THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Tính chất giáo dục của Giới luật Phật giáo

Phần II - Bài đọc thêm Tính chất giáo dục của Giới luật Phật giáo ________________________________________ Lịch sử cho chúng ta thấy có những tôn giáo, những chủ thuyết tỏ ra sáng giá một thời, nhưng khi trải qua những thử thách khắt khe của thời gian thì liền chìm vào quên lãng. Tại sao vậy? Tại vì nó thiếu những nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn và thiếu các tu sĩ để duy trì. Phật giáo nói riêng, các tôn giáo khác nói chung, tỏ ra đủ sức mạnh để tồn tại với thời gian là vì có những nguyên tắc sống tương đối hoàn chỉnh và có các tu sĩ thuộc thành phần cốt cán để duy trì. Các tu sĩ thường có bổn phận giữ gìn những giới luật mang tính chất giáo dục rất đa dạng, nhằm hướng dẫn cuộc sống của mình đến chỗ hoàn thiện. Sau đây, chúng tôi xin trình bày về tính chất giáo dục trong giới luật của đạo Phật. 1- Phát huy lòng từ bi, cứu khổ Ðức từ bi, cứu khổ gần như là đặc trưng của Phật giáo. Nói đến đạo Phật, người ta nghĩ ngay đến «cửa từ bi«, «đạo cứu khổ«, vì đó là bản chất của Phật giáo, nên kinh điển và giới luật luôn đề cập đến. Giới thứ 9 của Bồ tát nói: «Không được giận dữ kẻ khác, mà phải phát khởi từ tâm tha thứ những lỗi lầm của họ«. Giới thứ 21 lại bảo: «Không được đem sự thù hận để đáp lại sự thù hận, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập, không mang tâm niệm trả thù những kẻ đã tàn sát những người thân yêu của mình. Tóm lại, tàn sát sự sống để trả thù sự sống là hành vi trái với đạo hiếu sinh của Bồ tát«. Cố nhiên, «hại nhân nhân hại«, «sát nhân thường mạng« đó là lẽ thường tình của cuộc đời, nhưng cứ «dĩ oán báo oán« thì oán oán sẽ chập chùng, vòng nhân quả «vay trả trả vay« sẽ trở nên bất tận khiến cho những nỗi khổ đau của kẻ khác và của chính mình sẽ không bao giờ kết thúc. Thế nên Ðức Phật dạy các đệ tử của Ngài phải «dĩ đức báo oán« thì mới chuyển hóa được oan gia trở thành bạn lữ. Tha thứ và cứu giúp kẻ khác là trách nhiệm của hàng đệ tử đấng Giác ngộ, như trong giới thứ 6 Bồ tát trình bày: «Nếu có người đến cầu xin, thì người Phật tử phải tùy theo khả năng của mình mà giúp đỡ họ«, và «Khi thấy người bệnh tật, người Phật tử phải cứu giúp họ như phụng sự chư Phật«. Giúp đỡ người cùng khốn, cứu chữa kẻ bệnh tật là việc ai cũng làm được và đều có nghĩa vụ phải làm chứ không riêng gì đệ tử của Phật. Ðiều đáng nói ở đây là Ðức Phật xem những việc từ thiện đó như là biểu lộ sự quan tâm và phụng sự chính Ngài. Lời khuyên dạy này nói lên tấm lòng nhân ái bao la của Ðức Ðạo sư, chính vì thế mà nhân loại tôn xưng Ngài là đấng Từ bi và đạo của Ngài là đạo Cứu khổ. Ðức từ bi của Phật không những nhằm cho con người mà còn phổ cập đến cả muôn loài qua giới «Không sát sinh« (giới thứ nhất của người tại gia). Nhưng muốn giữ trọn vẹn giới không sát sinh, người thọ giới Bồ tát còn phải giữ giới «Không ăn thịt« (giới 20 của Bồ tát); không ăn thịt là thể hiện trọn vẹn lòng từ bi của Ðức Phật và của hàng đệ tử Phật đối với muôn loại sinh linh. 2- Thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước Muốn giúp đỡ kẻ khác hữu hiệu, đúng ý nghĩa thì chính bản thân mình phải sống bằng một nếp sống kỷ cương và tri túc. Do đó, các vị Tăng sĩ phải tuân thủ những giới điều như: «Chỉ may sắm ba y, dùng một bình bát, một tọa cụ v.v... Ngoài ra, nếu có thí chủ cúng dường thêm thì phải đem bố thí cho kẻ khác. Vị Tỷ kheo phải dùng ngọa cụ đủ 6 năm mới được thay cái mới, phải dùng bình bát cho đến khi vỡ mới được sắm cái khác. Không được thu góp, cất chứa vàng bạc châu báu làm của riêng mình (ngoại trừ trường hợp giữ gìn cho tập thể). Thầy Tỷ kheo không được nằm giường cao, nệm êm, không được trang sức hoa mỹ«. Tất cả đều nói lên tinh thần ít muốn, biết đủ, sống giản dị nhằm đoạn trừ lòng tham, dốc tâm tu học hầu đạt đến an lạc thật sự. Người xuất gia còn phải giữ giới «Không ăn phi thời (ăn không đúng giờ), không ăn nhiều bữa, không chuộng thức ngon v.v...«. Tóm lại, người xuất gia còn phải tuân thủ phương châm «Tam thường bất túc«, nghĩa là ba sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thãi, sung túc. Bởi vì, nếu sự hưởng thụ vật chất quá sung mãn thì dễ làm cho tinh thần người ta trở nên nhu nhược, chậm lụt. Nói như thế không có nghĩa là đạo Phật chủ trương trở về cuộc sống lạc hậu. Phật giáo không bao giờ phủ nhận những giá trị của các phương tiện văn minh vật chất, vì cuộc sống con người cần phải được ăn ngon, mặc đẹp, hưởng thụ những nhu cầu cần thiết. Tuy nhiên, cái gì thái quá cũng đều không hay. Phật giáo không chủ trương con người phải sống nghèo đói, thiếu thốn, mà chỉ cổ vũ tinh thần tri túc, tiết kiệm, vừa mức trung bình. Có như vậy mới không bị sự sung mãn cám dỗ, và nhờ thế mới có thì giờ và điều kiện quan tâm giúp đỡ, chia sẻ mọi nỗi thống khổ của những người thiếu may mắn. 3- Thanh liêm, công chính, tôn trọng tài sản kẻ khác Ðức thanh liêm công chính là đức tính cần thiết tạo nên niềm tin cậy và kính trọng lẫn nhau trong mối tương giao giữa cá nhân và xã hội. Luật dạy, thầy Tỷ kheo muốn cử tội (phê bình) kẻ khác phải hội đủ 5 điều kiện sau đây thì lời cử tội mới có giá trị: a)- Nói đúng lúc, không bạ đâu nói đó. b)- Nói chân thật, không nói hư ngụy. c)- Nói có lợi ích, không nói vô ích. d)- Nói nhã nhặn, không nói thô lỗ. e)- Nói với từ tâm, không nói với ác tâm. Ðiều này phù hợp truyền thống đạo đức mà ông cha ta đã dạy: «Tiên xử kỷ, hậu lai xử bỉ - xét lỗi người phải biết xét lỗi mình«. Nghĩa là chính bản thân mình phải công tâm, chân chính thì tác dụng xây dựng mới đem lại kết quả, bằng ngược lại, nếu «Thân mình không độ được, thì làm sao độ được thân người khác. Bệnh mình không chữa được, thì làm sao chữa được bệnh tha nhân« (Thử thân bất độ, hà thân độ. Tự bệnh bất năng cứu, hà cứu bệnh nhân). Thiết tưởng đức công chính không chỉ có giới tu sĩ Phật giáo mới cần đến mà mọi người ai cũng phải có, nhất là những người cầm quyền chính và luật pháp lại càng cần nó hơn ai hết. Người có lòng công chính tất nhiên sẽ tôn trọng tài sản của người khác. Thế nên, giới thứ 30 trong thiên Ni-tát-kỳ-ba-dật-đề của Tỷ kheo viết: «Không được biển thủ tài sản của chúng Tăng« và giới 16, 17 Ba-dật-đề viết: «Không được chiếm đoạt chỗ ở hay vật sở hữu của người khác«. Những điều này dạy cho người đệ tử Phật từ bỏ lòng tham, sống theo lương tâm, liêm khiết, biết quý trọng vật sở hữu của tha nhân và tôn trọng tài sản của cộng đồng xã hội. Có như vậy mới tạo nên cuộc sống ổn định và tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, đoàn thể và xã hội. Do đó, giới thứ 17 của Bồ tát còn nhấn mạnh: «Nếu là Phật tử mà vì danh lợi thúc đẩy, thân cận với kẻ quyền quý, rồi ỷ thế sách nhiễu, chiếm đoạt tài sản của người, đó là hành vi tàn ác, phạm tội khinh cấu«. Ðiều này không phải chỉ có người Phật tử thọ giới Bồ tát mới giữ gìn, mà thiết tưởng bất cứ ai muốn sống đúng với truyền thống đạo đức của tổ tiên, sống theo lương tâm và lẽ công bằng chánh trực đều phải cố gắng tuân thủ. Bởi lẽ, nếu dựa dẫm vào những kẻ có thế lực, hay lạm dụng quyền hành để chiếm đoạt tài sản của kẻ khác, hoặc biển thủ công quỹ, thì đó là hành vi tội ác, trái với đạo lý, chắc chắn sẽ gánh lấy quả báo đau khổ ngay trong hiện tại hoặc trong tương lai. Vì của cải của người ta là núm ruột của họ, ai mất của mà không đau xót, tiếc rẻ. Nhưng dù cho của chung, công quỹ đi nữa thì cũng do mồ hôi nước mắt của tất cả những người dân lương thiện tạo thành, chứ đâu có phải những thứ từ trên trời rơi xuống. Thế nên, những người càng có chức, có quyền, có trách nhiệm lại càng phải sống hết sức thanh liêm và công chính. Lẽ ra giới này phải dành cho hạng người có quyền cao chức trọng, có trách nhiệm quản lý tài sản của tập thể và của quốc gia mới đúng. Vì chính những hạng người này mới dễ bị tiền tài cám dỗ, kích động lòng tham đâm ra làm nhiều điều phi pháp. Bằng chứng cụ thể là hàng ngày chúng ta nghe những tiếng kêu than, những lời lên án của giới báo chí và của những người dân lương thiện về tình trạng tham nhũng. Quả thực hiện nay không có bất cứ một giới điều nào khác mang đầy đủ tính thiết thực và tính thời đại cho bằng giới điều này. Phải chăng đây là một trong những cống hiến rất có ý nghĩa của giới luật đạo Phật trên phương diện giáo dục con người về đức tính thanh liêm? 4- Kính nhường bậc trưởng thượng, tôn trọng danh dự kẻ khác Ðức hiếu thuận, kính cẩn là đức tính cao quý của con người, cho nên giới thứ 35 của Bồ tát nói: «Phải phát khởi tâm nguyện hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng«. Ngoài ra, đã là một đệ tử Bồ tát thì không được «khen mình, chê người« như giới thứ 7 của Bồ tát đề cập. Hơn thế nữa, giới này còn nói: «Việc xấu thì tự nhận về cho mình, việc tốt thì gán cho kẻ khác. Nếu làm trái lại, tự khoe cái hay của mình, giấu cái tốt của người, làm cho họ phải chịu mọi sự phỉ báng thì đó là tội Ba-la-di của Bồ tát«. Thiết nghĩ, hành động như vậy thật là cực kỳ cao thượng, mà có lẽ chỉ có hạng đại sĩ mới thực hiện được. Nhằm xây dựng cuộc sống tập thể lý tưởng, thân ái, hài hòa, giới Tăng tàn thứ 8, thứ 9 của Tỷ kheo nói: «Không được vu khống kẻ khác, không được giả tạo chứng cứ để vu oan giá họa cho người, cũng không được chụp mũ những người mà mình không thích«. Thế còn giới Ba-dật-đề thứ 23 thì bảo: «Không được chế nhạo bạn đồng phạm hạnh«, và giới Ba-dật-đề thứ 55 còn thêm: «Không được khủng bố, dọa nạt các bạn đồng tu«. Nếu như trong một tập thể, ai nấy đều tuân thủ nghiêm chỉnh những điều giáo huấn trên đây thì sẽ không bao giờ xảy ra những việc xích mích. Do đó, sẽ đảm bảo được đời sống thanh tịnh an lạc cho chính mình và mọi người. Tiến xa hơn nữa, nhằm mục đích mở rộng phạm vi giao lưu từ cá nhân đến đoàn thể xã hội và quốc gia, giới Bồ tát thứ 13 nói: «Không được vô cớ hủy báng những người hiền lương, đức hạnh, những vị pháp sư, quý nhân và quốc vương«. Với những nội dung như trên, quả thực giới luật bao hàm ý nghĩa rất là hoàn hảo. Nếu như tập thể nào, xã hội nào, quốc gia nào cũng khuyến khích mọi người áp dụng giới luật của Phật (chứ không riêng gì Phật tử), thì thử hỏi xã hội sẽ tốt đẹp biết chừng nào! Vì đó là những nguyên tắc sống rất nhân bản, rất đời thường và rất dễ thực hiện, ai cũng có thể vận dụng để hoàn thiện phẩm giá của chính mình và góp phần tạo dựng một cộng đồng nhân loại hòa bình, an lạc. Tóm lại, qua những gì đã trình bày trên đây, chúng ta thấy giới luật của Ðức Phật dạy con người phát huy lòng từ bi, cứu khổ; thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước; giữ gìn đức thanh liêm công chính, tôn trọng tài sản kẻ khác; kính nhường bậc trưởng thượng, tôn trọng danh dự kẻ khác... Thiết nghĩ, đây là những nguyên tắc giáo dục rất lý tưởng không riêng gì cho đệ tử của Phật mà là cho tất cả mọi hạng người, không riêng gì cho thời đại Ðức Phật mà là cho tất cả mọi thời đại, nhất là trong thời đại văn minh tiến bộ ngày nay. Tuy nhiên, trên đời này không có bất cứ một thứ gì là hoàn hảo tuyệt đối, giới luật của Phật cũng không ra ngoài công lệ ấy, cho nên khó mà tránh khỏi một vài nhược điểm. Ðó là điều mà chúng ta sẽ bàn đến trong phần tổng luận sau đây. Tổng luận Mục đích của người tu hành là hướng đến giải thoát và giác ngộ, mà muốn được giải thoát, giác ngộ thì đương nhiên phải tuân thủ một số nguyên tắc. Những nguyên tắc căn bản ấy đầu tiên được thiết lập dựa vào tinh thần của bài kệ: «Không làm các điều ác, Vâng làm các hạnh lành, Giữ tâm ý trong sạch, Lời Phật dạy rành rành«. (Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo). và được cô đọng thành những tiêu ngữ như: «Phòng phi chỉ ác« (Ngăn ngừa điều sai trái, chấm dứt việc xấu ác) «Biệt biệt giải thoát« (Giữ gìn chừng mực nào thì giải thoát chừng mực ấy) hay: «Tị thế cơ hiềm« (Tránh những sự chê bai của người đời) v.v..., đồng thời tóm tắt thành 10 mục đích sau đây: 1. Ðể nhiếp phục Tăng chúng 2. Ðể Tăng chúng đạt đến cực thiện 3. Ðể Tăng chúng sống an lạc 4. Ðể chiết phục những người không biết hổ thẹn 5. Ðể những người biết hổ thẹn sống yên ổn 6. Ðể cho những người chưa tin sinh khởi lòng tin 7. Ðể cho những người đã tin càng thêm tin tưởng 8. Ðể diệt trừ các lậu hoặc trong hiện tại 9. Ðể ngăn ngừa các lậu hoặc trong tương lai 10. Ðể cho chánh pháp được tồn tại lâu dài (1). Giáo sử cho chúng ta biết rằng trong giai đoạn đầu, Phật chỉ đề ra những nguyên tắc khái quát như thế mà chưa quy định thành những giới điều cụ thể. Thế nhưng, đến năm thứ 12 sau khi Phật thành đạo, trong hàng ngũ Tỷ kheo có người làm những việc sai trái khiến cho người đời chê trách, làm tổn thương đến thanh danh của Thánh chúng, gây trở ngại cho sự tu tập, do đó Phật mới tùy phạm tùy chế, nghĩa là vi phạm việc gì thì chế định ngay việc ấy. Thế rồi, dần dần trải qua thời gian, những giới luật mà Phật đã chế định được gom lại thành Ngũ thiên bát tụ (5 cột 8 nhóm) mà cụ thể là 250 giới của Tỷ kheo và 348 giới của Tỷ kheo ni theo luật Pàli. Tất nhiên, ở đây có sự dị biệt giữa Nam tông và Bắc tông, nhưng rất nhỏ, không đáng kể. Ðó là sự hình thành của giới luật thời Phật còn tại thế và được kết tập lần đầu sau khi Phật nhập Niết bàn. Thế rồi, các đệ tử của Phật căn cứ theo đó mà hành trì cho đến ngày nay. Thiết nghĩ không gian và thời gian luôn luôn thay đổi, nếu cứ áp dụng nguyên xi một thứ giới luật được quy định từ thời Ðức Phật thì khó mà tránh khỏi có nhiều điều bất cập. Chúng ta thấy rằng những bản hiến pháp và những bộ luật của thế gian luôn luôn được cập nhật hóa (bằng cách thay đổi và bổ sung) thì mới thích ứng được với sự biến đổi của hoàn cảnh và thời đại. Nếu như chúng không được điều chỉnh và bổ sung đúng lúc thì sau một thời gian, ắt hẳn sẽ có nhiều điều trở nên lỗi thời và vô tác dụng. Ðó là quy luật đào thải rất khắt khe của vạn sự trong vũ trụ. Thế còn đối với giới luật thì sao? Chúng ta biết rằng Ðức Phật sinh tại Êẽn Ðộ, cách nay 25 thế kỷ, và giới luật được chế định từ lúc đó. Nhưng mỗi quốc gia có những truyền thống văn hóa, khí hậu, địa lý, phong tục tập quán khác nhau và mỗi thời đại cũng luôn luôn tiến hóa đổi khác, thế thì giới luật của Phật có thể thích hợp với mọi không gian và mọi thời đại hay không? Và nếu như không hoàn toàn thích hợp thì tại sao các đệ tử của Phật không điều chỉnh để cho phù hợp với từng không gian và từng thời đại? Thiết nghĩ có mấy lý do như sau: 1. Giới luật chỉ do Phật chế định. Chúng ta biết rằng kinh do Phật thuyết, ngoài ra còn do các cao đồ của Phật cũng như những vị thánh hiền xưa nay tuyên thuyết, còn luận thì do các bậc cao tăng thạc học, các vị luận sư uyên bác mổ xẻ phân tÐch, chú giải kinh điển mà tạo thành. Thế nhưng, giới luật thì chỉ có Phật chế định, ngoài ra không ai được phép chế định cũng như không đủ thẩm quyền để chế tác. Ðó là điều mà giáo sử đã khẳng định. 2. Lý do thứ hai là trong lần kết tập pháp tạng thứ nhất, tôn giả A Nan cho tôn giả Ca Diếp biết rằng trước lúc nhập diệt, Phật có di chúc rằng trong những giới luật do Ngài chế định, sau này nếu các Tỷ kheo thấy có những giới nhỏ nào không còn phù hợp thì có thể tùy nghi bỏ đi. Ca Diếp bèn hỏi A Nan: «Vậy chứ Phật có nói cụ thể những giới nào được xem là nhỏ có thể bỏ đi hay không?«, thì A Nan đáp rằng: «Phật không nói cụ thể«. Do đó, tôn giả Ca Diếp kết luận: «Vì Phật không nói cụ thể, cho nên, nếu giờ đây chúng ta cho rằng những giới Ðột-cát-la (ác hạnh) là nhỏ nhiệm nên bỏ đi, thì có người sẽ nói rằng không những giới Ðột-cát-la nên bỏ đi mà giới Ba-la-đề-đề-xá-ni cũng nên bỏ đi. Rồi người khác lại nói, không những giới Ba-la-đề-đề-xá-ni nên bỏ mà giới Ba-dật-đề (bị đọa lạc) cũng nên bỏ v.v..., cứ như thế thì không biết đến đâu là giới hạn và trong đại chúng sẽ nảy sinh sự tranh cãi, khó mà nhất trí. Bởi vậy, tốt hơn hết là những gì Phật đã chế định, chúng ta phải kết tập đầy đủ (và khi áp dụng thì tùy nghi châm chước), còn những gì Phật không chế định thì chúng ta không được tùy tiện đặt thêm«. Chung cuộc, lời kết luận ấy đã được đại chúng đồng thanh nhất trí tán thành (2). 3. Lý do thứ ba là sự kiện Ðề Bà phá Tăng: Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta) phát tâm xuất gia với thiện chí tu hành tinh tấn trong 12 năm đầu, nhưng về sau ưa thích phép thần thông, phế bỏ chánh đạo. Thầy muốn đảo chánh Phật để giành quyền lãnh đạo chúng Tỷ kheo, bèn cấu kết với vua A Xà Thế (Ajatasattu), xúi giục, thuyết phục vua sát hại phụ vương để đoạt ngôi báu, như sau: «Ngươi giết cha, ta giết Phật; ngươi sẽ làm vua nước Ma Kiệt Ðà (Magadha), ta sẽ làm Phật. Bấy giờ tại nước Ma Kiệt Ðà này có một vị vua mới, một vị Phật mới, như thế chẳng khoái sao?«. Thế rồi, Ðề Bà Ðạt Ða bàn bạc cùng bốn đệ tử tâm phúc, đi đến thưa với Phật: «Bạch Thế Tôn! Thế Tôn tuổi tác đã cao, nên giao chúng Tăng lại cho con. Thế Tôn chỉ cần thụ hưởng pháp lạc hiện tại, để Tăng chúng cho con lãnh đạo«. Phật dạy: «Này Ðề Bà Ðạt Ða! Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đại trí tuệ và thần thông như thế, Ta còn không giao chúng Tăng cho họ thay, huống chi ngươi là người ngu, là cái thây ma, mà Ta lại đem Tăng chúng giao cho ngươi hay sao?«. Bị Phật thẳng thừng bác bỏ ý đồ đen tối của mình, Ðề Bà liền bàn với bốn đệ tử: «Ta với các ngươi hãy cùng nhau phá hòa hợp Tăng, hoại pháp luân của Sa môn Cù Ðàm; làm như thế, chúng ta đã nổi tiếng là người đã phá hòa hợp Tăng, hoại pháp luân của Phật«. Vì đã rắp tâm làm điều nghịch đạo, Ðề Bà liền xướng xuất 5 việc phi pháp sau đây: 1. Tỷ kheo suốt đời mặc y phấn tảo (loại vải nhặt được từ những đống rác). 2. Tỷ kheo suốt đời sống theo hạnh khất thực. 3. Tỷ kheo suốt đời chỉ ăn mỗi ngày một bữa. 4. Tỷ kheo suốt đời phải ngủ ngoài trời. 5. Tỷ kheo suốt đời không được ăn thịt (3). Thực ra, trong 5 điều trên chỉ có điều thứ 5 là khác với Phật, vì Phật cho phép Tỷ kheo được ăn tịnh nhục (món thịt hợp pháp) nếu như không thấy, không nghe và không nghi người ta giết con vật để lấy thịt cúng dường cho mình. Ngoài ra, 4 điều còn lại Phật cũng đã quy định, nhưng được áp dụng một cách uyển chuyển mà thôi. Ở đây, thâm ý của Ðề Bà là mong được thiên hạ thán phục và đặc biệt là cố ý phá sự hòa hợp của Tăng đoàn, do thế mà phạm phải tội nghịch. Và tội nghịch này phải rơi vào địa ngục Vô gián, chịu lấy khổ quả trọn một kiếp không thể cứu vớt được, như lời Phật đã khẳng định (4). Ðó là ba lý do chính khiến cho giới luật của Phật không thể bổ sung và thay đổi được. Ngoài ra, còn một lý do nữa là từ khi Phật diệt độ cho đến ngày nay đã có biết bao bậc tôn túc, trưởng lão thạc đức cao hạnh - mặc dù biết trong giới luật có đôi điều bất cập - vẫn uyển chuyển tuân thủ nghiêm túc mà không có ý định thay đổi thêm bớt; ngoại trừ việc các Ngài soạn thuật, phân tích, chú giải để cho người sau dễ hiểu và dễ thực hành. Có lẽ các Ngài đã vận dụng lời Phật di huấn trong Luật Ngũ phần như sau: «Tuy là những điều do Ta chế định, nhưng nếu như không phù hợp với (phong tục, tập quán của) một địa phương nào đó thì không nên áp dụng; trái lại, tuy là những điều không do Ta chế định, mà là những việc phải làm theo (phong tục, tập quán) của địa phương đó, thì không thể không tuân hành« (Tuy thị Ngã sở chế nhi ư dư phương bất dĩ vi thanh tịnh giả, giai bất ưng dụng. Tuy phi Ngã sở chế nhi ư dư phương tất ưng hành giả, giai bất đắc bất hành) (5). Bây giờ, chúng ta thử tiến hành khảo sát đại khái những giới luật của người xuất gia, xem chúng còn có giá trị hiện thực đến mức độ nào. Muốn làm việc này, trước hết hãy bàn về tính chất của giới. Theo các luật sư thì tính chất của giới được chia làm hai loại là Tánh giới và Giả giới. Tánh giới nghĩa là tính chất của giới đó hễ vi phạm thì có tội, dù Phật có chế định hay không chế định. Ví dụ như kẻ nào trộm cướp, giết người, thì (vừa vi phạm luật pháp quốc gia vừa) phải chuốc lấy quả báo. Thế nên gọi là Tánh giới. Còn Giả giới tức là những giới do Phật chế định để ngăn ngừa các nguyên nhân dẫn đến phạm tội. Nó có tính chất gián tiếp đề phòng, chứ bản thân nó chưa phải là tội lỗi. Ví dụ như việc uống rượu và tích trữ châu báu v.v... Vì kẻ uống rượu sẽ khiến cho tâm trí mê loạn, rồi làm những việc sai trái mà không hay biết. Cũng như người cất chứa vàng bạc sẽ dễ kích thích lòng tham, gây chướng ngại cho sự tu dưỡng. Do đó mà Phật cấm các Tỷ kheo không được uống rượu và cất giữ vàng bạc, chứ kỳ thực hai việc này không vi phạm luật pháp và không bị quả báo trực tiếp. Thế nên hai việc này gọi là Giả giới. Khi một người ở thế gian phạm Tánh giới như trộm cướp hay giết người thì y chỉ phạm tội mà thôi, còn đệ tử của Phật nếu phạm các việc ấy thì vừa phạm tội mà vừa phạm giới, làm trái những điều do Phật đã cấm chế. Nếu khảo sát về 5 thiên giới của Tỷ kheo thì chúng ta thấy rằng phần lớn các giới ấy - những giới cơ bản - ngày nay vẫn còn đầy đủ những giá trị thiết thực, nhưng có một số giới ít quan trọng khác thuộc thiên Ba-dật-đề thì quả thực ngày nay không còn phù hợp với nếp sống tu học của Tăng sĩ nữa. Do đó, chúng không thể phát huy hết giá trị tích cực của chúng. Thiết nghĩ trong thời đại hiện nay, nền văn minh khoa học rất tiến bộ, những sinh hoạt của xã hội và nếp sống cá nhân khác xa với nếp sống ngày xưa. Nếu như giới luật không kịp thời điều chỉnh, bổ sung và cập nhật hóa, thì chắc chắn có nhiều điều trở nên vô hiệu, không còn phù hợp với thời thế hiện tại. Mà giới luật là sinh mệnh của Phật giáo, nếu như nó không phát huy đầy đủ hiệu năng tích cực của nó thì làm sao bảo đảm cho sự sinh tồn và hưng thịnh của Phật giáo? Ðó chính là những trăn trở, bức xúc rất chính đáng của đa số Tăng Ni trẻ mà chúng tôi muốn nêu lên để thỉnh thị cao kiến của các bậc cao tăng thiền đức./. * Chú thích: (1) Ma Ha Tăng Kỳ luật, quyển 1, ký hiệu 1425, Ð.22, tr.228c. (2) Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng kinh, ký hiệu 1421, tập 22, tr.190-192. (3) Thập tụng luật, quyển 36, Ð.23, tr.259a. (4) Tăng Chi Bộ kinh, IIB, tr.446. (5) Ngũ phần luật, quyển 22, Ð.22, tr.153a.
PHÂN LOẠI NGHIỆP PHÂN LOẠI NGHIỆP THEO LUẬN AHIDHARMA KOSA (A Tỳ Dạt Ma Câu Xá) của Vasubhandhu (Thế Thân). Trong phẩm Phân Biệt Nghiệp của luận Câu Xá có hai phần : (I) Thể tính của Nghiệp và (II) Các loại Nghiệp được nói trong các kinh . (I)/ LUẬN VỀ THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP Trong phần nầy đề cập đến hai Nghiệp : TƯ NGHIỆP và TƯ DĨ NGHIỆP . Tư Nghiệp : sự hoạt động nội tâm, hoạt động của Ý Thức . Tư Dĩ Nghiệp : Từ sự hoạt động nội tâm phát khởi ra lời nói và hành động nơi thân đó là Tư Dĩ Nghiệp . Từ hai Nghiệp kể trên là Tư Nghiệp và Tư Dĩ Nghiệp chia ra làm 3 đó là : • • Thân Nghiệp, Ngữ Nghiệp (tức là Tư Dĩ Nghiệp) • • Ý Nghiệp (thuộc về Tư Nghiệp tức là sự suy nghĩ sắp đặt tính kế trước khi phát khởi ra hành động và lời nói ) . Trong Thân Nghiệp và Ngữ Nghiệp đều có hai loại là : Vô Biểu Nghiệp và Biểu Nghiệp . Vô Biểu Nghiệp là gì? Tức là giai đoạn mệnh lệnh từ Ý Thức truyền xuống thân nhưng trong khoảng thời gian thân chuẩn bị hành động và miệng chuẩn bị ngôn từ vẫn tạo ra Nghiệp nhưng vì chưa hành động, chưa phát ra ngôn ngữ nên không thể thấy được Ðó gọi là VÔ BIỂU NGHIỆP. Trong lúc thân Hành Ðộng và miệng nói ta có thể thấy được , nghe được đó là Biểu Nghiệp . Tóm tắc bằng đồ biểu như sau : NGHIỆP : (a) Hai Nghiệp : Tư Nghiệp , Tư Dĩ Nghiệp (b) Ba Nghiệp : Ý Nghiệp , Thân Nghiệp, Ngữ Nghiệp (c) Năm Nghiệp: *Ý Nghiệp , *Thân Nghiệp : Thân Biểu Nghiệp. Thân Vô Biểu Nghiệp *Ngữ Nghiệp : Ngữ Biểu Nghiệp Ngữ Vô Biểu Nghiệp (A) TRUY NGUYÊN VỀ THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP QUA SỰ LUẬN GIẢI CỦA CÁC BỘ PHÁI - Năm loại Nghiệp kể trên lấy gì làm thể ? Ý Nghiệp là sự hoạt động tư duy nội tâm nên lấy Tư Tâm Sở làm thể . Ðối với thể của những Nghiệp còn lại đã xãy ra sự tranh luận dị đồng giữa các bộ phái như sau . Tát Bà Ða bộ Sarvastivâda, Sarvastivâdin (sanscrit) (cũng gọi là Thuyết Nhất Thiết Hửu Bộ, giáo tổ là ngài La Hầu La (Râhula) luận giải rằng Hình Sắc là thể của Thân Biểu Nghiệp, Âm Thanh là thể của Ngử Biểu Nghiệp. Bởi vì Biểu Nghiệp là những động tác nơi thân mà động tác ắt phải tùy thuộc vào hình sắc dài, ngắn … sai biệt mới có được. Nếu lìa Sắc thì không thể nào có động tác . Ngữ Biểu Nghiệp tức là chỉ cho tác động của ngôn ngữ, nếu lìa Âm Thanh thì tác động của ngôn ngữ không thể phát sinh . Kinh Lượng bộ Suatrantika , còn gọi là Thuyết Ðộ bộ, Thuyết Chuyển bộ, là một trong 18 bộ của tiểu thừa, sau khi Ðức Phật nhập diệt dộ 400 năm nó được tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hửu Bộ , trong số các bộ phái , bộ nầy dùng Kinh làm chính lượng nên gọi là Kinh Lượng bộ, gọi tắc là Kinh Bộ , người khai sáng là Cưu Ma La Ðà (Kumàra – labdha) . Bộ nầy lý luận rằng Tư Tâm Sở có khả năng khiến thân thể vận động gọi là Ðộng Thân Tư, chính nó là thể của Thân Biểu Nghiệp . Ðồng thời Tư Tâm Sở có khả năng phát động ngôn ngữ gọi là Phát Ngữ Tư đó chính là thể của Ngữ Biểu Nghiệp . Bộ phái nầy cho rằng Nghiệp có nghĩa là tạo tác , mà tạo tác là thuộc tính của Tư Tâm Sở . Tư Tâm Sở phát hiện bằng hành động của thân thì gọi là Thân Nghiệp, phát hiện bằng hành động của ngôn ngữ thì gọi là Ngữ Nghiệp, phát hiện bằng những hiện trạng của củ Ý thì gọi là Ý Nghiệp . Ba nghiệp sở dĩ có khác nhau vì phát xuất từ Thân, Ngữ, Ý khác nhau nhưng thực ra chúng đồng một thể xuất phát là Tư Tâm Sở . Nói về Thân và Ngữ Vô Biểu Nghiệp , Tát Bà Ða Bộ nói rằng đó là thật pháp . Sắc thân do đại chủng tạo thành đó là thật thể . Cả Thân và Ngữ cũng từ Thân mà ra do đó Vô Biểu Nghiệp của Thân Và Ngữ cũng là thật Pháp . Kinh bộ lại cho rằng đó là giả pháp , vì nó chỉ dựa theo chủng tử của Tư Tâm Sở mà giả lập ra . Ðó là diểm tranh luận tối yếu của hai bộ phái . Tát Bà Ða bộ đưa ra 8 luận điểm để chứng minh cho lý luận của mình nhưng tất cả đều bị Kinh bộ phản luận . 1/ Phật nói về 3 loại Sắc : Kinh Tạp A Hàm, cuốn 13 , Sắc chia làm 3 loại : • • Loại có thể thấy, có đối pháp như : xanh, vàng, đỏ trắng v.v… • • Loại không thể thấy, có đối pháp như : thanh, hương, vị, xúc, chỉ có sự chướng ngại giữa nó với những vật đối tác khác . • • Loại không thể thấy , không có đối pháp , rõ ràng loại nầy chỉ cho các Sắc Vô Biểu . Nếu không có Sắc Vô Biểu thật thì loạI Sắc vừ nói đó chỉ cái gì ? Kinh Bộ phản luận rằng S8ác không thấy không đốI là Sắc của cảnh giớI trong định . Nó không đốI ngạI và mắt không thấy được chứ không thật có . 2/ Sắc Vô Lậu : Tát Bà Ða bộ lập luận rằng cảnh thấy nghe hay biết của phàm phu như năm căn tiếp xúc với 5 cảnh đều thuộc hửu lậu, nhưng trong kinh Tăng Nhất A Hàm : “Pháp vô lậu là thế nào? Ðối với các sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại nó không làm khởi lên tâm ái nhiễm, sân nhuế , cho đến đối với thọ, tưỡng, hành thức cũng vậy. Ðó gọi là pháp vô lậu” . Bộ phái nầy kết luận rằng ngoài sắc hửu lậu Kinh còn nói đến sắc vô lậu, nếu không có sắc vô lậu, thì lấy gì gọ là sắc vô lậu ? Thế nhưng Kinh Lượng bộ phản luận rằng Sắc nầy cũng là cãnh giới của định, do định vô lậu phát khởi, thế nên mới gọi là Sắc Vô Lậu . 3/Tát Bà Ða bộ dẫn chứng về phước nghiệp tăng trưỡng. Có 7 loại phước nghiệp : Bố thí cho người đi đường thuyền . Bố thí cho người đi bộ . Bố thí cho người bệnh tật . Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân . Bố thí vườn rừng . Bố thí cho người thường đi khất thực . Tùy thời bố thí . Kinh Trung A Hàm, phẩm Thế Gian Phước nói : “Thiện nam, tín nữ nào khi đã tạo được bảy thứ phước thế gian đó, hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đó vẫn thường sinh càng lúc càng sâu, càng lúc càng rộng”. Hửu Bộ cho rằng phước nghiệp thường tăng trưỡng đó là vô biểu sắc thật có . Kinh Lượng bộ cho rằng đó chỉ là chủng tử của Tư Tâm Sở khởi ra những hiện tượng giả lập chứ không thật có vô biểu sắc. Khi suy nghĩ về bố thí , đó là do hạt giống đã được huân tập trong Thức Thứ Tám từ trước . Về sau có khi hạt giống ác tâm sở khởi lên, có khi là vô ký tâm , nhưng những chủng tử về bố thí vẫn tìm tàng tương tục chuyễn biến để đưa đến kết quả mà ta gọi là phước nghiệp tăng trưỡng thế thôi chứ không thật có sắc vô biểu . 4/ Không thấy tạo tác vẫn thành nghiệp : Ví dụ người chủ mưu giết người, không tự tay hành động mà chỉ thuê mướn người khác giết, sau cùng người chủ mưu đó man lấy ác nghiệp . Hửu Bộ cho rằng ác nghiệp khộng tự làm mà vẫn thành đó là vô biểu sắc có thật . Kinh Lượng bộ cho rằng đó chỉ là chủng tử của Tư Tâm Sở, lấy Tư Tâm Sở làm thể . Vì trong kế hoạch thuê mướn người khác hành động đó đã có chủng tử sát nhân dấy lên trong tâm, tiếp tục chuyễn biến , tăng trưỡng cho đến khi kế hoạt mưu sát thành công , trong quá trình đó kẻ chủ mưu đã tạo ra nghiệp sát sanh không phải thật có một vô biểu sắc nào cả . 5/ Sắc Pháp Xứ : Kinh Tạp A Hàm quyển 13 nói : “Pháp thuộc ngoại xứ sẽ không nhiếp vào 11 xứ, Pháp không thấy không đối” . Hửu Bộ luận rằng Kinh nói Pháp không thấy không đối chứ không nói vô sắc. Do đó khi đề cập đến pháp xứ không có nghĩa là loại trừ sự tồn tại của vô biểu sắc . Nếu pháp xứ không phải là vô biểu sắc tại sao Kinh không nói ngay là vô sắc mà chỉ nói là không thấy không đối . Kinh Bộ vẫn cho đó là sắc thuộc cảnh giới của định và không đồng ý với những luận điểm của Hửu Bộ vì cho rằng những dẫn chứng đó không đủ chứng minh sự hiện hửu của vô biểu sắc . 6/ Ba chi Sắc Pháp trong Tám chi Thánh Ðạo : Chính Ngữ, Chính Nghiệp, Chính Mạng là ba chi thuộc Sắc Pháp . Hửu Bộ luận giải rằng khi hành giả nhập chánh định thân không hoạt động nên không có Chính Nghiệp, miệng không nói năng nên không có Chính Ngử, không đi khất thực nên không có Chính Mạng . Mặc dù trong định không có ba chi đó nhưng người nhập định vẫn có đủ Tám Chi Thánh Ðạo do đó trong lúc nhập định ba chi Chính Ngữ , Chính Nghiệp và Chính Mạng vẫn hiện hửu dưới dạng vô biểu sắc . Nếu không có sắc vô biểu của ba chi đó thì khi hành giả xuất định ba chi đó từ đâu xuất hiện trở lại . Chẵng lẽ người nhập chánh định lại không có đủ 8 chi Thánh Ðạo như người không nhập định hay sao ? Kinh Bộ vẫn lập luận rằng trong khi nhập định vẫn có Chính Ngữ, Chính Nghiệp và Chính Mạng là do nơi Tư Tâm Sở mà giả lập chứ không có thật thể . Trong định không có Biểu Nghiệp về ba món đó nhưng nhờ có Tư Tâm Sở suy tư về ba chi đó nên khi xuất định có ba chi đó xuất hiện trở lại chứ không có Vô Biểu Sắc nào cả . 7/ Giới Biệt Giải Thoát : Khi một giới tử thọ đắc Giới Biệt Giải Thoát sau đó có lúc khởi ác tâm, vô ký tâm hoặc vô tâm nhưng giới thể vẫn không mất . Hửu bộ cho rằng giới thể không mất đó là vô biểu sắc có thật . Kinh bộ vẫn cho rằng giới thể đó lấy tư tâm sở làm thể . Từ nơi Tư chủng tử có khả năng phòng phi chỉ ác, đó gọi là giới thể , dựa vào đó thành lập luật nghi biệt giải thoát chứ không có vô biểu sắc nào cả . 8/ Giới là bờ đê ngăn chận tội ác : Trong Kinh Luật thường ví dụ giới là bờ đê ngăn chận tội ác giống như bờ đê ngăn chận nước vậy. Ðã là bờ đê thì nó phải có thực thể mới ngăn chận được và do đó mới gọi giới là bờ đê . Hửu Bộ cho đó là sắc vô biểu có thật . Kinh Bộ vẫn giữ vững lập trường rằng Tư Tâm Sở có khả năng như bờ đê ngăn chận tội ác . Vì người thọ giới khi phát nguyện từ nay về sau không phạm điều tội ác , từ đó mỗi niệm mỗi niệm đã tạo được những chủng tử thiện được huân vào Thức Thứ Tám do đó chủng tử ác bị triệt tiêu dần không phát khởi nên gọi đó là bờ đê ngăn chận không cho phạm tội ác. Do đó mà có giả dụ giới như bờ đê ngăn chặn tội ác thế thôi chứ không có vô biểu sắc gì cả . Những chứng minh trên của Hửu Bộ là để làm sáng tỏ thuyết Ý Nghiệp lấy Tư Tâm Sở làm thể , hành động và ngôn ngữ do Tư Tâm Sở phát động sinh khởi . Họ cho rằng Thân Biểu Nghiệp và Ngữ Biểu Nghiệp đều thuộc Sắc Pháp. Thân Biểu lấy Sắc làm thể , Ngử Biểu lấy âm thanh làm thể từ đó dẫn khởi ra Sắc Pháp không thể biểu thị và không có đối ngại gọi là Vô Biểu Sắc cũng gọi là Vô Biểu Nghiệp. Sắc do đại chủng tạo được coi là là thật thể của Sắc Pháp nầy . Tóm lại theo Hửu Bộ, Biểu Sắc và Vô Biểu Sắc đều có thật thể . Nhưng theo Kinh Bộ thì chủ trương ngược lại . Luận Tỳ Bà Sa 122, 123 nói : “Biểu, Vô Biểu Nghiệp đều không thật thể” . “ Nghiệp thân, ngữ, ý đều chỉ là Tư” (Biểu, vô biểu nghiệp, vô thật thể tính, thí dụ giả thuyết thân, ngữ , ý nghiệp giai thị nhất Tư) . Cũng theo Kinh bộ, Tư chia làm 4 loại : (1) Thẩm lự, (2) quyết định, (3) Ðộng thân, (4) phát ngữ . (1) và (2) thuộc về Ý Nghiệp . Thân biểu và Ngử biểu đều do Ý mà ra do đó thân biểu vaà ngữ biểu đều không có thật thể vì cả hai đều do tư tâm sở phát động . Do đó vô biểu nghiệp cũng không có thật thể vì cả hai đểu do tư tâm sở tạo ra những chủng tử và huân vào Tạng Thức và sau đó nếu hội đủ điều kiện chúng sẽ khởi ra hiện hành chứ không có thật thể . Tóm tắc như sau : Theo chủ trương của Hửu Bộ và Kinh Lượng Bộ . THỂ CỦA CÁC NGHIỆP : (1) Ý NGHIỆP : * Tư Tâm Sở làm thể … (Hửu Bộ) • • Thẩm Lự Tư …….( Kinh Bộ) • • Quyết Ðịnh Tư …….( Kinh Bộ) (2) BIỂU : (a) Thân : * Hình Sắc làm thể … . (Hửu Bộ) • • Phát Ðộng làm thể..(Chính Lượng Bộ) • • Ðộng Thân Tư ….( Kinh Bộ) (b) Ngữ : * Âm Thanh làm thể … (Hửu Bộ) • • Hành động làm thể..(Chính Lượng Bộ) • • Phát Ngữ Tư …. (Kinh Bộ) (3) VÔ BIỂU : (a) Thân: * Sắc do đại chủng tạo… (Hửu Bộ) • • Chủng tử Tư Tâm Sở… (Kinh Bộ) (b) Ngữ : * Sắc do đại chủng tạo… (Hửu Bộ) • • Chủng tử Tư Tâm Sở (Kinh Bộ) (B) BA TÍNH CỦA NGHIỆP Nghiệp có 3 Tính . Ðó là Thiện, Ác và Vô ký . Nhưng chỉ có Thiện và Ác mới tạo ra Nghiệp còn tính Vô Ký không tạo ra nghiệp . Do Ý nghiệp Thiện hay ác mà phát sinh ra thân biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cũng như phát sinh ra ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp thiện hay ác . Ý nghiệp vô ký chỉ phát sinh ra thân hoặc ngữ biểu nghiệp vô ký, chứ không có thân, ngữ vô biểu nghiệp . Vì tính vô ký , chẵng phải thiện hay ác thế lực của nó quá yếu nên không thể chiêu cảm được kết quả như nghiệp thiện hay ác . Do đó chỉ có thân, ngữ biểu nghiệp vô ký , nhưng không có vô biểu vô ký . Thế nhưng tính Thiện , Ác và Vô Ký của Nghiệp là gì ? Luận Tỳ Bà Sa 51 viết: “ Nếu pháp chiêu cảm quả khả ái, lạc thọ thì gọi là thiện, còn nếu chiêu cảm quả không khả ái, khổ thọ thì gọi là ác. Nếu khác với cả hai việc đó thì gọi là vô ký” . Luận Câu Xá 15 viết : “Nghiệp an ổn hay chiêu cảm được quả báo khả ái và Niết Bàn, tạm thời hay vĩnh viễn xa lìa thống khổ thì gọi là thiện. Nghiệp không an ổn hay chiêu cảm quả báo bất khả ái thì gọi là ác . Nghiệp trái với hai tính trên gọi là vô ký . Ðây là căn cứ vào sự chiêu cảm quả báo để phân biệt thiện, ác và vô ký tính của Nghiệp” . Luận Câu Xá 13 : “ Căn cứ vào nguyên do để chia ba tính Thiện, Ác và Vô Ký . Mỗi tính kể trên đều có 4 loại : thắng nghĩa , tự tính, tương ưng, đẵng khởi” . 1/ Bốn loại Tính Thiện (1) Thắng nghĩa Thiện : Thắng nghĩa có nghĩa là tuyệt đối, tuyệt vời, hơn hẵn, diệu lý sâu xa hơn hẵn nghĩa lý thời gian thế tục . Ðó là Niết Bàn rất an ổn, vĩnh viễn bặt dứt dấu vết thống khổ . (2) Tự tính thiện : Chỉ 5 tâm sở : tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si có tự thể là thiện không cần các món khác chung khởi như tương ưng và đẵng khởi thiện ... Tương ưng thiện : những tâm sở nhờ tương ưng với 5 món tâm sở tự tính thiện kể trên mà thành , vì tự thể của nó không phải là thiện. Ðẵng khởi thiện: Ðó là thân, ngữ thiện nghiệp do cùng phối hợp đồng khởi của tự tính thiện và tương ưng thiện mà phát sinh . 2/ Bốn loại tính ác : Thắng nghĩa ác : Ðó là Sinh và Tử . Tự tính của sinh tử hàm chứa nhiều tự tính xấu ác, khổ não cùng cực . Tự tính ác : Ðó là 5 món tâm sở : vô tàm, vô quý, tham, sân , si, tự thể của chúng là ác , không cần tương ưng hay đẵng khởi với các món tâm sở khác mà thành . Tương ưng ác : Ðó là chỉ cho các món tâm sở mà tự tính của nó không phải ác nhưng khi tương ưng khởi với 5 món ác kể trên nên nó trở thành ác. Do đó gọi là tương ưng ác . Ðẵng khởi ác: Ðó là thân, ngữ ác nghiệp do cùng phối hợp đồng khởi của tự tính ác tâm sở và tương ưng ác tâm sở mà phát khởi . 3/Vô ký tính .- Về tính vô ký chỉ có Thắng nghĩa Vô Ký tức là nói về hư không vô vi và phi trạch diệt vô vi . Vì thể của nó thường hằng nên gọi là thắng nghĩa, nhưng nó không phải là sự chứng đắc của đạo nên không gọi thiện mà gọi là vô ký . Trong 46 món tâm sở , món nào cũng thông cả 2 hoặc 3 tính, nhưng không có món nào thuần là vô ký do đó luận sư không lập tự tính vô ký . Và vì không có tự tính vô ký nên không có tương ưng và đẵng khởi vô ký . Có thể tóm tắc 5 nghiệp và sự hiện diện ở các cõi , các địa như sau: NGHIỆP : (1) NGHIỆP : Thiện & vô ký ----------Hiện hửu ở 3 cõi , chín địa Ác ---------- Chỉ có ở cõi Dục (2) BIỂU : Thiện ------------ Chỉ có ở cõi Dục và Sơ Thiền Hửu phú vô ký ---------- Chỉ có ở Sơ Thiền Ác -----------Chỉ có ở cõi Dục (3) VÔ BIỂU : Thiện ----------Chỉ có ở cõi Dục và Sắc Ác ----------Chỉ có ở cõi Dục (C) LUẬN GIẢI VỀ Ý NGHĨA CỦA BIỂU VÀ VÔ BIỂU NGHIỆP Tướng trạng của Biểu và Vô Biểu Nghiệp thể hiện như thế nào? Về Vô Biểu có 3 loại : 1/ Luật Nghi Vô Biểu : Ðây là nói về sự giữ giới , sự trì giới , không tùy thuộc về hình thức nên không thể trông thấy vì nó không biểu lộ bên ngoài . Do đó chỉ nhận biết qua cảm giác và suy luận nên nó thuộc về Vô Biểu , thuộc về tính thiện . Có thể phân thành 3 loại : a/ Biệt giải thoát luật nghi vô biểu: Khi hành giả thực hành trì giới tinh tấn thanh tịnh , dứt trừ được từng tội nơi thân và ngữ thành tựu giải thoát khỏi những triền phược được gọi bằng cụm từ nầy , và nó thuộc về Vô Biểu . b/ Tịnh lự luật nghi Vô Biểu : còn gọi là “định cộng giới” hành giả đã thành công trong cảnh giới thiền định , dứt trừ được những tội lỗi nơi thân và ngữ mà thành tựu dược Vô Biểu nầy . Ðây là cảnh trong định do đó khi xuất định thì Vô Biểu nầy mất . c/ Vô lậu luật nghi Vô Biểu : cũng được gọi là “đạo cộng giới” . Trường hợp nầy được thành tựu khi thiện tâm vô lậu khởi lên, các tội lỗi nơi thân , ngữ dược dứt trừ . Nó khởi lên khi thiện tâm vô lậu phát khởi và diệt mất khi thiện tâm vô lậu diệt . 2/ Bất luật nghi Vô Biểu : thuộc về tính ác . 3/ Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu : thuộc về vô ký tính . Luật Nghi và Bất Luật Nghi Vô Biểu nghiệp do biểu nghiệp sinh cũng có , không do biểu nghiệp sinh cũng có . Xem biểu đồ : VÔ BIỂU:(a) Luật Nghi (tính thiện) (b) Bất luật nghi (tính ác) (c) Phi luật nghi phi bất luật nghi (vô ký) (a) * Biệt giải thoát luật nghi : Tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni, cận sự nam cận sự nữ, tại gia 8 giới : Ðều có Biểu và Vô Biểu Nghiệp • • Tịnh lự luật nghi • • Vô lậu luật nghi : cả hai chỉ có VÔ BIỂU (b) và (c) : cả hai đều có BIỂU và VÔ BIỂU NGHIỆP Luận về sự thành tựu Vô Biểu và sự xã bỏ Biểu và Vô Biểu nói trên , xin trích dẫn các luận thư của các bộ phái để làm sáng tỏ vấn đề . Trong ba loại luật nghi vừa nêu trên có Biệt Giải Thoát, Tịnh Lự và Vô Lậu. Trước tiên đề cập đến Biệt Giải Thoát Luật Nghi . Trong Câu Xá Ký 14 nói : “ Luật nghi biệt giải thoát do người khác dạy mà được thành tựu” . Nghĩa là do người khác truyền dạy mà đắc giới . Có hai cách như sau : Ðắc giới từ cá nhân Tăng Gìa : Trong Câu Xá Quang Ký 14 nói: “ Sa Di , Sa Di Ni, từ nơi hai vi Tăng mà thọ đắc giới; Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và Cân Trú (tại gia 8 giới) chỉ cần từ một vị Tăng mà thọ đắc giới” . Ðắc giới từ Tăng Già (5 vị Tăng trở lên) : Ðó là trường hợp Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni phải thọ giới trước giới đàn có 5 vị hoặc 10 vị Tăng Già mà thọ đắc giới . Bàn rộng về sự duyên đắc giới Cụ Túc, có sự bất đồng giữa bốn bộ luật và năm bộ luận. Sự bất đồng giữa bốn bộ Luật được nêu ra như sau : Luật Thập Tụng , nêu ra mười duyên đắc giới Luật Tứ Phần , nêu 5 duyên Luật Tăng Kỳ , nêu 4 duyên Luật Ngủ Phần , nêu 5 duyên Sự bất đồng trong 5 bộ Luận được liệt kê như sau : Luận Tỳ Ni Mẫu , nêu ra năm duyên Luận Ma đắc Lặc Gìa, nêu 10 duyên Luận Thiện Kiến, nêu 8 duyên Luận Tát Bà Ða, nêu 7 duyên Luận Minh Liễu, nêu ra 7 duyên Trong sự luận tranh dị đồng giữa 4 bộ Luật và 5 bộ Luận nêu trên Câu Xá chọn Thập Tụng Luật nêu ra 10 duyên đắc giới như sau : Ðắc Giới tự nhiên : Ðây là chỉ cho những trường hợp của Phật và Ðộc Giác do Vô Sư Trí tu chứng giác ngộ , tự nhiên đắc giới . Ðắc Giới do ngộ Tứ Ðế : Trường hợp nầy còn gọi là nhập chính tính ly sinh , ví dụ như 5 vị tỳ kheo Kiều Trần Như ngộ được lý Tứ Ðế mà đắc giới . Có túc duyên căn lành đắc giới : đây là trường hợp của Da Xá (Yasas), nằm trong trường hợp Phật dạy là “Thiện Lai Tỳ Kheo” (ehi bikkhu) . Ngài là một Thượng Tọa chùa Kê Viên thành Hoa Thị nước Ma Kiệt Ðà đã khuyên vua A Dục lập 84 ngàn tháp thờ Phật . Ngài đã chứng quả vị A La Hán , triệu tập trên 700 vị thánh hiền kiết tập Tam Tạng giáo điển lần thứ nhì tại thành Tỳ Xá Ly nước Bạt Kỳ . Nhờ túc duyên nhiều đời mà được đắc giới . Phát nguyện đắc giới : Trường hợp ngài Ðại Ca Diếp do tín kỉnh Tam Bảo phát đại nguyện rằng : “Phật là Ðại Sư của mình” mà đắc giới . Vấn đáp luận nghị đắc giới : trường hợp chú bé Tô Ðà Di nhân khi Phật hỏi : “Nhà con ở đâu?” . Chú bé đáp : “Ba cõi không nhà” , câu trã lời làm vừa ý Phật nên mặc dù chú bé chưa đủ 20 tuổi Phật vẫn đăc biệt cho phép Tăng kiết ma cho thọ cụ túc giới . Ðắc giới trong trường hợp thọ trọng pháp : trường hợp Ðại Sanh Chủ do thọ Tám Kỉnh Pháp mà được đắc giới . Sứ giả truyền giới : trường hợp Pháp Thọ tỳ kheo ni muốn đến nơi đại Tăng trụ xứ để thọ giới nhưng vì tướng mạo quá đoan nghiêm sợ đi đường xa gặp bất trắc nên Phật đặc cách cho sứ giả đến truyền giới cho . Ðắc giới từ năm vị Tăng : trường hợp bốn vị làm Tăng Chúng và vị thứ năm là trì luật để Kiết Ma (trì luật vi đệ ngũ nhân), cho thọ giới vì trường hợp ở nơi không đủ 10 vị Tăng để lập giới đàn truyền giới . Giới Ðàn Kiết Ma đắc giới : trường hợp dủ số 10 vị Tăng , hoặc nhiều hơn không ngại, đển lập giới đàn Kiết Ma truyền giới . Tam Ngữ Ðắc Giới : Luật Thập Tụng 60 viết : “Nếu khi Phật chưa chế pháp Bạch Tứ Yết Ma (Jnapticaturtham) (1 lần bạch, 3 lần Yết Ma nghĩa là xem xét rồi hỏi lại đại Tăng 3 lần xem việc ấy nên làm chăng sau đó mới quyết định thi hành), người nào qui mạng về Phật , xướng 3 lần : Tôi theo Phật xuất gia, người đó đã khéo thọ đắc Cụ Túc Giới. Nhưng nếu sau khi Phật chế pháp Bạch Tứ Yết Ma, dù có xướng ba lần xuất gia cũng không được gọi là đắc Cụ Túc Giới” . Luận Hửu Bộ viết : “Tam Ngữ Ðắc, Tam Quy Ðắc, chỉ trong thời gian 8 năm sau Phật thành đạo thì được, nếu quá 8 năm thì không thể gọi là đăc giới” . Mười cách đắc giới kể trên , (1) và (2) chỉ có Vô Biểu Nghiệp. Tám cách còn lại đều có đủ BIỂU và VÔ BIỂU NGHIỆP . Trường hợp Tịnh Lự và Vô Lậu luật nghi không cần nhờ người khác truyền thọ nên không có Biểu Nghiệp . Biệt Giải Thoát là giới không chuyễn theo tâm (bất tùy tâm chuyễn) , có nghĩa là khi đã đắc giới rồi , sau đó, dù tâm có thay đổi lúc ác, lúc vô ký, lúc vô tâm, nhưng không xã giới thì giới thể vẫn tồn tại trong Tàng Thức không mất . Ngược lại Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới là giới chuyễn theo tâm (tùy tâm chuyễn) nên khi nhập định thì có nhưng khi xuất định thì mất . Thế nhưng thế nào mới được gọi là Ðắc Giới ? Ðó là Khi thọ giới, giới tử phải phát nguyện bất cứ trong trường hợp nào, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào cũng phải tuyệt đối thọ trì giới cấm , quyết dứt bảy chi tội của thân và ngữ một cách thanh tịnh mới gọi là đắc giới . Có năm trường hợp hạn định sau đây chỉ gọi là DIỆU HẠNH mà không gọi là GIỚI đó là : Hạn định nơi loài hửu tình: thề rằng chỉ không sát hại đối với loài hửu tình nầy chứ không đối với loài hửu tình khác . Giữ giới có chỉ định : thề rằng chỉ giữ giới cấm không sát sanh hoặc không trộm cắp… chứ không phải giữ tất cả bảy chi cấm giới . Hạn định nơi chốn : chỉ giữ giới sát nơi nầy chứ không phải ở những nơi khác . Hạn định thời gian : chỉ giữ giới sát trong thời gian nầy chứ không giữ giới sát ở những thời gian khác . Tùy trường hợp : giữ giới sát trong mọi trường hợp trừ trường hợp chiến tranh. Trường hợp phi luật nghi phi bất luật nghi đắc thành từ ba phương diện như sau : Từ việc phước thiện : người hay làm việc bố thí , làm các việc thiện …hoặc làm việc ác hại người, hại vật …khi người đó lìa bỏ những việc làm thiện và ác liền đắc thành “phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu” . Thọ lãnh sau khi phát thệ nguyện : Ví dụ như thệ nguyện rằng : “chỉ ăn sau khi đã lễ Phật” . Hành giả khi vừa phát nguyện như vậy liền đắc thành “phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu” . Trong khi thực hành : sau khi phát khởi việc gì một cách hăng hái, đưa đến hành động , ngay khi hành động đó liền đắc thành phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu . Những trường hợp xã giới được phân chia như sau : Như trước đã nói 8 loại Biệt giải thoát giới(Tỳ Kheo, tỳ kheo ni, chính học, sa di, sa di ni, cận sự nam, cận sự nữ, cân trụ) trừ Cận trụ còn bảy đều có 4 duyên xã giới như sau : (a) Cố ý xã giới; (b) Mệnh chung; (c) Nam nữ căn cùng xuất hiện; (d) Ðoạn thiện căn . Riêng về giới Cận Trụ ngoài 4 duyên trên , giới nầy chỉ thọ một ngày một đêm nên sau đó tự nhiên xả giới . Trong trường hợp xả giới nêu trên Kinh Lượng Bộ có quan điểm : “Bốn trọng giới sát, đạo, dâm, vọng là giới đoạn đầu, rất nặng, hễ phạm một trong 4 giới ấy thì tất cả giới xuất gia đều mất” . Hửu Bộ trái lại quan niệm rằng : “ giả sử trường hợp phạm một trong 4 giới đó cũng không hẳn mất hết giới xuất gia , nếu chân thành sám hối thề không tái phạm và nghiêm trì các giới còn lại” . Trường hợp Tịnh Lự Luật Nghi có 3 duyên xả giới như sau : Chuyển đổi vị trí : Nếu từ hạ địa sinh lên thượng địa thì xã giới tại hạ địa. Ngược lại từ thượng địa sinh xuống hạ địa thì xả giới thượng địa . Vì định cộng giới hửu lậu luôn luôn ràng buộc theo Giới và Ðịa . Giới mất do thối chuyển : lúc được thắng định được đắc giới nhưng sau đó phiền não phát sinh , thắng định mất do đó giới cũng mất . Mất giới vì mạng chung . Trường hợp Vô Lậu Luật Nghi xả giới do 3 trường hợp sau : Ðắc quả cao hơn : trường hợp hành giả đắc quả cao hơn thì vô lậu đạo quả vị thấp không còn do đó giới cũng mất là lẽ tự nhiên . Trí huệ phát triển : khi hành giả tu luyện từ độn căn, trí huệ phát dạt thành lợi căn do đó giới độn căn đã mất . Truờng hợp bị thối chuyển : Giới mất khi quả vị bị thối chuyển. Trường hợp xả Bất Luật Nghi có 3 duyên như sau : (a) Chết; (b) Nam nữ căn cùng xuất hiện; (c) Thọ đắc thiện giới . Trường hợp xả Phi luật nghi phi bất luật nghi có 6 duyên như sau : Chấm dứt thề nguyện giử giới : bỏ không tuân thủ lời thề giử giới nữa, ngay lúc đó giới liền bị xả bỏ . Giới chấm dứt do thế lực chấm dứt : do các thế lực của lòng tin thanh tịnh dẫn sinh Vô Biểu Nghiệp Thiện, thế lực phiền não dẫn sinh Vô Biểu Nghiệ Ác đã chấm dứt, ví như lực của mũi tên bắn ra đã hết lực đi tới nên tự động rơi xuống, trường hợp nầy cũng giống như vậy do đó giới bi xả bỏ . ©Xả giới do chấm dứt tác nghiệp : Vô biểu nghiệp thiện, ác vốn do tác nghiệp thiện ác tạo thành do đó khi tác nghiệp chấm dứt, mặc dù lời thề còn nhưng giới cũng theo tác nghiệp mà bị xả bỏ . Sự vật hư hoại : khi bố thí phòng xá cầu dường (thuộc thiện), hoặc lưới bẫy (thuộc ác) …Những thứ nầy hư hoại thì giới cũng bị xã luôn . Khi thọ mạng chấm dứt Khi thiện căn chấm dứt . (II) NGHIỆP ÐƯỢC ÐỀ CẬP TRONG CÁC BỘ LUẬN VÀ CÁC KINH Theo A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma Kosa của Vasubhandhu) có nêu ra 11 loại Nghiệp như sau : 1/ Nghiệp có 3 tính : Thiện, ác, vô ký 2/ 3 loại phước nghiệp: phước nghiệp (nghiệp lành) ở cõi Dục, phi phước nghiệp (nghiệp ác) ở cõi Dục, Bất Ðộng Nghiệp ở cõi Sắc và Vô Sắc Giới . 3/ Nghiệp về 3 thọ : Nghiệp tùy theo Lạc Thọ ở cõi Dục và ở Sơ , Nhị , Tam Thiền. Nghiệp tùy theo Khổ Thọ (nghiệp bất thiện) ở cõi Dục. Nghiệp tùy theo Bất Khổ Bất Lạc Thọ ở từ Tam Thiền lên đến trời Hửu Ðỉnh (trời thứ tư trong Sắc giới, tức Sắc Cứu Kính Thiên vì là cao nhất trong thế giới hửu hình nên gọi là Hửu Ðỉnh) . 4/ Nghiệp suốt 3 thời : quá khứ, hiện tại và vị lai . Và theo thuận thứ thọ, thuận hậu thọ . Trường hợp nầy có 3 quan điểm khác nhau : a/ 4 loại Thuận Nghiệp : * Thuận hiện Nghiệp : hiện tại tạo nghiệp, hiện tại thọ quả . *Thuận sinh nghiệp: hiện tại tạo nghiệp đời kế thọ quả. * Thuận hậu nghiệp : hiện tại tạo nghiệp đến đời thứ 3 mới thọ quả. * Thuận bất định nghiệp : hiện tại tạo nghiệp nhưng thời kỳ thọ quả không nhất định thuộc về đời nào trong lai sinh . b/ 5 loại thuận nghiệp : ngoài 4 loại Thuận Nghiệp vừa nêu trên ; riêng THUẬN BẤT ÐỊNH NGHIỆP lại chia ra 3 loại : *quả báo nhất định; *thời hạn thọ quả báo không nhất định; *quả báo và thời hạn thọ quả báo đều nhất định . c/ 8 loại Thuận Nghiệp : từ 4 thuận nghiệp kể trên chia mỗi loại làm 2 thứ do đó thành 8 Nghiệp như biểu đồ bên dưới . TÁM NGHIỆP • • Thuận Hiện Nghiệp : (i) Báo định - thời định (ii) Báo bất định - thời định • • Thuận Sinh Nghiệp : (i) Báo định - thời định (ii) Báo bất định - thời định • • Thuận Hậu Nghiệp : (i) Báo định - thời định (ii) Báo bất định - thời định • • Thuận Bất Ðịnh Nghiệp : (i) Báo định - thời bất định (ii) Báo bất định - thời bất định Ðối với 3 quan điểm vừa nêu trên , luận Câu Xá 15 viết : “Ba nghiệp thuận hiện pháp thọ là định, cọng thêm nghiệp thuận bất định thành bốn, thuyết nầy đúng hơn”. Như thế đủ thấy luận chủ Thế Thân chấp nhận thuyết 4 Nghiệp . Trong bốn nghiệp kể trên Nghiệp nào dẫn đến quả tổng báo thì gọi là DẪN NGHIỆP . Nghiệp nào dẫn đến quả riêng biệt thì gọi là MÃN NGHIỆP . Theo luận Tỳ Bà Sa có đưa ra 3 thuyết như sau : Hai Nghiệp Thuận Sinh Thọ và Thuận hậu thọ có đủ cả DẪN NGHIỆP và MÃN NGHIỆP . Hai nghiệp Thuận hiện thọ và Thuận bất định thọ thì chỉ có MÃN NGHIỆP . Ba nghiệp Thuận Sinh Thọ, Thuận Hậu Thọ và Thuận Bất Ðịnh Thọ có đủ cả DẪN NGHIỆP và MÃN NGHIỆP .Còn nghiệp Thuận Hiện Thọ chỉ giớI hạn có MÃN NGHIỆP . Theo luận Tỳ Bà Sa 2 : Bốn Nghiệp đều có đủ cả DẪN NGHIỆP và MÃN NGHIỆP . 5/ Cả Thân, Tâm đều thọ Nghiệp : nghiệp do Tâm thọ là nghiệp thọ quả báo (dị thục), tương ứng với đệ lục ý thức. Thiện nghiệp ở từ trung gian định của Sắc giới đến cõi trời Hửu Ðỉnh , nó chỉ chiêu cảm do tâm thọ lãnh . Nghiệp do thân thọ là nghiệp chiêu cảm dị thục do thân thọ lãnh như ác nghiệp ở cõi Dục Giới . 6/ Khúc, Uế, Trược , 3 nghiệp : do Siểm khúc phát sinh ra nghiệp Thân, Ngữ , Ý gọi là Khúc Nghiệp. Sân phát sinh ra 3 nghiệp gọi là Uế Nghiệp. Do tham phát sinh ra nghiệp thân, ngữ, ý gọi là Trược Nghiệp . 7/ Bạch hắc nghiệp : nghiệp ác thọ quả báo ác ở cõi Dục gọi là Hắc Hắc Nghiệp. Nghiệp lành thọ quả báo lành ở cõi Sắc gọi là Bạch Bạch Nghiệp . Nghiệp lành dữ xen lộn nhau thọ quả báo khả ái phi khả ái xen lộn nhau ở cõi Dục gọi là Hắc Bạch Hắc Bạch Nghiệp . 8/ Ba Nghiệp Mâu Ni : Ba Nghiệp Ba Nghiệp thanh tịnh Ba Nghiệp Mâu Ni Thân Thân thanh tịnh Thân Mâu Ni Ngữ Ngữ thanh tịnh Ngữ Mâu Ni Ý Ý thanh tịnh Ý Mâu Ni Từ Mâu Ni là do phiên âm từ tiếng Phạn Muni, có nghĩa là tịch mặc, dứt sạch các phiền não nên được vắng lặng. Hàng thánh giả vô học, do dứt sạch các phiền não nên thân nghiệp được gọi là thân Mâu Ni, Ngữ nghiệp gọi là ngữ Mâu Ni. Ý nghiệp gọi là ý Mâu Ni. Thân , ngữ , ý đều thành diệu hạnh nên được gọi là Thân thanh tịnh, Ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh. Vì tạm thời và vĩnh viễn xa kìa mọi ác hạnh phiền não cấu uế nên gọi là Diêu Hạnh; nó thông cả hai loại thiện hửu lậu và thiện vô lậu . 9/ Ba Hạnh : gồm có 3 ác hạnh và 3 diệu hạnh như sau : (a) Ba ác hạnh : Ba Nghiệp Thân ác hạnh Thân Nghiệp Ngữ ác hạnh Ngữ Nghiệp Ý ác hạnh Ý Nghiệp và tham, sân, tà kiến. (b) Ba diệu hạnh : Ba Nghiệp Thân diệu hạnh Thân Nghiệp Ngữ diệu hạnh Ngữ Nghiệp Ý diệu hạnh Ý nghiệp và vô tham, vô sân, chính kiến Ba ác hạnh là tất cả 3 nghiệp ác của thân, ngữ, ý . Ba diệu hạnh gồm tất 3 nghiệp lành của thân, ngữ, ý . Quan trọng nhất là Ý ác hạnh cũng như Ý diệu hạnh . Chúng nhiếp tất cả Ý nghiệp thiện, ác . Ý ác hạnh nhiếp luôn cả tham , sân, tà kiến . Ý diệu hạnh nhiếp cả vô tham, vô sân, và chính kiến , như biểu đồ ghi trên . 10/ Hai loại mười nghiệp đạo : đó là 10 ác nghiệp đạo và 10 thiện nghiệp đạo . MƯỜI ÁC NGHIỆP • • Thân : Sát, đạo, dâm • • Ngữ : Nói dối trá, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, thêu dệt • • Ý : Tham, sân, tà kiến MƯỜI THIỆN NGHIỆP • • Thân : Không sát, không đạo, không dâm • • Ngữ : Không nói dối trá, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời hung ác, không thêu dệt • • Ý : Không tham, không sân , thực hành chính kiến Trong các Kinh thường viết những việc lành, việc ác phát khởi từ thân, ngữ, ý đều trãi qua 3 giai đoạn : (a) Gia Hạnh; (b) Căn Bản; (c) Hậu khởi. Kinh Ưu Bà Tắc Bồ Tát Giới, phẩm Nghiệp viết : Phương tiện trang nghiêm; Căn Bản; Thành Dĩ. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới viết : Sát nhân sát duyên; Sát Pháp; Sát Nghiệp. Trong 3 phần kể trên Gia Hạnh là phương tiện phát khởi sự việc; Căn Bản là giai đoạn sự việc vừa hoàn thành ; Hậu Khởi là những hành động kế tiếp sau đó . Chỉ có phần Căn Bản mới gọi là NGHIỆP ÐẠO. Câu Xá Luận 16 viết : “Về bất thiện, Thân ác nghiệp đạo trừ một phần của thân ác hạnh không kể vào, đó là các thân nghiệp ác thuộc Gia Hạnh và Hậu Khởi và các nghiệp như uống rượu , đánh, trói … vì những việc nầy không thô bạo rõ rệt bằng những thân Ác Hạnh làm kẻ khác mất mạng , mất của, mất vợ như Phật dạy, đặc biệt phải xa lánh. Chỉ những việc ác chính như làm kẻ khác mất mạng, mất của …mới gọi là Nghiệp Ðạo. Ngữ ác nghiệp đạo không kể những ngữ ác hành thuộc gia hạnh, hậu khởi và khinh vi. Ý ác nghiệp đạo không kể những Ý ác hạnh thuộc tư duy ác và lòng tham nhẹ … Về thiện, Thân thiện nghiệp đạo trừ một phần của thân diệu hạnh không kể vào , đó là thân thiện nghiệp thuộc gia hạnh, hậu khởi và các việc khác như bố thí , cúng dường, lìa uống rượu… Ngữ thiện nghiệp đạo, trừ một phần của ngữ diệu hạnh như ái ngữ, thật ngữ… không kể vào. Ý thiện nghiệp đạo , trừ một phần của Ý diêụ hạnh như các tư duy thiện không kể vào.” 10 điều Ác và 10 điều Thiện trở thành nghiệp đạo với những điều kiện như thế nào? NHỮNG YẾU TỐ KHIẾN 10 ÐIỀU ÁC TRỞ THÀNH ÁC NGHIỆP ÐẠO Sát sinh nghiệp đạo : có 5 yếu tố : (a) Có tâm muốn giết; (b) Ðối tượng là loài hửu tình; (c) Tưởng đó là loài hửu tình; (d) Dùng sức giết; (e) Không giết lầm . Trộm cắp nghiệp đạo : có 5 yếu tố : (a) Móng tâm lấy cắp; (b) Ðối với tài vật của kẻ khác ; (c) Tưởng đó là tài vật của kẻ khác ; (d) Dùng sức lấy ; (e) Không phải lấy lầm đem về làm của mình . Tà dâm nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Hành dâm với người không phải vợ hoặc chồng chính thức . (b) Làm việc trái với phép tắc bình thường . (c) Làm việc trái với nơi chốn bình thường . (d) Làm việc trái với thời gian bình thường . Vọng ngữ nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Tư tưởng và lời nói trái với pháp tắc ; (c) Người bị lừa dối hiểu rõ điều được nghe nói .(e) Người nói dối biết rõ việc mình đã làm. Lưỡi hai chiều (ly gián ngữ) nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Cố ý nói hại kẻ khác; (c) Người nghe hiểu rõ; (d) Người nói tự biết rõ mình nói hai lưỡi. Ác khẩu nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Cố ý nói lời độc ác, cộc cằn, thô bạo để hạ nhục kẻ khác ; (c) Người nghe hiểu rõ; (d) Người nói tự biết rõ mình nói lời độc ác . Ỷ ngữ (thêu dệt, tạp uế) nghiệp đạo : có 2 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Cố ý nói lời thêu dệt , vẽ vời, dua nịnh, tạp uế .Từ Ỷ Ngữ nầy có phạm vi rất rộng . Trừ 3 thứ hư cuống ngữ, thô ác ngữ , ly gián ngữ, tất cả ngôn từ điên đảo, tà vạy, phát khởi ra từ tâm ô nhiễm đều nằm trong phạm vi Ỷ Ngữ nầy . Tham nghiệp đạo : trường hợp nầy, lòng tham thể hiện nhiều mặt rất phức tạp phát khởi từ căn bản thức, nó là món căn bản phiền não cực mạnh nên một mình nó đủ yếu tố tạo ra Nghiệp Ðạo . Sân nghiệp đạo : sân cũng là một trong tam độc, căn bản phiền não , thế lực của nó cực mạnh nên tự nó có thể tạo ra Nghiệp Ðạo. Tà kiến nghiệp đạo: tà kiến là một chi nằm trong 6 món căn bản phiền não , thế lực của nó không kém gì 2 món trên . Từ kiến chấp tà vạy mà sinh ra vô số tội lỗi . Do đó nó dễ dàng tạo ra nghiệp đạo . Tóm lại Gia Hạnh của 10 nghiệp đạo ác do 3 căn bất thiện là Tham , Sân , Si mà phát khởi . Do tâm Sân mà tạo ra nghiệp đạo sát sinh; do Tham dục mà tạo ra trộm cắp nghiệp đạo, tà dâm … Cũng từ 3 món tam độc kể trên mà tạo ra cuống ngữ, ly gián , tạp uế ngữ, thô ác , tà kiến nghiệp đạo… Về 10 Thiện Nghiệp Ðạo thì luận Câu Xá viết như sau: “Các Nghiệp đạo Thiện bất luận là Gia Hạnh, Căn Bản, hay Hậu Khởi đều từ 3 Thiện Căn là Vô Tham, Vô Sân, Vô Si mà phát khởi. Những Thiện Tâm tất nhiên là tương ứng với 3 thiện căn nầy.” 11/ Ba món tà hạnh : Tức là Tà Ngữ, Tà Nghiệp, và Tà Mạng. Luận Bà Sa 16 viết như sau: “Như trong ngữ nghiệp tạo bất thiện nghiệp, nếu do lòng Tham mà phát khởi thì gọi là tà ngữ, cũng gọi là tà mạng, vì trong đó gồm có mục đích nuôi sống nữa. Nếu do tâm Sân si mà phát khởi thì chỉ gọi là tà ngữ chứ không gọi là tà mạng. Bởi không vì mục đích nuôi sống. Và thân nghiệp đạo bất thiện cũng vậy, nếu do lòng tham phát khởi thì gọi là tà nghiệp, cũng gọi là tà mạng. Nhưng nếu do sân si mà phát khởi, chỉ gọi là tà nghiệp chứ không gọi là tà mạng.” Nói tóm lại Nghiệp có nhiều chủng loại nhưng không ngoài 3 cách phân loại chính đó là thuộc về Thân, Ngữ , Ý; hoặc Thiện, hoặc Ác , hoặc Trung dung; thuộc hửu lậu hay vô lậu. Nghiệp Thiện Hửu Lậu, tính nó ít nhiều mùi vị bất lương, vị bản ngã trong đó. Trái lại Thiện Vô Lậu hoàn toàn thanh tịnh, thoát hẳn mùi vị bất lương, vị bản ngã. Còn gọi là Diệu Thiện. Ðặc biệt đây muốn nhấn mạnh đến nguyên nhân của Mê không những chỉ có 3 Nghiệp ác mà luôn cả 3 nghiệp Thiện hửu lậu nữa . Vì 3 nghiệp thiện hửu lậu nầy là nguyên động lực chiêu cảm quả báo tốt lành trong cõi người và cõi trời. Ðồng thời nó cũng là bước căn bản tiến lên Vô Lâu Thiện, và tiến dần đến giác ngộ, giải thoát.
PHẦN LƯU THÔNG Nguyên Văn: Như trên vậy mười nhân duyên đã hiểu rõ, tám tướng trạng đã biết, thì xu hướng có lối, phát tâm có chỗ. Chúng ta nay được thân người, ở xứ Hoa Hạ, sáu căn khỏe mạnh đầy đủ, tứ đại nhẹ nhàng an lạc, tín tâm đầy đủ, may mắn lại không có chướng. Huống chi chúng ta ngày nay còn được xuất gia, được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp, được chiêm bái xá lợi, được tu tập sám pháp, được gặp bạn lành, được nhân duyên thù thắng tốt đẹp. Nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn, thì còn chờ đến ngày nào. Cúi xin đại chúng thương cho tâm thành ngu muội của tôi, xót cho chí nguyện khổ sở của tôi, mà cùng lập nguyện ấy, đồng phát tâm này. Nếu chưa phát thì nay phát, phát rồi thì tăng trưởng, tăng trưởng rồi thì tương tục không gián đoạn. Chớ sợ gian nan mà khiếp sợ thối lui, đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt, đừng ham mau mà chẳng lâu bền, đừng biếng nhác giải đãi mà thiếu dũng mãnh, đừng uể oải mà không phấn khởi, đừng chần chờ mà kỳ hẹn mãi, đừng vì tối dốt mà cứ mãi vô tâm, đừng vì căn cơ cạn cợt mà tự khinh không có phần. Như trồng cây, trồng lâu thì rễ cạn ngày càng sâu; như mài dao, mài mãi thì dao cùn lụt cũng thành sắc bén; chẳng nên vì rễ cạn mà không trồng, mặc cây khô héo, đừng vì dao cùn lụt mà không mài, để dao vô dụng. Giảng: Như trên vậy mười nhân duyên đã hiểu rõ, tám tướng trạng đã biết : Ở trên đã hiểu rõ mười loại nhân duyên là báo ân Phật, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân thí chủ, ân chúng sanh, nhớ khổ sanh tử, tôn trọng tánh linh của mình, sám hối nghiệp chướng, cầu sanh Tịnh độ, khiến chánh pháp tồn tại lâu dài ; cũng hiểu rõ tám pháp tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên. Thì xu hướng có lối, phát tâm có chỗ : ông đã biết được đường lối tu hành như thế nào ; làm như thế nào để khai phát tâm Bồ đề, cũng đã có chỗ. Chúng ta nay được thân người, ở xứ Hoa Hạ : Ông nay đã có các thứ nhân duyên, đã được thân người, lại ở xứ Hoa Hạ là đất Trung Quốc. Sáu căn khỏe mạnh đầy đủ, tứ đại nhẹ nhàng an lạc : Lục căn mắt tai mũi lưỡi thân ý đều không có tật bệnh gì, sáu căn đều đầy đủ. Tứ đại đất nước lửa gió cũng đều điều hòa, cũng tức là không có bệnh tật gì. Tín tâm đầy đủ, may mắn lại không có chướng : Lại đầy đủ tín tâm không có ma chướng làm chướng ngại sự tu hành học đạo của mình. Huống chi chúng ta ngày nay còn được xuất gia : lại nữa chúng ta hôm nay lại được xuất gia, được thọ Cụ túc giới. Được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp : lại gặp được đại đạo trường Vạn Phật Thành, lại có người vì ông giảng kinh thuyết pháp. Được chiêm bái xá lợi, được tu tập sám pháp: Vạn Phật Thành của chúng ta cũng có Xá lợi của Phật ; lại được tu trì pháp hội "Ðại Bi Sám" v.v. Được gặp bạn lành, được nhân duyên thù thắng tốt đẹp : Lại gặp được rất nhiều bạn tốt, được đầy đủ các thứ nhân duyên thù thắng đặc biệt. Nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn, thì còn chờ đến ngày nào? : Nếu ông không phát tâm Bồ đề rộng lớn trong ngày hôm nay, thì còn đợi đến ngày nào nữa ? Cúi xin đại chúng thương cho tâm thành ngu muội của tôi, xót cho chí nguyện khổ sở của tôi : Ðại sư Tỉnh Am nói, cúi xin đại chúng các ông ! thương xót cho tâm thành ngu si của tôi, thông cảm tôi, thương cho chí nguyện khổ tâm của tôi. Mà cùng lập nguyện ấy, đồng phát tâm này : Ðồng phát 48 đại nguyện, cũng là phát tâm nguyện này. Nếu chưa phát thì nay phát : Nếu người chưa phát 48 nguyện này thì nay phát. Phát rồi thì tăng trưởng : Ðã phát 48 nguyện rồi thì càng ngày càng làm cho nó tăng trưởng rộng lớn lên. Tăng trưởng rồi thì tương tục không gián đoạn : Ðã càng ngày càng làm cho tăng trưởng, nay cần phải tương tục không gián đoạn phát tâm Bồ đề. Chớ sợ gian nan mà khiếp sợ thối lui : Ông không nên sợ gian nan mà sanh lòng khiếp sợ thối lui. Đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt : Ông cũng không nên nhìn thấy những việc dễ dàng mà khinh thường hời hợt. Đừng ham mau mà chẳng lâu bền : ông cũng không nên ham mau; nếu không, tâm đã phát cũng sẽ chẳng lâu bền. Cần có tâm lâu bền. Không nên làm để cầu lợi, nói tôi đầu cơ, lợi dụng thời cơ kiếm lợi, thì có thể tu thành Phật ! Không bao giờ đầu cơ kiếm lợi mà có thể thành Phật ! Quý vị! ở đây tôi lại nhớ trước kia dạy 42 Thủ Nhãn, có người tu được vài năm, cảm thấy không có chi thành tựu, bèn không tu nữa. Ðó gọi là thối lui, không thể lâu bền được. Đừng biếng nhác giải đãi mà thiếu dũng mãnh : ông không nên giải đãi biếng nhác, một chút tâm dõng mãnh cũng không có. Đừng uể oải mà không phấn khởi : ông cần phải phấn chấn, phấn khởi, chớ nên ủ rũ chán nản, lôi thôi không dứt khoát, cần đoạn mà không đoạn. Đừng chần chờ mà kỳ hẹn mãi : ông cũng không nên chần chờ kỳ hẹn mãi, không dõng mãnh tinh tấn. Lần lựa chờ đợi, nói : "Ta nay không tu hành, đợi khi nào sắp xếp xong mọi việc rồi sẽ tu hành", tu hành học đạo thì không thể chờ đợi kỳ hẹn mãi. Đừng vì tối dốt mà cứ mãi vô tâm ông không nên vì mình ngu si mà không phát tâm Bồ đề. đừng vì căn cơ cạn cợt mà tự khinh không có phần : cũng không nên cho rằng căn cơ của mình cạn cợt, Phật đạo xa vời vợi không thể thành tựu, không có tư cách thành Phật. Không nên có tâm như thế ! Ở đây đưa ra ví dụ, Như trồng cây, trồng lâu thì rễ cạn ngày càng sâu : như trồng cây, khi mới trồng thì rễ của nó rất cạn ; nhưng khi trồng lâu rồi, ngày này qua ngày kia thì rễ của nó cắm sâu vào lòng đất. Như mài dao, mài mãi thì dao cùn lụt cũng thành sắc bén : Lại thí dụ mài dao, vốn là dao rất cùn, nhưng mà mài lâu ngày thì nó cũng thành con dao sắc bén. Chẳng nên vì rễ cạn mà không trồng, mặc cây khô héo : ông không nên vì mới trồng cây rễ rất cạn mà không trồng nữa, mặc cho cây khô héo, ông không trồng nó thì nó sẽ chết khô. Đừng vì dao cùn lụt mà không mài, để dao vô dụng : Cũng không nên vì dao cùn mà không dùng đá mài mài nó, quăng nó vào một góc, nói dao này rất cùn không dùng nữa. Nguyên Văn: Lại nữa, nếu cho tu hành là cực khổ mà không biết biếng nhác lại còn khổ hơn. Tu thì khó nhọc tạm thời mà an vui vĩnh kiếp, còn biếng nhác thì một đời tạm nhàn nhưng lắm kiếp chịu sự khổ đau. Huống chi lấy pháp môn Tịnh độ làm thuyền tàu thì lo gì thối chuyển, lại được vô sanh làm sức nhẫn thì sợ gì khó khăn. Nên biết, kẻ tội nhân trong cõi địa ngục mà còn phát Tâm Bồ đề từ bao kiếp trước, huống chi đã làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này. Từ vô thỉ đến nay hôn mê mờ mịt, việc gì đã qua rồi đã không thể cản ngăn, mà ngày nay tỉnh ngộ, những việc trong tương lai còn có thể theo. Mê mà chưa ngộ, cố nhiên đáng thương; còn biết mà không làm, mới càng đáng tiếc. Nếu sợ cái khổ địa ngục thì sự tinh tấn tự sinh, nhớ cái vô thường tấn tốc thì tính biếng nhác không khởi. Lại nữa cần lấy Phật pháp làm roi dục, lấy thiện hữu làm tay dắt, trong khoảnh khắc cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố nương theo, thì không còn lo lắng bị thối chuyển nữa. Chớ bảo một niệm phát nguyện là nhỏ nhặt, đừng cho nguyện suông là vô ích. Tâm chân thì sự thật, nguyện rộng thì hạnh sâu. Hư không chẳng rộng lớn, tâm vương mới lớn. Kim cương đâu có cứng chắc, nguyện lực mới chắc nhất. Ðại chúng nếu không chê bỏ lời tôi, thì quyến thuộc Bồ đề từ đây kết hợp, bạn hữu Liên xã từ đây kết giao, sở nguyện cùng sanh Tịnh độ, cùng thấy Di đà, cùng giáo hóa chúng sanh, cùng thành Chánh giác. Như vậy thì biết đâu ba mươi hai tướng tốt và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, như thế thật vô cùng may mắn. Giảng: Lại nữa, nếu cho tu hành là cực khổ : Nhược là giả thiết. Giả như ông cảm thấy tu hành là một việc cực khổ, không chịu nỗi ! Ăn một bữa cũng cảm thấy rất khó khăn, không ăn thịt thì cảm thấy rất thèm, điều này không được làm, điều kia cũng không được làm, há chẳng phải là không được tự do chăng ? Mà không biết biếng nhác lại còn khổ hơn : Nhưng ông lại không biết, nếu ông không tu hành, giải đãi biếng lười còn khổ hơn tu hành. Khổ của tu hành chỉ là cực khổ nhất thời, mà được an vui vĩnh viễn ; nhưng nếu ông không tu hành thì vĩnh viễn ở trong biển khổ. Nhất thời ông cảm thấy : Ở nhà tốt mặc đồ đẹp, ăn món ngon, vui chơi hưởng thụ, nhưng đó chỉ là tạm thời, không phải là vĩnh viễn ; nếu ông tạo tội nghiệp, vĩnh kiếp đều là khổ đau. Tu thì khó nhọc tạm thời mà an vui vĩnh kiếp : tu hành chỉ là nhất thời, cảm thấy không được hưởng thụ. Nhưng nếu ông tu hành thành công thì vĩnh viễn an lạc trong thế giới Cực lạc, không còn chịu sự khổ đau. Còn biếng nhác thì một đời tạm nhàn nhưng lắm kiếp chịu sự khổ đau : ông giải đãi chính là làm biếng trốn việc, sống cầu an qua ngày đoạn tháng, đó chỉ là một đời này cảm thấy được hưởng phước, hưởng thụ, nhưng sau này vĩnh viễn vĩnh viễn, hoặc là đọa địa ngục sanh, hoặc là sanh vào ngạ quỷ, làm súc sanh chịu sự đau khổ. Huống chi lấy pháp môn Tịnh độ làm thuyền tàu thì lo gì thối chuyển ? : Huống chi lấy pháp môn Tịnh độ làm chiếc thuyền đưa chúng ta ra khỏi biển khổ, thì không phải lo lắng chịu cảnh khổ đau nữa. Thối chuyển thì sẽ nhận lấy cảnh khổ đau. Lại được vô sanh làm sức nhẫn thì sợ gì khó khăn ? : Ông được Vô sanh pháp nhẫn. Vô sanh pháp nhẫn thì không cảm thấy có gì là đau khổ để nhẫn, cũng không có gì an vui mà mong cầu ; đã không nhẫn, cũng không ham cầu. Vô sanh pháp nhẫn này, không thấy khổ, cũng không thấy vui, cũng không thấy sanh, cũng không thấy diệt, vậy ông còn sợ gian nan chi nữa ? không nên sợ gian nan cực khổ! Nên biết, kẻ tội nhân trong cõi địa ngục mà còn phát Tâm Bồ đề từ bao kiếp trước : ông nên biết kẻ tội nhân đọa vào địa ngục, vì xưa kia họ cũng đã phát tâm Bồ đề ; cho nên tuy đọa địa ngục nhưng lại rất nhanh thoát khỏi cảnh địa ngục, lìa khổ được vui. Vậy thì Huống chi đã làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này : đã là như thế, họ ở địa ngục phát tâm Bồ đề đều có thể lìa khổ được vui ; huống chi chúng ta là con người tốt, lại là đệ tử tốt của Ðức Phật, tại sao không thể phát đại nguyện trong đời này ? Từ vô thỉ đến nay hôn mê mờ mịt, việc gì đã qua rồi đã không thể cản ngăn : từ vô lượng kiếp cho đến hôm nay, chúng ta đều không hiểu, hôn mê mờ mịt ; nhưng việc quá khứ thì không cách nào vãn hồi. Mà ngày nay tỉnh ngộ, những việc trong tương lai còn có thể đuổi theo : mà nay chúng ta đã hiểu rõ, đã giác ngộ. Ðã hiểu rồi thì những việc trong tương lai còn có cơ hội vãn hồi. Mê mà chưa ngộ, cố nhiên đáng thương : Nếu ông vẫn còn ở trong mê muội, không được giác ngộ, cố nhiên rất đáng thương xót ! Nhưng đó là vì ông ở trong mê, cũng không biết là mê. Còn biết mà không làm, mới càng đáng tiếc : mà ông đã biết đã hiểu thì nên phát nguyện ; nếu không phát nguyện thì càng đáng thương hơn ! Nếu sợ cái khổ địa ngục thì sự tinh tấn tự sinh : Nếu ông sợ quả báo khổ trong địa ngục thì tự nhiên sẽ tinh tấn dõng mãnh thêm. Nhớ cái vô thường tấn tốc thì tính biếng nhác không khởi : nếu biết vô thường tấn tốc sẽ đến tìm chúng ta thì sự biếng nhác giải đãi sẽ không khởi lên. Lại nữa cần lấy Phật pháp làm roi thúc giục, lấy thiện hữu làm tay dẫn dắt : ông nên dùng Phật pháp để làm roi giục mình, khích lệ mình, khuyên nhắc mình ; lại thêm bạn lành cùng nhau giúp đỡ, cùng nhau dắt dìu. Trong khoảnh khắc cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố nương theo : Dù trong khoảng thời gian rất ngắn cũng không lìa pháp môn này, không lìa Phật pháp. suốt đời nương theo Phật pháp. Thì không còn lo lắng bị thối chuyển nữa ! Nếu được như thế thì sẽ không thối thất tâm Bồ đề. Chớ bảo một niệm phát nguyện là nhỏ nhặt, đừng cho nguyện suông là vô ích : ông chớ bảo rằng một niệm phát nguyện thì rất nhỏ nhặt, không gì quan trọng ; cũng không nên nói rằng đó là phát cái nguyện lực hư vọng, không có ích lợi gì. Tâm chân thì sự thật, nguyện rộng thì hạnh sâu : Nếu tâm ông phát nguyện chân chánh, thì đó là sự thật. Nếu phát nguyện quảng đại thì hạnh nguyện của ông sẽ càng tinh tấn, càng sâu rộng. Hư không chẳng rộng lớn, tâm vương mới lớn : Hư không còn chưa được xem là lớn, tâm vương của ông mới là lớn ; tâm vương thì không có hạn lượng. Kim cương đâu có cứng chắc, nguyện lực mới chắc nhất: trên thế giới này kim cương là kiên cố cứng chắc nhất, nhưng cũng không sánh bằng nguyện lực của ông ; ông không nên quên nguyện lực của ông đó mới là kiên cố nhất. Ðại chúng nếu không chê bỏ lời tôi : Nếu có thể nghe lời của tôi, không quên lời của tôi, Thì quyến thuộc Bồ đề từ đây kết hợp : thì quyến thuộc Bồ đề từ đây kết hợp với nhau, đều làm bà con thân thích. Bạn hữu Liên xã từ đây kết giao : mọi người cùng nhau phát nguyện, cùng nhau niệm Phật thì bạn hữu Liên xã từ đây kết giao. Sở nguyện cùng sanh Tịnh độ, cùng thấy Di đà : Mọi người cùng vãng sanh Tịnh độ, cùng nhìn thấy Ðức Phật A Di Ðà. Cùng giáo hóa chúng sanh, cùng thành Chánh giác : Sau đó lại cùng nhau giáo hóa chúng sanh, đồng thành Phật đạo. Như vậy thì biết đâu ba mươi hai tướng tốt và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay ? : Làm sao có thể biết được vị lai chúng ta có thể thành Phật, được ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm giống như Phật, chẳng phải bắt đầu từ sự phát tâm Bồ đề, lập nguyện Bồ đề trong ngày hôm nay sao ? chúng ta sau này thành Phật đều bắt đầu từ ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực! Như thế thật vô cùng may mắn : Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, cùng nhau phát nguyện không thối thất tâm Bồ đề, cùng nhau dõng mãnh tinh tấn hướng về phía trước. Nếu có thể được như thế thật là may mắn, thật là kiết tường ! Ghi chú của Vạn Phật Thánh: Thượng Nhân năm 1979 và 1985 tại Vạn Phật Thánh Thành và Kim Sơn Thánh Tự giảng thuật "Khuyên Phát Bồ Ðề Tâm Văn", khuyến khích đệ tử phát tâm Bồ đề. Vì lúc đó thiết bị ghi âm sơ sài thiếu kém, cho nên một số phần bị thiếu sót. Nay để cho đại chúng được nghe lại lời dạy của Thượng Nhân, chúng tôi đã dùng các bài giảng ghi âm năm 1985 viết ra lại, có những phần băng ghi âm của năm đó bị thiếu sót không cách nào lấy được nguyên âm, chúng tôi đã dùng bài giảng năm 1979 để thay thế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét