THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012
Tụng Kinh, Trì Chú,Niệm Phật
A.- Mở đề
Người Phật tử, nếu chỉ thờ, lạy và cúng Phật, thì cũng chưa có thể gọi là thuần thành. Người Phật tử thuần thành còn phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Vả lại nếu bỏ qua ba phần sau này, thì ba phần trước là thờ, lạy và cúng khó có thể viên dung cả Sự và Lý được. Vì phần Lý là phần cao siêu khó thực hành, mà nếu chúng ta không tụng kinh, niệm Phật để cho tâm hồn được sáng suốt, tỏ ngộ các lý lẽ sâu xa huyền diệu trong kinh đìển, thì chúng ta không làm thế nào để đạt được 4 phép lạy thuộc về Lý là: Phát trí thanh tịnh lễ, biến nhập pháp giới lễ, chánh quán lễ, thật tướng bình đẳng lễ và 5 món diệu hương để cúng Phật là: Giới hương, Ðịnh hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương. Và nếu không thực hành được 4 phép lạy về Lý và cúng dường được 5 món diệu hương, thì sự lạy và cúng chỉ là phần "Sự" là phần hình thức, và vì thế, kẻ tín đồ khó có thể tiến được trên đường Ðạo. Bỡi vậy, cùng một lần với thờ, lạy và cúng Phật, chúng ta phải tụng kinh, trì chú và niệm Phật. Ðó là những điểm căn bản tối thiểu mà một Phật tử thuần thành không thể bỏ qua được.
B.- Chánh Ðề
I.- Ðịnh Nghĩa
1) Tụng kinh: Tụng là đọc thành tiếng một cách có âm điệu và thành kính. Tụng kinh là đọc một cách thành kính những lời Ðức Phật đã dạy trong kinh điển, hợp với chân lý và căn cơ của chúng sanh.
2) Trì chú: Trì là nắm giữ một cách chắc chắn. Chú là lời bí mật của Chư Phật mà chỉ có Chư Phật mới hiểu được, chứ các hàng Bồ tát cũng không hiểu thấu. Các bài chú đều có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, dứt trừ được nghiệp chướng, tiêu tai giải nạn và tăng trưởng phước huệ, nên cũng gọi là thần chú.
3) Niệm Phật: Niệm là tưởng nhớ. Niêm Phật là tưởng nhớ danh hiệu Phật, hình dung Phật và đức hạnh của Phật, để luôn luôn cố gắng noi theo bước chân Ngài.
II.- Lý Do Phải Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật
1) Vì sao phải tụng kinh? Chúng ta sống trong cõi dục, cho nên lòng dục vọng của chúng ta không bao giờ ngừng nghỉ, cho đến trong giấc ngủ, cũng còn chiêm bao cãi lẩy, cười khóc, vui buồn như lúc thức. Trong cảnh mê mờ đầy dục vọng ấy, may thay, Ðức Phật vì đã thương xót chúng sanh mà truyền dạy những lời vàng ngọc, có thể phá tan màn mây u ám của vô minh và tội lỗi. Nhưng những lời lẽ cao siêu ấy, chúng ta nghe qua một lần , hai lần cũng không thể hiểu thấu và nhớ hết được. Cho nên chúng ta cần phải đọc đi đọc lại mãi, để cho lý nghĩa thâm huyền được tỏa ra, và ghi khắc trong thâm tâm chúng ta, không bao giờ quên được. Ðó là lý do khiến chúng ta phải tụng kinh.
2) Vì sao phải trì chú? Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm trì chú, thì được nhiều hiệu lực không thể tưởng tượng. Chẳng hạn thần chú "Bạc nhứt thế nghiệp chướng căn bổn đắc sinh Tịnh độ Ðà la ni" có hiệu lực tiêu trừ được hết gốc rễ nghiệp chướng, làm cho người được vãng sanh về Tịnh độ. Thần chú "Tiêu tai kiết tường" có hiệu lực làm cho tiêu trừ các hoạn nạn, tai chướng, được gặp những điều lành. Thần chú "Lăng Nghiêm" thì phá trừ được những ma chướng và nghiệp báo nặng nề v.v... Thần chú "Chuẩn Ðề" trừ tà, diệt quỷ. Thần chú "Thất Phật diệt tội" có công năng tiêu trừ tội chướng của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp v.v... Vì thế nên chúng ta phải trì chú.
3) Vì sao phải niệm Phật? Tâm chúng ta bị vô minh làm mờ đục, chẳng khác gì nước bị bùn nhơ làm ngầu đục. Muốn cho nước đục kia hóa ra trong, không có phương pháp nào hay hơn là gia một chút phèn vào, thì các chất dơ bẩn ngầu đục kia dần dần lắng xuống, bấy giờ nước đục trở nên trong sạch. Phương pháp niệm Phật cũng vậy, có công năng trừ phá các vọng niệm đen tối ở nơi tâm của chúng ta, làm cho tâm mê muội, mờ ám trở nên sáng suốt, chẳng khác gì chất phèn làm cho nước trở nên trong vậy.
Vì sao niệm Phật lại làm cho tâm mê muội trở nên trong sáng ? Vì lý do rất dễ hiểu sau đây:
Tâm chúng ta rất điên đảo, không bao giờ dừng nghỉ. Kinh thường nói: "Tâm viên, ý mã", nghĩa là "tâm" lăng xăng như con vượn nhảy từ cành nầy qua cành khác, và "ý" như con ngựa chạy lung tung luôn ngày suốt buổi. Làm sao cho tâm ý chúng ta đừng nghĩ xằng bậy? Chỉ có một cách là bắt nó nghĩ những điều tốt lành, hay đẹp. Niệm Phật chính là nhớ nghĩ đến những Vị hoàn toàn tốt đẹp, những hành động trong sáng, những đức tánh thuần lương. Càng niệm Phật nhiều chừng nào, thì ít niệm ma chừng ấy. Ma ở đây là tất cả những gì xấu xa đen tối, làm hại mình hại người. Vì thế chúng ta nên luôn luôn niệm Phật.
III.- Phải Thường Tụng Những Bộ kinh Nào, Trì Chú Gì Và Niệm Danh Hiệu Phật Nào ?
1.- Các kinh thường tụng. Phàm là kinh Phật thì bộ nào tụng cũng được cả, vì kinh nào cũng có công năng thù thắng là phá trừ mê mờ, khai mở tâm trí sáng suốt cho chúng sanh, nếu chúng ta chí thành đọc tụng. Nhưng vì căn cơ của chúng ta không đều, nên chúng ta phải lựa những bộ kinh nào thích hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta mà đọc tụng.
Thông thường, các Phật tử Việt Nam, từ xuất gia cho đến tại gia đều trì tụng những kinh như: Di-Ðà, Hồng Danh, Vu-Lan, Phổ Môn, Dược Sư, Ðịa Tạng, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa v.v...
Nhiều người có quan niệm, chọn bộ kinh cho thích hợp với mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp để tụng, như lúc:
- Cầu siêu thì tụng kinh Di-Ðà, Ðịa Tạng, Vu Lan v.v...; - Cầu an thì tụng kinh Phổ Môn, Dược Sư v.v...; - Cầu tiêu tai giải bịnh thì tụng kinh Kim-Cang, Lăng-Nghiêm v.v...; - Cầu sám hối thì tụng kinh Hồng-Danh.
Cái quan niệm lựa chọn như thế cũng có phần hay là làm cho tâm chuyên nhất sẽ được hiệu nghiệm hơn. Nhưng chúng ta không nên quên rằng về mặt giáo lý cũng như về mặt công đức, bất luận một bộ kinh nào, nếu chí tâm trì tụng, thì kết qủa cũng đều mỹ mãn như nhau cả.
2.- Các chú thường trì. Ở chùa, chư Tăng hằng ngày, trong thời khóa trụng khuya, trì chú Lăng Nghiêm, Ðại Bi, Thập chú hay Ngũ Bộ chú v.v... còn ở nhà, phần nhiều cư sĩ trì chú Ðại Bi và Thập chú, bỡi hai lẽ: một là thời giờ ít ỏi, vì còn phải lo sinh sống cho gia đình; hai là chú Lăng Nghiêm đã dài, lại thêm chữ âm vận trắc trở khó đọc, khó thuộc. Nhưng nếu cư sĩ nào có thể học hết các thần chú, trì tụng được như chư Tăng thì càng tốt.
3.- Các hiệu Phật thường niệm. Ðúc Phật nào cũng đủ cả 10 hiệu, đồng một tâm toàn giác, từ bi vô lượng, phước trí vô biên, thương chúng sanh vô cùng vô tận, nên chỉ niệm danh hiệu một Ðức Phật nào cũng đều được cảm ứng đến tất cả Chư Phật, công đức cũng đều vô lượng vô biên.
Nhưng đứng về phương diện trình độ và hoàn cảnh mà luận, thì hiện nay, chúng ta là người ở thế giới Ta Bà, nhằm quốc độ của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa, lẽ cố nhiên chúnng ta phải niệm danh hiệu của Ngài. Dụ như dân chúng ở trong nước nào, phải nhớ nghĩ đến ơn nhà cầm quyền chính trị sáng suốt ở trong nước đó.
Nếu Tín đồ nào tu theo pháp môn Tịnh Ðộ, thì thường ngày phải niệm danh hiệu Ðức Phật A-Di-Ðà. Pháp môn này được thành lập do lời dạy sau đây của Ðức Phật Thích Ca: "Ở cõi thế giới Ta Bà này, đến thời kỳ mạt pháp, cách Phật lâu xa, chỉ có pháp "Trì danh niệm Phật", cầu vãng sanh về Tây phương cực lạc là quốc độ của Ðức Phật A-Di-Ðà, thì dễ tu dễ chứng hơn hết". Ngoài ra, cũng có người niệm danh hiệu Ðức Phật Di-Lặc, để cầu sanh về cõi trời Ðâu Xuất; hoặc niệm danh hiệu Ðức Phật Dược Sư, để cầu cho khỏi tật bịnh.
Tóm lại, tín đồ phải niệm đủ Tam thế Phật:
a) Niệm Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, là niệm Ðức Phật hiện tại, cũng là Ðức Phật Giáo chủ của chúng ta.
b) Niệm Ðức Phật A-Di-Ðà, là niệm Ðức Phật đã thành từ quá khứ xa xưa, mà cũng là Ðức Phật tiếp dẫn chúng ta về Cực Lạc.
c) Niệm Ðức Phật Di-Lặc, là niệm Ðức Phật vị lai.
IV.- Lợi Ích Của Sự Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật
1.- Lợi ích của sự tụng kinh. Những lời giáo hóa trong ba tạng kinh điển của Phật, đều toàn là những lời hiền lành, sáng suốt do lòng từ bi và trí tuệ siêu phàm của Phật nói ra. Kinh Phật, vì thế, có phần siêu việt hơn tất cả những lời lẽ của thế gian. Nếu chúng ta chí tâm trì tụng, chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích cho mình, cho gia đình và những người chung quanh:
a) CHO MÌNH: Lúc tụng niệm, hành giả đem hết tâm trí chí thành đặt vào văn kinh để khỏi sơ xuất, nên sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không còn móng lên mười điều ác nữa, mà chỉ ghi nhớ những lời hay, lẽ phải.
b) CHO GIA ÐÌNH: Trước khi sắp sửa tụng kinh, những người trong nhà đều dứt các câu chuyện ngoài đời và khách hàng xóm đến ngồi lê đôi mách cũng tự giải tán. Trong gia đình nhờ thế được thanh tịnh, trang nghiêm, hòa thuận.
c) CHO NGƯỜI CHUNG QUANH: Trong những lúc đêm thanh canh vắng, lời tụng kinh trầm bổng theo với tiềng mõ nhịp đều, tiếng chuông ngân nga, có thể đánh thức người đời ra khỏi giấc mê, đưa lọt vào tai kẻ lạc lối những ý nghĩa thâm huyền, những lời khuyên dạy bổ ích, chứa đựng trong kinh mà hành giả đang tụng.
Như vậy rõ ràng tụng kinh chẳng những có lợi ích cho mình, cho gia đình, mà còn cho những người chung quanh nữa. Ðó là mới nói những điều ích lợi thông thường có thể thấy được, ngoài ra tụng kinh còn có những điều lợi ích, linh nghiệm lạ thường, không thể giải thích được, ai tụng sẽ tự chứng nghiệm mà thôi.
2.- Lợi ích của sự trì chú. Các thần chú tuy không thể giải nghĩa ra được, nhưng người chí tâm thọ trì, sẽ được công hiệu thật là kỳ diệu, khó có thể nghĩ bàn, như người uống nước ấm, lạnh thì tự biết lấy. Có thể nói: một câu thần chú, thâu gồm hết một bộ kinh, vì vậy, hiệu lực của các thần chú rất phi thường. Khi gặp tai nạn, nếu thực tâm trì chú, thì mau được giải nguy. Như thuở xưa, Ngài A-Nan mắc nạn, Ðức Phật liền nói thần chú Lăng Nghiêm, sai ngài Văn Thù Sư Lợi đến cứu, thì Ngài A-Nan liền được thoát nguy.
Ngày nay có nhiều trường hợp mà người thành tâm niệm chú thấy được hiệu nghiệm rõ ràng. Theo lời Bác sĩ Thiện Thành nói lại, thì vào năm 1946, giữa lúc loạn ly, BS ở trong một vùng rừng sâu, núi hiểm tại Trung Việt. Một lần Bác sĩ bị một chứng bịnh nan y, mặc dù lương dược Ðông, Tây sẵn có trong tay, cũng không làm sao trị được. Bác sĩ tưởng sẽ bỏ mình trong xóm người Sơn cước, không ngờ lúc còn ở dưới mái nhà cha mẹ, thường đêm nghe thân phụ trì chú "Công Ðức Bảo Sơn", BS liền đem thần chú ấy ra áp dụng. Trong lúc ấy, các người nuôi bịnh cũng xúm lại hộ niệm cho BS suốt đêm. Sáng hôm sau, quả thật BS lành mạnh trở lại một cách dễ dàng, làm cho tất cả các bạn đồng nghiệp đều ngạc nhiên.
3.- Lợi ích của sự niệm Phật. Niệm Phật công đức lại còn to lớn hơn nữa, vì một câu niệm Phật có thể gồm thâu cả 3 tạng kinh điển, hết thảy thần chú, cùng là các pháp viên đốn, như tham thiền, quán tưởng v.v...
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng: "Sau khi Phật nhập diệt , về thời kỳ mạt pháp, đến kiếp hoại, các kinh sẽ bị tiêu diệt hết, chỉ còn kinh Di-Ðà lưu truyền lại độ trăm năm rồi cũng diệt luôn. Lúc bấy giờ chỉ còn một câu niệm Phật gồm 6 chữ "Nam Mô A-Di-Ðà Phật", mà đủ năng lực đưa chúng sanh về cõi "Cực-Lạc".
Lời Phật nói không sai, bằng chứng là có nhiều nhân vật chuyên trì một câu niệm Phật, mà biết được ngày giờ và thấy được điềm lành trước khi vãng sanh. Như Tổ Huệ Viễn, trong 10 năm niệm Phật, 3 lần thấy Ðức Di-Ðà rờ đầu; trong hội Liên xã, có 123 người chuyên tu phép "Trì danh niệm Phật", đều lần lượt được Phật rước về cõi Tịnh Ðộ. Gần đây ở Nam phần VN, vào năm 1940, có 3 vị sĩ quan Pháp là Ðại úy Touffan, Trung úy Retourna, Thiếu úy Brillant đồng lái một chiếc thuỷ phi cơ bay từ đảo Côn Lôn về Sài gòn. Giữa đường, chiếc phi cơ hư rơi xuống biển. Thiếu úy Brillant (người Pháp lai Việt) niệm Phật cầu cứu. Chiếc thủy Phi cơ lửng thững trên mặt biển suốt 3 giờ , mới gặp một chiếc tàu đánh cá của người Nhật đến cứu. Khi 3 vị vừa bước sang tàu, thì chiếc phi cơ chìm ngay xuống biển. Ai nấy đều lấy làm lạ, hỏi nhau: Tai sao khi nãy có 3 người ngồi nặng, phi cơ lại nổi, mà bây giờ không có người nó lại chìm lỉm? Chỉ có thiếu úy Brillant mới giải thích được sự lạ lùng ấy. Ông kể lại cho mọi người nghe sự linh ứng của pháp niệm Phật mà ông thường áp dụng, và lần nầy là lần thứ hai ông được thoát nạn nhờ phép niệm Phật ấy. Ðại úy Touffan và trung úy Retourna hết lòng tin tưởng, nên khi về đến Saigon, hai vị sĩ
quan ấy chung nhau một số tiền, cất một cái am đẹp đẽ ở Cát lái, làng Thạnh Mỹ Lợi, tỉnh Gia Ðịnh để thờ Phật gọi là tỏ lòng tri ân. Ðây chỉ là một câu chuyện trong muôn ngàn câu chuyện về sự lợi ích của phép niệm Phật.
C.- Kết Luận
Khuyên Phật Tử Tụng kinh Niệm Phật Và Trì Chú Cả Sự Lẫn Lý Cho được Viên Dung . Tụng kinh, trì chú, niệm Phật là 3 phương pháp tu hành gồm đủ cả Sự và Lý. Dù tại gia hay xuất gia, dù tiểu thừa hay đại thừa, tiêu cực hay tích cực, không ai có thể rời 3 phương pháp nầy được. Bỡi thế, Phật tử cần phải học tụng kinh, niệm Phật và trì chú cho Sự,Lý đi đôi, lời nói và việc làm phù hợp, mới có được kết quả tốt đẹp.
Ba pháp môn tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tuy không đồng mà kết qủa đều thù thắng. Phật tử có thể tùy theo trình độ, hoàn cảnh của mình mà tu một, hai hay cả ba pháp ấy. Thí dụ như người biết chữ và mạnh khoẻ, công ăn việc làm hằng ngày không bận rộn lắm, thì nên tụng kinh, trì chú, niệm Phật đủ cả ba pháp môn. Còn người tuổi gìà, sức yếu, mắt mờ, răng rụng, miệng lưỡi phều phào, thân thể mỏi mệt, nếu tụng kinh, trì chú không nổi, thì phải chuyên tâm niệm Phật, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng phải niệm Phật. Nhưng các Phật tử nên nhớ, khi miệng tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tay gõ mõ, đánh chuông, lần chuỗi, thì tâm trí phải gột rửa hết bao ý nghĩ bất chính, những ham muốn đê hèn, và đặt vào đấy hình ảnh của Ðấng Từ Bi. Rồi phải noi gương Ngài, mở lòng thương rộng lớn, nghĩ đến nỗi thống khổ của muôn loài và phát nguyện đem sức mình ra, ban vui cứu khổ cho tất cả. Ðến khi thôi tụng niệm, trở lại tiếp xúc việc đời, thì phải làm thế nào cho những hành động của mình cũng được từ bi như tư tưởng và lời nói của mình vậy.
Người tụng kinh trì chú và niệm Phật, làm đúng như thế, thì chắc chắn sẽ được chứng qủa Thánh không sai.
TƯỢNG NGƯỜI
Hai Lúa rủ Ba Gàn đi chơi. Hai tên đến một tiệm làm tượng thờ. Rất nhiều tượng từ Phật, tới Thánh, tới Chúa và đủ các kiểu Thần Linh đã chế tác xong hoặc đang làm lỡ dở.
Bụi đá bay mịt mù, tiếng máy khoan đá xoèn xoẹt, tiếng đục gỗ chan chát. Tiếng cười tiếng nói cọng với tiếng máy nổ, tiếng ngã giá kì kèo, thành một âm thanh hổn độn chói tai.
Hai Lúa nói thật to vào tai Ba Gàn :
- Ồ, quá nhiều Phật, nhiều Thánh. . . .lạy các ngài. . . .
Vừa nói hắn vừa xoa tay xuýt xoa, rồi chấp tay vái lấy vái để chung quanh và tứ phía, miệng hắn vừa lầm bầm vừa hít hà như ăn phải ớt.
Ba Gàn cười:
- Nè, nhiều tượng Phật, chứ đâu phải nhiều Phật.
- Thì có khác gì đâu, chỉ ít lâu sau, toàn bộ những tượng này người ta đều thỉnh về thờ cả. Thì đằng nào chúng sanh chẳng lạy. Lạy bây giờ hay vài hôm nữa lạy có chi khác chớ. . . .hề hề. . .
- Con người tự tạo ra hình tướng Thần Linh rồi lại tự sợ hãi, cung kính, nô lệ tác phẩm của chính nó. . . . Ông thấy có kỳ dị không.
- Thế không thờ à?
- Có chứ, nhưng đó chỉ là phương tiện để trực ngộ vị Phật tại tâm của mình. Chứ trong xi măng, gỗ, đá, đồng, thạch cao, làm sao có Phật.
- Nè, cái gì không phải Phật, Phật ở khắp mọi nơi chứ sao không?
- Đúng vậy, nếu nói thế thì cứ để tự nhiên chứ sao phải tạo ra hình tướng để lệ thuộc nó.
- Này, nhưng bây giờ chỉ là tượng gỗ, khi nào nó được "hô thần nhập tượng" thì mới linh, thì mình mới lạy chứ?
- Nếu vậy sao không hô Thần nhập vào mọi người để mọi người thành Phật chứ tu chi cho mệt.
- Khi làm lễ quán đảnh rồi, phải tu lâu thì mới thành được.
- Vậy con người thua gỗ đá sao. Gỗ đá chỉ cần hô Thần là thành Phật ngay mà.
- Nè, ông biết không, bây giờ người ta cũng dựng lên một con người nào đấy, rồi "Hô Thần Nhập Người" để thành Phật, bằng cách tuyên truyền quảng cáo và thêu dệt vô số giai thoại huyễn hoặc siêu nhiên.
- Hay quá, thông minh quá. Tượng gỗ người ta còn quì mọp huống hồ là " Tượng người ". . . . .hề hề. . ..
- Và thợ điêu khắc gỗ thì chắc thu nhập phải thấp hơn "điêu khắc người". . . .hề hề.
- Ông nghĩ sao, nếu "Tượng Người" được dùng như một lá cờ, thì có khi cũng có lợi đấy chứ?
- Nhưng lá cờ thì không biết nói, còn "Tượng Người" thì biết nói và nói quá nhiều. . . .hề hề. . .
TƯỢNG PHẬT LÀ PHẬT
HAY KHÔNG PHẢI PHẬT ?
• Tượng phật trên bàn thờ là Phật hay không phải Phật ?
• Ly nước này là nước hay không phải nước.
• Phải mà không phải.
• Thế nào là phải mà không phải ?
• Nó tuy là nước nhưng giới hạn trong ly, không phải nước phổ quát.
• Cũng vậy, tượng phải mà không phải Phật.
• Vậy mọi sự đều là Phật cả sao ?
• Số 0 khi phân chia thì đều là 0.
• Vậy sao không dùng thứ khác mà thờ ?
• Sao ông không dùng cái ly khác để uống
• Tu cốt tại tâm cần gì dùng ngẫu tượng ?
• Sao không ra sông uống nước cần gì phải dùng ly.
TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC TÔNG
THIỀN-MẬT-LUẬT-TỊNH
1. Tương quan giữa Thiền và Tịnh
Thiền và Tịnh đều là pháp môn thù thắng vi diệu. Vì chúng sinh căn tánh sai khác, nên phải tùy cơ mà hướng dẫn.
Pháp môn hướng thượng chẳng phải Thiền chẳng phải Tịnh, nhưng cũng là Thiền cũng là Tịnh. Mở miệng nói chuyện tham cứu liền là phương tiện cho hạng hạ căn rồi. Bằng quả thật là bậc đại trượng phu, ắt phải tự tin chắc rằng “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Một niệm không tương ưng với Phật thì không thể gọi là niệm Phật tam muội. Niệm niệm cùng Phật không gián đoạn thì cần gì nhọc hỏi “Ai niệm Phật?”. Cho nên, pháp tham cứu chữ “Ai” (Thùy) cùng với pháp nhiếp tâm đếm hơi thở đều chẳng phải tột cùng chỗ hành dụng của Tịnh độ. Chỗ cùng tột của pháp môn Tịnh độ là không có Phật ở ngoài niệm để làm sở niệm cho niệm, không có niệm ở ngoài Phật để làm năng niệm đối với Phật. Chính lúc hạ thủ công phu không bị rơi vào “bốn câu trăm lỗi”, thân tâm liền thể nhập. Chỉ cần thấy ánh quang nơi một chân lông của Đức Phật A Di Đà, tức thời cũng thấy được vô lượng chư Phật trong mười phương; chỉ cần sanh về một cõi nước Tây phương Cực Lạc, cũng tức là sanh về các cõi Phật thanh tịnh trong mười phương. Đây là con đường hướng thượng. Bỏ Đức A Di Đà hiện tiền mà nói A Di Đà tự tánh, bỏ Tây phương Tịnh độ mà nói Duy tâm Tịnh độ, đó chính là công án sai lầm. Kinh có nói rằng: “Tam hiền Thập thánh đều trụ trong quả báo, chỉ có Phật trụ nơi Tịnh độ”. Đây là một đòn đánh vào cân não. Như vậy, mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền dẫn dắt chúng sanh quay về Cực lạc, ai dám bảo đó chỉ là phương tiện quyền thừa? Nhớ Phật niệm Phật, không nhờ phương tiện, tự tâm khai mở, ai dám bảo đó là pháp thấp nhỏ? Chỉ cần tin sâu pháp môn Tịnh độ này, nương nơi lòng tin mà lập nguyện, dựa vào nguyện mà khởi hạnh thì mỗi niệm, mỗi niệm hiện ra vô lượng Đức Phật ngồi khắp các cõi nước nhiều như vi trần trong mười phương, chuyển đại pháp luân, chiếu suốt kim cổ mà chẳng phải là việc ngoài bản tánh. Đâu chỉ chấn động đại thiên thế giới mà thôi? Muốn biết sự nghiệp của lão nạp thì ta không ngại mượn bài kệ của ngài Trung Phong để bày tỏ rằng:
Ngoài Thiền chưa từng nói Tịnh độ,
Nên biết ngoài Tịnh cũng không Thiền.
Hai lớp công án cùng nêu hết,
Ngọn Hùng Nhĩ nở ngũ diệp liên.
2. Tương quan giữa Thiền và Giáo môn
Đạo chẳng phải ở nơi văn tự, nhưng cũng chẳng thể rời văn tự. Chấp lấy văn tự cho là đạo, đó là cái đáng bị chê cười của hàng giảng sư, chỉ biết đếm của cho người, chỉ nói về đồ ăn mà không tự no lòng, giàu có. Còn kẻ chấp vào cái lý rời văn tự là đạo thì trở thành kẻ cuồng thiền, mắc vào cái họa “sinh manh ám chứng”. Tổ sư Đạt Ma lấy tâm truyền tâm, vậy mà cũng nhờ Lăng Già ấn chứng. Thế thì lìa kinh một chữ e rằng “đồng ma thuyết” thôi! Còn ngài Trí Giả Đại sư 3 tháng đàm diệu, tùy chỗ mà quy kết về pháp môn Chỉ Quán. Nếu y văn giải nghĩa thì e rằng chỉ oan cho chư Phật ba đời! Hai ngài ấy vốn không bị mắc kẹt hai bên, không ly kinh, chẳng y văn. Mà đời sau, kẻ Thiền chê Giáo, người Giáo thì bài báng Thiền. Đó thật là điều đau lòng! Tôi năm 23 tuổi đã khổ chí tham thiền đến nay, giờ há lại tự xưng là người của riêng tông Thiên Thai ư?! Vì tôi rất đau xót căn bệnh trong cửa thiền chúng ta, nếu chẳng phải tông Thiên Thai thì không thể nào cứu được bệnh ấy. Cần gì phải là con cháu tông Thiên Thai, lại còn cố chống với Thiền tông, đó nào có phải là bản ý của ngài Trí Giả Đại sư?
3. Tương quan giữa pháp Trì chú và Trì danh niệm Phật
Thần chú và danh hiệu Phật công đức bình đẳng nhau, nhưng cơ duyên chẳng đồng. Thần chú và danh hiệu Phật đều có 4 sự ích lợi. Nay khuyên trì chú, và khuyên trì danh hiệu Phật cũng không khác. Hãy tin vào cơ duyên hóa độ của Bồ tát và nguyện lực của chúng ta. Mỗi mỗi phương thức trì chú hay trì danh hiệu Phật đều là pháp chẳng thể nghĩ lường. Nếu như bảo rằng, trì danh là đúng, trì chú chẳng đúng, thì kinh Hoa Nghiêm bảo điều đó là: “Thọ trì một pháp, lại cho các pháp khác đều chẳng đúng, sẽ bị quân ma thâu nhiếp vậy”. Phương pháp niệm Phật nhớ đếm số lần niệm ứng hợp rộng khắp ba căn. Bậc thượng căn không ngại việc nhớ đếm số lần. Hàng hạ căn thì phải nên nhớ đếm số lần khi niệm Phật. Nhưng tất cả, một khi niệm Phật nhớ đếm số lần như vậy, kẻ lợi căn ngay đó tâm niệm trở thành một khối, đạt nhất tâm; người độn căn cũng nhờ đó mà chẳng mất nhân duyên căn lành của mình. Nếu chỉ nói Sự và Lý đều nhất như mà chẳng chịu nhớ đếm, thì sợ rằng, bậc thượng trí ít, kẻ hạ ngu nhiều, không đến nỗi mất đi căn lành thì quả thật là hiếm thấy vậy!
4. Tương quan giữa Trì giới và Trì danh niệm Phật
Hỏi: Pháp môn Niệm Phật thật là quảng đại, lại vừa giản dị. Cứ nhất tâm niệm Phật thì tự nhiên khế hợp công hạnh phòng phi chỉ ác. Còn giới tướng thì nhiều và nặng nề, quả thật không giản dị; mà quả vị cuối cùng chỉ đạt đến Thanh văn, chẳng phải là rộng lớn; chẳng bằng chuyên hoằng sự mầu diệu của Tịnh độ?
Đáp: Trì giới và niệm Phật, vốn dĩ chỉ là một. Tịnh giới làm nhân, Tịnh độ là quả. Nếu cho rằng, trì danh làm con đường tắt, Luật học là con đường vòng, như vậy đã trái, làm sao thành tựu niệm Phật tam muội được? Còn nhiều phiền não chướng cấu thì Tịnh độ làm sao sinh đến được? Như biển không có bến bờ, đó chẳng phải rộng lớn sao? Bảo nhậm sự giải thoát, đó chẳng phải là giản dị sao? Cho nên kẻ nhất tâm niệm Phật ắt phải để tâm phòng phi chỉ ác và chuyên tinh về Luật học; người chuyên tinh về Luật học cũng có thể quyết định thệ nguyện vãng sinh và nhất tâm niệm Phật. Làm như thế, trong hiện tại thì nối thạnh hàng Tăng bảo, lúc lâm chung được vãng sinh đến bậc Thượng phẩm thượng sanh. Sự mầu diệu của các pháp môn, có cái nào vượt qua được hai môn Trì giới và niệm Phật này?! Chỉ có một việc lớn như vậy, cớ gì làm trái đi, có phải mang lấy tiếng cười của bậc thức giả hay không?!
Tương quan giữa Thiền và Mật
Trái ngược với thiền “an trú tính không”, và xem như không tất cả mọi hiện tượng trước mắt, mật tông lại vận dụng trí tưởng tượng tới mức tối đa trong lúc quán đồ hình hay mandala. Từ sự quán tưởng những vật trước kia không, nay thành ra có, mà hành giả cuối cùng thấy được tất cả cái có, cái không đều tương đối, giả huyễn, và do dó giải thoát khỏi mọi tham ưu ở đời, nhưng đồng thời vẫn có thể biến hóa đủ thứ vì mục đích độ sinh.
I. DẪN NHẬP
Những người học thiền thường nghe câu: “Đản nguyện không chư sở hữu, thiết vật thật chư sở vô”: chỉ cốt thấy mọi hiện tượng đều là không, nhưng nhất thiết đừng làm cho cái không ấy trở thành thực có. Có nghĩa là đừng “chấp không”. Bởi vì có rất nhiều thứ “không” tùy nơi chốn, tùy trình độ tu chứng.
Trong kinh Trung bộ, Phật lấy ví dụ một tỷ kheo sống trong một tịnh thất ở làng, thì không có những phiền não của làng mạc chợ búa gọi là “thôn tưởng” nhưng không phải là không có chúng tỷ kheo, gọi là “nhân tưởng”. Khi vị ấy vào rừng độc cư thiền tịnh, thì không có nhân tưởng (vì ở một mình) nhưng còn có những ảo tưởng do đời sống ở rừng gây ra như nghe tiếng cọp gầm, tiếng phi nhân... gọi là “lâm tưởng”. Cái gì có, vị tỷ kheo xác nhận là có, cái gì không, vị ấy xác nhận là không. Như vậy là sự sống tỉnh giác của người tu tập để gột rửa tham ưu ở đời. Đó là cái “không” đạt được do từ bỏ dần dần, gọi là “tích không quán”.
Hãy lấy một ví dụ khác về những cái “không” khác nhau như sau. Cái “không” của phàm phu là không các pháp thượng nhân, không giới, không định, không tuệ. Cái không của người xuất gia là không gia đình vợ con. Cái không của sơ quả tu đà hoàn là không năm triền cái. Cứ thế càng tiến tu, thì càng “không” được nhiều thứ nữa, cho đến khi không còn gì để mà “không” được nữa, mới gọi là “chân không”. Các bậc hiền thánh đều có những cái “không” khác nhau, như kinh Kim cang nói, “Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (từ một pháp vô vi – tức Không – mà có nhiều tầng bậc hiền thánh khác nhau).
Nếu ôm giữ một cái “không” thì không thể tiến lên những cái “không” cao vượt hơn. Người tu hành cần đạt đến chỗ tuyệt đỉnh là trí tuệ Bát nhã chân không, mà trong Trung bộ kinh đức Phật gọi là “an trú trong Tính không”: “Này các tỷ kheo, ta nhờ an trú tính không nên rất an lạc”.
Tính không mà đức Phật an trú đó chính là bát nhã chân không. Kinh Trung bộ mệnh danh là “đại không”, được giải thích như sau. Khi đức Phật tiếp xúc với đủ mọi hạng người trong xã hội, tâm Ngài luôn hướng về viễn ly, độc cư, ly dục, cho nên được bất động. Đó gọi là an trú nội không, ngoại không, nội ngoại không, an trú bất động. Nội không là cái không của ngũ uẩn, lục căn. Vì sao nói năm uẩn là không? Trong kinh Đại Bát nhã Phật đã giải thích, Bồ tát khi thực hành Bát nhã sâu xa thì thấy năm uẩn là không, vì khi ấy sắc uẩn không còn cái tướng biến ngại, thọ uẩn không còn tướng lãnh nạp, tưởng uẩn không còn tướng thủ tượng, hành uẩn không còn tướng tạo tác, thức uẩn không còn tướng liễu biệt. Trong khi đối với phàm phu, thì cơ thể vật chất (sắc) là hiện tượng biến đổi không ngừng và gây chướng ngại (cho tâm) thì trái lại, đối với Bồ tát, vật chất không là chướng ngại, cho nên nói sắc là Không. Đối với phàm phu, thọ có đặc tính là lãnh nạp các cảm giác về thân và tâm, nhưng vì Bồ tát đã đạt đến mức cao độ về sự ìàm chủ thân xác nên dù có xúc cảnh vui cảnh khổ, Bồ tát cũng không thọ vui thọ khổ. Đặc tính của tưởng uẩn là nắm giữ các hình ảnh, thu vào các ấn tượng về sắc, thanh, hương, vị, xúc sau khi năm giác quan tiếp xúc với năm đối tượng. Nhưng với Bồ tát, tưởng uẩn không còn làm cái nhiệm vụ nắm giữ hình ảnh nữa, cái gì thấy nghe rồi là bỏ qua không ôm giữ làm gì, cho nên tưởng uẩn với Bồ tát là không. Hành uẩn thông thường có nhiệm vụ tạo tác biên diễn, đó là một nối dài của ý thức thành vô thức, như mộng mị, mơ tưởng do ngã chấp. Nhưng với Bồ tát, đã không nắm giữ các ấn tượng thấy nghe nên cũng không có tạo tác thêm những hình ảnh trong vô thức, do vậy Bồ tát không có chiêm bao mộng mị, và với Bồ tát, hành uẩn là không. Đặc tính của thức uẩn là liễu biệt, phân biệt rõ ràng thiện ác phải quấy, đó là thường tình của phàm phu. Nhưng Bồ tát sống với trí tuệ, nên thức uẩn cũng không có cái tướng phân biệt thương ghét tốt xấu.
Do vậy mà với Bồ tát, năm uẩn là không, ấy gọi là nội không. Ngoại không vì cảnh ngoài khi ấy có cũng như không. Ngoại không là cái không của sáu trần. Nội ngoại không là vì bên trong tâm đã không cho nên cảnh ngoài dù có dù không, cũng không thành vấn đề. Ngoại không là cái không của cả chủ thể lẫn đối tượng, rỗng rang vô ngại không còn ngăn cách. Bất động là tâm được bất động, hậu quả của sự an trú như vậy. Đức Phật còn dạy, muốn an trú như vậy trước hết phải tu bốn thiền. Nghĩa là muốn quán cái cột nhà hay vách tường trước mắt thành không có, thì ít nhất cũng phải chứng tứ thiền cái đã, mới thực sự thấy nó là không. Ngang đây người thực hành mật tông cũng phải trải qua, nhưng từ đây bắt đầu chỗ rẽ, sự khác nhau giữa mật và thiền. Có thể nói mật tông bao hàm cả thiền tông, và còn vượt xa hơn thiền tông một bực.
II. KIM CƯƠNG THỪA VÀ NHỮNG NGUY HIỂM CHỜ ĐỢI HÀNH GIẢ
Trong khi khẩu quyết của Thiền là “tức tâm thành Phật”, tâm ngươi chính là Phật, thì mật tông táo bạo hơn, xác quyết “tức thân thành Phật”. Cái thân ngũ uẩn nếu tách rời ngã chấp thì không khác gì thân Phật. Từ nhận định ấy, mật tông có những lối tu hành đặc biệt, không giống bất cứ pháp môn nào khác trong Phật giáo mà ta đã biết. Một trong những lối tu đó là phương pháp quán mandala gọi là deity yoga (thiền quán về chư thiên), trong đó, sau khi thiền định về Tính không của tâm thức, hành giả sử dụng nền tảng Không ấy để tưởng về thân và tâm mình như những thực thể hoàn toàn trong sáng không tì vết, như chư thiên. Và trong Không ấy, không những chỉ có một vị trời mà có rất nhiều vị, từ ngũ uẩn, lục căn, từ các thân phần biến thành, nói tóm lại có bao nhiêu uế vật trong thân thể phàm phu thì có bấy nhiêu vị chư thiên tràn trề ánh sáng. Vì thân thể đã được chuyển hóa, thuần tịnh nên hoàn cảnh và hoạt động của nó cũng được chuyển hóa: núi sông cây cỏ đều trở thành cảnh giới chư thiên, những hoạt động bình thường như đi đứng nói im không gì là không thuần tịnh. Tóm lại, trong mandala toàn là chư thiên và cảnh giới của chư thiên, và mandala ấy tượng trưng cho thân tâm của hành giả.
Mật tông được gọi là “kim cương thừa” bởi lẽ đó là lối tu cao nhất, và cam go nhất. Người chọn mật tông phải vì một động cơ cao cả là lòng bi mẫn lớn lao đối với chúng sinh đau khổ, muốn sớm thành Phật quả để độ sinh. Vì mục đích đặc biệt này, vai trò của bậc thầy trong mật tông hết sức quan trọng, quả thế, còn trọng hơn cả ngôi tam bảo ít nhất trong giai đoạn đầu. Do đó trong Hồng danh bửu sám, một lối hành trì có lẽ bắt nguồn từ mật tông, trước khi lễ Phật hành giả đảnh lễ “Nam mô Kim cang thượng sư” là bậc thầy về mật tông.
Người chọn mật tông để tu tập phải chấp nhận ba điều nguy hiểm có thể xảy đến cho tính mạng: một là chết, hai là điên loạn, ba là trở thành phế nhân.
Trái ngược với thiền “an trú tính không”, và xem như không tất cả mọi hiện tượng trước mắt, mật tông lại vận dụng trí tưởng tượng tới mức tối đa trong lúc quán đồ hình hay mandala. Từ sự quán tưởng những vật trước kia không, nay thành ra có, mà hành giả cuối cùng thấy được tất cả cái có cái không đều tương đối, giả huyễn, và do dó giải thoát khỏi mọi tham ưu ở đời, nhưng đồng thời vẫn có thể biến hóa đủ thứ vì mục đích độ sinh.
III. CÁC GIAI ĐOẠN TU QUÁN
Nói đến mật tông là nói đến mandala, phép quán đảnh và các ấn quyết, vì mật tông đặc biệt chú trọng sự tướng, gọi là “tam mật gia trì”. Danh từ “mandala” có rất nhiều ý nghĩa, thường dịch là đàn tràng hay đồ hình, nhưng có khi ám chỉ y báo chính báo tức vũ trụ và con người, có khi biểu trưng những yếu tố đất, nước, lửa, gió, hư không dùng để quán tưởng, có khi ám chỉ một chúng hội Bồ tát, chư thiên, vv.., và trú xứ của chư thiên; có khi mandala chỉ là một vòng ánh sáng hay một giọt nước thơm. Quán đảnh là phép làm cho tịnh hóa, thánh hóa các sự vật chưa được thanh tịnh. Sau khi đã thọ phép quán đảnh của một bậc thầy, hành giả mới đủ tư cách hành trì mật tông mà không sợ tác hại. Mandala ở đây là một đồ hình biểu tượng cho một thế giới vô hình, nhưng tác động hữu hiệu trên thế giới hữu hình chúng ta. Có nhiều kiểu đồ hình tùy theo mục đích của hành giả. Những mandala cốt luyện để ám hại một người nào, tức là thuật phù thủy, thường có hình tam giác, còn những mandala khác có hình tròn hoặc vuông. Làm một mandala để tu quán rất công phu mất nhiều thời gian, và phải được một bậc thầy chuyên môn kết giới thì mới linh nghiệm. Sau khi kết đàn tràng và đã có sự làm phép của bậc thầy, hành giả bắt đầu tu quán. Đại khái, mandala cũng như một khu vực trong đó vị thần được hô triệu bằng chú thuật và ấn quyết sẽ xuất hiện cho hành giả, sau khi hành trì đúng mức. Trong một mandala có rất nhiều yếu tố biểu trưng cho những phi nhân trong cõi vô hình mà chỉ người chuyên môn mới hiểu được. Những yếu tố này được biểu trưng bằng những vật như hình nhân, bánh oản, cát ngũ sắc, v.v..
Một hành giả mật tông thường quán tưởng vị thần hộ mạng cho mình, ví dụ nữ thần Tara hay Quan Âm Bồ tát. Sau khi thiết lập một mandala (Tạng ngữ là kyilkhor) theo đúng nghi thức mật tông, vị ấy ngồi trong thất niệm thần chú của vị ấy, ví dụ với nữ thần Tara là câu “OM TARE TUTARE TURE SVAHA”, tưởng tượng hình ảnh Ngài theo các tượng tranh thường tạc vẽ, đang đứng ở chính giữa đàn tràng (mandala này có thể treo trên vách hay đặt giữa nền nhà vừa tầm mắt nhìn). Nhiều tháng, cả năm trôi qua trong sự trì chú và quán tưởng hình tượng một cách nghiêm mật. Thỉnh thoảng vị thầy sẽ hỏi thăm tiến trình tu tập của hành giả. Cuối cùng sẽ có một lúc hành giả thông báo cho vị thầy kết quả sự quán tưởng của mình: đức Bồ tát đã xuất hiện giữa đàn tràng, nhưng rất mờ ảo, và chỉ trong một lúc thì tan biến. Vị thầy khen ngợi đó là dấu hiệu tốt, hãy tiếp tục quán tưởng cho đến khi hình ảnh hiện ra rõ rệt hơn, và kéo dài lâu hơn. Môn sinh trở về tiếp tục quán. Một thời gian rất lâu về sau, vị ấy cũng đạt được kết quả mong muốn: ấy là, vị Bồ tát đã xuất hiện rất rõ nét giữa đàn tràng, và thường như luôn luôn đứng đấy, dán chặt tại chỗ, không tan mất như trước. Vị ấy sung sướng trình thầy kết quả ở giai đoạn hai này. Nhưng thầy lại bảo, “Tốt lắm, song giờ đây con phải tiếp tục quán tưởng và cầu xin Ngài ban ân phước cho con, bằng cách lấy tay rờ đầu thọ ký, và nói với con những lời phủ dụ”. Thế là người môn đệ lại trở về với công việc niệm chú và quán tưởng y như lời thầy chỉ dạy. Sau một thời gian, quả thật những gì vị ấy cầu mong đều thành tựu: Bồ tát lấy tay sờ đầu mỗi khi y cúi lạy, và đôi mắt Ngài trở nên linh động, môi mấp máy ban lời phủ dụ, làm cho hành giả vô cùng hân hoan, tưởng đã đạt mục đích của sự quán tưởng. Nhưng khi trình lên thầy kết quả này, ông ta lại đòi hỏi một bước kế tiếp, là hãy trở về quán tiếp cho đến khi thấy vị Bồ tát bước ra khỏi đàn tràng, đi lui đi tới trong am thất của hành giả. Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất trong việc tu tập, khi một vị thần bước ra khỏi đàn. Vì khi ra khỏi đàn, là có nghĩa vị ấy không còn bị trói buộc. Nếu là hung thần, thì sự bước ra khỏi đàn như vậy sẽ làm cho hành giả nguy khốn, vì thần ấy khi được tự do sẽ phẫn nộ trừng phạt hành giả đã giam giữ ông ta. Trừ phi cao tay ấn, đa số người tu mật tông bị chết hoặc điên loạn ở giai đoạn này. Bởi thế, không bao giờ nên để cho một vị thần bước ra khỏi giới hạn đã dành cho vị ấy.
Nhưng ở trường hợp này, vị thần chính là đức Bồ tát đầy lòng bi mẫn, và đã tỏ dấu đặc biệt yêu mến đối với hành giả, do vậy không hề gì. Ngài ung dung tản bộ qua lại trong am thất như tại nhà riêng của Ngài vậy. Đôi khi Ngài còn bước ra khỏi ngưỡng cửa am thất để thở hít khí trời nữa chứ. Khi trình lên thầy thành quả ấy, vị thầy rất hài lòng, nhưng còn đề nghị đệ tử tiến thêm một bước nữa: Hãy hỏi xem Ngài có bằng lòng cùng y xuống phố dạo chơi một vòng chăng.
Đây là giai đoạn khó nhất, bởi vì ở trong bóng mờ của am thất với khói hương nghi ngút, thì hành giả hầu như có thể nhìn thấy và sờ thấy vị thần được, do ảnh hưởng sự tập trung quán tưởng lâu ngày. Bây giờ ra khỏi khung cảnh quen thuộc, bước vào một môi trường hoàn toàn xa lạ dưới ánh sáng mặt trời, thì liệu ảo giác còn đứng vững được chăng? Bởi thế, phần đông những người tu tập phải dừng lại ở giai đoạn này: vị Bồ tát từ chối, không chịu đi ra bát phố mà chỉ bằng lòng ở lại trong bóng mờ của am thất. Nhiều vị thần đến giai đoạn này, khi bị rủ đi ra ngoài ánh sáng, đã tỏ ra phẫn nộ và trừng phạt hành giả vì thái độ hỗn láo của y, dám rủ thần ra ngoài chơi. Bởi vậy, có nhiều người tu quán đến giai đoạn này bị điên loạn, ngay cả tự sát. Nhưng cũng có một số–rất ít–đã thành công, và vị Bồ tát đi theo y mọi nơi mọi lúc. Khi trình lên thầy thành quả sau cùng này, vị thầy vỗ về: “Rất tốt, thế là ngươi đã đạt mục đích. Ngươi đã được sự che chở của một vị thần linh cao cả hơn ta muôn vàn”. Ở giai đoạn này, khi nghe thầy dạy như thế, một vài người cảm ơn thầy, phấn khởi trở về am cốc và dành suốt thời gian còn lại của đời mình để sống với ảo tưởng đó. Nhưng có một số rất ít bỗng quay trở lại, kinh hoảng thú thật với thầy rằng, mặc dù luôn luôn được sự che chở như thế, mà y vẫn cảm thấy dường như đấy chỉ là một cái gì do chính tâm y tạo ra, không thực có ở bên ngoài. Vị thầy tỏ vẻ buồn sầu về sự thổ lộ của y, khuyên y nên về bắt đầu tu tập trở lại, để xét lại sự hoài nghi ghê gớm ấy một thái độ phạm thánh, vô ơn bạc nghĩa đối với vị thần đã phù trợ cho mình như thế.
Người môn đệ nghe lời thầy, trở về xét lại thái độ hoài nghi của mình. Nhưng một khi đã hoài nghi thì cố mà tin trở lại cũng vô ích. Đa số tôn giáo thần quyền đến giai đoạn này thường bế tắc, người hành giả một khi đã mất tin tưởng ở sự thực hữu của vị thần thánh mà mình đã tôn thờ suốt cả cuộc đời thì chỉ còn nước tự sát, hoặc bỏ đạo hoàn tục để sống một đời phóng đãng như một thái độ trả thù.
Người môn đệ mật tông có thể không tin sự thực hữu của vị thần linh, nhưng không bao giờ hoài nghi sự minh triết của thầy mình. Bởi vậy y trở về tiếp tục quán sát. Sau một thời gian, y trở lại thú thật với thầy rằng không còn hoài nghi gì nữa, điều chắc chắn trăm phần trăm là, vị Bồ tát ấy chính do tâm y đã tạo ra. Hình ảnh vị ấy đều do ý muốn của y dẫn dắt. Khi ấy vị thầy mới bảo, “Chính như vậy đó, con cần phải nhận ra. Mọi sự trên thế gian, thiên đường, địa ngục, thần thánh, ma quỷ, đều là ảo tượng do tâm tạo mà thôi. Chúng tuôn phát từ tâm, và cũng tan biến vào tâm”.
IV. KẾT LUẬN
Sự vận dụng trí tưởng tượng trong mật tông cốt nhắm đến sự thấy rõ chân lý “nhất thiết duy tâm tạo”, để đừng bị kẹt trong các hiện tượng phù du của cuộc đời, và có thể làm chủ, sai khiến được vật chất. Nhưng cũng có khi một vật do người tạo trở lại hại chính người đã tạo ra nó, như máy móc tối tân, hóa chất hay vũ khí nguyên tử ngày nay. Trong khi tu quán, không thiếu gì những trường hợp người tu bị ám bởi chính những bóng ma do mình tự tạo. Những thần linh vị ấy đã quán ra đôi khi vượt ngoài tầm kiểm soát của hành giả, như chim sổ lồng, tự tung tự tác. Bà Alexandra David-Neel có lần muốn thử năng lực của tâm, đã quán một hình ảnh hoàn toàn không có trong các tượng tranh, đó là một lạt ma mập, vui vẻ, thấp người. Sau một thời gian, quả nhiên một vị như vậy xuất hiện giữa đồ hình mandala. Y trở nên sống động tới nỗi người hầu đem trà vào cho bà cũng thấy được hình bóng một tu sĩ lùn mập vui vẻ đang ngồi trong am thất. Một thời gian sau, hình ảnh ấy biến đổi, gầy bớt, cao hơn trước, và bắt đầu làm những việc quấy phá. Dù khi bà muốn ở một mình, y vẫn hiện lù lù trước mặt không thể nào xua đuổi được. Bà phải mất sáu tháng nỗ lực mới làm tan biến hình ảnh vị lạt ma quấy rầy nọ. Như thế, những gì do tâm tạo cũng có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của tâm, và tự tung tự tác một cách ngang tàng đến nỗi tâm cần rất nhiều nỗ lực mới xua đuổi được. Mật tông có thể được xem như một thứ khoa học tâm linh và cũng có những nguy hại như khoa học vật chất, ở trong tay người lạm dụng nó
TƯỞNG TƯỢNG
Mũi tên thứ hai
Cuộc sống vô cùng phức tạp nhưng cũng thật giản đơn, có khi sự thật nằm sâu thẳm bên trong một vấn đề nhưng cũng có khi nó hiện sờ sờ trước mặt. Tức là có những vấn đề “thấy vậy chứ không phải vậy” nên ta phải nhìn xuyên thấu qua nhiều lớp thì mới hiểu được bản chất của nó, nhưng cũng có những vấn đề “thấy sao để vậy” nên ta chỉ cần dùng cảm nhận trực tiếp trên hiện tượng đang xảy ra là có thể biết được sự thật. Cho nên giữ chặt một nguyên tắc nào để nắm bắt cuộc sống là thái độ rất sai lầm. Thông minh và bản lĩnh là hai chiếc chìa khóa có thể mở được rất nhiều cánh cửa bí ẩn của cuộc sống.
Con người ngày nay càng đặt đời sống của mình ở bên ngoài, lúc nào cũng muốn chụp cái này bắt cái kia vì nghĩ rằng càng tàng trữ nhiều điều kiện tiện nghi là càng hạnh phúc, nên nội lực của con người ngày càng suy yếu. Vì kẹt vào sự mong cầu hay chống đối bên ngoài nên con người luôn trong tư thế phòng thủ như có kẻ thù đang rình rập, thế nên trí tưởng tượng đã can dự rất nhiều trong khi giải quyết vấn đề mà ta không cưỡng lại nổi. Tâm càng yếu đuối lo sợ thì trí tưởng tượng sẽ càng lớn mạnh. Tạo dựng sẵn một cảnh tượng có thể xảy ra để biết cách ứng phó một cách máy móc như thấy sợi dây trong đêm tối mà tưởng là con rắn thì đó là chứng bệnh tâm lý chứ không còn là bản năng tự vệ nữa.
Nhưng bản năng tự vệ cũng tùy thuộc vào hiểu biết của mỗi người. Đấu tranh bằng mọi cách để bảo vệ cảm xúc của mình trong nhất thời là một bản năng còn rất hoang sơ, không biết nhìn sâu vấn đề hay quan tâm đến cảm nhận của đối phương. Nhớ lại những lần ấy ta cũng đủ rùng mình vì sự tưởng tượng quá mức đến sai lầm nghiêm trọng của ta. Cũng như có một người bắn vào lưng ta một mũi tên, ta sẽ rất đau. Nhưng liền sau đó có một mũi tên khác bay tới cắm ngay vào vị trí của mũi tên thứ nhất, thì chắc chắn sự đau đớn sẽ tăng gấp bội chứ không phải gấp hai lần. Mũi tên thứ hai chính là trí tưởng tượng của ta. Ta nghi hết kẻ này tới kẻ khác đã bắn mũi tên ấy và vắt óc suy nghĩ tại sao lại ra tay như vậy mà không chịu lấy mũi tên ra và chữa lành vết thương trước.
Hoàn cảnh chỉ có thể làm ta đau nhưng trí tưởng tượng mới có thể giết ta chết. Ta hãy coi chừng mũi tên thứ hai, nó ở ngay trong ta và khả năng chế biến ra nó là cực nhanh. Khi ai đó buông ra một lời nói hay hành động không dễ thương là ta lập tức nghĩ ngay kẻ này muốn tấn công hay hãm hại mình, chứ ít bao giờ ta chịu suy xét đến nguyên do tại sao người ấy lại hành xử như vậy. Có thể họ đang bị kẹt trong một cơn cảm xúc xấu mà không biết cách kiềm tỏa, hoặc đơn giản chỉ là một bước trượt rất thường xảy ra trong một khoảng khắc của tâm lý, hoặc cách diễn đạt thông tin của họ còn nhiều vụng về. Nếu hiểu thấu vấn đề thì ta sẽ xót thương và tha thứ chứ không muốn trừng phạt nữa.
Khi gọi điện thoại cho người kia nhiều lần mà họ không nhấc máy thì ta nghĩ họ đang rất bận rộn hoặc có thể gặp khó khăn, hay là ta nghĩ họ đang muốn lẩn trốn hoặc coi thường mình? Cũng như có những người mới phát hiện ra khối u là đã tưởng tượng ngay mình bị ung thư loại ác tính, nên tinh thần nhanh chóng bị suy sụp rồi tự hủy hoại mình trong men rượu hay đắm chìm trong nước mắt tủi buồn. Đó là thứ tâm bệnh rất đáng sợ, nhiều người đã quyết định chấm dứt mạng sống của mình vì tưởng rằng cuộc đời này quá đen tối và ai cũng là kẻ xấu xa, nên phải đi tìm một thế giới khác mà theo trí tưởng tượng của họ là sung sướng và tuyệt vời hơn cõi đời này rất nhiều. Con người là vậy, bản năng luôn thôi thúc đi tìm những điều kiện thuận lợi cho cảm xúc thỏa mãn, nhưng lại không đủ sức để gánh chịu hậu quả hoặc không cần biết tới hậu quả.
Sống trong mộng tưởng
Khi không chấp nhận hiện tại thì con người thường mơ tưởng đến tương lai, chứ không chịu tìm hiểu để giải quyết những vấn đề khó khăn đang xảy ra. Nhiều khi vấn đề nằm ở nơi tâm mong cầu hay chống đối quá lớn của con người chứ không phải tại hoàn cảnh, bởi toàn cảnh luôn xảy ra theo nguyên tắc duyên sinh và nhân quả chứ không chiều chuộng theo nhu cầu của bất cứ cá thể nào. Nhưng thói quen đi tìm cảm xúc tốt mà không xét đến hậu quả đã khiến cho con người dễ dàng từ chối hiện tại và chìm đắm trong những giấc mộng xa vời. Đôi khi người ta biết nó không thật, không thể xảy ra được, nhưng thà sống trong giấc mộng còn hơn với thực tại quá đỗi phũ phàng!
Nhưng làm sao ta có thể nắm bắt được tương lai trong khi ta hoàn toàn thất bại với hiện tại? Có nhiều người may mắn đã thực hiện được giấc mơ của mình, nhưng lại không đủ sức để giữ gìn nó hoặc mau chóng nhàm chán. Khi tâm của ta chưa nhận ra được đâu là giá trị hạnh phúc chân thật để biết ta bằng lòng với những gì mình đang có thì ta sẽ không ngừng dệt lên những giấc mộng tương lai. Có những giấc mơ được dệt trên một tâm thức rất nông cạn, phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và năng lực mới thực hiện được, nhưng rồi người ta bỗng phát hiện ra sự vô nghĩa của nó chỉ trong thoáng chốc. Có những thứ gọi là hoài bão nhưng nó đã khiến người ta bỏ qua rất nhiều giá trị mầu nhiệm trong hiện tại, đánh mất chính mình và mỏi mòn trong thế giới mông lung của chờ đợi.
Sự ra đời của công nghệ thông tin đã đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc thăng tiến đến đỉnh cao vinh quang của nền khoa học kỹ thuật hiện đại. Bây giờ con người dễ dàng khai thác tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, và có thể chia sẻ mình trước nhiều bạn bè ở nhiều nền văn hóa khác nhau trên khắp thế giới thông qua mạng lưới internet. Nhưng từ khi con người có được điều kiện thuận lợi ấy để khám phá thế giới thì cũng chính là lúc con người đánh mất khả năng làm chủ chính mình hơn bao giờ hết. Con người bấy giờ rất sợ phải đối diện với chính mình hay truyền thông với người khác để hiểu nhau, vì họ có thể tìm thấy những cảm giác dễ chịu, thỏa mãn và cả những giấc mơ táo tợn nhất trong thứ công nghệ văn minh ấy rồi.
Lợi dụng yếu điểm này mà những nhà làm kinh tế đã chế biến ra những trò chơi điện tử, từ mục đích giải trí thông thường rồi theo lợi nhuận mà họ hình thành luôn một thế giới ảo. Một đứa trẻ 13 tuổi không thể điều khiển nổi một con diều bằng giấy đang chao đảo trước gió, nhưng nó lại rất tự hào vì chỉ trong thoáng chốc là có thể hạ gục mấy chục đối thủ đáng gườm trong trò chơi điện tử. Đứa bé ấy cho rằng đó mới là hành động của một gã đàn ông đích thực, còn chơi diều là yếu đuối, là chán ngắt.
Mà đâu chỉ có trẻ con, khi người lớn không tìm thấy thành công trong công việc hay trong các mối quan hệ tình cảm thì học cũng tìm tới thế giới ảo đó để thể hiện cái tôi của mình. Trong thế giới đó họ có thể làm bất cứ điều gì, dù là thể hiện uy quyền cao tột của một đức vua, miễn là họ có tiền để chi trả cho cái vai đó. Mỗi ngày ta thấy đầy dẫy những xác không hồn lang thang ngơ ngác khắp phố thị như vậy, đi giữa ban ngày mà họ như kẻ mộng du không biết mình đang đi đâu, làm như thế giới này không thuộc về họ nữa.
Vì để bắt kịp nhịp sống xã hội nên con người đã lao mình vào những điều kiện thuận lợi nhất mà quên hẳn việc bảo vệ phẩm chất tâm hồn. Một tâm hồn xơ xác bệ rạc thì có nắm giữ bao nhiêu giá trị hạnh phúc cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Mà muốn bảo vệ tâm hồn thì phải tránh xa những nơi hiểm nạn, hoặc muốn vào những chỗ ấy thì phải trang bị kỹ những áo giáp kiên cố. Một giờ phiêu lưu ngoạn mục trên internet ta nhận được sinh tố hay độc tố và năng lượng ấy sẽ lan tràn tới đâu? Khi máy vi tính bị virus tấn công thì ta còn có những chương trình để diệt, còn khi tâm hồn ta bị nhiễm ô thì ta sẽ lấy gì để tẩy rửa cho trong sáng trở lại? Cho nên hãy coi chừng thứ tân tiến nhất chính là thứ hủy diệt mầm sống và đạo đức của con người nhiều nhất, ta phải cẩn thận lắm mới được.
Đi theo một chủ thuyết hay một tôn giáo cũng vậy. Ta rất dễ để đức tin của mình đưa mình vào thế giới của mộng tưởng ở tương lai mà họ đã vẽ đặt ra để ru ngủ ta, để ta tạm quên đi thực tại khổ đau và sẵn sàng giẫm đạp lên những điều kiện hạnh phúc mà đi mỗi ngày. Dù ta là người có hiểu biết, nhưng khi rơi vào những hoàn cảnh bức ngặt thì con tim yếu đuối lại níu ta vào vũng lầy mê tín ấy. Để rồi càng ngày ta càng lánh xa cuộc đời, cắt đứt mọi liên hệ tình cảm, tâm hồn luôn mơ màng về cõi mà chưa ai từ nơi ấy trở về để xác thực. Đây cũng là một thứ tâm bệnh, nhưng không được đem ra chữa trị vì không ai dám động tới đức tin của con người.
Quay về nương tựa
Thực ra tâm con người vốn sáng tỏ tợ trăng tròn, nhưng vì con người đã để cho nhu yếu hưởng thụ vượt quá giới hạn nên nó đã đánh thức những năng lượng xấu trong chiều sâu tâm hồn để tranh đấu vào bảo vệ quyền lợi cho nó. Đó chính là những đám mây đen u ám có khả năng che khuất tất cả những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy trong ta, làm ta mất dần khả năng sáng tạo và khám phá, khiến ta luôn kẹt vào bản năng cảm xúc mà không còn nhìn đời và nhìn người bằng con mắt chánh kiến nữa. Không có con mắt chánh kiến thì sống giữa cuộc đời rất thực này ta cũng như kẻ đang đứng trong mộng ảo.
Ý thức được tình trạng tâm thức của ta đang trong chiều hướng lệch lạc về phía ảo tưởng, ta hãy can đảm quay về làm mới và nâng cấp tâm hồn mình. Tâm của ta cũng giống như một khu vườn, trong quá khứ vì vướng vào những nhận thức sai lầm nên ta đã bỏ vườn tâm của mình hoang tàn, cỏ dại mọc đầy và hút hết kháng chất của những gốc cây quý giá. Ta hãy tập dừng lại để nhận biết và quan sát bước đi, giọng nói, hơi thở, từng dòng cảm xúc đang len lỏi, hay những ý niệm đang không ngừng diễn ra trong tâm thức thay vì quan tâm đến phản ứng thương ghét của kẻ khác. Mỗi khi ta phát hiện ra tâm mình đang lang thang rong ruổi về tương lai thì ta cần quan sát kỹ động cơ nào đã thúc đẩy, tức là guồng máy hoạt động của nó, trước khi ta đem nó trở về an trú với thực tại.
Lẽ dĩ nhiên nhờ trí tưởng tượng phong phú mà chúng ta đã xây dựng được một thế giới tuyệt mỹ như hôm nay. Nhưng nếu nhìn sâu sắc hơn ta cũng sẽ giật mình khi biết địa cầu này cũng đang rên siết và có thể bị hủy diệt cũng vì mộng tưởng điên đảo của con người. Trí tưởng tượng nếu đứng trên nền tảng của lòng tham, phục vụ cho nhu cầu ích kỷ của những kẻ có quyền lực thì nó sẽ nhấn chìm thế giới hiện thực này và sẽ đưa con người vào những cơn hôn mê bất tận. Hãy giã từ bớt thế giới của phim ảnh, của âm nhạc, của trò chơi tiêu khiển có tính chất làm cho ta bay bổng trong những dòng cảm xúc thừa thãi nhưng lụn bại khả năng chuyển hóa khổ đau trong thực tại. Thay vào đó, ta trở về với thiên nhiên để nhìn nắng lên, hoa nở, và nghe lại những lời nhắc nhở hào hùng của núi sông. Nơi ấy ta sẽ thấy cuộc đời này rất thực và nhìn đâu cũng thấu tận nguồn cơn.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét