THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
TÌNH THƯƠNG SẼ KHÔNG CÒN KHI NGƯỜI TA CẦN NGON MIỆNG
TÌNH THƯƠNG SẼ KHÔNG CÒN
KHI NGƯỜI TA CẦN NGON MIỆNG
Tình thương là cây linh dược trị lành mọi bệnh khổ của chúng sinh. Vậy mà, con người nỡ đang tay bẻ cành chặt nhánh khiến nó sắp lụi tàn. Cũng may! Nó còn sót lại vài cành già và đang nẩy ít chồi non. Mong rằng nhân loại nhận thức được giá trị tuyệt vời của nó, ra công bảo vệ, vun tưới cho nó phát triển sum sê, thật là hạnh phúc vô vàn của nhân loại. Vô tình hay cố ý, chúng ta phá hoại cho cây linh dược tàn lụi đi, đây là một mất mát lớn lao của nhân loại, không có gì bù đắp được.
Chú Ba nhà ở gần chùa, chú nuôi một con gà mái, đẻ được một đàn gà con. Ðàn gà con mỗi con đều tròn trịa dễ thương. Sáng nào chú cũng hốt một nắm gạo ra đứng trước sân kêu "túc túc", gà mẹ dẫn đàn gà con chạy ùa ra vây quanh chú, mổ những hạt gạo do chú rải, chúng nuốt ngon lành. Chú nhìn đàn gà con có vẻ trìu mến. Có lẽ đàn gà con cũng nhìn chú là ông chủ quí kính đang yêu thương nuôi dưỡng chúng. Tình của chú Ba và đàn gà con càng ngày càng sâu đậm hơn. Trải mấy tháng sau, đàn gà con đã lớn thành gà giò. Hôm nay nhà chú Ba có khách, cũng như mọi hôm, sáng chú nắm gạo ra giữa sân đứng kêu "túc túc", đàn gà chạy lại bu quanh chú, vừa bỏ gạo chúng ăn chú vừa chụp lấy một con. Con gà bị chụp la hoảng lên, đàn gà còn lại chạy tứ tán. Tiếng la thất thanh của một con gà không làm động tâm chú chút nào. Sau đó, nó còn bị cột chân, và cuối cùng lôi ra cắt cổ. Tiếng la cứu mạng và gắng sức vẫy vùng đành đạch để thoát chết của một con gà, không làm sao lay chuyển được ý định của chú. Thế là xong đời của con gà, để làm mồi ngon cho người chủ mến thương trước kia. Tình thương của chú Ba đối với đàn gà con, chỉ có khi chưa cần làm thức ăn ngon miệng. Ðến khi cần thịt gà làm thức ăn thì tình thương ấy liền biến đi như mây khói!
Ở chùa có nuôi hai con chó, một con tên Tiểu Hỷ, một con tên Tu Tu. Sáng nào hai con cũng vật lộn nhau ành ạch ở trước sân, hai đứa săn đuổi nhau, đè cắn cạp nhau một cách thân tình. Mỗi khi trông thấy hai đứa đùa dỡn nhau, tôi cũng vui lây. Dù là súc sanh, chúng cũng biết vui đùa, cũng biết thân yêu nhau như con người nào khác. Song, khi thằng Tiểu Hỷ được quí cô cho một tô cơm đang ăn ngon lành, thằng Tu Tu chạy đến gần, thằng Tiểu Hỷ liền nhe răng hầm hừ, thằng Tu Tu đành lấm lét tránh xa. Ngược lại cũng thế, khi thằng Tu Tu đang ăn, thằng Tiểu Hỷ lại gần, cũng bị thằng Tu Tu nhe răng gầm gừ. Sau bữa ăn chúng cũng vui vẻ chơi lại với nhau. Qua hình ảnh hai con chó, chúng ta thấy khi có món ngon, khi cần no bụng mình, tình đồng loại không còn có mặt. Chúng có thương nhau không? Nếu không thương, tại sao lại liếm nhau một cách trìu mến, vật lộn nhau một cách chân tình. Thế mà chỉ cần có một cục xương, một tô cơm, chúng đổi tình bạn thành địch thù. Tình người có thế không?
Có một gia đình ở xa đến qui y với chúng tôi. Thời gian sau, những đứa con khôn lớn, cha mẹ già yếu. Cha mẹ tương đối khá giả, nên làm di chúc chia của cho con. Trong di chúc không biết phân chia thế nào, vài đứa con chạy lên tôi nhờ khuyên giải hộ cho cha mẹ chúng phân chia công bằng, đừng cho đứa nhiều đứa ít, khiến con cái thấy cha mẹ bất công không tốt. Tôi liền khuyên chúng nó: "Cha mẹ sinh ra con, nuôi dưỡng cho học hành đến lớn khôn, lập gia đình có đôi bạn rồi, công ơn cha mẹ không thể nào kể hết. Giả sử cha mẹ nghèo không có tiền của thì con cái cũng phải làm ra tiền để nuôi dưỡng cha mẹ, mới tròn bổn phận làm con. Huống là cha mẹ khá, con đã khỏi nuôi, lại được chia của cho, dù được bao nhiêu cũng tốt, đòi hỏi thêm làm gì để phiền lòng cha mẹ. Tụi con thấy, có lắm gia đình cha mẹ chết sớm, nhà nghèo, con cái cũng phải bương chải để sống, vậy mà cũng có nhiều người lập nên sự nghiệp. Sánh với tụi con hiện nay quá tốt, cha mẹ còn sống lại được chia của, dù ít cũng hơn người ta quá nhiều rồi. Thôi là con hiếu phải nghe lời cha mẹ, đừng phiền trách tổn phước." Chúng không bằng lòng, thưa với tôi thế này: "Thế là không có gì hết, còn có mà chia đứa nhiều đứa ít là bất công, không chấp nhận được." Tôi đành im lặng. Chúng chào tôi ra về với vẻ còn bực tức. Không bao lâu, cha mẹ chúng đến thăm tôi. Nhơn khi thăm hỏi, tôi liền đem việc chia của cho con ra khuyên: "Làm cha mẹ, hai đạo hữu phải xử sự với con cho công bằng. Nếu có của nhiều chia cho chúng nhiều, có ít chia cho chúng ít, đừng để đứa nhiều đứa ít nó phân bì không tốt." Hai vợ chồng thưa với tôi: "Bọn con của chúng con, đứa nào phá của thì chúng con chia ít, đứa nào biết giữ của thì chia nhiều, như vậy mới công bằng." Ðến đây tôi hết ý kiến. Thời gian sau, tôi nghe những đứa con được chia của ít, đã kiện cha mẹ chúng ra tòa. Tôi dành thở dài, cảm thấy mình bất lực, không đủ biện tài để giáo hóa đệ tử, thật đáng buồn. Song càng đau buồn hơn khi thấy con người là khôn ngoan hơn con vật, vậy mà cũng vì sự ăn mặc, tài sản, đối với người thân trở thành kẻ thù. Thiết nghĩ ai thân hơn anh em, ai tình thâm nghĩa nặng bằng cha mẹ, mà chỉ vì một chút tài sản, biến thân thành thù, đổi ân nghĩa thành đối địch. Thực tình đời càng ngẫm càng đau lòng biết mấy.
Nhơn loại trên hành tinh nầy có thật tình thương nhau không? Nếu quốc gia này với quốc gia khác giao hảo tốt đẹp với nhau thì khi quốc gia này bị thiên tai bão lụt, hoặc động đất, quốc gia kia liền gởi lương thực, thuốc men, tiền bạc sang giúp đỡ. Ðến khi nào đó, hai nước va chạm quyền lợi nhau, nếu dùng tài ngoại giao bàn luận mà không giải quyết xong, sẽ dùng đến quân đội vũ khí để sát phạt nhau. Người ta thương nhau chỉ khi nào không đụng chạm quyền lợi, một khi đụng chạm đến quyền lợi, sẵn sàng sát phạt nhau. Bởi vậy trên thế gian này thân thù thay đổi khó lường. Tình thương của nhân loại bị giới hạn trong một phạm vi nhất định, quá phạm vi đó tình thương liền tan biến. Cho đến những người nhân danh mang tình thương đến cho nhân loại, song cũng bị hạn chế trong những điều kiện nhất định nào đó, ngoài ra nó có thể biến thành địch thù.
Qua những dừ kiện trên, khiến chúng ta nghi ngờ tình thương con người có thật hay không? Hay nó chỉ có trên ngôn từ, ngoài cửa miệng? Ðây là cho bi quan của những nhà đạo đức chân chánh, cũng là tiếng còi báo nguy của những người làm việc từ thiện xã hội.
Với con mắt của Phật Giáo, muốn nuôi dưỡng tình thương cho được sinh sôi nảy nở mãi và vượt ra ngoài giới hạn, chúng ta phải dùng con mắt trí tuệ thấy rõ thân phận của con người. Sở dĩ chúng ta khép chặt cửa tình thương là bị tham lam cuồng nộ, si mê thôi thúc che đậy. Một khi con mắt trí tuệ mở sáng rồi thì ba con quỉ ác độc ấy bị yếu thế. Từ đó cánh cửa tình thương chúng ta mới mở rộng thênh thang. Làm sao chúng ta mở sáng mắt trí tuệ? Chúng ta phải nhìn xem, phải xét kỹ đời sống con người sự thực như thế nào! Mạng sống của chúng ta được bao lâu? Trong khoảng thời gian sống của chúng ta có an ổn hoàn toàn không? Những người trước chúng ta và đồng thời với chúng ta có thực sự hạnh phúc không? Chỉ cần quán sát kỹ ba vấn đề này thì con mắt trí tuệ của ta bừng sáng.
Trước nhất chúng ta quán sát mạng mình sống được bao lâu? Thực là không có gì đảm bảo cố định hết. Chúng ta đang sống ở phút giây này là biết mình đang sống, qua phút giây khác chưa biết mình ra sao. Biết bao cái chết chóc đang chờ chực sẵn bên mình và trong người mình. Bước đi xảy chân cũng có thể té chết. Lái xe sơ ý cũng có thể đụng chết. Ngồi phi cơ hỏng máy cũng bị rơi chết. Một mạch máu não vỡ cũng chết. Quả tim ngưng đập cũng chết v.v... Bởi thế Phật bảo "mạng sống con người trong hơi thở". Ðã biết mạng sống mình là bất định, là vô thường, không có một tí gì bảo đảm, tại sao chúng ta không thương yêu nhau, đùm bọc nhau trong những giờ phút mà chúng ta còn được sống với nhau? Tham lam thù hận để làm gì, để cho ai khi mạng sống của mình rất mỏng manh, rất tạm bợ? Tại sao chúng ta không xí xóa cho nhau, không hòa thuận với nhau để cho những phút giây sống này được an lành vui vẻ. Chính nhờ thấy rõ mạng sống của mình chợt còn chợt mất mà lòng tham lam thù hận tan biến dần, lòng thương nhân loại cùng chung số phận như mình càng rộng mở.
Thứ đến, chúng ta quan sát xem từ khi mở mắt chào đời đến phút giây chúng ta hiện sống này, toàn khoảng thời gian đó đời sống chúng ta có hoàn toàn an ổn không? Chắc chắn ai cũng trả lời là không. Bao nhiên năm qua, đời sống của chúng ta đã từng trải qua lắm nỗi gian truân, bao lần đau khổ. Nào là thân thể bệnh hoạn, nào là gặp cảnh bất như ý, nào là làm ăn thất bại, nào là tình đời đen bạc..., ôi làm sao mà kể cho hết. Ðời sống của chúng ta đã khổ như thế, đời sống của người nào có khác gì? Tại sao chúng ta không thương yêu, không thông cảm, cùng chia sớt nỗi khổ cho nhau, lại ôm thù chuốc hận làm gì? Ðã cùng chung thân phận đau khổ như nhau, chúng ta nên khuyên lơn an ủi để làm vơi cạn đôi phần đau khổ cho nhau. Ðây là hoa tình thương đang chớm nở trong lòng của chúng ta.
Cuối cùng chúng ta hãy quán sát những người trước và những người đồng thời với chúng ta có ai hoàn toàn hạnh phúc chăng? Những người trước chúng ta có những kẻ một thời nổi tiếng hào hoa phong nhã, đến nay chỉ còn thân tàn ma dại; có những người một thuở oanh liệt hào hùng, nhưng hiện nay là kẻ phế nhơn; có những người trước kia thừa tiền mứa của nay chỉ còn là kẻ bần hàn...Ðến những người sống đồng thời với chúng ta, có những bạn thân đã từ giã chúng ta về thế giới bên kia; có những người đang bị bán thân nằm trên giường bệnh; có những kẻ làm ăn không đủ sống; có những người thừa của thì con cái mất nết hư thân... Những người trước và người đương thời kể cả chúng ta có ai dám bảo rằng "đời tôi hoàn toàn hạnh phúc". Cuộc đời đã không hạnh phúc thì chúng ta say mê nó để làm gì ? Tại sao chúng ta không đánh thức nhau, lay tỉnh nhau, đừng để cạm bẫy của cuộc đời lừa. Hạnh phúc của cuộc đời chỉ là cái bóng mờ trước mắt, đuổi bắt chúng chỉ chuốc nhọc nhằn. Vì tranh nhau đuổi bắt hạnh phúc nên con người phải va chạm nhau nảy sinh oán hờn, thù địch nhau, tạo thành chuỗi khổ đau vô tận. Chúng ta xét kỹ, thấy rõ rồi cố gắng đánh thức, kêu gọi nhau hãy dừng chân, đừng đuổi bắt vô ích. Ðây là tình thương chân thật phát xuất từ đáy lòng của chúng ta.
Qua ba phần quán sát trên khiến chúng ta mở sáng con mắt trí tuệ, từ đấy dấy khởi tình thương chân thật. Chính tình thương nầy mới không bị giới hạn, không có điều kiện hạn chế, và mở rộng thênh thang. Nhờ trí tuệ sáng ngời này, ba thứ độc tham sân si mới chịu lui bước. Song muốn có trí tuệ chúng ta phải có những giây phút an tỉnh, ngồi lại quan sát tận tường. Chúng ta đừng bị suốt ngày chôn mình trên bàn giấy, trong cơ xưởng, tối lại dán mắt trên màn ảnh TiVi, thì trí tuệ chúng ta không có cơ hội phát triển.
Tuy nhiên cội nguồn tình thương chưa hẳn khô cạn, vẫn còn những mạch nước ngầm trong lòng đất nhân loại mà chúng ta ít khơi dậy. Chính đây là những tia hy vọng của con người, của những nhà đạo đức chân chính.
Một bà Phật tử thuật chuyện cho tôi nghe: Bà là người Vĩnh Long cách xa tỉnh khoảng hai chục cây số. Một lần bà về quê, đến tỉnh Vĩnh Long sang xe về quê bà. Một chiếc xe cũ kỹ mà hành khách chật như nêm, xe chạy khỏi tỉnh khoảng năm cây số, có một hành khách đón xe giữa đường. Xe dừng rước khách, bà thấy một cậu thanh niên độ trên hai mươi tuổi, mặc quần cụt áo sơ mi. Chú lơ xe thúc lên nhanh, cậu thanh niên vội vàng phóng lên xe, chân chạm phải cánh cửa xe, toát da đổ máu. Cậu ta ngồi xuống bên cạnh bà mà vết thương ở bắp chân vẫn tuôn máu. Bà trông thấy liền mở túi xách lục soát được một ít bông gòn, bà xé đưa cậu ta bảo chặm máu và đè cứng chỗ vết thương. Bà lục trong túi được chai thuốc đỏ, mớ bông gòn còn lại bà thấm thuốc đỏ đắp lên vết thương, thấy máu còn chảy, bà lôi chiếc khăn tay trong túi ra, xé đôi, băng nịt lại thật chặt. Kế đó còn thừa một ít bông gòn, bà thấm thuốc đỏ lau chung quanh vết thương cho cậu. Cậu thanh niên được bà cụ bảy mươi tuổi săn sóc vết thương một cách nhiệt tình chân thiết, khiến đôi mắt cậu nhìn bà với vẻ ngạc nhiên kính quí. Mọi người trên xe đều hướng mắt nhìn bà với cái nhìn mến phục. Ðến điểm xuống xe, cậu thanh niên bước xuống trước, vết thương ở chân đã khô máu, bà cụ xuống sau. Cậu chờ bà cụ xuống, cúi đầu chờ bà rồi mới ra đi, đi một đoạn cậu còn nhìn xem bà lão đi về lối nào.
Cũng bà Phật tử kể trên, bà dẫn một đứa cháu ngoại trai độ mười ba tuổi lên tu viện Chân Không thăm chúng tôi. Gặp lúc chư tăng xẻ mít chín, nhằm loại mít ngon nhất vườn chùa để dùng trong nửa giờ nghỉ công tác, thầy tri khách chia hai bà cháu một phầm khiêm nhường dùng lấy thảo. Hai bà cháu dùng độ mười múi mít, còn lại một phần ba, bà bảo cháu: "Bà cháu mình nhường một phần ba này để cho người ăn xin". Thằng bé đang ăn ngon miệng đành phải dừng tay. Bà tìm một bao ni lông rửa sạch, lột từng múi mít bỏ vào bao ni lông, xong suôi bà cột lại để vào túi xách. Vài giờ sau, hai bà cháu từ giã chúng tôi xuống chợ về thành phố. Xuống chợ, và đi tìm những người ăn xin tặng mít cho họ xong, bà mới lên xe đi về. Mấy múi mít thật không có giá trị bao nhiêu, nhưng khi mình đang ăn ngon miệng mà nhớ đến những người ăn xin ở đầu đường xó chợ không được nếm món ăn này, bà liền dừng tay ngăn cháu để nhường phần cho những người xấu số ấy. Thật là một tấm lòng vàng ngọc, một tình thương tràn trề ở thế gian nầy ít thấy. Thử nghĩ nếu tất cả chúng ta đều có một tình thương vô hạn như bà thì xã hội đang nghèo khó của chúng ta sẽ giảm khổ đau biết mấy. Còn nhiều người có tấm lòng vàng như bà, hoặc trội hơn, mà chúng tôi chưa biết, có khi đã biết mà lại quên. Mong rằng nhân loại sẽ được nhiều người luôn nhớ đến những kẻ khổ đau, để chia cơm xẻ áo với họ, khiến hành tinh chúng ta sẽ trở thành cõi Cực Lạc ở mai sau.
Tình thương vô điều kiện không giới hạn, nhà Phật gọi là tâm từ bi. Tâm từ bi này nhờ động cơ trí tuệ thúc đẩy mới đủ sức đập tan những cánh cửa bản ngã, gia đình, phe nhóm, tôn giáo, quốc gia ... Mở rộng thênh thang không giới hạn. Người sẵn tâm từ bi thì khi mình được ăn ngon nhớ đến kẻ đói khát, mình thành công thương người thất bại, mình vui sướng nhớ đến kẻ khổ đau, mình giàu sang nghĩ đến kẻ nghèo khó, mình hơn thì thương kẻ thua ..., do đó mà dứt được tâm ích kỷ ngạo mạn. Nhơn loại đang đau khổ lắm rồi, chúng ta không thể dang tay cứu vớt hết được, ít ra chúng ta cũng đừng chồng chất khổ đau thêm, khiến quá sức chịu đựng của con người. Chúng ta hãy kêu gọi nhau thức tỉnh cơn ngủ si mê, đừng chạy theo tham lam cuồng nộ, dừng tay gieo rắc đau khổ lên nhau. Hạnh phúc không bao giờ có nơi con người ích kỷ tham lam. Hạnh phúc chỉ có với người luôn chan rải tình thương.
Tọa thiền Niệm Phật
( Tài liệu nầy chính Hòa Thượng Trí Tinh đă dạy cho sinh viên Tăng, Ni và cư sĩ nam, nữ tại Đại Học Vạn hạnh.)
Trong bài tựa Phạm Võng, Bồ tát giới có dạy rằng:
Sắc trẻ không dừng, dường như ngựa chạy
Mạng người vô thường, mau hơn nước dốc.
Ngày nay dầu còn, khó bảo đảm ngày mai.
"Đại chúng! mỗi người nên nhứt tâm cần cầu tinh tấn: Chớ biếng nhác trễ lười, phóng túng ngủ nghỉ; ban đêm phải nhiếp tâm niệm Phật tham thiền, chớ để thời gian luống qua vô ích mà sau nầy phải ăn năn..."
Nhưng phàm muốn làm việc gì cho được lợi ích, chúng ta cần phải" biết làm"; ở đây muốn y chỉ lời dạy:"nhiếp tâm niệm Phật, tham thiền", niệm Phật tham thiền", lẽ tất nhiên chúng ta phải biết làm sao để "nhiếp tâm", niệm Phật, tham thiền cho trúng cách đúng phương pháp, tức là biết cách "tọa thiền niệm Phật".
Văy trước khi học về phần thật hành, chúng ta nên hiểu sơ qua về mục đích của phương pháp Tọa thiền.
A- Mục-đích của phương-pháp Tọa-Thiền
Tọa thiền là một phương pháp rất thông dụng chẳng những trong đạo Phật mà ở ngoài đạo cũng vẫn có từ xưa.
Tọa thiền nghĩa là ngồi để tham cứu một vấn đề gì. Thế nên tọa thiền không phải là một phương pháp chứng quả thành đạo, mà là một trong vô lượng phương tiện giúp cho thân được an, để cho tâm không loạn và được chánh niệm chánh quán. Ngoại đạo chỉ chú trọng nơi thân mà không để ý đến tâm, trong khi thật ra, tâm mới là phần chánh, đáng chú trọng hơn cả.
B- Phương-pháp Tọa-Thiền
Dưới đây là phần thực hành mà ngài Hòa Thượng Vạn Đức dạy với tất cả sự kinh nghiệm mà ngài đă thâu hoạch từ nhiều năm.
Phần nầy chia làm ba:
1. Điều-thân
Thân lúc nào cũng làm duyên trợ cho Tâm, thế cho nên nếu thân có những cử động thô thiển, khí lực sôi nổi, lẽ tất nhiên tâm sẽ phù động, do đó khó mà nhập định được. Cho nên trước khi Tọa thiền, cần phải điều hòa thân trước nhất. Vậy phải điều hòa thân bằng cách nào:
a) Phải điều-dưỡng sự ăn uống.
Sự ăn uống đối với thân rất hệ trọng, thường bệnh phát sanh do nơi sự ăn uống. Có những thực vật hạp với cơ thể người này lại không hạp với người kia và trái lại; dầu sao, không nên dùng những thứ có dầu mỡ nhiều, tránh những chất hăng, kích thích thần kinh như café đậm, rượu, trà đậm, thuốc hút v.v... mà chỉ nên dùng những món ăn sơ sài trong sạch.
Trước giờ tọa thiền, không nên ăn quá no mà chỉ ăn vừa đủ, nếu ăn quá no sẽ làm mệt dạ dày, ngồi không yên ổn. Không ăn chiều lẽ tất nhiên là thích hợp đặc biệt với việc tọa thiền niệm Phật.
b) Y-phục
Trước khi tọa thiền phải tắm rửa cho thân thể được sạch sẽ để tránh khỏi sự ngứa ngẩm trong mình.
Sau đó, tiết lạnh thì mặc áo ấm, trời nóng thì dùng y phục mỏng mảnh rộng rãi và sạch sẽ.
Đai lưng (lưng quần) lúc nào cũng phải nới rộng ra.
Những điều trên đây giúp cho sự hô hấp dễ dàng và không bị lay chuyển vì thời tiết.
c) Giữ thân cho được ngay thẳng và vững vàng
(Nghĩa là làm thế nào mà khi quên nó, nó không nghiêng ngả hay lay động). Muốn được như vậy, chỉ có cách duy nhất là ngồi, vì đi, đứng hay nằm không thể đạt được hai mục đích vừa nói trên.
Nhưng nếu ngồi mà thả hai chân xuống, thì khi quên, thân lại không vững; hơn nữa lúc ở trong nhà, thất, có bàn ghế giường v.v...thì không nói chi, nhưng khi ra ngoài vườn tược đồng ruộng hay đến núi rừng để tọa thiền, khó tìm ra chỗ ngồi có thể thõng chân xuống được dễ dàng .
Thế nên chỉ có cách rút chơn xếp bằng lại là giúp cho chúng ta ngồi ngay thẳng và vững vàng mà thôi.
d) Cách ngồi
Có nhiều cách ngồi mà hành giả cần phải chọn lựa cho thích hợp với mình.
Chân
1. Toàn già (cũng gọi là kiết già hay Kim Cang tọa)
Gác bàn chân trái lên đùi bên mặt, gác bàn chân mặt lên đùi bên trái, gót hai bàn chân đều phải sát vào bụng.
2. Bán dà, có hai cách:
- Hàng ma tọa: gác bàn chân mặt trên đùi bên trái (như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát)
- Kiết tường tọa: gác bàn chân trái lên đùi bên mặt (như ngài Phổ Hiền Bồ tát).
-Trong ba cách ngồi, khi ngồi phải tập cho hai gối đồng sát xuống chiếu như nhau, hai mông cũng chịu đều như nhau thì mạch máu không bị cấn tất không bị tê, cũng không nên dùng nệm quá dầy. Một điều nên để ý, là thường thường lúc ban sơ, khi vừa ngồi kiết già hay nghe một chân nặng một chân nhẹ. Để sửa chữa vào khuyết điểm đó, chỉ có cách là dùng hai tay chống xuống chỗ ngồi để nâng toàn thể thân lên và hạ bên chân hay mông nhẹ xuống trước, bên nặng xuống sau, đôi ba lần thì hai chân hoặc hai mông sẽ đều, không còn cảm tưởng nặng nhẹ nữa.
Tay
Hai bàn tay để ngửa, bàn tay mặt thì đặt lên trên bàn tay trái, vừa sát bụng và để nhẹ trên hai bàn chân, hai đầu ngón tay cái đâu lại (Tam muội ấn).
Phương pháp để bàn tay như vậy, theo Cổ Đức nói, làm cho điện lực trong thân lưu thông đều đặn, không biến thoát ra ngoài và giúp cho tâm dễ an ổn.
Lưng --Tay chơn đều đâu vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể độ ba bốn lần cho nó được ung dung và phải giữ xương sống cho ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà. Nếu cột xiêu thì nhà đổ vậy.
Đầu, cổ -- Đầu và cổ cũng phải giữ cho ngay, nhưng không được ngước thẳng quá.
Mắt -- Mắt hơi nhắm lại, để chỉ còn thấy tướng trắng hay sáng sáng bên ngoài thôi; đừng mở hẳn sẽ tán loạn; mà cũng đừng nhắm hẳn sẽ bị hôn trầm.
Miệng -- Miệng phải ngậm lại, chót lưỡi để trên chân răng hàm trên, răng phải để cho thong thả, đừng cắn cứng lại, nhờ đó hơi thở sẽ nhẹ nhàng.
2- Điều Tức
Khi thân đă nghiêm chỉnh rồi, lúc bấy giờ hành giả mới bắt đầu thở ra nhẹ nhàng nhưng cho dài, tâm nghĩ tất cả ô trược trong thân đều tựu theo không khí mà ra ngoài hết .Đến khi hít vô, cũng phải nhẹ nhàng và cho dài, nghĩ bao nhiêu cái chi thanh tịnh ở bên ngoài đều vào trong hết.
Làm như vậy được hai ba lần hay đến năm bảy lần nếu cần, cho trong thân được khoan khoái.
Sau đó phải giữ hơi thở nhẹ nhàng thong thả, suông êm, dài ngắn cho quân bình.
Nên để ý, khi điều hòa hơi thở hành giả thường gặp hai lỗi sau đây.
a) Phong tướng. Tức là hơi thở ra hít vào, nghe có tiếng gió, do thở quá mạnh.
b) Suyển tướng, tức là tuy thở ra vào không nghe tiếng nhưng lại gấp rút hoặc rít sáp không thông.
Nếu khi ngồi tĩnh tọa mà thấy hai tướng trên đây, đó là triệu chứng tâm không được an định.
Nếu khéo điều nhiếp, dùng sổ tức thở ra hít vào thong thả, ít lâu sẽ thuần thục, tự nhiên hơi thở sẽ điều hòa, huyết mạch được lưu thông, trong người sẽ được ung dung khoan khoái.
Thế nên điều hòa hơi thở là một công phu rất hệ trọng đối với phép tịnh tọa.
3--Điều Tâm
Trước khi tọa thiền, hành giả có phát tâm trước, hoặc sổ tức, hoặc quán bất tịnh, hoặc niệm Phật v.v...
Nếu đă phát tâm niệm Phật, thì hành giả phải nghĩ Ta bà ngũ trược, nhớp nhơ, là nguồn gốc của muôn ngàn thống khổ, nơi thân và hiện cảnh, phải làm thế nào thoát ly cho được, tức là phải yểm ly sanh tử nơi Ta bà mà cầu sanh về Cực Lạc.
Hành giả nhớ ngay đến cảnh Cực Lạc thuần vui không khổ, có đủ thắng duyên thắng cảnh trợ lực cho hành giả mau thành Phật quả quảng độ chúng sanh, -- đến đức Phật A Mi Đà tướng hảo quang minh, lúc nào cũng duỗi lòng từ tiếp dẫn chúng sanh về Lạc Quốc.
Lúc bấy giờ hành giả khởi niệm câu dài : "Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi tiếp dẫn Đạo Sư A Mi Đà Phật " rồi lần lần thâu ngắn lại còn sáu chữ "Nam mô A Mi Đà Phật" hay bốn chữ:"A Mi Đà Phật". Lúc đầu niệm lớn, sau niệm thầm để nhiếp tâm cho nó an trụ vào đó. Khi niệm ra tiếng hoặc thầm, đều cần phải gắng cho tiếng nổi rõ trong tâm chậm rãi, tâm nghe rõ từng tiếng từng chữ, tức là "Quán trí hiện tiền" nếu không, tâm sẽ tạp niệm (tán loạn) hay ngủ gục (hôn trầm). Nếu tán loạn, không rõ, lơ là, hay khi hôn trầm muốn đến hành giả phải cử tâm ngay bằng cách chú ý đến câu niệm Phật.
Có khi hành giả cố gắng kềm tâm, nhưng tâm vẫn chạy và nếu tâm vẫn chạy mãi, thì có cách phải niệm Phật và nghĩ ở đầu hai ngón tay cái, đầu hai ngón chơn cái hoặc nghĩ ở nơi cái rún mà niệm.
Làm như vậy thần kinh hệ sẽ hạ xuống, tức cái tâm sẽ hạ xuống mà bớt tán loạn.
Còn nếu bị hôn trầm, thì phải nghĩ ở đỉnh đầu hay ở trán mà niệm thì sẽ hết, vì chí phấn khởi.
Hoặc hành giả có thể niệm theo phương pháp"Thập niệm cư số" Thập niệm cư số" là khi niệm Phật, phải ghi nhớ rành rẽ từ một đến mười câu, hết mười câu liền trở lại một, cứ như thế xoay vần măi. Nhưng phải niệm trong vòng mười câu mà thôi, không được hai mươi hoặc ba mươi câu, lại không được lần chuỗi mà dùng tâm ghi nhớ. Có thể phân làm hai đoạn từ một đến năm, từ sáu đến mười. Hoặc còn thấy kém sức lại chia làm ba hơi, từ một đến ba, bốn đến sáu, bảy đến mười.
Cần để ý: niệm nhớ và nghe phải rõ ràng, vọng niệm mới không xen vào được.
Dùng phép này lâu sẽ được nhứt tâm.
Điều tâm là pháp môn tu chủ chánh. Nếu có sự biến chuyển nơi thân, không nên để ý đến, mà phải chuyên giữ chánh niệm.
c) Phương pháp giải tọa (xả thiền)
Khi xả thiền, hành giả làm ngược lại tất cả, nghĩa là trước hết phải xả nơi tâm, kế xả nơi tức và sau cùng mới xả thân.
1.Xả Tâm. - Hành giả phải nhớ lại coi hiện giờ mình ngồi chỗ nào , nãy giờ mình làm ǵì, nhớ coi mình có bị tán loạn hay hôn trầm không, và mặc dầu có hay không, cũng vẫn hồi hướng công đức về Tây Phương để trang nghiêm Tịnh độ.
2.Xả Tức. - Sau khi xả tâm xong, hành giả mở miệng thở ra vài hơi thật dài để cho khí nóng trong người giảm bớt và để hồi phục lại trạng thái bình thường như trước khi tĩnh tọa.
3. Xả Thân. - Tâm, tức điều xả xong, lúc bấy giờ hành giả se sẽ rao động nơi lưng và cổ, khi mạch lạc chạy đều, từ từ duỗi hai tay ra, lấy hai bàn tay xoa nhè nhẹ với nhau, rồi xoa lên mắt, kế từ từ mở mắt. Sau đó uốn lưỡi một vài lần và nuốt chút nước miếng.
Tay và mắt xả xong, đến lượt xả hai chân. Trước hết phải lấy hai tay xoa hai bắp vế, rồi tháo lần lần hai chân ra, thoa hai bắp chuối và hai bàn chân. Khi nghe hai bàn chân nóng hết rồi, hành giả chuyển động nhè nhẹ toàn thân rồi đứng dậy, đi tới đi lui.
D-- Những điều cần để tọa thiền có kết quả
Hôn trầm, là một chướng trong việc tu thiền, thế nên thân phải bớt ngủ nghỉ.
Phật dạy đầu hôm cuối đêm thì tham thiền, nửa đêm thì tụng kinh để tự tiêu tức, nhưng nếu mình không kham nổi thì nên bớt sự ngủ nghỉ. Ban đêm thì chỉ nghỉ ba canh, từ 11 giờ đến 4 giờ sáng thôi, đó là lời dặn dạy của Cổ đức vậy. Còn nơi tâm thì phải có sự điều nhiếp theo ba cách dưới đây:
1. Không niệm tham dục.
2. Không niệm sân hận.
Nếu thực hành hai cách này mà không đắc lợi trên đường chánh định, hành giả phải kiểm điểm lại nơi tâm có sanh tội lỗi chi không, hằng ngày phải nói lời dịu dàng, hòa nhã cho tâm lóng xuống, đối với người và vật, giữ tâm cho mát mẻ và luôn luôn nhẹ nhàng.
3. Ngoài giờ tĩnh tọa phải giữ câu niệm Phật không rời tâm.
Tâm tương ứng với chánh định phát ra khinh an, trong thân sẽ thấy khoan khoái. Thân tâm hiệp nhứt, thân cảnh không hai, lúc bấy giờ hành giả ở trong định vắng lặng sẽ thấy thân tướng Phật, nghe Phật thuyết pháp và những cảnh giới nhiệm mầu không sao kể xiết... Đó chính là tướng niệm Phật thiện căn phát hiện do nơi công phu tọa thiền niệm Phật thành công vậy.
TÔI THỰC TẬP CẢ HAI:
ĐẠO BỤT VÀ ĐẠO KITÔ
Paul F. Knitter, tác giả cuốn sách “Không Học Phật, Tôi Đã Không Thể Là Một Con Chiên - Without Buddha I Could Not Be A Christian”, là Giáo sư Thần học về các Tôn giáo Thế giới và Văn hóa tại Chủng viện Union ở thành phố Nữu Ước chuyên dạy về Paul Tillich*. Ông là người chủ đạo khởi xướng về sự đối thoại giữa các tôn giáo có trách nhiệm tổng thể và là tác giả của trên 10 cuốn sách chung quanh chủ đề này. Trong cuốn sách mới nhất này, bằng tính cách cá nhân, ông chia sẻ những nỗ lực, phấn đấu, khó khăn trong tự thân đối với đức tin Kitô, đồng thời thuật lại những nghiên cứu học hỏi về đạo Bụt và thiền tập đã giúp ông vượt qua những khó khăn, chật vật đó như thế nào.
Đọc giả của National Catholic Reporter đã quen với đạo Bụt hoặc thực tập theo những tôn giáo và các truyền thống Đông phương khác sẽ nhận thấy cuốn sách này rất dễ chịu, thích thú và bổ ích. Thật là một điều khác thường đối với một nhà Thần học Cơ Đốc viết về kinh nghiệm tu học riêng tư của mình như Knitter đã làm trong cuốn sách này. Vừa qua tôi đã trò chuyện với ông về đức tin Kitô của ông và về triết lý đạo Bụt cũng như sự thực tập đã thấm vào lối suy tư và đời sống của ông như ông đã làm việc trong lãnh vực đối thoại giữa các liên hiệp tôn giáo, tín ngưỡng.
***
Fox: Ông có nghĩ rằng chính ông là một tín đồ Kitô giáo không?
Paul F. Knitter: Oh, hẳn nhiên. Tôi đã sinh ra trong gia đình Kitô giáo tại Chicago, lớn lên và học ở chủng viện. Tôi luôn nghĩ rằng mình là một tín đồ Kitô giáo, đặc biệt trong truyền thống Ki Tô giáo La Mã.
Fox: Ông nghĩ rằng ông là một Phật tử Kitô hay là một Kitô-Phật tử?
Paul F. Knitter: Hẳn nhiên đứng về danh từ thì là Kitô giáo hay Công giáo; nhưng đứng về phương diện tính từ thì là Phật tử. Có thể nói tôi là một Kitô-Phật tử. Nguồn gốc ban đầu của tôi là một người Công giáo.
Fox: Là một nhà Thần học Cơ Đốc, sự quan hệ chính thức của ông đối nhà thờ là như thế nào?
Paul F. Knitter: Tôi nghĩ tôi là một thành viên có khá nhiều uy tín của Hội Thần Học Công Giáo Mỹ. Tôi thực tập đạo Công giáo. Liên hệ của tôi đối với nhà thờ, theo tôi nghĩ cho đến bây giờ, vẫn tốt. Nhưng thẳng thắn và thành thật mà nói, tôi đã nhận sự cảnh cáo, sự nhắc nhở chung chung từ đức Giáo Hoàng Benedict lúc ngài còn là đức Hồng Y Joseph Ratzinger. Trong cuốn sách nói về những tôn giáo khác, ngài đã đề cập về tôi như là một trong những người đại diện cho khuynh hướng có thể dễ dàng rơi vào chủ thuyết tương đối. Tôi đang làm việc trong một lãnh vực có khá nhiều sự tranh cãi, cụ thể là làm thế nào để Kitô giáo có thể thấy được chính mình trong ánh sáng của các tôn giáo khác.
Fox: Trong sách của ông, ông có nói đến cụm từ “Tôi thực tập theo cả hai - double belonging.” Điều đó nghĩa là sao?
Paul F. Knitter: "Tôi thực tập theo cả hai" (double belonging) hiện nay đang được nói đến rất nhiều, ngay cả trong hàn lâm viện Thần học và trong giới tâm linh Kitô giáo. Tôi nghĩ nó là từ ngữ đã được sử dụng khi càng ngày càng có nhiều người thấy rằng họ thật sự được nuôi dưỡng bởi nhiều truyền thống tôn giáo hơn là một truyền thống tôn giáo, bởi nhiều truyền thống gia đình hơn là một truyền thống gia đình, bởi nhiều truyền thống địa phương hơn là một truyền thống địa phương.
Fox: Hiện tượng thực tập theo cả hai (double belonging) đang lan rộng tới mức nào?
Paul F. Knitter: Tôi không nghĩ tôi nói điều này cho tất cả mọi người, nhưng trong các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ, tôi cho rằng số người thực tập một cách nghiêm túc đức tin của họ đang tìm thấy rằng ở mức độ nào đó trong quá trình thực tập theo cả hai truyền thống tôn giáo... đang càng ngày càng trở thành một phần của đời sống họ.
Fox: Tại sao thời nay những tín đồ Kitô giáo có sự thích thú lớn rộng đối với đạo Bụt như thế?
Paul F. Knitter: Có nhiều lý do. Trong cuốn sách này, tôi có trích đoạn của một người bạn của tôi, Fr. Michael O’Halloran, trước đây là một vị thầy tu dòng Carthusian và bây giờ là Linh mục ở một địa phận thuộc quyền cai quản của một tổng giám mục tại Nữu Ước. Anh cũng là một vị thầy dạy thiền. Có lần Michael nói với tôi rằng đạo Kitô có bề dày về nội dung nhưng thiếu sót về phương pháp và kỹ thuật thực hành. Do đó tôi nghĩ đạo Bụt cống hiến cho các tín đồ Kitô giáo những kỹ thuật, những pháp môn thực tập thực tiễn để họ có thể thâm nhập vào cái nội dung, thực tại bằng chính kinh nghiệm tu tập bản thân của họ về những gì họ tin.
Fox: Theo ông nghĩ thì những tín đồ Kitô giáo cần cái gì nơi đạo Bụt?
Paul F. Knitter: Mong rằng tôi không khái quát hóa quá nhiều, nhưng tôi nghĩ điều này phải có liên quan đến sự không thỏa mãn mà những người theo đạo Kitô chúng ta cảm nhận đối với Thượng Đế, một vị được nhận thức là hoàn toàn nằm ở ngoài kia, một Thượng Đế hoàn toàn ngoài tôi, khác với tôi, một Thượng Đế đứng độc lập ngoài tôi và đương đầu với tôi. Tôi nghĩ chúng ta đang kiếm tìm những pháp môn thực tập như thế nào đó để có thể nhận ra một Thượng Đế thiêng liêng, siêu việt, một Thượng Đế không gì khác hơn là một phần của chính mình.
Tôi nghĩ những tín đồ Kitô giáo đều đang tìm kiếm con đường, phương pháp thực nghiệm để thấy được Thượng Đế trong một khuynh hướng đoàn kết, hợp nhất, hoặc điều tôi nói trong sách là “con đường hay cái nhìn bất nhị - non-dual way,” nơi mà Thượng Đế trở thành một thực tại tất nhiên khác biệt tôi, nhưng là một phần của chính hiện hữu tôi.
Fox: Đạo Bụt không xác nhận sự có mặt của Thượng Đế. Đạo Bụt đã được mô tả như là một tôn giáo “vô thần”. Làm thế nào đạo Bụt có thể có tầm quan trọng lớn cho một tôn giáo hữu thần như Kitô giáo?
Paul F. Knitter: Chúng ta phải thật cẩn thận với cách chúng ta sử dụng chữ “vô thần.” Hẳn nhiên đạo Bụt không xác nhận sự có mặt của một Thượng Đế cá biệt, độc lập, nằm ngoài sự vật, nhưng tôi nghĩ cái thuật ngữ hay hơn có lẽ là “phi hữu thần” hơn là “vô thần”. Đạo Bụt không phủ nhận Thượng Đế, nhưng có lẽ nếu tôi diễn đạt theo cách này, thì Bụt và rất nhiều giáo điển Bụt dạy chú trọng đến sự chứng ngộ cái thực tại bản môn - thực tại bất sinh bất diệt, không một không khác, không trong không ngoài... hơn là định nghĩa và miêu tả, đặt tên. Khi bạn hỏi Bụt, “Ngài thuộc về phạm trù nào sau khi ngài đã giác ngộ hay khi ngài chứng được niết bàn?” Một trong những thuật ngữ hoặc tư tưởng đã được sử dụng là sunyata, nghĩa là không - trống rỗng. Đó không phải là một diễn giải hay, nhưng nó là chữ họ sử dụng để nhận diện rằng thực tại bản môn không phải là một thực thể thường hằng bất biến, một hiện hữu trường tồn, biệt lập, nhưng đúng hơn là cái mà họ gọi là tương quan tương duyên, tương tại, tương kết của mọi sự mọi vật. Hoặc như vị Thiền sư Việt Nam, Thích Nhất Hạnh sử dụng thuật ngữ “tương tức” để diễn bày cái thực tại bản môn. Đạo Bụt đã giúp tôi khám phá trở lại sâu sắc hơn cái nghĩa lý mà trong kinh Tân Ước, có lẽ nó là cái định nghĩa duy nhất về Thượng Đế mà chúng ta thấy khi kinh nói rằng “Thượng Đế là tình thương.”
Tôi nghĩ giáo lý “tương tức” của đạo Bụt giúp tôi nắm bắt, khái niệm được cái mà trong thuật ngữ Kitô giáo chúng ta muốn nói khi chúng ta nói thực tại thiêng liêng là tình thương, và điều đó đã mở đường cho tôi và tôi nghĩ cũng cho rất nhiều tín đồ Kitô biết cách nắm bắt, khái niệm trở lại một trong những biểu tượng chính về Thượng Đế, đó là linh hồn.
Như vậy đối với tôi bây giờ khi nói chữ “Thượng Đế”, những gì tôi khái niệm, hình dung, cảm nhận, thật phải cảm ơn đạo Bụt, là một linh hồn tương tức tương nhập – linh hồn bất tử này, cái bất tử, năng lượng tương tức này không phải là một con người, nhưng rất cá biệt, ấy là cái mầu nhiệm chung quanh tôi, chứa đựng tôi, ôm lấy tôi, và là cái mà tôi tiếp xúc được trong Bí tích thánh thể, trong các lễ lược tụng niệm, và đặc biệt là trong thiền tập.
Fox: Bụt là người giác ngộ; Chúa Kitô là thánh linh. Đó là một sự khác biệt lớn, đúng không?
Paul F. Knitter: Đúng vậy. Đó là sự khác biệt lớn. Trước hết, khi chúng ta nhìn vào ngôn ngữ mà chúng ta, những tín đồ Kitô Giáo sử dụng để nói về sự mầu nhiệm của Chúa Kitô, có lẽ hai chữ nguyên sơ mà chúng ta sử dụng hoặc chủ thuyết mà chúng ta chứng nhận rằng Chúa Kitô là đức Chúa Con và đức Kitô là Chúa Cứu Thế. Bây giờ hai danh từ ấy, Đức Chúa Con, đức Chúa Cứu Thế, đều là những gì chúng ta tin. Những biểu đạt này là những cố gắng của chúng ta nhằm đưa sự mầu nhiệm của Thượng Đế vào ngôn từ. Tất cả những ngôn từ đều là những nỗ lực của chúng ta cố gắng diễn đạt thành lời những cái mà không bao giờ có thể được hoàn toàn diễn đạt bằng lời. Nói cách khác, chúng ta đang sử dụng những biểu tượng, chúng ta đang sử dụng những ẩn dụ, chúng ta đang sử dụng những suy luận để miêu tả Thượng Đế. Điều này đi thẳng trở lại với Thánh Thomas Aquinas và thầy của tôi, Karl Rahner. Tất cả ngôn ngữ của chúng ta đều mang tính ước lệ, tượng trưng.
Fox: Như vậy, khi những tín đồ Kitô giáo nói rằng Chúa Kitô đã đến cứu chúng ta, chúng ta không phải chỉ nói như thế, phải không?
Paul F. Knitter: Chúng ta đang nói một điều gì đó rất chân thật, điều mà chúng ta đã kinh nghiệm qua, nhưng chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt được cái thực tại tròn đầy của Chúa Kitô hay của Thượng Đế bằng những ngôn từ ấy. Hơn nữa, hãy sử dụng ý tưởng đạo Bụt như đạo Bụt đã thường sử dụng: ngôn từ chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải là mặt trăng của tự thân. Ngôn từ không bao giờ có thể được đồng nhất trọn vẹn với cái thực tại đang phơi bày mầu nhiệm.
Fox: Ông viết rằng những tín đồ Kitô giáo cần một bí tích thứ tám. Xin hãy giải thích.
Paul F. Knitter: Điều này có lẽ đã là một yếu tố then chốt mà tôi và nhiều người khác đã học được từ đạo Bụt: sự quan trọng của im lặng. Trong một trạng thái thiền định chúng ta nhận ra rằng cái mầu nhiệm của Thượng Đế là điều không thể nắm bắt được một cách dễ dàng bằng sự suy tưởng.
Điều này ăn khớp với thần học bí tích trong Công Giáo chúng ta. Chúng ta nói rằng mỗi cái Lễ chứa đựng vật thể và hình thức. Như vậy vật thể trong sự im lặng của bí tích là hơi thở của mình, là ý thức về hơi thở của mình, là trở thành một với hơi thở, là không làm gì cả mà chỉ thở thôi.
Fox: Có vài lần trong sách, ông trích dẫn lời của Thích Nhất Hạnh, vị Thiền sư người Việt Nam. Ông viết, lặp lại lời của Nhất Hạnh, rằng: muốn thực hiện hòa bình, trước hết bản thân của chúng ta phải sống hòa bình. Đảo lại lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Paul VI, rằng: nếu chúng ta muốn công bằng, chúng ta phải tìm kiếm hòa bình. Phải vậy không?
Paul F. Knitter: Nhà tôi và tôi đã bỏ nhiều thời gian vào những năm 80 và 90 hoạt động ở El Salvador cho hòa bình trong thời chiến tranh. Như vậy chúng tôi đã hoạt động cho hòa bình suốt cả cuộc đời của chúng tôi - suốt thời gian 20 năm ấy chúng tôi đã là những nhà hoạt động cho hòa bình, những nhà hoạt động cho xã hội. Nhưng khi nhìn trở lại thời gian hành động ấy, tôi nhận thấy những hành động ấy của chúng tôi thường chứa đầy những lời nói bạo động.
Trong thời gian ấy chúng tôi đã phải cưỡng lại, phải đương đầu với những cấu trúc xấu ác. Có những cấu trúc xấu ác thật, nhưng cũng có cái gì đó thiếu hụt trong tôi. Cái thiếu hụt ấy tôi đã nhận ra được trong một kinh nghiệm mà tôi đã có vào năm 1986 hoặc 1987 khi tôi tham dự một khóa tu thiền với Roshi Bernie Glassman.
Trong thời gian khóa tu tôi nói với Glassman rằng chúng tôi sẽ đi xuống El Salvador để cố gắng làm cái gì đó nhằm ngăn chặn những hiện tượng chết hàng loạt khủng khiếp. Ông nói: “Đúng vậy, quý vị phải ngăn chặn những hiện tượng chết hàng loạt, nhưng đồng thời quý vị cũng phải tu, phải thiền tập bởi vì quý vị sẽ không bao giờ ngăn chặn được sự cố ấy nếu quý vị chưa nhận ra được mình chính là họ, mình là một với họ, mình tương tức với họ”.
Đó là sự giác ngộ mà đạo Bụt mời gọi chúng ta hướng về, sự giác ngộ thâm sâu bằng chính bản thân về tuệ giác tương tức tương nhập, tương quan tương duyên với tất cả mọi loài, ngay cả đối với những ai mình đã và đang chống đối và xem họ như là những kẻ đàn áp, áp bức, như là những thủ phạm của sự xấu ác. Chúng ta là một, tương tức với họ. Đây là những gì thầy Thích Nhất Hạnh muốn nói khi Thầy nói rằng chúng ta phải có an bình ngay trong chính bản thân của chúng ta. Chúng ta phải vượt thắng cái vỏ ốc bản ngã của chúng ta và nhận ra được sự tương quan tương duyên, tương tức của mình đối với tất cả mọi loài.
Fox: Ông có viết, “Đối với những người Phật tử, tính ích kỷ không phải là tội lỗi mà là chính cái ngu dốt.” Điều đó nghĩa là gì?
Paul F. Knitter: Đây là một khía cạnh, theo tôi nghĩ, đặc biệt được đánh giá cao hoặc rất cần đối với nhiều người Kitô giáo. Đối với đạo Bụt, và tôi cũng muốn nói cho Kitô giáo nữa, tính chất nền tảng của chúng ta rất tốt. Tính chất nền tảng của chúng ta là tính Bụt (Phật tính), ấy là chúng ta là một phần của vũ trụ vạn hữu, tương tức, chúng ta là một đại thể tương quan tương duyên, tương tác, chúng ta được mời gọi trở về để nhận biết về cái thực tại mầu nhiệm ấy và để hành động bằng tình thương, bằng lòng từ bi, nhân ái.
Nhưng vấn đề là chúng ta không nhận ra được chân lý này. Bởi vì chúng ta không nhận ra được chân lý này, bởi chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những cá thể biệt lập thay vì là một hợp thể tương quan tương duyên, chúng ta nghĩ chúng ta phải bảo vệ chính chúng ta. Chúng ta nghĩ chúng ta phải thủ đắc cái gì đó để củng cố nguồn gốc, bản ngã của chúng ta và vì thế chúng ta hành động một cách ích kỷ. Chúng ta hành động ích kỷ không phải vì chúng ta mất mát, không phải vì chúng ta xấu ác trong bản chất mà do vì chúng ta vô minh.
Fox: Ông có viết rằng trong tương lai, những người tin theo Kitô giáo sẽ trở thành mầu nhiệm hoặc họ sẽ không trở thành cái gì cả. Ông nói như vậy nghĩa là sao?
Paul F. Knitter: Đó là một sự trích dẫn thiếu chặt chẽ từ thầy của tôi, Karl Rahner. Những gì thầy tôi khám phá ra là thế này: Có quá nhiều sự thách thức và khó khăn mà chúng ta đối diện, rằng nếu nguồn gốc của chúng ta không được dựa trên kinh nghiệm của chính mình về Thượng Đế, nếu Thượng Đế không phải là một phần của họ (Kitô hữu), nếu họ không phải là một với Chúa Kitô, nếu Chúa Kitô không phải là chính cái hiện hữu của họ, thì họ sẽ không có khả năng tìm thấy được sức mạnh, sức nhẫn nại và có tuệ giác để bước vào cái cõi thênh thang ấy hay gọi là Nước Chúa.
Fox: Ông có viết trong sách rằng đạo Bụt đã giúp ông nhìn kỹ vào sự mầu nhiệm sau cái chết. Vậy sau cái chết và sống là gì?
Paul F. Knitter: Đối với tôi, có lẽ đó là cái hữu ích nhất, nhưng có thể là phần gây sự tranh cãi nhiều nhất trong cuốn sách của tôi. Đạo Bụt nói với chúng ta rằng ngay trong kiếp hiện tại này, con người thật của mình, hạnh phúc chân thực của mình, là phải vượt thoát khỏi cái tính chất cá thể của mình, tức là cái bản ngã. Tôi nghĩ điều đó cộng hưởng với câu nói trong Phúc Âm: “Nếu hạt lúa mì không thật sự rơi xuống đất và chết đi, thì nó sẽ không tái sinh và đơm hoa kết trái”. Đạo Bụt đã dẫn dắt tôi nhìn sâu hơn vào cái trạng thái mà đạo Bụt muốn nói hoặc Chúa Kitô muốn nói khi ngài nói, “Bạn sẽ không tìm ra được chính mình nếu bạn không đánh mất chính mình”.
Điều này đã giúp tôi nhận diện ra một cái gì đó mà đối với tôi hình như thỏa mãn hơn, ấy là sự sống chờ tôi sau khi tôi chết để tôi sẽ vẫn tiếp tục hiện hữu, sự hiện hữu đó vượt thoát cái hiện hữu biệt lập này của tôi, một hình tướng Paul Knitter. Tôi sẽ tiếp tục có mặt (biểu hiện), nhưng chắc chắn tôi sẽ không có mặt y hệt như là hình tướng của Paul Knitter. Nói cách khác, đời sống của chúng ta trong tương lai sau khi chết là một hình thái biểu hiện siêu việt tính chất cá thể biệt lập. Điều đó không có nghĩa là tôi bị tiêu diệt, trở thành hư vô; điều đó không có nghĩa rằng tôi không còn hiện hữu, nhưng tôi sẽ hiện hữu trong một sự chuyển biến triệt để, chuyển cái hiện hữu như một cá thể biệt lập, tức là cái ngã hiện hữu nằm riêng lẻ ngoài mọi sự mọi vật khác.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét