn từ cơ sở giáo lý Phật giáo đã dạy. Mà cụ thể là triều đại nhà Lý, từ vua, quan cho đến dân thường đều áp dụng trong việc điều hành đất nước cũng như trong cuộc sống. Dựng bia là một việc rất quan trọng, để lại đời sau biết rõ được nguyên nhân, nguồn gốc, lý do xây dựng chùa, và nói đến cả phong cảnh và địa thế của nơi xây dựng chùa. Để đời sau có thể biết đến mà kính ngưỡng, cũng nhằm ghi công những vị khai quốc giúp đất nước được thái bình nhân dân ấm no, an cư lạc nghiệp. Đúng với câu: “Ngàn năm bia đá vẫn còn khắc ghi”.
IV. KẾT LUẬN:
Khi khảo sát bài văn bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, chúng ta thấy triều đại nhà Lý đã xây dựng hình tượng nhân vật được trang bị vừa có tấm lòng đầy đủ giới đức, tâm đức, trí tuệ, vô ngã vị tha, biết yêu thương mọi người mà giáo lý nhà Phật đã dạy. Đồng thời những con người ấy có công lao to lớn đối với dân tộc với quốc gia xã tắc, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho muôn dân, mà vua quan nhà Lý là một điển hình.
Bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường, như một bức thông điệp mà tác giả muốn gợi lại trong lòng mỗi chúng ta về niềm tự hào của dân tộc. Đồng thời, cũng muốn nhắn gởi cho người đời sau hãy noi gương các bậc tiền bối, mà cụ thể như Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, họ đã quên mình, vì xã tắc góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và phát triển đạo pháp một cách tích cực. Tất cả những hành động mang tính nhân văn đó, là nhờ thấm nhuần giáo lý Phật giáo, lấy đó làm cơ sở để xây dựng tâm thức con người hướng thiện, bắt nguồn từ việc xây chùa, tạo tượng, thờ Phật, đúc chuông là việc làm vô cùng quan trọng, nó biểu thị sức mạnh đoàn kết toàn dân, khai phóng trí tuệ đời sống văn hóa Đại Việt thật đáng trân trọng.
Qua đó, ngôi chùa Báo Ân được xem là một di sản văn hóa, là niềm tự hào của dân tộc cần được giữ gìn và phát triển. Nơi đây không chỉ để thờ cúng mà còn là trung tâm văn hóa, có mối giao lưu mật thiết giữa con người với thiên nhiên, hướng con người đến đời sống thánh thiện. Vì mọi giá trị trong cuộc đời này có mặt khi giá trị tâm thức con người luôn hiện hữu. Lý Thường Kiệt đã vì dân vì nước mà giữ yên bờ cõi đúng tinh thần “hộ quốc an dân” và cho xây dựng chùa Báo Ân để đền ơn vua thương tưởng ban tước, cũng để báo đền bốn ơn nặng. Một con người với tâm thức trong sáng, một trí tuệ cao cả, một tấm lòng biết yêu thương, thì con người ấy chẳng những được sự an lạc ngay bản thân, mà còn đem lại cho mọi người một cuộc sống thanh bình, nhà nhà thịnh vượng, xã hội ấm no hạnh phúc.
MỤC LỤC THAM KHẢO :
1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988.
2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697).
3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993.
4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977.
6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978.
7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét