THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHÂN NGÔN

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHÂN NGÔN Vãng sanh quyết định chơn ngôn hay Vãng sanh Tịnh độ thần chú là mật ngôn được trì niệm phổ biến trong các khóa lễ Tịnh độ, cầu siêu. Thần chú này có tên đầy đủ là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà la ni. Cứ vào tên của Đà la ni (Tổng trì, thâu nhiếp vạn pháp, tạm gọi là chơn ngôn hoặc thần chú) cho biết thần chú này có công năng phá trừ tất cả nghiệp chướng căn bản, để được vãng sanh về Cực lạc. Theo kinh Niệm Phật Ba la mật, phẩm thứ 7 (HT.Thích Thiền Tâm dịch), Bồ tát Phổ Hiền vì thương xót chúng sanh thời mạt pháp nên nói Đà la ni này để trợ duyên được mau vãng sanh về Tịnh độ: “Lúc bấy giờ, Ngài Phổ Hiền Đại Bồ tát bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Con nay vì thương tưởng chúng sanh nơi thời mạt pháp, khi ấy kiếp giảm thọ mạng ngắn ngủi, phước đức kém thiếu, loạn trược tăng nhiều, kẻ chân thật tu hành rất ít. Con sẽ ban cho người niệm Phật thần chú Đà la ni này để thủ hộ thân tâm, nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng, trừ sạch phiền não, được mau chóng sanh về Cực lạc, gọi là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà la ni. Liền nói chú rằng: Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. Người niệm Phật phải giữ giới, ăn chay, thân khẩu ý đều phải thanh tịnh. Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng 21 biến. Như vậy, diệt được các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và hủy báng Chánh pháp. Thường được Phật A Di Đà hiện trên đỉnh đầu. Hiện đời an ổn, phước lạc. Khi trút hơi thở cuối cùng được tùy nguyện vãng sanh. Trì tụng đến ba chục ngàn biến liền thấy Phật ngay trước mặt”. Xưa nay, phần lớn những hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ thường trì niệm thần chú Vãng sanh theo phiên âm tiếng Hán. Chúng ta có thể trì niệm theo nguyên văn tiếng Phạn (đã phiên âm) và tìm hiểu đôi chút về “ý nghĩa” của thần chú này. - Namo Amitàbhàya (Na-mô A-mi-ta-pha-gia) Nam mô A di đa bà dạ Quy mạng Vô Lượng Quang (A Di Đà) - Tathàgatàya (Ta-tha-ga-ta-gia) Đa tha già đa dạ Như Lai - Tadyathà (Ta-di-gia-tha) Đa điệt dạ tha Nên nói thần chú - Amrto dbhave (A-mờ-rật-tô đờ-pha-vê) A di rị đô bà tỳ Cam lộ hiện lên - Amrta sambhave (A-mờ-rật-ta sam-pha-vê) A di rị đa tất đam bà tỳ Cam lộ phát sinh - Amrta vikrànte (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-tê) A di rị đa tỳ ca lan đế Cam lộ dũng mãnh - Amrta vikrànta gamini (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-ta ga-mi-ni) A di rị đa tỳ ca lan đa già di nị Đạt đến Cam lộ dũng mãnh - Gagana kìrtti kare (Ga-ga-na kít-ti ka-rê) Già già na, chỉ đa ca lệ Rải đầy hư không - Svàhà (Sờ-va-ha) Ta bà ha Thành tựu cát tường. Như vậy, Bồ tát Phổ Hiền trong pháp hội tại Linh Sơn đã vì chúng sanh đời mạt pháp về sau mà xin phép Thế Tôn tuyên thuyết thần chú Vãng sanh. Theo lời dạy của Bồ tát, nếu có người nào phát nguyện sanh về Cực lạc nhưng vì phước mỏng nghiệp dày, niệm Phật chưa đạt đến nhất tâm thì có thể nương nhờ công đức của thần chú Vãng sanh để được như nguyện. Hành giả thực hành trai giới, giữ ba nghiệp: thân, miệng, ý thanh tịnh; mỗi ngày trì niệm 6 thời, mỗi thời 21 biến thì chắc chắn tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, cho dù là ngũ nghịch hay thập ác tội chướng.
VÌ SAO CẦN PHẢI NIỆM PHẬT? Vì sao lúc bình thường chúng ta cần phải niệm Phật? Lúc bình thường chúng ta thường niệm Phật là để chuẩn bị cho lúc lâm chung. Thế thì tại sao không đợi đến lúc lâm chung rồi hãy niệm Phật? Tập quán là thói quen được huân tập qua nhiều ngày, nhiều tháng. Cho nên, nếu bình thường các bạn không có tập quán niệm Phật thì đến lúc lâm chung các bạn sẽ không nhớ ra là mình cần phải niệm Phật. Do đó, lúc bình thường mình cần phải học niệm Phật, tu Pháp-môn Tịnh Ðộ, đến lúc lâm chung mới không hoảng hốt, luống cuống, mà trái lại, sẽ an nhiên vãng sanh Thế Giới Cực-lạc! Vì sao chúng ta cần phải vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc? Là vì khi Ðức Phật A Di Ðà ở nhân địa tu hành làm thầy tỳ kheo, Ngài đã từng phát bốn mươi tám đại nguyện mà trong đó có nói rằng: "Sau khi tôi thành Phật, nếu trong mười phương có chúng sanh nào niệm 'A-Di-Ðà Phật,' danh hiệu của tôi, thì tôi nhất định sẽ tiếp dẫn người đó tới thế giới của tôi, và trong tương lai, vị ấy sẽ được thành Phật. Ở thế giới của tôi, ai ai cũng đều hóa sanh từ hoa sen, nên thân thể của họ hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm." Bởi Ðức Phật A Di Ðà đã phát nguyện lớn như vậy, nên tất cả chúng sanh đều nên tu Pháp-môn Niệm Phật, một pháp-môn rất hợp với căn cơ của mọi người và cũng rất dễ tu. Trong Kinh còn dạy: Ðời Mạt Pháp, một ức người tu hành hiếm khi có được một người đắc Ðạo; duy có tu Pháp-môn Niệm Phật là ai cũng được độ thoát. Ý nói rằng trong số một ức người tu hành, hiếm hoi lắm mới có một người đắc Ðạo; chỉ có Pháp-môn Niệm Phật là có thể giúp mọi người vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc và do đó được độ thoát. Ðặc biệt là trong thời Mạt Pháp hiện tại, niệm Phật chính là pháp môn hợp với căn cơ của mọi người nhất. Song, Âu Mỹ hiện nay không phải đang ở vào thời đại Mạt Pháp mà có thể nói là đang ở vào thời đại Chánh Pháp. Vì sao nói Âu Mỹ đang ở vào thời đại Chánh Pháp? Vì Phật Pháp vừa mới được truyền tới các nước ở phương Tây và hiện đang vào lúc hưng thịnh. Do đó, hiện tại ở Mỹ quốc có rất nhiều người rất thích tham Thiền, tịnh tọa; đó cũng là biểu hiện của Chánh Pháp. Thời Chánh Pháp, ai cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật. Thời Mạt Pháp mọi người cũng có thể tu Pháp-môn Niệm Phật, ở bất cứ thời đại nào mình cũng có thể tu pháp môn này. Nếu như có người đối với các pháp môn khác không thể dụng công được, thì nên tu Pháp Niệm Phật. Thiền-sư Vĩnh Minh Diên Thọ có nói rằng: Hữu Thiền, hữu Tịnh Ðộ, Do như đái giác hổ. (Có Thiền, có Tịnh-Ðộ, Như hổ mọc thêm sừng.) Những người vừa tham Thiền và vừa niệm Phật thì giống như cọp mà mọc thêm sừng, oai thế vô cùng. Họ có thể: Hiện thế vi nhân sư, Tương lai tác Phật Tổ. (Ðời này làm Thầy mọi người, Tương lai thành Phật, làm Tổ.) Do đó, người chân chánh tham Thiền tức là người chân chánh niệm Phật, người chân chánh niệm Phật cũng chính là người chân chánh tham Thiền. Nói sâu một chút nữa, người chân chánh trì Giới chính là người chân chánh tham Thiền, và người chân chánh tham Thiền cũng là người chân chánh trì Giới. Thế thì, người chân chánh giảng Kinh thuyết Pháp, tức là người thật sự vì giảng Kinh mà giảng Kinh, thì cũng là người chân chánh tham Thiền! Trong Chứng Ðạo Ca, Ðại-sư Vĩnh Gia có nói rằng: Tông diệc thông, Thuyết diệc thông, Ðịnh, Huệ viên minh bất trệ không. (Tông cũng thông, Thuyết cũng thông, Ðịnh, Huệ sáng tròn chẳng trệ không.) Vậy, người vừa biết tham Thiền lại vừa biết giảng Kinh là người thông suốt cả tông lẫn thuyết. Nói sâu một chút nữa, thì người chân chánh trì Chú, chân chánh tu Mật Tông, cũng là người chân chánh tham Thiền. Vì lẽ đó, tuy nói Thiền, Giáo, Luật, Mật, Tịnh là năm pháp môn, nhưng nếu xét đến ngọn nguồn thì tất cả chỉ là một chứ không phải là sai khác. Nếu giảng sâu thêm chút nữa thì ngay cả "một" cũng chẳng còn, thì làm gì mà có "năm" được chứ? Người chân chánh học Phật Pháp cần phải hiểu điểm này cho rõ ràng. Những kẻ có khuynh hướng phân chia tông phái thì cho rằng Pháp-môn Niệm Phật cao nhất, còn Tham Thiền là không đúng; cũng có người nói Tham Thiền là pháp cao nhất, còn Niệm Phật là sai lầm, những ai có quan niệm như thế đều là những người chưa hiểu rõ Phật Pháp. Phải biết rằng: Nhất thiết giai thị Phật Pháp, giai bất khả đắc. (Tất cả đều là Phật Pháp, đều không thể chứng đắc.) Ðã "không có pháp gì có thể chứng đắc được," hà tất phải chấp trước thêm những thứ không nên chấp trước, đương không có chuyện lại tìm thêm chuyện, hoặc gây ra chuyện. Nếu các bạn thật sự hiểu rõ pháp, thì "không có pháp gì có thể chứng đắc được." Song le, đối với những ai không hiểu Phật Pháp mà mình nói rằng cái gì cũng hoàn toàn không có cả thì họ sẽ thất vọng. Do đó, Ðức Phật dạy Quyền Pháp (Giáo pháp quyền biến, tạm thời) để đưa về Thực Pháp (Pháp chân thật) và thuyết giảng Quyền Trí để dẫn về Thực Trí. Vậy, Thực Trí là gì? Thực Trí là một "quy vô sở đắc," trở về lại chỗ không chứng đắc. Thứ tướng chân thật, không có hình tướng, nhưng cũng chẳng có "không có hình tướng," mới chính là trí huệ chân thật vậy!
VÔ NGÃ Con cám ơn Cụ Tưởng Vậy đã mở lòng Từ bi trả lời câu hỏi của con. Con có đôi dòng muốn hỏi Cụ về bài viết lần trước con hỏi Cụ và được Cụ trả lời như sau: Thứ 1: Do "Vô Ngã" nên định luật luân hồi không chi phối được. Cụ có thể nói rõ ý nghĩa nguyên câu cho con hiểu được không ạ? Thứ 2: Tứ Thánh Định là các giai đoạn tiến tới "Vô Ngã". => Đây là một câu trả lời mở, không nói rõ là chỉ cần Tứ Thánh Định là đủ. Hay cần phải thêm định nào nữa hoặc phương tiện nào khác để đạt Vô Ngã? Thứ 3: Người tu chứng có thể tự mình nói mình đã chứng được không? "Tôi đã chứng và tôi chưa chứng" Ngoài ra con còn có hỏi Cụ câu này mà chưa thấy cụ trả lời, đó là câu: "Và có phương pháp nào tu tập để nhanh chóng đắc được Tứ thiền, làm chủ Sanh, Lão, Bệnh, Tử không thầy?" Câu hỏi mới: Xin Cụ mở lòng từ bi giảng rõ cho con hiểu về Tiểu thừa và Đại thừa. Đạo phật không chấp nhận có sự tồn tại của một linh hồn nào đó có đúng như vậy không Cụ? Nếu vậy thì Thần thức là gì hả Cụ? Con xin trích một phần bài viết "Hãy tự mình thắp đuốc mà đi của Tỳ kheo Thích Minh Châu" Một lần, khi Ðức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda (Trường III, trang 101), và một lần khác, trước tin tôn giả Sàriputta (Xá lợi Phất) đã mệnh chung và trước sự lo âu của tôn giả Ananda (A Nan) (Trường V, 170), Ðức Phật đã tuyên bố lời dạy này, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch: -- "Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác ... Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo trú quán trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trú quán thọ trên các cảm thọ ... trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác. Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi". Ở đây vì chữ Dipa vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có thể dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình. Trong lời dạy đặc biệt quan trọng và hy hữu này, Ðức Phật nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác. Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Thế Tôn dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử. Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Thế Tôn đã tự mình dùng nỗ lực cá nhân, đã tự mình tự lực tìm đạo, hỏi đạo với hai vị đạo sư ngoại đạo thời danh là Alara Kalama và Uddaka Ràmaputta, đã tự mình tự lực hành trì khổ hạnh, đã tự mình tự lực hành thiền, và cũng tự mình tự lực phát triển trí tuệ và cuối cùng thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề, thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, không phải là hóa thân của một đấng tối cao nào. Ngài chỉ là một người, với sức mạnh thể lực và trí lực của con người, đã tự mình tìm đạo và tìm đạo thành công, đã tự mình hành đạo và hành đạo có kết quả, đã tự mình chứng đạo và chứng đạo hoàn toàn viên mãn, như chúng ta đã thấy rõ trong đời sống của Ngài, nếu chúng ta gạt bỏ qua một bên những thêm thắt về sau để thần thánh hóa đời sống của Ngài. Ngài đã tự lực tìm đạo và học đạo và tự diễn tả như sau: "Không phải chỉ Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta phải cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama, sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt đã tuyên bố. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú" (Trung I, 164b). Về sau tu khổ hạnh, Ngài cũng tự mình tự hành trì khổ hạnh như Ngài đã tự diễn tả: "Vì Ta ăn quá ít, chân tay Ta đã trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, nên bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu ..." (Trung I, 80). Ðức Phật sau khi hành trì khổ hạnh không có kết quả. Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu tự mình hành thiền, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, phát triển tuệ trí, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết như thật khổ, biết như thật các lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa" (Trung I, 248). Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, tự mình từ bỏ khổ hạnh, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ, Ðức Phật chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðối với bậc Ðạo Sư đã dựa vào tự lực để tầm đạo, học đạo và chứng đạo, nên trong 45 năm hoằng pháp độ sanh, lời dạy chủ yếu của Ngài cho các đệ tử cũng là lời dạy tự lực tự tri: "Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác". Trước hết, Ðức Phật xác nhận "cầu xin" và "ước vọng" không có lợi gì, không những trên con đường thực hành chánh pháp mà còn cả vấn đề ước vọng thế gian. Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 nêu rõ: "Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy. Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sanh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu. Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước. Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì". Đạo Phật không chấp nhận có một đấng toàn năng, vậy Tha lực là nương dựa vào một đấng Quyền năng nào đó Vô hình đúng không Cụ? Có khi nào cái vô hình ấy là Tưởng lực, tưởng thức hay do tưởng uẩn tạo nên làm cho người tu tập đi sai đường, đúng không Cụ? Mong Cụ giảng cho con biết về Tha lực. Pháp môn Đại thừa là tu tập nương vào Tha lực hoặc một phần nào Tha Lực đúng không Cụ?. Nếu có thì như vậy có trái với những điều Phật Thích Ca đã nói không cụ? "Vậy nên Ananda...Nương tựa vào chính mình..." Ý thức thanh tịnh không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì? Con rất mong nhận được lời chỉ dạy từ Cụ. Kính chúc Cụ Thân tâm An lạc . . . . . Nam Mô A Di Đà Phật 1/ Bạn đã hỏi cụ Tưởng Vậy về "Định luật luân hồi". - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ khái niệm mà bạn đã dùng khi hỏi Cụ. Đó là : "Định luật luân hồi"? Theo bạn thì thế nào là "định luật luân hồi"? Bạn đã có cái thực chứng về luân hồi chưa mà biết về luân hồi mà nói. Hay là bạn nghe Như Lai và các bậc tiền bối nói rồi chỉ nói lại. Định luật luân hồi theo bạn hiểu là như thế nào? 2/. . .không nói rõ là chỉ cần Tứ Thánh Định là đủ. Hay cần phải thêm định nào nữa hoặc phương tiện nào khác để đạt Vô Ngã? - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là: Định. Theo bạn thì thế nào là Định? Làm sao bạn biết mình đang Định? Khi bạn đang tu học chưa giác ngộ thì đang ở phạm trù của tâm trí nhị nguyên. Vậy bạn dùng cái biết của tâm trí để biết mình đang Định hay nhờ người khác ấn chứng cho mình đã Định. Thì cái người ấn chứng cho bạn chắc đã thành Phật rồi hay sao mà biết chắc là đúng? 3/ Người tu chứng có thể tự mình nói mình đã chứng được không? "Tôi đã chứng và tôi chưa chứng" - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là: Tự mình và Tôi. Theo bạn thế nào là: Tự Mình? Nghĩa là "Con người thật của bạn" là gì? Chắc bạn phải biết thì bạn mới dùng từ "Tự Mình" chứ? Theo bạn thì thế nào là Tôi? Khái niệm ấy bạn dùng có nghĩa là gì? Tôi của bạn là ai? Bạn nên nói ý kiến của mình chứ đừng nên trích lời Phật. Vì Phật nói vậy chứ bạn chắc gì đã hiểu đúng lời Phật dạy? 4/ Và có phương pháp nào tu tập để nhanh chóng đắc được Tứ thiền, làm chủ Sanh, Lão, Bệnh, Tử không thầy?" - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là: Thiền và Làm chủ. Theo bạn thì thế nào là Thiền? Chắc bạn phải biết thì bạn mới dùng từ này chứ? Bạn đã dùng từ "làm chủ". Vậy theo bạn thì Ai làm chủ? Phật nói rốt ráo là Vô Ngã. Vậy thực ra làm gì có Ai mà có việc làm chủ? Vậy khái niệm "làm chủ" của bạn là gì? 5/ Xin Cụ mở lòng từ bi giảng rõ cho con hiểu về Tiểu thừa và Đại thừa. Cụ không phải là người đã đặt ra các từ ấy. Bạn nên kiếm người đã đặt ra 2 từ ấy để hỏi. Vả lại bạn đã dùng nó trong câu hỏi. Vậy khái niệm Tiểu Thừa và Đại Thừa mà bạn đã dùng nghĩa là gì? Tôi phải biết phạm trù câu hỏi của bạn thì mới trả lời được chứ. 6/ Đạo Phật không chấp nhận có sự tồn tại của một linh hồn nào đó có đúng như vậy không Cụ? Nếu vậy thì Thần thức là gì hả Cụ? - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là: Linh hồn và Thần thức. Đã là khái niệm thì mỗi người có một cách hiểu khác nhau. Mà bạn thì đã dùng nó trong câu hỏi. Vậy khái niệm "linh hồn" theo kiểu của bạn là gì? Khái niệm "thần thức" theo kiểu mà bạn đã dùng là gì ? 7/ Bạn hay trích Kinh của Phật và viện dẫn ý kiến của người khác. Còn ý kiến của bạn là gì thì rất tiếc lại không hề thấy? Sao bạn thích nhai lại ý kiến của người khác thế? Nếu bạn không phải vậy, thì khi bạn trích kinh Phật bạn hãy nói cái hiểu biết của mình về vấn đề ấy đi: Trọng đoạn kinh bạn trích dẫn có viết: "-- "Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác ... Trong ấy có dùng các khái niệm: Chính mình , tự mình, chánh pháp. Vậy theo bạn khái niệm "Chính mình và tự mình" có nghĩa là gì? Mình là Ai? Trong khi rốt ráo Phật nói là "Vô ngã"? Bạn hiểu thế nào về vấn đề này? Theo bạn thế nào là "chánh pháp"? Chánh hay Tà ấy lấy gì làm tiêu chuẩn. Và bạn dùng cái tâm trí phàm phu chưa giác ngộ của mình để xét đoán phân biệt Chánh Tà sao? Trong đoạn kinh bạn trích dẫn có viết: ". . .trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm. . ." Trong ấy Phật đã dùng khái niệm "tâm". Vậy bạn hiểu thế nào là Tâm? Chắc bạn biết thì bạn mới trích dẫn nó chứ?!!! 8/ Mong Cụ giảng cho con biết về Tha lực. - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là : Tha lực Theo bạn khái niệm "Tha Lực" mà bạn dùng nghĩa là gì? Muốn xác định"Tha Lực" hay "Tự lực" thì căn cứ vào cái Mốc nào? Cái mốc ấy có phải là "Chính mình". Vậy "Chính mình " theo bạn là gì? Tôi là ai? Bạn có biết chăng? Khi bạn chưa xác định"Tôi là ai?" thì làm gì có chuyện trong Tôi hay ngoài Tôi! 9/ Ý thức thanh tịnh không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì? - Mô Phật, để có thể trao đổi với bạn về vấn đề này. Bạn cần phải làm rõ các khái niệm mà bạn đã dùng trong câu hỏi, đó là : Ý thức thanh tịnh. Theo bạn khái niệm "ý thức" mà bạn đã dùng có nghĩa là gì? Và thế nào là "thanh tịnh"? Lấy cái gì để xét đoán là thanh tịnh hay không thanh tịnh? Bạn chưa thành Phật vậy cái tâm xét đoán của bạn là vô minh mà đem nó ra làm cân để cân Thanh Tịnh sao?! Hy vọng bạn không phải chỉ biết lập lại lời người khác mà không hiểu gì. Bạn chỉ biết trích dẫn lời người khác còn ý kiến của bạn về những vấn đề này là gì? Gàn này đang chờ bạn nói rõ những khái niệm mà bạn đã dùng để có cơ sở tiếp tục hầu chuyện với bạn. Ba Gàn/22/5/2008 . . . . . . Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Thưa đạo hữu Đạo hữu đã có lòng hỏi những vấn đề ấy. Nhưng tình thật già này không biết, nên không trả lời cho đạo hữu
được. Xin đạo hữu hãy đến chùa tác bạch những điều này để chư Hòa Thượng khai ân chỉ dạy cho. Thành thật xin lỗi quí đạo hữu.
VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT • Ngồi bán già: Chỉ có để chân trái lên đùi phải, cũng có thể để chân phải lên đùi trái mà ngồi yên thì cũng tạm được. Không nên ngồi xếp bằng vì rất cấn. Ngoài ra tất cả bố trí đều giống hệt như ngồi kiết già. • Ngồi trên ghế thòng chân: Cách này để dành riêng cho những người không thể ngồi bán già, kiết già, hay xếp bằng hoặc vì tuổi cao, xương cứng. Ngồi cách này thì phải có ghế vuông hay trường kỷ, hoặc ngồi trên giường thòng chân. Với 3 cách ngồi này cốt sao cho được vững vàng, thẳng người cho ngồi được lâu. Về phương tiện, nên ngồi trên chiếu hay trên ván, có lót bồ đoàn hay mền chớ không nên ngồi trên nệm, vì ngồi nệm dễ cấn thịt, dễ bị tê. Ngồi ván tuy bị cấn xương đau chớ không có tê nên dễ điều chỉnh. 6. Phần thực hành: a. Chuẩn bị: Tùy khả năng mỗi người có thể phân ngày đêm ra từ 2 đến 4 thời. Khi bắt đầu ngồi thì phải xếp đặt chỗ ngồi, quay mặt vào vách, nới thắt lưng và bâu áo cho thong thả. Nếu trời lạnh thì đội mũ hay đội khăn che khuất 2 lỗ tai. Tư thế phải giữ cho lưng thật thẳng, chớ không nên ễnh, vì ễnh thì khí lực sẽ xông lên làm nặng đầu, còn khòm thì dễ ngủ gục. Ngồi xong khẽ ấn người nghiêng bên phải, bên trái cho các đốt xương sống được ngay. Vì thường xương sống của mỗi người do tập quán sinh hoạt mà thường bị lệch lạc. Giữ đầu cho thẳng, 2 mắt buông xuôi mí xuống để nhắm theo thế tự nhiên, không nên mở, vì mở thì thấy ở ngoài và tâm quang bị phân tán. Cũng không nhắm híp vì nhắm khít quá mất tự nhiên dễ ngủ gục. Xong rồi bố trí hai bàn tay như đã nói trên và làm như hơi mỉm cười để xóa hết những chuyện ban ngày và tưởng cho tuyến mũi xuống rún được thẳng một hàng với nhau. Tiếp theo đó, hít vào thở thật nhẹ, chậm chậm để tự nhiên cho bụng dưới từ từ nở ra. Thở ra cũng chậm chậm cho bằng cái hít vào. Và bụng dưới từ từ thót lại. Hít vào thở ra bằng mũi, và miệng bao giờ cũng ngậm kín, giữ cho hơi thở được tương đối đều, đừng nghe tiếng càng tốt. Nếu trụ thần được dưới rún thì nhiệt lực sẽ tụ về bên dưới, và ăn uống được tiêu hoá không bị trở ngại. Nên chú ý khi bắt đầu điều chỉnh hơi thở, nhắm mắt lại, nếu hơi thở có tiếng kho kho một cách êm đềm tế nhị, dù tiếng đó có hết sức nhỏ cũng phải hiểu đó là điểm sắp đi vào cõi ngủ. Khi mới tập nếu có đồng hồ nên canh giờ quyết định, mới tập chót hết cũng phải 20 phút. b. Hạ thủ công phu: Nên nhớ việc chánh yếu của hạ thủ công phu là tiến về tâm thể vô niệm. Giai đoạn thứ nhất: Dùng niệm nhiếp niệm: Ta chọn lấy một câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT hay DƯỢC SƯ NHƯ LAI. Nếu là câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT thì trong khi thu xếp tĩnh tọa, thân yên lặng nhắm mắt ngậm miệng lại, răng cắn vừa đụng nhau, lưỡi đụng răng, tay không lần chuỗi, không quán tưởng để ngừa phân tâm hay ly tâm hướng ngoại. Trong tâm mặc niệm 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT một cách đều đều không gấp không hưỡn, vừa nhắm con mắt thịt lại cũng vừa mở hoác con mắt tâm ra, soi hẳn vào trong thân tâm để tìm lấy tướng chuyển động của làn sóng mặc niệm trong thân tâm xem nó ở đâu, ra sao? Cứ vừa theo dõi, vừa mặc niệm, không nên gấp, không nên hưỡn. Cứ như thế mà tiến. Buổi đầu chỉ là một khốt tối thui hoặc vọng niệm xẹt ra xẹt vào, mặc kệ nó. Thời gian này ít nhất cũng phải hao phí từ một tuần lễ đến 10 ngày hay nửa tháng thì tình trạng hỗn độn tối thui mới bắt đầu sáng sủa. Nếu người nặng nề nghiệp dâm, nghiệp sát thì có thể hao phí hàng tháng cũng nên. Khi nước tâm đã lắng trong, tình trạng hỗn độn được sáng sủa thì hành giả sẽ dễ dàng bắt gặp làn sóng đông tướng năng niệm của câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT đang rung chuyển một cách đều đều. Nhưng nên nhớ nếu ngừng hẳn mặc niệm thì làn sóng rung chuyển này sẽ bị mờ mất hút. Phải cố giữ cho mặc niệm đều đều và chú tâm theo dõi cho thật sat đến bao giờ mãn giờ tĩnh tọa sẽ xả ra. Đến được hiện tượng này ít nhất hành giả cũng đã tiến lên ½ giờ mỗi thời và hao phí ít nhất cũng từ 1 đến 3 tháng tùy trình độ bén nhạy của mỗi người. Điều nên biết là: mặc niệm liên tục cố để qui tụ muôn niệm vọng tâm, kết thành một khối cho tinh thần được định. Còn chú tâm vào làn sóng động tướng năng niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT là để ngăn hẳn si mê không cho xuất hiện, tinh thần thường trực tỉnh táo, sáng suốt, cho định và huệ cân nhau. Khi đã kết qủa đúng như dự định thì phải giữ tình trạng này cho kéo dài thêm ít nhất từ ½ tháng đến 1 tháng rồi mới nên bước sang giai đoạn 2. Đến đây thời gian tĩnh toạ cũng theo đây mà gia tăng. Hành giả nên biết giai đoạn một này là nền tảng cho tất cả giai đoạn sau. Nên càng thực hành kỹ lưỡng chừng nào thì kết quả càng được chín chắn chừng nấy. Từ khi phát hiện làn sóng động tướng năng niệm trong thân thì hành giả sẽ bắt đầu đi vào cõi toàn thân được thoải mái yên ổn, không còn cảm thấy lăng nhăng ray rứt như buổi đầu; để rồi trạng thái này sẽ lên cao, kéo dài hơn nữa và lần lần vào cõi thanh lương an lạc, hành giả nên thận trọng. Một điều nữa cần phải biết là khi phát hiện được làn sóng động tướng năng niệm của câu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT đang mặc niệm; chính là lúc muôn niệm chầu về làm một niệm. Nhưng không phải một lần tụ về là tất cả vọng niệm đều tụ hết, mà có khi còn bao nhiêu vọng niệm tản mác, rải rác khắp mọi nơi; niệm nhiếp niệm càng kỹ, theo dõi càng sát; giữ thời gian càng được kéo dài thì sự qui tụ vọng niệm càng được kỹ càng hơn, để tránh khỏi rơi vào thế làm một lần không kỹ thì sự chữa đi chữa lại cũng phải hao tốn nhiều lần. Giai đoạn thứ hai: Dùng niệm hóa niệm: Trên kia ta đã thực hành pháp dùng niệm nhiếp nhiệm để cho muôn vọng niệm đều qui tụ về một niệm. Nhưng phải biết vọng niệm tuy không có hình tướng mà vẫn có tụ có tan, nếu đã thực hành pháp dùng niệm nhiếp niệm rồi thấy chừng như muôn niệm đã đóng thành một khối, và chừng như nếu ta ngừng niệm thì nó sẽ tan biến đi mất. Nhưng sự thật nào có thế đâu. Nếu ta ngừng niệm thì lấn hồi nó sẽ tản mát ra khắp mọi nơi, để nó sẽ tổ chức ráp lại như cũ, hay hoặc nó giữ nguyên trạng mà lắc lư bắt ta phải theo đà đó mà niệm liên tục, để rồi nếu ta được vãng sanh về nước cực lạc, thì nước cực lạc đó nếu không phải là Tiểu Lôi Âm trong Tây Du Ký, thì cũng là một thứ nước cực lạc kiến thiết tựa lưng vào vách của ông hỗn độn vô ký mà thiền học có khi gọi là cụm mây chắng ngang hang núi làm cho đàn chim vỡ tổ lạc mất lối về, cũng có khi gọi là bị một mảng mạt vàng rơi vào con mắt. Vì thế phải lợi dụng kỹ thuật dùng niệm hoá niệm này là một hóa chất cho tất cả khối vọng tâm phải tiêu tan từng đợt, từng đợt theo thời gian ngắn để đi đến tâm thể vô niệm vĩnh viễn thực tại, và khi có nghĩ một điều gì tức là chơn như tự tánh khởi niệm, việc ấy sẽ hiển hiện một cách rõ ràng, chớ không khó khăn như trước. Hoá niệm bằng cách nào?? Nghĩa là trong khi tĩnh tọa, vừa mặc niệm danh hiệu Phật đều đều liên tục, vừa phát giác động tướng của làn sóng mặc niệm cũng một cách đều đều liên tục, và cũng bắt đầu thêm vào: “Lạ thật! tấm thân này chỉ là một khối vật chất tứ đại giả hợp không thể có khả năng niệm Phật, cũng không thể có khả năng tạo nên vọng niệm; nó vốn tuyệt đối tỉnh chí. Thế sao hiện giờ lại có ra làn sóng động tướng năng này? Vậy cứu tận của nó là cái gì? Nó có bằng cách nào? Mà quả thật vậy, nó đang hiển hiện rõ ràng trong thân ta, tại sao có chuyện kỳ bí đến thế? Đặt nghi vấn này là áp dụng thân giác để dựng đứng nghi tình. Mục đích là để tiêu hóa vọng niệm cho không còn chỗ bám víu, chớ không phải để mò tìm câu trả lời rằng nó là tâm, là vọng tâm gì gì ấy. Vì đây là kỹ thuật giao lưu, phân hóa cho nghi tình phản động xen vào khối vọng niệm đang lắc lư. Đến đây hành giả phải làm việc thật kỹ lưỡng, vừa mặc niệm vừa theo dõi động tướng của làn sóng năng niệm, vừa liên tưởng đến thân giác, vừa dựng đứng nghi tình. Chỗ này người mới thực tập cảm thấy thật là bê bối đa đoan như người mới tập xe đạp. Tình trạng này giữ được đều như thế chừng năm mười phút là có thể tiếp nhận được tin mới. Tin mới như thế nào? Tức là đến đây hành giả sẽ bắt gặp khối vọng niệm tự nhiên tiêu tan, toàn thân bỗng nghe một chấn động tựa như hột gạo ngâm nước bị bẻ gẫy, rồi trở nên thật là yên ổn. Tất cả giao động bên ngoài đều hết thành vấn đề và cảm thấy một niềm thú vị yên vui sáng suốt làn sóng vọng niệm dứt bặt, mặt phẳng của nước tâm được trải ra, đến đây ta cũng ngừng dứt mặc niệm theo dõi. Cảm giác này có thể kéo dài từ 5 phút đến 15 phút, hay lâu hơn nữa không chừng, tùy theo trình độ hiểu biết và công phu thực tập của mỗi người. Đây là chỗ trong kinh gọi là tâm cuồng loạn ngừng dứt, hoặc nói tâm sinh diệt đã dứt, cảnh tịch diệt hiện tiền, hoặc gọi chân như hiển lộ, bổn tánh hiển bày. Hiện tượng này tuy chưa được liên tục mãi mãi, nhưng mặt thật của tâm tánh đã xuất hiện, và có thể trong giây lát vọng niệm sẽ đến vùi lấp trở lại. Nếu đã mãn thời tĩnh tọa phải xả ra, thì lần sau lại tiếp tục. Càng ngày càng kéo dài thời gian, càng nhân thêm tần số đến bao giờ cảnh tượng này được kéo dài ½ tiếng hay một tiếng đồng hồ. Thế là ta đã ngộ được pháp thân rồi đấy. Thời gian này, ta có thể tổn phí từ ½ tháng hay 3 tháng 6 tháng là cùng, cũng có thể có khi trong một thời gian tĩnh tọa mà phải làm đi làm lại 2, 3 lần nếu vọng niệm thô bạo. Nghĩa là nếu vọng niệm thô bạo như ngay buổi đầu thì ta phải dùng niệm nhiếp niệm trở lại, rồi mới dùng niệm hóa niệm, thì cảnh thanh tịnh cũng lại xuất hiện trở lại. Nếu như trường hợp người đã tu tập thuần thục, vọng niệm có trở lại cũng chỉ nhỏ nhặt tầm thường thì không cần dùng niệm nhiếp niệm mà cũng chỉ dùng niệm hóa niệm đương đầu với vọng niệm, ném hẳn thân giác và nghi tình vào là lập tức bình minh trở lại, tâm địa mới sáng tỏ rạng như thường. Sâu xa tế nhị hơn nữa, có những trường hợp sa mù mỏng do tinh thần sắp muốn hôn trầm, thì liên lập tức chấn chỉnh lại, vừa nhắm kín con mắt thịt mà cũng vừa mở hoắc con mắt tâm, dùng pháp giác chiếu soi hẳn trở vào trong đến tận cùng gốc gác của tế vọng, thì tế vọng cũng liền theo đó được tiêu trừ, rồi trời quang mây cũng tạnh trở lại. Đây là chỗ thiền tông gọi “Muôn dặm không mây muôn dặm trời”. Kết quả này tuy lâm thời tạm bợ, nhưng vẫn là ngộ pháp thân cho nên gọi là tiểu ngộ. Nhờ đó mà tinh thần ta được nuôi dưỡng, thúc đẩy tuần tự xúc tiến một cách cao hứng không còn muốn bỏ dở nữa. Và đến bao giờ trong tất cả đi đứng nằm ngồi, tâm thể đều được vô niệm như vậy, cuộc sống sẽ trở thành một cách linh động tự nhiên. Thế là chứng nhập. Chữ “Chứng nhập” nói đây nghĩa là không còn có cái thấy có mình có người, có có, có không nữa, nó tự nhiên như nhiên. Thế là hành giả là một pháp thân đại sĩ rồi đó. Đến đây hành giả chớ nên nghi ngờ: làm sao ta dám tin chắc là ta đã ngộ được pháp thân, mà không bị rơi vào hai tướng? Xin thưa: Đây là việc làm có bản đồ, có kỹ thuật, nên phải quyết định tự mình phải biết, tự mình mình phải hay, đối diện với mức độ tâm địa mờ tỏ, mát mẻ yên vui, càng ngày càng tiến bộ hay càng ngày càng thụt lùi. Chuyện này người bàng quang thông thường không phải đại thiện tri thức làm sao biết chứ! Ta đừng nên hiểu chữ “Biết” một cách hồ lốn, vì cái biết bởi giác quan, bởi phân tích, bởi so sánh mà biết, thì chữ biết quả là cửa của muôn tai họa. Còn chữ biết của ngộ Pháp thân đây là chữ biết do rơi tõm xuống nước mà biết toàn thân mát lạnh. Hay cũng như mình uống nước, lạnh nóng tự biết tự hay. Chỉ chữ biết này qủa là cửa của muôn sự nhiệm mầu, chớ không còn cái biết nào khác nữa! Có người ngỡ rằng giải thoát sao mà dễ dàng đến thế? Xin thưa đây là một phương pháp có kỹ thuật chặt chẽ chỉ có thực hành đúng hay sai, và nếu hành giả có một trình độ tin nhận, thực hành một ngày cũng như một tháng, một tháng cũng như một năm, một năm cũng như trọn đời. Nếu không bỏ dở thì dù có căn cơ thấp kém cũng quyết định phải được giải thoát, chớ không có nghĩa hên xui may rủi. c. Cách Xả: Khi mãn giờ muốn xả thì trước hết khẽ hạ xương sống xuống một chút để cho chân bớt tê nếu có, rồi lơi chân ra và hô hấp trở lại bình thường. Khi hết tê, xoa mạnh hai lòng bàn tay cho thật nóng, áp lên mắt để rút hết những ngưng động trong mí mắt lúc mình ngồi. Kế đó xoa sau lưng chỗ hai bên trên mông đít, xoa chẽn vùng phía dưới tim bên phải bên trái, và hai bên mạn sườn; xoa hai bên lỗ tai đến xoa các khớp lắc léo; rồi dùng tay mặt xoa lòng bàn chân trái, tay trái xoa lòng bàn chân mặt và giữ yên cho lòng bàn tay, lòng bàn chân sát nhau nửa phút. Xong rồi nằm yên xuống, xương sống giãn ra có hơi kêu, bây giờ bắt đầu xoa bụng nhè nhẹ, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, rồi từ phải qua trái. Hễ từ trái qua phải thì dùng tay trái, từ phải qua trái thì dùng tay phải, cho ruột được trở lại ngăn nắp bình thường. Nằm yên độ vài ba phút, rồi ngồi dậy đi tới lui năm bảy bước mới nên nằm ngủ trở lại. Khi mới xả ra không được ăn uống vật chi cấp bách như nóng quá hay lạnh quá. Nếu uống nước thì thong thả uống từ chút để tránh cho cơ thể bị phản ứng thay đổi đột ngột. Tựa như ô tô chạy đường trường hết nước, muốn cho nước vào phải dở nắp thùng máy ra cho máy nguội, nếu không thì phải đổ bằng nước nóng kẻo bể bình nước. d. Những điều cần biết trong khi hạ thủ công phu: Mục đích của tu hành là điều chỉnh con người trở về với tâm thể vô niệm viên thông giải thoát. Cho nên tất cả những điều gì không dính dấp đến mục đích này đều phải được kiểm điểm kỹ, gạt hẳn ra ngoài lề không để chen vào cho thành ngã tẻ, đại khái như: - Hoặc trong lúc ngủ, mơ thấy tất cả những chuyện dữ lành, nào thiên đàng, nào địa ngục, nào dạo chơi đến cảnh thần tiên, nào thấy thần tiên đến đón rước … tất cả đều không nên đắm chấp, mặc kệ cho nó, việc ta ta cứ làm, dù cho có Phật hiện trong chiêm bao cũng đừng đếm xỉa. - Hoặc đang khi tĩnh tọa thấy có giai nhân đến ăn mặc hấp dẫn, hoặc mang thức ăn, cá thịt đến đút vào mồm, hoặc đem đàn đến đánh bên tai; hoặc xướng ca múa hát; hoặc có khi thấy rắn hiện đến bò quanh chỗ ngồi; hoặc nhìn thấy trong bụng có những con lãi có thể thò tay bắt được mà trong bụng vẫn không sao; hoặc thấy có nhiều phụ nữ lõa thể áp đến khêu gợi; hoặc thấy Phật đến thọ ký; hoặc nghe trong tâm có tiếng nói; hoặc thấy có ánh sáng đầy nhà hoặc nghe mùi hương thơm ngát hoặc đúng giờ ấy Phật xuất hiện … Hết thảy những thứ ấy đều thuộc lãnh vực huyễn giác. Nếu ta bỏ lỡ mục tiêu tâm thể vô niệm mà chú ý đến chúng nó, đó chính là biến chúng nó thành ma quái để khuấy rối ta. Cho nên việc của ta, ta cứ làm, đừng thèm đếm xỉa gì đến, rồi tất cả đều tiêu tan. Cho nên Thiền Học có nói: “Gặp ma thì trãm ma, gặp Phật thì trãm Phật” như thế nghĩa là sao? Nghĩa là ma hay Phật ở đâu, giờ đây đột ngột cấp bách quay hẳn trở vào trong, tạo thành thế đảo lộn, biến cố lạ kỳ, chứ ma ở đâu, Phật ở đâu? - Hoặc đêm nằm thấy có thần linh đỡ chỗ nằm, hoặc thấy có nhiều người đến nắn bóp … cũng đều là những chuyện không có gì linh thiêng chớ nên lưu tâm tham đắm. - Hoặc có khi nghe chim chóc, thú vật nói chuyện với nhau một cách rõ ràng. Hoặc nhìn thấy cụm mây biến thành thần linh; cây cột biến thành người đứng; cái ghế biến thành con heo, sợi dây biến thành con rắn, tiếng giã gạo biến thành tiếng chuông … tất cả đều là thác giác. - Hoặc có khi trong thời kỳ hạ thủ công phu bỗng dưng có nhiều người tập trung đến xin thuốc, có khi chỉ cho uống nước lạnh hoặc lá cây khô cũng khỏi bệnh. Thậm chí đến rờ đầu bệnh nhân là bệnh khỏi, thì đối với mục đích tâm thể vô niệm viên thông giải thoát cũng chẳng liên quan, chớ nên đam mê mà rơi vào con đường danh lợi, dâm tà. Việc đâu còn có đó, việc nào theo việc nấy chớ nên lầm lẫn mà đường tẻ mất dê. - Hoặc có khi vì công phu quá thiết, thời gian kéo dài, sức dồn ép quá táo bạo, làm cho từ chỗ ngồi trong phòng, hoặc nhìn suốt ra tới mặt biển thấy mặt trời vừa lên, hoặc nhìn sang bên kia núi thấy có người đi, hoặc biết người xung quanh trong bụng nghĩ gì; hoặc xung quanh am chỗ ngồi cây cỏ trổ hoa sen … Hết thảy những việc vừa nói đều thuộc lĩnh vực dồn ép thái quá, làm cho tâm linh bốc bay mà có ra như thế! Chỉ nên nhắm vào mục tiêu tâm thể vô niệm viên thông giải thoát mà làm việc, tự mình mình biết, tự mình mình hay, không cần phải rong ruổi theocho mệt mà còn gây thêm tai hại. Thiền học có câu: “Chỉ cần hết tình phàm, chứ không dung chứa sự tạo ra thành lý giải”. (Đản tận phàm tình bất dung thánh giải) là nghĩa thế. - Hoặc trong giấc mơ có khi thấy xuất thần đi cứu người dưới địa phủ, hoặc lên cung trời Đâu Suất gặp Phật Di Lặc, hoặc trong khi ngồi mơ màng thấy binh ma tướng quỷ … tất cả như thế đều thuộc ngoài lề mục đích, không cần phải lưu tâm. - Hoặc trong thời gian tu hành được tiếng tăm nổi dậy, người đến hoan nghênh như nước, hoặc xin thuốc, hoặc cầu pháp, hoặc đem lễ vật đến cúng bái …. đều là những việc thúc đẩy cho hành giả dễ bị rơi vào vòng sa đọa danh lợi thường tình mà vẫn tưởng mình là thần thánh. Đây là một ngã rẽ rất nguy hiểm, mà đa số vẫn coi thường nhưng kỳ thực nào có quan hệ gì đến mục đích tâm thể vô niệm viên thông giải thoát đâu! Từ trước đến giờ biết bao người tu bị sa đọa cũng chỉ vì đặt cái nhân không chính xác mà ra. - Hoặc có khi đang ngồi tĩnh tọa, bỗng dưng khua tay múa chân, mình nghiêng ngửa quay đảo như lên đồng, hoặc cất bổng lên, hoặc sa chìm xuống. Như thế vì bởi từ trước quen theo đà hướng ngoại, giờ đây quay hẳn trở vào, bị một cơn xáo trộn, bản năng tự vệ phải xuất hiện chuyển động để lấy lại thế quân bình. Cứ để tự nhiên rồi tuần tự sẽ hết. Có khi nhờ những bản năng hoạt động này mà những bệnh cố cựu nan y được khỏi hẳn. Tuy nhiên nếu thấy tướng lạ kỳ, người xung quanh vội đam mê rong ruổi theo, làm cho bản thân hành giả cũng sẽ bị mê hoặc, rồi tự rơi vào nẻo đồng bóng, ông lên bà xuống không sao thoát khỏi. - Hoặc có khi trong thời hạ thủ công phu xảy ra nặng ngực, nhức đầu nhức răng, khó thở, mệt tim … thì phải lập tức kiểm điểm lại xem mình thực hành có đúng theo phương pháp vạch ra hay không. Nếu chưa đúng thì phải sửa chữa lại cho chính xác. Nếu không có sự sai lầm thì đó là sự phản ứng thông thường của thế đổi chiều hướng nội, hãy lập tức ngừng nghỉ đợi cho cơ thể bình thường sẽ tiếp tục công phu thì mọi việc bình an vô sự, không cần phải thầy, phải thuốc. - Hoặc có khi đang hạ thủ công phu, bỗng dưng nghe thấy êm đềm hơi thở có tiếng tựa như muỗi kêu, tinh thần cảm thấy bắt đầu tơ lơ mơ vớ vẩn … tức là muốn hôn trầm rồi đó. Nếu chấn chỉnh theo sát làn sóng động tướng năng niệm thì cũng có thể qua. Bằng không cứ mặc kệ, qua cơn rồi sẽ tỉnh, nếu khí thế hôn trầm đi đến không thể gượng cứ để cho nó yên nghỉ, ngủ đã rồi trở lại công phu sẽ đắc lực. Nếu sau khi ngủ đã mà vẫn còn hôn trầm là bởi ăn nhiều thức ăn lạnh, như uống nước đá lạnh theo bữa ăn chẳng hạn. Phải điều chỉnh lại sự ăn uống. Nếu không thì sẽ hoàn toàn bất lực. - Hoặc có người cứ bắt đầu xếp bằng vào ngồi là cơn buồn ngủ cũng bắt đầu đến, trăm lần như một. Như thế là bởi nghiệp si mê quá nặng, phải đòi hỏi một chí khí quyết định, và khi công phu phải đốt đèn trong phòng sáng tỏ. Mục đích của tu hành là để giải thoát, giải thoát cho chính mình và giúp cho mọi người chung quanh được giải thoát. Nhưng nghĩa giải thoát ở đây bao hàm nghĩa tâm thể vô niệm viên thông, chớ không có nghĩa mong cầu danh lợi hay tình cảm lạc lõng. Cho nên khi mục đích chưa dứt, tức là mình tắm gội chưa sạch, thì làm sao có đủ khả năng giúp đỡ cho ai. Vậy nên khi hạ thủ công phu, trong tâm chớ nên pha trộn những ý nghĩ: nào ta phải biết cho thuốc, chữa bệnh … để cứu dân độ thế. Phải biết rằng tất cả đau khổ của thế gian đều từ tâm mê mà kiến lập. Nếu không căn cứ vào đó để gỡ, mà chỉ dong duổi theo bên ngoài, rốt rồi không khỏi sa vào vòng danh lợi. Nếu người thiệt có chí xuất trần, cứ nhắm thẳng mục đích mà đi. Khi nào kết quả được viên mãn sẽ nghĩ đến chuyện khác không muộn, kẻo không khéo đường tẻ mất dê. Kết lại, chúng sinh vì mê chấp súc tích muôn đời lũy kiếp mà kết thành một khối vọng tâm được phân làm 4 phần như đã nói trước. Nhưng kỳ thực chẳng qua là tâm mê chấp, thấy có cảnh thiệt, kết thành chấp ngã, chấp pháp, tạo nên cái tôi và những cái thuộc về tôi. Đã chấp có, tất không thể không chấp không. Ba thế chấp này từ kiếp nguyên thủy chưa nứt con mắt ra, tuy chưa hiện hành nhưng cơ tiềm phục vẫn đầy đủ, tựa như người chưa nhiễm bệnh để rồi sẽ nhiễm bệnh, chứ không như người miễn nhiễm. Vì thế ba thế chấp này ở thời kỳ hỗn độn vô ký còn tiềm phục chưa phân thì được gọi là “Câu sanh ngã chấp, câu sanh pháp chấp và câu sanh không”. Ba thế chấp này từ khi nứt con mắt ra cho đến bây giờ được mệnh danh là “Phân biệt ngã chấp, phân biệt pháp chấp và phân biệt không”. Có ngã chấp mới có tạo ra dụng cụ đựng. Có pháp chấp mới có tạo ra vật để đựng. Có chấp không mặc dù không đựng gì cả mới có cảnh hỗn độn tối thui. Tâm thức tuy đối với người như không hình không tướng, nhưng kỳ thực tựa như ta sắm một cái thùng đựng rác. Hễ có cái thùng là có khoảng trống trong cái thùng, nên khi trút hết rác trong thùng, thùng vẫn còn thì khoảng trống âm u trong thùng vẫn còn. Khối mê chấp này bao hàm cả không gian và thời gian nên gọi là không gian và thời gian tâm lý. Nay ta đặt nền tảng hạ thủ công phu quay hẳn trở vào hết 180 độ, lẽ tất nhiên dọc đường không thể không xảy ra những hiện tượng biến cố rối rắm. Trong cái thế lộn nhộn, trời chưa quang, mây chưa tạnh. Nếu không đặt cái nhân cho chính, mục tiêu cho rõ ràng, làm định hướng thì căn cứ vào đâu để mình tìm được mình chứ. Cho nên cứ hãy căn cứ vào cái nhân và mục tiêu mà tuần tự nhi tiến. Và tất cả những kỳ kỳ quái quái đã nêu trên đều được gạt hẳn ra ngoài lề, thì công phu của hành giả mới bảo đảm kết quả và thời gian chính xác. e. Công Phu Hàm Dưỡng: Công cuộc cách mạng toàn diện cuộc sống con người trong lãnh vực thiền học, dù phương pháp kỹ thuật của người hướng dẫn có khéo léo đến đâu, hành giả phải ý thức 5 điều khó là: biết khó, thực hành khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó. Như thế nghĩa là sao? Tại sao đã cần phải chứng mà lại bỏ, và tại sao bỏ mà lại khó? Thực ra nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng, chẳng qua nhắm vào khối vọng tâm mà nói vậy thôi, kỳ thực đạo vốn y nguyên từ xưa như thế, muôn thuở thường hằng không tăng không giảm, lấy đâu để nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ cái dụng? Thế mới biết: nói biết là biết cái không biết, nói thực hành là làm cái không làm, nói chứng là chứng cái không chứng, nói bỏ là bỏ cái không bỏ, nói dụng là dụng cái không dụng. Như thế mới gọi là biết diệu, làm diệu, chứng diệu, bỏ diệu và dụng diệu. Như thế nghĩa là sao? Như thế nghĩa là phải đi đến chỗ nào cũng như lúc nào đều phải tuyệt diệu một cách tự nhiên như nhiên, và thế mới có chuyện công phu hàm dưỡng. Ta vẽ một hình tròn dù nhỏ bằng đầu kim đi nữa, nếu đã tròn thì mở ra bao lớn cũng tròn, nếu méo càng mở ra càng thêm. Đã là con sư tử dù ở trong thai cũng là sư tử, không có chuyện nuôi con dê già lâu năm thành con sư tử. Tuy nhiên, con sư tử lọt lòng mẹ mấy hôm, dù có biết vươn vai gào thét đi nữa cũng vẫn còn được tiếp dưỡng bằng sữa mẹ đến bao giờ trưởng thành. Cho nên từ nhân tướng đến quảtướng, quãng đường dài này công phu hàm dưỡng có một giá trị to tát bao trùm. Đã trót có cái thùng đựng rác, rác chưa đến nỗi đầy tràn, mà có chủ ý đập vỡ thùng thủ tiêu cả rác, mặc dù khi đập vỡ, chắc chi rác rến không tung toé. Nhưng thùng đã vỡ thì không còn cái để đựng, rác rến tung toé cũng sẽ được thu xếp lần hồi. Việc làm này trông có phần táo bạo và đột ngột. Cũng một cái thùng rác, với một thời gian dài, rác đựng đầy nhóc, tràn ra ngoài, cái thùng cũng được củng cố lại cho được bền chắc hơn. Nay muốn thủ tiêu cho dứt khoát mà phương pháp trên không thể áp dụng, thì chỉ có cách tuần tự trút hết rác mang vứt đi, rồi sau đó sẽ phá vỡ cái thùng cho mất tích, hai việc làm, hai đường lối, hai kết quả, mỗi mỗi đều có khôn ngoan, và kỹ thuật khác nhau. Trong thời kỳ kẹt đâu gỡ đó, chú trọng hoàn toàn đến cơ duyên khai thị, mở chỉ cho thấy thẳng bổn tâm bổn tánh, vốn có giá trị độc đáo. Ví dụ: có người hỏi Bồ Đề Đạt Ma: Cư sĩ còn vợ con dâm dục, đồ tể sát sanh làm sao thành Phật được? Đáp: đây không bàn đến đồ tể sát sanh hay vợ con dâm dục mà chỉ bàn đến việc thấy tánh. Khi đã thấy tánh thì nghiệp dâm, nghiệp sát tự nó rỗng lặng, khỏi cần phải mó tay vào. Lại nói: Từ phàm qua thánh phải nên ngừng nghiệp, dưỡng thần tùy thuận qua ngày tự nhiên nhập diệu. Lại nói: khi đã thấy tánh dù có học nữa cũng được, không học chả sao, nếu không khéo giữ càng học càng trở nên mê muội. - Với Lục Tổ Huệ Năng, khi đã được khai thị rồi thì lại dạy rằng: “Từ đây về sau, phải kính trên nhường dưới, thương xót kẻ nghèo nàn, học rộng nghe nhiều, suốt lý chư phật”. Thế thì khuyên bảo đừng cần học, hay cần phải học rộng nghe nhiều … trong đó đều có ngụ ý công phu, hàm dưỡng, chớ không phải ngôn ngữ chết cứng như người ta thường tưởng, cũng không phải là thứ có kẽ hở bời rời. Như thế điểm trọng tâm hoàn toàn nằm ở thấy tánh mà thành tác dụng. Đến thời kỳ hạ thủ công phu bằng thoại đầu, bằng công án, bằng chỉ quán, bằng hô hấp tĩnh tọa để tìm kiếm cái trút sạch rác trong thùng, lẽ cố nhiên sự nỗ lực và công phu hàm dưỡng cũng phải có khác. Cả hai thời kỳ đến nay đều đã trở thành quá độ. Nay ta muốn có một kỹ thuật siêu tuyệt hoàn toàn ứng hợp với thời thế cơ duyên của thế kỷ khoa học vật chất năm châu họp chợ này, tất nhiên ta không thể bước vào thời kỳ siêu độ, áp dụng cả 2 thủ đoạn của hai thời kỳ một lúc trong khuôn khổ kỹ thuật, để nắm vững cơ thành công thì lẽ cố nhiên công phu hàm dưỡng cũng theo đó mà trở nên siêu tuyệt. Nhưng ngược lại, lẽ ra mục công phu hàm dưỡng này không cần phải đề cập, tại sao? Sau khi trong thời tĩnh tọa đã bắt gặp được cái “Tâm thể vô niệm chơn như bổn tánh” rồi từ đây về sau hoàn toàn tùy thuộc vào chí khí hướng thượng của mỗi người. Phương chi công phu hàm dưỡng không ngoài đi đứng nằm ngồi, nhưng cũng phải siêu ra ngoài đi đứng nằm ngồi của cuộc sống. Huống chi công phu hàm dưỡng của phép vô niệm viên thông lại càng đặc biệt hơn. Hơn nữa ngoài việc hạ thủ công phu nhắm hướng tâm thể vô niệm, còn biết bao nhiêu kinh sách nhứt thừa liễu nghĩa như kinh Kim Cang, Quán Tâm Pháp Bồ Đề Đạt Ma, Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng, lúc nào cũng là ngọn đuốc soi đường đưa ta đi thẳng vào toàn bộ cuộc sống. Xưa Lục Tổ đến với Ngũ Tổ sau mấy phút khám nghiệm. Ngũ Tổ bảo: Thôi, hãy đi xuống nhà dưới cùng làm việc với mọi người”. Lục Tổ thưa: “Tự tâm của đệ tử thường sanh trí huệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chẳng hay hòa thượng còn sai bảo chi nữa?”. Ngũ Tổ nói: “Thằng Mường Mán này căn tánh sáng quá! …” Với tinh thần đó, công phu hàm dưỡng còn thành vấn đề gì nữa không? Thiền Sư Trí Hoàn ở với Ngũ Tổ một thời gian khá dài, tự tin rằng mình đã được chánh thọ, tách rời đến một nơi xa xôi cất am ở ẩn, ngồi hoài không nằm suốt mười mấy năm. Tình cờ Huyền Sách là đệ tử của Huệ Năng đi du phương tới gặp, Huyền Sách hỏi: “Ngài ở đây làm chi?” Đáp: “Nhập Định!”, Huyền Sách hỏi: “hữu tâm mà nhập hay vô tâm mà nhập. Nếu hữu tâm mà nhập thì lý ưng bò bay máy cựa cũng phải được định. Nếu vô tâm mà nhập thì cây cối ngói gạch vô tình cũng phải được định”. Giây lâu Trí Hoàn đáp: “Ngay trong khi tôi nhập định, tôi không thấy có cái tâm hữu vô”. Huyền Sách nói:” Nếu không thấy có cái tâm, có hữu, có vô tức là thường định, mà đã là thường định sao lại có nhập có xuất”. Trí Hoàn làm thinh, giây lâu hỏi: “Thầy của ông là ai?” Huyền Sách đáp: “Lục Tổ Huệ Năng”. Trí Hoàn hỏi: “Lục Tổ nói thế nào?” Huyền Sách đáp: “Chỗ thầy tôi nói là nhiệm mầu rỗng rang, tròn đầy, vắng lặng, thể và dụng như như, 5 uẩn vốn không, sáu trần không phải có, không ra không vào, không định, không loạn, tánh thiền không trụ, lìa cái trụ vắng lặng của thiền, tánh thiền không sanh, lìa cái tưởng sanh thiền, tâm như hư không, cũng không có cái tâm suy lường hư không nữa. Thế rồi cả hai người dắt nhau đến Lục Tổ, ra mắt Lục Tổ kể hết tự sự, Tổ đáp: “Đúng như vậy”, và thương hại nên có lời khai thị: “Đạo do tâm ngộ, há phải do ngồi, ngồi hoài còm lưng có ích gì cho đạo?” Rồi lại nói kệ rằng: “Sống ngồi hoài không nằm Chết nằm hoài không ngồi Vẫn là bộ xương thối Tại sao căn cứ làm công khoá?”. Từ đó Trí Hoàn mới vỡ lẽ. Như thế mới biết cái tâm mê của chúng sinh chẳng ai giống ai, nhân duyên của mỗi người đều khác. Nếu công phu hàm dưỡng phải bao gồm cả đi đứng nằm ngồi lồng vào cuộc sống; không công phu hàm dưỡng thì hóa ra đầu voi đuôi chuột, vậy phải thế nào? Thực ra cuộc sống này nếu có một chút nào bỏ lơ quên bổn tánh là bắt đầu rơi vào sa đọa. Nếu không căn cứ vào tâm thể vô niệm để làm tay lái thường xuyên thì kim chỉ nam cuộc sống sẽ mất. Nếu trụ vào một tướng nào thì đã bị rơi vào tướng. Nếu không trụ vào tướng mà trụ vào không là đã bị rơi vào không, cho nên phải là không trụ. Và điều quan trọng là phải nhập vào cuộc sống cho thật liền. Cho nên nếu muốn công phu hàm dưỡng được nhập diệu thì phải lấy cuộc đời làm lò, thường xuyên hồi quang phản chiếu biện chứng nghịch lý, đề cao cảnh giác làm lửa để trui luyện cho chính con người của mình mãi mãi đến bao giờ viên mãn vô thượng giải thoát, vì đời với đạo không phải hai. Nếu lìa đời mà tìm đạo là không tưởng. Lục tổ có dạy đồ đệ: “Các người hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. Đã là kẻ có chí xuất trần thì bao nhiêu đây cũng là nhiều lắm, nếu thiếu ý chí xuất trần, muốn tỉa ngón chân cho vừa chiếc giầy e không khỏi có phần thương tổn. Kệ rằng: “Tất cả đều không dè Với tấm thân vật chất Bổn lai không hay biết Không tự sanh phân biệt Cũng không tham, sân, si Không đam mê dục lạc Không đòi hỏi thèm khát Vốn tuyệt đối bình thường Không hề có rắc rối Vậy tại sao bây giờ? Lại phát sanh hệ lụy Quái gở từ đâu ra Do đâu thành trói buộc? Tại sao không thắc mắc Bùng dậy khối nghi tình Để thoát cả thân tâm Nhứt thời liền an lạc?” HẾT PHẦN 3. PHẦN THỨ TƯ VẤN ĐÁP 1. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THỒNG VỚI Y ĐẠO LÀ MỘT HAY KHÁC? Không phải một cũng không phải khác. Tại sao? Ngày nay chúng ta bị rơi vào thế hệ khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến trình độ năm châu họp chợ. Nhìn trở lại con người, cuộc sống con người càng ngày càng sát mặt nhau mà lòng dạ càng ngày càng cách biệt. Tất cả những văn minh cuộc bộ được gọi là tương đối đẹp đẽ, đều bị thế vật chất năm châu họp chợ phá hủy, làm cho con người rơi vào cái thế hoặc phải thủ tiêu hẳn năng lực khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ đi, để trả về với thời kỳ cuộc bộ, hoặc con người phải nỗ lực tìm đường hướng thượng khắp mọi lĩnh vực tinh thần để cho xứng với thế năm châu họp chợ, thì cuộc sống mới mong lấy lại thế quân bình. Phương chi ngoài nhân sự ra, trật tự thiên nhiên đã đến hồi nối tiếp xảy ra nhiều biến cố, vận thế vận tốc của địa cầu lệch lạc đi nhiều, không biết lúc nào sẽ xảy ra một cuộc đổi cực?! Trải qua một thời gian dài đăng đẳng, nền văn minh Y Đạo Á Đông đã bị lòng người đóng cứng làm chết mất đi sức biến hóa cho đến ngày nay đã hoàn toàn trở thành thất truyền phá sản, trong đó có những khoảng thời gian xen kẽ, nhờ Thiền Học Phật Giáo Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa biến thành một sinh lực mới để tiếp dưỡng hơi tàn cho Y đạo. Đến ngày nay Thiền Học cũng bị phá sản thất truyền luôn. Con người là một sinh vật xuất hiện từ thiên nhiên, thuộc về của trật tự thiên nhiên, hoàn toàn theo mạng lệnh của trật tự thiên nhiên mà tồn tại. Con người muốn tồn tại phải hoàn toàn ứng hợp với trật tự thiên nhiên nhất là giai đoạn năng lực của địa cầu xuống dốc, con người lại cần phải ứng hợp với trật tự thiên nhiên hơn nữa để khỏi phải thêm một bàn tay phá hoại. Đây quả là định nghĩa cho Y đạo, mà cũng là minh chứng cho ta thấy đạo phải được vãn hồi. Con người dù có muốn ứng hợp với trật tự thiên nhiên đến đâu chăng nữa, cũng không thể theo dõi thiên nhiên mà bắt chước lấy từ chút, từ chút cho được. Chỉ có một cách duy nhất là con người phải trở lại với chính mình là hoàn toàn ứng hợp nhất. Nay cả Y đạo lẫn Thiền đạo đều bị thất truyền phá sản, cả hai đều trở thành quá độ, con người biết nương nơi đâu để trở lại với chính mình cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên? Trong giai đoạn vật chất năm châu họp chợ, cộng với trật tự thiên nhiên đã xê dịch bất chánh thường, con người đã trở nên hoang mang lạc lõng. Đó là cớ cho phép vô niệm viên thông nương vận mà thành hình vậy. 2. XIN PHÂN BIỆT RÕ Ý NGHĨA Y ĐẠO VÀ THIỀN ĐẠO: Tất cả chúng sinh cũng như con người đều là tác phẩm của trật tự thiên nhiên, tự nó không thể không ứng hợp với trật tự thiên nhiên. Chỉ vì tâm mê nên dong ruổi theo đà hướng ngoại, tạo thành thế vận tréo cho cuộc sống, làm cho cả thân lẫn tâm đều bịnh. Trật tự thiên nhiên là đạo, cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên là cuộc sống có đạo. Nay cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên đã bị đổ vỡ, cả thân tâm đều bị đau khổ bệnh tật: Y khoa chỉ căn cứ vào lằn mức chánh điên đảo, cắt khứa lấy một khúc bệnh nhân để chữa trị, và dựng lên danh từ Y khoa. Còn thiền học cứ xoắn ngay căn cội của tâm mê mà lập ra một lối giải thoát. Còn Y đạo thì gốc nó vốn là đạo giải thoát, nó bao gồm cả pháp giới vật chất, thâm nhập vào nguồn cội tâm linh, cho nên Y khoa chỉ là tận ngọn ngành. Chữ “Y” tùy thuộc vào đứng riêng một mình hay có chữ ghép mà định nghĩa giá trị khác nhau. Riêng một chữ Y có nghĩa là điều chỉnh sửa trị. Con người là một tác phẩm bao gồm cả hai hệ thống vật chất và tinh thần, vì thế công việc điều chỉnh hay sửa trị không thể chỉ ở hệ thống vật chất hay tinh thần không mà đủ. Phương chi nhiều cá nhân họp lại thành gia đình, nhiều gia đình họp lại thành xã hội, họp xã hội thành quốc gia, họp quốc gia thành thế giới và thế giới bao gồm cả hữu tình và vô tình, đều hoàn toàn lệ thuộc vào trật tự thiên nhiên. Cá nhân bịnh thì gia đình bịnh, gia đình bịnh thì xã hội bịnh, xã hội bịnh thì quốc gia bịnh, mỗi quốc gia đều bịnh thì thế giới trở thành sụp đổ đau thương. Vạ lây đến cả hữu tình và vô tình. Cuộc sống của chúng sinh không thể chỉ nói tâm không mà đủ, mà trong đó gồm cả ăn uống, sinh hoạt, hoàn cảnh, khí hậu, tâm tư, xã hội truyền thống …. Huống chi còn thêm điều kiện vật chất năm châu họp chợ nữa. Do đó Y đạo có một cái nhìn suốt từ bao la vô tận xuyên qua vạn hữu, thâm nhập vào tận thâm tâm của chúng sinh vào đến tế bào siêu nguyên tử vi trùng, để thấy đến toàn bộ hệ thống trật tự, để biết thật rõ khi có bệnh tật, dù bệnh ở thân hay bệnh ở tâm, đều tìm đến tận chỗ kẹt mà gỡ hầu trả về với trật tự thiên nhiên, thỏa mãn với cách nhìn không hai. Đó là chỗ khác và giống nhau giữa Y Đạo và Thiền Đạo vậy. Lại nữa cách làm việc của Y đạo không phải chỉ nhắm vào mục đích giải thoát con người, mà còn bao gồm cả hữu tình động vật nữa. Và chữa trị nhỏ từ bệnh thân bịnh tâm, bịnh cá nhân, bịnh gia đình, bịnh xã hội, lớn đến quốc gia, thế giới đều không thể lọt qua tầm mắt nó được. Về đặc điểm rất tương đồng với Thiền Đạo là cái chuôi cuộc sống đều ở tâm thể vô niệm viên thông vậy. 3. CÓ THỂ CĂN CỨ VÀO SÁCH NÀY THỰC HÀNH MÀ KHỎI CÓ THẦY ĐƯỢC KHÔNG? Nếu người ở xa hoặc ở những nơi cô tịch có khả năng nghiên cứu kỹ càng làm đúng như đường lối đã vạch sẵn, đừng tự ý thêm bớt, một ngày cũng như một tháng, một tháng cũng như một năm, một năm cũng như suốt đời, đừng có giây phút nào nhàm mỏi thì dù không thầy cũng quyết định thành công. 4. LÀM SAO ĐỂ TỰ MÌNH CÓ THỂ TRẮC NGHIỆM TRÌNH ĐỘ TIẾN TRIỂN CỦA TÂM LINH Muốn tự trắc nghiệm mình trên đường hạ thủ công phu, không cách nào khác hơn phải căn cứ vào vọng tâm mà nghiệm xét. Muốn căn cứ vào vọng tâm thì phải căn cứ vào toàn bộ của nó; và nhận định kỹ trạng thái vọng tâm của ta khi mới bắt đầu hạ thủ công phu thì tự khắc thầy được trình độ dần dà tiến triển, cuộc sống tinh thần càng ngày càng được ổn định hơn, yên vui hơn. Chuyện này không đợi người ngoại cuộc nhận biết mới là chắc, vì việc làm đã có phương pháp, có bản đồ, có kỹ thuật. Cứ y cứ vào đây là thấy ngay; cũng có thể hoặc bạn đồng tu bên cạnh thấy được. 5. TẠI SAO PHẢI TUYỆT ĐỐI THÀNH THẬT VỚI CHÍNH MÌNH: Trên đời này có 3 chuyện khó: Một là biết mình khó; hai là thành thật với chính mình khó; ba là sử dụng được mình khó. Tại sao? Vì nếu không có phương pháp thì dù chính mình cũng không làm sao biết được mình đừng nói chi là người ngoại cuộc. Kìa ta hãy xem trong giới hữu quyền đã biết bao nhiêu kẻ cái gì ngoài miệng hô đả đảo thì bên trong lại là thứ đang bảo tồn. Cái gì đang hoan nghênh chính là cái đó bị đả đảo. Cái gì nói ra chỉ trích hình như hết sức thành thật thì ta lại phải để ý đề phòng hết sức thành thật của Tào Tháo. Cái đó ở đâu ra? Không phải ở lòng người sao? Đây là một chuyện cụ thể: một anh chàng người lai, lúc tuổi sắp 30, làm ăn khá giả có hiếp dâm một thiếu nữ 13,14 đến bể âm đạo phải đưa đi nhà thương. Khi bệnh lành thì cô bé đã có thai. Người ấy đến nhà cô bé phạt vạ. Việc vỡ lở ai cũng biết. Khi đến tuổi gần già, dòng máu con heo trong anh ta vẫn chưa ngừng nghỉ. Có những lúc giữa đám đông, anh ta đem chuyện hiếp dâm khai ra bằng một cách như hết sức thành thật. Nhưng xuyên tầm mắt của người hiểu biết, thì đây chỉ là một thứ nghi trang cho thiên hạ tin mình là chân thật, cải hối ăn năn để có dịp làm nữa. Cá nhân đã thế, tập đoàn chánh trị nào có khác chi, đây là chỗ sâu xa trong ngăn kéo cõi lòng rất khó mà thành thật. Cho nên người xưa nói: “Dù người chí ngu nhưng khi trách người khác thì vẫn tỏ sáng; kẻ tuy rất thông minh mà có ý che đậy mình thì lại tối”. Cho nên nếu đem lòng trách người mà trở lại trách mình, dùng lòng bao dung mình mà bao dung người thì không lo không đến được địa vị thánh hiền vậy. 6. LÀM SAO BIẾT MÌNH CHƯA GIẢI THOÁT? Thực ra thì từ xưa đến nay hết thảy những người xác thân bị trói không ai không biết rằng chính mình đã bị trói, nên không ai không căm hờn oán trách. Đến khi được mở trói cũng không ai không tự biết mình đã được mở trói, nên không ai không tự vui mừng chỉ trừ những người điên. Trên nguyên tắc hình như ở thân hay ở tâm cũng không thể khác hơn. Nhưng khi vào thực tế thì phần xác thân với phần tâm không hoàn toàn hẳn như thế! Thậm chí có những người đang đau khổ trói buộc mà vẫn hãnh diện tự cho mình là vui là giải thoát. Nên ít nhất cũng phải có cách biết. Nếu khi mình bị đau khổ trói buộc, mà không tự biết tự hay thì khi giải thoát làm sao biết? Nên cần nhất phải ý thức cho được nỗi niềm bẩn chật đau khổ của chính mình thì mới nên nói chuyện giải thoát. Một con heo được chủ nuôi săn sóc, nâng niu cho ăn uống đầy đủ. Mặc dù mục đích là nuôi cho lớn để bán làm thịt, nhưng việc chưa xảy ra đương sự làm sao biết được, nếu vô ý thức đợi khi việc đã vỡ lở thì dù có trời phật hiện trước mắt cũng không phương cứu chữa. Một con chó, chủ nhà nuôi bắt giữ nhà bỏ đi không được, đói không cho ăn, chỉ xua ra đồng để tìm đến những nơi phóng uế. Con chó không thể nào không oán trách căm hờn. Thế mà có những thứ chó còn hãnh diện lấy đó làm vui! Thế mới biết trói buộc bằng cảnh nghịch mà còn có kẻ không biết, thì trói buộc bằng cảnh thuận lại há dễ gì biết được sao! Jesus có nói: “Rất vô phúc cho các ngươi, bây giờ các ngươi sướng để rồi các ngươi sẽ khổ!”. Thế mới biết: vầng trán chưa răn reo sạm nắng, gót chân chưa dẫm nát gai chông, chén cơm chưa đẫm mùi nước mắt, dòng sinh mệnh chưa từng ăn sắt cục uống nước đồng sôi; thế là mùi thế sự chưa đã thèm, thì làm sao máu thánh hiền nổi dậy được! Tuy nhiên đây chỉ mới là phần sâu rộng, trên thực tế trong việc hạ thủ công phu của pháp vô niệm viên thông giải thoát còn có những điểm tế nhị hơn: 1. Khi hạ thủ công phu đến một lúc biển lòng sóng lặng gió yên, mặt phẳng của chơn tâm được trải ra cho ta trực tiếp với bổn tánh. Đến đây chừng như là xong việc, nhưng không hẳn thế. Có thể vì ta tỉnh táo quá chừng, tiếp xúc thẳng với chơn tâm bổn tánh, để rồi lọt vào kẽ hở có chủ thể có khách thể của nhị nguyên tương đối, chớ không phải kiểu như mình uống nước lạnh nóng tự hay, hoặc cảm giác thanh lương an lạc này kéo dài được độ 5, 10 phút rồi vọng niệm sóng lòng lại tiếp tục phủ lên. Đó là một điểm cho ta biết việc giải thoát chưa xong vậy. 2. Khi hạ thủ công phu tiến được đến mức biển lòng sóng lặng gió yên nhưng không phải trong suốt im lìm như “Muôn dặm không mây muôn dặm trời”, mà là tựa sương mờ che khuất rặng núi, như sáng sớm mặt trời chưa lên, như trăng rằm bị chuyển mưa. Đây là điều thứ hai cho ta biết chưa hoàn toàn giải thoát, hãy còn ở trong chân trời của ông hỗn độn. 3. Mặc dù suốt trong đi đứng nằm ngồi ta thấy hình như thênh thang vô sự, tâm thể phẳng lặng như tờ, nhưng có lúc phát lên cao hứng tựa như kinh Bà La Môn nói: Xưa kia chúng ta ở trên cõi trời sung sướng, nhìn xuống dưới này thấy sáng sáng không biết ra sao, cao hứng muốn xuống coi cho biết. Xuống đây mắc kẹo không về được. Đây là điều thứ ba để biết được ta chưa giải thoát. 4. Hoặc đột ngột bị hoàn cảnh dồn ép vào ngõ bí, không lựa là cảnh thuận hay cảnh nghịch, tinh thần trở nên lạng quạng, nhất thời chỗ đứng bị lung lay. Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Niệm trước mê là chúng sanh, niệm sau ngộ là Phật, mới hồi nãy đắm cảnh là phiền não, bây giờ lìa cảnh là Bồ Đề”. Lại nói: “Các ngươi hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là bổn tánh vốn không chúng sanh không phật, vốn nó nguyên chất như vậy! Hễ động dụng như chúng sanh, theo tướng theo điên đảo, quy y với xác thân là chúng sanh. Động dụng theo Phật, theo tánh, theo chánh biến tri, theo hướng nội là thành giải thoát. Cho nên mặc dù khi tâm thể đã được vô niệm cũng phải ý thức hàm dưỡng để đừng khai tri kiến chúng sanh. Tức là trong cuộc sống hằng ngày ta cũng ăn, cũng uống, cũng sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi mà lòng vẫn thảnh thơi vô sự, khi việc đến, động dụng sáng suốt phân minh không bị mê lầm, chạy lệch ra ngoài vòng bổn tánh. Đến một mức độ mà Bồ Tát Đại Huệ nói trong kinh Lăng Già: “Kim thế hậu thế tịnh” tức là vĩnh viễn thanh tịnh. Đây là điều thứ tư cho ta biết được giải thoát hay chưa vậy. 7. SAO GỌI LÀ MINH TÂM KIẾN TÁNH? Tất cả vẫn chứ chẳng qua chỉ là một thứ dụng cụ tạm bợ bất toàn. Điểm quan trọng câu hỏi này ở ý của người muốn hỏi. Sự thật đáng lẽ phải nói tự mình bổn tâm tự kiến bổn tánh mới đủ ý nghĩa. Tại sao? Vì đây là tự mình mình biết, tự mình mình hay, tựa như người uống nước vào trong bụng cảm biết được lạnh nóng, chứ không phải cái biết trong thế hai tướng. Nói minh tâm kiến tánh đây có bao gồm hai ý nghĩa: 1. Tự thấy được vọng của chính mình nó đang lao xao biến hóa. 2. Khi tâm vọng ngừng, biển lòng sóng lặng gió yên, tâm thể vô niệm xuất hiện, mặt thật của tâm hiển bay, tự mình trực nhận lấy mình thầy được, đó là mình được chọn tâm. Thế là cả tâm chơn và tâm vọng của chính ta, ta đều nhận được. Xa hơn nữa suốt đi đứng nằm ngồi khi tâm chưa động dụng thì tâm thể như hư không. Khi có động dụng, nếu động dụng theo điên đảo theo mê, đam chấp theo tướng thì gọi nghịch dụng hay chúng sinh dụng. Nếu động dụng theo ngộ, theo chánh biến tri, xứng theo bổ tánh thì gọi là thuận dụng hay Phật dụng. Cho nên trong hằng ngày luôn luôn được rỗng rang rời rảnh động dụng phân minh. Xa hơn nữa, nhờ có minh tâm mà trực nhận được chính thân tâm mình cùng với bao la vô tận vốn nằm tròn trong cái thể tuy không phải một nhưng không thể khác. Vốn nó có cái lẽ đồng nhất tương quan quân bình trật tự biến hóa lưu thông chớ không thể khác. Nên khi tâm vọng thì thấy tâm với tánh hình như hai, đến khi tâm chơn xuất hiện thì thấy tâm với tánh hình như một. Đến đay trong ta có tất cả, cũng như trong tất cả đều có ta, chỉ có động dụng mê hay động dụng ngộ, mở hiểu biết theo chúng sanh hay mở hiểu biết theo Phật. Người xưa muốn nghiệm biết thêm qủa có minh tâm kiến tánh chưa, đại khái có hai cách: - Hoặc trắc nghiệm bằng cơ phong không bao dung lý trí tức thì hỏi, tức thì đáp, không chấp nhận dần dà suy nghĩ. Nếu còn thời gian suy nghĩ là chưa toàn bích, chưa nhập diệu việc chưa rồi. - Hoặc nhìn suốt cả động dụng hằng ngày trong đi đứng nằm ngồi để biết được người đó đã thuần thục chưa vậy. 8. ĐẾN MINH TÂM KIẾN TÁNH LÀ XONG CHƯA? Chúng sinh là sản phẩm của trật tự thiên nhiên mắc liền vào bao la vô tận. Thiên nhiên vốn vô thỉ vô chung không đầu không đuôi không khúc giữa. Con người giải thoát là tự trả mình về với trật tự thiên nhiên, không còn vận dụng theo ý riêng nữa. Vậy lấy đâu mà nói là xong hay chưa xong. Như thế đủ biết nói xong hay chưa xong hoàn toàn nhắm vào tâm mê vọng mà nói. Sau khi tâm mê vọng dứt rồi, từ nay về sau đều thuộc về pháp thị hiện. Hoặc thị hiện thuận hay thị hiện nghịch để thành diệu dụng mà thôi. Phương chi con sư tử một tuổi tuy vẫn đầy đủ gan ruột, tướng tá oai vệ của một con sư tử, nhưng nếu so với con sư tử già nhất định không thể không có chỗ khác. 9. TÂM VỌNG CÓ THỂ TU SAO? Đúng như thế. Chỉ có nhắm vào tâm vọng mà nói chuyện hạ thủ công phu. Tại sao? Giả sử chúng sinh không hề quên lãng bổn tánh thì tâm vọng không có. Đã không có tâm vọng thì làm gì có chơn tâm hay không tâm chơn, và tâm với tánh là hai hay một cũng không còn thành vấn đề, vậy lấy đâu để tu? Nhưng khi đã có tâm vọng mới có chuyện tâm chơn, và bổn tánh bị tâm vọng che khuất bỏ quên đi tựa như cụm mây nhỏ che khuất mặt trời, bề trên vẫn sáng, bề dưới tối. Cho nên không nhắm vào tâm vọng để tu đều là pháp hướng ngoại, không phải con đường thẳng tắt nữa. Phải biết rằng tâm vọng hay tâm chơn chẳng qua là một pháp trong vạn pháp của bổn tánh, chỉ vì phát triển có biến hóa, có mất chánh thường hay không mà thôi. Một chúng sinh khi bị đau khổ dày vò, tự mình đã cảm thấy bất ổn nên mới nói chuyện chọn đường tìm pháp để tu. Chính hồi ấy cũng là một thứ tâm vọng, nhưng là tâm vọng đã bắt đầu chuyển hướng. Kinh Lăng Nghiêm có nói: “Ngay từ hồi tính trừ vọng chính hồi đó là vọng, đến bao giờ tâm cuồng vọng ngừng dứt tức là giải thoát”. Như thế không nhắm vào tâm vọng mà gỡ, vậy dựa vào đâu để giải thoát! 10. LÀM SAO BIẾT CHẮC CON ĐƯỜNG MÌNH ĐI LÀ THẲNG TẮT CHÍNH XÁC BẢO ĐẢM? Trong kinh Lăng Nghiêm có một ví dụ: Phật dùng một cái khăn thắt lại thành nhiều gút, rồi nắm hai mối lại mà bảo ông A Nan: Nếu muốn gỡ phải làm sao? Ngài A Nan thưa: phải bắt từ ngoài mà gỡ lần trở vào đến bao giờ hết gút. Phật bảo đúng thế! Đúng thế! Tâm đã vọng tạo thành trói buộc thì không thể không căn cứ vào tâm vọng mà mở! Như thế không phải là việc là chính xác sao! Chỉ có cách mở có phương pháp hay kỹ thuật hay không mà thôi. Nếu có phương pháp có kỹ thuật thì kết quả sẽ được nhanh chóng, có gì phải thắc mắc! Khi ta đã ý thức được rằng vì mê nên cấu tạo thành khối tâm vọng có thể tạm chia làm 4 phần như trước kia đã nói, nó bao hàm cả không gian và thời gian tâm lý. Nay quay hẳn trở vào, căn cứ vào tâm vọng mà gỡ, áp dụng thân giác và nghi tình làm lợi khí thì sao mà không thẳng tắt chính xác được! Phương chi người xưa có nói khi lội trở ra thì biển hận muôn trùng, nhưng nếu quay hẳn trở vào thì lập tức thấy bờ mé. Như thế còn gì nữa mà nghi ngờ chứ! Thật không ai ngờ sinh thể của một con đỉa với sinh thể của một khối vọng tâm giống nhau. Con đỉa vì tế bào ngang, và nơi sinh sống của nó ở dưới nước. Nếu đem cắt ra từng đoạn cho vào đất ẩm ướt chôn dấu kỹ lưỡng, ít lâu sau đào lên, mỗi một khúc kéo dài ra thành một con đỉa để ngọ ngoạy chen lấn lẫn nhau. Nhưng nếu người ta rắn mắt bắt nó lộn ngược bề trong ra ngoài liền tức khắc chết. Thật vậy, khối vọng tâm muôn đời nếu ta chống lại nó bằng cách hướng ngoại hay phân tán, nó sẽ đứt đoạn từng khúc mà biến thành linh tinh để khuấy rối chúng ta mà thiền học gọi là 50 ma tướng. Nhưng nếu ta quay hẳn trở vào mà hạ thủ công phu, thì chúng nó hoàn toàn bị phân hóa mà ta rất dễ bề giải tán. Đây quả là một định tắc hoàn toàn chính xác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét