THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012
VẠN PHÁP DUY TÂM TẠO
Văn khuyên phát tâm Bồ Đề
TÔN TRỌNG KỶ LINH
Nguyên văn:
云何尊重己靈?謂我現前一心,直下與釋迦如來無二無別。云何世尊無量劫來,早成正覺;而我等,昏迷顛倒,尚做凡夫?又佛世尊,則具有無量神通、智慧、功德莊嚴;而我等,則但有無量業繫、煩惱、生死纏縛?心性是一,迷悟天淵。靜言思之,豈不可恥!譬如無價寶珠,沒在淤泥,視同瓦礫,不加愛重,是故宜應以無量善法,對治煩惱。修德有功,則性德方顯;如珠被濯,懸在高幢,洞達光明,映蔽一切。可謂不孤佛化,不負己靈。是為發菩提心第七因緣也。
Âm Hán Việt:
Vân hà tôn trọng kỷ linh? Vị ngã hiện tiền nhất tâm, trực hạ dữ Thích ca Như Lai vô nhị vô biệt. Vân hà Thế Tôn vô lượng kiếp lai, tảo thành Chánh giác, nhi ngã đẳng, hôn mê điên đảo, thượng tố phàm phu? Hựu Phật Thế Tôn, tắc cụ hữu vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm; nhi ngã đẳng, tắc đãn hữu vô lượng nghiệp hệ, phiền não, sanh tử triền phược? Tâm tánh thị nhất, mê ngộ thiên uyên. Tĩnh ngôn tư chi, khởi bất khả sỉ! Thí như vô giá bảo châu, một tại ứ nê, thị đồng ngõa lịch, bất gia ái trọng, thị cố nghi ưng dĩ vô lượng thiện pháp, đối trị phiền não. Tu đức hữu công, tắc tánh đức phương hiển; như châu bị trạc, huyền tại cao tràng, đỗng đạt quang minh, ánh tế nhất thiết. Khả vị bất cô Phật hóa, bất phụ kỷ linh. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ thất nhân duyên dã.
Dịch:
Thế nào là trọng linh tánh của mình? Tâm hiện tiền của chúng ta cùng với đức Thích Ca Như Lai không hai không khác. Vậy mà tại sao Thế Tôn từ vô lượng kiếp đã sớm thành chánh giác, còn chúng ta thì vẫn còn là phàm phu hôn mê điên đảo. Lại nữa Ðức Phật Thế Tôn thì có vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, còn chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh tử buộc ràng. Tâm tánh là một mà vì mê ngộ nên cách xa một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ mới thấy hổ thẹn. Ví như ngọc báu vô giá vùi xuống bùn dơ mà xem như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng. Vì thế hãy dùng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền não. Tu đức có công, thì tánh đức mới lộ. Bấy giờ thì như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao, ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả. Thế mới gọi là không uổng công Ðức Phật giáo hóa, không phụ tánh linh của mình. Ðó là nhân duyên thứ bảy của sự phát Tâm Bồ đề.
VIII. SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG
Nguyên văn:
云何懺悔業障?經言:“犯一吉羅,如四天王壽五百歲墮泥犁中。”吉羅小罪,尚獲此報,何況重罪,其報難言。今我等日用之中,一舉一動,恒違戒律;一餐一水,頻犯尸羅。一日所犯亦應無量,何況終身歷劫?所起之罪,更不可言矣!且以五戒言之,十人九犯,少露多藏。五戒名為優婆塞戒,尚不具足,何況沙彌、比丘、菩薩等戒,又不必言矣!
Âm Hán Việt:
Vân hà sám hối nghiệp chướng? Kinh ngôn: "Phạm nhất kiết la, như Tứ thiên vương thọ ngũ bách tuế đọa nê lê trung". Kiết la tiểu tội, thượng hoạch thử báo, hà huống trọng tội, kỳ báo nan ngôn. Kim ngã đẳng nhật dụng chi trung, nhất cử nhất động, hằng vi giới luật, nhất xan nhất thủy, tần phạm thi la. Nhất nhật sở phạm diệc ưng vô lượng, hà huống chung thân lịch kiếp? Sở khởi chi tội, cánh bất khả ngôn hỹ! Thả dĩ ngũ giới ngôn chi, thập nhân cửu phạm, thiểu lộ đa tàng. Ngũ giới danh vi Ưu bà tắc giới, thượng bất cụ túc, hà huống Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát đẳng giới, hựu bất tất ngôn hỹ!
Dịch:
Thế nào là sám hối nghiệp chướng? Kinh dạy: "Phạm một tội kiết la cũng phải đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà còn bị quả báo đến thế, huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả. Nay chúng ta, mỗi cử chỉ động tác hằng ngày, hằng trái với giới luật, lúc ăn lúc uống thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi đã phạm, cũng đã vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi đã phạm khó mà nói hết. Cứ lấy ngũ giới mà xét, thì mười người đã có đến chín người phạm, phát lộ thì ít mà che giấu lại nhiều. Ngũ giới là giới của Ưu bà tắc mà còn không giữ gìn đầy đủ, huống chi các giới Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát, thì không cần nói đến vậy.
Nguyên văn:
問其名,則曰“我比丘也!”問其實,則尚不足為優婆塞也。豈不可愧哉!當知佛戒不受則已,受則不可毀犯。不犯則已,犯則終必墮落。若非自愍愍他,自傷傷他,身口併切,聲淚俱下。普與眾生求哀懺悔,則千生萬劫惡報難逃。是為發菩提心第八因緣也。
Âm Hán Việt:
Vấn kỳ danh, tắc viết: "Ngã Tỷ kheo dã!" Vấn kỳ thật, tắc thượng bất túc vi Ưu bà tắc dã. Khởi bất khả quý tai! Ðương tri Phật giới bất thọ tắc dĩ, thọ tắc bất khả hủy phạm. Bất phạm tắc dĩ, phạm tắc chung tất đọa lạc. Nhược phi tự mẫn mẫn tha, tự thương thương tha, thân khẩu tịnh thiết, thanh lệ câu hạ, phổ dữ chúng sanh cầu ai sám hối, tắc thiên sanh vạn kiếp ác báo nan đào. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ bát nhân duyên dã.
Dịch:
Hỏi cái tên thì nói "Tôi là Tỳ kheo", hỏi cái thật thì hãy còn chưa đủ làm Ưu bà tắc, như thế mà không xấu hổ sao! Phải biết, giới luật của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được hủy phạm, vì không phạm thì thôi, phạm thì cuối cùng nhất định bị đọa lạc. Trừ phi cảm thương thân mình, thân người, lại xót xa cho mình và kẻ khác, thân và khẩu cùng tha thiết, lệ rơi theo tiếng, khắp cùng với chúng sanh khẩn cầu sám hối, nếu chẳng thế thì quả báo ác ngàn đời muôn kiếp cũng khó tránh khỏi. Ðó là nhân duyên thứ tám của sự phát Tâm Bồ đề.
IX. CẦU SANH TỊNH ÐỘ
Nguyên văn:
云何求生淨土?謂在此土修行,其進道也難;彼土往生,其成佛也易。易,故一生可致;難,故累劫未成。是以往聖前賢,人人趨向;千經萬論,處處指歸。末世修行,無越於此。然經稱:“少善不生,多福乃致。”言多福,則莫若執持名號;言多善,則莫若發廣大心。是以暫持聖號,勝於布施百年。一發大心,超過修行歷劫。蓋念佛本期作佛,大心不發,則雖念奚為;發心原為修行,淨土不生,則雖發易退。是則下菩提種,耕以念佛之犁,道果自然增長;乘大願船,入於淨土之海,西方決定往生。是為發菩提心第九因緣也。
Âm Hán Việt:
Vân hà cầu sanh Tịnh độ ? Vị tại thử độ tu hành, kỳ tấn đạo dã nan. Bỉ độ vãng sanh, kỳ thành Phật dã dị. Dị, cố nhất sanh khả trí; nan, cố lụy kiếp vị thành. Thị dĩ vãng thánh tiền hiền, nhân nhân xu hướng, thiên kinh vạn luận, xứ xứ chỉ quy. Mạt thế tu hành, vô việt ư thử. Nhiên kinh xưng: "Thiểu thiện bất sanh, đa phước nãi trí". Ngôn đa phước, tắc mạc nhược chấp trì danh hiệu; ngôn đa thiện, tắc mạc nhược phát quảng đại tâm. Thị dĩ tạm trì thánh hiệu, thắng ư bố thí bách niên. Nhất phát đại tâm, siêu quá tu hành lịch kiếp. Cái niệm Phật bổn kỳ tác Phật, đại tâm bất phát, tắc tuy niệm hề vi; phát tâm nguyên vị tu hành, Tịnh độ bất sanh, tắc tuy phát dị thối. Thị tắc hạ Bồ đề chủng, canh dĩ niệm Phật chi lê, đạo quả tự nhiên tăng trưởng; thừa đại nguyện thuyền, nhập ư Tịnh độ chi hải, Tây phương quyết định vãng sanh. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ cửu nhân duyên dã.
Dịch:
Thế nào là cầu sinh Tịnh độ? Ở cõi này tu hành thì sự tiến đạo rất khó khăn, vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng rất dễ dàng. Dễ dàng nên một đời đã có thể đạt đến, khó nên nhiều kiếp vẫn chưa thành tựu. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, người người xu hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, chỗ chỗ chỉ qui. Sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào vượt qua pháp môn này. Nhưng kinh đã nói : " Căn lành nhỏ thì khó được vãng sanh, phước đức nhiều mới chắc chắn đến được". Nói phước đức nhiều thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu, nói căn lành lớn thì không chi bằng sự phát tâm quảng đại. Vì thế tạm trì danh hiệu Phật hơn cả trăm năm bố thí, một niệm phát tâm Bồ đề rộng lớn vượt hơn cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Vì niệm Phật vốn mong thành Phật, vậy tâm lớn không phát thì niệm Phật để làm chi; còn phát tâm vốn để tu hành, vậy Tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thối chuyển. Cho nên gieo hạt giống Bồ đề, cày bằng lưỡi cày niệm Phật, thì đạo quả tự nhiên lớn lên; ngồi chiếc thuyền đại nguyện, vào trong bể cả Tịnh độ, thì Tây phương Cực Lạc quyết định vãng sanh. Ðó là nhân duyên thứ chín của sự phát Tâm Bồ đề.
X. LINH CHÁNH PHÁP CỬU TRỤ
Nguyên văn:
云何令正法久住?謂我世尊,無量劫來,為我等故,修菩提道。難行能行,難忍能忍,因圓果滿,遂致成佛。既成佛已,化緣周訖,入於涅槃,正法像法,皆已滅盡,僅存末法,有教無人。邪正不分,是非莫辨,競爭人我,盡逐利名。舉目滔滔,天下皆是。不知佛是何人?法是何義?僧是何名?衰殘至此,殆不忍言!每一思及,不覺淚下。我為佛子,不能報恩,內無益於己,外無益於人;生無益於時,死無益於後。天雖高,不能覆我;地雖厚,不能載我。極重罪人,非我而誰?
Âm Hán Việt:
Vân hà linh chánh pháp cửu trụ? Vị ngã Thế Tôn, vô lượng kiếp lai, vị ngã đẳng cố, tu Bồ đề đạo. Nan hành năng hành, nan nhẫn năng nhẫn, nhân viên quả mãn, toại trí thành Phật. Ký thành Phật dĩ, hóa duyên châu cật, nhập ư Niết bàn. Chánh pháp tượng pháp, giai dĩ diệt tận, cẩn tồn mạt pháp, hữu giáo vô nhân. Tà chánh bất phân, thị phi mạc biện, cạnh tranh nhân ngã, tận trục lợi danh, cử mục thao thao, thiên hạ giai thị. Bất tri Phật thị hà nhân? Pháp thị hà nghĩa? Tăng thị hà danh? Suy tàn chí thử, đãi bất nhẫn ngôn! Mỗi nhất tư cập, bất giác lệ hạ. Ngã vi Phật tử, bất năng báo ân, nội vô ích ư kỷ, ngoại vô ích ư nhân, sanh vô ích ư thời, tử vô ích ư hậu. Thiên tuy cao, bất năng phú ngã; địa tuy hậu, bất năng tải ngã. Cực trọng tội nhân, phi ngã nhi thùy?
Dịch:
Thế nào là làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài? Ðức Thế Tôn của ta, từ vô lượng kiếp đến nay, vì chúng ta mà tu đạo Bồ đề, Ngài đã làm việc khó làm, nhẫn sự khó nhẫn, nhân tròn, quả mãn, mới được thành Phật. Sau khi thành Phật, giáo hóa tròn đầy, nhập vào Niết bàn. Nay thì thời kỳ Chánh pháp tượng pháp đã diệt tận, chỉ còn tồn tại thời kỳ mạt pháp. Giáo pháp còn đó mà không người hành trì, tà chánh không phân, đúng sai lẫn lộn, tranh giành nhân ngã, mãi chạy theo danh lợi. Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn thốt ra lời. Mỗi khi nghĩ đến, bất giác rơi lệ. Ta là con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai sau. Trời tuy cao cũng không che nổi ta, đất tuy dày cũng khó chở ta. Tội nhân cực trọng, không phải ta thì là ai?
Nguyên văn:
由是痛不可忍,計無所出;頓忘鄙陋,忽發大心。雖不能挽回末運於此時,決當圖護持正法於來世。是故偕諸善友,同到道場;述為懺摩,建茲法會。發四十八之大願,願願度生;期百千劫之深心,心心作佛。從於今日,盡未來際,畢此一形,誓歸安養,既登九品,回入娑婆。俾得佛日重輝,法門再闡。僧海澄清於此界,人民被化於東方,劫運為之更延,正法得以久住。此則區區真實苦心。是為發菩提心第十因緣也。
Âm Hán Việt:
Do thị thống bất khả nhẫn, kế vô sở xuất; đốn vong bỉ lậu, hốt phát đại tâm. Tuy bất năng vãn hồi mạt vận ư thử thời, quyết đương đồ hộ trì chánh pháp ư lai thế. Thị cố giai chư thiện hữu, đồng đáo đạo tràng; thuật vi sám ma, kiến tư pháp hội. Phát tứ thập bát chi đại nguyện, nguyện nguyện độ sanh; kỳ bách thiên kiếp chi thâm tâm, tâm tâm tác Phật. Tùng ư kim nhật, tận vị lai tế, tất thử nhất hình, thệ quy An dưỡng, ký đăng cửu phẩm, hồi nhập Ta bà. Tỷ đắc Phật nhật trùng huy, pháp môn tái xiển, tăng hải trừng thanh ư thử giới, nhân dân bị hóa ư Ðông phương, kiếp vận vi chi cánh diên, chánh Pháp đắc dĩ cửu trụ. Thử tắc khu khu chân thật khổ tâm. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ thập nhân duyên dã.
Dịch:
Vì thế mà đau lòng không thể nhẫn nổi, nhưng suy nghĩ thì lại không thấy có cách nào khác hơn, nên quên ngay tư cách quê mùa, liền phát tâm rộng lớn. Tuy không thể vãn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết có thể hộ trì chánh pháp trong mai sau. Vì thế nên cùng với chư thiện hữu, cùng đến đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát bốn mươi tám điều đại nguyện, nguyện nguyện hóa độ chúng sanh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp, tâm tâm thành Phật, từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai, hết một đời này nguyện sanh Cực Lạc, lên chín phẩm xong thì trở lại Ta bà. Khiến cho mặt trời Phật pháp rạng soi, pháp môn rộng mở, để tăng giới được trong lặng ở cõi này, dân chúng được tiếp hóa ngay cõi phương Ðông, vận Chánh pháp nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp do đó được tồn tại lâu dài. Ðây là tấm lòng khổ tâm chân thành, tha thiết nhỏ mọn của tôi. Ðó là nhân duyên thứ mười của sự phát Tâm Bồ đề.
Lưu Thông Phần (Phần Lưu Thông)
Nguyên văn:
如是十緣備識,八法周知。則趨向有門,開發有地。相與得此人身,居於華夏。六根無恙,四大輕安,具有信心,幸無魔障。況今我等,又得出家,又受具戒,又遇道場,又聞佛法,又瞻舍利,又修懺法,又值善友,又具勝緣。不於今日發此大心,更待何日?惟願大眾,愍我愚誠;憐我苦志,同立此願,同發此心。未發者今發,已發者增長,已增長者今令相續。勿畏難而退怯,勿視易而輕浮,勿欲速而不久長,勿懈怠而無勇猛,勿委靡而不振起,勿因循而更期待,勿因愚鈍而一向無心,勿以根淺而自鄙無分。譬諸種樹,種久則根淺而日深;又如磨刀,磨久則刀鈍而成利。豈可因淺勿種,任其自枯;因鈍弗磨,置之無用?
Âm Hán Việt:
Như thị thập duyên bị thức, bát pháp châu tri, tắc xu hướng hữu môn, khai phát hữu địa. Tương dữ đắc thử nhân thân, cư ư Hoa Hạ. Lục căn vô dạng, tứ đại khinh an, cụ hữu tín tâm, hạnh vô ma chướng. Huống kim ngã đẳng, hựu đắc xuất gia, hựu thọ cụ giới, hựu ngộ đạo tràng, hựu văn Phật pháp, hựu chiêm xá lợi, hựu tu sám pháp, hựu trị thiện hữu, hựu cụ thắng duyên. Bất ư kim nhật phát thử đại tâm, cánh đãi hà nhật? Duy nguyện đại chúng, mẫn ngã ngu thành; lân ngã khổ chí, đồng lập thử nguyện, đồng phát thị tâm. Vị phát giả kim phát, dĩ phát giả tăng trưởng, dĩ tăng trưởng giả kim linh tương tục. Vật úy nan nhi thối khiếp, vật thị dị nhi khinh phù, vật dục tốc nhi bất cửu trường, vật giải đãi nhi vô dũng mãnh, vật ủy mĩ nhi bất chấn khởi, vật nhân tuần nhi cánh kỳ đãi, vật nhân ngu độn nhi nhất hướng vô tâm, vật dĩ căn thiển nhi tự bỉ vô phận. Thí chư chủng thọ, chủng cửu tắc căn thiển nhi nhật thâm; hựu như ma đao, ma cửu tắc đao độn nhi thành lợi. Khởi khả nhân thiển vật chủng, nhậm kỳ tự khô; nhân độn phất ma, trí chi vô dụng?
Dịch:
Như trên vậy mười nhân duyên đã hiểu rõ, tám tướng trạng đã biết, thì xu hướng có lối, phát tâm có chỗ. Chúng ta nay được thân người, ở xứ Hoa Hạ, sáu căn khỏe mạnh đầy đủ, tứ đại nhẹ nhàng an lạc, tín tâm đầy đủ, may mắn lại không có chướng. Huống chi chúng ta ngày nay còn được xuất gia, được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp, được chiêm bái xá lợi, được tu tập sám pháp, được gặp bạn lành, được nhân duyên thù thắng tốt đẹp. Nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn, thì còn chờ đến ngày nào.
Cúi xin đại chúng thương cho tâm thành ngu muội của tôi, xót cho chí nguyện khổ sở của tôi, mà cùng lập nguyện ấy, đồng phát tâm này. Nếu chưa phát thì nay phát, phát rồi thì tăng trưởng, tăng trưởng rồi thì tương tục không gián đoạn. Chớ sợ gian nan mà khiếp sợ thối lui, đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt, đừng ham mau mà chẳng lâu bền, đừng biếng nhác giải đãi mà thiếu dũng mãnh, đừng uể oải mà không phấn khởi, đừng chần chờ mà kỳ hẹn mãi, đừng vì tối dốt mà cứ mãi vô tâm, đừng vì căn cơ cạn cợt mà tự khinh không có phần. Như trồng cây, trồng lâu thì rễ cạn ngày càng sâu; như mài dao, mài mãi thì dao đùi cũng thành sắc bén; chẳng nên vì rễ cạn mà không trồng, mặc cây khô héo, vì dao đùi mà không mài, để dao vô dụng.
Nguyên văn:
又若以修行為苦,則不知懈怠尤苦。修行則勤勞暫時,安樂永劫;懈怠則偷安一世,受苦多生。況乎以淨土為舟航,則何愁退轉?又得無生為忍力,則何慮艱難?當知地獄罪人,尚發菩提於往劫;豈可人倫佛子,不立大願於今生。無始昏迷,往者既不可諫;而今覺悟,將來猶尚可追。然迷而未悟,固可哀憐;苟知而不行,尤為痛惜。若懼地獄之苦,則精進自生;若念無常之速,則懈怠不起。又須以佛法為鞭策,善友為提攜,造次弗離,終身依賴,則無退失之虞矣!勿言一念輕微,勿謂虛願無益。心真則事實,願廣則行深。虛空非大,心王為大;金剛非堅,願力最堅。大眾誠能不棄我語,則菩提眷屬從此聯姻。蓮社宗盟,自今締好,所願同生淨土,同見彌陀,同化眾生,同成正覺。則安知未來三十二相,百福莊嚴!不從今日發心立願而始也。願與大眾共勉之!幸甚幸甚!
Âm Hán Việt:
Hựu nhược dĩ tu hành vi khổ, tắc bất tri giải đãi vưu khổ. Tu hành tắc cần lao tạm thời, an lạc vĩnh kiếp; giải đãi tắc thâu an nhất thế, thọ khổ đa sanh. Huống hồ dĩ Tịnh độ vi chu hàng, tắc hà sầu thối chuyển? Hựu đắc vô sanh vi nhẫn lực, tắc hà lự gian nan? Đương tri địa ngục tội nhân, thượng phát Bồ đề ư vãng kiếp; khởi khả nhân luân Phật tử, bất lập đại nguyện ư kim sanh. Vô thủy hôn mê, vãng giả ký bất khả gián; nhi kim giác ngộ, tương lai do thượng khả truy. Nhiên mê nhi vị ngộ, cố khả ai lân; cẩu tri nhi bất hành, vưu vi thống tích. Nhược cụ địa ngục chi khổ, tắc tinh tấn tự sanh; nhược niệm vô thường chi tốc, tắc giải đãi bất khởi. Hựu tu dĩ Phật pháp vi tiên sách, thiện hữu vi đề huề. Tháo thứ phất ly, chung thân y lại, tắc vô thối thất chi ngu hỹ! Vật ngôn nhất niệm khinh vi, vật vị hư nguyện vô ích. Tâm chân tắc sự thật, nguyện quảng tắc hạnh thâm. Hư không phi đại, tâm vương vi đại; kim cương phi kiên, nguyện lực tối kiên. Đại chúng thành năng bất khí ngã ngữ, tắc Bồ đề quyến thuộc tùng thử liên nhân. Liên xã tông minh, tự kim đế hảo, sở nguyện đồng sanh Tịnh độ, đồng kiến Di Đà, đồng hóa chúng sanh, đồng thành Chánh giác. Tắc an tri vị lai tam thập nhị tướng, bách phước trang nghiêm! Bất tùng kim nhật phát tâm lập nguyện nhi thủy dã. Nguyện dữ đại chúng cộng miễn chi! Hạnh thậm hạnh thậm!
Dịch:
Lại nữa, nếu cho tu hành là cực khổ mà không biết biếng nhác lại còn khổ hơn. Tu thì khó nhọc tạm thời mà an vui vĩnh kiếp, còn biếng nhác thì một đời tạm nhàn nhưng lắm kiếp chịu sự khổ đau. Huống chi lấy pháp môn Tịnh độ làm thuyền tàu thì lo gì thối chuyển, lại được vô sanh làm sức nhẫn thì sợ gì khó khăn. Nên biết, kẻ tội nhân trong cõi địa ngục mà còn phát Tâm Bồ đề từ bao kiếp trước, huống chi đã làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này. Từ vô thỉ đến nay hôn mê mờ mịt, việc gì đã qua rồi đã không thể cản ngăn, mà ngày nay tỉnh ngộ, những việc trong tương lai còn có thể theo. Mê mà chưa ngộ, cố nhiên đáng thương; còn biết mà không làm, mới càng đáng tiếc. Nếu sợ cái khổ địa ngục thì sự tinh tấn tự sinh, nhớ cái vô thường tấn tốc thì tính biếng nhác không khởi. Lại nữa cần lấy Phật pháp làm roi dục, lấy thiện hữu làm tay dắt, trong khoảnh khắc cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố nương theo, thì không lo lắng còn có sự thối chuyển nữa. Chớ bảo một niệm phát nguyện là nhỏ nhặt, đừng cho nguyện suông là vô ích. Tâm chân thì sự thật, nguyện rộng thì hạnh sâu. Hư không chẳng rộng lớn, tâm vương mới lớn. Kim cương đâu có cứng chắc, nguyện lực mới chắc. Đại chúng nếu không chê bỏ lời tôi, thì quyến thuộc Bồ đề từ đây kết hợp, bạn hữu Liên xã từ đây kết giao, sở nguyện đồng sanh Tịnh độ, đồng thấy Di đà, đồng hóa chúng sanh, đồng thành Chánh giác. Như vậy thì biết đâu ba mươi hai tướng tốt và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, như thế thật vô cùng may mắn!
Phụ Lục : Ðại sư Tỉnh Am
Nguyên văn:
蓮社十一祖 清梵天
省庵法師
師,諱實賢,字思齊,號省庵。常熟時氏子,世儒業。幼出家,嚴習毗尼。尋入講筵,明性相之學。參“念佛者是誰”話,四閱月,忽然開悟曰:“我夢覺矣!”自是機鋒迅利,才辯縱橫,晝覽藏經,晚持佛號。燃指於阿育王山,佛前發四十八大願,感舍利放光。作《勸發菩提心文》,激勵四衆,誦諸多爲涕下。於雍正十二年四月十四日,面西寂然,送者麇至。忽開目曰:“吾去即來,生死事大,各自淨心,念佛可矣!”合掌連稱佛名而逝。
贊曰:
悲心廣大 菩提心文
四十八願 願力宏深
行解真實 瑞應超倫
蓮宗一脈 賴以常存
或說偈曰:
見賢思齊精進修 業儒讀書勝大坵
從佛專研毗尼法 參禪徹悟誰自由
大哉菩提激勵發 至矣誓願天地悠
舍利放光照千古 尊者恩澤萬劫留
Âm Hán Việt:
Liên Xã thập nhất Tổ Thanh Phạm Thiên
Tỉnh Am Pháp sư
Sư, húy Thật Hiền, tự Tư Tề, hiệu Tỉnh Am. Thường Thục Thời thị tử, thế Nho nghiệp. Ấu xuất gia, nghiêm tập Tỳ ni. Tầm nhập giảng diên, minh tánh tướng chi học. Tham "niệm Phật giả thị thùy" thoại, tứ duyệt nguyệt, hốt nhiên khai ngộ viết: "Ngã mộng giác hỹ!" Tự thị cơ phong tấn lợi, tài biện tung hoành, trú lãm tạng kinh, vãn trì Phật hiệu. Nhiên chỉ ư A Dục Vương sơn, Phật tiền phát tứ thập bát đại nguyện, cảm xá lợi phóng quang. Tác "Khuyến phát Bồ đề tâm văn", khích lệ tứ chúng, tụng giả đa vi thế hạ. Ư Ung Chánh thập nhị niên tứ nguyệt thập tứ nhật, diện tây tịch nhiên, tống giả quần chí. Hốt khai mục viết: "Ngô khứ tức lai, sanh tử sự đại, các tự tịnh tâm, niệm Phật khả hỹ!" Hợp chưởng liên xưng Phật danh nhi thệ.
Tán viết :
Bi tâm quảng đại
Bồ đề tâm văn
Tứ thập bát nguyện
Nguyện lực hoằng thâm
Hành giải chân thật
Thụy ứng siêu luân
Liên tông nhất mạch
Lại dĩ thường tồn
Hoặc thuyết kệ viết :
Kiến hiền tư tề tinh tiến tu
Nghiệp Nho độc thư thắng đại khưu
Tùng Phật chuyên nghiên tỳ ni pháp
Tham thiền triệt ngộ thùy tự do
Ðại tai Bồ đề khích lệ phát
Chí hỹ thệ nguyện thiên địa du
Xá lợi phóng quang chiếu thiên cổ
Tôn giả ân trạch vạn kiếp lưu
Dịch:
Thật Hiền Ðại sư tự Tư Tề, hiệu Tĩnh Am, người đời Thanh, con nhà họ Thời ở Thường Thục. Xuất gia từ thuở bé, sau khi xuất gia, nghiêm trì giới luật, giảng kinh thuyết pháp, nghiên cứu pháp môn tánh tướng. Bốn tháng tham cứu câu "Niệm Phật Là Ai", hoát nhiên khai ngộ, và nói: "Tôi đã tỉnh giấc mơ!". Từ đó cơ phong lanh lẹ sắc bén, biện tài tung hoành, ngày duyệt Tam tạng kinh, đêm chuyên trì Phật hiệu. Ngài đốt ngón tay ở tháp A Dục Vương, rồi trước Phật phát bốn mươi tám điều đại nguyện, lúc ấy cảm ứng xá lợi phóng hào quang rực rỡ. Ngài làm bài văn "Khuyên phát tâm Bồ đề", khích lệ tứ chúng, nhiều người đọc bài văn này đều rơi lệ.
Ngày mười bốn tháng tư, niên hiệu Ung Chánh thứ mười hai, Ðại sư hướng về Tây ngồi viên tịch. Hàng đạo tục các nơi nghe tin hội về đưa tiễn rất đông. Ðại sư bỗng mở mắt nói: "Tôi đi không bao lâu sẽ trở lại, sanh tử là việc lớn, mỗi người nên tự thanh tịnh tâm, niệm Phật thì có thể giải quyết được việc sanh tử!". Dặn dò xong, chắp tay niệm danh hiệu Phật rồi thị tịch.
Bài tán rằng:
Tâm từ rộng lớn,
Làm bài văn "Khuyến phát Tâm Bồ đề "
Bốn tám nguyện lớn,
Nguyện lực rộng sâu
Hành nguyện chân thật,
Ðiềm lành cảm ứng vô biên
Liên tông mạng mạch,
Nhờ Ngài trường tồn.
Hoặc nói kệ rằng:
Kiến hiền tư tề tinh tấn tu hành
Nghiệp Nho đọc sách như núi đồi
Học Phật tu hành nghiêm trì giới luật
Tham thiền triệt ngộ ai tự do
Lớn thay khuyên phát tâm Bồ đề
Cao thay lời thệ nguyện như trời đất
Xá lợi phóng quang chiếu soi thiên cổ
Tôn giả ân đức lưu ngàn đời.
Văn hóa trong văn hóa
Giác Ngộ - Trong cuộc sống, con người dù ở hoàn cảnh nào, ở vị trí nào trong xã hội thì cũng cần phải có những hành xử đẹp. Những hành xử đẹp đẽ đó sẽ là thước đo để đánh giá trình độ văn hóa, phẩm giá của mỗi người.
Chuyện nẹt pô xe trước cổng bệnh viện, bấm kèn tin tin vào giữa đêm khuya, vượt thứ tự trong xếp hàng nơi công cộng... , những chuyện tưởng chừng như rất nhỏ ấy lại thể hiện một tầm nhận thức thiển cận, một chuẩn văn hóa thấp kém khiến người khác miệt khinh ta...
Văn hóa không phụ thuộc vào trình độ học vấn, học vị, học hàm mà nó phụ thuộc vào ý thức, nhận thức của từng cá nhân. Người có trình độ học vấn cao không hẳn là người đó có văn hóa cao và ngược lại. Trong thực tế hàng ngày, chúng ta phải chứng kiến rất nhiều những hành vi không lấy gì làm đẹp mắt của một số người ở mọi lĩnh vực và địa điểm khác nhau, tạo cho chúng ta một cảm giác rất khó chịu, phản cảm. Những hành vi sau đây là những hành vi mà chúng ta thường thấy nhất.
1. Ý thức bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng
Khi tham gia giao thông, chúng ta thường bắt gặp nhiều người có hành vi vô văn hóa như khạc nhổ bừa bãi trên đường phố, gây mất vệ sinh nơi công cộng. Đôi khi không kịp né, chúng ta bị lãnh trọn hậu quả bởi hành vi thiếu văn hóa đó.
Phải nói rằng ở nước ta, ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng của người dân chưa được cao nên tình trạng rác xả một cách… vô tư ở những nơi công cộng như khu vui chơi giải trí hoặc ở những bến xe, bến tàu là rất phổ biến. Đó là mới điểm qua những hành vi "nho nhỏ" thật đáng trách của những người dân làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, ảnh hưởng đến môi trường. Nhưng những hành vi hủy diệt môi trường như khai thác gỗ tận diệt rừng già, xả chất thải công nghiệp của những tập đoàn lớn như Tập đoàn Vedan và nhiều công ty, doanh nghiệp khác thì đó mới là vấn đề đáng bàn, vì hậu quả của nó để lại cho môi trường sống thật khó kể hết.
2. Văn hóa xin lỗi, cảm ơn
Chúng ta thường nghe những lời phàn nàn từ những người cao tuổi hoặc những người ngoại quốc, đặc biệt là những người từ các nước phát triển đến Việt Nam. Họ nói rằng người trẻ bây giờ sao ít thấy thể hiện sự biết ơn và biết lỗi.
Không ít người thản nhiên bỏ qua không một lời xin lỗi khi mình đã gây ra những lỗi lầm khiến người khác phải chịu những tổn thương về tinh thần cũng như thân thể. Cũng có người thản nhiên đón nhận, hưởng thụ những thành quả mà người khác đã tạo ra cho mình nhưng không hề có sự biểu lộ cảm xúc biết ơn và một lời cảm ơn. Có người nói một cách bi quan rằng, văn hóa cảm ơn và xin lỗi là một thứ văn hóa "xa vời" và "xa xỉ"hiện nay. Mong điều đó không phải là sự thật.
3. Văn hóa xếp hàng
Từ thời bắt đầu biết cắp sách đến trường, mỗi người trong chúng ta đã được học bài học đầu tiên về phép lịch sự tối thiểu nơi công cộng, đó là xếp hàng vào lớp. Từng lớp một với những hàng lối ngay thẳng đi vào lớp học rất trật tự. Nhưng đó là thời trẻ con đi học và những việc làm đó dưới sự giám sát của thầy cô giáo. Còn khi con người đã lớn lên, bước vào đời thì rồi người ta có quan niệm rằng "trâu chậm thì uống nước đục" nên không ít người dễ dàng đạp lên nó, giành giật, chen lấn để mong một cách ích kỷ được "uống được nước trong".
Thời buổi hiện nay là phải sống nhanh, sống vội. Ít ai nghĩ đến lối sống chậm để mà có văn hóa xếp hàng. Hẳn chúng ta không ngạc nhiên lắm khi thấy người ta chen lấn giành giật nhau bởi một món hàng khuyến mãi hay một tấm vé vào khu vui chơi. Người viết xin được kể câu chuyện sau đây mà tình huống của nó không biết nên cười hay nên khóc. Câu chuyện diễn ra tại cổng Dinh Thống Nhất, TP.HCM. Hôm ấy tôi đưa một người bạn ở nước ngoài về đi tham quan di tích này, chúng tôi và một số người nước ngoài đang xếp hàng đợi đến lượt mua vé vào tham quan Dinh thì bỗng có một tốp người từ đằng sau thản nhiên chen lên trước để mua vé, vốn dĩ người Việt Nam mình thấp bé nhẹ cân nên những thao tác của họ rất nhanh nhẹn. Thấy vậy, những người nước ngoài cao to đang đứng đợi xếp hàng chỉ xì xồ mấy câu rồi cười vì nghĩ rằng những người kia là trẻ em nên ưu tiên cho mua trước. Cảm giác của tôi lúc đó xấu hổ không thể nói lên lời.
4. Văn hóa nơi công sở
Cơ quan làm việc là nơi mọi người phải tuân thủ các nội quy quy chế một cách nghiêm ngặt nhất. Thế nhưng ở một số đơn vị thì bản nội quy chỉ mang tính hình thức, treo lên cho "vui mắt" mà thôi.
Chúng ta thấy hầu hết các cơ quan, ngay từ cổng ra vào đã có một bảng hướng dẫn "xin vui lòng xuống xe, tắt máy, dẫn bộ" nhưng ít thấy ai thực hiện. Các công chức hoặc khách mời cứ vô tư phóng cái vèo một phát qua mặt bảo vệ.
Ngay ở các bệnh viện cũng vậy. Có nhiều bệnh viện không có nhà gửi xe phía ngoài khuôn viên bệnh viện nên phải gửi xe bên trong. Để đảm bảo sự yên tĩnh cho bệnh nhân đang điều trị, người ta cũng đặt bảng hướng dẫn tương tự như trên nhưng chẳng mấy ai thực hiện cả. Rồi còn nhiều những hành vi không tốt khác như hút thuốc lá nơi công sở, đi trễ về sớm…
5. Văn hóa giao thông
Trên các nẻo đường thành phố vào những giờ cao điểm, người và xe chật như nêm cối. Hình ảnh nhiều người cho xe leo lên cả lề đường dành cho người đi bộ là hình ảnh quá đỗi bình thường. Công bằng mà nói, trong hoàn cảnh đường phố thì chật chội mà người lại đông đúc, lô cốt giăng chắn lối đi, nếu không tranh thủ chen lấn từng centimet đường thì nguy cơ đến cơ quan trễ hoặc chậm giờ đón con là rất cao. Bởi vậy nếu không thấy bóng dáng cảnh sát giao thông thì việc vượt đèn đỏ hay đi vào đường cấm là chuyện bình thường hóa của rất nhiều người.
Trong chúng ta, mỗi người luôn tồn tại hai mặt: mặt tốt và mặt xấu. Vấn đề là chúng ta có nhận diện được các mặt trong chính con người chúng ta hay không mà thôi. Nếu biết cách nhận diện được nó rồi thì cái tốt ta phải phát huy, cái xấu từ từ từng bước ta loại trừ nó. Đó cũng là một phương pháp thực hành "tránh ác làm lành" mà Đức Phật đã dạy cho con người. Chúng ta thấy rằng, một đất nước nhỏ bé xinh đẹp, dân số ít như Singapore mà cũng phải cần đến 50 năm phát triển mới trở thành một đất nước xanh sạch đẹp và hiện đại như ngày hôm nay. Vậy ở Việt Nam ta với hơn 85 triệu người dân thì phải cần đến bao nhiêu năm mới đạt đến mức phát triển như nước bạn? Phải chăng bắt đầu từ ý thức giữ gìn, phát huy và những hành xử hướng đến cái đẹp của mỗi người để góp phần xây dựng đất nước phát triển, xã hội văn minh.
Hình ảnh của đất nước đẹp hay không lệ thuộc vào cách ứng xử, chất lượng trong nhận thức, lời nói và hành vi của mỗi người công dân, từ gia đình cho đến nơi công cộng. Nền tảng của một xã hội văn minh được bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt và rất đỗi bình thường đó.
"Bên cạnh những cái "được" dễ thấy của người Việt trẻ như kiến thức rộng, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư duy nhạy bén... thì cũng có những điều trái khoáy: các bạn "thiếu văn hóa" một cách trầm trọng trong ứng xử. Chúng ta vẫn thường nghe "Thanh niên là rường cột của nước nhà", là "hy vọng của quốc gia" và nhiều nữa. Vậy thì Việt Nam ta rồi sẽ về đâu, với một thế hệ trẻ thừa-kiến-thức nhưng lại thiếu-văn-hóa?
Chuyện các bạn trẻ chửi thề, nói tục có vẻ như không còn thuốc chữa bởi những ngôn từ ấy đã trở thành một thói quen mất rồi. Và, có lẽ là để chứng tỏ sự... sang trọng, sành điệu, đẳng cấp của mình, các bạn đã chửi thề bằng cả tiếng ngoại quốc nữa kia. Chuyện có thật trong một quầy bida, sau khi cô gái tóc nhuộm vàng hoe đánh hụt một cơ, cô giậm chân: "Oh, shit!". Chàng trai đi cùng cô, cũng đánh hụt một cơ, cũng vung cây cơ, buông tiếng "Damn it!". Chắc các bạn nghĩ rằng phải vậy mới là người văn minh mà lại không hiểu rằng đó là một sự phỉ báng tiếng Việt - ngôn ngữ là niềm tự hào của dân tộc. Các bạn đâu biết khi buông lời như thế, các bạn đang phỉ nhổ vào chính bản thân mình.
Cứ thế, những minh chứng cho lối ứng xử thiếu văn hóa của người Việt trẻ vẫn đầy dẫy, mà nếu tôi liệt kê chắc cũng được vài trăm hay vài nghìn trang giấy. Vâng, bạn có thể cho là tôi quá lời. Nhưng hãy cứ thử nhìn ra kia mà xem. Trên những chatroom, forum trực tuyến vẫn nhan nhản những lời lẽ cục súc, miệt thị lẫn nhau. Đến cả những em bé đang theo bậc tiểu học vẫn sử dụng tiếng chửi thề làm tiếng đệm đầu môi. Nếu hỏi chúng từ đâu mà biết những từ ngữ như thế, chúng sẽ trả lời cho ta rằng chúng học được từ cha mẹ, anh chị... Từng ngày từng giờ, chúng ta đang làm nhơ nhuốc tâm hồn của trẻ thơ mà không hề cảm thấy đó là tội ác. Thậm chí khi dạy cho các em bé tập nói ta lại càng khuyến khích trẻ chửi thề qua những câu như: "Chửi nó đi con!".
Mang nỗi lòng ấy trò chuyện với vài bạn trẻ, tôi lại thêm bẽ bàng khi các bạn nhìn tôi như nhìn một sinh vật lạ từ hành tinh nào đấy. Và câu trả lời tôi nhận được là: "Chuyện bình thường thế mà cũng lôi ra nói. Điên à?". Vâng, tôi điên nên mới trăn trở về một thế hệ trẻ - tương lai của nước nhà. Tôi điên nên mới nói về những cái mà các bạn mặc nhiên thừa nhận như là chuyện thường ngày và chẳng có gì sai. Tôi điên?
Chuyện văn hóa không chỉ dừng lại đó khi ta nhìn thấy cảnh chen lấn trước quầy vé tàu, xe, chuyện những chàng trai vô tư "ôm cây đợi thỏ" sau những cuộc nhậu triền miên, chuyện nẹt pô xe trước cổng bệnh viện, chuyện bấm kèn tin tin vào giữa đêm khuya khi ta trở về nhà... Những chuyện tưởng chừng như rất nhỏ ấy lại thể hiện một tầm nhận thức thiển cận, một chuẩn văn hóa thấp kém khiến bạn bè các nước miệt khinh ta...".
VẠN PHÁP DUY TÂM TẠO
- Thế nào là "Vạn pháp duy tâm tạo"?
- Không biết.
- Điều ấy có phi khoa học không?
- Không !
- Vô lý! Vừa khi nãy ông bảo là không biết, sao bây giờ lại biết là không phi khoa học.
- Không biết là không biết cách thức của cái tối thượng rỗng không mà lại hiển thị thành vạn pháp. Còn biết không trái với khoa học vì khoa học tiên tiến về hạt cơ bản và lượng tử đều nhìn nhận như vậy.
- Nếu ông nói: "Vạn pháp duy tâm tạo" Vậy bây giờ ông không làm gì cả chỉ ngồi đây suy nghĩ về một vật xem vật ấy có tự hiện ra không? Hay là ông cầu trời khấn Phật xem vật ấy có tự hiện ra không? Tôi nghĩ các điều ấy đều là hoang tưởng, mà nhất thiết đều phải thông qua con đường lao động?
- Mô Phật! "Vạn pháp" nghĩa là mọi pháp hữu tướng và vô tướng. "Duy tâm tạo" nghĩa là từ tâm tạo thành.
Tâm chỉ có 2 dạng:
1. Ở phạm trù bản thể: Thì tâm là tên gọi cái nguyên nhân đầu tiên của vật chất. Vậy cho nên nói " Vạn pháp duy tâm tạo" là một cách định nghĩa về triết học của cái vật chất tối thượng.
2. Ở phạm trù hiện tượng: Từ "tâm" ở đây không phải chỉ tính thiện ác của con người hay một trạng thái tâm lý nào đấy! Mà là tâm trí nhị nguyên với các định kiến chấp trước chủ quan và thất tình lục dục. Sự vật ở thế giới hiện tượng luôn "như nó đang là" nhưng khi chúng ta cảm nhận qua môi trường tâm trí thì bị phóng thể, nghĩa là mất tính khách quan trung thực. Vậy cả câu " Vạn pháp duy tâm tạo" có nghĩa là: Mọi pháp hữu tướng hoặc vô tướng, tuy đang có đấy, nhưng ta đều không thấy được, bởi chúng ta đang thấy cái giả tướng của nó thông qua "tâm trí".
Thế cho nên cổ đức mới nói: " . . . Thuý trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh" nghĩa là trúc xanh, hoa vàng, đâu phải là cảnh bên ngoài! . . . .”
- Mô Phật! . . Xin cảm ơn ông về buổi nói chuyện hôm nay.
- A Di Đà Phật! . . . Gàn tôi nói chơi đó mà, ông không biết tôi là Ba Gàn sao.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét