THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT

VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT Lời Tựa Khi chưa có danh từ “Tự Tánh”, bổn lai không có Phật và chúng sinh. Chỉ vì có kẻ cao hứng kiến lập ra cái chúng sinh, làm cho thế thăng bằng bị nghiêng lệch nên không thể không có kẻ cao hứng mà lập nên cái Phật để lấy lại thế thăng bằng. Danh từ “TỰ TÁNH” đã không thật, chúng sinh không thật thì danh từ Phật há lại thật sao! Thế mới biết: vạn pháp vốn thị hiện, cho nên chúng sinh và Phật cũng không thể khác hơn. Tất cả đã vốn là thị hiện, nên lý ưng tất cả đều là được, chẳng có gì đáng ân hận. Chỉ vì không biết là được nên trở thành bị, có bị phải có chất chứa, có chất chứa phải có phiền lụy. Phiền lụy đích thật là chúng sinh. Đã có chứa tất có ít có nhiều, có nhẹ có nặng. Đến đây không thể không nghĩ cách để giải tỏa. Có nghĩ cách để giải tỏa, tất phải nói đến khéo tay khéo chân nên không thể không đề cập đến phương pháp và kỹ thuật. Đời là một đại hí trường, đã trót đến hí trường, không thể tìm trò vui cho thoải mái. Muốn vui theo chúng sinh hay vui theo Phật thì cứ mà tùy ý miễn đừng quên là mình đang vui là được rồi! Đã trải qua một thời gian dài đằng đẵng vui theo kiểu chúng sinh, nay chán vui theo kiểu chúng sinh, đổi sang trò vui giải thoát. Đã là trò đời, ai mà không vui! Đã vui theo kiểu chúng sinh thì ai mà không tìm vui theo con đường giải thoát! Hễ là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, nên không thể không rủ rê thâu hút. Nên đây cũng không phải là chuyện riêng của một nhóm nào mà là của chung tất cả làng vui trong thiên hạ. Vì thế cao hứng viết lên tập sách nhỏ này để hầu khách làng vui giải thoát thưởng thức rồi có muốn bình luận ra sao, cứ mặc! TÁC GỈA KÍNH GHI LỜI TỰA THÍCH MINH THIỀN ĐỊNH NGHĨA TÊN SÁCH Có người bắt một con quạ rừng cho vào lồng khóa lại, trong đó có để thức ăn và đem xuống mũi một chiếc thuyền biển đậu trong bờ, con quạ vẫn không bằng lòng, cảm thấy tù túng bực dọc muốn phá vỡ lồng không chịu ăn uống. Rồi người chủ thuyền quay mũi nhắm ra biển khơi trương buồm thẳng lèo mà lướt sóng. Khi ra tận ngoài khơi không còn thấy bờ nữa, ông mở cửa lồng thả con qụa ra để tự do cho nó tha hồ bay nhảy. Quạ tung cách bay lên không, lượn mấy vòng quanh thuyền, rồi lại đáp xuống chui vào lồng đứng ăn, và rỉa lông một cách thoải mái. Một tay cờ thế lão thành, với một ngôi tư trang trệt trong một khu vườn, trước sân có thạch bàn thường trực bày một bàn cờ thế, bên cạnh có tiền, có trà, có rượu, có bánh kẹo một cách khiêu khích, kiêu kỳ. Đã bao nhiêu khách vào đây để trút túi … Bên cạnh tư trang là một ngôi nhà lầu 2 tầng có một em bé độ 15 tuổi, thường đứng trên trông xuống dòm hành theo dõi từng ván cờ. Một hôm bỗng dưng bảo mẹ: Mẹ cho con mượn 3000 đồng. Mẹ gắt: Mượn để làm gì? Ậy cứ cho con mượn, lát nữa con sẽ đem tiền chợ về cho mẹ. Bà lại gắt: mà làm cái gì chứ? Con sang đánh cờ. Bà mẹ trố mắt: Trời Phật ơi, bộ mầy muốn tự tử hả? Ậy me cứ cho con mượn! Cứ thế giằng co, rút cuộc bà chiều con, móc tiền đưa, được tiền cậu bé như lên mây, chạy tuốt sang tư trang. Hai đàng nhập cuộc. Ván đầu đặt 100 đồng, loay hoay chủ cho cậu ta ăn ván thứ nhất, lại ván thứ hai mỗi bên: đặt 200 dồng, chủ cũng nhường khách ăn luôn, ván thứ ba đặt 300 đồng, chủ lại nhường khách luôn ván nữa. Ăn xong chuẩn bị sắp ra bàn khác bỗng cậu bé dạ một tiếng to và nói: xin lỗi bác, mẹ con gọi, để con về chút con sang. Nói xong anh ta chạy tuốt về nhà cười ngất trả tiền cho mẹ, lại còn đưa thêm tiền chợ và nói: Mẹ thấy con nói có sai đâu! Thấy lâu quá cậu bé không sang, chủ bèn ra hiệu gọi, cậu bé lắc đầu, báo hại ông chủ cờ thế thêm một phen tức vỡ bụng. Đấy, lẽ ra yếu quyết của vô niệm viên thông chỉ có thế. Nhưng nếu không thể đương cơ siêu xuất, thì xin tiếp tục tìm về yếu quyết thứ hai. * * * Sáu chữ VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT nếu cắt nghĩa chung thì ta có thể nói là bí quyết thoát trần, bí quyết thoát vòng tục lụy, bí quyết giải thoát, bí quyết để chứng thẳng chơn tâm hay bí quyết để đi vào minh tâm kiến tánh v.v… Nhưng nếu phân tích kỹ ra mà nói thì thế nào là vô niệm? Ở nghĩa từ chữ thì Niệm là mống nghĩ, Vô là không. Nhưng Lục Tổ Huệ Năng đã từng cắt nghĩa: “VÔ” là không vọng niệm, “NIỆM” là thường niệm chơn như bổn tánh. Lại nói: “Chơn như bổn tánh là thể, niệm là dụng. Nếu chơn như tự tánh khởi niệm thì sáu căn dù có thấy nghe cũng không vì thế mà đắm nhiễm với ngoại cảnh. Được như thế là vô niệm. Tuy nhiên, cắt nghĩa như thế chỉ dành riêng cho một số người ít nhất cũng phải có phần nào kiến thức về tâm học, không dễ gì ai ai cũng nhận được rõ ràng. Nếu muốn chứng thực điều này một cách cụ thể, xin mời độc giả thử vào trong màn, ngồi thẳng người xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và giữ đừng mống nghĩ điều gì, rồi lắng nghe lại trong lòng độ 15 phút xem, có phải trong ấy hoàn toàn lặng hơ như mình tưởng, hay là cả một tập đoàn lao xao, hoặc cười hoặc nói hoặc bàn tán? Lắm lúc ta muốn hoàn toàn ngừng nghỉ để nằm xuống ngủ yên nhưng vẫn không tài nào thắng được. Trạng thái ấy có khi nhà Phật gọi là nghiệp nhóm chứa, có khi là vọng tưởng điên đảo, có khi gọi là vọng niệm. Vì mớ lao xao này nó điều khiển không cho ta chủ động hẳn hoàn toàn trong cuộc sống, chớ không như những bậc thoát tục xuất trần khi việc đến họ đón tiếp một cách sáng suốt, việc qua rồi không một mảy may lưu lại, tâm thể trong suốt như gương nên họ hoàn toàn chủ động cuộc sống, không như ta việc qua rồi thì lưu lại hình bóng, súc tích lũy kiếp thành một khối ồn ào chật ních trong lòng. Cái ồn ào chật ních trong lòng ấy tạm đặt tên là “hữu niệm” còn trạng thái lúc nào cũng trong suốt như gương tạm đặt tên là “vô niệm”. Thế nào là VIÊN THÔNG? Viên là tròn, nghĩa ở đây là tròn khắp mọi mặt chứ không có nghĩa tròn dài, tròn hình ống, tròn bánh xe, tròn dẹp hay vòng tròn … Thông là thông suốt, là suốt khắp mọi mặt, mười phương tám hướng đều suốt khắp. Thế là viên thông bao hàm nghĩa tròn một cách phủ định, co giãn theo thế làn sóng suốt khắp bao la, không kẹt vào thời gian, không gian, cũng không kẹt vào một chướng ngại nào. Hai chữ VIÊN THÔNG đặt liền sau hai chữ VÔ NIỆM là để chỉ cho tính chất suốt khắp của năng lực rung chuyển của tâm linh con người cũng như chúng sinh sau khi tâm thể được vô niệm. Ai phát giác được viên thông ấy thì có khả năng giải quyết dứt khoát được mọi vấn đề trong toàn bộ cuộc sống của chính mình, không còn bị sức hấp dẫn của ngoại cảnh lôi cuốn nữa, mà còn có khả năng tham gia tán trợ việc hoá dục của thiên nhiên, cuộc sống của người ấy hoàn toàn yên vui, vĩnh viễn miên trường trong thế được. Đối với năng lực viên thông, họ có thể điều động được, từ đây họ là thiên nhiên, hoàn toàn thoát hẳn vòng tục lụy. Chớ không như tâm thể hữu niệm của chúng sanh chỏi ngược với trật tự thiên nhiên để phải chịu lấy bao nhiêu là ưu bi khổ não, bệnh tật đau thương. Tuy nhiên không phải ai ai cũng có thể thực hiện, muốn thực hiện phải có sự hiểu biết, có phương pháp, có kỹ thuật, có chí khí, nên phải có yếu quyết mới có thể bảo đảm, thẳng tắp và chính xác. Vì thế nên quyển sách này tạm đặt tên là VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT. Đây cũng không phải là môi trường để cho tác giả múa bút khoe văn, cũng không phải là nơi giảng giáo lý Phật giáo hay trình bày duy thức hoặc pháp số, mà chỉ cốt sao giúp ích cho hành giả có những phương tiện cần yếu hạ thủ công phu trên con đường giải thoát được thẳng tắp, chính xác, và thời gian tính được bảo đảm trên tương đối. Cho nên tất cả chỉ là phương tiện và kỹ thuật chớ không quyết định theo một khuôn khổ nào, mong độc giả để ý cẩn thận. PHẦN THỨ NHẤT MẠCH SỐNG CỦA MỖI CHÚNG SANH Đã vốn không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, thế là con số không chưa viết. Mà đã là con số không chưa viết thì đâu còn gì mắc kẹt trong cái có với không, mê hay ngộ, thì làm gì có Phật với chúng sinh! Và tất cả bổn lai là Phật thì lấy đâu để nói để viết là mạng mạch hay không mạng mạch! Tuy bổn lai là Phật, nhưng chỉ vì quên mình là Phật nên bị kẹt vào chúng sinh. Đã có kẹt tất phải có gỡ. Đã nói gỡ tất phải biết rõ chỗ mắc kẹt. Cho nên sự thể không thể khác hơn! Chỉ có gỡ bằng cách nào để khỏi kẹt vào tướng gỡ và tướng bị gỡ mới đích thực là tài tử giải thoát. * Nhắm vào mục đích thiết thực dễ hiểu, ta có thể dùng ngôn ngữ tạm chia mạng mạch của mỗi con người ra làm ba phần. Nếu theo thứ tự từ dễ đến khó thấy mà nói thì THÂN rồi TÂM và TÁNH. Vì sao mà nói là tạm chia? Vì trông qua hình như ba, nhưng nhìn kỹ kỳ thực không phải ba, cũng không phải một. Vì không thân và tâm thì không lấy đâu để biết tánh, không tánh không lấy đâu có thân và tâm. Vì Tánh là thể, Thân là tướng, còn Tâm là phần biểu hiện diệu dụng linh tri của tánh mà thôi. Giờ đây ta hãy xét qua đại khái từng phần để biết rõ chỗ nào là căn cội bịnh tâm của chúng sinh. “THÂN” con người là một động vật như bao nhiêu động vật khác, là một tác phẩm kết hợp một cách chặt chẽ của hai hệ thống thân và tâm. Cả hai đều thuộc lãnh vực tướng, nên cả hai đều tổ hợp vô thường sanh diệt bất tề trong một quy luật khẳng định của trật tự thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một khối thịt vô tri như bao nhiêu vật chất khác. Nhưng khi đã mắc liền với tâm rồi thì tất cả những ăn uống sinh hoạt, hoàn cảnh tâm tư, gia đình, xã hội, khí hậu, thời tiết thọ bẩm … đều có thể chi phối nó. Cho nên lòng buồn sanh bịnh, bịnh sanh lòng buồn, “Lòng quanh quéo sông càng quanh quéo, cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”. Nếu nghiêm cách mà nói thì phần xác thân chưa hẳn là chánh phạm hay nguồn bịnh mà chỉ là một công cụ để cho tâm vọng có chỗ đam mê bám sát vào và biến thân thành một kho tàng tội lỗi làm cho những người nhìn theo kiểu cạn cợt đều lầm lạc mà quy tội cho thân, cho nên có người nói: “Không biết bổn tâm học đạo vô ích”. Nói như thế đâu phải là vô cớ! “TÂM” thế nào là tâm của mỗi chúng sinh? Làm sao biết chắc quả có cái gọi là tâm chứ? Ta hãy chọn lúc đêm trường canh vắng, vào phòng ngủ ngồi xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và đừng nghĩ đến bất cứ điều gì, lặng lẽ ngồi im độ 15 phút là ta sẽ thấy ngay trong ta không phải chỉ là một khối im lìm lặng hơ như ta tưởng mà là có cả sông ngòi, rừng cây xóm làng, thành ấp, trời đất, trăng sao thành phố, xe cộ, người vật, gà gáy, chó sủa … đang lao xao di động. Đó chính là tâm của chúng sinh. Tâm này còn vô số tên như là NGHIỆP THỨC, là TẬP NGHIỆP, là TÂM NHÓM CHỨA, là TÂM CUỒNG LOẠN, là TÂM VỌNG, là TÂM SANH DIỆT … Nó bao gồm cả pháp sắc và pháp tâm do bao cuộc tiếp chạm tương giao tận tự lũy kiếp theo đà mê muội nhóm chứa thành một kho tàng vĩ đại mà trong đó chỉ là bóng dáng của tất cả những sự việc đã qua, kết thành một khối to tát, lúc nào cũng hoạt động dồn dập, dạt dào, khi náo nhiệt, khi tiêu trầm tựa như biển khơi sóng gió, ngoài sức khống chế của trí óc thường tình làm cho thiện chí thường bị bẻ cong. Thí dụ như khi ta bị đột ngột va chạm với sắc, tình, danh, lợi chẳng hạn. Do đó nếu nói dễ thấy, dễ biết, thì cũng rất dễ thấy dễ biết, nếu nói khó thấy khó biết thì cũng khó thấy khó biết ghê! Nay ta muốn khống chế tâm này một cách dễ dàng hầu chủ động hoàn toàn cuộc sống cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên, cắt đứt sức hấp dẫn của luân hồi sanh tử, vượt khỏi khổ đau, thoát vòng tục lụy đem lại sự bình an ngay kiếp sống hiện tại, không còn bị lệ thuộc vào bất cứ một thành kiến nào, thì ít nhất ta phải có cách biết hết những chỗ hiểm yếu của nó. Do đó ta có thể chia vọng tâm ra làm 4 phần như sau: 1. PHẦN HIỆN TẠI: Phần này ta có thể khống chế được, thí dụ bắt nó niệm Phật chẳng hạn. Nên cũng có khi người ta gọi là trí óc hay ý thức. 2. PHẦN NHÓM CHỨA Vì do sự nhóm chứa của lũy kiếp muôn đời cộng lại nên gọi là “Tâm nhóm chứa”. Vì nó có khả năng tự động để thúc đẩy chúng sinh sa vào con đường ngoài ý muốn, nên gọi là NGHIỆP NHÓM CHỨA HAY NGHIỆP LỰC … 3. PHẦN VỪA BIẾT CÓ THẤY BIẾT: Phần này còn có tên là “Căn bản vô minh”. Vì phần này chính là phần dựng đứng cái TÔI trong khi mới vừa cục cựa nứt mắt, do sáng tối, nóng lạnh động tĩnh đánh thức ngay từ kiếp đầu tiên. Tất cả tâm lý nhị nguyên sau này đều lấy đây làm nền tảng. 4. PHẦN HỖN ĐỘN VÔ KÝ: Vì là phần chưa phân rõ là khoáng, động hay thực, hãy còn nằm trong thế hôn mê chưa sống động, chưa hẳn là có biết, của kiếp hóa sanh nguyên thủy và làm nền tảng cho tánh hôn mê mờ mịt sau này, mà nhà Phật thường gọi là tánh vô ký. Chính nó là một cụm mây ở gần mặt trời nhất, mỏng nhất, mà lại che khuất nổi mặt trời. Cho nên đây cũng là cửa ải cuối cùng của tận đáy tâm hồn của chúng sinh vậy. Thông qua 4 phần vọng tâm này, ta thấy phần hiện tại quá yếu đuối, bé bỏng, ngắn ngủi, còn 3 phần đã qua lại dài lê thê vĩ đại và quá nặng nề, bảo sao phần hiện tại không đủ sức điều động nổi phần quá khứ?! Đây cũng là thế tất nhiên. Nếu giàu tưởng tượng một chút ta có thể tưởng tượng biến guồng máy vọng tâm này ra thành một tập đoàn áp tải của một đảng cướp do 3 anh em ruột điều động mà anh thứ ba là “phần hiện tại” điều khiển chiếc tàu đầu tiên. Đó là phần thứ nhất. Và móc nối theo phần thứ hai là một đoàn ghe chài dài giăng giẳng chở đầy nhóc, khẩm ứ những tang vật đánh cướp, cộng thêm một mớ lâu la thâu phục được ở dọc đường, đang lầm lì gắng hết sức nhắm hướng biển khơi mà đi tới. Tiếp theo phần thứ ba và thứ tư là hai con tàu nhỏ hậu tập do anh thứ hai (phần vừa biết có biết thấy) và anh cả (phần hỗn độn vô ký) điều khiển. Mới trông qua hình như quyền điều động ở đằng đầu, nhưng không ai ngờ sự thực lại không phải thế. Nếu anh ba có thế lực mạnh thì quyền lãnh đạo bị anh ba chi phối. Nhưng nếu anh ba thế lực yếu thì quyền điều động lại thuộc về anh hai và anh cả. Cho nên dù ngài là người thuộc lãnh vực tôn giáo nào, giai cấp nào, địa vị nào, quyền thế nào, tài năng nào, hay ngài có thể đi vào lửa, vào nước, lên cung trăng, lên hỏa tinh, thiên biến vạn hóa như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký chăng nữa cũng không vì thế mà sự thể có đổi khác. Nếu ngài không giải tán được tập đoàn này thì cuộc sống của ngài dù có tột bậc đến đâu cũng không vì thế mà được yên vui bảo đảm. Nếu tập đoàn này chưa được quét sạch, dù ngài có khả năng kiến thiết cả một nước cực lạc hay thiên đàng, thì nước cực lạc hay thiên đàng ấy chẳng qua cũng là thứ kiến thiết dựa lưng vào làn mây hỗn độn vô ký thuộc phần anh cả cai quản mà thôi vậy. Nếu muốn kiến thiết lại con người, làm lại cuộc đời, xây dựng lại cuộc sống, đem lại hạnh phúc cho chính mình cũng như cho người khác, xây dựng lại yên vui vĩnh cửu mà bỏ qua tập đoàn này không nghĩ cách giải quyết dứt khoát, thì hình thức tôn giáo càng xây dựng đẹp đẽ bao nhiêu càng chỉ là một thứ thuốc an thần, một cơ quan đầu tư lợi dụng lẫn nhau một cách hấp dẫn, rồi cuối cùng sẽ làm giàu và tăng cường thêm sức mạnh cho tập đoàn cướp bóc này chớ không thể khác. Hơn nữa nếu tập đoàn này vẫn còn nguyên, dù chúng ta được Phật hay Chúa … rước về cho ở chung, hay sờ đầu làm phép lạ chi chi … cũng không vì thế mà cuộc sống trở nên mới mẻ. Mà giả sử có giải tán hết tập đoàn này đi chăng nữa nhưng tất cả tàu bè ghe cộ nếu còn nguyên thì chắc chi không có kẻ khác nhảy vào lợi dụng đạo đức giả để nối tiếp! Thế là cái thuộc về TÔI đã hết nhưng cái TÔI vẫn còn nguyên, rồi sẽ đâu hoàn đấy! Đây là điều không thể xem thường. “TÁNH” thế nào là tánh? Làm sao biết chắc có cái gọi là TÁNH? Từ xưa đến nay, điểm này không mấy ai chịu nói trắng ra vì sợ tài bồi thêm cho sự nghiệp của những kẻ đầu tư kiến thức. Tuy nhiên không phải vì thế mà không có tiêu chuẩn ấn định để ai muốn nói sao thì nói. Ngũ Tổ nói: “Bổn tánh nếu bỏ quên thì phúc nào cứu được” thế là bổn tánh là cái mà mỗi chúng sinh đều cần phải biết chớ phải đâu là cái không thể biết! Khi Lục Tổ Huệ Năng trực nhận được bổn tánh này có nói: “Không dè bổn tánh của mình vốn tự thanh tịnh. Không dè bổn tánh vốn không sanh không diệt. Không dè bổn tánh vốn không lay động. Không dè bổn tánh vốn có khả năng sinh ra vạn pháp. Không dè vạn pháp vốn không lìa tự tánh.” Thế là Lục Tổ Huệ Năng đã nói toạc ra rằng bổn tánh là không hình tướng, là suốt khắp, là không có trong và ngoài – nên không có sanh diệt, không có chuyện không thanh tịnh hay thanh tịnh. Nhưng chính nó là nền tảng để hóa sinh ra vạn hữu. Vạn hữu không thể lìa nó mà tồn tại, con người không thể lìa nó mà có sự sống; theo đây ta có thể nói thêm nếu không có nó thì vạn hữu còn không có làm sao có con người để có thấy có nghe, có hay có biết, cho đến làm sao có phi thuyền vượt không gian, vô tuyến truyền thanh truyền hình … thậm chí những chuyện hết sức trẻ con nhỏ nhít như bói toán cũng không có được. Vì thế không có một mảy may nào ngoài nó và không phải nó. Giả sử có người hỏi có cách nào chỉ thẳng cho thấy ngay lập tức tánh này được không? Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính hồi đó cái gì là bổn tánh của thượng tọa?” Đấy chỉ thẳng là thế! Nếu không tiếp nhận ngay thì hãy đợi đến bao giờ quét sạch đám thảo khấu và sự nghiệp bất chánh, mà dài dòng thêm là ta đã quy y theo bọn tri giải của triết học ngoại quan rồi đó! Vì nó vốn đã không bớt không thêm, không dơ không sạch, không sanh không diệt, không phải có, không phải không, muôn thuở vốn thường hằng. Tất cả vạn vật đều có thể hư hoại, nó vẫn y nguyên. Như thế đâu cần chúng ta mó tay vào xoay xở sửa đổi nó chứ! Thế thì, nếu ta lỡ dại dột, dốt nát mó tay vào, không những không tốt đẹp gì hơn mà là gây nên phản ứng tạo thành sứt mẻ. Cho nên thiền sư Đạm Hư trong bài thơ chứng đạo có câu: “Thiên nhiên đại nghiệp tối kỵ trang hoàng, Hữu ý cầu toàn phản trí tổn thương”. Như thế đủ biết tánh này hoàn toàn không chấp nhận điều kiện sửa đổi, mà chỉ cần tự chứng tự biết. Có người hỏi: “Như thế bổn tánh đã là của chung của vạn loại của bao la của pháp giới, nhưng sao lại là tự tánh?” Trong vạn vật, khoáng và thực thuộc loại vô tình, nhìn không thấy nó cục cựa. Còn hữu tình thì sanh ra không một lượt, chết đi cũng không một lượt, trình độ cũng không như nhau, duyên cấu tạo ra chính nó cũng khác nhau nốt. Vì thế nên bổn tánh tuy là của chung của vạn loại, kho tàng này không thiếu một mảy may gì, và chúng sanh nào cũng đều có khả năng tự động để thọ dụng bổn tánh này. Nhưng chỉ vì duyên cấu tạo không như nhau, trình độ không như nhau, nên sự thọ dụng cũng theo đó mà khác. Nên tuy chung mà riêng, tuy riêng mà chung vậy! Nhìn qua bản đồ hệ thống mạng mạch của mỗi chúng sinh cũng như mỗi con người, ta thấy phần thân không phải là chánh phạm, phần tánh vốn vô can, phần tâm mới là thủ phạm. Đành rằng thân với tâm cũng là tánh, nhưng khi tâm mê đắm chấp tướng “thân” nên đuổi theo đà hướng ngoại, dong duỗi theo vật chất sáu trần, làm cho tuy vốn từ tánh nhưng đã biến dạng biến chất trở thành vật chất chướng ngại cho cuộc sống yên vui. Nếu có phương pháp kỹ thuật nào xoay chiều cho tâm này trở về với bổn tánh theo chiều hướng nội, thì chúng nó đều trở lại chánh thường và thành yên vui giải thoát, chớ không có nghĩa thủ tiêu cho mất tích chúng sinh, mà tạo một ông Phật nào khác! Tuy vậy, khi tâm mê hướng ngoại không những làm cho guồng máy tâm thức mâu thuẫn lộn mèo, mà còn tạo thêm liên lụy đến xác thân, đến xã hội nữa là khác. Cho nên tất cả những bệnh tật nội thương nặng nề nguy hiểm, nan y bất trị, đều mắc liền từ tâm thức rối rắm lộn mèo mà ra cả. Kinh dịch có nói: “Cơ mầu dấy động, họa phúc liền sanh”. Nội kinh nói: “Điềm đạm rỗng rang bịnh nào phát khởi”. Người xưa nói: “Càng thông minh càng u tối, càng tính toán càng hụt hao” là một bản án kê khai tội trạng cho sự nghiệp trí thức vọng tâm hướng ngoại của chúng sanh, và để đánh giá cho tác dụng vô niệm vô ngã vậy!”. PHẦN THỨ HAI NHỮNG CÔNG CỤ TINH THẦN Người xưa có nói: Muốn cho công việc được khéo léo thì dụng cụ cần phải sắc bén. Trong công cuộc hạ thủ công phu để tiến về con đường vô thượng viên thông giải thoát, trên phương pháp và kỹ thuật bắt buộc phải có những công cụ tinh thần như sau: 1. BIỆN CHỨNG NGHỊCH LÝ: Sao gọi là biện chứng nghịch lý: là một cách nhìn thẳng vào bề trái của cuộc đời, áp dụng một thứ biện chứng để biến tất cả những tệ bạc không còn ai muốn dùng, cho trở thành những công cụ lợi ích to tát cho việc điều tâm. Thí dụ: Cảnh nghịch là thứ thiên hạ không kham, nhưng đối với ta thì cảnh thuận nghịch dù trẻ con cũng dễ dàng thức tỉnh. Cho nên đối với ta, cảnh nghịch là cây thương đâm trước mặt, dù có to lớn cũng dễ thấy, dễ đề phòng. Còn cảnh thuận như mũi tên bắn sau lưng, tuy nhỏ nhưng khó đỡ gạt. Ở trong cảnh nghịch mặt thật của sự đời ta dễ thấy, còn cảnh thuận như mũi tên bọc nhung rất khó lường. Bồ Đề Đạt Ma có nói: “Không phiền não không lấy đâu để sanh trí tuệ, không trí tuệ không lấy đâu để diệt phiền não”. Khổng Tử nói ”Không có sự dồn ép thì không có sức nổi dậy”. Nếu ta thấy được như thế, thì ta sẽ thấy cảnh nghịch là thiện tri thức đắc lực đối với ta, và dù không có cảnh nghịch thì cảnh thuận cũng không sao. Nếu không thấy như thế, thì cảnh nghịch đã nguy mà cảnh thuận càng nguy hơn nữa. Người có lưu tâm đến biện chứng nghịch lý này thì khi gặp cảnh thuận thích luôn luôn tự cảnh giác, để nhìn thấu tới bề trái của nó. Lúc gặp cảnh trái chướng, luôn luôn biết sách tấn mình để mạnh dạn tiến bước trên con đường giải thoát. Lại như hiện nay, thiên hạ đều lao nhao than thở cho là thời kỳ quỷ vương mạt pháp. Nhưng nếu thông qua ống kính biện chứng nghịch lý, thì đây là một cơ hội ngàn năm một thuở để cho ta giáp mặt với sự thật, thấy rõ trò đời mộng huyển không một mảy may hiện tượng vật chất nào được mãi mãi trường tồn, chứng thẳng cái vô sở đắc ngay giữa cuộc đời bằng xác thịt, bằng giác quan, bằng gia đình, bằng chính thân ta, như trong tâm kinh đã nói. Có như thế mới khỏi bị than thở rằng: “Tuồng huyển hóa đã bày ra đấy Kiếp phù du trông thấy mà đau” Như Ôn Như Hầu tiên sinh đã thở ra lúc nọ. Mà trái lại tựa như chuyên gia hàng hải cưỡi thuyền buồm dạo chơi nơi biển cả, sóng dậy ba đào, mượn cảnh phong ba để điêu luyện mình càng ngày càng tinh xảo khả năng lèo lái. Được như thế thì còn gì thú vị cho bằng! 2. THÂN GIÁC: Thế nào là thân giác: Sở dĩ có hai chữ này là vì phần đông đều bị một thứ thức giác nhận định sai lầm về xác thân, nên thấy xác thân là nguồn tội lỗi, bày ra những trò tự đánh tự đập, hoặc khổ hạnh đọa đầy, hoặc đốt tay, đốt chân, hoặc tự thiêu tự tử. Quá hơn nữa có kẻ nhìn thân là thứ mãi mãi hằng có để trau giồi, o bế, đam mê theo dục lạc thường tình. Thế thì đam mê theo nó hay quy tội cho nó đều đủ gì để biết nó? Có lần đồ đệ của Phật bạch Phật rằng: Để bộ phận sinh dục nó đòi hỏi đủ thứ không thể tiến tu, xin Phật cho phép thiến đi để dễ bề điều khiển. Phật nói: Xét kỹ xem, tại nó hay tại mình? Người ấy trầm ngâm giây lát thưa: tại mình chớ đâu phải tại nó. Phật nói: thế sao không thiến mình lại thiến nó? Lại nữa, một vị tăng đến trình với một vị tổ: Bạch tổ sư, xin chứng cho con đi khổ hạnh để đày đọa xác thân này cho nó không còn sức đòi hỏi thèm khát mới có thể tu trì. Tổ hỏi: con bò không chịu kéo xe, vậy ta nên đánh xe hay đánh bò? Do thác giác này mới kiến lập ra danh từ thân giác, bao gồm cả 3 ý nghĩa: • Xác thân này không thể khởi niệm. • Xác thân này không thể có vọng niệm. • Xác thân này tuyệt đối yên lặng. Nó chẳng qua chỉ là một công cụ phương tiện như radio, tivi hay máy xay lúa chẳng hạn. Nếu tách khỏi động lực thì chỉ là một khối vật chất vô tình. Hành giả phải nhận định kỹ, hiểu rõ như thế, và nhớ lấy 3 đặc điểm này để đợi đến phần kỹ thuật sẽ có cơ đắc dụng. Đây sẽ là một hóa chất để biến hóa vọng niệm cho trở lại chính thường một cách vô cùng đắc lực, là một diệu dược để chữa bệnh vọng tâm. Nếu chỉ nhìn riêng phần thân giác, thì bề ngoài trông qua chẳng có chút giá trị gì, nhưng sự thực khi áp dụng rồi mới thấy quả là diệu dược. Điểm này xét ra chẳng chút khó khăn gì, chỉ sợ người học thấy quá đơn giản mà hóa ra xem thường, không để ý chú trọng mà thôi. Nên thận trọng. 3. NHẬP LƯU HƯỚNG NỘI Thế nào là nhập lưu hướng nội? Do đâu và tại sao có lập ra câu nói này? Trong bao la này nếu nhìn suốt, vốn nó không bớt không thêm nhưng nếu để ý về cõi hiện tượng thì ta thấy khoáng và thực vốn vô tình, chỉ có hữu tình mới cựa quậy. Đành rằng vốn nó cũng nằm tròn trong cái bất tăng bất giảm, sắc không phải sắc, không có trong ngoài, nhưng khi vừa nứt mắt ra thì mỗi cái nứt mắt đều nhìn nhau, nhìn ra đến sự vật, để tạo thành ý tứ TA, NÓ, MÌNH, NGƯỜI, đây kia, được mất, hơn thua, lợi hại, ghét yêu, vui khổ … nhứt nhứt đều theo ánh sáng nhìn ra của tâm thức mà tất cả đều trở thành chi ly phân hóa rồi đồng thì yêu, khác thì ghét, thuận thì theo, nghịch thì chướng, dồn dập bốn bề, gây duyên đảo lộn. Thế là nằm trong cảnh không có trong ngoài và chính mình cũng là sắc không phải sắc, mà chúng sinh cựa quậy, tự tạo thành cái phóng vọt nhìn ra đã thành có không có sắc, có trong có ngoài, có khổ có vui, có sống có chết. Thế là vì tâm hướng ngoại mà tạo thành đà hấp dẫn theo sinh tử luân hồi. Thầy thuốc là con đẻ của bệnh nhân, chúng sinh là mẹ đẻ ra ông Phật. Vì có bệnh nên mới có nghiên cứu chế ra thuốc chữa. Vì có hướng ngoại tạo thành ưu bi khổ não, trì kéo hấp dẫn, sinh tử luân hồi, và ai ai cũng rập khuôn giống hệt như nhau một kiểu, mà lại còn có người đổ cho trời khiến, hay tự nhiên, nên nhà Phật mới lập ra từ danh từ chánh điên đảo. Đã có bị đau khổ hệ lụy vì hướng ngoại mà có tên là chánh điên đảo. Nay nếu muốn chữa lại bệnh khổ đau hệ lụy này, tất không thể không kiến lập phép hướng nội, mà lập thành danh từ “Chánh Biến Tri”. Cho nên tu hành chẳng qua là một thứ y đạo siêu đẳng, chỉ vì truyền nối nhiều đời mà hóa ra một việc làm không hiện thiện, không thể thực hiện. Có ai ngờ khi tinh thần của chúng ta xoay theo chiều hướng ngoại thì ý niệm về Tôi càng được thắt chặt để cái Tôi trở thành trên hết. Từ đây cái Tôi trở thành một dụng cụ chứa đựng rồi theo đó tất cả những vọng niệm, những bóng dáng của trần cảnh đều được thu vào, cấu kết lẫn nhau, mắc liền với xác thân một cách vô cùng chặt chẽ, càng ngày càng thu nhập đầy nhóc. Lại còn có cách lưu truyền từ muôn đời lũy kiếp đến bây giờ để trở thành một bài toán cộng vĩ đại, và có khả năng hoạt động ngoài ý muốn của ta. Không những thế thôi, mà còn gây thêm hệ lụy cho thân xác một cách vô cùng khít khao tế nhị mà trên đời không mấy kẻ ngờ. Chính vì nó mà tế bào trong thân này xảy ra phát triển theo chiều hướng mất chánh thường để tạo thành bịnh ung thư (nham, cancer) là cho giới Y khoa ngày nay phải bó tay kinh khiểp. Qúa quắt hơn nữa, tất cả những tôn giáo tín ngưỡng, qủy thần oai quyền, chủ nghĩa, chính sách, nó đều có thể đẻ ra được hết. Vì thế nên khi xoay chiều hướng nội, tất cả 6 căn đều chú ý xoay trở vào thì trước nhất cái Tôi bắt đầu chuyển mình rạn nứt để đi đến một mức độ vỡ tung và tất cả khối vọng tâm hoạt động ồn ào cũng theo đó mà bắt đầu bị phân hóa, để lần lượt đi đến ổn định, trả cuộc sống con người về với tự nhiên một cách tự nhiên như nhiên. Do đó nên trong làng hướng nội hạ thủ công phu có những trường hợp bịnh ung thư được chữa khỏi. Về điểm này mong rằng các nhà khoa học kỹ thuật vật chất, cũng như Y khoa ngay nay nên bình tâm mà kiểm nghiệm. Có một điều ta cần nhớ về pháp hướng ngoại chánh điên đảo của chúng sinh, nó khít khao tế nhị hệt như tự nhiên. Cho nên nói đến phép hướng nội để trở thành chánh biến tri cũng phải khít khao tế nhị như thế, thì thuốc với bệnh mới cân xứng, mới có khả năng đón đầu bịnh. Về điểm này nếu ta có chút sơ hở là bệnh cũng the đó có thể lọt kẻ, làm cho thuốc sẽ trở thành không công hiệu. Như thế đủ biết nhập lưu hướng nội qủa là công cụ sắc bén nhưng cũng phải biết áp dụng mới hẳn là món thuốc hay. Nếu không thì khi một niệm không sanh sẽ là chìm vào nước chết, chớ không phải là toàn thể hiện, và nước cực lạc ta xây dựng chẳng qua chỉ là một thứ sự nghiệp nương nhờ đất đai của ông hỗn độn vô ký mà thôi. Không gian nay không khỏi có nhiều mây mù tuyết phủ! 4. DÙNG NIỆM NHIẾP NIỆM: Thế nào là dùng niệm nhiếp niệm? Như đã nói từ trước, khối vọng tâm trong mỗi người có vô số chủng loại, vô số hình thức nếu ta không có cách biến hóa và thanh lọc nó thì tâm ta không bao giờ trở về với thanh tịnh sáng sạch. Nhưng đặc tính của nó đã là vọng nên khi gặp vọng nó sẽ ráp vào. Do đó ta có thể chế tạo một hình thức niệm bền bỉ cố định, cho chúng nó làm trụ cốt, bâu rúc vào thành một khối, rồi ta sẽ hóa nó chứ không chỏi ngược với chúng nó. Vì thế nên ta phải tạo ra một thứ niệm thuần nhất hơn, tươi đẹp hơn, êm ả hơn. Thí dụ như: dùng câu A DI ĐÀ PHẬT hoặc DƯỢC SƯ NHƯ LAI hay QUAN ÂM NHƯ LAI hay 1, 2, 3, 4 gì cũng được. Nhưng câu có ý nghĩa như câu A DI ĐÀ PHẬT vẫn có giá trị sâu xa hơn. Trong khi áp dụng công cụ này là phải theo hình thức tĩnh tọa đóng hết 6 căn, không dùng chuỗi, mắt không mở, miệng không động, chỉ ghi nhớ mặc niệm một câu như A DI ĐÀ PHẬT chẳng hạn. Cứ mặc niệm đều đều không gấp không hưỡn, đồng thời soi trở vào trong thân một cách tỉnh táo tìm lấy tướng của làn sóng động niệm. Nếu tìm chưa thấy thì phải tìm cho kỳ được cho đến bao giờ thấy. Đến đó thì tất cả đám lao xao trong thân đều qui tụ về một niệm. Như thế là ta đã biết dùng công cụ này rồi đó. Công cụ này là một pháp vô cùng đắc lực, là vua của tất cả pháp tham thoại đầu khác. Độc giả nên tỉ mỉ nhận định hầu áp dụng được hết khả năng, để đạt đến mức thẳng tắp chính xác. 5. DÙNG NIỆM HÓA NIỆM Thế nào là dùng niệm hóa niệm? Trước kia đã kiến lập khái niệm về thân giác, giờ đây dùng thân giác để tạo thành một ý niệm “nghi tình” hầu đối lập giao lưu với vọng niệm đã phân hóa và giải tán tựa như dùng chất hóa học để phân hóa các vật chất. Hai chữ “nghi tình” không có nghĩa là hoài nghi hay nghi ngờ, mà có nghĩa là lạ lùng kỳ bí, có nghĩa không ngờ, có nghĩa phàm tình bị ngưng hóa trong đó bao hàm tác dụng thú vị, thanh lương an lạc và trí tuệ, như màn mây được vén, như tối gặp sáng ra. Nó có khả năng tách rời vọng niệm với thân để giải tán mớ đóng cứng bên trong mà thường tình không tài nào gỡ được. Do đó ta có thể dùng nó để biến hóa cái nhứt niệm trước kia, ta dùng để quy tụ muôn niệm, cho cùng với nước tâm được hòa đồng trong suốt tựa như biển lặng sóng yên, chỉ có một màu trời nước, mặt biển lắng trông không còn lờ mờ vẩn đục nữa. Áp dụng công cụ này trong việc thanh lọc vọng tâm, nó cũng tựa như đánh phèn để lóng nước, không bắt buộc nhứt luật phải dừng liền theo với công cụ dùng niệm nhiếp niệm mà ta có thể dùng nó đơn độc trong những trường hợp vọng niệm chưa đến nỗi như sóng dậy ba đào, cứ áp dụng thẳng vào là có kết qủa. Sau này đến phần kỹ thuật sẽ giải thích tường tận hơn. 6. DÙNG GIÁC CHIẾU PHÁ VI TẾ VỌNG: Thế nào là dùng giác chiếu phá vi tế vọng? Nếu khi ta tịnh tọa đã đến mức tương đối thuần thục, khối vọng niệm trong thân không còn hùng dũng ba đào nữa, thì phép dùng niệm để nhiếp niệm hết cần. Tiến xa chút nữa nếu khối vọng niệm không còn hết đoàn lao xao thì phép dùng thân giác nghi tình, lấy niệm hóa niệm cũng không còn cần nữa. Nên chỉ khi vọng niệm chỉ còn thỉnh thoảng lẻ tẻ, chi li, nho nhặt chớp nhoáng lơ tơ mơ, không còn rõ là thứ hình thức gì, chỉ như cụm sương mù thưa thớt, thì ta chỉ cần tịnh tọa, nhắm khít con mắt thịt lại mà con mắt tâm phải mở bét thật tỉnh táo và rõ ràng để hồi quang phản chiếu đến tận đáy của vọng niệm vi tế, thì đám sương mù lập tức tan đi. Thế gọi là dùng giác chiếu phá vi tế vọng. HẾT PHẦN HAI PHẦN THỨ BA PHƯƠNG PHÁP & KỸ THUẬT HẠ THỦ CÔNG PHU Cách bắt chuột của con chó bao giờ cũng chú trọng đến tiếng động, nên tiếng giục và cục đất ném trở nên quan trọng. Có khi cục đất ném trở nên quan trọng. Có khi cục đất ném xuống ao cũng cứ lặn mò; Khi bắt được chuột thì toát mồ hôi le lưỡi. Vì thế trong thiền học có câu: trục khối (chó đuổi theo cục đất ném). Cách bắt chuột của mèo, khi con chuột không chạy nó không bao giờ chụp vì sợ bất thần nó muốn đào tẩu. Nó ngồi thu hình tập trung tinh thần hớp hồn con vật. Khi con chuột run lên, nó liền vẩy đuôi, chuột giật mình phóng tới. Tức khắc nó nhảy bổ chụp liền phía trước là vồ được ngay. Cách bắt chuột của con chồn đèn thì hoàn không rình không đuổi, trái lại nhẹ nhàng điềm tĩnh, khoan thai, hệt như không có điều gì xảy ra. Khi sát lại gần, nhanh như chớp nhẩy bổ chụp cổ liền. Không những bá phát bá trúng, mà con chồn chỉ bằng cổ chân còn có thể bắt một con gà trống to độ 2 ký dễ như trở tay. Nếu mỗi người thường trực nhớ rõ chính thân tâm mình cùng vạn hữu bao la vốn đồng nhất không hai, vì tâm mê quên tánh, chấp thân hướng ngoại, mà hóa ra sa đọa. Một khi trở về với tánh hướng nội, hết đắm chấp lấy thân, không quên thân giác, thì thân không những càng được bình an, mà trong đi đứng nằm ngồi không lúc nào có công phu hay không có công phu. Như thế mới đích thực là công phu. Thế mới biết, chỉ có hạ thủ công phu trong tư thế ngồi thì chẳng khác nào thợ nề xây tường mà chỉ biết xếp gạch không cần có hồ vậy. * * * Từ xưa đến nay, phần đông đều cho tu là một cái gì huyền bí. Đạo là cái không thực tế, còn hành Phật giải thoát đều là chuyện hên xui may rủi và có khi còn bị thông qua các tướng ma ma Phật Phật của mấy bà đồng cốt nữa. Chớ không mấy ai ngờ đây chỉ là một việc làm của Y đạo – siêu giai cấp, siêu khoa học, minh bạch rõ ràng, không phải một thứ mù mờ ấm ớ. Trước khi đi vào phần thực tập hạ thủ công phu, có những điều bắt buộc hành giả nên ghi nhớ cẩn thận. 1. Đường lối hạ thủ công phu Đây là một phương pháp, một kỹ thuật để trị bệnh tâm, được nghiên cứu một cách kỹ càng để hành giả được đi trên con đường thẳng tắt rõ đúng, bảo đảm. Kỹ thuật này phân làm hai đường lối. a. Đường lối thứ nhất: Làm cách nào để nhất thời nhận thẳng được bổn tánh, rồi tiếp tục bảo dưỡng từ cái thấy tánh đó gây thành một tác dụng để phá vỡ vọng tâm. Đường lối này chỉ được áp dụng trong cơ duyên khai thị, tùy kẹt mà gỡ, trong biện chứng nghịch lý hoặc trong vấn đáp, sẽ có nói nhiều ở phần hàm dưỡng và vấn đáp. b. Đường lối thứ hai: Dùng một phương pháp khéo léo, một kỹ thuật chọn lọc để phân hóa toàn bộ vọng tâm cho trở về với tâm thể vô niệm thì hành giả được kiến tánh. Cả hai đều được áp dụng một lượt hầu đưa đường cho hành giả đi vào thế giới lúc nào cũng được tâm thể vô niệm, giáp mặt với bổn tánh mà người xưa đã từng gọi một cách văn vẻ là: “Phong quang quê cũ muôn đời, bốn phương tám hướng nhạc trời trăng soi”, chớ không phải thêm vào một việc gì. Đến đây nhị nguyên kết thúc, mình, người, thân, cảnh hết thành vấn đề, nên gọi là chứng. Và toàn bộ cuộc sống của người đó được giải quyết dứt khoát, mà chương nói về phương pháp và kỹ thuật hạ thủ công phu như ở đây là thuộc đường lối thứ hai. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là biết rõ trận địa một cách kỹ càng, chọc thẳng vào tận sào huyệt của bốn phần vọng tâm mà cầm chắc toàn thắng. Nên nội dung tính chất của nó hoàn toàn lệch hẳn về phương pháp và kỹ thuật hơn là dùng sức mạnh, để nuôi dưỡng năng lực cho hành giả lúc nào cũng dồi dào, cũng như sự hệ lụy của xác thân đồng thời cũng được giải tỏa thì vấn đề dặm đường, thời gian, với con ngựa đang cỡi sẽ không còn là vấn đề lo ngại về sự chênh lệch mà công cuộc giải thoát dọc đàng bị đổ vỡ nữa. 2. Điều Kiện Tinh Thần: Đi vào con đường này là để giáp mặt với sự thật nên cần phải có bốn điều kiện tinh thần sau đây: • Không mong cầu tất cả những gì thuộc về tài, tình, danh, lợi xoay quanh theo trục lợi hại bổn thân của cái Tôi. • Không nương tựa vào bất cứ một quyền cai thần thánh nào. • Không sợ hãi một điều gì xuất phát từ lợi hại bổn thân. • Phải tuyệt đối thành thật với chính mình. 3. Điều Kiện Vật Chất Hành giả nên lắng lòng thanh tịnh, khiêm tốn, kiểm điểm kỹ lại xem từ trước tới giờ những điều đã nói, chính mình có thật hiểu rõ ràng chưa? Nếu chưa thì phải chịu khó nghiên cứu kỹ lại, đừng hấp tấp vội mà sai lầm. Đây là đi vào một hình thức tĩnh tọa nên cần phải có những điều kiện thực hành chi tiết như sau: • Khí hậu thời tiết: Khi thực tập hãy chọn nơi tương đối yên tĩnh và thoáng khí. Nếu khí trời nóng bức quá thì rất khó thực hành, nên chọn những lúc mát trời càng hay, không lựa là ngày hay đêm. Nếu gặp lúc thời tiết nóng bức không làm sao hơn, thì thời giờ thực tập được thu ngắn lại, gặp khí hậu mát mẻ ta có thể kéo dài ra, suốt ngày đêm ta có thể chia làm mấy thời cũng được. Căn cứ theo khí hậu xứ ta, người mới thực tập chỉ nên công phu từ 15 phút đến 30 phút mỗi thời. Tổng cộng trong 24 giờ chỉ từ 2 giờ trở lại, đừng có tham lam dồn ép thái quá sẽ nảy sinh biến cố. • Sanh Hoạt: Trong sanh hoạt hằng ngày phải nên điềm đạm, khiêm tốn, chậm rãi, dù việc có gấp đến đâu trong tâm cũng đừng nên vội vã bối rối. Phải biết mình là tất cả, tất cả là mình, nếu trừ hết tất cả những cái không phải mình ra, thì chính mình cũng không còn nữa. Nên nếu mình nhúc nhích thì bên ngoài cũng nhúc nhích theo. Một con chó nuôi trong nhà, khi chủ đi về, nó liền nhảy bổ lên mừng rỡ, liếm túi bụi. Nhưng nếu ta ngồi lặng yên, ta có việc của ta, lặng yên đến cả trong tâm thì nó không bao giờ dám nhảy vô. Nhưng nếu tâm ta vừa nhúc nhích, mũi vừa thở mạnh, mắt vừa chớp, là lập tức nó nhảy bổ lên cả đầu mà liếm. Nên nhớ yếu tố này không phải chỉ ở con chó nuôi trong nhà mới có như thế, dù cho con cọp ở ngoài rừng hay những bùa chú thư ếm cũng không có khả năng vượt khỏi lằn mức tâm linh này. Nên cốt yếu mình phải tỉnh bơ thì cảnh vật bên ngoài mới không lung lạc được. Trong kinh Lăng Nghiêm có câu: “Nếu chuyển được vật là đồng với Như Lai”. Vì vậy trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta cũng phải chịu khó để ý soi trở vào chính con người của mình một cách thường trực để đón bắt, giáp mặt với những chớp nhoáng mống niệm ngay trong những lúc giao tế tiếp xúc hằng ngày kẻo bị vô tình phóng vọt. Phần này trông qua tuy thấy tầm thường nhưng lại là một điều kiện vô cùng quan trọng cho đến khi ta ngộ được tâm thể vô niệm. Nếu lìa nó ra, ta không lấy đâu để nhập vào cảnh toàn chứng. Chớ không phải để ý chủ tâm trong lúc thu hình ngồi lại mà thôi. Phải giữ cho tinh thần càng tột bậc bình thường chừng nào càng tốt chừng ấy. Nếu bình thường hay giận dữ thái qúa, đến lúc ngồi lại tất phải bị khí giận thừa làm thành chất độc phản ứng không yên. • Ăn Uống: Chúng ta tưởng chừng khi ăn vào một món gì, tiêu hóa xong là hết, sự thật nào phải thế. Nếu trong trời đất này mọi chuyện đã qua đều mất hết thì làm gì có chuyện truyền thanh truyền hình, hư không rỗng suốt mà còn thế, thì khi thâu nạp nguyên con vào cơ thể làm sao mất được! Do đó, ta ăn thứ nào vốn có khả năng cục cựa, thì khi vào cơ thể nó cục cựa càng nhiều. Vì sao thế? Vì con người là một bầu vũ trụ thu hẹp lại, thì đương nhiên trong ta đã có đủ ba cõi sáu đường, bốn cách sanh, mười hai loại. Nay lại được tăng cường lẽ cố nhiên phải vậy, thứ nào có khả năng nằm ỳ một chỗ như khoáng chất, khi vào cơ thể nó cũng nằm ỳ! Với thảo mộc thì khi có gió mới động, nên ăn thảo mộc vào nó không nằm ỳ như chất khoáng, mà cũng không cựa quậy như động vật. Thêm nữa, ta đừng tưởng khi ăn một cục thịt là chỉ có một cục thịt. Thật lạ thay cho khoa học ngày nay, ai ai cũng biết một là tất cả, tất cả là một, nguyên tử chăng nữa cũng vẫn là một bầu vũ trụ. Thế sao ăn một cục thịt lại chỉ tính có một cục thịt mà thôi, phải là nguyên con mới được chứ! Sự thật là như vậy. Tại mình không phóng đại ra nên không thấy. Tĩnh tọa là một cách phóng đại. Nếu mình bỏ vô 1 chút xíu khỉ thì nó ra nguyên con khỉ, một chút xíu heo cũng ra nguyên con heo. Điều đó chính tôi chứng thực mà nói chứ không hề bắt chước ai. Chỉ vì bình thường chúng ta bị vọng tâm mê muội thiên cổ che khuất, nên không thấy được. Do đó khi mới tập tĩnh tọa nếu chưa ăn rau được thì nên ăn cá hơn ăn thịt. Ta đừng vội sợ ăn chay thiếu nhiệt lực, nếu pháp chúng ta đang tu là pháp hoàn toàn hướng nội, quay hẳn trở vào 180 độ, 6 căn không phóng vọt, không lười biếng nằm ỳ, không ê a ó ré, thì bảo đảm không có việc trở ngại thiếu lửa bao giờ. Phương chi còn phải ý thức học hỏi về những thức ăn tính nóng tính lạnh có độc hay không độc nữa. Thường người ta quan niệm rằng ăn uống thiếu chất thịt cơ thể sẽ bị hụt hao, thế sao con trâu chỉ ăn cỏ, chớ nào có ăn chất sắt chất muối, con mễnh con nai muốn mập cũng chỉ ăn cỏ, còn con người muốn mập lại bắt mễnh nai làm thịt ăn. Con thú gặp lạnh quá thì sanh mỡ, hoặc mọc lông nhiều để chống lạnh, con người lạnh quá ra chợ mua áo lên mặc vào, con thú muốn bay thì mọc cánh, con người muốn bay phải chế máy bay. Vì thế nên khi té không phải chỉ đau một mình như thú, mà là cả đám cùng té, cùng chết. Do đâu nên nỗi? Nên biết rằng con người bị lý trí (nọc trái cấm) đánh mất phản ứng trực giác bản năng của thiên nhiên bảo vệ. Công phu tĩnh tọa là để thanh lọc vọng tâm lẽ đâu ta không nghĩ kỹ!!! Chúng ta chỉ nên tĩnh tọa sau khi ăn độ một tiếng rưỡi trở đi cho khỏi xảy ra những bệnh ở bộ tiêu hóa, và khi ăn chớ nên ăn no quá. Con người ăn buổi sáng, chất bổ đến nuôi phần trên nên gọi là điểm tâm, gọi là chư thiên ăn. Ăn buổi chiều nuôi phần dưới, nên ăn bằng tham lam còn gọi là súc sanh ăn. Vì vậy nếu buổi chiều ăn nhiều chất bổ thừa thải, các bộ phận bên dưới được tiếp tế nhiều quá, tâm mê tất phải đòi hỏi thị trường lôi thôi. Người ta thường nói: “Đói cơm khát nước tèm hem No cơm ấm áo lại thèm nọ kia” Vì vậy, chúng ta chỉ nên ăn lúc 9,10 giờ sáng và 4, 5 giờ chiều, đừng nên ăn 9, 10 giờ đêm. Lại thêm những thức ăn lạ, nặng nề như củ cải sống, củ hành sống, củ kiệu sống … hay các thứ rau cay nóng quá không nên dùng như hành hẹ phải nấu thật chín mới nên ăn. Những thức ăn tính chất quá nóng hay quá lạnh, chất sùi bọt, dậy men … những thứ nghiện ngập như cà phê, thuốc lá, thuốc lào, trà tàu, các thứ rượu mạnh phải cần nên tránh. Không uống trà đậm vì làm tổn tim. Chớ nên thường trực ăn những thức ăn để đông lạnh hay uống nước đá theo bữa ăn. Vì khi đủ nhân, đủ duyên hội ngộ, chúng nó sẽ tạo thành những bệnh ở mũi, ở mắt, ở cổ họng, ở bộ tiêu hóa, ở ruột, và còn nhiều thứ bệnh nan y khác nữa. Không nên ăn nhiều món trong một lúc, vì nó sẽ va chạm biến hóa thành những chất độc mà ta không hay. Trong bữa ăn chỉ nên chọn 2, 3 món thích hợp mà ăn. Nếu không hợp đừng vì lẽ cho là bổ mà ráng nuốt. Nấu nêm cũng phải đơn giản, thứ nào ngọt ra ngọt, mặn ra mặn, đừng pha lẫn chút tương, chút đường, chút muối, chút giấm, chút ớt … nhiều chất đụng nhau sẽ gây ra tai hại. Thí du: Nêm canh bằng nước tương với bột ngọt nó liền biến ra chua (acid). Nếu bột ngọt nêm với muối ớt thì ra hương vị nấm mối. Về rau cải, phải để ý học hỏi về tính chất của mỗi thứ. Nên ăn cốt sao sạch sẽ ngon lành, đừng cố tình tạo màu xanh đỏ trắng vàng, rồi đặt tên con này thịt kia. Thà muốn ăn thứ gì ra chợ mua ăn còn ít tội lỗi. • Về Y Phục: Nếu công phu vào lúc trời lạnh thì nên mặc dầy, nên đậy hai đầu gối cho kín. Nhớ đừng để gió nhập vào đầu gối và hai lỗ tai. Nếu trời nóng, mặc mỏng càng tốt. 4. Hiểu qua một hai nét cần thiết vể cơ thể sinh lý: Trong cơ thể con người có hệ thống tuần hoàn âm huyết, là hệ thống tuần hoàn máu trắng. Tế bào máu trắng là động vật, nó đóng một vai trò chủ động để bảo vệ cho tất cả cơ cấu toàn thân, khi có một thứ chất độc hay vi trùng từ bên ngoài xâm chiếm vào. Bên trong nó hoạt động đúng theo tầm mức rung cảm tâm lý để đáp ứng với tác dụng của mọi nơi trong thân. Thí dụ: Mỗi ngày ta cầm chiếc búa đẽo liên tục ngày này qua ngày nọ, thì chúng nó sẽ tập trung về cánh tay nhiều hơn nơi khác. Về nghe, ngửi, thấy, nếm, cọ sát, va chạm, cách đáp ứng của nó đều giống hệt theo một kiểu. Nên kinh Lăng Nghiêm có nói: “Mỗi chúng sanh có một thứ nước gọi là nước ái, khi khóc ứa ra mắt gọi là nước mắt, khi tủi ứa ra mũi gọi là nước mũi, khi thèm ứa ra miệng gọi là nước miếng, khi thèm khát dục vọng ứa ra bộ phận sinh dục gọi là nước dâm. Tính chất mỗi nơi tuy có khác nhưng kỳ thực vẫn là một”. Lại nói: “ Hễ tình thì đổ dồn dập tập trung xuống dưới, tưởng thì đổ dồn tập trung lên trên. Muốn thoát vòng tục lụy thì phải ly tình tưởng”. Hằng ngày, tai mắt, miệng mũi, thân ý chúng ta hễ hướng ra ngoài thì nhiệt lực giảm xuống, đóng lại thì nhiệt lực trồi lên. Con mắt đừng nhìn ra, lỗ tai đừng nghe ngóng, mũi đừng thở mạnh, miệng đừng nói nhiều thì tất nhiên nhiệt lực trong thân tăng thêm. Nhiệt lực trong thân tăng thì bầu khí quyện xác thân được trương nở để chống chọi với sức ép bên ngoài. Nếu nhiệt lực bị xài ra nhiều quá thì bầu khí quyện xác thân bị thắt lại. Đó là một việc trong sinh lý rất rõ ràng cần nên hiểu biết. Do đó nếu thái độ hướng nội của ta thiếu tinh thần dứt khoát, còn để kẽ hở cho năng lực bị thoát ra thì kỹ thuật sẽ bị tổn giảm. Một điều nữa, với thân này trong sinh hoạt hằng ngày, nếu trên đầu thường mát, dưới chân thường ấm là thuận với trật tự thiên nhiên nên gọi là hỏa thuận. Nếu ngược lại là hỏa nghịch. Nên khi tĩnh tọa định thần vào điểm đơn điền dưới rún trước, rồi sau sẽ bắt đầu, thì nhiệt lực trong cơ thể theo sự định thần mà thuận chiều. Theo đó nó sẽ giúp cho ta được quân bình cả bộ tuần hoàn, bộ tiêu hóa, không đến nỗi xẩy ra lệch lạc. Về phần phụ nữ mỗi tháng còn có kinh kỳ xen vào, nên khi có kinh là phải ngừng tĩnh toạ. Phụ nữ thuộc về tĩnh của thái âm nên cơ thể rất dễ định, nhưng cũng dễ gặp cái bơ vơ trống trải hoặc hôn trầm. Thế nên khi tĩnh tọa, tinh thần cần nên phấn chấn. Bất cứ một tôn giáo nào, hay một người sống một cách bình thường cũng vậy, nếu khinh thường 5 điều răn cấm giết hại, dối trá, gian dâm, tham lam, nghiện ngập, tức là người đó chưa đủ điều kiện để tập tĩnh tọa. Vì khi đã khinh thường 5 điều răn cấm này rồi tức là khinh thường cuộc sống yên ổn của chính mình cũng như tất cả người chung quanh. Thế mới biết đây là 5 điều kiên để duy trì cho cuộc sống cộng đồng sinh tồn. Tuy nhiên, đây không phải đưa kiều kiện để bảo vệ giáo điều như của tôn giáo tín ngưỡng, mà là muốn nói phải thâm hiểu tận cùng cái vô lý của tính giết hại, tham lam, gian dâm, lừa dối và ghiền gập. Nếu thấy 5 thứ tâm lý này là nguồn tai hại cho thế quân bình của cuộc sống thì mỗi người phải tự giới, tự luật, chớ không phải đợi ai bắt buộc mình. Bất cứ người của một tôn giáo nào hay tầng lớp nào nếu thiều 5 điều kiện này là thiếu hẳn tình yêu thương chân thật, chỉ là kẻ lừa mình, lừa người mà thôi. Nếu không chín chắn 5 điều kiện này thì cuộc tĩnh tọa thủ công phu trở thành vô nghĩa. Nhắc qua vấn đề gian dâm. Đây không phải nói là tư thông với kẻ khác mới gọi là gian dâm, dù là vợ chồng chính thức mà mỗi khi mống ý muốn tìm dục lạc tức là đã phạm vào điều gian dâm rồi đó. Còn về phần ghiền gập, dù cà phê, trà, thuốc lá, thuốc lào cũng vẫn là ghiền, chứ không lựa là nghiền rượu. Nếu đã là ghiền thì quyết định phải thanh toán cho kỳ được. Nghĩa là phải bỏ dứt khoát, nếu không thì mãi mãi hệ lụy không sao dứt được. 5. Tư thế tĩnh tọa: Có mấy cách tùy theo khả năng của mỗi người, nhưng hay nhất là ngồi kiết già. • Ngồi kiết già: Chân trái gác lên đùi phải, chân phải gác lên đùi trái, thúc sát vào, chống hai nắm tay lên đầu gối, đè cho hai đầu gối xuống sát chỗ ngồi, chuyển động nhẹ xương sống cho các khớp lưu thông, lưng thẳng đầu ngay, vai ngang, hai bàn tay đặt sát vào bụng dưới rún, tay trái nằm dưới tay phải nằm trên, hai đầu ngón cái đụng sát nhau để giữ thế điện trong cơ thể được lưu thông ít bị hao tán, mắt nhắm miệng ngậm, răng đụng nhau, lưỡi đụng răng. Đồng thời tập trung tinh thần tưởng tượng tuyến từ mũi xuống đơn điền cho ngay. (
VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT 11. THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ GÌ BÍ MẬT ĐÂU MÀ SAO LẠI CÓ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA VỌNG NIỆM HIỆU LỰC ĐẾN THẾ? Mục đích của hạ thủ công phu tu hành là nhắm vào tiêu hóa tận nguồn của khối vọng tâm muôn thuở. Tâm sở dĩ vọng là tại đắm chắp lấy thân nên mới có chuyện dựng đứng cái tôi. Nay muốn phá trừ tâm vọng, chỗ bí yếu duy nhất là làm cách nào để có thể tách rời sự đắm chấp ấy, để tâm với thân có thể là hai cũng có thể là một. Ý thức về thân giác và nghi tình là vạch một luồng tách bạch rẽ đôi giữa thân và tâm vọng. Bởi vậy nếu một người tu mà ý thức sâu xa chính chắn kỹ lưỡng về thân giác và nghi tình một cách thường trực nằm sâu tận đáy tâm não sẵn sàng, thì đối với vấn đề rẽ đôi giữa thân và tâm vọng của người đó khẳng định sẽ rất dễ dàng, hễ động dụng là thành công. Người xưa có nói: “Không biết bổn tâm học pháp vô ích”, nhưng ngày nay lại có người nói: “Không biết tự thân học đạo vô ích” là tại mẹo này! Bởi vì khối tâm vọng lấy đam mê theo xác thân để tồn tại. Nay giữa thân với tâm vọng bị tách làm đôi, tự nhiên muôn niệm của tâm vọng đều lập tức bị tiêu hóa. Phương chi chỉ một phần thân giác thôi, cũng đã đủ là một thế mẹo tâm lý, để tách rời thân và tâm vọng, mà đằng này lại còn bồi thêm nghi tình, giống như một con đường có lú lấp vừa mới được vạch xong, lại cho thêm một ban đi tép dẹp thúc đẩy sâu vào cho con đường rẽ thêm rộng rãi thênh thang. Do đo khối vọng tâm bị lộn ruột vỡ toang, giống như đỉa bị lộn bề trái ra ngoài tự nó phải chết mất. Quả thật! quả thật! thân giác và nghi tình là một diệu dược rất nhiệm mầu, một kỹ thuật siêu đẳng để tách đôi thân và tâm vọng ngay hiện tại một cách nhẹ nhàng, chỉ cần biết áp dụng 12. KINH NÓI: “BỔN TÁNH CHÚNG SANH VỖN NGẬM CHỨA VẠN PHÁP (BAO GỔM CẢ HỮU TÌNH VÀ VÔ TÌNH) NÊN GỌI LÀ HÀM TÀNG THỨC …. THẾ THÌ CÁI CHỨA TRONG LÒNG CỦA CHÚNG SANH LÀ CŨNG TỰ NHIÊN, THẾ SAO PHẢI CÓ CHUYỆN ĐIỀU CHỈNH LẠI? Xưa Huệ Minh đuổi kịp Lục Tổ Huệ Năng và thỉnh pháp. Tại sao Lục Tổ Huệ Năng không giải thích mà chỉ giảng vỏn vẹn một câu hỏi: “Vậy ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính hồi đó cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa”. Như thế không phải là bổn tánh của chúng sanh vốn tự thanh tịnh, vốn có khả năng sanh ra vạn pháp sao? Khi chưa động dụng thì tâm với tánh vốn không hình tướng, vốn không thể phân cũng không thể hợp. Nhưng khi đã động dụng tất có động dụng mê, hoặc động dụng ngộ. Động dụng mê là chúng sanh dụng, động dụng ngộ là xứng tánh dụng. Xứng tánh dụng thì rỗng rang, rời rảnh tỉnh táo thường xuyên. Xứng thân dụng thì chèn ép, ồn ào, lao xao, lầm lẫn, khổ đau, phiền lụy. Như thế há không phải tuy vẫn ngậm chứa vạn pháp mà đã nghịch dụng và đã biến dạng rồi đó sao? Thể tuy là một, nhưng tướng dụng lại khác xa. Nên mới có chuyển thức cho thành trí, chuyển thức hàm tàng thành trí đại viên cảnh. Chuyển cái tâm đam chấp như máy chụp hình trở thành cái tâm giải thoát như gương sáng cho đến chỗ chuyển và tướng chuyển cũng không còn nữa. Thế thì Phật không khác gì chúng sanh mà vẫn khác xa vậy. 13. NGƯỜI TA CÓ NÊN XEM THƯỜNG XÁC THÂN KHÔNG? Bất kỳ một pháp nào trên đời này chính nó vốn sẵn có một tầm vóc giá trị đúng y như nó, không có vấn đề tầm thường hay không tầm thường. Sở dĩ có xem thường hay không xem thường là vì chính con người không thật hiểu nó mà hóa ra có chủ trương lệch lạc. Thử hỏi nếu không có thân thì còn tu cái gì nữa? Từ xưa tới nay có ai nói hư không tu hay không? Hay nói anh xoài anh ổi tu? Giả thử không có thân, lấy đâu nói tâm vọng, tâm chơn, không có tướng lấy đâu nói một là tất cả, tất cả là một, một tức tất cả, tất cả tức một, trên đầu kim có đủ tam thiên đại thiên thế giới. Khi chưa có tướng lấy đâu để có mê và ngộ, có thời gian và không gian … Khi chưa có tôi, có cái biết của tôi thì mọi vật ra sao vốn không thành vấn đề. Khi đã có tôi, có cái biết của tôi thì muôn vạn vấn đề đổ xô kéo tới. Quả thật tôi là trung tâm vấn đề. Đã có tôi mới có mê, có mê mới có thời gian không gian, có mê có thời gian mới nói có tu có ngộ, vậy ai là người dám bảo trên đường đời, trong dòng thế tục, xác thân này đối với người tu không phải con long mã, để đưa đường cho Tam Tạng đi thỉnh kinh? Hay chiếc thuyền con để cho ta vượt dòng sóng gió? Mặc dù mới bữa trước chính ta dùng nó làm hệ lụy cho ta? Thế mới biết đi chưa đến tây phương mà định bỏ đói con long mã không cho ăn, không cho tắm, chưa qua bờ bên kia mà đã nghĩ tới chuyện hủy bỏ chiếc thuyền, thì nào có khác chi kẻ đã vượt qua bờ bên kia rồi ngồi đó tiếc rẻ chiếc thuyền không muốn lên bờ giải thoát!. 14. NGƯỜI TA NÓI NGUỒN SỐNG CON NGƯỜI HOÀN TOÀN Ở ÓC LÝ LUẬN NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG? Nếu dựa vào chặt đứt đầu không còn sống để kết luận rằng mạch sống hoàn toàn ở đầu thì ta khỏi cần biện minh; nhưng giả sử có người nói: “Mạch sống của con người hoàn toàn ở tim là chết liền.” Nói như thế thì sao? Thế mới biết: Nếu dựa vào những điều kiện kiểm chứng theo kiểu đó thật chẳng khác nào lấy đất sét đắp bít hai con mắt lại rồi bảo: trời đất chỉ là một khối tối thui, thì chắc là những người xung quanh thương hại mà không buồn cãi, chớ nào hay không riêng gì mạch sống con người mà tất cả chỉ là không ở, không chẳng ở; và tất cả vạn hữu chẳng qua chỉ là những tia chớp nhỏ bám vào tia chớp to, xen nhau xuất hiện là thành một chuỗi dài vô tận không đầu không đuôi, không xưa, không nay, không thêm không bớt, không lớn không nhỏ, có ngừng lại khoảng nào đâu, để ta dựa vào đó mà nói mạch sống ở hay không ở! Tuy nhiên nếu nheo con mắt một cái, nhìn suốt cả bao la chỉ là một nguyên động lực của các làn sóng hội tụ phản xạ tận tự bao la xuyên qua vạn hữu đi vào khắp tất cả chúng sinh, mắc liền vào tạng phủ theo thế hết sức co vào rồi lại giãn ra, làm thành một định luật bất cứ một vật gì, dù khoáng thực hay động, hễ có nhỏ có lớn thì bên trong hay tạng phủ phải có trước, kế đó là phần ngoài hay xác thân có sau, mà đầu thuộc về phần xác thân, tim thuộc về phần tạng phủ, và trong đó ngoài phần vật chất dường như còn có một cái gì … Nếu ai là người đã từng đi vào cõi định, thì đều biết rõ điều này, mà đây là mục đích để kiến thiết lại con người, chớ không phải diễn đàn để cãi lý cãi lẽ. 15. GIẢ SỬ TRONG ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI BIẾT ĐƯỢC VỌNG NIỆM NỔI LÊN CÓ THỂ ÁP DỤNG THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH ĐỂ PHÁ ĐƯỢC KHÔNG? Thực ra nếu một người biết áp dụng đến mức độ ấy chắc khó mà có vọng niệm nổi lên theo kiểu đó. Tại sao? Vì người đó ít nhất vấn đề thân giác và nghi tình phải được ăn sâu vào tận nguồn tâm não, mà khi hai vấn đề đó đã được bắt rễ tận nguồn tâm não rồi thì vấn đề thân với tâm vọng mắc liền nhau đến nỗi không còn tách rời ra được sẽ không còn nữa thì làm sao có những vọng niệm linh tinh cho được. 16. KHI ÁP DỤNG THẦN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ HIỆU QỦA BÈN XẢY RA TRẠNG THÁI YÊN ỔN, NHẸ NHÀNG, THANH LƯƠNG AN LẠC: Tại sao? Đây là bằng cớ cụ thể để minh chứng cho sự dính mắc một cách keo sơn gắn bó của vọng tâm với cơ thể đã được buông lơi để đi đến có thể tách rời nhau cái thể hình như hai mà cũng hình như một. 17. TU PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ THỂ SỐNG LÂU ĐƯỢC KHÔNG? Nếu chỉ biết nhắm vào tâm thể vô niệm viên thông giải thoát là mục đích thì người đó sẽ được hưởng hết tuổi trời. Còn nếu lấy việc đi tìm cái sống lâu làm mục đích thì dù cho người đó có sống lâu 800 tuổi bất quá chỉ là thằng già chết non hay con quỷ giữ thây ma mà thôi. 18. PHÉP NÀY ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀ NGƯỜI TRẺ, LỢI ÍCH HƠN KÉM THẾ NÀO? Thực ra nếu triệt ngộ bổn tánh thì già trẻ như nhau, nếu chưa triệt ngộ bổn tánh thì tuổi trẻ còn đủ sức khỏe tinh tiến nhưng cũng kèm theo đó máu nóng vẫn còn cuộn sôi. Trái lại tuổi già cơ thể suy nhược, tinh tiến không thể như tuổi trẻ, nhưng sự đời có thể có phần nguội lạnh hơn. Nên đồng đi đỗ lại, mỗi bên đều có chỗ ưu khuyết khác nhau; nhưng một lợi một hại cũng vẫn chừng ấy. Tuy vậy nếu tuổi trẻ mà có chí quyết định xuất trần, nghiên cứu phương pháp kỹ thuật phân minh rồi mới quyết định hạ thủ công phu thì có thể vượt bực mà thành công vậy. 19. TRONG THỜI GIAN HẠ THỦ CÔNG PHU CÓ NÊN ĐỌC SÁCH NHIỀU HAY KHÔNG? Khi khối vọng tâm chưa được giải quyết dứt khoát, thì dù ta có muốn nhớ cho thật nhiều cũng khó mà nhớ có mạch lạc, hoặc tiếp xúc trình bày một câu chuyện suốt mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày liên tiếp cũng khó mà giữ cho đầu đuôi ăn nhau, trước sau mạch lạc. Hoặc muốn gạn lọc phê phán một vấn đề nào người ta đưa ra cũng khó bề đen trắng phân minh. Vì thế nên khi quyết định hạ thủ công phu, nếu còn chật vật để tâm rong ruỗi tìm tòi, nghiên cứu chạy theo bên ngoài thì càng làm cho tâm vọng khó bề ổn định. Nên khi đã quyết định hạ thủ công phu là phải ngừng hẳn mọi sự săn đuổi, thì sau khi vọng tâm đã được ổn định, có muốn học hỏi điều gì mới có đủ khả năng phán đoán chọn lọc. Đến chừng đó không cần phải nhớ thật nhiều hay quên hết, mà khi việc đến đâu đó sẽ phân minh, việc qua rồi không chứa giữ, dù mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày, hay mãn đời vẫn một niệm như một. Như thế chẳng là lý thú hơn sao?! 20. KHÔNG KỂ LÀ NGƯỜI TÔN GIÁO NÀO, TẠI SAO CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI TU THUỘC HÀNG TRÍ THỨC SUỐT MẤY CHỤC NĂM MÀ NGƯỜI NAM VẪN BỊ BỆNH MỘNG TINH THOÁT TINH, NGƯỜI NỮ VẪN BỊ BỆNH UNG THƯ TỬ CUNG? Trước kia tôi đã từng nói: Chữa bệnh tâm cũng như chữa bịnh thân, nếu không biết rõ căn cội của bịnh, cũng như pháp chữa không có kỹ thuật lẽ tất nhiên không thể không hên xui may rủi. Đây là một bằng chứng cụ thể cho thấy các vị tu sĩ này dù họ là ông cha, ông cố, giáo hoàng, hòa thượng, thượng tọa hay sư bà, sư trưởng chi chi ấy, đối với căn bịnh nơi tâm của họ, họ vẫn mù tịt, vấn đề họ hoàn toàn không nắm giữ mặc dù họ có thiện chí rất cao, nhưng đáng tiếc thay thiện chí ấy chỉ đặt trọn vào tín ngưỡng hay hên xui may rủi, chớ không có nghĩa phương pháp hay kỹ thuật trong một tinh thần gạn lọc hiểu biết. Phương chi bịnh thoát tinh và bịnh ung thư tử cung là hai thứ bịnh mắc liền giữa thân và tâm. Nếu không có phương pháp kỹ thuật tốt để tách rời vọng tâm với thân thì không thể nào không phát sinh cho được! Theo tôi, nếu là người đã trót có bịnh nặng rồi mới áp dụng phương pháp tu thì không thành vấn đề, vì không phải thuộc phạm vi câu hỏi này. Nhưng nếu là người chưa có bệnh đi tu, suốt mấy chục năm chín chắn mà còn mang lấy hai chứng bệnh này, thì đây quả là một chữ ký để bảo đảm cho ta thấy rằng không ngoài tinh thần thiếu hiểu biết, mà chỉ là tôn thờ tín ngưỡng mà thôi vậy. Nếu phân ra mà nói, thì bịnh thoát tinh có trường hợp ngủ có mơ mà thoát hay không mơ mà thoát, hoặc không ngủ ngay lúc thức cũng bị thoát. Có mơ mà thoát là bịnh hoàn toàn ở tâm thức, không mơ mà thoát là bịnh có liên đới đến ăn uống sinh hoạt. Mà như thế là bộ tiêu hóa đã bị mất quân bình phần nào do thiếu nhiệt lực. Nếu không phải trong lúc ngủ mà thoát là thuộc vào loại hoạt tinh. Trường hợp này nếu không phải bởi tâm cuồng loạn về tư dâm trải qua một thời gian từ bịnh mộng tinh đi đến không mộng mà thoát rồi mới đến hoạt tinh thì cũng phải kèm theo yếu tố ăn uống sinh hoạt chớ không thể khác. Về bệnh ung thư tử cung, người ta rất lạ lùng là đa số bệnh ung thư âm đạo của đàn bà đều thuộc trường hợp mang tính chất lạm dụng sinh lý, vì bị cọ xát nhiều cho nên kỹ nữ dễ bịnh nặng hơn. Còn bịnh ung thư ở lòng tử cung đa số xảy ra từ nữ tu sĩ hay sư nữ độc thân đến tuổi già, kỳ thực chẳng có gì lấy làm lạ. Tất cả đều bởi tác dụng tâm lý và thần kinh hệ, chịu sự kích thích trường lưu mà ra vậy. Chỉ có khác là kích thích bằng hóa học hay lý học, bằng vật chất hay bằng tinh thần mà thôi. Như thế đủ thấy muốn thoát trần, vượt vòng tục lụy mà thiếu tinh thần y đạo, và phương pháp kỹ thuật hạ thủ công phu để phân hoá tách rời vọng tậm với thân, là không thể được vậy. 21. TU PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ ĐƯỢC VÃNG SANH VỀ TỊNH ĐỘ HAY KHÔNG? Nếu câu nói: “ Tự tánh là nghĩa A DI ĐÀ, duy tâm là Tịnh Độ. Muốn thanh tịnh quốc độ trước phải thanh tịnh cái tâm, tùy theo tâm được thanh tịnh thì quốc độ được thanh tịnh là nghĩa cứu cánh”, thì tu pháp này quyết định sẽ được tịnh độ. Nếu đặt vấn đề tịnh độ ngoài tâm theo chiều hướng ngoại tít tận trời tây, thì pháp vô niệm viên thông này thuộc về pháp hướng nội so với tinh thần hướng ngoại, hai thứ trái ngược nhau, làm sao họp lại mà cùng bàn được! Vẫn biết rằng đạo vốn không có gần có xa, nhưng hướng nội và hướng ngoại hai thứ muôn trùng khác biệt. 22. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG VỚI PHÁP TỊNH ĐỘ, ĐƯỜNG NÀO THẲNG TẮT HƠN? Gốc bệnh ở chỗ nào thì nhắm vào đấy mà chữa, bịnh ở tại tâm quay vào tâm mà chữa. Đây là một định tắc đã nói từ trước, giờ đây nếu so sánh để biết thẳng tắt hay không thẳng tắt; Vậy thử hỏi bịnh ở tại tâm mà không quay hẳn theo chiều hướng nội để chữa, mà quay ra theo chiều hướng ngoại qua mười muôn ức cõi hướng mặt trời để tìm kết quả. Sự thật hai việc là thế, còn thẳng tắt hay không thẳng tắt xin nhường cho diễn đàn chung nhận xét. 23. TÔNG TỊNH ĐỘ NÓI: “NIỆM PHẬT NHỚ PHẬT TỰ ĐƯỢC TÂM KHAI” CÓ ĐÚNG KHÔNG? Cũng đúng mà cũng không đúng. Tại sao? Nếu trong lúc nhớ Phật tưởng Phật mà được tâm khai, thì tâm nào khai … mà tâm nào nhớ Phật tưởng Phật! Không lẽ vừa khép vừa mở một lúc. Còn nói niệm bằng miệng, lần chuỗi để kiếm cái tâm khai thì lại càng khép kín hơn, nên tôi nói không đúng. Nhưng nếu bởi đem hết tâm tư châm bẩm tưởng Phật nhớ Phật, sự đời không hề có đeo cứng một chỗ lâu mà không có biến hóa, đến khi quá sức mệt mỏi, tâm bỗng dưng biến hóa, cả chúng sanh và Phật cũng không còn nhớ tưởng được nữa. Đến chỗ đó cơ tâm khai xuất hiện, nên tôi nói có thể đúng! Nhưng phải đến đúng trình độ đó mới được. Phương chi nhớ với không nhớ là hai, tưởng với không tưởng là hai. Pháp Phật là pháp không hai thì làm sao có nhớ với không nhớ, tưởng với không tưởng mà được. Theo đây ta có thể nghiệm biết chủ trương niệm Phật, nhớ Phật tự được tâm khai là một chủ trương không cần phương pháp kỹ thuật hay chước mẹo, mà chỉ giáp mặt đối đầu với vọng niệm bằng cách dùng sức mạnh để thắng địch mà thôi vậy. 24. VỚI LÝ LUẬN ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH, ÔNG NGHĨ THẾ NÀO? Nếu có uế độn thì có tịnh độ là lẽ tất nhiên. Do đó uế độ là hậu qủa của nghiệp nhiễm, thì tịnh độ cũng phải là hậu quả của nghiệp tịnh. Cả nghiệp nhiễm và nghiệp tịnh cũng như cõi uế và cõi tịnh đều thuộc lãnh vực nghiệp cả. Người có đạo giải thoát phải là người không nghiệp, cho nên đới nghiệp có được vãng sanh hay không chưa phải là vấn đề quan trọng, mà chỗ quan trọng là ở chỗ có giải thoát hay không mà thôi vậy. 25. NIỆM PHẬT BẲNG MIỆNG RA TIẾNG, LẦN CHUỖI, VỚI MẶC NIỆM CỦA PHÁP NÀY KHÁC NHAU THẾ NÀO? Niệm bằng miệng ra tiếng, lần chuỗi, trong đó hàm ẩn hai ý nghĩa: một là tập trung tinh thần theo chiều hướng ngoại, hai là đồng thời bài tiết bớt những hơi độc do ăn uống sinh hoạt, do tâm tư tạo nên, để đuổi ra khỏi cơ thể đến mức bình thường của một con người hầu cho khí độc này đừng xung động lên đầu, kích thích thần kinh các bộ phận ở thân cũng như nội tạng, thúc đẩy ta rơi vào con đường của các nghiệp ác. Một người khi chưa tu mà giấc ngủ nặng nề trằn trọc, ác mộng, diễm mộng không yên, đó là triệu chứng của chất độc vừa kể trên nó kích thích. Sau khi siêng tu pháp môn này, it lâu sẽ thấy giấc ngủ yên lành, và thỉnh thoảng nằm mơ trong lĩnh vực mình tu. Đó là bẳng cớ hơi độc ấy đã bài tiết được phần nào. Đến khi tu thật lâu, thật tinh tiến, trong giấc ngủ đến chỗ không còn mơ nữa. Nhưng nếu không phải là giấc ngủ tỉnh táo thì trái lại đó là một bằng cớ ta đã lạm dụng pháp này làm cho nhiệt lực trong cơ thể xuống dưới mức bình thường, để rơi vào bầu trời của ông hỗn độn vô ký, mặc dù tạm thời cơ thể trấn an sức thúc đẩy của người khác. Còn pháp mặc niệm của vô niệm viên thông là thiền tịnh song tu, là một phương pháp, một kỹ thuật đi đến kết quả tâm thể vô niệm viên thông giải thoát, trong đó bao hàm ý nghĩa hoàn toàn hướng nội đóng bít các cửa, nuôi dưỡng năng lực, biến hóa chỗ của vọng tâm cho trở thành vô thượng bồ đề, hai pháp khác nhau một trời một vực. 26. NGƯỜI TA NÓI KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT LÀ THUỘC VỀ PHẬT PHÁP THÂN, KHÁC VỚI PHẬT BÁO THÂN XA LẮM, LÀM SAO SÁNH KỊP, NGHĨA NÀY THẾ NÀO? Ta hãy nghe Lục Tổ Huệ Năng nói về ba thân: Pháp thân là bổn tánh. Báo thân là trí tuệ giác ngộ thấy được bổn tánh. Hóa thân là y cứ trên pháp thân, báo thân mà hiển hạnh. Vậy thử hỏi có chúng sanh nào thành Phật báo thân mà bỏ qua pháp thân được không? Phương chi pháp báo hóa thân là một cách nói khác của thể tướng mà không đến thể và dụng được không? Như thế đủ biết, lìa bổn tánh đi tìm Phật báo thân là làm chuyện leo cây tìm cá vậy. 27. AI CŨNG NÓI TU THIỀN KHÓ LẮM KHÔNG CHẮC ĂN! NÊN THEO TỊNH ĐỘ CHO DỄ, NGHĨA ĐÓ THẾ NÀO? Thế nào là dễ? Thế nào là khó? Nghĩa nói dễ đây có phải là ỷ lại vào nghe trong kinh nói về nguyện lực của phật A DI ĐÀ rồi mỗi ngày niệm hơ hà mấy câu bỏ đi nằm nghỉ. Đến khi lâm chung bề nào cũng có Phật đến rước, có phải thế không? Này, ta hãy nghe trong kinh nói: Này Xá Lợi Phất, không thể dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ mà sanh về cõi nước đó. Nếu có thiện nam tín nữ nào nghe nói về Phật A DI ĐÀ bèn chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày … cho đến bảy ngày, một lòng không loạn thì người này khi sắp mạng chung có Phật A DI ĐÀ cùng các Thánh chúng hiện ở trước. Người này khi lâm chung nếu tâm không điên đảo là được vãng sanh về nước Cực Lạc … Giờ đây ta hãy xét: Đã nói không được dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ, đó là yếu tố thứ nhất. Nói chấp trì danh hiệu. “Chấp” nghĩa là cầm, “Trì” nghĩa là nắm. Nghĩa là giữ chặt lấy danh hiệu, thế tức là nắm. Niệm là thuộc về tâm. Tụng là thuộc về miệng. Đây là yếu tố thứ hai. Lại nói: Tâm chẳng điên đảo thì mới được vãng sinh. Vậy thế nào là điên đảo? Là hướng ngoại. Mà đã là hướng ngoại thì làm sao tâm chẳng điên đảo! Đây là yếu tố thứ ba. Vậy thử hỏi tại sao tiền thân của Phật A DI ĐÀ là tỳ kheo Pháp Tạng và tại sao Phật A DI ĐÀ còn gọi là “pháp giới tàng thân A DI ĐÀ PHẬT”. Như thế là lìa bổn tánh để tìm Phật A DI ĐÀ, theo pháp tụng niệm của đà hướng ngoại có thể dễ dàng gặp Phật A DI ĐÀ không? Phương chi, nếu nói tu thiền là khó thì căn cứ vào đâu? Quả thật, quả thật! Nếu không có phương pháp, không có kỹ thuật thì có thể khó như lên trời. Nếu có phương pháp có kỹ thuật, thì biết đâu sẽ dễ như hằng ngày ăn cơm bữa! Cho nên nếu người có nghiên cứu kỹ từ đầu quyển sách này, thì sẽ không còn nghi ngờ nói khó nói dễ nữa. Nên kinh có nói “Y theo văn chữ mà giải nghĩa thì Phật ba đời cũng chết hết. Nếu lìa kinh một chữ là bị lọt vào đường tà” là nghĩa thế nào? 28. KINH NÓI: “TU PHẢI TRẢI QUA BA A TĂNG TỲ KIẾP” SO VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG Ý NGHĨA RA SAO? Mỗi khi chúng ta lật kinh Phật ra đều bắt gặp bài kệ mà câu đầu là “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”. Chớ không thấy nói vô thượng thậm thâm vi diệu lý. Như thế nghĩa là sao? Có phải Phật chứng lý rồi lập pháp để cho chúng sanh nương pháp mà ngộ lý không? tại sao Phật bảo không một chúng sinh nào mà không tu? Nếu mỗi một chúng sanh đều phải tu, đang tu, và đã tu, vậy thử hỏi từ khi hiện tướng thành đạo là bao nhiêu kiếp? Nói “A tăng kỳ” nghĩa là vô lượng, Vô lượng nghĩa là không thể tính đếm. Mà đã không thể tính đếm thì một cái không thể tính đếm với ba cái không thể tính đếm khác nhau thế nào? Như thế phải chăng nghĩa tu phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp chỉ có giá trị trong phạm vi của người vận dụng pháp chớ không có giải nghĩa y theo văn chữ mà tin. Phương chi chíngh miệng Phật còn nói: muốn xét một việc gì đã qua, dù việc ấy ở trong kinh Phật cũng phải hội đủ năm điều kiện nhận xét mới không lầm, tức là Nói cái gì? Nói với ai? Nói ở đâu? Nói hồi nào? Ai nói (What, Whom, Where, When, Who). Nếu không như thế không có giá trị phán đoán. Hơn nữa nếu y vào nghĩa Phật nói, không chúng sanh nào mà không tu, thì nghĩa chữ tu này không phải chỉ để ám chỉ riêng cho một số người tu ở trong chùa mà là tất cả bò bay máy cựa, đồ tể, sát sanh, sát nhân, giặc cướp … đều tu. Thế thì nghĩa chữ tu này không thể hiểu khác hơn là nói thấy điều lợi ích trước mắt cho nó, nó nhảy bổ vào. Khi thấy tai hại nó lại dang ra, cứ kinh nghiệm chuyền níu thế mãi đến bao giờ đục nước cùng đường mới bắt đầu rơi vào chánh vị của chữ tu. Và từ rơi vào chánh vị của chữ tu mà nếu chưa phải hoàn toàn đắc pháp, thì từ đây cho đến khi nhập vào vô thượng chánh giác lại phải trải qua bao nhiêu kiếp nữa? Như thế câu nói ba a tăng kỳ kiếp này quả là một ẩn ngữ bao hàm hai nghĩa: một là đa số người tu sự thật chẳng có tu gì hết; hai là nếu theo pháp ngoài tâm hay theo xúc động thì đều là làm việc phí công vô ích hết cả. 29. THẾ NÀO LÀ NGẦM TRUYỀN PHÂN PHÓ? Trên ngôn ngữ của con người thường có hai cách nói: thứ nhất nói bằng cách giải thích kỹ lưỡng, cắt nghĩa rõ ràng làm cho người nghe chừng như không cần dùng lực cũng vẫn hiểu được vấn đề. Nhưng thực ra không có chút công cán gì cho chính mình cả, mà toàn là hiểu theo miệng người khác mà thôi. Cho nên chỉ có giá trị tài bồi thêm sự đầu tư kiến thức của bộ óc mà không thể nào có một tác động cực kỳ mạnh mẽ ảnh hưởng vào toàn thân, để chuyển hóa toàn triệt con người. Đó là ngôn ngữ của pháp thế gian, của người ngày nay mà nhất là của Tây phương. Hai là cách nói không vận dụng cắt nghĩa và giải thích mà có khi chỉ là những câu hỏi hay những câu nói, để làm bít lối cùng đường cho tinh thần sáng tác tự tuệ giác của người đương cơ bùng dậy, ảnh hưởng chấn động toàn thân, chuyên hóa toàn triệt con người để thay đổi toàn hệ cuộc sống. Thí dụ như kinh Pháp Bảo Đàn chép: Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Vậy chớ ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, chính hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa?” hoặc Lục Tổ hỏi đồ đệ: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, đố các người biết vật gì?” Thần hội nhảy ra nói: “Đó là nguồn cội của chư Phật, là tánh Phật của Thần Hội”. Liền bị Lục Tổ trách: “Ta đã nói với nhà ngươi không tên không chữ mà còn đặt tên là nguồn cội, là tánh phật, không khéo rồi sẽ là tông đồ cho bọn tri giải”. Vì thế mà Thần Hội bị hố, mà cũng vì thế mà càng ngoe của lý trí trong kẻ đương cơ bị thung mất. Từ đó Thần Hội mới được kể là một thiền sư chân chính trên con đường giải thoát. Đó là ngôn ngữ của tâm học, của thiền đạo, của giải thoát, của siêu lý, của nghịch lý, của nhất thừa tôn giáo, của giáo ngoại biệt truyền. Chỉ có thứ ngôn ngữ này mới đủ sức mạnh để nhất thời làm vỡ toang khối vọng tâm muôn thuở. Nếu chưa biết được lý này là chưa lọt vào được cửa của thiền đạo. Chỉ có người thọ lãnh được biết, có khi người bàng quang không thể biết. Ngầm truyền phân phó là vậy, chớ không có nghĩa đem vào phòng kín nói nhỏ riêng. Nếu ai có đọc kỹ kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng thì hiểu rõ. 30. THẾ NÀO GỌI LÀ CƠ PHONG: Nguyên hai chữ này có nghĩa như sau: cơ là then máy, phong là mũi nhọn. Hai chữ cơ phong dùng chung nghĩa gần có thể nói hai mũi nhọn chạm nhau đúng thì, đúng chỗ. Nhưng trong thiền học thì hai chữ này là dùng để ám chỉ cho nghệ thuật khám nghiệm người học bằng cách đối đáp mà không bao dung lần lựa suy nghĩ. Câu hỏi vừa mở miệng, đối đáp đã hiện liền tựa như bóng gương phản chiếu. Nếu có dần dà suy nghĩ là không trúng tuyển. Vì thế nên cơ phong trước đây thuộc về căn cơ siêu tuyệt chớ không còn là chuyện hạ thủ công phu nữa. Ai đã từng đọc kỹ câu đối đáp giữa Huyền Giác và Lục Tổ Huệ Năng thì rõ, và sau đây chúng tôi chép thêm nguyên văn cuộc đối đáp giữa bà Seining con một vị mục sư người Mỹ, với một vị tăng đệ tử của hòa thượng Hư Vân ở Trung Quốc gần đây như sau: Tăng hỏi: “Đại sĩ vượt biển xa xôi đến với bao nhiêu khó nhọc, vì mục đích gì”? Khách đáp: “Để cầu học Phật”. Tăng hỏi: “Học Phật phải cần được liễu sanh thoát tử. Vậy trên phần sanh tử của đại sĩ đã đến đâu rồi? Khách đáp: “Vốn không có sanh tử lấy gì để liễu thoát”. Tăng hỏi: “Đã không sanh tử hà tất phải học Phật?” Khách đáp: “Bổn lai không có Phật, học giả là Phật”. Tăng hỏi: “Phật có đủ 32 tướng, bấm ngón chân là hải ấn phát quang. Vậy đại sĩ có thể làm được không?” Khách đáp: Có thể hay không thể đều là chuyện nói chơi. Tăng hỏi: “Đại sĩ diệu giải, mỗi câu đều khế hợp. Tuy thế giống như nói ăn mà không no vậy, vậy cứu cánh phải có một câu gì để làm bằng cớ? Khách đáp: “Rốt ráo không câu, nói cũng vốn không. Nếu không như thế thì nghĩa giác tánh vốn không phải là không thể nghĩ bàn. Và đó mới là mẹ đẻ ra vạn vật. Tăng hỏi: “Việc này đã được nói rõ mỗi câu đều hợp ý Tổ. Duy còn lại một chữ “Biết” là cửa của muôn tai họa. Đại sĩ đã theo nẻo giải mà vào. Vậy dám hỏi ly ngôn tuyệt cú thì thế nào là bổn lai diện mục?” Khách đáp: “Kinh Kim Cang có nói: Vô thượng Bồ Đề tức là không vô thượng Bồ Đề”. Tăng hỏi: “Nói như thế hình như phải. Chỉ vì mạng căn chưa dứt đại khái cũng thuộc về tri kiến. Dám mong đại sĩ phát tĩnh”. Khách nói: “Tôi ít có dịp đọc kinh, trước đây có bế quan 4 năm, sau khi giải chế cùng với người mà đàm thoại. Người đều bảo tôi là thuyết pháp Phật”. Tôi nói: “Không phải từ kinh luận mà được, hình như hầu hết không thuộc tri kiến”. Tăng nói: “Chẳng từ kinh luận mà được là do tĩnh tọa, xiển phát túc tuệ. Nhưng túc tuệ cũng chẳng qua là tri kiến”. Khách hỏi trở lại: “Pháp Phật trọng thực chứng, nếu không ở tri kiến thì cứu cánh như thế nào?” Tăng đáp: “Chẳng câu nệ kinh luận, chẳng cổ chấp tánh tướng, thì chỗ nào cũng là đạo, chỗ nào cũng là giải thoát. Miễn cưỡng gọi là cái gì ấy chẳng qua cũng là quyền mà thôi”. Hai câu chuyện vừa kể trên là hai câu chuyện thuộc về cơ phong có thể dễ hiểu nhất, nên chép vào đây để tiêu biểu. 31. NGOÀI PHÁP NÀY RA CÒN PHÁP GÌ BÍ MẬT NỮA KHÔNG? Kinh Pháp Bảo Đàn chép: Khi Huệ Minh đuổi kịp Lục Tổ … Lục Tổ bảo: “Nếu ông vì pháp mà đến thì hãy ngừng dứt các duyên chớ móng sanh một niệm, giây lát tôi nói cho nghe”. Giây lâu Lục Tổ bảo: Chính ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, vậy hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa? Huệ Minh nhờ đó mà khai ngộ, rồi cũng lại bỗng dưng khuất lấp trở lại nên lại hỏi: “Ngũ Tổ còn có truyền pháp gì bí mật nữa không?” Lục Tổ đáp: Tôi đã nói cho ông nghe rồi, có gì là bí mật? Nếu ông chịu soi trở vào ông thì bí mật thuộc về phía ông chớ đâu phải phía tôi. Đấy! Chính chỗ ấy mới là bí mật. Trong thiền học có câu: Nếu ai còn theo cửa nẻo mà vào là không phải con cái của nhà này. Kinh có nói: “Phật phát tức bất định pháp! Có nghĩa là phát Phật biến hóa vô cùng không có ngưng trệ, tùy chỗ kẹt mà gỡ, tùy cơ duyên mà lập pháp. Cho nên pháp vô niệm viên thông là pháp ứng cơ đối với hiện tại, cho tất cả những người nào thuộc căn cơ không thể không theo cửa nẻo, không thể không có hạ thủ công phu. Âu cũng là việc bất đắc dĩ mà thôi!. 32. SO SÁNH PHÁP TĨNH TỌA CỦA ÔNG VIẾT KHI XƯA VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NGÀY NAY KHÁC NHAU THẾ NÀO? Phương pháp tĩnh tọa khi xưa là để ứng cơ với số người không tu được vì bịnh tật chướng ngại. Cho nên cách lập pháp có nghìêng về chú trọng nâng đỡ cho xác thân để thân dễ chuyển hóa. Còn pháp vô niệm viên thông này thì chú trọng đến căn cơ vì bị kẹt với khối vọng niệm muôn đời mà xác thân bị hệ lụy, không thể tu tập theo pháp trên được. Làm cho hành giả đạt đến tách rời vọng tâm với thân, tiến về tâm thể vô niệm rôi thân cũng được khỏi hệ lụy mà giải thoát. Nhưng nếu nhắm vào cứu cánh giải thoát mà nói thì cả hai đều cũng chỉ là phương tiện. Nhưng phương pháp tĩnh tọa cũng chỉ có một số người làm được, còn pháp vô niệm viên thông này theo tôi có lẽ ai cũng thực hành được để đạt đến kết quả. Nên mỗi bên đều có giá trị đặc biệt riêng. Nếu nhìn bên ngoài mà nói thì thấy phương pháp tĩnh tọa hình như không chú trọng mấy về tâm lý kỹ thuật, vì không mở mang hai điểm thân giác và nghi tình. Nhưng thực ra trong đó hàm súc nhiều ẩn ý để cho hành giả phải tự phát minh lấy. Vì sao thế? Vì có hai điểm khác hơn pháp vô niệm viên thông. Một là lấy việc điều khiển, theo dõi hơi thở làm tập trung, hai là lấy trụ tâm dưới rún để thay thế cho nghi tình. Hai đặc điểm này nương tựa lẫn nhau làm thành tác dụng nhiếp muôn niệm về một niệm, biến một niệm thành vô niệm. Nếu hành giả điều động được hơi thở đến mức tế nhị, và tinh thần theo dõi thực hành đúng pháp, thì đến đây bất thần bỗng rơi tõm vào cảnh giới tâm thể vô niệm. Nhưng nếu người thiếu ý thức sẽ có nhiều chỗ sơ hở. Vi khi tinh thần đã đến mức thật bén nhạy, thì cả phía nghịch lẫn phía thuận đều có thể bén nhạy. Đến đây nếu hành giả không đủ sáng suốt để tự điều động lấy mình, thì sẽ gặp ngõ cụt. Đó là chỗ phương pháp tĩnh tọa khác với vô niệm viên thông vậy. 33. GIẢ SỬ CÓ NGƯỜI NGỘ ĐƯỢC BỔN TÁNH RỒI MÀ TRONG KHI VA CHẠM VỚI SỰ VIỆC VẪN CÒN RẤT KHÓ ĐIỀU ĐỘNG ĐƯỢC MÌNH. THÍ DỤ NHƯ VA CHẠM VỚI SẮC TÌNH, HOẶC CẢNH TRÁI CHƯỚNG, NHƯ THẾ CÓ THỂ DÙNG PHÁP NÀY ĐỂ ĐIỀU CHỈNH ĐƯỢC KHÔNG? Tất cả cuộc sống đau khổ bệnh tật làm mất hẳn sức tự tại của con người, không đâu không bởi khối vọng tâm muôn thuở nó điều động. Tâm vọng là tâm đắm chấp. Nên dù người đã đốn ngộ bổn tánh mà chưa điều động nổi được mình, tức là chưa phải triệt ngộ. Vì thế nên người này ngoài việc cần có công phu hạ thủ ra, còn phải thường trực giác ngộ sâu về thân giác để vọng tâm với xác thân không còn sức cấu kết chặt chẽ nữa, thì khi va chạm mới không còn nặng nề khó điều động. 34. HIỆN NAY ĐANG CÓ KHÔNG BIẾT BAO CHỦ THUYẾT: NÀO XUẤT HỒN, NÀO VÔ VI, NÀO LUYỆN ĐAN, NÀO BÙA CHÚ, NÀO KHAI THÔNG NHÂM ĐỐC, NÀO HIỆP KHÍ, NÀO CƠ BÚT, NÀO SẤM GIẢNG, NÀO DƯỠNG SINH, NÀO DUY VẬT, NÀO DUY TÂM … V.V… LÀM CHO QUẦN CHÚNG KHÔNG CÒN BIẾT ĐÂU LÀ PHẢI TRÁI, LÀ CHÁNH TÀ. NAY MUỐN CỨU VÃN TÌNH THẾ, LÔI CUỐN CHÚNG SANH TRỞ VỀ ĐƯỜNG CHÁNH LÀM SAO CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC? Bổn tánh của chúng sanh vốn không dư không thiếu, đầy đủ cả vạn pháp kể cả pháp thuận và pháp nghịch đều có giá trị và tác dụng của nó. Cho nên nói tất cả pháp đều là pháp Phật, không độ thuận thì độ nghịch, không có pháp chúng sinh thì pháp Phật hết thành vấn đề. Không có pháp Phật thì pháp chúng sinh cũng không lấy đâu để hiện thế độ nghịch. Vạn pháp đã vốn thị hiện, dòng đời đang lúc đổ dốc, thế mê của chúng sinh nếu không có pháp phản tá, bỗng dưng muốn theo hạnh thuận mà kéo lại theo thế ngược dòng, chắc chắn sẽ hoài công vô ích! Sao bằng cứ để tùy sở thích tha hồ mà đổ dốc, kiến bò miệng chén có mất đi đâu. Việc chúng sinh, chúng sinh cứ làm, việc của Phật, Phật cứ nói! Đến lúc đã thèm theo thế chúng sanh rồi trở về với Phật. Cho nên hai pháp vốn nương nhau mà tồn tại, thị hiện để độ rỗi chúng sanh, tuy thấy trái ngược nhau nhưng kỳ thực là giúp nhau. Vì thế nên pháp Phật vốn thường hằng và liên tục không hề gián đoạn. Nếu thế gian này tất cả đều như ý, không có chướng ngại, vị tất là hay! Nên nếu thiếu pháp chúng sinh thì pháp Phật không có giá trị. Pháp chúng sinh càng ngặt nghèo thì pháp Phật càng mầu nhiệm. Người ta nói: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, vậy tại sao không thể “Ma cao một thước, đạo cao một trượng”. Cũng như nói “Thầy hay, gặp quẻ mắc”. Vậy tại sao không nói: “Không có quẻ mắc, khó có thầy hay”. Cho nên hai pháp phải nương tựa lẫn nhau mà hiển dụng. Người ta đều than vãn đời mạt pháp pháp tà thuyết bạo hành, nhưng riêng tôi, tôi nói: “Tâm chúng sinh đang hồi nguy ngập nên pháp Phật siêu tuyệt không thể lường. Chỉ có người căn cơ nhỏ hẹp mới băn khoăn than vãn”. 35. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG CÓ ĐIỀU GÌ CẤM KỴ KHÔNG? Có, có cấm kỵ. Vì sao? Từ xưa đến nay trâu tìm về trâu, ngựa chạy theo ngựa, bợm nhậu về với rượu, bợm hút về với á phiện, kẻ muốn giải thoát phải về với pháp giải thoát. Nếu thiếu hiểu biết, thiếu lòng thành, hay dùng ý riêng ghép bừa làm bậy thì sẽ gặp thất bại sa đọa. Đủ hiểu biết, đủ lòng thành, có chí xuất trần, thực hành chính xác thì bảo đảm hoàn toàn thành công. Ta cứ để tha hồ cho thiên nhiên gạn lọc. Nên chính chỗ hữu ý cầu toàn mới đích là điều cấm kỵ. 36. CÓ TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHÁT ĐỘNG MỐI NGHI TÌNH THÌ SAO? Vì không biết rõ vọng tâm mắc liền với xác thân nguy hiểm như thế nào, nên vấn đề thân giác không ảnh hưởng sâu vào tâm não. Do đó nghi tình khó phát khởi, nếu có nghiên cứu kỹ, biết rõ thì không còn khó khăn nữa. 37. ĐỐI VỚI KHỐI VỌNG TÂM MUÔN THUỞ, NGOÀI CÁCH ÁP DỤNG PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG ĐỂ HẠ THỦ CÔNG PHU RA, CÒN CÓ PHÁP NÀO HAY HƠN NỮA KHÔNG? Thật ra dùng pháp vô niệm viên thông để hạ thủ công phu vẫn chỉ là pháp thứ hai, tại sao? Sở dĩ có ra khối vọng tâm muôn thuở là tại cái thấy mê lầm buổi đầu của chúng sanh chỉ lục đục quanh quẩn theo lợi hại bổn thân, lấy cái Tôi làm trụ cột nên càng ngày càng bẩn chật khó khăn, mất hẳn tầm mắt thấy xa nhìn rộng, làm cho khối vọng tâm càng thêm sức mạnh. Nếu ai có đủ tầm mắt thấy xa nhìn rộng đúng sự thật, thì khối vọng tâm không còn hiệu lực nữa. Bởi vậy Ngũ Tổ nói với các đồ đệ rằng: “Các ngươi suốt ngày chỉ lo cúng bái làm phước. Đến giờ phút chót, bổn tánh nếu mê thì phước nào cứu được”. Hay như có người hỏi Bồ Đề Đạt Ma: “Đồ tể còn nghiệp sát sanh, cư sĩ còn vợ con dâm dục thì làm sao thành Phật được?”. Đáp: “Đây không bàn đến vợ con dâm dục hay đồ tể sát sanh, mà chỉ nhắm vào thấy tánh. Một khi thấy được bổn tánh rồi, nghiệp dâm nghiệp sát tự rỗng lặng”. Cũng vì thế mà Lục Tổ Huệ Năng đến với Ngũ Tổ một cách hết sức tự nhiên với một bài kệ họa vận với bài kệ của Thần Tú: Bồ Đề vốn không phải cội Gương sáng cũng không phải đài Bổn lai không một vật Lấy gì bám trần ai Thế là được trúng tuyển! Ý nghĩa này đã nói qua ở câu chuyện con quạ ở trên chiếc thuyền ra biển, ai có đọc kỹ thì rõ. Bởi vậy nếu có một cách nhìn thật sâu rộng nhẹ nhàng thì tự nhiên vọng tâm không còn thành vấn đề nữa. Chỉ vì không có được cách nhìn như thế, nên bất đắc dĩ phải dùng pháp thứ hai. - Có ai ngờ, hồi Mậu Thân có một cậu trai con một của một bà lão bị tử nạn, khi qua cơn khói lửa, có nhiều người đến thăm hỏi chia buồn, bà có nói một câu: “Nếu không ai chết chắc tôi sẽ chết theo con tôi, nhưng khi thấy người ta chết nhiều quá bỗng dưng vấn đề con tôi chết hết thành vấn đề trong tâm tôi nữa!” Ôi! Nếu không có điều kiện thấy suốt nhìn khắp, mà cũng không thực hành được pháp thứ hai thì chỉ còn chờ pháp độ nghịch theo kiều bà lão nói trên mà thôi vậy! - Có ai ngờ một vi hòa thượng rất tốt, chỉ vì nuôi nhiều đệ tử nữ, cộng thêm cách ăn nhiều dầu, thích uống nước đá lạnh theo bữa ăn mà trở nên bịnh áp huyết lên cao không trị được. - Có ai ngờ chỉ vì một bức hình thiếu nữ lõa thể quảng cáo trước rạp hát, mà một số thanh niên tạm thời huyết áp vọt lên. - Có ai ngờ một vi tu sĩ xuất gia từ bé cho đến tuổi già mà không trị được chứng mộng tinh, đến nỗi phải đoạn âm và tuyệt thực để cho vãng sanh về nước cực lạc cho dễ tu. - Có ai ngờ một ni trưởng xuất gia từ thuở bé, tu đến ngoài 50 tuổi mà phải mang lấy bịnh ung thư tử cung rồi chết. - Có ai ngờ vị hòa thượng tánh tình rất tốt, xuất gia từ nhỏ thực hành bao nhiêu hạnh khó như tụng một chữ lạy một lạy, chích lấy máu viết kinh, ngồi hoài không nằm, ráng thức không ngủ … thế mà phải kẹt một bào thai con rơi đến phải chuyển sang xứ khác. - Có ai ngờ chỉ vì một ly nước đá lạnh mà biến hóa một vị thiền sư thành một khối mỡ cười nói không phân minh. - Có ai ngờ cả hệ thống thiền tông nước Nhật chỉ vì không biết chứng ngủ gục nguyên do từ đâu mà phải chế ra cái ghế ngồi thiền. - Có ai ngờ từ củ khoai lang sang chứng dư nước chua bao tử đến một tâm lý lừng khừng không quyết định, trệ theo tình cảm, vốn có một hệ thống tương quan chặt chẽ. - Có ai ngờ từ ly nước đá lạnh với chứng có sạn trong thận vẫn có một hệ thống tiến hóa của nó. Thế mới biết: Trong thế kỷ địa cầu đang hồi xuống dốc (kiếp giảm), khoa học kỹ thuật tiến đến năm châu họp chợ, thì dù con người có muốn tín ngưỡng hay đi theo một đường lối nào, đó là quyền của con người. Nhưng nếu lìa tay thước hướng nội của Y đạo mà đi tìm sự giải thoát, thì quyết định càng cầu toàn càng bị tổn thương, không thể không gặp hên xui may rủi. Hết thảy chúng sinh sở dĩ mải mê không giải thoát được là tại không biết rõ toàn bộ của mê là gì. Nay đã được trình bày nói toạc ra một cách rõ ràng minh bạch, tác giả hy vọng sẽ có người đọc một cách say sưa, lý thú. Khi được thấy suốt rồi lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi cần cù phí sức, như thế chẳng sướng hơn sao?! * * * Vừa viết xong, định dừng bút, lại có khách hỏi: Trường hợp người khi ngồi lại, trong lòng chẳng thấy có bàn soạn thì thào, nhưng mỗi khi xúc cảnh lâm tình, hoặc với khác phái, hoặc những biến cố đột ngột, thường không khỏi biển lòng sóng dậy. Vậy thì làm sao có thể hoàn toàn chủ động vấn đề? Vì muốn có chủ nên mới có khách. Nếu trong lòng ta không có vấn đề khác phái, thì khác phái bên ngoài phỏng có linh thiêng nữa không? Mọi biến cố đột ngột cũng không ngoài nghĩa lý ấy. Không những thế thôi, cho đến tửu sắc tài khí cũng không thể khác. Nếu quả thiệt biết ghiền là cái gì, á phiện là cái gì thì tự nhiên á phiện sẽ rớt ra. Cho nên điều quan hệ độc đáo là có thấu suốt vấn đề hay không, còn áp dụng cách này hay cách khác, pháp nọ hay pháp kia chẳng qua cũng chỉ là pháp thứ hai. Bên bến đò Rạch Miễu có một người ngồi bên vệ đường với một ván cờ, một cọc tiền để khiêu khích khách qua lại. Đã biết bao người qua đường đến đây trút hết ruột ngựa. Có một ông già tướng trông thật cùi đài đi đến, thấy thế liền móc túi lấy tiền đặt ván. Chủ nhường khách đi trước, khách mới đặt tay xuống con cờ, chủ lập tức đỡ tay và móc túi lấy 5 đồng tạ khách và xin lỗi ông ta để được làm ăn. Đối phó với tất cả những biến cố của vọng tâm một cách có kỹ thuật cũng tương tự như vậy. Nếu ai có đọc suốt tận từ lúc đầu, và vấn đề được thông qua 1 cách chính chắn thì lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi phải hao công phí sức. Nhưng giả sử không được như thế mà trong tâm còn được thường xuyên thấm nhuần công cụ thân giác và nghi tình thì sóng lòng muôn mặt cũng vẫn hóa giải được nhẹ nhàng. Nếu không như thế dù có nói bao nhiêu nữa cũng chẳng qua vẽ rắn thêm chân mà thôi. Hết Phần 4. PHỤ LỤC TẠI SAO PHẢI ĐƯA VẤN ĐỀ Y ĐẠO LÊN HÀNG ĐẦU CUỘC SỐNG NGÀY NAY Thế giới này đã đến hồi xuống dốc, vận thế vận tốc của địa cầu đã lệch lạc bất thường, hầu hết tâm lý loài người đều lâm vào tình trạng sợ hãi hoang mang, khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến một trình độ năm châu họp chợ, và khoa học kỹ thuật tinh thần bị xem thường, làm cho cuộc sống mất hẳn thế thăng bằng, trời đất lệch lạc đảo lộn, cái cực kỳ văn minh vật chất của loài người bề ngoài trông vẫn lộng lẫy xa hoa, nhưng kỳ thực chỉ là một thứ cực kỳ sa đọa mà vẫn mang nhãn hiệu văn minh, tựa như một kỹ nữ kinh thành. Thế sụp đổ này thật là vô cùng tế nhị, sụp đổ ngay tận đáy lòng của mỗi con người, ra đến văn hóa giáo dục, triết học, y khoa, tôn giáo, đạo đức, chính trị, kinh tế, khoa học, chuyên môn, v.v… cho đến ngọn rau cọng cỏ, vị thuốc, chén cơm, manh quần, tấm áo, nước uống, thức ăn, rượu trà, cà phê, thuốc lá, tôm cá, cỏ cây, … không một mảy may nào mà không lâm vào tình trạng điên đảo lộn mèo, trái chướng hẳn với trật tự thiên nhiên. Nếu ai đã từng hiểu rõ thế nào là nghĩa y đạo thì vấn đề đặt ra cũng không thành nữa. Tại sao? Vì tất cả những văn minh cuộc bộ của toàn thể loài người để lại từ xưa đều bị thế cộng nghiệp của khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ phá hủy một cách kỹ lưỡng vô cùng. Vì thế mà thuốc chữa dù có hay đến đâu, nếu đã mang màu sắc cuộc bộ thì đã là một chướng ngại đầu tiên rồi. Phương chi tất cả những liều thuốc cuộc bộ đều xuất phát từ cái nhìn theo một bệnh chứng cuộc bộ, nên đối với một thứ bệnh ung thư tổng thể không sao có một hiệu lực vẹn toàn. Chỉ có cách nhìn của Y đạo suốt từ bao la vô tận vào đến từng biến cố tâm lý cá nhân, khắp xã hội loài người, suốt muôn trùng vạn hữu, thông qua mảy mún tế vi đến tận ăn uống sinh hoạt, bệnh tật thời tiết, thọ bẩm tâm tư, kỹ nghệ máy móc, không đâu không nhiếp khắp. Tất cả đều có một thế trật tự tương quan quân bình, biến hóa lưu thông tổng thể đồng nhất. Có được một cách nhìn suốt khắp, một cách khám bệnh trọn vẹn như thế, mới có đủ tư cách sáng suốt áp dụng những liều thuốc không màu sắc, đúng chỗ đúng thì, mới mong có thể chữa được một thứ bệnh ung thư tổng thể. Từ chữa trị cho guồng máy tâm thức, đến chỉnh đốn lại toàn bộ cuộc sống hằng ngày, dẫu một mảy may cũng không thể bỏ qua sơ sót. Cho nên đường hướng của Y đạo trước hết đối với khắp cõi các hiện tượng trật tự thiên nhiên, toàn bộ nguyên lý luật tắc phải được nắm vững. Rồi từ đó tuần tự nhi tiến, tùy thuộc vào việc đáng làm trước đáng làm sau, để rồi dù từ đời này sang đời nọ đến đời kia, bất cứ dân tộc nào cũng đều có thể y cứ trên bản đồ căn bản, tùy tiện mà góp công góp sức, muôn người như một. Có như thế mới có một việc làm nhất trí muôn đời, thì mới mong cứu vãn tình thế chôn vùi sụp đổ toàn diện. Ví như có một người có cả một kho tàng những bộ phận khắp trong guồng máy xay lúa, xếp đặt một cách ngổn ngang không trật tự, chủ nhà không biết dùng vào đâu, chỉ chực đem bán cho những nhà mua sắt vụn. Rồi một hôm bỗng có một kỹ sư chuyên gia cơ khí biết được đến mua mão đem về cho phân loại ra thành trật tự, rồi ráp lại thành guồng máy đồ sộ có quy củ đem ra áp dụng rồi từ đó con cháu cứ theo bản đồ đã hoạch định mà tiếp tục phát triển thêm làm cho ngành máy xay lúa ngày càng phồn thịnh. Trách nhiệm của thánh hiền muôn thuở trong y đạo phải chăng cũng tương tợ như vậy?! Muốn có một nhân sinh quan cho thỏa đáng thì nhân sinh quan ấy phải thật ứng hợp với trật tự thiên nhiên. Thế là muốn có một nhân sinh quan cho thỏa đáng tất trước phải có một vũ trụ quan thật là chính xác. Muốn có một vũ trụ quan cho chính xác thì phải có một tầm mắt thật là quang minh sáng suốt, muốn có một tầm mắt quang minh sáng suốt thì phải có một guồng máy hiểu biết không bị kẹp vào lưới mê. Đây là điều kiện để cho phép vô niệm viên thông có cơ mở lối. Vì sao thế? Vì tất cả các thánh hiền trong muôn thuở, trước khi muốn kiến thiết một pháp gì cho cuộc sống đều lấy tâm thể vô niệm là nền tảng. Vì thế nên dịch học mới có câu: “Lành dữ khổ vui đều bởi động, chẳng động là to nhất”. Vừa mở kho tàng nội kinh ra là đã thấy ngay câu: “Điềm đạm rỗng rang, khí chơn nguyên được thuận, bên trong tinh thần vững thì bệnh do đâu mà đến?” Như thế không phải là tâm thể vô niệm đó sao?! Đến như Khổng Tử nói TU TỀ TRỊ BÌNH, NÓI MINH MINH ĐỨC, NÓI TÂN DÂN. Mạnh Tử nói: “Cái đạo học vốn chả có gì, chỉ là tìm lại cái phóng tâm mà thôi”. Còn nhà Phật thì khỏi phải nói. Thế mới biết, nếu không từ một tâm thể vô niệm, chứng suốt bổn tánh, nhìn khắp bao la, thâm nhập tâm cơ để mở ra tất cả mọi ngành như văn hóa, giáo dục, triết học, y khoa, chính trị, kinh tế, âm nhạc, hội họa, thiên văn, địa lý, toán số, kỹ nghệ …. để kiến thiết lại cuộc đời thì việc đưa đường cho loài người đi tìm hạnh phúc rốt rồi chẳng qua kết qủa cũng một cách phũ phàng vô cùng khốc liệt, như cái học trong nguyên tử khoa học kỹ thuật vật chất mà thôi. Thế mới biết trong thời kỳ nguyên kiếp giảm, nếu lìa y đạo, loài người săn đuổi ra ngoài theo vật chất, theo tướng để tìm hạnh phúc, thì quyết định chẳng qua cũng là một thứ leo cây tìm cá, và tâm thể vô niệm quyết định không phải của riêng ai, mà phải là ngưỡng của để nhân loại bước vào Y đạo. Và từ đây chúng tôi hy vọng rằng tất cả loài người nếu muốn xây dựng lại cuộc sống yên lành thì quyết định phải tìm về Y đạo, phải theo đường hướng học thuật “Tam Duy” (duy như, duy sinh, duy y). Và phải tận lực khai thác kho tàng nguyên lý luật tắc của Nội Kinh một cách tuần tự nhi tiến, thì ngày mai may ra mới có áng sáng. Mong rằng tất cả các giới lãnh đạo khoa học vật chất cũng như khoa học tinh thần hãy nên trầm tư phát tĩnh!. SIÊU TRẦN TOÁT YẾU 1. BỔN TÁNH: Bổn tánh vốn không hai, Không phải không cũng không phải có, Không phải một cũng không phải nhiều, Không phải tâm cũng không phải vật, Không phải tướng cũng không phải tánh, Bình đẳng vốn như như 2. VẠN PHÁP: Vạn pháp vốn như huyễn Như gió thổi, như mây bay, Như tiếng vang, như điện chớp, Tất cả đều tổ hợp Tất cả đều vô thường, Vốn sanh diệt bất tề, Thân này cũng một pháp Nên nó cũng như vậy. 3. TRƯỜNG ĐỜI: Đời là trường thi lớn, Thi thuận lại thi nghịch, Cùng chướng ngại lẫn nhau, Để cùng nhau giải thoát Chướng ngại lớn giải thoát sâu, Không chướng ngại không giải thoát, Bổn lai không thuận nghịch, Chỉ có tâm sáng mê, Biết rõ được điều này, Mới có cơ giải thoát. 4. THÂN GIÁC: Tấm thân là vật chất, Vốn tổ hợp vô thường, Nguyên lai không hay biết, Không thể có nhiễm tịnh, Không thể có phân biệt, Cũng không tham sân si, Không đam mê dục lạc, Vốn tuyệt đối tĩnh chi, Tùy duyên mà biến khác, Duyên mê thành trói buộc, Duyên ngộ thành giải thoát, Có thân chưa phải lụy, Lụy tại chỗ có biết, Nếu đặt sâu thân giác, Nhất thời thành giải thoát. 5. VỌNG TÂM: Tâm vọng có bốn phần Nhìn qua thấy hai nhóm, Mặc dù trong yên lặng, Vẫn bàn soạn lao xao, Hoặc khi cười khi nói, Không chịu sự kềm chế, Đó là phần quá khứ, Hiện tại cũng theo duyên, Mà không thể tự chủ, Tâm vọng tựa nước biển, Khi gặp cơn bão tố, Sóng cuộn nổi ba đào, Gió yên sóng tự lặng, Mặt biển vốn là nước, Chơn vọng vốn không hai, Biến hóa thành phân biệt. 6. CHƠN TÂM BỔN TÁNH: Muốn phát hiện chơn tâm, Cùng mặt thật bổn tánh, Phải quét sạch vọng niệm, Cho tâm thể bình thường, Trả về với phẳng lặng, Trong suốt tựa như gương, Mới viên thành giải thoát. 7. THOÁT TRẦN THẲNG TẮT: Muốn lên bờ đại giác, Phải rõ suốt trước sau, Phải thấm nhuần thân giác, Chỉ vì thiếu thân giác, Tâm vọng bám lấy thân, Mà trở thành trói buộc, Muốn cởi mở dính mắc, Cho thân khỏi vọng tâm, Để thoát vòng trói buộc, Gấp nổi dậy nghi tình, Dựa vào điều thân giác, Lập tức bị rẽ phân, Tâm vọng liền hóa thoát, Trọn vẹn cả trước sau, Là nơi vào chánh giác.
VÔ TỰ KINH - Tu đi, chết lên niết bàn. - Sống còn không lên được huống hồ là chết! - Chết là chết cái tôi ngã mạn. Còn sống là lẽ đương nhiên của cái tự nhiên biết. - Thật không?! - Nghi ngờ cả kinh điển của cổ đức sao? - Kinh sách đều do con người viết ra, mà niết bàn là nơi chẳng có con người. - Kinh vô tự chẳng do tâm trí con người viết ra. Còn niết bàn là nơi chẳng còn gì nhưng cái gì cũng từ đây hiển thị. - Thế nào là kinh vô tự? - Chư Phật hộ niệm sở thuyết kinh. - Có người hộ có người niệm là còn tâm trí nhị nguyên chưa phải rốt ráo? - Hộ niệm thật sự thì không có người hộ cũng chẳng có người niệm. Bởi có người hộ có người niệm thì thuộc về đa thần giáo chẳng phải Phật đạo. - Làm sao thể nhập cái " vô tự kinh" này? - Không có hành động thể nhập khắc tự thể nhập. - Thế là tự nhiên sao? - Không phải vậy! Thanh tịnh thân tâm thì tiến dần đến cái yên lặng cùng cực. Đến cùng cực rồi mà chẳng cố ý dừng thì lọt vào chỗ tinh túy trung tâm của vạn pháp gọi là "pháp hoa". Khi ấy hương sắc của đoá hoa thanh tịnh ấy tự hiển thị gọi là "hộ niệm". - Xin cho một thí dụ? - Mùa hạ về, đầm sen nở hoa! . . .Trong cái hoa này có cái nồng ấm của nắng mới, có cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời lộng gió, có cái mát mẻ của cơm mưa rào đầu mùa, có tiếng cười trẻ thơ, có tiếng chuông chùa ngân nga trong ấy! . . . Ông không thấy sao? Nếu có mầm sen thì hạ về hoa khắc tự nở! . . .hộ niệm là vậy! . . .sở thuyết kinh là vậy! . . . - Mô Phật! . . . - Xin mời dùng trà sen! . . . - Xin cảm ơn ông về buổi nói chuyện hôm nay - Mô Phật! Tôi tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy. Xin ông hỏi các vị thiện tri thức rồi bảo cho tôi biết với! . .
VŨ ĐIỆU CỦA ĐẠI VŨ TRỤ Thế nào là Dưỡng Sinh? Dưỡng Sinh là phương pháp đem lại sức khoẻ về thể xác và tinh thần, giúp người hành công đạt chân hạnh phúc trong cuộc sống qua “cái thấy như thị” và hành động “thuận tự nhiên” thích ứng tình huống. a, Đối với hiện tượng giới: Khái niệm này bao gồm: * Ăn uống, tập luyện, nghỉ ngơi, thư giãn, an thần giải toả stress, thanh tịnh thân tâm, làm chủ ý nghĩ và tình cảm, sống chánh niệm và tỉnh giác, phá bỏ ngã chấp hoà hợp cái Một với cái Toàn Diện. * Nó cũng bao gồm các phương pháp luyện tập có năng lượng hoặc không có năng lượng, Tịnh ngoài Động trong, Động ngoài Tịnh trong và vượt trên Động Tịnh. * Nó phối hợp giữa vận động cơ bắp, hơi thở, năng lượng Khí và kỹ thuật nhận biết tỉnh giác. * Nó thăng hoa ý thức, chuyển hoá vô thức, và trực nhập siêu thức, giao hoà năng lượng nhỏ bé của mình với năng lượng huyền diệu của Đại Vũ Trụ. * Do tác dụng tăng cường sức khoẻ, và dụng ý điều khí điều trị bệnh. Nó còn có thể xem như là siêu thể dục hoặc phương pháp trị bệnh không dùng thuốc. b/ Đối với bản thể: Không có hành động dưỡng tức là dưỡng, thuận theo vận hành tự nhiên của trời đất là “Dưỡng”. Không có hành động sinh, không có sự sinh tức là sinh, như thị tức “Sinh”. Như vậy, động bên ngoài là để thích ứng với tình huống nhưng không mất cái tịnh bên trong. Trên nền tảng cái tịnh và sự nhận biết tỉnh giác mà hoạt động tự xuất hiện. Nên gọi là tri hành hợp nhất. Không có người tập dưỡng sinh, chỉ có trời đất biểu hiện qua cái yên lặng rỗng không mà thành. Quay về nguồn cội thì trôi theo dòng của Dịch. Yên lặng chiếu sáng thì vũ điệu của Đại Vũ Trụ tự phát sinh. Dưỡng sinh là như vậy !. . như vậy ! . . . •
Vua TẦN BÀ SA LA Trích trong MƯỜI VỊ ĐỆ TỬ LỚN CỦA PHẬT – Phần Phụ Lục Vua Tần Bà Sa La (cũng gọi là Bình Sa) trị vì vương quốc Ma Kiệt Đà, đóng đô tại thành Vương Xá. Kinh đô này trước kia đã bị một cơn hỏa hoạn lớn tàn phá, và chính nhà vua đã xây dựng lại hoàn toàn mới mẻ. Vua có hoàng hậu là Vi Đề Hi (Vaidehi - Videhi), sinh được một con trai là thái tử A Xà Thế. Cả vua và hoàng hậu đều sùng kính và tin Phật một cách sâu sắc, và là những đệ tử tại gia đầu tiên của Phật trong hàng vua chúa. Khi còn là là thái tử, nhà vua đã từng có người yêu là Am Bà Bà Lị (Amrapali - Ambapali), một ca nữ nhan sắc, tiếng tăm lừng lẫy ở thành Tì Xá Li (Vaisali - Vesali). Bà sinh một con trai với nhà vua, đó là y sĩ Kì Bà (Jivaka). Dù là một ca nhi, nhưng bà đã không chịu trình diễn ở những nơi chốn tạp nhạp, mà chỉ trình diễn ở những nhạc hội trong cung đình, ở dinh thự của các hàng thân quốc thích, hoặc trưởng giả quí tộc. Tuy vậy, khi nhà vua lên ngôi, triều đình không muốn nhà vua có một bà phi là ca nhi, nên bà và hoàng tử Kì Bà đã không được công nhận, và cũng không được nhập cung. Nhà vua phải xây cất phủ riêng ở Tì Xá Li cho hai mẹ con ở, và chu cấp đầy đủ mọi thứ để hai mẹ con có được một cuộc sống sung túc của một nhà quí tộc. Cả hai mẹ con về sau đều qui y Phật, trở thành những đệ tử thuần thành của Ngài. Bà đã cúng dường khu vườn xoài to lớn của bà ở thành phố Tí Xá Li cho Phật và giáo đoàn để làm nơi hành đạo. Khi ni sư Kiều Đàm Di vừa thành lập ni đoàn, bà đã để cho ni chúng tạm trú trong khu vườn xoài này trong khi chờ đợi xây dựng ni viện, còn Kì Bà thì vừa là ngự y của vua, vừa là y sĩ thường trực chăm lo sức khỏe cho Phật và tăng chúng ở Trúc Lâm và Linh Thứu. Ông cư trú trong một khu vườn xoài ở gần núi Linh Thứu để tiện hầu Phật và chư tăng. Về sau cả hai mẹ con đều được Phật chấp thuận cho xuất gia. Vua cũng có một bà quí phi là Sấm Ma (Khema), vừa nhan sắc lại vừa thông minh, nên tính tình rất tự cao. Từ khi được nghe giáo pháp và qui y làm đệ tử tại gia của Phật thì bà dần tỉnh ngộ, tâm tính chuyển hóa, trở thành một người khiêm cung, hiền thục. Sau khi ni đoàn được thành lập, bà xin xuất gia, tu học tinh chuyên, chứng quả A la hán, trở nên một nhân vật quan trọng trong hàng lãnh đạo ni chúng. Sau khi ni trưởng Kiều Đàm Di viên tịch, bà đã được Phật cử làm ni trưởng để hướng dẫn ni chúng. Nhà vua lên ngôi năm mười lăm tuổi, và được gặp Phật lần đầu tiên năm hai mươi lăm tuổi. Hồi đó đức Phật đang là một vị sa môn trên đường tìm thầy học đạo - và thường được gọi là sa môn Cồ Đàm. Sau khi tìm đến vùng ngoại ô phía Bắc thành Tì Xá Li để theo học với đạo sĩ A La Lam (Arada Kalama - Alara Kalama), và không thấy thỏa mãn, sa môn Cồ Đàm đã xin từ tạ thầy ra đi, quyết tìm cho được một vị chân sư có thể chỉ dạy cho con đường giải thoát sinh tử. Ngài đi vào nội địa nước Ma Kiệt Đà, tìm đến nhiều đạo tràng khác nhau, nhưng không nơi nào giúp được ước nguyện của Ngài. Ngài đi lần đến một ngọn đồi ở gần thành Vương Xá, và ẩn cư tại đó. Một hôm, Ngài ôm bát đi vào thành khất thực. Tình cờ xa giá vua Tần Bà Sa La đi ngang qua. Thấy tướng mạo đoan nghiêm và dáng vẻ khoan thai khác thường của vị sa môn, ông cho dừng xe lại để quan sát. Sau đó, ông lại cho người lén theo Ngài về đến nơi ẩn cư cho biết chỗ. Hôm sau, ông đích thân lên tới nơi để thăm hỏi Ngài. Vừa gặp Ngài là ông sinh lòng kính phục và cảm mến ngay. Ông tự giới thiệu mình là quốc vương nước Ma Kiệt Đà. Qua mấy lời chào hỏi, nhà vua đã thỉnh Ngài về hoàng cung ở để dạy dỗ, nhưng Ngài đã khéo léo từ chối, và nói cho ông biết chí hướng thật sự của Ngài. Ngài cũng nói rõ về gia thế của Ngài. Sau khi hiểu rõ thân thế và lí tưởng cao cả của Ngài, ông lại khâm phục và mến mộ; tự coi mình như đã là đệ tử của Ngài. Ông cầu khẩn, nếu sau này thành tựu được đạo giải thoát, xin Ngài nhớ trở lại chỉ dạy cho ông. Ngài hứa khả. Sau buổi gặp gỡ hữu duyên đó, sa môn Cồ Đàm đã rời chỗ ẩn cư để tiếp tục con đường tìm đạo, và vua Tần Bà Sa La đã gặp Phật trở lại vào năm ông được ba mươi mốt tuổi; lúc đó Ngài đã thành tựu đạo quả giác ngộ. Sau khi thành đạo, đức Phật đã đi đến vườn Nai (Mrgadava - Migadava) ở gần thành Ba La Nại (Varanasi - Baranasi), nước Ca Thi (Kasi), chuyển bánh xe pháp lần đầu tiên, hóa độ nhóm năm vị sa môn Kiều Trần Như, và ngự ở đó gần một năm. Sau đó Ngài đi lần hồi về kinh thành Vương Xá để thực hiện lời hứa năm xưa với vua Tần Bà Sa La. Khi vừa biết tin đức Phật đã về đến kinh thành, và đang cùng chúng tăng cư trú tạm trong một khu rừng ở phía Nam thành phố, vua Tần Bà Sa La liền dẫn hoàng hậu, thái tử, cùng các quan văn võ và hàng trăm đạo sĩ Bà la môn, đến tận khu rừng để yết kiến Phật. Sau khi được nghe Phật thuyết pháp, tâm tư nhà vua bừng sáng, bao nhiêu nghi nan chất chứa trong lòng bấy lâu, nay đều được giải tỏa. Vua sụp lạy Phật và thưa rằng: - Bạch Thế Tôn! Thuở nhỏ trẫm có năm điều ước nguyện. Thứ nhất là được lên ngôi vua; thứ hai là được gặp một thầy giác ngộ; thứ ba là có duyên may được kính ngưỡng vị giác ngộ ấy, thứ tư là được vị giác ngộ ấy dạy cho con đường chân chính; thứ năm là mình có đủ khả năng lãnh hội được giáo pháp do vị giác ngộ ấy chỉ dạy. Bạch Thế Tôn! Đến hôm nay thì cả năm điều ước nguyện ấy đều được thành tựu. Trẫm đã lãnh hội được giáo lý mà Ngài vừa dạy. Xin Thế Tôn thương xót nhận cho trẫm được làm đệ tử tại gia của Ngài! Đức Phật hoan hỉ chấp thuận. Nhà vua thỉnh Phật và hàng ngàn tăng chúng tháp tùng Ngài, sau đó vào hoàng cung để thọ lễ trai tăng do đích thân vua và hoàng hậu cúng dường. Có cả sáu ngàn tân khách đã được nhà vua mời đến cùng tham dự lễ. Sau lễ trai tăng, Phật thuyết pháp trước tất cả mọi người trong hoàng cung và tân khách. Để cảm tạ ân sâu của Phật, nhà vua đã cúng dường khu rừng trúc ở ngoại ô phía Bắc kinh thành để Phật và giáo đoàn làm cơ sở đạo tràng cố định. Một ngôi tu viện bề thế, qui củ, rộng rãi đầu tiên của giáo đoàn đã được xây dựng tại đây, và được đặt tên là Trúc Lâm. Tu viện xây xong thì vừa đến mùa mưa; nhân đó, chính tại tu viện này, đức Phật đã chính thức thiết lập truyền thống an cư hàng năm cho giáo đoàn. Đó là năm thứ hai sau ngày thành đạo; và cũng là mùa an cư thứ nhì của đức Phật. Nhà vua rất siêng đến Trúc Lâm thăm Phật và nghe pháp, và đã xây tại tu viện một giảng đường có thể chứa hơn hai ngàn người ngồi nghe pháp. Gần khu rừng trúc này có một ngọn núi tên là Linh Thứu, nằm về hướng Đông Bắc của kinh thành, sau đó cũng trở thành một đạo tràng rất quan trọng của Phật. Trên đỉnh núi có pháp đàn, có tịnh thất của Phật, có thạch động của quí vị đệ tử của Phật. Mỗi khi có Phật về ngự trên núi, vua Tần Bà Sa La đều lên núi thăm Phật và nghe pháp. Nhà vua đã cho xây mấy trăm bậc cấp bằng đá, làm thành một con đường kéo dài từ chân núi lên đến tịnh thất của Phật. Đức Phật thường vân du khắp mọi nơi để bố giáo, không cư trú lâu dài tại một địa phương nào. Bởi vậy để tỏ lòng biết ơn giáo hóa của Phật, và để được thường xuyên nhìn thấy Phật, vua Tần Bà Sa La đã xây một ngôi tháp đựng tóc và móng tay của Phật ngay trong vườn ngự uyển, hằng ngày chiêm bái. Vua cắt cử riêng một người chỉ lo việc chăm sóc, quét tước và tưới bón hoa cỏ quanh tháp. Mỗi ngày đều xông trầm, thắp đèn trước tháp để cúng dường. Khi nhà vua được sáu mươi bảy tuổi thì tai biến xảy ra. Thái tử A Xà Thế nghe lời đại đức Đề Bà Đạt Đa xúi giục, âm mưu giết vua để chiếm ngôi. Một hôm đang lúc đêm khuya, thái tủ đột nhập vào tẩm điện của vua. Thấy dáng vẻ khả nghi, ngự lâm quân đã chận thái tử lại để xét, thì tìm thấy một thanh gươm được giấu trong chéo áo của thái tử. Họ đưa thái tử vào trình diện vua, kể lại tự sự, và trình lên vua thanh gươm. Vua vặn hỏi thì thái tử nói rằng, vì muốn lên làm vua nên định giết cha. Thái tử cũng thú nhận là mình đã được đại đức Đề Bà Đạt Đa bày vẽ và sắp đặt mưu kế. Vốn được thấm nhuần đức từ bi của Phật, nhà vua đã không giận con mình, mà cũng không giận đại đức Đề Bà Đạt Đa. Đã vậy, vua còn quyết định hạ chiếu thoái vị, nhường ngôi cho thái tử A Xà Thế. Lễ đăng quang của thái tử sẽ được tổ chức mười ngày sau đó. Làm như vậy, nhà vua hi vọng A Xà Thế và Đề Bà Đạt Đa sẽ cảm được đức độ của mình mà hồi tâm hướng thiện. Nhưng thay vì hồi tâm hướng thiện, hai ngày sau khi tờ chiếu thoái vị được ban hành, thái tử đã bắt nhà vua giam vào ngục thất. Sau lễ đăng quang, A Xà Thế vẫn không chịu trả tự do cho nhà vua, lại còn quyết tâm bỏ đói cho chết dần. Chỉ có một mình hoàng hậu được phép vào thăm nom vua. Mỗi lần vào thăm, bà giấu thức ăn trong túi áo đem vào cho chồng. A Xà Thế biết được, quở trách bà. Những lần sau, bà lại giấu cơm trong búi tóc, nhưng cũng bị phát giác. Cuối cùng, bà tắm rửa sạch sẽ, rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng bột, mật ong và sữa. Vua gợt lấy thức ăn này tạm nuôi sống, nhưng A Xà Thế cũng biết được, và cấm hẳn bà không được phép vào thăm nữa. Bấy giờ, nhà vua cam chịu đói, nhưng lòng vẫn không oán trách con. Nhớ lời Phật dạy, nhà vua vẫn sống an lạc và bình thản, vẫn thiền hành theo hành lang nhà ngục, và thiền tọa nơi cửa sổ có chấn song sắt. Cửa sổ này ngó thẳng lên núi Linh Thứu, vì vậy, mỗi ngày nhà vua đều ngồi rất lâu chỗ đó để nhìn lên núi. Sau lần bị đại đức Đề Bà lăn đá hãm hại ở núi Linh Thứu, thì vua Tần Bà Sa La cũng bị giết trong ngục thất. Cái chết của nhà vua thật vô cùng thê thảm! Nguyên vì, A Xà Thế thấy vua cha vẫn vui tươi, không có vẻ gì buồn đau sợ sệt, thì bực bội lắm, quyết giết đi cho khuất mắt, bèn ra lệnh cho người thợ cạo vào ngục, lấy dao bén gọt gót chân nhà vua, xát dầu và muối vào, rồi hơ trên lửa cho đến chết. Vua Tần Bà Sa La nhỏ hơn Phật năm tuổi, mất năm sáu mươi bảy tuổi, ở ngôi được năm mươi hai năm. Ngày thượng hoàng Tần Bà Sa La băng cũng là ngày chánh hậu vua A Xà Thế hạ sinh hoàng nam. Trong nỗi vui mừng được làm cha, vua A Xà Thế bỗng cảm thấy tình thương của một người cha lần đầu tiên chớm nở trong lòng. Tình thương ấy sao là đậm đà, trong sạch và sâu sắc. Vua bèn chạy đi tìm thái hậu để hỏi về tình thương của thượng hoàng ngày xưa đối với mình. Nhân cơ hội đó, thái hậu Vi Đề Hi liền kể cho con nghe về tình thương vô biên mà thượng hoàng Tần Bà Sa La đã dành cho nhà vua hồi còn là một thái tử ngây thơ. Nghe xong, vua A Xà Thế liền cảm thấy trong
lòng dâng cao một niềm hối hận tột cùng. Từ đó, cái chết của vua cứ ám ảnh nhà vua, làm cho tinh thần căng thẳng, mất ngủ trầm trọng. Các đạo sĩ Bà la môn đã bó tay, mà y sĩ Kì Bà cũng chữa mãi không khỏi. Thế rồi, Kì Bà khuyên nhà vua nên đến xin yết kiến đức Phật. Nhà vua nghe lời, được gặp Phật và được nghe những lời dạy dỗ cùng khuyên giải của Ngài, nhà vua tỉnh ngộ và lành bệnh. Cuối cùng, vua bạch Phật: - Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã soi sáng cho con. Thế Tôn đã rọi ánh sáng vào nơi tăm tối, giúp con thấy được giá trị chân thật của chánh pháp. Xin Thế Tôn nhận cho con được làm đệ tử của Thế Tôn, cũng như xưa kia Thế Tôn đã nhận cho phụ hoàng và mẫu hậu của con làm đệ tử của Ngài. Đức Phật hoan hỉ chấp thuận. Từ đó, vua xa lánh hẳn đại đức Đề Bà Đạt Đa, và trở thành một vị đệ tử tại gia rất thuần thành của Phật. Cũng như vua Tần Bà Sa La thuở trước, gặp bất cứ một vấn đề khó khăn nào, vua xa cũng thỉnh thị tôn ý của Phật trước khi hành động. Sau khi Phật nhập niết bàn, chính nhà vua đã đứng ra bảo trợ cho đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của năm trăm vị A la hán, dưới sự chủ tọa của tôn giả Đại Ca Diếp. CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ - PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN - PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH. Phật Học © 2008 - 2011 Liên lạc qua 195,930 người vào trang TTM đến thời điểm này Xá Lợi Ý Nghĩa Xá Lợi là :Đó là những tinh thể đủ màu sắc, long lanh như ngọc, rắn như kim cương, búa đập không vỡ, lửa thiêu không cháy, được tìm thấy trong tro hài cốt của một số nhà tu hành. Cho đến nay, khi nền khoa học kỹ thuật của nhân loại đã phát triển ở trình độ cao, các viên xá lị vẫn tồn tại như một bí ẩn. Bảo vật của nhà Phật "Xá lị" là phiên âm của từ "sarira" trong tiếng Phạn, nghĩa đen là “những hạt cứng”. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các tín đồ đã đem thi hài đi hỏa táng. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. Nó được đặt tên là xá lị, là bảo vật của Phật giáo. Những năm gần đây, lịch sử Phật giáo và giới khoa học đã ghi lại khá nhiều trường hợp các vị cao tăng sau khi viên tịch, hỏa thiêu đã để lại xá lị. Tháng 12/1990, Hoằng Huyền pháp sư ở Singapore viên tịch, sau khi thi thể được hỏa thiêu, người ta phát hiện thấy trong phần tro của ngài có 480 hạt cứng, loại cỡ như hạt đỗ tương, loại nhỏ bằng hạt gạo, trông gần như trong suốt và tỏa sáng lấp lánh như kim cương. Sau khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng đó chính là xá lị. Tháng 3/1991, Phó hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn, ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung Quốc, sau khi viên tịch đã được hỏa táng theo tâm nguyện của ngài. Trong tro có tới 11.000 hạt xá lị, đạt kỷ lục thế giới từ trước đến nay về những trường hợp xá lị được ghi nhận chính thức. Viên xá lị có thể to như quả trứng vịt, đó là trường hợp của pháp sư Khoan Năng, vị trụ trì Tây Sơn Tẩy Thạch am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 27/9/1989, ngài viên tịch ở tuổi 93. Sau khi hỏa thiêu, người ta tìm thấy trong tro hài cốt 3 viên xá lị màu xanh lục, trong suốt, đường kính mỗi viên lên tới 3-4 cm, tựa như những viên ngọc lục bảo. Trái tim thành xá lị Trong một số trường hợp, xá lị chính là bộ phận nào đó của cơ thể không bị thiêu cháy. Tháng 6/1994, pháp sư Viên Chiếu, 93 tuổi, trụ trì chùa Pháp Hoa (núi Quan Âm, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) trong một buổi giảng kinh tối đã nói với các đệ tử: "Ta sẽ để lại trái tim cho chúng sinh". Sau đó vị sư nữ này ngồi kiết già và viên tịch. Theo đúng pháp quy của nhà chùa, các đệ tử đặt thi thể bà lên một phiến đá xanh, xếp củi chung quanh và hỏa hóa. Lửa cháy sáng rực suốt một ngày một đêm. Trong đống tro nguội, các đệ tử thu được 100 viên xá lị to nhỏ khác nhau. Có viên thì hình tròn (xá lị tử), có viên lại nở xòe ra như những bông hoa (xá lị hoa). Những bông xá lị hoa trông rất đẹp, lóng lánh như những bông hoa tuyết, chung quanh còn được giát bằng những hạt xá lị nhỏ cỡ hạt gạo, sắc đỏ, vàng, lam, nâu... hết sức kỳ diệu. Nhưng điều kỳ diệu hơn cả là trái tim của bà không hề bị thiêu cháy. Sau khi ngọn lửa tắt, trái tim vẫn còn mềm, nóng, rồi mới nguội dần và cứng lại, biến thành một viên xá lị lớn, màu nâu thẫm. Khoảng 100 đệ tử có mặt trong lễ hỏa táng đã tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ lùng đó. Theo lời kể lại, pháp sư Viên Chiếu là người từ bi, tính tình điềm đạm và ôn hòa, thường ngày bà chỉ ăn rất ít. Chùa Pháp Hoa đã cho người mang những viên xá lị đó đến giao lại cho Hội Phật giáo tỉnh Thiểm Tây. Khoa học còn "bó tay" Vài chục năm trở lại đây, giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển. Thế nhưng khi bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng xá lị, họ đã gặp không ít trở ngại. Trước đây, người ta không tin là có xá lị Phật tổ. Mãi đến năm 1997, ông Peppé người Pháp khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía nam Népal, đã tìm thấy những viên xá lị đựng trong chiếc hộp bằng đá. Trên hộp có khắc những văn tự Brahmi, nội dung như sau: “Đây là xá lị của đức Phật. Phần xá lị này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ”. Khám phá này đã chứng minh: Những gì được ghi trong kinh Trường A Hàm và một số kinh sách khác về việc phân chia xá lị đức Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là có thật. Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ, xá lị đức Phật vẫn còn nguyên vẹn, lấp lánh màu sắc. Về sự hình thành của những viên xá lị, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau. Các nhà xã hội học cho rằng, do thói quen ăn chay, thường xuyên sử dụng một khối lượng lớn chất xơ và chất khoáng, quá trình tiêu hóa và hấp thu rất dễ tạo ra các muối phosphate và carbonate. Những tinh thể muối đó tích lũy dần trong các bộ phận của cơ thể và cuối cùng biến thành xá lị. Tuy nhiên, giả thuyết này không đủ sức thuyết phục. Bởi lẽ số người ăn chay trên thế giới có tới hàng trăm vạn, nhưng tại sao không phải ai khi hỏa táng cũng sinh xá lị? Số người theo đạo Phật cũng nhiều vô kể, thế nhưng tại sao trong cơ thể những tín đồ bình thường lại không có xá lị? Một số nhà khoa học cho rằng, có thể xá lị là một hiện tượng có tính bệnh lý, tương tự như bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật... Giả thuyết này cũng khó đứng vững. Bởi vì, sau khi đưa xác đi thiêu, trong phần tro của những người mắc các chứng bệnh kể trên không hề phát hiện xá lị. Mặt khác, những cao tăng có xá lị thường sinh thời thường rất khỏe mạnh, tuổi thọ cũng rất cao. Nhà Phật cũng có những quan điểm riêng về vấn đề xá lị. Quan điểm thứ nhất cho rằng xá lị là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện. Quan điểm thứ hai cho rằng đó là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ xuất hiện ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn làm việc thiện. Tuy nhiên, cuối cùng thì xá lị đã được hình thành như thế nào? Thành phần của nó ra sao? Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương, lục bảo, chỉ là tro cốt còn lại của người tu hành sau khi hỏa táng; vậy mà sao đốt không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng...? Hàng loạt câu hỏi như vậy cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp Xá lợi của các bậc đại thánh hoặc của các vị cao tăng thạc đức đã được trân quý tôn thờ từ lúc khởi thuỷ của nền văn minh nhân loại. Đó là những vật dụng cá nhân hay những mảnh vụn của thánh thể bất hoại của chư vị ấy. Xá lợi trong “ Chùa Xá Lợi” là những thánh thể linh hiển của các bậc đại sư đã đạt được những chứng đắc phi thường trong suốt quá trình tu hành. Nền tảng của sự chứng đắc là sự huân tu giới luật thanh tịnh và công hạnh xả ly, một tâm thái hoàn toàn đoạn diệt với mọi ái dục thế gian. Tất cả các ngọc xá lợi này đều được cúng dường từ nhiều khởi nguồn vô cùng hy hữu từ những vị Đại Sư Ẩn Sĩ trên thế giới. Do nhờ vào tâm tuyệt đối thanh tịnh của các bậc thánh tăng mà từng hạt rất nhỏ, tựa như các viên ngọc trai đã kết tụ lại gọi là xá lợi; và xá lợi sẽ được tìm thấy lẫn lộn trong nhục thân đã biến thành tro của các Ngài khi thiêu hoá. Nhằm lợi lạc cho chúng sanh, Đức Phật khi thị tịch và nhập Niết Bàn, Đức Phật đã lưu lại xá lợi như những pháp bảo để tất cả hàng hậu sinh đều được trực tiếp chiêm bái, bày tỏ lòng sùng kính bằng những nghi thức cúng dường chí thành chí thiết. Chính vì lòng đại từ đại bi thương xót muôn loài của Ngài mà ngày nay chúng ta đã hội đủ cơ duyên để đảnh lễ toàn thân pháp bảo của Đức Phật. Công Đức Gì Khi Được Chiêm Bái Xá Lợi? Kinh Phật dạy rằng chiêm bái và đảnh lễ những xá lợi như thế này tạo được vô lượng công đức thù thắng. Do diệu lực của các pháp bảo ngọc xá lợi nên mọi sự cầu nguyện hoặc mọi nghi thức kính tin cúng dường đối với pháp bảo đều tức khắc gây tạo được thiện duyên an lạc đưa đến giác ngộ giải thoát. Pháp bảo xá lợi thường dễ dàng tạo nên cơ duyên rất hữu ích cho đời sống tâm linh. Xá lợi quả thật đã mang đến vô số lợi lạc không thể nghĩ bàn đối với những chúng sanh nào hữu duyên được chiêm ngưỡng kính bái. Điều này đúng với những tín đồ Phật giáo và ngay cả đối với những người khác tín ngưỡng. Tại sao? Vì diệu lực tối thắng của chính pháp bảo tạo nên. Mọi công đức và lợi lạc không tuỳ thuộc nơi đối tượng chiêm bái có lòng kính tin thanh tịnh đối với xá lợi hay không. Trên hàng vạn ngọc xá lợi của Đức Bổn Sư Thích Ca và các vị đại đệ tử của Đức Phật và các chư vị thánh tăng được tôn thờ trong một trăm lẻ tám (108) bửu tháp và được an vị vĩnh viễn tại Đạo Tràng Tịnh Độ trong chánh điện Chùa Xá Lợi. Chư Tôn Đức Tăng Ni và phật tử Chùa Xá Lợi hoan hỷ cung nghinh chư Tôn Đức tăng ni và phật tử khắp nơi vân tập về Đạo Tràng để chiêm bái xá lợi. Bổn tự cũng rất hoan hỷ cung nghinh xá lợi đến các nơi nếu được sự hoan hỷ cung thỉnh.
XUẤT HỒN - Thưa cụ, nghe nói cụ có pháp xuất hồn. Có thể xuất hồn đến để dạy đạo và trị bệnh cho người khác dù họ đang ở một nơi nào thật xa chỗ cụ ở? - Mô Phật, Phật giáo không nhìn nhận có một linh hồn tồn tại độc lập như một thực thể. - Thế sao có môn sinh cho là cụ đã từng xuất hồn đến để dạy họ. - Tại họ chưa thực chứng về thiền quán mới chấp tướng như vậy. Đó là một thí dụ sinh động cho trạng thái huyễn (maya) - Xin cụ nói rõ hơn - Có thể người ấy có tâm kính ái ta. Và lại quá ham học pháp. Họ rất mong ta dạy pháp cho họ. Nên điển quang phóng chiếu qua tâm trí thành ra các ảo giác như vậy. - Thưa cụ còn có người cho rằng thấy Phật đến dạy đạo. Cụ nghĩ sao về vấn đề này? - Do lòng tin vào tam bảo quá lớn mà lại thiếu tỉnh giác và hay chấp tướng, nên ban đầu người ấy sẽ thấy Thầy mình xuất hồn đến dạy đạo. Sau đó sẽ thấy Phật đến dạy... v.v... Ông nên biết: Vạn pháp duy tâm tạo. Năng lượng phóng chiếu qua tâm trí sẽ tự hiển thị thành các pháp. Vậy phải tu tâm để tâm dần trở thành thanh tịnh rồi tiến tới cực tịnh và tâm không thì điển quang sẽ tuần tự biểu thị thành các pháp trang nghiêm thanh tịnh dần, cho đến khi trở thành "Vô Pháp". Cái đó gọi là thăng hoa chuyển hóa tâm thức về hướng giác ngộ. - Cụ bảo các pháp biểu thị là do năng lượng phóng chiếu qua tâm thức mà thành. Vậy nội dung tâm thức chuyển hóa này căn cứ vào đâu? - Nhất thiết phải căn cứ vào kinh điển do Như Lai và chư Tổ truyền lại và phải được một vị thầy đã thực chứng truyền trao và giám thiền thì mới được. - Xin cảm ơn cụ về những điều cụ đã chỉ dạy hôm nay. - Ta tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy. Ông nên tác bạch điều này với chư tăng và chư thiện tri thức để các ngài ấy phát tâm chỉ dạy cho thì mới thật đúng được.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét