THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
PHẦN CHÁNH TÔNG
PHẦN CHÁNH TÔNG
Nguyên Văn:
Tâm Bồ đề này là vua trong các pháp lành, phải có nhân duyên mới phát khởi được. Nhân duyên ấy, nay nói tóm lược thì có mười thứ . Mười thứ nhân duyên ấy là gì ? Một là nhớ ơn sâu nặng của Ðức Phật, Hai là nhớ ơn cha mẹ, Ba là nhớ ơn sư trưởng, Bốn là nhớ ơn thí chủ, Năm là nhớ ơn chúng sanh, Sáu là nhớ khổ sanh tử, Bảy là vì tôn trọng linh tánh của mình, Tám là sám hối nghiệp chướng, Chín là cầu sanh Tịnh độ, Mười là vì mong muốn làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.
Giảng:
Tâm Bồ đề này là vua trong các pháp lành : Tâm Bồ đề này, là tâm trí huệ mà mọi người chúng ta đang tìm cầu. Bồ đề là giác đạo, giác đạo thì trái ngược với không giác đạo. Chúng ta là chúng sanh thì không giác, nếu giác rồi thì sẽ phát tâm Bồ đề ; không giác thì sẽ không biết phát tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề này là Vua trong các pháp lành, bất luận chúng ta làm bất cứ việc lành nào cũng không quan trọng bằng việc phát tâm Bồ đề. Vậy thì phát tâm Bồ đề, nhất định phải có nhân duyên mới phát khởi được, cho nên nói phải có nhân duyên mới phát khởi được : nhân là nhân của hột giống, duyên là trợ duyên giúp đỡ tâm Bồ đề. Nhân là chánh nhân quan trọng, duyên là trợ duyên giúp đỡ cho chánh nhân này phát triển.
Tại sao cần phải phát tâm Bồ đề ? Nhân duyên ấy, nay nói tóm lược thì có mười thứ : Nay nói nhân duyên ấy có mười thứ. Mười thứ nhân duyên ấy là gì ?
Một là nhớ ơn sâu nặng của Ðức Phật : Chúng sanh không biết ân đức từ bi hỷ xả của Ðức Phật đối với chúng ta, ân này không thể nào hình dung được, không có ngôn ngữ nào có thể diễn tả được, vì thế ân này "trọng" nhất, sâu nặng nhất. Bạn xem, Ðức Phật tu phước huệ trong ba tăng kỳ kiếp, trăm kiếp vun trồng các tướng tốt, chỉ là muốn cứu độ chúng ta là những chúng sanh hiện tiền lìa khổ được vui, cho nên trước tự mình phải lấy thân làm gương tu hành, trải qua các thứ khổ cực gian nan, đủ thứ cảnh giới không thể nhẫn, khó chịu đựng, cho nên ân đức của Phật là sâu nặng nhất.
Hai là nhớ ơn cha mẹ : Ân đức của Phật không dễ đáp đền, chúng ta cần phải phát tâm Bồ đề để đền đáp ân đức của Phật ; còn cha mẹ đối với chúng ta cũng có ân đức sâu dày, cha mẹ sanh ta ra, mười tháng mang thai, ba năm bú mớm, sau đó lại nuôi dưỡng chúng ta lớn lên thành người, đó cũng là ân trọng không dễ dàng báo đáp.
Ba là nhớ ơn sư trưởng : Ân đức thứ ba chính là phải nhớ ơn Sư trưởng. Sư là những bậc Thầy mà chúng ta theo học pháp, học trí huệ. Thầy từ từ dẫn dắt, dạy dỗ chỉ bảo chúng ta, ân này chúng ta cũng cần phải báo đáp.
Bốn là nhớ ơn thí chủ : Thí chủ là những người hộ pháp ; chúng ta xuất gia tu hành học đạo, thí chủ hộ pháp hộ trì chúng ta tu hành học đạo, ân này cũng rất nặng. Nếu chúng ta không phát tâm Bồ đề, thì "tam tâm bất liễu thủy nan tiêu", nếu không quét sạch ba tâm, thì dù có uống một miếng nước của thí chủ cúng dường cho, thì cũng không dễ tiêu được, nên nhân duyên thứ bốn là phải nhớ ân thí chủ.
Năm là nhớ ơn chúng sanh : Chúng sanh đối với ta cũng đều có ân, tất cả chúng sanh hoặc là có mối quan hệ tương đương với chúng ta, cho nên chúng ta cũng cần phải báo ân.
Sáu là nhớ khổ sanh tử : Thứ sáu là nhớ khổ sanh tử chúng ta cũng cần phải phát tâm Bồ đề.
Bảy là vì tôn trọng linh tánh của mình : Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể làm Phật. Chúng ta đã có Phật tánh thì nên phát tâm Bồ đề, viên mãn thành tựu Phật tánh của chúng ta, cho nên cần phải tôn trọng giác tánh linh minh vốn có của mình.
Tám là sám hối nghiệp chướng : Nhân duyên thứ tám phát Tâm Bồ đề là phải sám hối nghiệp chướng của mình, khiến cho nghiệp chướng tiêu trừ.
Chín là cầu sanh Tịnh độ : Cầu sanh thế giới Tây phương Cực Lạc, được gặp Ðức Phật A Di Ðà.
Mười là vì mong muốn làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài : Chúng ta phát tâm Bồ đề tu hành học đạo, lại có thể chân chánh tu đạo, đó chính là chánh pháp tồn tại lâu dài ; nếu không phát Tâm Bồ đề tu hành học đạo, thì chánh pháp không thể trụ thế lâu dài.
Có mười loại nhân duyên như thế, cho nên bất luận là người nào cũng nên phát tâm Bồ đề, khiến cho tâm Bồ đề sanh ra. Không nên cho rằng chúng ta tu hay không tu, không có quan hệ gì đến người khác ; chúng ta cùng với khắp cả thế giới đều có mối quan hệ lẫn nhau. Cho nên nếu chúng ta phát tâm Bồ đề, thì Phật pháp sẽ tồn tại lâu dài ở thế gian này ; không phát tâm Bồ đề thì Phật pháp sẽ mất đi.
I. Nhớ Ơn Sâu Nặng Của Ðức Phật
Nguyên Văn:
Thế nào là nhớ ơn nặng của Phật? Ðức Phật Thích Ca Như Lai của ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà tu Bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ các thứ khổ cực. Khi ta tạo nghiệp, Ðức Phật xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không chịu tin theo. Ta đọa địa ngục, Phật càng thương xót, muốn thay ta chịu lấy khổ sở, nhưng vì nghiệp ta quá nặng, không thể cứu vớt. Ta sinh làm người, Phật dùng phương tiện khiến cho ta gieo trồng căn lành.
Ðời đời kiếp kiếp, Phật luôn theo ta, lòng không tạm bỏ chốc lát. Khi Phật xuất thế ta còn trầm luân, nay được thân người Phật đã diệt độ. Tội lỗi gì mà sinh vào thời mạt pháp, phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia, nghiệp chướng gì mà không thấy được thân vàng của Phật, may mắn nào lại được cung nghinh xá lợi của Ngài. Suy nghĩ như vậy mới thấy, nếu đời quá khứ không gieo trồng căn lành thì làm sao được nghe Phật pháp, không nghe Phật pháp thì làm sao được biết thường thọ ân đức của Phật. Ân đức này, núi non cũng khó sánh bằng. Nếu không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, xây dựng hộ trì Phật pháp, cứu độ chúng sanh, thì dù cho tan xương nát thịt cũng không thể đền đáp được. Ðó là nhân duyên thứ nhất của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Thế nào là nhớ ơn nặng của Phật? Nhân duyên thứ nhất, ở trên đã nói sơ lược về ý nghĩa nhớ ơn sâu nặng của Phật. Sao gọi là nhớ ơn sâu nặng của Phật ? Dưới đây sẽ trình bày rõ ràng. Ðức Phật Thích Ca Như Lai của ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà tu Bồ tát đạo : Vị là nói, là những điều được nói. Nói cái chi ? Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta, nguyên nhân ban đầu phát Tâm Bồ đề là gì ? Chính là muốn cứu độ chúng ta là những chúng sanh hiện đời, Ngài mới hành Bồ tát đạo ; hành Bồ tát đạo chính là muốn lợi người, đời đời kiếp kiếp đều vì làm lợi ích cho người. Trải qua vô lượng kiếp chịu đủ các thứ khổ cực : trải qua thời gian dài đăng đẳng vô lượng kiếp, nhiều kiếp đếm khôn xiết, trong thời gian ba tăng kỳ kiếp tu phước tu huệ, chịu đựng các thứ khổ cực đắng cay.
Khi ta tạo nghiệp : khi chúng ta tạo nghiệp, Ðức Phật xót thương, phương tiện giáo hóa : Ðức Phật thương xót chúng ta, cho nên Phật muốn thay chúng sanh chịu khổ, Phật muốn đem cái khổ của chúng sanh làm cái khổ của mình. Ðối với nghiệp mà chúng ta đã tạo, Phật đều thương xót tha thứ cho chúng ta, Ngài dùng các thứ phương tiện quyền xảo, thí dụ thuyết minh để giáo hóa chúng ta, khiến chúng ta sửa ác làm lành, sửa lỗi làm mới cuộc đời, phát Tâm Bồ đề. Mà ta ngu si, không chịu tin theo : Phật từ bi đối với chúng ta như thế, mà chúng ta quá ngu si, rất dại khờ, không hiểu rõ ân đức của Phật đối với chúng ta, vì thế không tiếp nhận sự giáo hóa của Ngài.
Ta đọa địa ngục : Khi ta mới đọa địa ngục, Phật càng thương xót, muốn thay ta chịu lấy khổ sở : Phật nhìn thấy chúng sanh đọa địa ngục, đau khổ bi thương giống như chính mình đọa địa ngục vậy ; cho nên Phật nguyện xuống địa ngục để thay chúng ta chịu khổ. Nhưng vì nghiệp ta quá nặng, không thể cứu vớt : Nhưng vì nghiệp chướng của chúng ta quá nặng nề, thậm chí ngay cả Ðức Phật cũng không cách nào cứu vớt.
Ta sinh làm người : Ðức Phật dùng đủ cách cứu chúng ta ra khỏi địa ngục, chúng ta nay lại được sanh vào cõi người. Phật dùng phương tiện khiến cho ta gieo trồng căn lành : Bấy giờ Phật lại dùng đủ thứ pháp môn phương tiện quyền xảo dạy chúng ta gieo trồng thiện căn. Ðời đời kiếp kiếp, Phật luôn theo ta, lòng không tạm bỏ chốc lát : trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát vì giáo hóa một chúng sanh, chúng sanh đọa vào địa ngục, Bồ tát cũng theo đó mà vào địa ngục ; chúng sanh vào cõi súc sanh, Bồ tát cũng theo đó mà làm súc sanh, chúng sanh chuyển vào đường ngạ quỷ, Bồ tát cũng theo đó mà làm ngạ quỷ, ảnh hưởng Bồ tát phát Tâm Bồ đề, ảnh hưởng Bồ tát tu hành ; chúng sanh làm người, Bồ tát cũng theo chúng sanh làm người. Cứ như thế đi theo chúng sanh mà chịu khổ, theo chúng ta, trong tâm một giờ một khắc cũng không bỏ chúng ta.
Khi Phật xuất thế ta còn trầm luân : Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni khi mới xuất thế, ta còn trầm luân ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thượng có nghĩa là vẫn còn. Nay được thân người Phật đã diệt độ : Nay ta nương nhờ oai đức của Phật được làm người, thì Phật đã vào Niết bàn.
Tội lỗi gì mà sinh vào thời mạt pháp ? Chúng ta nhất định có tội rất lớn, nên mới sanh vào thời mạt pháp ; nếu không phải tội lỗi lớn như thế, thì chúng ta lẽ ra đã được gặp Phật nghe pháp. Phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia : Nhưng nay chúng ta lại được xuất gia – Bài "Văn phát Tâm Bồ đề" này là nói cho người xuất gia, cho nên chúng ta cũng rất là có phước. Tuy có tội nhưng cũng là có phước ; vì có phước, nên hôm nay chúng ta mới được xuất gia.
Nghiệp chướng gì mà không thấy được thân vàng của Phật ? Chúng ta nay nay có nghiệp chướng gì mà không nhìn thấy thân vàng của Phật ? May mắn nào lại được cung nghinh xá lợi của Ngài. ? Chúng ta lại có may mắn nào, ở trong thời mạt pháp này lại có thể nhìn thấy Xá lợi của Phật.
Suy nghĩ như vậy mới thấy, nếu đời quá khứ không gieo trồng căn lành thì làm sao được nghe Phật pháp ! Có sự suy nghĩ như thế này, nếu như xưa kia, trong kiếp quá khứ không gieo trồng căn lành, ngày nay chúng ta nhất định không thể nghe được Phật pháp.
Không nghe Phật pháp thì làm sao được biết thường thọ ân đức của Phật ! Nếu chúng ta không nghe được Phật pháp, không hiểu được Phật pháp, thì chúng ta cũng không biết được ân đức lớn lao của Phật đối với chúng ta. Ân đức này, núi non cũng khó sánh bằng ! Ðức lớn ân sâu của Phật đối với chúng ta, núi cao cũng không thể sánh nổi ; biển cả cũng không sâu rộng bằng.
Nếu không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo : Vì ân đức của Phật đối với ta lớn lao như thế, nếu chúng ta không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, Xây dựng hộ trì Phật pháp, cứu độ chúng sanh : kiến lập Phật pháp, cứu độ chúng sanh. Thì dù cho tan xương nát thịt cũng không thể đền đáp được ! Nếu không hoằng dương Phật pháp, không xây dựng Phật pháp, không hộ trì Phật pháp, thì dù có tan xương nát thịt cũng không đền đáp được ân đức của Phật.
Ðó là nhân duyên thứ nhất của sự phát Tâm Bồ đề : Vì thế nhân duyên thứ nhất trong mười nhân duyên chính là nhớ ân sâu của Ðức Phật mà cần phải phát Tâm Bồ đề.
II. Nhớ Ơn Cha Mẹ
Nguyên Văn:
Thế nào là nhớ ơn cha mẹ? Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc, mười tháng mang thai ba năm bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, mới được nên người. Mong ta tiếp nối gia phong, lo phần tế tự. Mà nay ta đã xuất gia, lạm xưng Thích tử, nhục hiệu Sa môn, đồ ngon vật ngọt đã không phụng dưỡng, cúng tế chạp tảo càng không chu tất. Cha mẹ còn sống, ta đã không thể nuôi dưỡng, khi cha mẹ qua đời, ta lại không thể hướng dẫn thần thức. Ðối với phương diện thế gian là sự tổn lớn, đối với phương tiện xuất thế lại không có ích chi. Hai đường đều tổn thất thì tội nặng khó thoát. Suy nghĩ như thế, chỉ có có cách trong trăm đời ngàn kiếp thường hành Phật đạo, mười phương ba đời khắp độ chúng sanh. Ðược như thế thì không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều đời nhiều kiếp đều được độ thoát; không phải chỉ cha mẹ một người, mà song thân tất cả mọi người cùng được siêu thăng. Ðó là nhân duyên thứ hai của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Thế nào là nhớ ơn cha mẹ ? Ở trên đã nhắc qua về ân đức cha mẹ, nay ở đây giải thích. Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc : Ðây là nói chúng ta đối với cha mẹ thường có lòng thương nhớ ; cha mẹ cũng thương nhớ ta, "sanh ta khó nhọc", đây là câu trong Thi kinh : "Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao…… dục báo chi đức, hạo thiên võng cực". Có nghĩa là "Thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo ân đức của cha mẹ, nhưng ân đức của cha mẹ sâu nặng như trời cao bể rộng thật khó đáp đền". Mười tháng mang thai ba năm bú mớm : Nếu nói mười tháng mang thai, ba năm bú mớm thì không hay, nên nói "mười tháng ba năm, mang thai bú mớm".
Nhường khô nằm ướt : Từ chỗ ướt đưa đến chỗ khô, chứ không phải đẩy ra khỏi chỗ khô. Ðiều này rất đơn giản, không có cách giảng đặc biệt nào, người mẹ nuôi đứa con thơ chính là nhường khô nằm ướt như thế. Nuốt đắng nhả ngọt, mới được nên người : Nuốt đắng, chính là có cái gì đắng cay, có gì khó khăn mẹ đều nuốt lấy, chịu lấy. Nhả ngọt, có gì ngọt bùi cho con. Tận tâm kiệt lực bồi dưỡng nuôi nấng con thơ như thế, con thơ mới được lớn lên thành người. Mong ta tiếp nối gia phong, lo phần tế tự : Sanh con dưỡng cái chính là hy vọng cha truyền con nối, đời nọ nối tiếp đời kia, có người hương khói, nối dõi tông đường, sau này lo phần cúng tế tổ tiên. Chỉ vọng, là dùng tay chỉ đầu, dùng mắt nhìn. "Thiệu" cũng giống như thiệu long Phật chủng, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, "Thiệu" có nghĩa là tiếp tục kế tục. Tục là làm cho nó nối tiếp không để gián đoạn. Môn phong, là phong thái nề nếp gia đình.
Mà nay ta đã xuất gia, lạm xưng Thích tử: Nhưng nay chúng ta đã xuất gia, cũng không quản đến việc có đủ tư cách làm con Phật hay không, lạm vu sung số (1), nói rằng : "A! chúng ta đã là đệ tử của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni". Nhục hiệu Sa môn (Thiểm hiệu Sa môn) : Thiểm, là không biết tàm quý, không biết xấu hổ. Nghĩa là tôi không đủ tư cách, không đáng làm Sa môn, nhưng tôi cũng mạo sung, lạm vu sung số, cũng được gọi là Sa môn. Sa môn là Tỳ Khưu, dịch là Cần Tức, có nghĩa là cần tu giới định huệ, tức diệt tham sân si.
Đồ ngon vật ngọt đã không phụng dưỡng, cúng tế chạp tảo càng không chu tất : Ðối với cha mẹ, chúng ta không chút dưỡng nuôi, không có đem sức của ta để phụng dưỡng; đến khi cha mẹ qua đời, cũng không tảo mộ, cũng không lo phần cúng giỗ. Cha mẹ còn sống, ta đã không thể nuôi dưỡng, khi cha mẹ qua đời, ta lại không thể hướng dẫn thần thức : Khi cha mẹ còn sống, ta đã không thể phụng dưỡng. Sau khi cha mẹ qua đời, ta cũng không thể dẫn đạo tiếp dẫn thần thức của cha mẹ đến nơi an lạc.
Ðối với phương diện thế gian là sự tổn lớn, đối với phương tiện xuất thế lại không có ích chi : Ðối với thế gian pháp, tức là đối với một vài vấn đề xã hội mà nói, thì đây là một tổn thất lớn. Mà chúng ta xuất thế cũng tu hành không thành công, nên đối với cha mẹ cũng không có giúp đỡ gì. Hai đường đều tổn thất thì tội nặng khó thoát : Hai đường tức là hai đường sanh tử. Khi cha mẹ còn sống ta không phụng dưỡng, khi chết rồi cũng không cúng tế ; sau khi xuất gia lại không quản đến cha mẹ ở nhà, hai phương diện này đều tổn thất lớn. Cho nên tội này rất lớn, thật khó tránh khỏi.
Suy nghĩ như thế : Suy nghĩ như thế, chúng ta phải nên làm sao ? Chỉ có có cách trong trăm đời ngàn kiếp thường hành Phật đạo : Chỉ có cách trong trăm đời ngàn kiếp cần phải tu hành Phật đạo, thường y theo Phật pháp tu hành. Mười phương ba đời khắp độ chúng sanh : Không chỉ mười phương mà trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, đều phải độ khắp tất cả chúng sanh, mới có thể báo đáp ân sâu của cha mẹ. Ðược như thế thì không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều đời nhiều kiếp đều được độ thoát : cha mẹ đời đời kiếp kiếp đều được độ thoát. Không phải chỉ cha mẹ một người, mà song thân tất cả mọi người cùng được siêu thăng : Cho đến cha mẹ của mỗi người đều được sanh thiên. Chúng ta nếu như tu hành chân chánh "một người con đắc đạo, cửu huyền thất tổ siêu thăng", cho nên chúng ta cần phải dụng công tu hành, thì không những cha mẹ đời đời kiếp kiếp trong thời quá khứ, cho đến song thân của mọi người, chúng ta cũng đều khiến cho họ được siêu thăng.
Ðó là nhân duyên thứ hai của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ hai của sự phát tâm Bồ đề.
III. Nhớ Ơn Sư Trưởng
Nguyên Văn:
Thế nào là nhớ ơn sư trưởng? Cha mẹ tuy sinh dưỡng sắc thân ta, nhưng nếu không có sư trưởng thế gian thì không hiểu biết lễ nghĩa; không có sư trưởng xuất thế thì không hiểu Phật pháp.
Giảng:
Thế nào là nhớ ơn sư trưởng ? Như thế nào là báo ân Sư trưởng ? Ðoạn văn trên nói về báo ân cha mẹ, cha mẹ sanh ta, ta nên báo ân ; vậy Sư trưởng không có sanh ta, ta phải báo ân gì ? Cho nên nói "thế nào là báo ân Sư trưởng", là từ để hỏi, chính là hỏi mọi người vấn đề này. Chữ "Sư" chính là quy tắc theo Thầy học pháp độ, quy tắc "Sư phụ" là trưởng bối. Trong nhân luân Sư là trưởng bối, bạn quy y Sư phụ, vậy vô hình trung bạn chính là vãn bối.
Cho nên tôi không dạy người quy y tôi, cũng chính vì điều đó ; nếu tôi dạy người quy y tôi, người ta sẽ hỏi :
- Thầy có đủ tư cách làm Sư phụ không ? Có phải là Thầy muốn kiếm lợi chăng? muốn làm Sư phụ của tôi lớn để hơn tôi một vế à ?
Vậy thì bạn phải trả lời như thế nào ? Cho nên từ trước đến nay tôi không dạy một người nào quy y tôi. Tôi cũng rất xấu hổ vì tôi cảm thấy nếu thu nhận một đệ tử quy y mà không dùng chánh pháp để giáo hóa họ, không thể độ họ, thì sẽ có lỗi với họ. Vậy nếu tôi dùng chánh pháp dạy họ, nhưng họ không có tâm chân thành, không nghe lời dạy của tôi, tôi phải làm sao đây ? Vì thế đây cũng là một trong những nguyên nhân mà tôi không dạy người quy y tôi. Quý vị nhìn thấy nay có rất nhiều người quy y tôi, mà quý vị nên tự hỏi, trong quý vị ai là người mà tự miệng tôi bảo đến quy y với tôi ? Thậm chí đối với những người quy y với tôi, tôi đều muốn xem xét, thử thách. Vốn muốn từng người từng người khảo sát, nhưng có lúc người quy y quá đông tôi cũng không xem xét nổi, nên đành qua loa, nhắm lại một mắt : "Ðược rồi ! đều hứa khả" chính là như thế. Ở Mãn Châu, Hương Cảng, tôi nhận đệ tử quy y, trước cần phải nói chuyện với họ, hỏi họ tại sao muốn quy y với tôi.
Không chỉ đối với người như thế, mà đối với quỷ cũng như thế. Thật vậy ! Tôi ở Hương Cảng có nhận quỷ làm đệ tử quy y. Quỷ này, nói đến thật là việc bất khả tư nghì. Có người bệnh, người nhà đi thỉnh Thầy tụng kinh. Thỉnh bảy Thầy, bảy Thầy mặc áo tràng, đắp thượng y, đến nơi đó bày bàn, đọc kinh Kim Cang, Ðại Bi chú, rồi niệm : "Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a ri da……", một ngày cho đến tối "Nam mô, Nam mô, Nam mô" không ngừng. Tụng Kim Cang cũng vậy : "Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc viên, dữ đại Tỷ kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhơn câu. Nhĩ thời, Thế Tôn thực thời, trước y trì bát, nhập XáVệ đại thành khất thực. Ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bổn xứ. Phạn thực ngật, thâu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa." nhưng mà quỷ không có chịu nghe cách này, Thầy trải tòa mà ngồi thì nó cũng trải tòa mà ngồi, làm cho bảy Thầy tụng bảy ngày kinh chú cũng không ra được khỏi nhà.
Trong bảy Thầy này có người giới thiệu tôi, nói : "Ông muốn cho anh ta hết bệnh, thì phải đi thỉnh Hòa thượng đó".
Người này cũng tin tưởng lời của Thầy, nên đến Quan Âm động thỉnh tôi. Lần thứ nhất thỉnh tôi, tôi không nhận lời ; lần thứ hai thỉnh tôi cũng không nhận lời ; lần thứ ba đến trước mặt tôi quỳ không đứng lên, thỉnh cầu tôi nhất định phải giúp đỡ, tôi bèn nói :
- Ðược rồi ! Ông thành tâm như thế tôi sẽ đi.
Ðến nơi, thấy bệnh nhân đang nằm trên giường cùng với các Thầy đấu pháp ! Các Thầy tụng kinh ông ta cũng tụng kinh ; các Thầy niệm chú ông ta cũng niệm chú, lắc lắc lư lư, ra vẻ đắc ý kiêu ngạo! Tôi ngồi bên giường bệnh im lặng khoảng 15 phút. Chà ! Lúc đó người dẫn quỷ, quỷ dắt người đến quỳ trước mặt tôi. Lúc đó tôi có xâu chuỗi niệm Phật bèn choàng vào người bệnh; khi bị choàng vào xâu chuỗi của tôi, ông ta liền nói :
- Ai da ! Pháp sư ! Thầy tha thứ cho con, con không dám nữa !
Tôi nói :
- Ông tại sao thế !
- A ! con dường như sắp bị xâu chuỗi của Thầy thiêu cháy rồi.
- Tôi mang tại sao không bị thiêu ? Ông mang vào tại sao bị thiêu.
- Con thật chịu không nỗi nữa rồi !
- Vậy ông muốn gì đây ?
- Con muốn quy y với Thầy
- Ông muốn quy y tôi ? Bảy Thầy này vì ông tụng kinh bảy tám ngày, tại sao ông không quy y với các Thầy, mà ông quy y với tôi làm gì ?
- Ô ! họ à ! họ quy y với con, con còn không thèm !
Nói như thế xong rồi lại nói ông ta quen biết một vị Pháp sư nào đó. Tôi nói :
- Ông đã biết vị Thầy đó, thì ông có thể quy y với Thầy đó !
- Hừ ! Thầy đó à ! Thầy đó cũng không đủ tư cách làm Sư phụ của con !
- Vậy tôi làm sao đủ tư cách ?
- A ! Con tìm bao nhiêu năm nay, chính là tìm Thầy đó.
- Ông tìm tôi làm gì ?
- Con muốn quy y với Thầy.
- Quy y với tôi có ích lợi gì ?
- Nguyện lực của Thầy rất lớn, phàm là đệ tử quy y của Thầy đều sẽ thành Phật. Vì Thầy có nguyện lực như thế, nên nay con nhất định quy y với Thầy.
Quý vị xem, quỷ này chẳng phải là không hiểu lục tứ (bốn sáu), nó hiểu được lục tứ. Thế nào gọi là "lục tứ" ? Tứ chính là chữ phụ (phụ là phụ thân, là cha); lục chính là chữ mẫu (mẫu là mẫu thân, là mẹ) ; chữ phụ có bốn nét, chữ mẫu có sáu nét. Cho nên nói người mà không hiểu lục tứ, chính là ngay cả cha mẹ cũng không biết đến. Còn quỷ này thì hiểu lục tứ, nên muốn quy y.
Hôm nay không phải tôi muốn đem cái hay của tôi nói cho quý vị nghe, mà là chỉ lấy sự thực để chứng minh. Khi quỷ quy y tôi rồi thì người bệnh cũng khỏe liền. Bệnh lành rồi thì sao ? Thì người ấy cũng quy y, thân thích của người ấy cũng đều quy y, vì thế quy y cả một loạt, mà đều là cả nhà quy y. Vì thế quỷ cũng có thể giới thiệu người quy y, người nhìn thấy quỷ quy y, thì mắt cũng đỏ lên nói : "Con cũng muốn quy y".
Tại sao phải báo ân Sư trưởng ? Vì Cha mẹ tuy sinh dưỡng sắc thân ta : Cha mẹ tuy sanh dưỡng sắc thân ta, nhưng Nếu không có sư trưởng thế gian : nếu không có Sư trưởng thế gian giáo hóa ta, khiến ta có học vấn, có chút ít học thức, Thì không hiểu biết lễ nghĩa : thì ta sẽ không biết "lễ". Lễ có nghĩa là lễ tiết, lễ phép lịch sự ; bạn đối với người không khách khí, đó chính là không lễ phép lịch sự. Còn "nghĩa" là gì ? Nghĩa là nghĩa khí. Giống như Quan Công đại nghĩa cao vót trời xanh, bảo hộ hoàng huynh Lưu Bị, ai muốn lợi dụng Quan Công cũng không được. Như Tào Tháo dùng các thứ thủ đoạn để mua chuộc Quan Công, nhưng Quan Công cũng không theo Tào Tháo, cho nên Quan Công chính là đại nghĩa tham thiên – nghĩa lớn này to lớn như Trời vậy.
Lễ phép lịch sự, như chúng ta nhìn thấy người, thì cần phải cúi đầu, cung kính nghiêng mình, khiến cho người không bao giờ trách móc được mình, mắng mình. Tại sao người mắng ta ? Vì mình đối với người rất thô lỗ, không tốt, nên bị người mắng ; đây là đạo lý mà chúng ta cần nên hiểu rõ sâu sắc. Bạn xem tôi là người xuất gia, cũng thường bị người mắng, vì cảm thấy tôi đối với người không tốt. Việc này không sao, phàm là người mắng tôi, tôi đều phát nguyện sau này sẽ độ những người đó thành Phật. Vì thế người mắng tôi thì được lợi nhất, sẽ không thiệt thòi. Tôi sẽ không nói : "A ! ông mắng tôi, tôi sẽ làm ông đọa địa ngục Vô gián !". Tôi sẽ không có cái tâm như thế. Bạn mắng tôi chăng ? sau nay tôi nhất định sẽ độ bạn thành Phật ; bạn không thành Phật tôi cũng không thành Phật. Cho nên người mắng tôi cũng là thiện tri thức của tôi. Ðề Bà Ðạt Ða chính là người giúp đỡ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni về mặt phản diện. Vậy thì người mắng tôi, thậm chí là những người đối với tôi không khách khí, đó đều là thiện tri thức của tôi, tôi đều phát nguyện tương lai sẽ độ họ. Cho nên các ông nếu ai phản đối tôi, hoặc là chưởi mắng tôi, đó là một phương pháp hay, là cùng tôi kết một pháp duyên rất lớn. Vì thế, các ông nếu mong muốn cùng tôi kết pháp duyên, thì trước mắng tôi ; tôi thì mở rộng cửa phương tiện không sợ người mắng, cũng không sợ người đánh. Nếu các ông muốn mắt của tôi, tôi bèn cho con mắt ; muốn lỗ tai của tôi, tôi bèn cho lỗ tai, muốn đầu của tôi thì tôi cho đầu. Thân tâm tánh mạng, đầu mắt não tủy đều bao gồm ở trong, chỉ cần các ông muốn tôi đều bố thí cho. Ðây không phải là nói suông, mà thật có thể làm được những điều này !
Tôi là một người ngu khờ nhất – tôi lại nói câu này rồi ! Tại sao vậy ? Việc mà người ta không muốn làm, tôi đều có thể làm. Tôi nói với các ông một việc, tôi ăn, món đồ ngon hay dở đều cảm thấy chỉ có một mùi vị. Ở Hương Cảng có người thỉnh cầu với tôi làm cho bà có được đứa cháu nội. Tôi nói :
- Bà muốn có cháu nội ? Ðược rồi !
Tôi đang rửa chân, rửa xong bèn đưa nước ấy cho bà nói :
- Bà uống nước này đi.
- A ?
Bà nhìn nước không dám uống.
- Bà uống không được à ? Ðược ! để tôi !
Tôi cầm lấy nước rửa chân và uống luôn.
- Ô !
Khắp thân bà đều toát mồ hôi nói :
- Làm sao mà có thể được ?
Tôi nói :
- Làm sao mà không thể được ?
Vì thế các ông không nên cho rằng tôi và các ông giống nhau, những việc mà tôi làm được các ông không làm được đâu.
Vì thế người thế gian chúng ta phải hiểu biết lễ, chớ nên một chút lễ cũng không hiểu, một chút nghĩa cũng không biết. Ðiều gì hợp với nghĩa thì chúng ta làm ; việc không hợp với nghĩa thì không làm. "Nghĩa" này là nghĩa của bậc có tiết tháo cao thượng, làm bất cứ việc gì thì cũng làm một cách chánh đáng đúng đắn, làm cho tốt đẹp, đó chính là nghĩa. Nói người đó có nghĩa khí, như hiệp khách xưa kia hành hiệp trượng nghĩa, đó chính là nghĩa khí. Mọi người kết nghĩa anh em, họa phúc cùng hưởng – có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chung chịu, vì bạn dù hai bên sườn có cắm đao cũng không sợ đau, đó đều là nghĩa khí. Có nghĩa khí thì dù có thiệt thòi, cũng muốn giúp người, làm lợi ích người khác.
Thầy thế gian dạy chúng ta những lễ tiết, lễ phép lịch sự. Làm việc gì cũng cần phải lễ mạo lịch sự, không nên mắng chửi người, không nên đối xử không tốt với người, cần phải có lễ. Người và cầm thú khác nhau, chính là chỗ biết lễ ; nếu ngay cả lễ phép lịch sự mà cũng không có thì chẳng khác gì cầm thú. Cầm thú nếu gặp mặt lẫn nhau, đều có sự hảo cảm ! Cho nên chúng ta là người làm sao có thể không hiểu biết lễ nghĩa ? Lễ là một trong tám đức: Hiếu, để, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Cho nên chúng ta cần phải hiểu lễ, đối với người phải có nghĩa khí. Nếu không có Thầy giáo thế gian thì chúng ta sẽ không hiểu những đạo lý làm người này.
Không có sư trưởng xuất thế : Nếu ông muốn tu hành, cần phải chọn lựa một vị thiện tri thức mắt sáng. Thế nào là thiện tri thức mắt sáng ? Có bốn điều kiện khiến cho chúng ta quán sát có phải là thiện tri thức mắt sáng không. Ðiều thứ nhất là không tham tài, điều thứ hai là không tham sắc, điều thứ ba là không tham danh, điều thứ tư là không ích kỷ. Vị thiện tri thức này có phải thường nói những điều bảo bạn làm lợi ích cho người đó không ? Có phải người đó có ý đồ gì không, làm bất cứ việc gì đều muốn cho danh dự địa vị của mình lớn cao ? Người nào không tham tài, không tham danh sắc, không ích kỷ, mới là thiện tri thức.
Vị Pháp sư mà lần này từ Malaysia theo quý vị đến đây, tôi cảm thấy trong những người mà tôi nhìn thấy – tôi không nhìn thấy thì không biết – trong các Tỳ kheo Nam truyền (Theravada), là một người có tu hành nhất, cũng là một người có trí huệ nhất, có lễ nghĩa nhất. Cho nên những người quy y tôi sau khi trở về cần phải thân cận vị Pháp sư này. Vì tôi không ở đó, cho nên tôi thỉnh Sư thay tôi dạy dỗ quý vị. Quý vị nếu có sức thì cần nên hộ pháp cho Sư, quý vị hộ trì Sư cũng chính là hộ trì cho tôi. Hai chúng tôi không có sự phân biệt bỉ thử. Tôi cảm thấy Sư không có lòng ích kỷ, tôi tuy có lòng ích kỷ, nhưng cũng không nhiều. Nói thực, bảo không nhiều lắm, hoặc là có chút ít như đầu sợi tóc, nhưng tôi cũng phải dứt bỏ nó.
Tôi lại bảo với quý vị, thân cận thiện tri thức, không nên theo sát bên mình, từ sáng đến tối cứ mãi quấy rầy : "Thân cận thì không thể lìa xa tách rời". Thân cận chính là phải nghe lời Sư, có gì không hiểu thì cầu khai thị. Không phải từ sáng đến tối nhìn thấy tôi ông Sư phụ này. Thấy, tức là thân cận chăng ? không phải vậy, nếu ông muốn cầu pháp thì cần phải cung kính, không phải vừa nói vừa cười, có vẻ không đứng đắn nghiêm túc. Cần phải đứng đắn, nghiêm túc, trịnh trọng, đến nơi đó, không nên làm Sư thêm phiền phức, trước xem Sư có việc gì không, có rảnh không ? Nếu rảnh thì thưa hỏi ; nếu bận thì không thể nói rằng : "Việc của tôi rất quan trọng, đến nơi đó, bất quản Sư bận hay không, tôi trước phải thưa hỏi các vấn đề của tôi". Không thể được như thế.
Nếu bạn muốn xuất thế, không thể không có thiện tri thức mắt sáng. Một cử chỉ, một hành động của thiện tri thức mắt sáng, tuyệt đối sẽ không toan tính cho riêng mình, sẽ không nghĩ rằng : "Làm sao lợi ích cho tôi ? Xây cho tôi một chùa lớn đi !". Có người nói : "Thầy nay đã có Vạn Phật Thành, một ngôi chùa không nhỏ như thế mà còn muốn xây chùa nữa sao ?" Muốn chứ ! lòng tham của tôi thì không có lúc nào ngừng nghỉ. Nhưng tôi bảo với các ông, lòng tham của tôi là phát nguyện làm một đạo trường Phật giáo cơ bản cho Phật giáo quốc tế, để hoằng dương chánh pháp. Cho nên hôm nay quý vị đến đây dù đối với chỗ này có cách nhìn như thế nào, đều là những người hộ trì Vạn Phật Thành. Dù cho mắng Vạn Phật Thành cũng là ủng hộ ; ông chửi cũng tốt, đối với Vạn Phật Thành đều có quang vinh rất lớn. Bạn nhìn thấy người nào nếu như phê bình tôi, thì thay mặt tôi tìm người đó, tôi muốn lạy người đó làm Thầy. Tôi không sợ người khác chửi, cũng không sợ bị người phỉ báng phê bình, cái gì cũng không sợ. Nếu tôi sợ, thì đã không đến đất Mỹ hoằng dương Phật pháp. Tôi đến đất Mỹ hoằng dương Phật pháp, sớm đã chuẩn bị tất cả. Người càng hủy báng tôi, tôi càng cảm thấy rất thú vị, càng thú vị hơn tôi đùa giỡn nữa. Cho nên tôi thưa thật với quý vị, tư tưởng của tôi và các ông hoàn toàn không giống, tác phong hành vi của tôi, cùng với những gì mà quý vị biết cũng đều không giống.
Nếu không có vị Sư trưởng xuất thế, Thì không hiểu Phật pháp : nếu không theo một vị thiện tri thức xuất thế, thì không thể hiểu rõ Phật pháp. Không hiểu rõ Phật pháp thì làm sao có thể xuất thế được ? Tôi bảo với các ông, điều quan trọng nhất chính là phải bỏ đi tri kiến thế gian ; muốn học Phật pháp thì phải chịu nhiều thiệt thòi. Ðại sư Vĩnh Gia đã nói : "Quán ác ngôn, thị công đức", nghe người ta hủy báng, hoặc là chửi mình, đó đều là công đức, đó đều là giúp đỡ, đều là mong cho mình tốt đẹp ! người kia nếu không muốn bạn tốt, sẽ chẳng nói bạn không tốt ; người kia nói bạn không tốt, chính là muốn bạn càng gia sức nỗ lực, cây sào trăm thước thêm tiến bước. Bạn phải suy nghĩ như thế ! Cho nên "thuận nghịch giai tinh tấn, hủy dự bất động tâm", gặp thuận cảnh hay nghịch cảnh đều tinh tấn, nghe lời hủy báng hay khen ngợi đều không động tâm. Cần phải như thế ! nhưng mà điều này cũng không dễ dàng. "Quán ác ngôn, thị công đức, thử tức thành ngã thiện tri thức", đó tức là thành tựu thiện tri thức của ta. "Bất nhân sán báng khởi oán thân", không nên vì người cười chê hủy báng mà sanh tâm oán giận, cần phải oán thân bình đẳng, không có lòng sân hận; nếu không có người cười chê hủy báng "hà biểu vô sanh từ bi lực", thì làm sao có thể biểu thị ra sức "vô sanh pháp nhẫn" của mình? Cho nên các vị ! Tôi đương nhiên cũng không có nhiều tật xấu, nhưng tôi hy vọng sửa đổi tất cả tật xấu của tôi, cùng với quý vị đồng chung nghiên cứu Phật pháp. Vì thế muốn xuất thế, nhất định phải tìm một vị thiện tri thức chân chánh.
Nguyên Văn:
Không hiểu biết lễ nghĩa thì chẳng khác gì cầm thú, Phật pháp không hiểu thì cũng như người phàm tục. Nay ta được biết chút ít về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp, ca sa trang nghiêm đắp thân, giới pháp nhuận thấm thân mình, được như thế là nhờ ân đức sâu nặng của sư trưởng. Nếu chỉ cầu quả nhỏ thì chỉ có lợi riêng cho bản thân mình mà thôi. Nay phải phát tâm đại thừa, phổ nguyện lợi ích hết thảy chúng sanh. Như thế thì sư trưởng thế gian và sư trưởng xuất thế đều được lợi ích. Ðó là nhân duyên thứ ba của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Không hiểu biết lễ nghĩa thì chẳng khác gì cầm thú : Dị loại tức là cầm thú. Chúng ta xem các thứ cầm thú – chim bay thú chạy, đều không hiểu lễ nghĩa. Nhưng cũng có thứ hiểu biết, như quạ biết mớm mồi lại cho mẹ, báo đáp ân mẹ, dê con quỳ bú sữa mẹ, đó cũng là thứ cầm thú biết hiếu thuận, vì thiên tánh của nó thiện lương. Vậy không biết lễ tiết và nghĩa khí, thì giống như dị loại, không khác gì loài súc sanh ; nếu mặt người dạ thú, cũng tức là không hiểu lễ nghĩa, cho nên nói : "không hiểu lễ".
Phật pháp không hiểu thì cũng như người phàm tục : Nếu người tu hành học đạo mà không hiểu Phật pháp, thì cùng với người thế tục có khác gì chăng ? không có gì sai khác.
Cho nên Nay ta được biết chút ít về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp : nay chúng ta, chính là Ðại sư Tỉnh Am nói những người cùng loại, tức là những người xuất gia, hoặc là những người tin theo Phật ; ngã đẳng tức là chúng ta. Thô tri, là biết một cách đại khái đơn giản. Chúng ta biết chút ít về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp.
Ca sa trang nghiêm đắp thân : Ca sa là y phục của người xuất gia. "Mạc đạo ca sa dung dị đắc, giai nhân lũ thế chủng Bồ đề", có nghĩa là chớ bảo Cà sa dễ dàng được, đều do nhiều kiếp gieo trồng hạt giống Bồ đề. Xuất gia không phải là việc dễ dàng, nếu không có căn lành thì không thể xuất gia, dù có xuất gia cũng không được lâu dài. Mà cần phải phát nguyện đời đời thế thế đồng tử nhập đạo tu hành, phát tâm Bồ đề. Chưa lập gia đình nhập đạo tương đối tu hành, cũng dễ đắc được ngũ nhãn lục thông. Một khi không phải đồng tử thì không dễ tu hành ; đương nhiên cũng có thể tu hành nhưng không dễ dàng vậy.
Giới pháp nhuận thấm thân mình : Giới có ngũ giới, bát giới, Bồ tát 10 giới trọng 48 giới khinh, Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới. Giới phẩm tức là thọ giới Tỳ kheo giới, Sa di giới, Bồ tát giới. Vậy thì "chúng sanh thọ Phật giới, tức nhập chư Phật vị" (kinh Phạm Võng). Chúng sanh thọ giới của Phật thì vào địa vị chư Phật, cho nên nói giới phẩm triêm thân tức là đắc được giới thể của Kim Cang quang minh bảo giới.
Được như thế là nhờ ân đức sâu nặng của sư trưởng : Cà sa trang nghiêm đắp thân, giới pháp nhuận thấm thân mình, ân đức sâu nặng như thế là nhờ Sư trưởng mà được.
Nếu chỉ cầu quả nhỏ thì chỉ có lợi riêng cho bản thân mình mà thôi : Ðã được Cà sa đắp thân, giới pháp nhuận thấm thân mình, nếu không tu pháp Ðại thừa, chỉ tu đạo Tiểu thừa, chỉ cầu chứng quả A la hán, đó cũng tốt, nhưng đây chỉ là tự lợi mà không thể lợi tha, chỉ có thể tự giác mà không thể giác tha, chỉ có thể tự độ mà không thể độ tha.
Nay phải phát tâm đại thừa, phổ nguyện lợi ích hết thảy chúng sanh : Nay vì chủng tử Ðại thừa, phát tâm Bồ đề, phổ nguyện lợi ích cho tất cả chúng sanh mà quên đi bản thân mình.
Như thế thì sư trưởng thế gian và sư trưởng xuất thế đều được lợi ích : Như thế Sư trưởng thế gian và Sư trưởng xuất thế, cả hai Sư trưởng đều được ích lợi. Ðó là báo ân Sư trưởng, vì thầy là người dạy chúng ta, chúng ta tu hành hành đạo, là do Thầy giúp cho chúng ta thành tựu. Vậy thì Sư trưởng thế gian và Sư trưởng xuất thế gian cũng đều được lợi ích.
Ðó là nhân duyên thứ ba của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ ba của sự phát tâm Bồ đề.
IV. Nhớ Ơn Thí Chủ
Nguyên Văn:
Nhớ ơn thí chủ là thế nào? Chúng ta ngày nay, mọi thứ cần dùng hàng ngày đâu phải của mình. Cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu xài, đều xuất từ sức lực của kẻ khác mà đem đến cho ta sử dụng. Người nhọc sức cày cấy, còn khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn, vẫn chưa vừa ý. Kẻ dệt đan mãi hoài mà vẫn gian nan cực khổ, còn ta an nhàn y phục thừa thãi, há không thương tiếc? Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời, còn ta phòng lớn sân rộng, thong thả cả năm. Ðem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao an lòng. Ðem cái lợi ích của người để cung cấp sự no ấm cho thân xác mình, có hợp lý chăng? Do đó, phải vận dụng cả hai thứ bi trí, trang nghiêm cả hai mặt phước huệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước, nếu không thì dù chỉ là một hạt gạo, một tấc vải, vẫn phải có phần trả nợ. Ðó là nhân duyên thứ tư của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Nhớ ơn thí chủ là thế nào ? Nhớ ở đây không phải là báo đáp mà là không nên quên. Tâm niệm phải luôn nhớ ân thí chủ đối với chúng ta. Nói như thế nào đây ?
Chúng ta ngày nay : tức là nói chúng ta hiện nay, mọi thứ cần dùng hàng ngày đâu phải của mình : sở tư, là những thứ vật phẩm cần dùng hằng ngày, không phải của mình, đều do người khác cúng dường. Cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng : Sáng ăn cháo, trưa ăn cơm, quần áo bốn mùa, cùng với những thuốc men khi bệnh tật cần dùng. Thân miệng tiêu xài, đều xuất từ sức lực của kẻ khác mà đem đến cho ta sử dụng : những gì mà thân miệng chi dùng, thân phải mặc y phục, miệng cần ăn cơm, đều do người khác cúng dường để ta sử dụng tu hành học đạo.
Người nhọc sức cày cấy, còn khó nuôi miệng : Người nông phu suốt ngày đổ giọt mồ hôi vô cùng cực khổ, có lúc còn không đủ cơm ăn. Ta ngồi không mà ăn, vẫn chưa vừa ý : ta thì không làm gì hết, ngồi không thọ nhận những món ẩm thực, cơm canh đã được dọn sẵn, còn chọn lựa đồ ăn thức uống, nói món này dở, món kia không ngon.
Kẻ dệt đan mãi hoài mà vẫn gian nan cực khổ : Vải mà ta mặc, do người dệt vải suốt ngày đan dệt không thôi, công việc làm hoài không hết, họ thì gian nan cực khổ mới dệt ra tấm vải. Còn ta an nhàn y phục thừa thãi, há không thương tiếc ? : còn ta ? thì an nhàn hưởng dụng, ăn mặc thừa thãi, lại không biết thương tiếc sự vất vả gian nan của vật chất.
Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời : nhà cửa họ ở thì rách nát, vườn cửa đều cũ nát, trong một đời của họ cũng không được sự an lạc gì. Còn ta phòng lớn sân rộng, thong thả cả năm : còn chỗ ta ở thì rất rộng rãi, sân vườn cũng rất lớn, vườn hoa hồ nước, cái gì cũng chuẩn bị sẵn, cho nên rất thong thả tự tại, năm này qua năm khác, không cần phải cực khổ, lao nhọc.
Ðem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao an lòng ? Lấy sự cực khổ của người để cung phụng sự an nhàn hưởng thọ cho ta, vì thế thử hỏi lại mình có được an lòng chăng ? Ðem cái lợi ích của người để cung cấp sự no ấm cho thân xác mình, có hợp lý chăng ? Ðem sự lợi ích của người để làm no ấm thân ta, có hợp lý chăng ? Thì không hợp lý vậy !
Do đó, phải vận dụng cả hai thứ bi trí, trang nghiêm cả hai mặt phước huệ : Vậy thì phải làm như thế nào ? cần phải tu từ bi quán, tu trí huệ quán. Không những tu phước, mà còn cần phải tu huệ ; tu phước tu huệ trang nghiêm cả hai thứ, mới có thể trồng phước cho người thế gian. Ðể thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước : Trang nghiêm tu cả hai mặt trí huệ, hồi hướng cho thí chủ thì thí chủ mới có thể nhờ được ân huệ, chúng sanh cũng nhận được phước của mình. Nếu không thì dù chỉ là một hạt gạo, một tấc vải, vẫn phải có phần trả nợ : Nếu không thì nhận sự cúng dường một hột gạo hoặc một tấc vải của người, sau này cũng phải trả nợ. Cho nên nói :
Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di sơn.
Ngật liễu bất tu đạo, phi mao đái giác hoàn.
Dịch :
Thiện thí một hạt gạo, nặng như núi Tu Di
Ăn rồi không tu đạo, đội lông mang sừng trả.
Người xưa nói : "Một bữa cháo một bữa cơm, thường suy nghĩ chỗ đến không dễ ; nửa sợi tơ sợi chỉ, thường nhớ công người làm ra vật chất khó khăn". Ðó là điều chúng ta cần phải biết, cho nên nếu quý vị không tu hành thì "tam tâm bất liễu thủy nan tiêu", dù uống một ngụm nước của người cúng dường thì sau này cũng hoàn trả, cho nên nói quả báo ác khó tránh.
Ðó là nhân duyên thứ tư của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ tư của sự phát tâm Bồ đề.
V. Nhớ Ơn Chúng Sanh
Nguyên Văn:
Thế nào là nhớ ơn chúng sanh? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp thay đổi làm cha mẹ, kia đây đều có ơn với nhau. Nay tuy cách đời hôn mê, không nhớ biết nhau, nhưng lấy lý mà suy ra thì làm sao không đem sức báo đáp! Ngày nay đội lông mang sừng, nhưng biết đâu kiếp trước ta không phải là con cái của chúng. Hiện tại là các loài bò bay máy chạy, nhưng biết đâu quá khứ chúng đã không phải là cha của ta. Thường thường nhìn thấy thơ ấu mà lìa xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình dáng song thân, huống chi cha mẹ con cái đời trước, kiếp trước là họ Trương hay là họ Vương, ngày nay khó mà nhớ rõ. Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngư trong ngạ quỉ, thống khổ ai biết, đói khát kêu ai. Tuy ta không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu độ. Ngoài Kinh ra nơi đâu bày tỏ được việc này, không Phật chẳng ai chỉ rõ cảnh ấy. Còn kẻ tà kiến làm sao có đủ sức mà biết được. Cho nên Bồ tát quán sát sâu kiến thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng. Ðó là nhân duyên thứ năm của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Thế nào là nhớ ơn chúng sanh ? : Sao gọi là không quên ân chúng sanh ? chúng sanh thì bao gồm 12 loại chúng sanh : bay, lặn, động, trực, thai, noãn, thấp, hóa, hữu tưởng, vô tưởng, hữu sắc, vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Thậm chí ngay cả các loài muỗi mòng, sâu kiến cũng đều ở trong.
Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay : Ta cùng với 12 loại chúng sanh này, từ vô lượng kiếp cho đến nay, đời đời kiếp kiếp thay đổi làm cha mẹ, kia đây đều có ơn với nhau : vì đời đời kiếp kiếp luân hồi chìm nổi, cho nên thay đổi làm cha mẹ, thay đổi làm con cái, kia đây đều có ân với nhau.
Nay tuy cách đời hôn mê, không nhớ biết nhau : Nay tuy cách đời hôn mê mờ mịt, rất hồ đồ, nên không hiểu rõ, kia đây đều không nhớ biết nhau. Nhưng lấy lý mà suy ra thì làm sao không đem sức báo đáp! Nhưng lấy ý nghĩa này để suy ra, để truy cầu, thì kia đây nên ra sức đền đáp lẫn nhau.
Ngày nay đội lông mang sừng, nhưng biết đâu kiếp trước ta không phải là con cái của chúng ? : Nay những loài chúng sanh đội lông mang sừng, nhưng làm sao biết được ta không phải là con cái kiếp trước của chúng.
Hiện tại là các loài bò bay máy chạy, nhưng biết đâu quá khứ chúng đã không phải là cha của ta ! : Nay những loài hàm linh bò bay máy chạy, những loài động vật rất nhỏ bé, ví dụ muỗi mòng, ruồi, là những loài động vật rất nhỏ có thể bay, những sanh linh nhỏ bé như thế, làm sao biết được chúng nó đời quá khứ không phải là cha của ta ?
Thường thường nhìn thấy thơ ấu mà lìa xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình dáng song thân : thường nhìn thấy những người tuổi còn thơ ấu mà lìa xa cha mẹ, thì lớn lên đã quên hết dung mạo của song thân. Huống chi cha mẹ con cái đời trước, kiếp trước là họ Trương hay là họ Vương, ngày nay khó mà nhớ rõ : huống chi là cha mẹ con cái đời trước ? đời trước là họ Trương hay là họ Vương, ngay nay đã không còn nhớ rõ nữa.
Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngư trong ngạ quỉ : Họ gào thét ở trong địa ngục, xoay vòng trong ngạ quỷ, không thoát ra được. Thống khổ ai biết, đói khát kêu ai : Sự thống khổ của họ ai biết ? Hoặc là được no lòng, hoặc là vẫn còn nơi đó đói khát tột cùng, thì bảo cho ai biết đây ? Tuy ta không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu độ : Tuy ta không thấy không nghe, nhưng họ đang ở đó nhất định đang tìm người cứu giúp tế độ. Ngoài Kinh ra nơi đâu bày tỏ được việc này, không Phật chẳng ai chỉ rõ cảnh ấy : nếu không phải là kinh điển, thì không thể nói rõ những vấn đề này ; nếu không phải Ðức Phật là đấng có trí huệ sáng suốt, thì cũng không thể nói ra tiền nhân hậu quả, nói ra những ý nghĩa rõ ràng đó.
Còn kẻ tà kiến làm sao có đủ sức mà biết được : Những người tà tri tà kiến kia, không tin có nhân có quả, đương nhiên không biết được điều này ! Cho nên Bồ tát quán sát sâu kiến thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai : Lâu nghị tức là loài sâu kiến. Cho nên Bồ tát ngay cả nhìn sâu kiến, cũng cho chúng là cha mẹ quá khứ của mình, là chư Phật vị lai. Thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng : Thường nghĩ đến những việc lợi ích cho các loài sâu kiến, đó là muốn báo ân cha mẹ báo ân chư Phật.
Ðó là nhân duyên thứ năm của sự phát Tâm Bồ đề : Ðó là nhân duyên thứ năm của phát tâm Bồ đề.
VI. Nhớ Khổ Sinh Tử
Nguyên Văn:
Thế nào là nhớ khổ sinh tử? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, cứ ở mãi trong vòng luân hồi sinh tử, chưa được giải thoát. Khi sanh trong loài người, lúc ở trên thiên cảnh, khi ở thế giới này, lúc ở phương khác, ra vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng chốc làm trời, thoáng chốc làm người, thoáng chốc sanh vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Cửa đen sáng ra chiều về, hang sắt mới tạm lìa khỏi lại bước vào. Lên núi đao thì thân thể không còn mảnh da nguyên vẹn, vào rừng kiếm thì tim gan cũng bị cắt xả. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì ruột gan cháy nát, đồng sôi đâu khỏi khát, mà uống vào thì xương tan thịt nát. Cưa bén cắt thân, cắt đứt ra là liền lại, gió lạ thổi vào thì chết rồi lại sống ngay. Trong thành lửa dữ chỉ nghe tiếng thét gào thảm thiết, trên bàn chưng nướng toàn nghe âm thanh đau khổ thống thiết. Băng tuyết đông lại thì như sen xanh kết nhụy, máu thịt rã ra thì như sen đỏ mới nở. Ở trong địa ngục, một đêm chết sống thường đến cả vạn lần, một buổi thống khổ mà như trăm năm ở nhân gian. Mãi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc, nhưng có ai chịu nghe lời Diêm vương khuyên bảo. Khi thọ quả báo mới biết đau khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp; lúc thoát khỏi cảnh khổ thì lại quên ngay, vẫn tạo nghiệp y như cũ. Ðánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái bi thảm của mẹ mình; lôi con heo đến lò thịt, nào hay đích thị cái đau thương của cha ta.
Giảng:
Thế nào là nhớ khổ sinh tử ? Thế nào là không quên cái khổ sanh tử ? Sanh có gì thống khổ ? Khi chết lại có chi đau khổ ? Chúng ta khi sanh ra, đau khổ như bị ngọn núi ép lại. Khi chết tứ đại phân lìa, cũng không dễ dàng lìa bỏ cái túi da thúi, cho nên rất đau khổ. Có người nói sanh như rùa sống thoát xác, chết như lột da bò, rất là đáng sợ.
Ta cùng với chúng sanh : ta và chúng sanh đều có mối quan hệ lẫn nhau. Từ vô lượng kiếp đến nay, cứ ở mãi trong vòng luân hồi sinh tử : chúng ta từ vô lượng kiếp, rất lâu, không biết bao lâu, cứ sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh ; chết rồi lại sanh, sanh rồi lại chết, sanh sanh tử, tử tử sanh, cứ mãi tuần hoàn không lúc nào thôi. Chưa được giải thoát : tuy thường muốn giải thoát, nhưng hôm nay muốn tu hành, ngày mai lại muốn đi chơi, ngày mốt lại muốn ăn, ngày sau nữa chỉ muốn uống, làm mất đi chánh niệm, đều là tà niệm, không có niệm đạo tâm, cho nên không được giải thoát.
Khi sanh trong loài người, lúc ở trên thiên cảnh : Có lúc đến nhân gian làm người, có lúc lại sanh lên trời. Làm công đức thiện thì được sanh lên thiên giới, tạo nghiệp tội thì đọa địa ngục. Cho nên cứ mãi luân chuyển trong lục đạo luân hồi, thường không ra khỏi. Khi ở thế giới này, lúc ở phương khác, ra vào đủ cách : Cứ như thế, từ thế giới này đến thế giới khác, thay đổi di dân. Vốn là người Trung Quốc lại muốn nhập quốc tịch Mỹ, vốn là người Mỹ lại muốn nhập quốc tịch Trung Quốc. Ðó gọi là ra vào đủ cách, lên xuống liền liền ; không có đầu, không có mối, có đủ thứ nhân duyên. Lên xuống liền liền : xoay chuyển trong vòng sanh tử, có lúc thì thăng lên như ngồi thang máy lên trời ; có lúc giáng xuống như ngồi thang máy xuống địa ngục, xuống nhà lao dưới đất, đây đều là ví dụ, ý nói nhanh như thế ! Thoáng chốc làm trời, thoáng chốc làm người : Thoáng chốc sanh lên trời, thoáng chốc lại làm người. Thoáng chốc sanh vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh : Thoáng chốc lại đọa địa ngục làm súc sanh hoặc chuyển vào cõi ngạ quỷ.
Cửa đen sáng ra chiều về : Ở cửa đen này - tức là trong cõi địa ngục, sáng sớm mới bước ra, chiều tối lại trở về. Hang sắt mới tạm lìa khỏi lại bước vào : Thiết quật, là hang sắt, cũng là ví dụ cho địa ngục, giống như ở trong hang sắt, không có chỗ để đi. Tuy tạm thời lìa khỏi, nhưng trong nháy mắt lại bước vào ; đó là vì vẫn tạo nghiệp như cũ cho nên lại bước vào. Lên núi đao thì thân thể không còn mảnh da nguyên vẹn : Lên núi đao thì toàn thân thịt nát máu chảy, thân thể không còn mảnh da nguyên vẹn. Vào rừng kiếm thì tim gan cũng bị cắt xả : Vào rừng kiếm thì tim bị cắt đứt. Ví dụ bệnh tim, thì cũng giống như đi đến núi đao vậy, thoát chốc cắt nát con tim.
Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào thì ruột gan cháy nát : Ăn sắt nóng cũng không thể no, vì nó là sắt đốt nóng lên, khi đói bụng ăn nó, tuy ăn nhưng mà gan và ruột đều bị nó đốt cháy nát. đồng sôi đâu khỏi khát, mà uống vào thì xương tan thịt nát : đồng nung biến thành nước đồng. Nhìn thấy chỗ đó có nước thì muốn uống, nhưng uống vào thì không thể đỡ khát, uống vào thì xương tan thịt nát.
Cưa bén cắt thân, cắt đứt ra là liền lại : Dùng cưa bén cắt thân, vốn cắt đứt rồi, nhưng vì nghiệp báo, cắt đứt ra là liền lại. Ðó là nói chúng ta tạo nghiệp, vốn không muốn làm nữa, nhưng lại làm tiếp như cũ, vì thế lại bị quả báo cưa xẻ. Gió lạ thổi vào thì chết rồi lại sống ngay : Ðịa ngục có một loại gió lạ đó là gió nghiệp của chúng ta, gió lạ này vừa thổi thì sau khi chết lại sống lại. Sống lại làm gì ? không phải nói mua một chiếc xe hơi, ở trong một tòa nhà đẹp đẽ, ở nơi đó hưởng thụ ; mà sống lại để chịu khổ, phải nhận quả báo, nhận tội. Cho nên nói chết cũng không thể chết, sống cũng không thể sống.
Trong thành lửa dữ chỉ nghe tiếng thét gào thảm thiết : Trong thành lửa dữ thiêu, tội nhân bị thiêu đốt kêu gào thảm thiết, kêu trời kêu đất, kêu cha kêu mẹ, rất là tàn nhẫn, rất là thê thảm. Trên bàn chưng nướng toàn nghe âm thanh đau khổ thống thiết : Ðịa ngục có một loại bàn chưng nấu, để tội nhân ở trong bàn này, ở dưới để lửa thiêu đốt. Ở trong bàn chưng thiêu đốt này cũng tức là ở trong nồi, chỉ nghe tiếng người ở trong đó nói : "Ðau quá ! khổ quá !"
Băng tuyết đông lại thì như sen xanh kết nhụy : Ðây là nói trong địa ngục băng lạnh, băng vừa đông lại, máu thịt của tội nhân giống như sen xanh kết nhụy. Máu thịt rã ra thì như sen đỏ mới nở : Ðến khi máu thịt rã ra thì giống như hoa sen đỏ mới nở. Ðây là hình dung, dường như rất đẹp mắt vậy, nhưng thật ra rất đau khổ.
Ở trong địa ngục, một đêm chết sống thường đến cả vạn lần : Trong địa ngục một đêm sống rồi lại chết, chết rồi lại sống cả vạn lần. Một buổi thống khổ mà như trăm năm ở nhân gian : Vì khi đau khổ cảm thấy thời gian rất dài. Một ngày đêm trên cõi Tứ thiên vương là năm trăm năm ở cõi người chúng ta ; một trăm năm ở cõi người chúng ta là một ngày đêm ở địa ngục. Cho nên những tội nhân ở trong địa ngục một ngày đêm thì nhân gian chúng ta đã rất dài lâu, cho nên nói chết sống thường đến vạn lần.
Mãi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc : Khiến cho quỷ tốt trong địa ngục vô cùng mệt nhọc, nói : "Ôi ! Thật là mệt nhọc, hôm nay công việc quá nhiều, mệt quá !" Ngay cả họ cũng than phiền mệt nhọc. Nhưng có ai chịu nghe lời Diêm vương khuyên bảo ! Nhưng lại có ai nghe lời khuyên bảo của Diêm vương ? Khi thọ quả báo mới biết đau khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp : Ðến khi thọ quả báo mới biết đau khổ, biết hối hận, nhưng đã muộn màng. Lúc thoát khỏi cảnh khổ thì lại quên ngay, vẫn tạo nghiệp y như cũ : mà đến khi thoát khỏi cảnh khổ thì quên ngay cảnh khổ, vì thế cứ tạo nghiệp như cũ. Chúng ta là điên đảo như thế, vết thương lành rồi thì quên đi sự đau nhức. Khi chịu khổ đau thì nói : "Ta cần phải không làm các việc ác, phải làm các việc lành". Nhưng đến khi thoát khỏi cảnh khổ đau, lại khởi lên các vọng tưởng không chánh đáng, cứ mãi đi làm các việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Con người là động vật không có tông chỉ, không có trí huệ.
Ðánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái bi thảm của mẹ mình : Người a ! mắt thịt phàm phu, không biết tiền nhân hậu quả, cho nên "ai thuận theo ý ta thì sống, nghịch ta thì chết".
Không cần nói lừa, mà là muỗi mòng, ruồi kiến, phàm là những loài động vật có máu huyết, đều có mối quan hệ quyến thuộc với ta, có mối nhân quả không thanh tịnh ở bên trong, chúng ta không biết, cứ đánh bậy chưởi bạ, chưởi cái này, mắng cái kia, đánh cái này, đập cái kia. Kỳ thực đều là tương tàn cốt nhục, mình như kẻ mù nói bừa làm bậy. Cho nên Phật nói : "Người nam đều là cha của ta, người nữ đều là mẹ của ta". Ðây là nói người, vậy muốn nói rộng ra, thì nam tử hoặc cũng là mẹ của ta, hoặc là nữ nhân cũng có thể là cha của ta. Tại sao lại nói như thế ? Vì cha kiếp trước của ta, không nhất định thường thường là người nam, mẹ kiếp trước của ta cũng không nhất định làm người nữ. Ðức Phật chỉ nói một cách tổng quát, chúng ta nếu muốn làm một bài văn chi tiết thì cần phải suy rộng ra, bổ sung cho đầy đủ.
Không những người là cha mẹ của ta, mà ngay cả tất cả các loài bò bay máy chạy, trâu ngựa dê gà heo chó, 12 loại chúng sanh, đều có mối quan hệ quyến thuộc cốt nhục với ta. Nhưng vì chúng ta ngược giác hợp trần, nhận không rõ mối quan hệ này, cho nên rõ ràng là cha của ta mà ta xem như kẻ thù, rành rành là mẹ của ta, mà ta xem như oan gia. Cho nên tuy là lừa, nhưng ở kiếp trước là mẹ của ta. Chỉ vì bà tạo nghiệp quá nặng, thác sanh làm con lừa, vì mình là kẻ phàm phu không biết, nên lấy roi, lấy gậy đánh, cho rằng nó làm việc không siêng năng thì cần phải đánh. Nhưng mỗi khi roi đánh vào thân lừa, thì người mẹ kiếp trước đau lòng khôn xiết, bật lên tiếng khóc nức nở.
Vừa rồi Dương mỗ nói về công án cho các ông nghe, các ông không nên cho rằng là lời nói vô căn cứ, đây là điều có thể xảy ra ! Heo chó cũng thay nhau làm cha mẹ con cái. Phàm là chúng sanh đều thay đổi di dân, cùng nhau giao lưu, linh tánh cùng nhau thay đổi, thường muốn tìm cho mình một ngôi nhà mới để ở. Vì thế :
Xuất mã phúc, nhập lư thai,
Diêm vương điện tiền kỷ độ hồi.
Thủy tùng Ðế thích điện tiền quá,
Hựu đáo Diêm quân oa lý lai.
Dịch:
Ra bụng ngựa vào thai lừa
Điện Diêm Vuơng đến tới giờ nhiều phen
Cung trời Đế Thích vừa quên
Lại rơi chảo nóng giữa đền Diêm quân
Vừa mới từ cõi Trời Ðế thích đi qua lại vào trong chảo dầu của Diêm vương.
Cho nên không chỉ chúng ta thích du lịch, mà linh hồn cũng thích du lịch, cho rằng đây là trò chơi, rất thú vị, có lúc thì đi đến chỗ bình an, như ở trong khách sạn, có rất nhiều thứ để hưởng thụ, có nhà vệ sinh, phòng tắm, giường niệm lò xo, ngủ ở trên : "A ! còn sướng hơn nhà mình nữa". Vì ham hưởng thụ, ăn cũng muốn ăn cho ngon, mùi vị thơm tho, ở cũng muốn ở chỗ sang trọng danh tiếng ; như thế tham hưởng thụ thì đi sai đường, ham ăn thức ăn ngon, thì ăn gà vịt cá thịt, thay đổi cách nấu để ăn cho sướng miệng, ăn rồi thì phải lo trả nợ. Thiếu tiền của người thì phải trả lại tiền cho người, nợ thịt của người thì làm sao mà không trả thịt lại ? Cho nên chúng ta ăn nhiều như thế muốn không trả nợ thì cũng không được. Vì thế nên đi làm quyến thuộc của heo bò dê để trả nợ.
Trước kia nước Mỹ có một người được gọi là đại vương thịt gà, là người chuyên bán gà rô ti (chính là người chế biến ra món Kentucky Fries Chicken và là chủ nhân sáng lập những nhà hàng fast food KFC), bạn nghiên cứu kỹ dáng của người ấy thì giống như một con gà trống già vậy. Một ngày ông ta giết hàng vạn con gà, nhiềâu vô lượng vô số, tại sao vậy ? Vì không chỉ ông ta ở kiếp quá khứ bị người ta ăn thịt, mà quyến thuộc của ông cũng bị ăn thịt rất nhiều, cho nên kiếp này ông làm người ; thì những người ăn thịt gà, nay lại sanh làm gà bị ông giết ăn thịt. Ðó là cùng nhau bón phân, nó bón phân cho ông, để ông đi làm gà ; ông bón phân cho nó, cũng khiến cho nó sau này làm gà, đó là thay nhau trồng cái nhân lai sanh, trồng cái quả báo kiếp sau.
Cho nên bạn nhìn thấy người bán thịt dê, dáng của ông ta giống như dê vậy, vì kiếp trước bị người ta ăn thịt quá đau khổ, kiếp này muốn báo thù hận máu, cho nên ông ta làm người, thì những người ăn thịt dê, lại đi làm dê để trả nợ. Bạn nhìn thấy cặp mắt của người bán dê rất giống con dê, không chút gì sai khác ! Người bán thịt dê nhất định giống dê ; người bán thịt gà thì giống gà ; người bán gà tây thì giống như gà tây. Ông đi khắp nơi xem xem, người bán cá thì giống cá. Tôi tuy không ăn những thứ đó, nhưng tôi vừa nhìn thì biết ngay ; thì ra bán thứ gì, chính là thứ đó chuyển thế báo thù. Cho nên thế giới này chính là như thế, lưới nghiệp đan dệt, luân hồi không thôi. Hôm nay đoạn văn này nói rất rõ ràng. Vậy tôi cũng mượn đoạn văn này vì các ông nói rõ mối quan hệ nhân duyên quả báo.
Người và súc sanh hoặc là cũng cùng nhau xen kẽ, lưới nghiệp đan dệt, luân hồi không thôi. Hoặc là có người thương chó. Chó lại thác sanh làm chàng trai anh tuấn, đi tìm người đời trước ăn thịt mình làm vợ.
Ở huyện Lạp Lâm Ðông Bắc của tôi có một người kết nghĩa anh em với tôi ; bạn xem, anh em kết nghĩa với tôi, người nào cũng đều có. Kiếp trước anh ta là đào kéo đóng tuồng, làm nghề minh tinh điện ảnh. Anh ta đóng tuồng, thì hát những loại tuồng có tính cách văn nhân nho nhã, lúc nào cũng đóng vai tiểu sinh ; vì thế kiếp này sanh ra rất nho nhã lịch sự. Nhưng vợ của anh thì mập thù lù, thì ra cô ta chính là con chó cái nhỏ ở kiếp quá khứ thường theo anh ta khi anh ta đóng tuồng. Vì anh ta rất thương chó, cho nên khi anh ta thác sanh lại làm người, con chó này bèn đi theo làm vợ của anh. Nhưng bạn đoán như thế nào ? Một ngày từ sáng đến tối ầm ầm đùng đùng, giống như con chó con cắn anh ta vậy, suốt ngày cãi lộn với anh, cãi lộn đến nỗi anh muốn tìm cách thoát mà thoát không được : "Làm sao đây ? làm sao đây ?". Suốt ngày cứ nhăn mặt khổ não. Cho nên người diễn tuồng thương con chó, kiếp sau bèn làm vợ chồng. Nếu là người nữ thì sao ? Hoặc cũng là người thương chó, nó bèn làm chồng của cô ta, cũng suốt ngày đánh nhau cãi lộn, hoặc là người chồng kia - là con chó đực thích tìm một con chó cái khác, cho nên đến khi làm người, cũng vẫn muốn đi tìm người nữ khác, đó là tranh đoạt tình cảm, ghen tương đố kỵ, làm cho gia đình náo loạn, không được an ổn. Bạn xem có đáng thương không ? Tôi chỉ nói đại khái như thế. Hôm nay ông La nhắc đến việc đoạn trừ ái dục, thật đoạn trừ ái dục? Nên tôi hỏi ông ta : "Thật vậy chăng ?". Ông không dám thừa nhận, ấp a ấp úng nói lảng qua chuyện khác, trả lời qua loa lấy hệ. Ðây chính là người đang đóng tuồng trong lục đạo luân hồi, ôi, một khi sanh được làm người, thì cảm thấy không có gì đáng lo nữa, ở đó điên điên đảo đảo, giong ruổi khắp nơi.
Ðánh con lừa ra máu, "thùy tri ngô mẫu chi bi", "thùy" là người nào. Người đánh con lừa ra máu, lừa đau thương khôn xiết, khóc la thảm thiết, nhưng mà ai biết được, lừa này vốn là mẹ kiếp trước của người ? Lôi con heo đến lò thịt, nào hay đích thị cái đau thương của cha ta : Lấy dây trói con heo, lôi đến lò thịt, khi heo bị giết vô cùng đau khổ. Nhưng con heo này chính là cha của người kiếp trước, nhưng người vẫn không biết, vẫn kéo đi giết : "Mầy ăn mập như thế, giết đi rồi nói chuyện sau !". Cho nên cha của người kia đau khổ khôn cùng.
Nguyên Văn:
Ăn thịt con mà không biết, Văn vương mà còn như thế; ăn thịt cha mẹ mà không hay, phàm phu đều như vậy. Kiếp trước thương yêu mà đời nay trở thành oan gia, ngày xưa là giặc là thù mà ngày nay trở thành ruột thịt. Quá khứ là mẹ mà hiện tại là vợ, túc thế là cha mà hiện tiền là chồng. Nếu có cái trí túc mạng biết được nhân quả đời trước thì thật đáng hổ đáng thẹn, nếu dùng con mắt thiên nhãn để nhìn thì quả đáng cười đáng thương.
Bị bao bọc trong rừng dơ bẩn mười tháng thì thật khó chịu, ở chỗ máu mủ mà khi bị dốc xuống thì thật là đáng thương. Khi nhỏ thì biết chi, đông tây trước sau cũng chẳng phân biệt rõ, lớn lên hiểu biết, tham lam dục vọng bèn tăng trưởng. Nhưng khoảnh khắc là già bịnh truy tầm, chốc lát mà vô thường lại đến. Bấy giờ, gió với lửa giao tranh, tâm thức bấn loạn trong đó, tinh huyết đã kiệt lực, da thịt teo khô từ ngoài, không một sợi lông nào mà không như bị chích đốt, không một kẽ huyệt nào mà không như bị cắt xả. Con rùa đem nấu, sự thoát vỏ của nó còn dễ; thần thức lúc tàn, sự thoát xác của nó thật là quá khó.
Giảng:
Ăn thịt con mà không biết : Có người nói Văn Vương biết trước sự việc, cho nên khi Văn Vương bị nhốt vào trong ngục, Vua Trụ có ý thử ông ta, xem ông ta có tài tiên đoán không ? Cho nên cho ông ta ăn thịt con của ông; Văn Vương nhìn thấy thịt bèn ăn như thường. Văn Vương ăn thịt vì không biết đó là thịt của con mình ; nếu biết là thịt của con mình thì sẽ không ăn đâu. Có người nói ông ta biết, nhưng cố ý ăn để tỏ ta rằng mình không biết. Không phải vậy ! Nếu ông biết thì làm sao có thể ăn được. Cho nên đó cũng là định nghiệp !
Vậy chính vì người không hiểu biết nên làm sai nhiều việc. Chúng ta không biết, gái thì theo đuổi bạn trai, không ngờ đến bạn trai đó kiếp trước chính là ông của mình, hoặc là ông cố nội, tằng tổ phụ, thậm chí là cha của mình, đó đều không nhất định. Nhưng cô ta nhìn thấy chàng trai trẻ thanh niên anh tuấn, vội vàng theo đuổi, theo đuổi được rồi, kết quả là điên đảo ; cho nên đều là làm bừa làm bậy. Văn vương mà còn như thế : Văn Vương là người thông minh trí huệ, là người có thánh đức mà còn không biết. ăn thịt cha mẹ mà không hay, phàm phu đều như vậy : Vậy thì chúng ta là người phàm phu tục tử, mỗi ngày ăn thịt ông bà cha mẹ, anh em ruột thịt của ta còn vẫn không biết ! Người đều như thế, không ai tránh thoát được nhân quả.
Kiếp trước thương yêu mà đời nay trở thành oan gia : Trước kia ân ân ái ái, thương thương yêu yêu, anh anh em em, thương nhau đòi sống đòi chết, không ngờ kiếp sau biến thành bò, thành ngựa, không còn thương yêu nữa. Biến thành bò thì ăn thịt của nó ; ăn thịt của nó, thì nó sân giận suốt đời : "Ðược rồi ! Mầy thật là thứ chẳng ra gì ! Nay đối với tao không có một chút gì khách khí, ăn thịt của tao. Tương lai tao nhất định sẽ nhai xương của mầy !". Cho nên cứ cùng nhau kết oán thù, làm oan gia như thế. Ngày xưa là giặc là thù mà ngày nay trở thành ruột thịt : Trước kia là giặc, là thổ phỉ, ngày nay biến thành lục thân quyến thuộc, tình thân cốt nhục.
Quá khứ là mẹ mà hiện tại là vợ : Kiếp trước là mẹ, nhưng kiếp này là vợ của mình. Bạn xem ! chính là thay đổi cái túi da thúi này, linh hồn vẫn là một, nhưng đã không còn nhận biết nữa. Túc thế là cha mà hiện tiền là chồng : Quá khứ làm cha, mà nay làm chồng, cô ta còn không cho là lạ, cảm thấy điều này rất bình thường, bạn nói, vậy thì có khác gì súc sanh không ? Nếu có cái trí túc mạng biết được nhân quả đời trước : Túc mạng, là nhân quả kiếp trước ; biết được điều này, Thì thật đáng hổ đáng thẹn : biết được việc này, thật là đáng hổ đáng thẹn, thì làm sao có thể ngẩng mặt nhìn đời ? Nếu dùng con mắt thiên nhãn để nhìn thì quả đáng cười đáng thương : Dùng thiên nhãn để quán sát thì thật đáng cười đáng thương !
Bị bao bọc trong rừng dơ bẩn mười tháng thì thật khó chịu : Ðứa trẻ khi ở trong bụng mẹ, thì như ở trong rừng phân tiểu. Mười tháng ở trong chỗ dơ bẩn đó cùng chung với máu mủ, rất khó chịu. ở chỗ máu mủ mà khi bị dốc xuống thì thật là đáng thương : Khi đứa trẻ ra đời thì ở trong chỗ máu huyết mà bị dốc xuống. Cho nên rất là đáng thương !
Khi nhỏ thì biết chi, đông tây trước sau cũng chẳng phân biệt rõ : Ðứa trẻ khi mới ra đời có tri thức gì ? Cái gì cũng không biết, phía đông cũng không biết, phía tây cũng không biết. Hai chữ "Ðông tây" này, có thể nói là vật chất, cái gì cũng không hiểu. Lớn lên hiểu biết, tham lam dục vọng bèn tăng trưởng : Khi lớn khôn thì có chút trí giác, thì biết cái gì ? không biết nhân quả báo ứng tuần hoàn, mà biết nam tham nữ ái, nữ thì theo đuổi bạn trai, nam thì theo đuổi bạn gái. Theo đuổi không được, hai người có lúc đi đến chỗ cùng chết với nhau, không thể kết hôn được thì tự sát cho xong ! "Tham lam dục vọng bèn tăng trưởng" chính là nói cái này ; kỳ thực người đó không biết, ở trong đó thì thật không có ý nghĩa gì.
Nhưng khoảnh khắc là già bịnh truy tầm : Thời gian rất ngắn ngủi ; một đời người bất quá là một cái chớp mắt, đã già rồi. Già rồi thì da gà tóc hạc ; lúc đó người nữ dù có đẹp đến đâu cũng không ai muốn. Vợ của người kia muốn tái giá, bạn nhìn thấy bà ta già rồi, ôi! không cần đâu ; thậm chí người chồng nếu trẻ hơn một chút, nhìn thấy vợ mình già hơn mình, cũng muốn tìm người mới, muốn đi tìm một cô gái trẻ hơn. Bạn tin hay không ? Tin đi ! Thế giới này chính là như thế ! Cho nên nhìn thấu suốt rồi thì nên sớm buông bỏ, không nên mê mờ nữa ! Chốc lát mà vô thường lại đến : Rất nhanh thì đã chết rồi. Rất nhanh, nhanh như ánh chớp tia lửa là lại đến.
Bấy giờ, gió với lửa giao tranh, tâm thức bấn loạn trong đó : Gió vừa thổi, lửa liền bốc cao. Lúc này gió lửa ở trong tứ đại giao tranh, tứ đại không còn điều hòa nữa. Nếu gió lớn thì sanh lửa, lửa lớn thì làm cho người nóng sốt đến mấy trăm độ, mấy ngàn độ, đốt khô héo. Lúc đó mất đi tri giác chân chánh, không còn lý trí nữa, cái gì cũng không hiểu.
Tinh huyết đã kiệt lực : người a! lúc đó tinh khí thần, tinh hết thì chết, cho nên nói việc kết hôn nam nữ chính là đi tìm cái chết, chính là đi trên con đường đến cõi chết ! Vì người sợ sống lâu năm nên muốn chết sớm. Cho nên con gái thì tìm con trai nói : "Anh mau làm cho tôi chết, tôi không muốn sống nữa", còn con trai cảm thấy mình nên chết thế nào ? Vội vàng đi tìm cô bạn gái nói : "Em làm tôi chết sớm cho rồi". Cho nên họ là những nam tham nữ ái, cùng không muốn sống.
Tinh khí thần của người, tinh không còn thì nhất định phải chết ; khí đoạn rồi thì đương nhiên không thể sống ; thần nếu không có thì không có tri giác. Chúng ta có trí giác là cái gì ? Chính là thần có trí giác. Chúng ta sống là vì có khí, có tinh. Tinh của người là mỗi ngày ăn rất nhiều mới biến thành một chút ít tinh. Cho nên ông ngày ngày đi tìm, từ sáng đến tối không đếm xỉa mạng sống, nam thì cho rằng có bạn gái là việc tốt, rất vui. Thật là điên đảo!
Có người hỏi : "Bạch Thầy ! Thầy không thể nói như thế. Thầy nói như thế, thế giới này chẳng phải không còn người sao ?". Ông không có cách khiến cho người trên thế giới hiểu rõ đạo lý này, ông nói cặn kẽ như rót vào tai, bảo cho người đó cái này không tốt không tốt, người đó vẫn không tin tưởng, vẫn đi trên con đường bất hảo này. Ông nói : "Ô ! Ði trên con đường đó thì chỉ có một con đường chết !". Người đó nói : "Tôi thử xem chết như thế nào ?". Bạn xem, thật là điên đảo. Cho nên bạn rất khó thức tỉnh anh ta. Bạn nên ghi nhớ là không nên lo lắng, nói rằng : "A, nếu không ai kết hôn, nhân loại ở thế gian này sẽ không còn nữa". Bạn không kết thì ông ta kết, ông ta không kết thì cô kia kết ! bạn không có cách nào mà đi bảo từng người rằng : "không nên kết hôn, kết hôn thì sẽ chết đó a !". Người đó bèn nói : "Chết ? Tôi chưa có chết bao giờ, tôi muốn thử xem ! Tôi chết một lần cho bạn xem". Thật là không có cách nào cả, cho nên bạn không nên lo lắng. Như Quả Không đến đây nói : "Giả như mọi người đều xuất gia, thì xã hội này còn thành xã hội chăng ?". Tôi nói : "Con có thể kêu họ hoàn tục hết đi". Quả Không nói : "Con không có cách kêu họ hoàn tục". Tôi nói : "Vậy con có cách nào khiến họ đều xuất gia ?"
- Nhưng mà con nghĩ như thế.
- Con nghĩ như thế là vọng tưởng !
Rất thật thà, đem hàng ngàn câu hỏi muốn đến hỏi tôi, trong khoảnh khắc những vấn đề đều bị bác bỏ.
Vì thế các vị ! hôm nay những gì tôi nói với quý vị là đập nồi dìm thuyền (2), quay lưng về phía thành mà quyết chiến ; các ông nếu vẫn cứ không hiểu, không buông bỏ được, vẫn nhìn không thấu suốt, dù cho là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng hết cách, cũng cứu không được các ông. Nói : "Như Chúa trời không vui a !". Chúa trời ! Ông ta còn chưa hiểu rõ a ! Nếu phản đối tôi thì ông ta là Chúa trời hồ đồ ; nếu không phải là Chúa trời hồ đồ, thì tuyệt đối không bao giờ phản đối tôi. Tinh huyết đã kiệt, giống như một người nào đó đi buôn lậu trốn thuế, làm sao mà được !
Da thịt teo khô từ ngoài : Tinh khí thần không còn nữa, da thịt teo khô từ bên ngoài, hóa làm đất nước lửa gió. Ðịa đại thì trả về đất, thủy đại thì trả về nước, phong đại thì trả về gió, hỏa đại thì trả về lửa, tứ đại phân tán. Không một sợi lông nào mà không như bị chích đốt : Khi gần chết thì mỗi sợi lông đau nhức như bị chích đốt. Không một kẽ huyệt nào mà không như bị cắt xả : Lúc đó tinh khí thần đã khô, mỗi một kẽ huyệt đều đau nhức như bị dao cắt.
Con rùa đem nấu, sự thoát vỏ của nó còn dễ : chữ 殼 xác, các ông có người đọc là 咳, kỳ thực đọc là 竅 , (3) khi người lấy dầu nấu con rùa, khi rùa còn sống, lột lấy mai cứng của nó. Rùa bị lột mai vẫn không gọi là khó khăn, nhưng mà đau đớn vô cùng. Thần thức lúc tàn, sự thoát xác của nó thật là quá khó : Dục tạ là tàn héo, là lúc sắp đi, mà thần thức lúc sắp lìa thân thể, còn đau khổ hơn rùa bị lột mai nữa. Chữ "nan" này, chính là đau khổ, còn đau khổ hơn con rùa sống bị lột mai nữa.
Nguyên Văn:
Tâm không phải thường trụ nên giống như thương khách bôn ba giong ruổi mọi nơi, thân không có hình dáng cố định nên khác nào phòng ốc thường dời đổi. Vi trần của đại thiên thế giới cũng khó sánh thân luân hồi, nước đầy trong bốn biển vẫn không bằng lệ biệt ly. Xương mà chất thì hơn núi cao, thây nằm ngang dọc thì nhiều hơn đại địa. Giả sử không được nghe lời Phật thì việc ấy ai thấy ai nghe, chưa được đọc văn Kinh thì lý này ai hay ai biết. Vậy mà có kẻ vẫn tham luyến như xưa, si mê như cũ, chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời một lần sai lầm là trăm lần sai lầm. Thân người khó được mà dễ mất, giờ tốt dễ trôi mà khó kéo. Rồi đường hướng mịt mờ, biệt ly dài dặc, ác báo tam đồ tự mình phải chịu, thống khổ không nói hết được, mà ai chịu thay. Trình bày đến đây, há chẳng lo sợ sao! Cho nên hãy dứt nguồn sinh tử, vượt bể ái dục, mình người cùng siêu thoát, đồng lên bờ giác. Từ vô lượng kiếp cho đến nay quan trọng là ở chỗ này. Ðó là nhân duyên thứ sáu của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Tâm không phải thường trụ nên giống như thương khách bôn ba giong ruổi mọi nơi : Tâm của chúng ta không làm chủ được, nếu thật có thể làm chủ thì sẽ có định, sẽ không vọng tưởng. Vì không có thường trụ, cho nên giống như những người buôn bán, bôn ba khắp nơi mua bán. Làm thương khách, hôm nay ở chỗ này, ngày mai đến chỗ kia, khắp nơi chào hàng, mua hàng, bôn ba khắp chốn.
Thân không có hình dáng cố định nên khác nào phòng ốc thường dời đổi : Thân của chúng ta không có hình dáng nhất định, đời này cao hơn một chút, đời sau hoặc là thấp hơn một chút. Nó không phải là của chúng ta, giống như một căn nhà vậy ; cho nên mới nói :
"Nhân thân hảo tỷ nhất gian phòng
Khẩu vi môn hộ nhãn vi song
Tứ chi hảo tỷ phòng tứ trụ
Ðầu phát hảo tượng sơn phòng thảo
Sấn trước hảo thời cần tu bổ
Mạc đãi hoại trước liễu mang"
Dịch :
Thân người ví tựa gian nhà,
Mắt là cửa sổ miệng là cửa đi.
Bốn cột ấy chính tứ chi,
Trên tường cỏ mọc, đầu thì tóc xanh
Nên lo tu sửa lúc lành,
Đợi khi hư hỏng cầm canh mệt nhoài.
"Thân người ví tựa gian nhà, Mắt là cửa sổ miệng là cửa đi, ": miệng dùng để ăn, giống như cửa của căn nhà; cặp mắt, lỗ mũi, lỗ tai như cửa sổ, có thể thông gió; lỗ mũi dưới con mắt giống như lỗ thông hơi, bịt miệng lại mũi có thể hô hấp. "Bốn cột ấy chính tứ chi ": hai tay hai chân giống như bốn cột nhà. "Trên tường cỏ mọc, đầu thì tóc xanh ": tóc của người giống như cỏ dại mọc trên tường nhà. "Nên lo tu sửa lúc lành " : thừa lúc nhà còn đang tốt, nên siêng năng tu bổ, sửa chữa. "Đợi khi hư hỏng cầm canh mệt nhoài": Chớ nên đợi đến lúc nhà hư rồi, mới lo lắng không có nhà ở, thì không có ích dụng gì.
Do đây mà thấy, thân của chúng ta giống như căn nhà vậy, đã là nhà thì bên trong phải có người chủ ; người chủ vốn là ai ? Chính là tâm. Nhưng tâm này nhu nhược bất tài, không thể làm chủ, cứ nghe theo những lời của tà ma quỷ quái, cứ mãi vọng tưởng. Vọng tưởng vừa khởi, thi bị vật bên ngoài lôi kéo ; cho nên tâm này khắp chốn bôn ba, thân thể thì thường thường thay đổi. Thân cảm thấy cái nhà này ở đủ rồi, già rồi, không còn muốn căn nhà này nữa, quăng nó đi ; cho nên thường thường dọn nhà xoay chuyển, từ nhà này dọn đến nhà kia. Có lúc từ nhà lá nhà tranh dọn đến nhà cao cửa rộng, cho nên mới nói "thường thường dời đổi". Giống như nhà ở, kiếp này ở trong nhà này, kiếp sau ở trong nhà kia.
Vi trần của đại thiên thế giới cũng khó sánh thân luân hồi : Chúng ta đến rồi lại đi, đi rồi lại đến, đi đi đến đến không biết bao nhiêu lần, nhiều như số vi trần của đại thiên thế giới cũng khó sánh nỗi thân luân hồi ! Nước đầy trong bốn biển vẫn không bằng lệ biệt ly : Nước trong bốn biển nhiều như thế, e rằng cũng không sánh bằng nước mắt của chúng ta khóc khi bi hoan ly hợp.
Xương mà chất thì hơn núi cao : Xương cốt mà chúng ta tích chứa trong những kiếp sanh tử rất nhiều, còn cao hơn núi. Thây nằm ngang dọc thì nhiều hơn đại địa : Nếu tính thì thây chết của chúng ta rất nhiều, nhiều như cây cỏ, còn nhiều hơn đất của đại địa.
Giả sử không được nghe lời Phật thì việc ấy ai thấy ai nghe ! Giả như không nghe được lời dạy của Phật thì đạo lý này ai hay ai biết ? Ai có thể nhìn thấy ? Ai có thể nghe thấy ? Sẽ không có !
Chưa được đọc văn Kinh thì lý này ai hay ai biết ! Nếu không đọc được những ý nghĩa ở trong kinh ; thì lý luận này ông làm sao biết được ? ông làm sao có thể giác ngộ được ?
Vậy mà có kẻ vẫn tham luyến như xưa, si mê như cũ : Nếu ông vẫn y như cũ tham luyến cái túi da thúi này, vẫn không rõ đạo lý này, thì Chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời một lần sai lầm là trăm lần sai lầm : e rằng một lần sai lầm thì cả trăm lần đều sai lầm.
Thân người khó được mà dễ mất : Thân người không dễ dàng mà được, chúng ta nay đã được thân người, không nên bỏ lỡ ! nếu không rất dễ dàng mất đi. Giờ tốt dễ trôi mà khó kéo : Giờ tốt tức là thời thanh niên, cũng rất dễ dàng trôi qua, muốn kéo trở lại cũng không kéo được.
Rồi đường hướng mịt mờ, biệt ly dài dặc : mịt mờ là nhìn không thấy vật gì. Ở trên con đường tối tăm mờ mịt, biệt ly dài dặc. Ác báo tam đồ tự mình phải chịu : Ông trồng nhân ác thì chịu quả báo ác trong tam đồ địa ngục, ngã quỷ, súc sanh.
Thống khổ không nói hết được, mà ai chịu thay ? Thật là vô cùng đau khổ ! Ai có thể thay thế ta chịu cái quả báo này ? Trình bày đến đây, há chẳng lo sợ sao ? Ta nay nói đến chỗ này, ông không lo sợ sao ?
Cho nên hãy dứt nguồn sinh tử, vượt bể ái dục : Vì thế ông nên vội lo tu hành, liễu thoát sanh tử, vượt ra ngoài biển khổ ái tình và dục niệm. Mình người cùng siêu thoát, đồng lên bờ giác : không những mình lìa khổ được vui, mà người khác cũng lìa khổ được vui, đều được cứu độ, cùng đến bờ bên kia, không sanh không diệt.
Từ vô lượng kiếp cho đến nay quan trọng là ở chỗ này : Từ vô lượng kiếp xa xưa cho đến nay, ông lập được một đại công chính là ở chỗ này ; chính là việc này - liễu thoát sanh tử.
Ðó là nhân duyên thứ sáu của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ sáu của sự phát tâm Bồ đề.
VII. Trọng Linh Tánh Của Mình
Nguyên Văn:
Thế nào là trọng linh tánh của mình? Tâm hiện tiền của chúng ta cùng với đức Thích Ca Như Lai không hai không khác. Vậy mà tại sao Thế Tôn từ vô lượng kiếp đã sớm thành chánh giác, còn chúng ta thì vẫn còn là phàm phu hôn mê điên đảo. Lại nữa Ðức Phật Thế Tôn thì có vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, còn chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh tử buộc ràng. Tâm tánh là một mà vì mê ngộ nên cách xa một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ mới thấy hổ thẹn. Ví như ngọc báu vô giá vùi xuống bùn dơ mà xem như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng. Vì thế hãy dùng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền não. Tu đức có công, thì tánh đức mới lộ. Bấy giờ thì như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao, ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả. Thế mới gọi là không uổng công Ðức Phật giáo hóa, không phụ tánh linh của mình. Ðó là nhân duyên thứ bảy của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Thế nào là trọng linh tánh của mình ? Thế nào gọi là tôn trọng tánh linh của mình ? Tánh linh cũng chính là Phật tánh ; Phật tánh cũng chính là tánh linh của chúng ta, Phật và chúng sanh không sai khác. Vậy tại sao Phật có trí huệ lớn như thế, mà chúng ta vẫn còn là ngu si mê muội như thế ? Chính vì Ðức Phật tu đức có công, cho nên tánh đức mới hiển lộ ra ; đức hạnh tu hành thành tựu rồi thì trí huệ bổn tánh sẽ hiện ra. Nếu không mài giũa, tu sửa, bổn tánh tuy có nhưng sẽ không hiện ra. Như cái bàn này, vốn là từ cái cây làm ra; sau khi cây lớn lên, cưa xẻ nó thành miếng gỗ rồi làm thành cái bàn, làm một món đồ có thể sử dụng. Nhưng khi nó còn ở trên cây, ông không thể lấy cái cây cho là cái bàn, chỉ có thể nói nó là cái cây. Cái cây có thể làm đủ thứ dụng cụng, các thứ vật liệu, nhưng nếu ông không biết dùng, chỉ có thể dùng nó làm củi đốt; nếu biết dùng thì có thể chế tạo các thứ gia cụ ích dụng, muốn chế tạo thứ gì cũng được. Tánh linh của ta cũng vậy, nếu chúng ta biết dùng thì trí huệ sáng suốt sẽ hiện ra ; nếu không biết dùng, thì giống như cây đang ở đó, sau này người không nhận thức, chỉ có thể dùng nó làm củi đốt - sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh.
Phật giáo chúng ta sở dĩ khác với các Tôn giáo khác, là vì thần của các Tôn giáo này thì con người không thể đạt đến ; chỉ có Phật giáo, Phật là một đấng có đại trí huệ, Ngài dạy chúng ta mỗi người khai mở trí huệ, đều có thể thành Phật.
Thành Phật thì như thế nào ? chính là không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngư. Hỏi : "Ðơn giản như thế sao ?". Ừ, đơn giản như thế ! Nếu ông thực hành được sáu đại tông chỉ thì sẽ thành Phật, chỉ sợ rằng ông không làm được. Nói tôi không tranh ! nhưng khi sự việc đến vẫn tranh như cũ ; nói tôi không tham, nhưng đến khi gặp lúc hơn thiệt vẫn là tham ; nói tôi không cầu, nhưng đến lúc cần thiết vẫn phải cầu ; nói tôi không ích kỷ, nhưng khi cảnh đến, có rất nhiều chỗ quan trọng, vẫn không buông bỏ được, nhìn không thấu suốt, vẫn là tự tư ích kỷ; nói không tự lợi nhưng vẫn là tự lợi ; lại thêm vọng ngữ ! Vọng ngữ này không cần học mà mỗi người đều biết. Như một người nào đó, bạn nói người đó vọng ngữ, người đó bèn nói, đây là lời phương tiện, phải cần nói như thế ! Bạn xem có cách gì chăng ? Vọng ngữ, họ cho rằng là phương tiện ngữ, phương tiện ngữ họ cho rằng phải nên như thế.
Vậy thì sáu đại tông chỉ này, nếu mà triệt để nhận thức, triệt để theo đó mà làm, tuy không thể nói lập tức thành Phật, nhưng ngày thành Phật không xa.
Vậy thì tôn trọng tánh linh của mình như thế nào ? Chính là cần phải tôn trọng Phật tánh của mình, không nên lãng phí chà đạp nó. Không nên đem món đồ quý giá có thể làm bàn thờ Phật mà làm củi đốt, thì một chút giá trị cũng không có. Cho nên nhân duyên thứ bảy của sự phát tâm Bồ đề chính là cần phải tôn trọng tánh linh của mình, không nên xem thường mình, cần phải tôn trọng trí huệ của mình.
Tâm hiện tiền của chúng ta : tánh linh của mình, cũng tức là tâm của ông. Một niệm tâm này, không phải là tâm quá khứ, cũng không phải là tâm vị lai, mà là một niệm tâm hiện tiền. Cùng với đức Thích Ca Như Lai không hai không khác : Ðức Phật đã dùng tánh linh của Ngài, dùng tâm của Ngài thành tựu Phật quả ; chúng ta cũng nên dùng tánh linh của mình, dùng tâm của mình thành Phật. Vì thế tâm của chúng ta và Phật không sai không khác, không có gì khác biệt.
Vậy mà tại sao Thế Tôn từ vô lượng kiếp đã sớm thành chánh giác : Ðã là như thế tại sao Ðức Phật từ vô lượng kiếp đã sớm thành Phật ? "Chánh giác" cũng tức là Phật. Còn chúng ta thì vẫn còn là phàm phu hôn mê điên đảo : Mà chúng ta vẫn còn ở đây hôn mê điên đảo, không có giác ngộ. Tại sao chúng ta chưa thành Phật vẫn còn làm phàm phu ?
Lại nữa Ðức Phật Thế Tôn : lại nữa Ðức Phật Thế Tôn Thì có vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm : Ðức Phật có Tam thân Tứ trí, Ngũ nhãn Lục thông. Tam thân là Pháp thân, hóa thân, báo thân. Tứ trí là bốn loại trí huệ : Bình đẳng tánh trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí, Ðại viên cảnh trí. Ngũ nhãn là Phật nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn, Thiên nhãn, Nhục nhãn. Sáu loại thần thông : Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Lậu tận thông, Thần túc thông. Ðức Phật có Ngũ nhãn Lục thông, Thiên nhãn thông thì có thể nhìn thấy biết tất cả mọi động tác của trời người. Thiên nhĩ thông thì có thể nghe rõ tiếng của người trời. Tha tâm thông chính là giữa đôi bên, tâm của mình có động niệm gì, không cần nói ra, Ngài cũng biết được chúng ta đang nghĩ gì. Túc mạng thông chính là kiếp trước chúng ta là bò, là ngựa, là người, làm heo, Ngài vừa nhìn liền biết ; thậm chí kiếp trước kiếp trước, đời đời kiếp kiếp về trước, bao nhiêu kiếp làm người, bao nhiêu kiếp làm ngựa, bao nhiêu đời làm lừa, bao nhiêu đời làm phi cầm, bao nhiêu kiếp làm kiến, bao nhiêu kiếp làm muỗi mòng Ngài đều biết hết. Ðức Phật làm sao có được thần thông trí huệ như thế ? Vì Ngài công đức trang nghiêm, công đức viên mãn. Trang nghiêm có nghĩa là muôn vạn đức hạnh trang nghiêm thân mình.
Còn chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền não, sinh tử buộc ràng : Mà chúng ta vẫn còn ở đây bị nghiệp chướng buộc ràng, phiền lụy, lại có rất nhiều phiền não. Sanh rồi là chết, chết rồi lại sanh, bị trói buộc trong vòng luân hồi sanh tử, không thể nào được giải thoát, không được tự do.
Tâm tánh là một mà vì mê ngộ nên cách xa một trời một vực : Tâm tánh của chúng ta - tâm của Phật và tâm của chúng ta là một, tánh linh của Phật và tánh linh của chúng ta là một ; nhưng vì Ðức Phật biết sử dụng, nên Ngài đã giác ngộ ; mà chúng ta vẫn còn mê muội ! cho nên nói cách xa một trời một vực. "Uyên" không phải là đất mà là vực sâu, chỗ sâu có nước, thậm chí ở phía dưới mặt đất. Lặng đi mà nghĩ mới thấy hổ thẹn. Suy nghĩ về việc đó. Ðầu óc của chúng ta cần phải tỉnh táo, nghiên cứu về vấn đề này, há không hổ thẹn sao ? Ðức Phật đã thành Phật, mở đại trí huệ, mà chúng ta vẫn còn ngu si điên đảo như thế, thật không đáng là bậc đại trượng phu, đại anh hùng, đại hào kiệt, cho nên chúng ta rất đáng hổ thẹn.
Ví như ngọc báu vô giá vùi xuống bùn dơ : Linh tánh của chúng ta giống như hạt bảo châu vô giá, vùi dưới bùn nhơ. Ứ nê, tức là bùn nhơ, bùn đen, thứ không có giá trị. Mà xem như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng : không thương tiếc quý trọng tánh linh của mình, xem như ngói vụn gạch nát.
Vì thế hãy dùng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền não : Cho nên cần phải dùng vô lượng thiện pháp để đối trị với vô biên phiền não. Nếu công đức thiện lành viên mãn thì sẽ được sanh lên thiên giới ; tội lỗi sai lầm tích chứa quá nhiều thì sẽ đọa địa ngục, vì thế chúng ta cần phải các việc ác không làm, làm các việc lành ; cũng tức là tu vô lượng thiện pháp, có công đức rồi thì tự nhiên phiền não không còn.
Tu đức có công, thì tánh đức mới lộ : tu hành vun bồi đức hạnh, nếu có chỗ thành tựu thì linh tánh, đức hạnh của ta sẽ lộ ra ngoài, hiện ra trí huệ. Bấy giờ thì như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao : giống như hạt châu vùi trong đất bùn, ông chùi rửa nó sạch sẽ, treo trên đầu ngọn phướn cao. ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả : thì nó sẽ chiếu sáng bốn phương, chói lấp tất cả ánh sáng khác. Thế mới gọi là không uổng công Ðức Phật giáo hóa, không phụ tánh linh của mình : Làm được như thế có thể nói rằng không phụ sự giáo hóa của Phật, cũng không phụ tánh linh của mình.
Ðó là nhân duyên thứ bảy của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ bảy của sự phát tâm Bồ đề, tức là tôn trọng tánh linh của mình, không nên lãng phí tánh linh của mình.
VIII. Sám Hối Nghiệp Chướng
Nguyên Văn:
Thế nào là sám hối nghiệp chướng? Kinh dạy: "Phạm một tội kiết la cũng phải đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà còn bị quả báo đến thế, huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả. Nay chúng ta, mỗi cử chỉ động tác hằng ngày, hằng trái với giới luật, lúc ăn lúc uống thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi đã phạm, cũng đã vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi đã phạm khó mà nói hết. Cứ lấy ngũ giới mà xét, thì mười người đã có đến chín người phạm, phát lộ thì ít mà che giấu lại nhiều. Ngũ giới là giới của Ưu bà tắc mà còn không giữ gìn đầy đủ, huống chi các giới Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát, thì không cần nói đến vậy.
Giảng:
Thế nào là sám hối nghiệp chướng? Sám là "sám kỳ tiền khiên", ăn năn lỗi đã qua; hối là "hối kỳ hậu quá", chừa bỏ lỗi sau này. Những lỗi đã phạm trước kia và chưa phạm sau này, đều phải sám hối. Sức mạnh của sự sám hối thì bất khả tư nghì.
Kinh dạy: "Phạm một tội kiết la cũng phải đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương." : Kinh nói : Phạm một tội kiết la, tức là đột kiết la, gọi là khinh cấu tội, cũng tức là một pháp ô nhiễm rất nhỏ. Phạm tội này, giống như tuổi thọ của Tứ đại thiên vương vậy, sau năm trăm năm mới có thể trả hết tội này, phải ở trong địa ngục năm trăm năm.
Kiết la là tội nhỏ mà còn bị quả báo đến thế : Ðột kiết la vốn là khinh cấu tội, là một tội nhẹ, mà còn có quả báo như thế. Huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả : Huống chi là phạm các tội lớn ? Như phạm bốn trọng tội, tăng tàn v.v… thì càng không biết phải thọ quả báo bao lâu.
Nay chúng ta, mỗi cử chỉ động tác hằng ngày, hằng trái với giới luật : Nay chúng ta là người xuất gia trong mỗi ngày, trong sự sử dụng hằng ngày, hoặc là mỗi cử chỉ mỗi động tác, hoặc là một lời nói một hành vi, đi đứng nằm ngồi bốn oai nghi thường vi phạm giới luật. Lúc ăn lúc uống thường phạm vào thi la : Hoặc là một bữa cơm, hoặc là một hớp nước đều không hợp với giới luật.
Một ngày tội lỗi đã phạm, cũng đã vô lượng : Những tội lỗi đã phạm trong mỗi ngày cũng nhiều vô lượng vô biên. Huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi đã phạm khó mà nói hết ! Hà huống tội lỗi đã phạm trong một đời thì càng nhiều hơn ; mà trong thời gian lâu dài, tội nghiệp đã tạo trong nhiều đời nhiều kiếp thì càng không biết bao nhiêu nữa !
Cứ lấy ngũ giới mà xét, thì mười người đã có đến chín người phạm, phát lộ thì ít mà che giấu lại nhiều : Cứ lấy ngũ giới mà nói, mười người thọ đã có chín người phạm, nhưng rất ít người phát lồ, tức là phạm giới cũng không phát lồ sám hối. Ða tàng tức là giấu giếm trong tâm, cho rằng mọi người không biết thì mình không có phạm giới. Ngũ giới là giới của Ưu bà tắc mà còn không giữ gìn đầy đủ : Ngũ giới là giới của người tại gia - Ưu bà tắc (Cận sự nam), Ưu bà di (Cận sự nữ), mà còn không thể giữ gìn đầy đủ. Sự phạm giới này cũng bao gồm người xuất gia ; người xuất gia cũng thường phạm các tội trong ngũ giới, không viên mãn. Bất cụ túc chính là không viên mãn. Huống chi các giới Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát, thì không cần nói đến vậy ! Huống chi là mười giới của Sa di, 250 giới của Tỳ kheo, 48 giới khinh 10 giới trọng của Bồ tát v.v… ? Càng không cần nói đến, nhất định phạm rất nhiều.
Nguyên Văn:
Hỏi cái tên thì nói "Tôi là Tỳ kheo", hỏi cái thật thì hãy còn chưa đủ làm Ưu bà tắc, như thế mà không xấu hổ sao! Phải biết, giới luật của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được hủy phạm, vì không phạm thì thôi, phạm thì cuối cùng nhất định bị đọa lạc. Trừ phi cảm thương thân mình, thân người, lại xót xa cho mình và kẻ khác, thân và khẩu cùng tha thiết, lệ rơi theo tiếng, khắp cùng với chúng sanh khẩn cầu sám hối, nếu chẳng thế thì quả báo ác ngàn đời muôn kiếp cũng khó tránh khỏi. Ðó là nhân duyên thứ tám của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Hỏi cái tên thì nói "Tôi là Tỳ kheo" : Nếu hỏi người xuất gia : "Gọi là gì ?", người đó bèn trả lời "Tôi là Tỳ kheo". Tỳ kheo có ba nghĩa là khất sĩ, bố ma, phá ác.
1. Khất sĩ : Trên xin pháp của chư Phật, dưới khất thực chúng sanh.
2. Bố ma : Người xuất gia sau khi thọ giới Tỳ kheo, Hòa thượng Giáo thọ, Yết ma sẽ hỏi : "Ông có phải là trượng phu chăng ?"
Trả lời :
- Là trượng phu.
Lúc đó cung điện của thiên ma trên cõi trời chấn động, ma vương lo lắng sợ sệt. Ma vương nghĩ rằng :
- Ai da! Nay quyến thuộc của Thích Ca lai tăng thêm mà quyến thuộc của ta lại giảm đi.
Do ma vương lo sợ, nên gọi là Bố ma.
3. Phá ác : Tức là phá phiền não ác, phá ác tham sân si.
Hỏi cái thật thì hãy còn chưa đủ làm Ưu bà tắc : Nếu chân thật mà hỏi, thì thậm chí cũng không bằng Ưu bà tắc, Ưu bà di là những người tại gia. Chính là có hạng người xuất gia như thế ; nhưng người xuất gia cũng có vị giới hạnh thanh cao, đáng làm thầy trời người. Cho nên ở đây cũng không thể quơ đũa cả nắm, không thể gộp chung lại mà xét được, ông không thể nói :
- Ô, tất cả người xuất gia đều không bằng người tại gia.
Không thể nói như thế.
Như thế mà không xấu hổ sao ! Thân là người xuất gia mà không bằng kẻ tại gia thì nên sanh lòng tàm quý xấu hổ.
Phải biết, giới luật của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không được hủy phạm : Kinh Bồ Tát Giới nói: "Chúng sanh thọ Phật giới, tức nhập chư Phật vị, vị đồng đại giác dĩ, chân thị chư Phật tử", chúng sanh thọ giới của Phật, có thể tinh tấn tu hành, đến khi giác ngộ rồi, thì có tư cách thành Phật; cũng khai ngộ như nhau, đó chính là con của Phật. (Lời giảng của HT trong Kinh Lăng Nghiêm) Ðã thọ giới luật của Phật thì phải giữ gìn giới luật, cho nên nói không thể phạm giới. Vì không phạm thì thôi, phạm thì cuối cùng nhất định bị đọa lạc : Tại sao không thể phạm giới ? Ông không phạm giới đương nhiên không có vấn đề gì ; nếu phạm thì tương lai nhất định sẽ bị đọa lạc.
Trừ phi cảm thương thân mình, thân người, lại xót xa cho mình và kẻ khác : Trừ phi cảm thương thân mình, cũng cảm thương kẻ khác, xót xa cho mình và cũng xót xa cho kẻ khác. Vì thế lúc này, cần phải thân và khẩu cùng tha thiết, lệ rơi theo tiếng, khắp cùng với chúng sanh khẩn cầu sám hối : thân khẩu ý đều phải chuyên nhất tha thiết, lệ rơi theo tiếng, nguyện cùng với tất cả chúng sanh, đối trước Phật khẩn cầu sám hối. Nếu chẳng thế thì quả báo ác ngàn đời muôn kiếp cũng khó tránh khỏi : Nếu không thì quả báo ác từ vô lượng kiếp đến nay sẽ khó tránh. Nếu ông không sám hối thì sẽ phải thọ quả báo ác, quả báo ác này không dễ dàng trốn tránh, nhất định phải thọ lấy ; trừ phi ông chân chánh sám hối, ác báo này mới có thể miễn trừ.
Ðó là nhân duyên thứ tám của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ tám của sự phát tâm Bồ đề.
IX. Cầu Sanh Tịnh Độ
Nguyên Văn:
Thế nào là cầu sinh Tịnh độ? Ở cõi này tu hành thì sự tiến đạo rất khó khăn, vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng rất dễ dàng. Dễ dàng nên một đời đã có thể đạt đến, khó nên nhiều kiếp vẫn chưa thành tựu. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, người người xu hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, chỗ chỗ chỉ qui. Sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào vượt qua pháp môn này. Nhưng kinh đã nói : " Căn lành nhỏ thì khó được vãng sanh, phước đức nhiều mới chắc chắn đến được". Nói phước đức nhiều thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu, nói căn lành lớn thì không chi bằng sự phát tâm quảng đại. Vì thế tạm trì danh hiệu Phật hơn cả trăm năm bố thí, một niệm phát tâm Bồ đề rộng lớn vượt hơn cả sự tu hành trong nhiều kiếp. Vì niệm Phật vốn mong thành Phật, vậy tâm lớn không phát thì niệm Phật để làm chi; còn phát tâm vốn để tu hành, vậy Tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thối chuyển. Cho nên gieo hạt giống Bồ đề, cày bằng lưỡi cày niệm Phật, thì đạo quả tự nhiên lớn lên; ngồi chiếc thuyền đại nguyện, vào trong bể cả Tịnh độ, thì Tây phương Cực Lạc quyết định vãng sanh. Ðó là nhân duyên thứ chín của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Thế nào là cầu sinh Tịnh độ ? Thế nào mới có thể cầu sanh Tịnh độ ? Thế nào gọi là cầu sanh Tịnh độ ? Ở cõi này tu hành thì sự tiến đạo rất khó khăn : Ở thế giới Ta bà này, tuy có thể tu hành, nhưng có thể tiến lên phía trước, có thể càng ngày càng tăng trưởng đạo nghiệp thì không phải là chuyện dễ dàng. Vãng sinh cõi kia thì sự thành Phật cũng rất dễ dàng : Cõi kia tức là thế giới Cực lạc. Một khi được vãng sanh thế giới Cưc lạc thì hoa nở thấy Phật, ngộ Vô sanh pháp nhẫn. Dễ dàng nên một đời đã có thể đạt đến : Vì dễ dàng cho nên một đời cũng có thể dễ dàng đạt đến, thành tựu. Khó nên nhiều kiếp vẫn chưa thành tựu : Vì ở thế giới Ta bà này tu hành không dễ dàng, chướng duyên rất nhiều, cho nên rất nhiều kiếp, trải qua thời gian rất lâu dài, cũng không dễ dàng thành tựu.
Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, người người xu hướng : Vì lý do này, cho nên các bậc thánh nhân và hiền nhân xưa kia, người người - là Tổ sư nhiều đời về trước, tất cả những bậc thánh hiền này đều mong cầu sanh Tịnh độ. Kinh cả ngàn, luận cả vạn, chỗ chỗ chỉ qui : tất cả kinh điển do Phật nói ra, và các bộ luận do chư Tổ sư tạo, mỗi một bộ kinh, mỗi một bộ luận và mỗi một bộ luật đều là chỉ quy Tịnh độ ; mục đích cuối cùng đều là dạy chúng ta cầu sanh Tịnh độ.
Sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào vượt qua pháp môn này : chúng ta nay ở thời đại mạt pháp tu hành, không có pháp môn nào có thể vượt qua pháp môn Tịnh độ, đây là pháp môn phương tiện nhất, dễ dàng nhất, trực tiếp nhất, đơn giản nhất. Nhưng kinh đã nói : " Căn lành nhỏ thì khó được vãng sanh, phước đức nhiều mới chắc chắn đến được" : Nhưng mà "kinh A Di Ðà" nói : "Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc", không thể chỉ có chút ít nhơn duyên phước đức căn lành mà được sanh về nước kia. Cần phải gieo trồng nhiều thiện căn, vun bồi nhiều phước đức mới được vãng sanh, cũng chính là cần phải tu nhiều phước báu mới có thể đến được cõi kia.
Nói phước đức nhiều thì không chi bằng sự chấp trì danh hiệu : Như thế nào mới có thể vun trồng được nhiều phước đức ? Chúng ta niệm Phật chính là gieo trồng phước đức rất lớn, tức là tăng trưởng phước đức cho chúng ta. Nói căn lành lớn thì không chi bằng sự phát tâm quảng đại : Sao gọi là căn lành lớn ? chính là phải phát tâm Bồ đề rộng lớn.
Vì thế tạm trì danh hiệu Phật hơn cả trăm năm bố thí : Vì thế cho nên dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi thọ trì danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà cũng lớn hơn dùng bảy báu bố thí trong trăm năm. Một niệm phát tâm Bồ đề rộng lớn vượt hơn cả sự tu hành trong nhiều kiếp : Một niệm phát tâm rộng lớn thì có thể vượt qua sự tu hành trong nhiều kiếp.
Vì niệm Phật vốn mong thành Phật : Tóm lại tại sao cần phải niệm Phật ? Niệm Phật chính là muốn thành Phật ; nếu không muốn thành Phật thì không cần phải niệm Phật. Cho nên Vậy tâm lớn không phát thì niệm Phật để làm chi : nếu ông không phát tâm rộng lớn, không phát tâm Bồ đề, niệm Phật để làm chi ? Không cần phải niệm Phật. Còn phát tâm vốn để tu hành, vậy Tịnh độ không sanh thì có phát cũng dễ thối chuyển : tại sao cần phải phát tâm, chính là vì để tu hành. Nếu không cầu sanh Tịnh độ, tuy có phát tâm rộng lớn, cũng dễ dàng thối thất tâm Bồ đề.
Cho nên gieo hạt giống Bồ đề : Gieo hột giống Bồ đề tức là phát tâm rộng lớn, cày bằng lưỡi cày niệm Phật : niệm Phật như dùng lưỡi cày nơi đó cày ruộng. Thì đạo quả tự nhiên lớn lên : Vậy khi ông vừa niệm Phật thì ở bên thế giới Tây phương Cực lạc liền sanh ra đóa hoa sen. Ngồi chiếc thuyền đại nguyện, vào trong bể cả Tịnh độ : Ngồi chiếc thuyền đại nguyện của Ðức Phật A Di Ðà, vào trong biển lớn Tịnh độ. Thì Tây phương Cực Lạc quyết định vãng sanh : ông ngồi chiếc thuyền đại nguyện, chấp trì danh hiệu Phật thì nhất định vãng sanh thế giới Cực lạc, vãng sanh vào cõi Tịnh độ.
Ðó là nhân duyên thứ chín của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ chín của sự phát tâm Bồ đề.
X. Làm Cho Chánh Pháp Tồn Tại Lâu Dài
Nguyên Văn:
Thế nào là làm cho Chánh pháp tồn tại lâu dài? Ðức Thế Tôn của ta, từ vô lượng kiếp đến nay, vì chúng ta mà tu đạo Bồ đề, Ngài đã làm việc khó làm, nhẫn sự khó nhẫn, nhân tròn, quả mãn, mới được thành Phật. Sau khi thành Phật, giáo hóa tròn đầy, nhập vào Niết bàn. Nay thì thời kỳ Chánh pháp tượng pháp đã diệt tận, chỉ còn tồn tại thời kỳ mạt pháp. Giáo pháp còn đó mà không người hành trì, tà chánh không phân, thi phi lẫn lộn, tranh giành nhân ngã, mãi chạy theo danh lợi. Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn thốt ra lời. Mỗi khi nghĩ đến, bất giác rơi lệ. Ta là con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai sau. Trời tuy cao cũng không che nổi ta, đất tuy dày cũng khó chở ta. Tội nhân cực trọng, không phải ta thì là ai?
Giảng:
Thế nào là làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài ? Như thế nào khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài ? khiến cho chánh pháp không bị diệt vong ?
Ðức Thế Tôn của ta, từ vô lượng kiếp đến nay : Thế Tôn là danh hiệu khác của Ðức Phật. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni từ vô lượng kiếp cho đến nay, Vì chúng ta mà tu đạo Bồ đề : Ðức Phật tại sao muốn tu hành thành Phật ? Ngài muốn tu hành thành Phật vì để cứu độ tất cả chúng ta lìa khổ được vui, khiến chúng ta đều được liễu thoát sanh tử, không bị luân chuyển trong vòng luân hồi sanh tử, cho nên Ðức Phật mới "ba tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp vun trồng tướng tốt" (tam kỳ tu phúc huệ, bách kiếp chủng tướng hảo), Ba kỳ, tức là ba đại tăng kỳ kiếp ; A tăng kỳ là tiếng Phạn, Tàu dịch là "vô lượng số". Ba đại A tăng kỳ kiếp tức là ba số lớn vô lượng. Vô lượng số này là một trong mười sáu số mục lớn, vậy ba vô lượng số lớn, bạn thử nghi xem thời gian bao lâu ? Rất dài rất dài. Trong ba vô lượng số kiếp này, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vì để giáo hóa chúng sanh, vì để tu thành Phật, vì để phát tâm Bồ đề, Ngài xả sanh rồi lại thọ sanh, cho nên mỗi hạt vi trần đều là nơi Ðức Phật bỏ sanh mệnh. Như xả thân cứu cọp, Ðức Phật nhìn thấy một con cọp già tuy rất độc ác, nhưng đã sắp chết đói, Ðức Phật ngay cả thân mệnh của mình cung không cần, cho cọp ăn khiến nó được sống, sự hy sinh vi đại này, không ai có thể sánh bằng. Chúng ta đều là những người tham sống sợ chết, không một ai dám hy sinh mạng sống, thành tựu cho người khác, khiến người khác được sống. Vậy thì Ðức Phật ở trong thời gian dài đăng đẳng ba đại A tăng kỳ kiếp, đời đời kiếp kiếp đều lấy sanh mạng bố thí cho chúng sanh, cho nên chúng ta cần phải báo đáp ân sâu của Phật. Như chúng ta hiện nay, xưa kia hoặc là đã ăn thịt của Phật, uống máu của Phật ; cho nên chúng ta hiện nay tin Phật, cần nên báo đáp ân sâu của Phật. Ðức Phật vì muốn chúng ta được sống, phải hy sinh thân mạng của mình, vì thế chúng ta cần phải nhớ ơn Ðức Phật.
Ngài đã làm việc khó làm, nhẫn sự khó nhẫn : tại sao gọi là làm việc khó làm ? Chính là những việc mà người thường làm không được, Ngài có thể làm được. Như xả bỏ đầu mắt não tủy, đầu mắt của mình đều có thể bố thí cho người. Không phải chết mới bố thí cho người, đang sống cung có thể bố thí. Bạn cần con mắt, Ngài sẽ bố thí mắt cho bạn. Bạn có bệnh, cần có não người để trị, Ngài sẽ không cần đến sanh mạng của mình đem não bố thí cho bạn, cứu độ bạn. Tủy là cốt tủy ; cốt tủy của mình cung bố thí cho người. Không những đầu mắt não tủy, mà quốc thành thê tử cung bố thí luôn. Quốc là đất đai của Ngài cung không cần, nhường cho kẻ khác. Thành là thành trì, tài sản của mình cung nhường cho kẻ khác. Vợ thì mọi người rất khó xả bỏ, Ngài cung có thể xả bỏ tặng cho người. Con, cung có thể tặng cho người. Nội tài là đầu mắt não tủy Ngài có thể bố thí ; ngoại tài là quốc thành thê tử Ngài cung có thể bố thí. Có người cần chăng ? Ngài đều bố thí cho. Vì thế, không ai có thể sánh được với Ngài, không ai có thể hy sinh được như Phật. Cho nên Phật tu đạo Bồ đề là làm những việc khó làm, nhẫn những việc khó nhẫn, những việc mà người ta không thể nhẫn Ngài đều có thể nhẫn.
Nhân tròn, quả mãn, mới được thành Phật : Ngài trồng nhân đã được viên mãn cho nên quả báo cũng được viên mãn thành tựu, vì thế thành tựu Phật quả. Sau khi thành Phật, giáo hóa tròn đầy, nhập vào Niết bàn : Sau khi đã thành Phật, những chúng sanh cần giáo hóa đều giáo hóa xong, Ngài nhập Niết bàn. Thế nào là Niết bàn ? Niết bàn là không sanh không diệt, không có sanh tử, liễu thoát sanh tử.
Nay thì thời kỳ Chánh pháp tượng pháp : khi Ðức Phật còn tại thế là thời kỳ chánh pháp ; thời kỳ chánh pháp mọi người đều tu hành, mọi người đều có thiền định, đều sẽ khai ngộ. Thời đó tu hành thì sẽ chứng quả ; chứng quả thì sẽ liễu thoát sanh tử. Thời kỳ tượng pháp, thì chỉ có hình tượng, người không chân chánh tu hành. Thời kỳ chánh pháp thì thiền định kiên cố, vừa ngồi thì có thể nhập định, còn đến đời tượng pháp thì sao ? Chỉ là da bên ngoài, chính là chùa chiền kiên cố ; lúc đó mọi người đều ưa thích xây dựng chùa chiền, tạo tượng Phật, nên gọi là thời kỳ tượng pháp. Thời kỳ chánh pháp một ngàn năm, tượng pháp cung một ngàn năm, nay là thời đại mạt pháp. Mạt pháp chính là pháp đã ở trên đầu ngọn cây, nên vô cùng nhỏ bé, ít ỏi. Chánh pháp chính là thời kỳ gốc cây ; tượng pháp là thời kỳ cành cây ; còn mạt pháp thì đã lên ngọn cây. Thời kỳ mạt pháp có bao lâu ? thời kỳ mạt pháp là một vạn năm. Vì thế trừ đi hiện tại, còn hơn tám ngàn năm đều là thời kỳ mạt pháp.
Nhưng trong thời kỳ mạt pháp, nếu có người chân chánh tu hành, thì đó là chánh pháp trong thời mạt pháp ; thời kỳ mạt pháp có người ham thích xây dựng chùa chiền, tu sửa chùa chiền, tạo tượng Phật, đó là tượng pháp trong thời mạt pháp ; vậy nếu trong thời mạt pháp không có người tu hành, cũng không có người tạo tượng Phật, xây dựng chùa chiền, thì thật đúng là thời kỳ mạt pháp.
Ðến khi pháp sắp diệt, tất cả kinh Phật đều hủy diệt, chỉ còn bộ "kinh A Di Ðà" vẫn còn tồn tại trên thế giới này. "Kinh A Di Ðà" còn trụ trên thế giới này năm trăm năm, rồi sau đó ngay cả "Kinh A Di Ðà" cung không còn, lúc đó chỉ còn một câu "A Di Ðà Phật". Câu danh hiệu "A Di Ðà Phật" lại trụ trên thế gian một trăm năm độ vô lượng chúng sanh, sau đó Phật pháp sẽ không còn nữa, không ai biết được câu niệm Phật, cái gì cung không hiểu. Chúng ta hiện nay vẫn là thời tốt, tuy ở thời kỳ mạt pháp vẫn có thể dụng công tu hành.
Cho nên nay là chánh pháp tượng pháp đã diệt tận, chỉ còn tồn tại thời kỳ mạt pháp : thời kỳ chánh pháp tượng pháp đã diệt tận, chỉ còn tồn tại thời kỳ mạt pháp mà thôi.
Giáo pháp còn đó mà không người hành trì : Thời kỳ mạt pháp có Phật giáo tồn tại, nhưng không có người tu hành ; ngôn hạnh của người tu hành đều trái ngược với giáo nghĩa của Phật giáo. Người xuất gia vốn không nên ăn thịt, uống rượu, có nữ nhân, nhưng họ lại phạm vào những việc này giống như người tại gia, đó có nghĩa là không còn pháp nữa. Hữu giáo có nghia là còn có danh từ Phật giáo, nhưng không có người tu hành. "Hữu nhân" là người tu hành chân chánh, không nhất định nói là người hoằng pháp. Không có người tu hành chân chánh, làm gì có người hoằng pháp ? tự nhiên sẽ không có. Thời này thì như thế nào ? tà chánh không phân, thi phi lẫn lộn : như những người mạo hiểm để cầu lợi danh, những người xuất gia mà không làm việc xuất gia, đó đều là tà chánh không phân. Ví dụ có một vài ngoại đạo, họ cho rằng : "Ðây cung là lễ Quán Âm mà ! cung là bái Quan Ðế mà ! lại là lễ cái gì cái gì, v.v…", những điều như thế. Họ không biết cái nào là tà ? cái nào là chánh ? tà chánh không phân, thị phi cung không biện biệt được.
Tranh giành nhân ngã, mãi chạy theo danh lợi : Thường tranh hơn thua, yếu mạnh, cạnh tranh nhân ngã thị phi, đều tranh danh tranh lợi, không phải chấp trước vào danh thì chấp vào lợi, cứ mãi chạy theo danh lợi. Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy : mở mắt ra mà nhìn, khắp thiên hạ đều là như thế, thao thao vô tận như biển cả mênh mông bát ngát, những người này đều làm những việc danh lợi, đeo đuổi danh lợi, vì thế những vị theo tôi xuất gia, mà còn chạy theo danh lợi thì tuyệt đối không thể được ! Quyết không nên chung dòng nhơ bẩn, cùng một giuộc xấu xa. Chúng ta tuy ở trong thời đại mạt pháp, nhưng quyết làm một người đệ tử Phật chân chánh.
Chẳng ai biết Phật là bực nào ? : không biết Phật là gì ? Pháp là nghĩa gì ? : Pháp có nghia là muốn người dứt các điều ác, tăng trưởng điều lành, sửa đổi lỗi lầm, làm mới cuộc đời, muốn người hiểu rõ, nhưng mà họ không hiểu, càng học càng hồ đồ, càng học càng không hiểu biết. Tăng là người chi ? : Tăng có nghĩa là gì ? Ngay Phật Pháp Tăng tam bảo mà cũng không biết. Thế nào là Tăng ? không phải một người gọi là Tăng, mà bốn người trở lên mới được gọi là Tăng. Người thường cho rằng một người cũng gọi là Tăng, đó là sai lầm ; Tăng là mọi người cùng hòa hợp với nhau, lục hòa đồng trụ.
Suy tàn đến thế, bất nhẫn thốt ra lời ! : Ngay cả Phật Pháp Tăng cung không hiểu, suy tàn đến mức này khiến cho tôi thật nói không nên lời, tôi không có cách nào nói ra được. Mỗi khi nghi đến, bất giác rơi lệ : Mỗi khi nghi đến việc này, lệ rơi như mưa, lệ rơi như suối.
Ta là con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài : ta là người xuất gia, là đệ tử của Phật, mà không thể báo đáp ân đức của Ngài. Trong vô ích cho mình, ngoài vô ích cho người : đối với bên trong mà nói, ta không có nỗ lực tu hành, đối với mình không có lợi ích ; bên ngoài cung không lợi ích cho người. Sống vô ích đương thời, chết vô ích mai sau : Khi ta còn sống thì vô ích đương thời; khi chết rồi cung không có gì ích lợi cho mai sau. Trời tuy cao cung không che nổi ta : Trời tuy cao, cung không dung chứa được ta ở giữa trời đất. Đất tuy dày cũng khó chở ta : Ðất tuy dày, ta cũng không có tư cách ở giữa trời đất, cùng trời đất dung hợp. Tội nhân cực trọng, không phải ta thì là ai ? Tội nhân cực trọng nhất, ngoài ta ra thì là ai ? Không phải là người khác mà chính là ta. Ðây là Ðại sư Tỉnh Am dạy người xuất gia chúng ta đều phải hồi quang phản chiếu, cần phải sám hối ; không phải ta thì là ai, đó không phải người khác, mà chính là ta. Cho nên chúng ta là người xuất gia cần phải ghi nhớ không nên tật đố chướng ngại người khác.
Nguyên Văn:
Vì thế mà đau lòng không thể nhẫn nổi, nhưng suy nghĩ thì lại không thấy có cách nào khác hơn, nên quên ngay tư cách quê mùa, liền phát tâm rộng lớn. Tuy không thể vãn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết có thể hộ trì chánh pháp trong mai sau. Vì thế nên cùng với chư thiện hữu, cùng đến đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát bốn mươi tám điều đại nguyện, nguyện nguyện hóa độ chúng sanh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp, tâm tâm thành Phật, từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai, hết một đời này nguyện sanh Cực Lạc, lên chín phẩm xong thì trở lại Ta bà. Khiến cho mặt trời Phật pháp rạng soi, pháp môn rộng mở, để tăng giới được trong lặng ở cõi này, dân chúng được tiếp hóa ngay cõi phương Ðông, vận Chánh pháp nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp do đó được tồn tại lâu dài. Ðây là tấm lòng khổ tâm chân thành, tha thiết nhỏ mọn của tôi. Ðó là nhân duyên thứ mười của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Vì thế mà đau lòng không thể nhẫn nổi : Nói đến đây ta thật đau lòng không thể nhẫn nỗi ! nhẫn việc khó nhẫn, nhưng cũng không thể nhẫn được. Nhưng suy nghĩ thì lại không thấy có cách nào khác hơn : Ta cũng không có cách nào để trốn cho được nơi tụ hội của tội nghiệp. Nên quên ngay tư cách quê mùa, liền phát tâm rộng lớn : Vì thế lập tức quên đi mình tệ lậu hèn kém như thế, bèn phát tâm Bồ đề rộng lớn. Ta không thể làm kẻ tội nhân đại cực ác như thế, ta cần phải phát tâm Bồ đề rộng lớn !
Tuy không thể vãn hồi mạt vận ngay lúc này : Tuy ta phát tâm Bồ đề rộng lớn, không thể hoàn toàn vãn hồi cứu vớt khí số của thời mạt pháp, Nhưng quyết có thể hộ trì chánh pháp trong mai sau : nhưng ta quyết phát nguyện trong thời vị lai hộ trì chánh pháp.
Tôi bảo với các ông, tại sao tôi phải trụ trì chánh pháp ? Vì đời đời kiếp kiếp tôi đều phát nguyện hộ trì chánh pháp, tôi quyết hành trì chánh pháp. Tôi từ vô lượng kiếp đến này phát cái nguyện này, cho nên tôi đến đây, nhất định cố gắng mà làm, tôi nhất định phải trụ trì chánh pháp. Bất quản là bao nhiêu khó khăn gian khổ, dù là có người mắng tôi, hủy báng tôi, tật đố tôi, chướng ngại tôi, tôi đều phải trụ trì chánh pháp. Chí nguyện này tôi quyết không bao giờ buông thả lơi là !
Vì thế nên cùng với chư thiện hữu : Vì thế tôi nay cùng với các bạn lành, Cùng đến đạo tràng : cùng đến Vạn Phật Thành. Ðến Vạn Phật Thành biết không ? Soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này : Chúng ta đến chỗ này, tu Ðại Bi Sám Pháp. Quý vị có biết không ? đến Vạn Phật Thành chính là đạo trường, đạo trường chính là Vạn Phật Thành. Vạn Phật Thành chính là đạo trường của mỗi vị, quý vị cần phải ghi nhớ không nên chê bỏ đạo trường lớn của mình. Tại sao đạo trường lớn này là của quý vị ? Một mình tôi cũng không dùng cho hết đạo trường lớn như thế ! cho nên đây là của tất cả Phật giáo đồ toàn thế giới, không phải chỉ riêng mình tôi, tôi bất quá chỉ ở chỗ này ngày ngày xem nhà cửa giùm quý vị. Quý vị đều rất bận rộn, đều muốn làm hoàng đế, hoặc làm tổng thống ; đến mỗi chỗ mỗi nơi, hoạt động công tác của quý vị. Hoặc là làm ông chủ, hoặc là làm tổng giám đốc, hoặc là ở trong nhà làm ông chủ, mỗi người đều có chức vụ của mình ; chỉ có tôi là người thất nghiệp, không có chức nghiệp gì, ở đây làm công cho quý vị, trông nhà cửa cho quý vị. Cho nên đợi quý vị làm hoàng đế, làm tổng thống, lúc đó quý vị cần phải phát tâm lớn để hộ trì Vạn Phật Thành. Nói : "Ô ! Thầy, Thầy cứ nói đùa hoài". Ông làm sao biết được sau này ông không làm tổng thống ? Ông làm sao biết được ông kiếp sau không làm hoàng đế ? Ông đời sau làm hoàng đế, vì ông phát nguyện : "Kiếp sau khi tôi làm hoàng đế, nhất định sẽ ủng hộ Vạn Phật Thành, ta dùng điện kim loan của ta tu sửa Vạn Phật Thành, dùng vàng xây dựng Phật điện nguy nga tráng lệ như điện kim loan". Ðây là điều không biết trước được, không thể đoán được. Cho nên đệ tử hoàng đế của tôi, nay ông không muốn trở về hoàng cung. Tôi hỏi ông, tam cung lục viện thì làm sao ? ông ta nói không quản đến, kêu cả tam cung lục viện đến Vạn Phật Thành. Kêu họ đến Vạn Phật Thành thì chỗ này biến thành một nơi tu hành học đạo ; cho nên đây là điều rất quan trọng.
Chúng ta sang năm từ ngày 21 tháng 7 âm lịch, buổi tối sái tịnh, ngày 22 chính thức cử hành thất Ðịa Tạng, niệm danh hiệu Bồ tát Ðịa Tạng, hoặc là niệm "Án ma ni bát di hồng". Trước kia chúng ta đã thử đả thất "Án ma ni bát di hồng", ngày đêm sáu thời, ba phiên thay đổi. Phiên thứ nhất niệm tám tiếng thì thay phiên khác, phiên này lại niệm tám tiếng rồi đổi phiên khác, cứ luân phiên đổi ca, trong bảy ngày thanh âm này không bao giờ gián đoạn. Sau khi viên mãn thất, tôi nhìn thấy những đứa bé Mỹ đều rất thích thú, rất có thành tâm, bèn viết một bài từ "Vu Trụ Bạch" để làm kỷ niệm pháp hội đó. Vậy sang năm chúng ta cùng nghiên cứu, các ông muốn niệm "Án ma ni bát di hồng" cũng được, muốn niệm "Ðịa Tạng vương Bồ tát" cũng được, chúng ta dùng bảy ngày, một ngày sáu thời để niệm Phật. Lần trước không biết mỗi ca là tám giờ ? hay là mười hai giờ ? Tôi cung không quản đến, tự họ niệm, tôi cung không có tham gia.
Các ông không nên cho rằng ở đây, mỗi Phật sự tôi đều phải tham gia. Như có người nói : "A ! Chúng con ngồi thiền cung không thấy Thầy đến ?". Ngày ngày tôi đều ở đây, ông nhìn không thấy thì lại trách ai ? Ông không có mắt, làm sao nhìn thấy được tôi ? Tôi đến ông cung không biết. Vì bước chân tôi đi nhẹ không phát ra tiếng, tôi đi qua bên cạnh ông, ông cung không biết. Không phải nói chuyện thần thoại, mà đích xác là như thế ! Lại cho rằng không nhìn thấy tôi. Không nhìn thấy tôi ? ông đến đây vậy ông nhìn thấy ai ?
Vậy ngày 22 bắt đầu đả thất Ðịa Tạng, ngày 22, 23, 24, 25, 26, 27 ; ngày 27 thì viên mãn. Ngày 28, 29, 30 mấy ngày này đều có bái Phật, có niệm Phật. Chúng ta pháp hội lần này khoảng mười ngày, mười một ngày. Nếu các ông ai hoan hỷ đến, một mình đến cũng tốt, đoàn thể đến cũng tốt ! Nhưng khi đến nhất định phải thông báo trước cho chúng tôi để chúng tôi chuẩn bị chỗ ở, bố trí các ông đến đây dụng công biện đạo. Ðiều này rất cần thiết, không nên thình lình mà đến, khiến chúng tôi không có thời gian bố trí sắp đặt. Trong thời gian đả thất, chúng tôi càng không thể đi đón người, cung không thể đưa tiễn người.
Cho nên trong Vạn Phật Thành của chúng ta, sau này bất luận ai đến chúng ta cung không tiếp cũng không đưa, đều xem như người nhà đến chỗ này. Nếu như chúng tôi tiếp rước, đưa tiễn, thì lãng phí rất nhiều thời gian của người dụng công tu hành học đạo ở đây, làm cho ông không có công đức. Vì để thành tựu công đức của quý vị, chúng ta hai bên cần phải yên ổn vô sự ; đều là người nhà, không nên khách sáo. Ðiểm này hy vọng quý vị đặc biệt chú ý.
Quan trọng nhất là người hút thuốc khi đến chỗ này, cung phải đi khám sức khỏe, quăng bỏ tất cả thuốc hút gì đó trên máy bay, không nên đem đến Vạn Phật Thành. Ðem đến Vạn Phật Thành, dù ông không hút thuốc, cung cho Vạn Phật Thành xông nồng mùi thuốc lá, thật không chịu nỗi. Chúng tôi thật chịu không nỗi mùi thuốc ! Tôi có lúc giống như nói đùa vậy, như nói người của Vạn Phật Thành giống như rắn vậy, rất sợ thuốc, lại giống như con sâu vậy, những con sâu này, khi ông vừa hút thuốc nó liền chạy hết. Cho nên chúng tôi ở đây đều là những con sâu nhỏ, con kiến nhỏ, con muỗi, con ruồi, ở chỗ này ong ong vo ve. Vậy quý vị khi đến đây ghi nhớ không nên bắt nạt ăn hiếp chúng tôi là những con sâu nhỏ.
Khi soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, cần phải Phát bốn mươi tám điều đại nguyện, nguyện nguyện hóa độ chúng sanh : mỗi nguyện đều là hóa độ chúng sanh. Mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp, tâm tâm thành Phật : Chúng ta dùng thâm tâm trong thời gian trăm ngàn muôn kiếp, dùng tâm này làm cái gì ? Chính là muốn thành Phật.
Từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai : Từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai, Hết một đời này nguyện sanh Cực Lạc : đời này nguyện sanh thế giới Cực lạc. Chính là khi ta mạng chung nhất định sanh vào thế giới Cực lạc. "An dưỡng" chính là thế giới Cực lạc.
Lên chín phẩm xong thì trở lại Ta bà : Ðã lên chín phẩm, hoa nở thấy Phật, sau khi thấy Phật thì trở lại thế giới Ta bà, Khiến cho mặt trời Phật pháp rạng soi, pháp môn rộng mở : khiến cho mặt trời Phật pháp lại huy hoàng sáng chói, pháp môn lần nữa xiển dương rộng mở. Ðể tăng giới được trong lặng ở cõi này : chư Tăng đều trừng thanh, thanh tịnh, chẳng có những người không tu hành. Dân chúng được tiếp hóa ngay cõi phương Ðông : tất cả nhân dân đều được Phật giáo hóa, được giáo hóa nơi cõi Ðông phương. Vận Chánh pháp nhờ đó mà kéo dài thêm nữa : Chánh pháp của Phật vì đó được kéo dài thêm nữa. Không phải nói kiếp vận kéo dài mà là chánh pháp kéo dài, kiếp vận sẽ không còn nữa. Phật pháp do đó được tồn tại lâu dài : nếu người người đều tu hành dụng công biện đạo, người người đều không có lòng ích kỷ, không có tâm cầu danh cầu lợi, không có tham tâm, không có những dục niệm, đó chính là chánh pháp tồn tại lâu dài.
Ðây là tấm lòng khổ tâm chân thành, tha thiết nhỏ mọn của tôi : Ðại sư Tỉnh Am nói, đây là sự khổ tâm nhỏ bé của tôi. Vì Ngài khiêm nhường cho nên nói nhỏ bé, vi tế, không có sức mạnh gì, là khổ tâm chân thành nhỏ bé yếu ớt.
Ðó là nhân duyên thứ mười của sự phát Tâm Bồ đề : Ðây là nhân duyên thứ mười của sự phát tâm Bồ đề.
Phần chính của phương pháp tu tập
Mở đầu sự quán tưởng
Trên khoảng không, cách đỉnh đầu khoảng 6”, xuất hiện chủng tử PAM, sẽ biến hóa vào đóa sen ngàn cánh. Trên đỉnh đóa sen này xuất hiện chủng tử AH, sẽ biến hóa vào vầng nguyệt trắng. Trong trung tâm của vầng trăng có chủng tử HUM. Đột nhiên, chủng tử này biến hóa thành chày kim cang trắng ở giữa có chủng tử HUM. Aùnh sáng từ chày kim cang và chủng tử Hum tỏa sáng khắp mười phương để hoàn thành hai mục đích. Cả vũ trụ chan hòa vào ánh sáng. Rồi ánh sáng thu hồi vào chủng tử HUM trong chày kim cang. Chủng tử HUM và chày kim cang tan hòa vào ánh sáng rồi chuyển hóa thành Ngài Kim Cang Tát Đỏa.
Thân Ngài màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang ở tay phải, tay trái ngài cầm chiếc linh (chuông nhỏ). Ngài ngồi trong tư thế kiết già, tay bắt ấn. Nữ phật tính của Ngài, Dorje Nyem-ma, ôm choàng thân Ngài. Nữ phật tính màu trắng, một mặt và hai tay; tay phải cầm dao hình cong, tay trái cầm ly hình sọ người.
Cảø hai mặc thiên y và đeo nữ trang, chủng tử OM trên luân xa đỉnh đầu, chủng tử AH ở luân xa cổ, chủng tử HUM ở luân xa trái tim. Ánh sáng từ chủng tử HUM ở trái tim Kim Cang Tát Đỏa tỏa sáng, thỉnh cầu nguồn đại lạc của các chư Phật trong mười phương.
Trên đỉnh đầu, xuất hiện chủng tử PAM mầu trắng rồi được biến hóa trong hoa sen trắng ngàn cánh. Trên hoa sen, xuất hiện chủng tử AH, rồi được biến hóa vào vầng trăng sáng. Vầng trăng này không giống như vầng trăng đã được khám phá bởi các khoa học gia mà là ánh sáng tuyệt đối. Trên vầng trăng, ngay ở giữa, xuất hiện chủng tử HUM, sẽ được chuyển hóa vào chày kim cang trắng, ở giữa chày có chủng tử HUM. Chày kim cang tượng trưng cho sự bền chắc không thể hủy diệt.
Từ chày kim cang, đặc biệt từ chủng tử HUM ở giữa chày, ánh sáng tỏa ra khắp mười phương, bao trùm cả vũ trụ. Ánh sáng được tỏa ra để hoàn thành hai nhiệm vụ: cúng dường Chư Phật và Chư Bồ Tát, đồng thời ban phước lành cho tất cả chúng sinh để thanh tẩy thân khẩu và ý. Tất cả muôn loài chúng sinh hữu tình và vô tình tan hòa vào ánh sáng, rồi lại kết tụ vào chủng tử HUM ở trung tâm chày kim cang.
Chày kim cang cũng tan hòa trong ánh sáng, rồi đột nhiên Ngài Kim Cang Tát Đỏa xuất hiện. Ngài có thân hình màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài cầm chày kim cang ở tay phải, tay trái ngài cầm chiếc linh. Ngài ngồi trong tư thế kiết già, hai bàn tay bắt ấn quyết.
Ngài ôm choàng nữ phật tính Dorje Nyem-ma (Tạng ngữ, có nơi gọi là Phật Bà, Phật mẫu, consort, phối ngẫu tính, dù gọi là gì, dịch thế nào đi nữa cũng không diễn tả hết được ý nghĩa BẤT NHỊ của PHẬT TÍNH, đây chỉ là hình ảnh, một biểu tượng của bất nhị - Dg), nữ phật tính cũng màu trắng và ngồi trong tư thế ôm choàng Ngài Kim Cang Tát Đỏa. Nữ phật tính một mặt và hai tay, tay phải cầm dao, tay trái cầm ly rượu thần hình sọ người. Con dao tượng trưng cho trí tuệ, mục đích để cắt đứt những tạp niệm và những bám víu vào những thú vui vật chất. Ly rượu thần tượng trưng cho sự an lạc mà ngài đạt được trong giác ngộ, đây không phải là người đàn bà say sưa của thế gian. Mặc dù đây chỉ là một hình ảnh tượng trưng nhưng nó tạo cho chúng ta một ấn tượng rất sâu đậm.
Nếu chúng ta đi ngược dòng lịch sử, chúng ta sẽ biết người đàn bà trong quá khứ bị coi như không có giá trị nào cả, mà chỉ là một người phục vụ cho đàn ông. Nhưng thực ra không phải vậy. Truyền thống tâm lý học Phật giáo, nhất là mật tông, chỉ cho chúng ta biết một cách vô cùng rõ ràng rằng đàn ông và đàn bà như nhau, cả hai đều có khả năng khám phá phật tính nằm trong tâm mình. Xa hơn nữa, đàn bà còn có một tiềm lực mãnh liệt để phát triển nguồn sức mạnh của trí tuệ và có thể chia sẻ nguồn an lạc đó cho những yogi (nam). Cùng lúc đó, yogini (nữ) cũng nhận lại nguồn an lạc từ yogi. Do đó, nếu chúng ta có những kinh nghiệm nội tâm về sự tượng trưng của nữ phâït tính, thì mỗi khi chúng ta nhìn thấy tranh ảnh của Đại thừa chúng ta sẽ cảm nhận được những nguồn an lạc, chiều sâu của những cảm nghiệm này tùy theo tâm của mỗi người. Thực ra, những bức tranh này cho chúng ta một sự cảm thông ở bên ngoài ngôn ngữ.
Tâm vô minh và tâm giới hạn của chúng ta luôn luôn nghĩ rằng: “ Tôi không thể làm được bất cứ việc gì ... tôi không thể làm cái này, tôi không thể làm cái kia...,” điều này hoàn toàn sai lầm. Chúng ta có thể làm bất cứ điều gì chúng ta muốn !!! Khi sinh ra chúng ta đã mang sẵn nhiều khả năng: chúng ta có thể suy nghĩ, chúng ta có thể truyền đạt những tư tưởng của chúng ta cho những người khác và chúng ta có thể phát triển một cách không giới hạn những tài năng của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ chúng ta lười biếng, chúng ta sẽ lười biếng. Chúng ta sẽ phung phí cuộc đời và sẽ chẳng làm gì cả. Nghĩ như vậy chúng ta sẽ tiếp tục nhận chìm chúng ta xuống. Thực sự, chúng ta không như vậy, chúng ta có khả năng làm được nhiều thứ !
Phương pháp mật tông sẽ chỉ cho chúng ta những khả năng tiềm ẩn sẵn có trong chúng ta và giúp chúng ta ngăn cản những tư tưởng tiêu cực, những tư tưởng này chỉ làm cho chúng ta buồn nản mà không thực hiện được điều gì tốt đẹp trong cuộc đời. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để gặp gỡ và học hỏi những lời dạy bảo cũng như những sự hướng dẫn thực hành. Chúng ta hãy tận dụng những cơ hội và những hoàn cảnh thuận tiện này.
Nếu một người bình thường nhìn bức tranh Dorje Nyem-ma cầm ly rượu thần hình sọ người, tượng trưng cho suối nguồn an lạc, biểu tượng cho sự chứng đắc chân tính, họ sẽ nghĩ rằng đây là một ma nữ uống máu. Họ sẽ kinh tởm và sợ hãi, họ sẽ nghĩ rằng đây là một chiếc sọ đầy máu người và cho rằng Đại thừa Phật giáo tin vào sự hiến tế nhân mạng. Họ còn sợ bị chúng ta cắt cổ ! Nếu họ nhìn bức tranh Yamantaka mang bộ xương người, có lẽ họ sẽ sợ đến mang bệnh; chính lòng mê tín của họ tố cáo Yamantaka giết người. Tuy nhiên, ngược lại với lòng mê tín đó, đây là những biểu tượng cho chúng ta một ý nghĩa vô cùng thâm sâu mà nó phản ảnh một sự thực chứng cao độ.
Trong diệu pháp Heruka Vajrasattva hay trong 6 bước tu tập của một đạo sĩ, có một phần mà chúng ta phải quán tưởng chúng ta là Kim Cang Tát Đỏa đang ôm choàng nữ/nam phật tính (phối ngẫu tính). Hiện tại trong các tu viện, các vị sư nam và sư nữ đã thề nguyền không có vấn đề đụng chạm thân xác và có thể hiểu rằng họ không bao giờ thực hành phương pháp này với nhau. Tuy nhiên, nữ phật tính ở đây không phải là một người đàn bà bằng xương bằng thịt mà là một âm tính (năng lượng âm) trong tam ma địa (đại định), và do đó, họ được phép hoà nhập trong lúc thiền định. Phái nữ có thể quán tưởng mình là Kim Cang Tát Đỏa hay là người đang ôm Vajrasattva là Dorje Nyem-ma, một người sẽ trở nên làm một với Heruka Vajrasattva và hoà tan trong đại trí tuệ an lạc của Ngài. Như vậy là chúng ta chuyển hoá những nguồn năng lượng xấu thành Trí Bát Nhã của Vajrasattva.(từ đây sẽ không dịch là Kim Cang Tát Đỏa nữa mà sẽ giữ nguyên âm Vajrasattva cho phù hợp khi tụng mật chú – Dg)
Mục đích của việc thực tập này là để phát triển Trí Bát Nhã Tánh không. Điều này hoàn toàn khác với sự ôm ấp bình thường của đôi trai gái. Để có thể hòa nhập trong sự tỉnh thức của an lạc, một điều vô cùng quan trọng là phải từ từ phát triển tâm tỉnh thức. Do đó, điều trước tiên là những người tu sĩ nam nữ nên cắt đứt tất cả những liên hệ thể xác mà chỉ thực tập phương pháp này với âm/dương tính tam-ma-địa cho đến khi nào đạt được những thực chứng cao hơn. Chỉ khi nào họ đã phát triển tâm thức ở mức độ cao họ mới có thể có những liên hệ bình thường, nhưng cũng không phải là những sự thỏa mãn phàm tục. Phải một thời gian thật lâu chúng ta mới có thể đạt đến đó, mà cũng không cần thiết cho chúng ta phải thực tập như vậy. Vì thế, chúng ta không cần giải thích thêm chi tiết ở đây.
Điểm cần phải nhấn mạnh ở đây là biểu tượng ôm choàng đó giúp người thực tập phát triển Trí Bát Nhã. Nếu phái nữ có thể làm như vậy, không sao, nhưng nếu nó ảnh hưởng đến phái nam như là một sự khêu gợi, ngã lòng, chán nản thì tất cả những tâm trạng đó là tâm trạng phàm tục. Dĩ nhiên nó cũng ảnh hưởng đến phái nữ khi quán tưởng hình ảnh nam.
Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài mặc thiên y và đeo những bảo châu tuyệt đẹp. Dĩ nhiên, “tuyệt đẹp” ở đây có tính cách tương đối. Cái gì làm cho một người ở nước này gọi là đẹp thì lại xấu ở nước kia và ngược lại. Đối với triết lý nhà Phật thì đẹp, xấu, tốt, dở tùy theo tâm của chúng sinh. Cái gì là nữ trang và cái gì không phải là nữ trang đều bắt nguồn từ tâm.
Chúng ta có thể hiểu cái điều đơn giản này khi nhìn vào sự phát triển văn hóa của người Tây phương và vào những thời điểm mà người ta cho là đẹp hay xấu. Qúy vị có thể hiểu điều này rõ hơn tôi. Tôi chỉ có thể biết được những điều này qua sự học hỏi triết lý Phâït giáo; còn qúy vị đã trực tiếp biết và quan sát chúng. Chúng ta chỉ cần quan sát những người làm ở những cửa hàng, họ thay đổi cách trang trí, cách trưng bày hàng hóa mỗi ngày. Cái gì đẹp của ngày hôm qua, hôm nay đã xấu rồi! Qúy vị thật may mắn! Vì qúy vị chứng nghiệm được lời dạy bảo của Phật ngay ở đó, nó luôn luôn xảy ra chung quanh qúy vị. Qúy vị vừa được hưởng đời vừa được hiểu chân lý.
Như vậy, người từ những quốc gia khác nhau sẽ có những quan niệm về cái đẹp khác nhau; có thể qúy vị không đồng ý với tôi về lối diễn tả vẻ đẹp của Vajrasattva và nữ phật tính cuả Ngài. Tuy nhiên, qúy vị có thể quán tưởng vẻ đẹp và đồ trang sức của các Ngài tùy theo ý kiến riêng của qúy vị. Nhưng những biểu tượng trang sức là những quán tưởng nội tại và do đó nên quán tưởng theo sự diễn tả trong bài thực tập này. Điều quan trọng là chúng ta không nên bỏ nó và không quán tưởng đến nó, vì chúng ta thường nghĩ rằng nó qúa phức tạp cho việc quán tưởng.
Heruka Vajrasattva có tất cả 6 loại trang sức khác nhau, nữ phật tính của ngài có 5 loại. Vật trang sức thứ 6, màu sáng trắng, chính là thân thể của Ngài, nó nói lên Ngài đã đạt nguồn chân hỏa (kundalini). Nguồn năng lượng chân hỏa này không lem luốc đầy người như chúng ta thường thấy ở những ông đạo sĩ Aán độ có một lớp tro trắng trên thân thể họ. Có những ông trông yếu xìu chẳng có một chút năng lực nào, dương tính của họ không hoạt động. Nguồn năng lượng nội hỏa của Vajrasattva hoạt động mãnh liệt nên thân thể Ngài sáng, điều này chứng tỏ Ngài đã đạt nguồn chân hỏa (kundalini), cũng là nguồn đại lạc. (Tôi nói “nguồn năng lượng nội hỏa” thay vì chỉ nói “ nội hỏa” để qúy vị đừng hiểu lầm đây là sức lực bình thường của phái nam).
Cả Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của Ngài đều có chủng tử OM trên đỉnh đầu (luân xa 7), chủng tử AH ở cổ họng (luân xa 5), và chủng tử HUM ở trái tim (luân xa 4). Chủng tử HUM ở trung tâm của vầng trăng. Vầng trăng rất tròn và là biểu tượng của niềm đại lạc, của Trí Tuệ. Trong những đêm trời nóng, chúng ta ra ngắm vầng trăng tròn đầy tự nhiên chúng ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Đó là một trong những lý do tại sao vầng trăng lại được chọn làm biểu tượng cho sự an lạc. Chung quanh vầng trăng là những mật tự của Heruka Vajrasattva, được đọc theo ngược chiều kim đồng hồ. Thường thường trong những phương pháp mật tông, mật tự được đọc theo chiều kim đồng hồ, từ trái qua phải; nhưng ở đây lại đọc ngược chiều kim đồng hồ, từ phải qua trái, điều này nói lên Heruka Vajrasattva đặc biệt để ý đến nguồn năng lượng âm hơn là dương. Lý do này nói lên phái nữ dùng năng lượng bên trái của cơ thể hơn là bên phải, trong khi đó phái nam lại dùng năng lượng ở bên phải của cơ thể nhiều hơn là bên trái.
Khi Phật tử đi vòng quanh một ngôi tháp, họ thường đi theo chiều kim đồng hồ, nên ngôi tháp bao giờ cũng ở bên tay phải của họ. Là một người thực hành phương pháp tính âm của mật tông, chúng ta nên sáng suốt trong từng sự việc chúng ta làm, chúng ta có thể đi theo hướng ngược lại. Những người không có một sự hiểu biết sâu rộng sẽ cho là chúng ta làm sai và thường thường họ làm khác đi; nhưng những người có một tâm cởi mở, hiểu biết rộng rãi, họ sẽ thông cảm những sự hiểu biết của chúng ta về mật chú. Tuy nhiên, chúng ta không nên khoe khoang, mà nên khiêm tốn, đơn sơ và hành động đúng theo nghi thức được dạy bảo.
Từ chủng tử HUM ở tim của Heruka Vajrasattva, có rất nhiều tia sáng chiếu ra muôn phương để thỉnh cầu phước tuệ từ các Chư Phật rồi những tia sáng này lại trở về tim và hòa tan trong chủng tử HUM.
Lễ cúng dường Heruka Vajrasattva
OM KHANDA ROHI HUM HUM PHAT
OM SVABHAVA SHUDDAH SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM
Tất cả đều vắng lặng. Chủng tử AH xuất hiện trong Tánh Không rồi biến thành một ly hình sọ người rất lớn đựng 5 loại thịt và 5 loại rượu thần. Chúng hòa tan vào nhau thành một biển trí lực siêu việt.
OM AH HUM HA HO HRI
Tiếp theo chúng ta niệm mật chú để thanh tẩy và cúng dường, đồng thời nguyện cho những vật cúng dường không mất đi những phẩm chất của nó (OM KHANDA...) , giống như sự cúng dường từ nội tâm. Nhớ rằng chúng ta đang là hình ảnh của Heruka Vajrasattva nên chúng ta ban phước và độ trì cho những hiến vật này.
Rồi hãy tụng chú Tánh Không (OM SVABHAVA ...). Tất cả trở thành Tánh Không. Với mật chú này và với một quan niệm đúng đắn về Tánh Không, chúng ta chuyển hóa tất cả những vật được dâng hiến và toàn thể các hiện tượng trong vũ trụ thành trí tuệ và an lạc. Trong tinh thần bất nhị, xuất hiện chủng tử AH trắng sáng, rồi biến thành một ly hình sọ vĩ đại. Bên trong chứa đựng 5 loại thịt và 5 loại rượu thần. Chúng hòa tan vào nhau rồi biến thành một đại dương của an lạc và trí tuệ.
Sau đó tụng OM AH HUM HA HO HRI ba lần. Ở đây chúng ta thanh tẩy những năng lượng không thanh khiết của những phẩm vật dâng hiến để trừ khử những mùi vị, màu sắc dơ bẩn và để thăng tiến chúng.
Tôi nghĩ rằng rất nhiều người trong chúng ta đã có một số kinh nghiệm về Tánh Không trong khi thiền định, nhưng trí phân biệt của chúng ta tự động nắm bắt vấn đề mỗi khi có một ý niệm xuất hiện, để rồi chúng ta lại trở về những thói quen của đời sống thường ngày. Nhưng khi chúng ta đã đạt được niềm an lạc của thần trí thì nó lại hoàn toàn khác, bất kể những gì chúng ta nhận được, tâm của chúng ta vẫn không hề bị lay chuyển, vẫn không bị vướng mắc và nắm giữ; ngược lại chúng ta hoàn toàn an lạc, chúng ta nhận ra được tuyệt đối tính của tất cả những hiện tượng trong vũ trụ và cảm nghiệm được chúng trong niềm an lạc tự nhiên.
OM VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA PRATICCHA HUM SHAVA
Như vậy là chúng ta đã thực hiện 8 lần dâng cúng Heruka Vajrasattva. Chúng ta cần có trí tuệ để biến chúng thành hoàn mỹ, tuyệt diệu; chúng ta cần một sự hiểu biết thật sâu sắc để hiểu thấu vấn đề.
Bình thường những người du lịch khi nhìn thấy những ảnh tượng trong chùa hay trong các tu viện tại Tây tạng, họ đều phê bình bằng những cảm quan bề ngoài theo những thói quen sẵn có. Họ thực sự tin rằng chúng ta dâng cúng thịt, giấy, nước và quần áo cho những hồn ma. Đôi khi họ còn bực mình khi thấy những ảnh tượng được xếp đặt chung với những hình tượng kỳ quái khác và họ không thế nào hiểu được tại sao lại có những người đi dâng cúng cho những hình tượng này. Hãy thận trọng: nếu đức tin của chúng ta quá yếu, nếu trí tuệ của chúng ta quá mù mờ thì chúng ta cũng sẽ nghĩ như vậy.
Do đó, dâng cúng phẩm vật là một cách thực hành mang lại nhiều ơn ích. Đây là cách để đối trị những sự lười biếng, đạo đức giả và đầu óc duy lý: “ôi, đạo tại tâm mà”, rồi chẳng bao giờ dám bỏ ra một xu để mua phẩm vật. Tôi mong rằng quý vị hiểu những điều tôi muốn nói. Khi chúng ta dâng cúng phẩm vật, dù chỉ là một cây nến, bằng tất cả tấm lòng chân thành, hiểu biết và cung kính thì nó có giá trị như là dâng hiến trọn vẹn tất cả những gì chúng ta có trong toàn thể vũ trụ này. Nhưng vì chúng ta thường có những ý nghĩ nhỏ mọn nên không bao giờ chúng ta có thể tưởng tượng được chúng ta dâng cúng cả vũ trụ. Vì thế tám lần dâng cúng tạo cho chúng ta những điều căn bản để dễ dàng chuyển hóa tâm thức hòa nhập vào vũ trụ.
Chúng ta không nên dâng cúng theo thói quen thông thường kiểu thế gian; thay vì làm như vậy, chúng ta hãy chuyển hóa tất cả những phẩm vật vào sự an lạc thanh tịnh mà chúng được thị hiện như là nước, ánh sáng, âm thanh, mùi vị và cảm giác. Qua sự thực hành này, chúng ta có thể chuyển hóa tất cả mọi sự vật trên thế gian này thành niềm an lạc tuyệt diệu, mặc dù chúng mang bất cứ hình thái, sắc tướng bên ngòai nào. Khoa học đã chứng minh rằng tất cả năng lượng đều là sự biến đổi trạng thái không ngừng nghỉ; một năng lượng luôn luôn biến chuyển thành một năng lượng khác. Thí dụ như năng lượng của mặt trời tác dụng hỗ tương trên cây cối và những đóa hoa tươi đẹp. Tất cả mọi sự vật trên vũ trụ đều có thể thay đổi !
Dù chúng ta quán tưởng niềm an lạc dưới bất cứ hình thức nào, hình dạng nào, tâm của chúng ta cũng tự động phản ảnh nó; như thế, tất cả những năng lượng xấu, những ô nhiễm của những ý niệm sai lạc đều được thay thế bằng những năng lượng tốt; những nguồn năng lượng tươi vui này sẽ tự nhiên phát khởi lên trong tâm của chúng ta, chẳng phải vì có một cục kẹo hay một thỏi chocolate ở trong tay. Nếu chúng ta làm một thử nghiệm, chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận ra được sự hiệu nghiệm của vấn đề tâm lý này.
Nhiều người muốn tự tử. Vấn đề của họ là do những gì họ tưởng tượng ra, nghĩ ra. Họ chỉ thấy toàn là đau khổ, trở ngại; họ không thể quên được những nỗi khắc khoải, những phiền muộn, họ không thể ngủ được hoặc chẳng bao giờ có được một giấc ngủ an lành. Tự tử không phải là lối giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Họ cắt tay, bắn vào đầu. Đây là một điều quan trọng mà chúng ta phải thấu hiểu tâm lý sâu xa của vấn đề tự tử.
Tâm lý sâu xa trong việc dâng cúng cũng vậy, phải hiểu rõ mục đích chính của cúng dường là gì, nếu không hiểu được, nếu không nhìn ra được phật tính của sự vật thì sự vật cũng chỉ là sự vật vật chất mà thôi và sự dâng cúng cũng chỉ là vật chất như vậy. Nhưng nếu chúng ta hiểu được siêu việt tính này, chúng ta có thể giao cảm sâu xa khi thực hành sự dâng cúng để công việc tu tập của chúng ta đạt được thành qủa, tâm trở nên an lạc hơn, trí tuệ phát triển hơn. Nếu chúng ta tu tập theo chiều hướng này thì chúng ta sẽ không bao giờ còn buồn phiền, uất ức và sẽ nhìn cuộc đời hoàn toàn đổi mới tươi đẹp hơn.
Đừng bao giờ bi quan trong việc thực hành phương pháp chuyển hóa. Uống một ngụm nước cam lồ sẽ tươi mát hơn một ly nước bình thường rất nhiều. Một ly trà hay một ly cà phê chỉ cho chúng ta một chút mùi vị khoan khoái ở miệng và bao tử. Sự khoan khoái này chỉ nhất thời và chẳng bao lâu chúng ta lại phải đi tiểu. Ngược lại, sự an lạc sẽ tác động sâu xa vào toàn thể hệ thần kinh, làm thanh tịnh năm giác quan và nguồn năng lượng này không có gì có thể so sánh được. Đó là sự thật! Tôi không hề nói quá đáng.
Một số người nghĩ rằng quý vị tăng ni đã không còn màng gì tới âm nhạc, đã từ bỏ tấât cả. Chúng tôi không từ bỏ gì cả!!! Chúng tôi thưởng thức, hưởng thụ và chia sẻ tất cả mọi loại âm nhạc trong vũ trụ. Chúng tôi vẫn ca hát và nhảy múa với nhau. Chúng tôi có thể ca hát và nhảy múa khi nào chúng tôi thích, khi nào chúng tôi còn ở trong tình trạng tỉnh thức, còn trên con đường giải thoát và còn biết rằng chúng tôi không gây bực bội cho hệ thần kinh của chúng tôi. Trong những tu viện nam cũng như nữ ở Tây tạng, chúng tôi vẫn chơi những loại nhạc khí trong những dịp hội hè và ngay cả trong những lễ nghi tôn giáo nữa. Chúng tôi không thiếu sót gì trong đời sống, chúng tôi thưởng thức và an hưởng tất cả!!!
Dĩ nhiên, nếu chúng ta cứ mãi giải thích những điều này cho người đời thì họ sẽ nghĩ rằng chúng ta điên hoặc mơ mộng. Nhưng điều này chẳng điên khùng chút nào, đó là sự thật. Nếu họ không đồng ý, hãy hỏi họ, “vậy thì cái gì mới là sự thật?” Họ không trả lời được. Họ nghĩ rằng họ rất thông minh và hãnh diện vì họ cho rằng những gì họ đã làm đều là sự thật còn những gì chúng ta làm đều là những điều kỳ dị, không tưởng. Đó là một ý niệm sai lạc. Nếu chúng ta phân tích vấn đề bằng trí tuệ, chúng ta sẽ thấy rằng cả hai bên đều làm cùng một công việc: huyễn ảo, vọng tưởng; tất cả chúng ta đều làm những việc hão huyền. Vì thế, cái gì đúng cho người này thì cũng có cái đúng cho người khác.
Những phẩm vật ta dâng cúng mang lại ba đặc tính: thứ nhất là niềm an lạc, thứ hai là sự an lạc này được thể hiện qua những hiến vật và mỗi hiến vật có những đặc tính riêng vô tận của chính nó, thứ ba là nó không bao giờ chấm dứt sự phúc lạc nơi ta.
Chúng ta có thể tưởng tượng tám hiến vật được làm bởi tám vị thần. Khi chúng ta bắt đầu bắt ấn quyết để dâng cúng phẩm vật thì một vị thần tương ứng với phẩm vật đó liền xuất hiện từ trái tim của chúng ta để làm việc dâng cúng, rồi ngay sau khi chấm dứt ngài lại tan biến trở lại trái tim của chúng ta. Vị thần chính là sự thị hiện của trí siêu việt, khi các ngài tan biến trong tim của chúng ta, các ngài thanh tẩy và làm cho trái tim của chúng ta trở nên tốt đẹp, an lạc, những nguồn năng lượng này không thể bị phá hủy. Mỗi vị đều có bốn tay: hai tay trên cầm chày kim cang và chiếc linh (chuông nhỏ) còn hai tay kia dâng cúng phẩm vật.
Tám hiến vật và 8 vị thần tương ứng là:
argham Nữ thần rượu tiên mang mầu trắng
padyam Nữ thần chân sạch trắng
pushpe Nữ thần hoa trắng
dhupe Nữ thần nhang mầu khói
aloke Nữ thần ánh sáng đỏ
gandhe Nữ thần hương thơm xanh lục
naivedya Nữ thần thực phẩm nhiều mầu
shabda Nữ thần âm thanh xanh lam
JAH HUM BAM HO. Trở nên làm một, trở thành bất nhị.
Trong lúc dâng cúng hiến vật, chúng ta tụng mật chú JAH HUM BAM HO. Với JAH, Trí Tuệ được kêu gọi; với HUM, Trí Tuệ đi vào; với BAM, nó được hòa nhập làm một; và với HO, nó trở nên phúc lạc không thể bị phá hủy.
Như vậy, nguồn lực trí tuệ từ chư Phật mà chúng ta đã kêu gọi được thu hút bởi những tia sáng từ chủng tử HUM ở trái tim của Heruka Vajrasattva. Ngay lập tức và rất dễ dàng, nó hòa tan vào trái tim của Ngài, nó liền trở nên niềm an lạc của thần trí Ngài, như giọt nước hoà tan trong đại dương, chẳng còn cách biệt và phân chia nữa.
Thực ra, Heruka Vajrasattva không cần phải hoà tan trong thần trí bởi vì Ngài đã là một với các chư phật. Thực là sai lầm nếu chúng ta nghĩ rằng Heruka Vajrasattva là một thực thể riêng biệt đối với các chư phật. Chỉ vì tâm nhị nguyên của chúng ta đã không hiểu nổi hình ảnh thần linh mà chúng ta quán tưởng trên đỉnh đầu và sự thị hiện của thần trí là một. Chính chúng ta đã phân biệt, đã chia rẽ sự kiện này. Vì thế, chúng ta cần thay đổi tâm nhị nguyên của chúng ta bằng phương cách quán tưởng này.
Nhưng nếu nói: “ Ồ, chúng là một và hoàn toàn giống như nhau,” thì cũng không được, vì sự hiểu biết này, lời nói này hoàn toàn do trí thông minh mà ra. Nó không giúp gì cho tâm của chúng ta. Nhưng, nếu chúng ta kinh nghiệm sự hợp nhất qua sự thực tập phương pháp du gìa này thì sự nhận thức của chúng ta sẽ hoàn toàn là trực giác. Heruka Vajrasattva là sự hợp nhất giữa các nguồn năng lượng đang được thị hiện của các chư Phật trong trạng thái thần thánh để nói chuyện với chúng ta. Một khi chúng ta đã hoàn toàn thanh tẩy tâm nhị nguyên thì chính chúng ta cũng sẽ trở nên làm một với sự an lạc của thần trí.
Sự quán đảnh
Lại nữa, những tia sáng từ chủng tử HUM tại trái tim của Ngài đang kêu gọi các vị thần quán đảnh của gia đình năm vị thiền Phật.
OM PANCHA KULA SAPARIVARA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
“Kính lạy Đức Như Lai, xin ban phước cho sự quán đảnh của con [Heruka Vajrasattva].” Theo lời cầu khẩn này, tất cả chư Như Lai cầm bình nước cam lồ trên tay, bình nào cũng tràn đầy tuệ lực sẵn sàng chảy ra. Mỗi khi câu mật chú OM SARVA TATHAGATA ABHISHEKATA SAMAYA SHRIYE HUM được tụng lên là sự quán đảnh được ban phát.
Thánh thể toàn tri, Heruka Vajrasattva, được tràn ngập bởi nước cam lồ, nguồn tuệ lực tiên thiên. Những giọt nào chảy tràn ra ngoài liền thấm nhập lại vào Đức Phật A Súc Bệ (Akshobhya), đang ngự trên đỉnh đầu Ngài.
Chủng tử HUM ở tại trung tâm của vầng trăng trong trái tim Ngài, vòng chung quanh là một trăm mật tự (đứng vòng chung quanh vầng trăng theo ngược chiều kim đồng hồ).
Một lần nữa, tại trái tim của Heruka Vajrasattva, chủng tử HUM lan tỏa ánh sáng chiếu rạng khắp mười phương để kêu gọi những vị thầy quán đảnh - năm vị thiền phật (xem phần phụ lục về gia đình thiền Phật)- và các chư phật trong cảnh giới bí mật riêng của các ngài chứng giám cho sự quán đảnh. Được hướng dẫn bởi ánh sáng, các ngài liền hiện diện ngay trên đỉnh đầu của Heruka Vajrasattva.
Bây giờ, trước khi cầu xin các ngài chấp nhận sự quán đảnh, chúng ta hãy dâng lên các ngài tám phẩm vật như đã trình bày ở trên. Khi chúng ta tụng PRATICCHA HUM SVAHA là chúng ta xin các ngài chấp nhận tất cả những phẩm vật này, mà bản tính tự nhiên của chúng cũng là thần trí và những cảm nghiệm tuệ lạc tiên thiên cũng hiện diện nơi thánh tâm của các ngài.
Khi dâng hiến những phẩm vật, chúng ta xin được quán đảnh. Mỗi khi tụng mật chú OM SARVA TATHAGATA...., thì những vị thần quán đảnh sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta, các ngài nâng những chiếc bình nước cam lồ lên rót nước thanh tịnh của thần trí tiên thiên vào đường kinh mạch chính của Heruka Vajrasattva và Dorje Nyem-ma qua luân xa đỉnh đầu của hai vị này.
Thần quán đảnh nhìn xuống chúng ta như chúng ta ở dưới này đang quán tưởng Heruka Vajrasattva ở trên kia, nhận lễ quán đảnh cho chúng ta. Nhắc lại, đây chỉ là dấu ấn phân biệt nhị nguyên đã in sâu trong tâm khảm chúng ta: “Tôi là thế này, ngài là thế kia.” Để phá tan những ý niệm thông thường này và những vọng tưởng của tâm nhị nguyên, chúng ta cần thanh tẩy sự quán tưởng như đang được dậy bảo.
Tất cả sự dạy bảo thực tập phương pháp này là để thanh tẩy tâm của chính chúng ta. Mặc dầu chúng ta quán tưởng Heruka Vajrasattva trong sáng nhưng thực ra chúng ta đang thanh tẩy chính chúng ta, ảnh hưởng tâm lý, chuyển hóa tự nhiên. Sự quán tưởng của chúng ta về Heruka Vajrasattva là cái nhìn không trong sáng của chính chúng ta. Bởi vì thanh tẩy ngài trong tầm mức sâu thẳm, nguồn năng lực trong sáng của giác ngộ, nên chúng ta sẽ tự trở nên trong sáng. Sự kiện này sẽ ghi lại một dấu ấn thật sâu đậm trong tâm thức của chúng ta và sẽ giải thoát chúng ta khỏi những nguồn năng lượng xấu một cách rất tự nhiên.
Sau khi quán đảnh, Thánh thể Heruka Vajrasattva tràn đầy năng lượng của thần trí, được vị thần quán đảnh đổ trên luân xa đỉnh đầu đi vào kinh mạnh chính của ngài. Nếu chúng ta đạt được nguồn đại trí qua mật điển du gìa, chúng ta cũng sẽ có những kinh nghiệm giống như vậy.
Tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng toàn hệ thần kinh của chúng ta đã tràn ngập nguồn an lạc này, đúng như vậy. Nhưng bởi vì, chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta qúa nghèo nàn thấp kém, đời sống chúng ta luôn luôn thiếu: “Tôi không có cái này, tôi không có cái kia, tôi chẳng có gì cả.” Nên, chúng ta nghĩ: “Nếu tôi có cái đó, tôi đã vui biết chừng nào.” Tự chúng ta, chúng ta đã bất mãn, nên chúng ta luôn luôn đi kiếm tìm bất cứ cái gì chúng ta cho là chúng ta đang thiếu, đang không có.
Luân xa dưới cùng của chúng ta đang bị tắc nghẽn, đen tối, đau và không có nguồn an lạc. Luân xa rốn (luân xa số 3, hoả đại --Dg) của chúng ta đang bị đóng, đen tối và bị đè nén. Luân xa trái tim (luân xa số 4, phong đại --Dg) đang tan vỡ vì máu bị ô nhiễm bởi những cảm xúc và tuyệt vọng. Luân xa cổ họng (luân xa số 5, không đại --Dg) thì tràn đầy ô nhiễm, không có điều gì chúng ta nói mà tốt lành. Còn luân xa đỉnh đầu (luân xa số 7 --Dg) thì bị đông đặc, cứng, lạnh ngắt, không cởi mở, không hòa tan trong nội hỏa được. Toàn thân đắm chìm trong ô trược nên nguồn đại lạc không thể đổ vào, không thể thấm vào chúng ta và cho chúng sinh khác. Hoàn toàn đen tối, hoàn toàn bị tắc nghẽn và dầy đặc nhiễm ô.
Vì thế, qua phương pháp thực tập thanh tẩy này, chúng ta mới có thể nhận được nguồn đại trí và đem nguồn đại lạc miên viễn này vào sâu thẳm trong trái tim ta. Chúng ta có thể dùng phương pháp thanh tẩy tuyệt diệu này từ bây giờ cho đến khi qua đời. Ngay cả trong lúc chết chúng ta cũng vẫn dùng được, bởi vì tự nó thường phát triển. Nếu ta không phát triển, tâm ta luôn luôn thay đổi, lúc thế này lúc thế khác, khi lên khi xuống, như thế chúng ta sẽ chẳng vui được. Hãy nhìn thẳng vào chính ta: mặc dầu đã được học Đạo pháp mà chúng ta vẫn còn chạy lòng vòng làm cái này làm cái kia. Những sinh hoạt trong cõi luân hồi không bao giờ ngừng. Ngay cả những người đang sống trong những tu viện hay trong những thiền viện, những nơi đó đáng lẽ phải là những nơi thanh tịnh, an lành mà cũng luôn luôn bận bịu, rộn ràng. Cuộc sống chắc chắn sẽ chấm dứt một ngày nào đó. Thế thôi.
Theo nghi quỹ tu tập, Tây Tạng có từ ngữ ku; kaya theo Sanskrit (Phạn ngữ). Chúng ta dịch sang Anh ngữ là “holy body”, Việt ngữ là “thánh thể”, nhưng thực ra nên dịch là “hệ thần kinh thanh khiết, hệ thần kinh trong sáng” thì đúng hơn. Tôi không biết tự điển khoa học dịch thế nào cho chính xác danh từ này của Tạng ngữ hay Phạn ngữ nhưng tôi chắc chắn rằng chúng tôi đã có những kinh nghiệm, những chứng nghiệm rõ ràng về ý nghĩa của nó. Ku ám chỉ hệ thần kinh trong sáng của Heruka Vajrasattva đã thấm nhập, thẩm thấu được đại lạc của nguồn tâm hỏa (kundalini).
Hệ thần kinh của chúng ta cũng được thấm nhuần đại lạc này, nhưng chúng ta đã không biết đến nó. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều cảm nhận được niềm hạnh phúc trong tâm và trong hệ thần kinh mỗi khi năng lượng xấu được chuyển hóa thành an lạc và mỗi khi chúng ta không còn đeo dính, bám víu vào đối tượng ở bên ngoài và mỗi khi còn tỉnh thức. Nhưng mỗi khi chúng ta trở lại với những ảnh hưởng của nghiệp lực hay của những ý niệm cũ là chúng ta lại tự hủy hoại những kinh nghiệm an lạc này. Dĩ nhiên, vì biết những ý niệm này rất mạnh, nên chúng ta phải cố gắng vượt qua chúng càng mạnh hơn nữa càng tốt, tuỳ theo sự hiểu biết thâm sâu của chúng ta về kinh nghiệm đại lạc này như thế nào. Thật đáng nghi ngờ những lợi lạc này, thật dễ thắc mắc về những cơ hội ơn ích này, phải không? Chúng ta nên học hỏi, suy gẫm từ chính những kinh nghiệm an lạc đơn giản trong chúng ta.
Thí dụ, nếu có người hỏi ta nên chọn ăn trưa ở một nhà hàng sang trọng 5 sao trong một khách sạn hay một cửa hàng xập xệ trong khu bình dân Aán độ, chúng ta sẽ không ngần ngại gì mà không chọn cửa hàng sang trọng kia. Cũng giống như vậy, ở đây chúng ta có cơ hội để kinh nghiệm niềm an lạc vô biên 5 sao trong hệ thần kinh của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cứ chọn cái quán tồi tàn kia. Tại sao? Lý do chính yếu là chúng ta còn bám víu vào tình cảm của chúng ta, vào những thói quen và những ý niệm sai lầm đã tích tụ trong chúng ta. Sự kiện này cho chúng ta biết chúng ta đã vô minh u tối như thế nào và hệ thần kinh của chúng ta thực sự ra sao. Hãy tìm hiểu xem sao, hãy thử suy nghĩ xem sao, quý vị sẽ nhận ra, qúy vị sẽ nhìn thấy!
Và giờ đây nước cam lồ không những chỉ tràn ngập trong hệ thần kinh của Heruka Vajrasattva mà nó còn tràn ngập trong vị Thiền Phật Akshobya (A súc bệ Phật) nữa, Ngài đang ngự trên đỉnh đầu của Vajrasattva. Có nhiều cách để diễn tả trạng thái này, nhưng ở đây chỉ nên hiểu rằng Heruka Vajrasattva đang ở trong dòng đại lạc của A súc bệ Phật. Nên biết rằng trong lễ quán đảnh sẽ có một lúc mà chúng ta sẽ khám phá ra vị thiền Phật nào mà chúng ta cảm thấy gần nhất, thích hợp nhất, có duyên nhất trong 5 vị thiền Phật, rồi sau đó, chúng ta nên gìn giữ sự liên lạc với dòng năng lượng của vị Phật này. Sự cảm nhận của chúng ta có liên hệ đến điều đó.
Đã chấp nhận sự quán đảnh, chư Phật đã hòa nhập vào thánh tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva, niềm đại lạc tiên thiên của các ngài trở nên là một và không bao giờ xa rời Heruka Vajrasattva. Lại nữa, linh ảnh của chư vị quán đảnh Phật không bị phai nhòa đi mà sẽ hòa nhập vào trái tim của Heruka Vajrasattva, tâm đang tràn đầy tuệ lực và ơn phước, rất cần cho sự trưởng dưỡng, sự hòa nhập.
Tại trung tâm của vầng trăng nơi thánh tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva có chủng tử HUM, chung quanh là 100 mật tự của Ngài, đọc theo ngược chiều kim đồng hồ trên viền của vầng trăng.
HIẾN DÂNG VÀ CẦU NGUYỆN HERUKA VAJRASATTVA
OM VAJRASATTVA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM VAJRASATTVA OM AH HUM
Trong thần trí bất nhị, trong cảnh huy hoàng rực rỡ nơi nội tâm thanh tịnh của các bà mẹ của tất cả chúng sinh; trong niềm tuyệt diệu không thể thay đổi, trong niềm đại lạc viên mãn; cùng thần trí không thể huỷ hoại sẽ giải phóng tất cả chúng sinh khỏi mọi sự xấu của thân khẩu và ý, đặc biệt cho cả những lỗi lầm của lời nguyện ước này, thưa Thầy con xin qui y Thầy.
Đạo Tràng Bí Mật
Quan điểm chính xác của tánh không là sự hợp nhất trong tuệ lạc. Trí tuệ này chuyển biến vào núi Tu Di, mặt trời, mặt trăng và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Con xin dâng tất cả những gì tốt đẹp nhất lên cho Thầy, đấng tràn đầy lòng từ ái, đấng đã tự giải thoát và đang cứu giải muôn loài.
Nội Đạo tràng
Xin Ngài hãy giải thoát con và muôn loài chúng sinh ra khỏi biển trầm luân của tam độc ngay bây giờ, con xin dâng lên Ngài không một chút sợ hãi và không một chút gì bám víu vào tham lam, ganh ghét và vô minh; con xin dâng lên Ngài tất cả bạn con, kẻ thù của con và những người xa lạ với con; thân xác con đây cùng tất cả những gì con có. Kính xin Thầy chấp nhận.
Hãy hiến dâng tám phẩm vật như chúng ta đã làm ở trên. Tiếp theo là sự hiến dâng trong nội tâm.
Tâm trần tục, vọng tâm của chúng ta quan niệm tất cả các hiện tượng có thanh tịnh hoặc không thanh tịnh, có tốt và xấu, rồi chúng ta bám víu vào đó hoặc đeo đuổi chạy theo sự nhị nguyên của đối tượng mà cấu tạo nên tính cách vô thường của ngũ uẩn. Qua sự thực hành phương pháp du già chúng ta chuyển hóa ngũ uẩn của chúng ta vào đại lạc của trí siêu việt, trí này vượt ra ngoài nhị nguyên tính và đây chính là bản tính uyên nguyên của năm vị thiền phật, chúng ta hãy hiến dâng cho tuệ lạc này. Đó là lý do tại sao gọi là sự hiến dâng trong nội tâm.
Tiếp theo, chúng ta cầu nguyện trí siêu việt bất nhị, những bảo châu tráng lệ nội tại của tất cả các bà mẹ của tất cả chúng sinh, bản tính không thể thay đổi, đại lạc thường hằng. Đây chính là Heruka Vajrasattva, Ngài với quyền năng của tuệ lạc sẽ giải thoát tất cả các bà mẹ của tất cả chúng sinh thoát khỏi những nguồn năng lượng xấu của những hành động xấu của thân khẩu ý và ngay cả sự bất toàn của lời nguyện hứa này. Chúng ta qui y và khấn lạy trí thường hằng siêu việt .
Rồi chúng ta dâng mạn đà la. Trong lễ hiến dâng mạn đà la bí mật, chúng ta khấn nguyện rằng trí siêu việt, tánh không là sự hợp nhất của tuệ lạc, trí tuệ tự hữu. Tuệ này cũng chuyển hóa vào núi Tu Di, vào mặt trăng vào mặt trời và vào tất cả những hiện tượng trong vũ trụ. Chúng ta hiến dâng tất cả lên Heruka Vajrasattva, Ngài là biển nhân ái, Ngài đã tự giải thoát, Ngài sẽ cứu độ và giải thoát tất cả muôn loài chúng sinh.
phần đề nghị một đề cương biên dịch cho Đại tạng kinh Việt Nam
Cùng với Phong trào Chấn hưng Phật giáo dấy khởi ở khắp 3 miền Nam Trung Bắc, với các tạp chí Phật học như Từ Bi Âm (Nam, 1932), Viên Âm (Trung, 1933), Đuốc Tuệ (Bắc, 1935), công việc biên dịch 3 tạng Kinh, Luật, Luận từ tiếng Hán sang tiếng Việt để hình thành Đại tạng kinh Việt Nam đã được xúc tiến và nối tiếp.
Hơn 60 năm của thế kỷ XX, chúng ta đã phiên dịch được khá nhiều, nhưng do những điều kiện khách quan và chủ quan, Đại tạng kinh Việt Nam vẫn chưa được hoàn thành. Thế kỷ XXI đã đi qua được 4 năm, thời gian vẫn đang mở rộng trước mắt - mở rộng nhưng không phải là vô tận - vì hầu như không còn lý do gì để chần chừ, trì trệ; hoàn thành Đại tạng kinh Việt Nam phải là Phật sự hàng đầu của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Đại tạng kinh Việt Nam nói ở đây tức là Đại tạng kinh được biên chép bằng tiếng Việt Nam hiện đại (chữ Quốc ngữ), biên dịch từ cơ sở là 2 nguồn: Đại tạng kinh Nam truyền (tạng Pali) và Đại tạng kinh Bắc truyền (tạng Hán. Sau này có điều kiện sẽ tham khảo thêm tạng Tây Tạng).
Nơi bài viết Một vài suy nghĩ về Đại tạng kinh Việt Nam trước thế kỷ mới, in trong sách Phật giáo trong thế kỷ mới, tập 2, NXB Giao Điểm, Hoa Kỳ, 1997, tr. 301-322, chúng tôi đã biện giải khá chi tiết về một số vấn đề có tính lý luận, lịch sử và giá trị. Bài viết này chỉ xin bàn về mấy vấn đề có tính thực tiễn.
Trước hết là xin giới thiệu tóm lược nội dung của 2 Đại tạng kinh Nam truyền và Bắc truyền. Về Đại tạng kinh Nam truyền, chúng ta có thể tham khảo bài viết Tam tạng Thánh giáo Nam truyền của Thượng tọa Phước Sơn đăng ở Nguyệt san Giác Ngộ số 59, tháng 2-2001 (tr. 77-90), sau in trong sách Phật học cơ bản, tập 4. Hiện tình dịch thuật của Đại tạng kinh này, những công việc cần tiếp tục thực hiện v.v..., chúng tôi xin dành cho chư vị có thẩm quyền. Ở đây chỉ xin "góp phần đề nghị một đề cương biên dịch" đối với Đại tạng kinh chữ Hán.
Đại tạng kinh chữ Hán, chỉ nói về phần gốc, tức 3 tạng Kinh, Luật, Luận được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa, về nội dung, chúng tôi dựa theo bố cục của Đại tạng kinh Đại Chánh tân tu (ĐTK/ĐCTT) xin nêu vắn tắt như sau:
I. Tạng Kinh: Phân làm 9 bộ với 17 tập (không kể phần Mật giáo), mỗi tập theo khổ 22 x 27 với số trang từ 800 - 1.000 trang.
1. Bộ A Hàm: Gồm 2 tập 1 và 2, tập hợp các kinh mang số hiệu từ 1 đến 151.
2. Bộ Bản Duyên: Gồm 2 tập 3, 4 với các kinh mang số hiệu từ 152 đến 219.
3. Bộ Bát Nhã: Gồm 4 tập 5, 6, 7, 8, giới thiệu các kinh mang số hiệu từ 220 đến 261.
4. Bộ Pháp Hoa: Gồm non nửa tập 9, giới thiệu các kinh mang số hiệu từ 262 đến 277.
5. Bộ Hoa Nghiêm: Gồm hơn nửa tập 9 và tập 10, tập hợp các kinh mang số hiệu từ 278 đến 309.
6. Bộ Bảo Tích: Gồm tập 11 và 1/3 tập 12, tập hợp các kinh mang số hiệu từ 310 đến 373.
7. Bộ Niết Bàn: Gồm 2/3 tập 12, tập hợp các kinh mang số hiệu từ 374 đến 396.
8. Bộ Đại Tập: Gồm 1 tập 13, giới thiệu các kinh mang số hiệu từ 397 đến 424.
9. Bộ Kinh Tập: Gồm 4 tập 14, 15, 16, 17, tập hợp các kinh mang số hiệu từ 425 đến 847.
II. Tạng Luật: Gồm 3 tập 22, 23, 24, tập hợp giới thiệu toàn bộ hệ thống Luật tạng của các bộ phái, mang số hiệu từ 1421 đến 1504. (Khoảng cách về số hiệu từ Kinh: 847 sang Luật: 1421 là 4 tập 18, 19, 20, 21 giới thiệu về Mật giáo).
III. Tạng Luận: Phân làm 5 bộ, 8 tập (từ tập 25 đến 32).
1. Bộ Thích kinh luận: Gồm 1 tập 25 và 1/3 tập 26, tập hợp các luận với nội dung là giải thích kinh, mang số hiệu từ 1505 đến 1535.
2. Bộ Tỳ đàm: Gồm 2/3 tập 26, các tập 27, 28, 29, tập hợp các luận thuộc hệ A tỳ đàm, mang số hiệu từ 1536 đến 1563.
3. Bộ Trung quán: Gồm 1/3 tập 30, tập hợp các luận thuộc hệ Trung quán, mang số hiệu từ 1564 đến 1578.
4. Bộ Du già: Gồm 2/3 tập 30 và tập 31, giới thiệu các luận thuộc hệ Du già - Duy thức, mang số hiệu từ 1579 đến 1627.
5. Bộ Luận tập: Gồm 1 tập 32, tập hợp các luận và luận thích mang số hiệu từ 1628 đến 1692, không thể sắp vào 4 bộ kể trên.
Số lượng như vậy là quá nhiều và hết sức phong phú. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lý, trong quá trình chuyển dịch để hoàn thành Đại tạng kinh chữ Hán, chúng ta cần lưu ý mấy điểm:
* Thứ 1: Dịch trùng. Tức một bản kinh chữ Phạn có nhiều bản Hán dịch, ra đời vào những thời gian khác nhau. Ví như kinh Duy Ma có 3 bản Hán dịch, kinh Kim Cương có 6 bản Hán dịch, kinh A Di Đà có 2 bản Hán dịch, Bát Nhã Tâm kinh có 7 bản Hán dịch v.v... (chỉ căn cứ theo số lượng còn lưu truyền, được ĐTK/ĐCTT tập hợp).
* Thứ 2: Kinh chính và kinh Biệt hành: Kinh chính là kinh đầy đủ, gồm nhiều quyển. Kinh Biệt hành là những mảng kinh rời, ngắn, thường là 1 phẩm, 1 đoạn của kinh chính kia, hầu hết được dịch trước kinh chính. Ví dụ một số kinh Biệt hành của kinh Hoa Nghiêm:
- Kinh Tiểu Thập Trụ, 1 quyển, N0 283: là phẩm Thập trụ nơi kinh Hoa Nghiêm (phẩm thứ 15).
- Kinh Đại Thập Trụ, 4 quyển, N0 285: là phẩm Thập địa (phẩm thứ 26).
- Kinh Đẳng Mục Bồ Tát Sở Vấn Tam Muội, 3 quyển, N0 288: là phẩm Thập định (phẩm thứ 27).
- Kinh Độ Thế, 6 quyển, N0 292: là phẩm Ly thế gian (phẩm thứ 38) v.v...
Tất cả các kinh chính, Biệt hành, dịch trùng, đều được ĐTK/ĐCTT tập hợp đủ cả.
* Thứ 3: Về chất lượng của một số bản Hán dịch:
Ở đây không hề có ý khen chê, mà chỉ nêu lên một sự kiện có tính lịch sử. Được dịch vào giai đoạn đầu, người cộng tác ít, câu văn dịch còn đang ở giai đoạn hình thành, từ ngữ cũng như thuật ngữ Phật học còn đang dò dẫm, nội dung lại bàn về các vấn đề cao siêu, vi tế, nên một số bản kinh Hán dịch rất khó đọc, khó lĩnh hội. Đáng kể nhất cho trường hợp này là Pháp sư Trúc Pháp Hộ (226-304). Pháp sư Trúc Pháp Hộ được xem là một trong 3 dấu mốc tiêu biểu nơi quá trình dịch thuật và hoàn thành Đại tạng kinh chữ Hán nói chung, kinh điển Hán tạng nói riêng. (Hai dấu mốc kia là Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413) và Pháp sư Huyền Tráng (602-664). Đóng góp của Pháp sư Trúc Pháp Hộ cho Đại tạng kinh chữ Hán là rất lớn. Pháp sư đã dịch đến 95 tên kinh gồm 208 cuốn, nhưng do các yếu tố như vừa nêu, nên một số lượng khá nhiều bản kinh Hán dịch của Pháp sư đã thuộc vào loại rất khó lĩnh hội.
Từ 3 điểm cần lưu ý như thế, chúng ta có thể đưa ra một kết luận mang tính khẳng định: Trong tiến trình chuyển dịch 3 tạng Kinh, Luật, Luận chữ Hán sang chữ Việt để góp phần hoàn thành Đại tạng kinh Việt Nam, chúng ta không nên dịch toàn bộ mà chỉ chọn dịch. Đây là điều mà người Nhật đã làm. Người Nhật đã dựa vào ĐTK/ĐCTT, chọn dịch để hoàn thành Đại tạng kinh Nhật Bản và đó là một tham khảo tốt cho chúng ta. Vậy tham khảo và chọn dịch như thế nào? Chúng tôi xin đi sâu hơn vào nội dung của từng phần, từng bộ, và cũng xin đề xuất hướng chọn dịch cụ thể:
IV. Tạng Kinh:
1. Bộ A Hàm: Bộ A Hàm gồm 2 phần chính và rời. Phần A Hàm chính tức gồm 4 bộ kinh A Hàm:
* Trường A Hàm: Mang số hiệu 1, gồm 22 quyển với 30 kinh, Hán dịch là 2 Đại sư Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm, tương đương với kinh Trường Bộ (Dìgha-Nikàya) của tạng Pali.
* Trung A Hàm: Mang số hiệu 26, gồm 60 quyển với 222 kinh, Hán dịch là Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà, tương đương với kinh Trung Bộ (Majjhima-Nikàya) của tạng Pali.
* Tạp A Hàm: Mang số hiệu 99, gồm 50 quyển với 1.362 kinh ngắn, Hán dịch là Đại sư Cầu Na Bạt Đà La, tương đương với kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta-Nikàya) của tạng Pali.
* Tăng Nhất A Hàm: Mang số hiệu 125, gồm 51 quyển, 52 phẩm với 471 kinh và phẩm tự, Hán dịch là Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà, tương đương với kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara-Nikàya).
Phần A Hàm rời tức các kinh ngắn, về nội dung hầu hết đều có mặt trong 4 bộ kinh chính kia, nhưng đã được dịch riêng, lẻ tẻ, phần lớn được dịch từ đời Tây Tấn (265-317) trở về trước:
- Các kinh mang số hiệu từ 2 đến 25: là Trường A Hàm rời.
- Các kinh mang số hiệu từ 27 đến 98: là Trung A Hàm rời.
- Các kinh mang số hiệu từ 100 đến 124: là Tạp A Hàm rời. Riêng kinh Ương Quật Ma La có 3 bản Hán dịch: 118, 119, 120, nên chọn 1 bản 118, bỏ bớt 2 bản kia).
- Các kinh mang số hiệu từ 126 đến 151: là Tăng Nhất A Hàm rời.
Học giả Lương Khải Siêu (1873-1929) trong bài viết Bàn về bốn bộ A Hàm đã đưa ra 6 điểm để nhấn mạnh về tầm quan trọng của 4 bộ kinh ấy. Xin trích 2 điểm sau (5, 6):
- A Hàm chẳng những không xung đột với kinh điển Đại thừa (Bắc truyền) mà giáo nghĩa Đại thừa được cưu mang trong đó không ít.
- A Hàm trình bày rất nhiều về tình hình xã hội đương thời. Đọc A Hàm có thể biết được hoàn cảnh sinh hoạt của Đức Thế Tôn và Ngài đã có những nỗ lực để ứng cơ giáo hóa như thế nào... (dẫn theo: Định Huệ dịch. Tập văn Suối Nguồn, số 4, Vu lan 1999).
Do tính chất quan trọng như vậy nên theo chúng tôi, về bộ A Hàm nên Việt dịch hết, cả phần chính và phần rời. Các kinh ngắn nơi phần A Hàm rời sẽ góp phần soi sáng thêm cho các kinh ở phần chính. Ví như kinh Thiện Sinh (còn gọi là kinh Thiện Sinh Tử, kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ), một bản kinh ngắn nhưng rất tiêu biểu, nêu bày quan điểm của Phật giáo về một số vấn đề thuộc nhân sinh - xã hội, có mặt cả ở điển tịch Nam truyền và Bắc truyền. Nơi Kinh tạng Nam truyền, kinh ấy được ghi lại trong kinh Trường Bộ, kinh số 31, có tên là kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt (kinh Trường Bộ, tập 2, HT. Minh Châu dịch, 1991, tr. 529-547). Nơi Hán tạng, kinh này ngoài 2 bản được ghi lại nơi kinh Trường A Hàm, kinh số 16, quyển 11) và kinh Trung A Hàm (kinh số 135, quyển thứ 33), còn có 2 bản Hán dịch nữa: Một do Đại sư An Thế Cao dịch, mang tên kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ, N0 16, 1 quyển. Một do Đại sư Chi Pháp Độ dịch, mang tên kinh Thiện Sinh Tử, N0 17, 1 quyển, đều nằm trong phần Trường A Hàm rời. Một sự dồi dào như thế sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu.
2. Bộ Bản Duyên: Gồm 2 phần: Các kinh viết về lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và mảng kinh viết về tiền thân (tiền thân Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, chư vị Bồ tát, các vị đại đệ tử của Phật Thích Ca).
a) Các kinh viết về lịch sử: gồm 14 kinh, kệ tán, sưu tập, mang số hiệu từ 184 đến 197. Có mấy điểm đáng chú ý:
* Ngoài yếu tố lịch sử vẫn luôn được tôn trọng, các kinh thuộc phần này đều có những chi tiết tô đậm khía cạnh linh diệu, kỳ vĩ, mang tính tượng trưng, ẩn dụ cao, cũng là điều thường gặp nơi phần lớn các kinh thuộc Phật giáo Bắc truyền.
* Về niên đại xuất gia - thành đạo của Đức Bổn Sư:
- Các kinh mang số hiệu 184, 185, 189 (Kinh Tu Hành Bản Khởi, 2 quyển, Hán dịch là Trúc Đại Lực và Khang Mạnh Tường, dịch vào đời Hậu Hán (25-220). Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, 1 quyển, Hán dịch là cư sĩ Chi Khiêm, dịch vào đời Đông Ngô (229-280). Kinh Quá Khứ - Hiện Tại Nhân Quả, 4 quyển, Hán dịch là Đại sư Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống (420-478) đã nêu rõ: 17 tuổi kết hôn với công chúa Da Du Đà La, 19 tuổi xuất gia, 25 tuổi thành đạo. Đây có thể là những tư liệu căn bản để các nhà nghiên cứu về Hán tạng thuộc những thế hệ trước hình thành kiến giải: Theo Phật giáo Bắc truyền, Đức Phật Thích Ca xuất gia năm 19 tuổi, thành đạo năm 25 tuổi.
- Kinh N0 195: Kinh Thập Nhị Du, 1 quyển, Hán dịch là Sa môn Ca Lưu Đà Dà, dịch vào đời Đông Tấn (317-419), là một bản kinh rất ngắn, giới thiệu sơ lược về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ghi rõ: 29 tuổi xuất gia, 35 tuổi thành đạo. Nhất là kinh N0 190: Kinh Phật Bản Hạnh Tập, 60 quyển, Hán dịch là Đại sư Xà Na Quật Đa, dịch vào đầu đời Tùy (580-618), là bộ kinh bề thế nhất thuộc Hán tạng viết về lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nơi các quyển 10, 12, 14, 16 đã cho thấy niên đại xuất gia và thành đạo là 29 tuổi và 35 tuổi.
Như thế, nơi bộ Bản Duyên thuộc Hán tạng đã có ít nhất là 2 kinh nêu rõ về niên đại xuất gia, thành đạo của Phật Thích Ca giống với Phật giáo Nam truyền. Hầu hết các nhà nghiên cứu Phật học hiện đại đều theo thuyết ấy: 29 tuổi xuất gia, 35 tuổi thành đạo, 80 tuổi nhập Niết bàn.
Về phần này, chọn dịch nên bỏ bớt kinh N0 186: Kinh Phổ Diệu, 8 quyển, Hán dịch là Pháp sư Trúc Pháp Hộ, dịch vào đời Tây Tấn (265-317). Kinh này có 2 bản Hán dịch. Chúng ta chọn bản sau, N0 187: Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, 12 quyển, Hán dịch là Đại sư Địa Bà Ha La (613-687), dịch vào đời Đường (618-906).
* Các tác phẩm: N0 192: Phật Sở Hành Tán, thi kệ, tác giả là Bồ tát Mã Minh, 5 quyển, Hán dịch là Đại sư Đàm Vô Sấm, dịch vào đời Bắc Lương (397-439); N0 193: Kinh Phật Bản Hạnh, thi kệ, 7 quyển, Hán dịch là Đại sư Bảo Vân, dịch vào đời Lưu Tống (420-478) là 1 dị dịch của tác phẩm Phật Sở Hành Tán; N0 194: Kinh Tăng Già La Sát Sở Tập, do Đại sĩ Tăng Già La Sát (Samgharaksa) soạn tập, Hán dịch là Đại sư Tăng Già Bạt Trừng, dịch vào đời Phù Tần (351-394), là những thi kệ, soạn thuật viết về lịch sử Đức Phật Thích Ca, nổi bật nhất là Phật Sở Hành Tán. Đây là tác phẩm thi ca đầu tiên thuộc Phật giáo Bắc truyền ghi nhận mô tả về cuộc đời Đức Bổn Sư. Phật Sở Hành Tán qua bản Hán dịch của Đại sư Đàm Vô Sấm gồm 5 quyển, 28 phẩm, với 9.216 câu thơ 5 chữ, là một thành tựu rất đáng kể trong nỗ lực “thi ca hóa” cuộc đời của Đức Bổn Sư. (Xem thêm bài viết của chúng tôi: Phật Sở Hành Tán, tác phẩm thi ca..., Nguyệt san Giác Ngộ, số 26, tháng 5-1999).
Ba tác phẩm trên, nên chọn dịch mỗi Phật Sở Hành Tán.
b) Mảng kinh viết về tiền thân: gồm 54 kinh ngắn, vừa, còn lại nơi bộ Bản Duyên. Có mấy ghi nhận:
* Đây là mảng kinh mang đậm tính chất văn học hơn hết, đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với văn học Trung Quốc, là điều đã được học giả Lương Khải Siêu khẳng định. Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), nơi sách Sử Trung Quốc, phần bàn về tiểu thuyết đời Đường, đã cho: “Nhờ đọc kinh Phật, trong đó chép đời nhiều vị Phật, nhiều truyện tưởng tượng nên văn nhân Trung Quốc bắt chước lối viết truyện của Ấn Độ” (Sử Trung Quốc, tập 1, NXB Văn Hóa, 1997, tr. 351). Kinh Phật mà ông Nguyễn nói đến ấy chính là phần kinh viết về tiền thân nơi bộ Bản Duyên.
* Một số truyện tiền thân mang dáng dấp thần thoại nên đã chịu ảnh hưởng theo hệ thần thoại của Ấn Độ. Một số truyện khác, khi mô tả, phản ánh các sự việc, các tương quan về xã hội, nhân sinh, cũng không vượt qua yếu tố thời đại, yếu tố lịch sử, khiến chúng hầu như không còn thích hợp theo cách nhìn của con người trong xã hội hôm nay chăng? Đây là vấn đề cần được các nhà nghiên cứu Phật học Việt Nam hiện đại soi sáng đối chiếu, biện minh để tìm ra những lý giải hợp lẽ.
* Một số truyện tiền thân mô tả về quá trình hành hóa độ sinh của Đức Bổn Sư thuộc loại “siêu việt”, nên cần được lĩnh hội theo ý nghĩa tượng trưng thuộc phạm trù “không thể nghĩ bàn”. Đó là những “nhân không thể nghĩ bàn” (tiền thân) để dẫn tới “quả không thể nghĩ bàn” là thành tựu đạo quả Bồ đề Vô thượng. Tóm lại, ở phần này, người đọc kinh, học kinh, nói như HT. Thiện Siêu là phải có “con mắt trạch pháp”.
Chọn dịch nơi mảng kinh viết về tiền thân, nên bỏ bớt:
* N0 1578: Kinh Đại Bi Phân Đà Lợi, 8 quyển, Hán dịch: Mất tên người dịch. Kinh này đã có bản Hán dịch của Đại sư Đàm Vô Sấm: Kinh Bi Hoa, N0 157, 10 quyển, (văn nơi kinh N0 1578 hầu hết đều tối nghĩa, khó đọc).
* N0 160: Luận Bồ Tát Bản Sinh Man, 16 quyển, Hán dịch: Đại sư Thiệu Đức, Huệ Tuân. Luận này gồm 2 phần: 4 quyển đầu kể về tiền thân Phật (14 truyện), từ quyển 5 - 16 là một thứ “thơ biện giải”, phần nhiều mỗi câu 8 chữ, nội dung rất dàn trải, mơ hồ. Có thể giữ lại 4 quyển đầu, bỏ 12 quyển sau.
3. Bộ Bát Nhã: Gồm 2 phần: chính và Biệt hành.
A. Phần chính: Tức kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (Mahà Prajnà pàramita-Sùtra), mang số hiệu 220, gồm 600 quyển (chiếm 3 tập 5, 6, 7 nơi ĐTK/ĐCTT), Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602-664), dịch vào đời Đường, cụ thể là từ tháng Giêng năm 660 đến tháng 10 năm 663, và đó là công trình lớn sau cùng của Pháp sư Huyền Tráng, vì tháng 2 năm sau (664) thì Pháp sư viên tịch. Kinh được thuyết giảng tại 4 nơi (xứ) với 16 hội:
- Núi Linh Thứu, thuộc thành Vương Xá: 7 hội (hội 1, 2, 3, 4, 5, 6, 15).
- Khu Lâm viên Kỳ Đà - Cấp Cô Độc: 7 hội (hội 7, 8, 9, 11, 12, 13, 14).
- Cung trời Tha Hóa Tự Tại: 1 hội (hội 10).
- Gần ao Bạch Lộ trong tinh xá Trúc Lâm, thành Vương Xá: 1 hội (hội 16). Hội dài nhất là hội 1 gồm 400 quyển. Các hội, 8, 9, 13, mỗi hội chỉ gồm 1 quyển.
Căn cứ theo 16 hội, thì: - 9 hội: 1, 3, 5, 11, 12, 13, 14, 15, 16 gồm 481 quyển là phần Pháp sư Huyền Tráng dịch mới. - 7 hội: 2, 4, 6, 7, 8, 9, 10 gồm 119 quyển đã có các vị thuộc thế hệ trước dịch rồi, Pháp sư Huyền Tráng dịch lại. (Có một số kinh được dịch sau Pháp sư Huyền Tráng).
Cần chú ý là về các thuật ngữ, một số địa danh, nhân danh, Pháp sư Huyền Tráng đã sử dụng nơi bộ kinh này, hoặc theo lối phiên âm, hoặc theo cách dịch ý, có khác so với các dịch giả đi trước:
- Bạc Già Phạm (Thế Tôn).
- Mười tôn hiệu của Phật: Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật - Bạc Già Phạm.
- Bốn chúng đệ tử: Bí sô, Bí sô ni, Ô ba sách ca, Ô ba tư ca.
- Tám bộ chúng hộ pháp: Thiên, Long, Dược xoa, Kiền đạt phược, A tố lạc, Yết lộ đồ, Khẩn nại lạc, Ma hô lạc già.
- Sáu Ba la mật: Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát nhã.
- Ba đường ác: Địa ngục, Quỷ giới, Bàng sanh.
- Hữu tình (chúng sanh) Dị sanh (phàm phu) Cụ thọ (Tôn giả) Đỗ đa (đầu đà) Tát ca da kiến (thân kiến) Tốt đổ ba (tháp) Thiết lợi đa (xá lợi) Du thiện na (do tuần) Nhất sanh sở hệ (Nhất sanh bổ xứ) Rừng Thệ Đa (rừng Kỳ Đà) Thất La Phiệt (Xá Vệ) Căng già (sông Hằng)...
Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa đã được HT. Trí Nghiêm Việt dịch và đã được biên tập, dò lại tạm gọi là hoàn chỉnh.
B. Phần Biệt hành: Tức nơi tập 8 ĐTK/ĐCTT. Có 3 chi tiết:
a) Các kinh Biệt hành: gồm:
- N0 221: Kinh Phóng Quang Bát Nhã: 20 quyển, Hán dịch là Đại sư Vô La Xoa, dịch vào đời Tây Tấn (265-317) thuộc về hội thứ 2 nơi kinh chính (gồm 78 quyển, từ quyển 401 - 478).
- N0 222: Kinh Quang Tán Bát Nhã: 10 quyển, Hán dịch là Pháp sư Trúc Pháp Hộ, dịch vào đời Tây Tấn, cũng thuộc về hội thứ 2 nơi kinh chính.
- N0 223: Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật: 27 quyển, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập, dịch vào đời Hậu Tần (384-417), cũng thuộc về hội thứ 2.
- N0 224: Kinh Đạo Hành Bát Nhã, 10 quyển, Hán dịch là Đại sư Chi Lâu Ca Sấm, dịch vào đời Hậu Hán (25-220), thuộc về hội thứ 4 (gồm 18 quyển, từ quyển 538 - 555).
- N0 225: Kinh Đại Minh Độ, 6 quyển, Hán dịch là cư sĩ Chi Khiêm, dịch vào đời Đông Ngô (229-280), thuộc về hội thứ 4.
- N0 226: Kinh Ma Ha Bát Nhã Sao, 5 quyển, Hán dịch là Đại sư Đàm Ma Bì và Trúc Phật Niệm, dịch vào đời Phù Tần (351-394), thuộc về hội thứ 4.
- N0 227: Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã, 10 quyển, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập, cũng thuộc về hội thứ 4...
Nói chung, các kinh Biệt hành này, kể cả một số kinh được dịch sau Pháp sư Huyền Tráng, đều có nơi kinh chính.
Về phần các kinh Biệt hành, ở đây. Chỉ nên Việt dịch 2 kinh N0 223 và N0 227 do Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch. Kinh N0 223: Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, 27 quyển (còn gọi là kinh Đại Phẩm Bát Nhã) đã được HT. Trí Tịnh Việt dịch. Và xin nhắc lại: Bộ luận Đại Trí Độ (N0 1509, 100 quyển) của Bồ tát Long Thọ chính là giải thích kinh Đại Phẩm Bát Nhã ấy.
b) Kinh Kim Cương: Kinh Kim Cương vốn là 1 hội trong kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa: hội thứ 9, quyển 577, mang tên là “Phần Năng Đoạn Kim Cương”, do tính chất quan trọng nên đã được tách riêng ra và Hán dịch rất sớm. Như vậy, kinh Kim Cương, ngoài bản dịch của Pháp sư Huyền Tráng, còn có 5 bản Hán dịch nữa, 4 bản dịch trước và 1 bản dịch sau:
- N0 235: Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, 1 quyển, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập.
- N0 236: Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, dịch vào đời Hậu Ngụy (đầu thế kỷ thứ VI TL).
- N0 237: Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Chân Đế, dịch vào đời Trần (giữa thế kỷ thứ VI TL).
- N0 238: Kinh Kim Cương Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Cấp Đa, dịch vào đời Tùy (580-618).
- N0 239: Kinh Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Nghĩa Tịnh, dịch vào đời Đường, đầu thế kỷ thứ VIII.
Trong ấy, bản dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập ra đời sớm nhất và cũng là bản dịch có giá trị và được biết đến nhiều nhất.
Các bản Việt dịch kinh Kim Cương hiện có đều dịch từ bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập. Nên Việt dịch luôn 4 bản Hán dịch kia.
c) Tâm kinh Bát Nhã:
Xuất xứ của Tâm kinh Bát Nhã được tìm thấy ít nhất là ở 6 đoạn nơi kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa, rõ nhất là nơi phẩm thứ 3: phẩm Tương ưng, phần 1, thuộc quyển 4 (ĐTK/ĐCTT, tập 5, tr. 22A - 22B). (Xem thêm bài viết của chúng tôi: Giới thiệu kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa, nguyệt san Giác Ngộ số 24, 25, tháng 3-4/1998).
Tâm kinh Bát Nhã mà người Phật tử thường đọc tụng là theo bản Hán dịch của Pháp sư Huyền Tráng (N0 251, ĐTK/ĐCTT, tập 8, tr. 848C). Ngoài ra, còn có 6 bản Hán dịch Tâm kinh Bát Nhã nữa, mang số hiệu 250, 252, 253, 254, 255, 257, trong đó, bản N0 250 là của Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch, 5 bản còn lại đều được dịch sau Pháp sư Huyền Tráng, và đều có phần mở đầu (Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại...) cùng phần kết thúc (đại chúng nghe kinh, hoan hỷ phụng hành).
Nên chọn dịch thêm bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập.
4. Bộ Pháp Hoa: Gồm 2 phần chính và liên hệ.
A. Phần chính: Tức kinh Pháp Hoa với 3 bản Hán dịch:
- N0 262: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 7 quyển, 28 phẩm, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập. Đây là bản Hán dịch phổ cập nhất. Toàn bộ các bản Việt dịch kinh Pháp Hoa hiện có đều dịch từ bản Hán dịch này.
- N0 263: Kinh Chánh Pháp Hoa, 10 quyển, 27 phẩm, Hán dịch là Pháp sư Trúc Pháp Hộ. Đây là bản Hán dịch đầu tiên về kinh Pháp Hoa.
- N0 264: Kinh Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa, 7 quyển, 27 phẩm, Hán dịch là 2 Đại sư Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa, dịch vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI TL, đời Tùy (580-618). Có mấy ghi nhận:
a) Bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập gồm 28 phẩm, tức có thêm phẩm Đề Bà Đạt Đa (phẩm 12), 2 bản Hán dịch kia không có. Việc tách phần nói về Đề Bà Đạt Đa thành 1 phẩm riêng không phải là không có lý do chính đáng. Ngay nơi kinh Tát Đàm Phân Đà Lợi (N0 265, ĐTK/ĐCTT, tập 9), số lượng chỉ hơn 1 trang ĐTK, là một đoạn rất ngắn của kinh Pháp Hoa cũng đã nói đến phẩm Đề Bà Đạt Đa. Còn theo học giả người Nhật Nikkyo Niwano thì phẩm ấy là nói về “sự lớn lao và toàn hảo của giáo lý Đức Phật...” (Đạo Phật ngày nay, Trần Tuấn Mẫn dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản, 1997, tr. 320).
b) Bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập đã đặt phẩm Chúc lụy ở phẩm 22, sau đấy còn 6 phẩm nữa, và phẩm cuối kinh (phẩm 28) là “Phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát”. (Trong khi 2 bản Hán dịch kia thì phẩm Chúc lụy được đưa xuống cuối kinh). Một số nhà nghiên cứu, chú giải kinh Pháp Hoa đã có ý kiến về vị trí gọi là không hợp lý của phẩm Chúc lụy nơi bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập. Nhưng học giả Nikkyo Niwano đã đưa ra những biện giải rất có lý để xác nhận tính chất logic của sự việc ấy (Sđd, tr. 691 - 692).
c) Pháp sư Cưu Ma La Thập đã dịch rất chuẩn tên của vị Bồ tát Avalo Kitesvara trong tiếng Phạn là “Bồ tát Quan Thế Âm”. Trước đó, nơi bản Hán dịch của mình, Pháp sư Trúc Pháp Hộ đã dịch là Bồ tát Quang Thế Âm ( ) với hàm nghĩa là vị Bồ tát luôn có ánh sáng ứng hợp với mọi âm thanh nơi thế gian. Sau này, Pháp sư Huyền Tráng đã dịch là Quán Tự Tại. Cũng nên kể thêm, Đại sư Trí Huệ Luân, đời Đường, nơi bản Hán dịch Tâm kinh Bát Nhã của mình, đã dịch là Bồ tát Quan Thế Âm Tự Tại (ĐTK/ĐCTT, T8, tr. 850A-850B).
d) Phẩm “Phổ Môn” nơi bản Hán dịch của Pháp sư Trúc Pháp Hộ không có kệ. Còn nơi bản Hán dịch đời Tùy thì cả phần văn xuôi và kệ đều y như bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập (tên của 27 phẩm nơi bản Hán dịch ấy cũng dùng lại y như bản Hán dịch đời Hậu Tần).
Bài kệ nơi phẩm Phổ Môn gồm 104 câu 5 chữ, nhìn ở góc độ văn học là một thành tựu tuyệt vời trong sự kết hợp hài hòa giữa thi ca, âm nhạc, hội họa và triết lý. Học giả Lương Khải Siêu đã gọi Pháp sư Cưu Ma La Thập là “ông vua trong giới phiên dịch” là rất xác đáng.
Kinh Pháp Hoa, xét về mặt số lượng thì chỉ là một bộ kinh thuộc loại vừa, nhưng về mặt tư tưởng với việc thuyết minh cùng khẳng định về giáo pháp Nhất thừa, khẳng định khả tính giác ngộ nơi mọi chúng sinh - kể cả những kẻ xấu ác nhất v.v... nên hầu hết các nhà nghiên cứu xưa nay đều xác nhận đấy là một bộ kinh vĩ đại của Phật giáo Bắc truyền. Cứ nhìn vào số lượng các sách chú giải, giảng luận về kinh Pháp Hoa hiện có trong ĐTK/ĐCTT cũng đủ thấy bộ kinh ấy đã được chú trọng và có ảnh hưởng lớn như thế nào. Về phương diện kế thừa và phát huy, kinh Pháp Hoa được xem là nền tảng giáo pháp của tông Thiên Thai với những xiển dương của Đại sư Trí Khải (538-597).
Kinh Pháp Hoa theo bản Hán dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập đã được Việt dịch khá sớm và nhiều. Nên dịch cả 2 bản Hán dịch kia.
B. Phần liên hệ: Gồm các kinh mang số hiệu từ 265 đến 277, nên Việt dịch hết.
5. Bộ Hoa Nghiêm: Cũng gồm 2 phần chính và Biệt hành.
A. Phần chính: Gồm 3 bộ Hoa Nghiêm:
a)N0 278: Kinh Hoa Nghiêm, bản 60 quyển, 34 phẩm, 7 xứ (nơi chốn thuyết giảng), 8 hội, Hán dịch là Đại sư Phật Đà Bạt Đà La (359-429) dịch vào năm 418, cuối đời Đông Tấn (317-419).
b) N0 279: Kinh Hoa Nghiêm, bản 80 quyển, 39 phẩm, 7 xứ, 9 hội, Hán dịch là Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652-710) dịch vào năm 695-699, đời Đường (Võ Tắc Thiên, 624-705). Đây là bản Hán dịch đầy đủ nhất về kinh Hoa Nghiêm.
c) N0 293: Kinh Hoa Nghiêm, bản 40 quyển, Hán dịch là Đại sư Bát Nhã (734-?) dịch vào năm 796-798 đời vua Đường Đức Tông. Từ quyển 1 - 39 tương đương với phẩm 39 (phẩm Nhập pháp giới, bản 80 quyển), quyển 40 tương đương với phẩm 36 (phẩm Phổ Hiền hạnh).
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh vĩ đại bậc nhất của Phật giáo Bắc truyền, xét về mặt số lượng, cách thế diễn đạt và tư tưởng. Phẩm Nhập pháp giới là một phát hiện, một soi sáng kỳ diệu, độc nhất vô nhị về hành trình giác ngộ, giải thoát của con người. Giáo sư D.T. Suzuki viết: “Còn về kinh Hoa Nghiêm, đấy quả thực là một toàn hảo của tư tưởng Phật giáo. Theo ý tôi, không có một nền văn học tôn giáo nào trên thế giới có thể sánh kịp với sự lớn lao về quan niệm, sự sâu thẳm của cảm thụ và mức vĩ đại của sự biên soạn mà kinh này đạt được. Đấy là cái dòng suối vĩnh cửu của cuộc đời mà không một tâm thức nào có tính cách tôn giáo đến đó rồi quay về mà còn khao khát hay còn chưa hoàn toàn thỏa mãn” (Nghiên cứu kinh Lăng Già, Thích Chơn Thiện - Trần Tuấn Mẫn... dịch, 1992, tr. 110-111).
Về phương diện kế thừa và phát huy, kinh Hoa Nghiêm là giáo pháp căn bản của tông Hoa Nghiêm, người khởi xướng là Đại sư Pháp Thuận (577-640) với phát hiện về pháp quán “Chu biến hàm dung”, dẫn tới việc thành lập 10 Huyền môn nổi tiếng, là một lý giải, một quảng diễn sáng giá nhất, tuyệt vời nhất trong sứ mạng phát huy diệu lý duyên khởi.
Kinh Hoa Nghiêm, bản 80 quyển, đã được HT. Trí Tịnh Việt dịch từ lâu. Được sự đồng ý của HT., chúng tôi đã biên tập, dò lại rất kỹ lưỡng và có thể xem đấy là bản Việt dịch hoàn chỉnh về kinh Hoa Nghiêm 80 quyển. Nên dịch luôn cả 2 bản Hán dịch kia (bản 60 quyển và bản 40 quyển).
Có một điểm cần lưu ý: Nơi quyển 25 của bản 40 quyển, tương đương với quyển 72 của bản 80 quyển, thuộc phẩm Nhập pháp giới, có một vài chi tiết vô lý, mâu thuẫn, cần được xem lại và có thể lược bỏ để giữ nguyên giá trị cho bộ kinh.
B. Phần biệt hành: Gồm các kinh ngắn, vừa, mang số hiệu từ 280 đến 292, từ 294 đến 309, tất cả đều có nơi kinh chính 80 quyển, nên bỏ khỏi dịch, vì hầu hết đã có rồi, đã không phát hiện gì thêm mà nhiều bản biệt hành rất tối nghĩa, khó lĩnh hội. Chẳng hạn các kinh N0 288/3 (phẩm Thập định), kinh N0 292/6 (phẩm Ly thế gian) v.v... trong khi nơi kinh chính, văn sáng, nghĩa rõ, thì rất nhiều đoạn nơi các kinh ấy, người đọc không biết dịch giả muốn nói gì.
6. Bộ Bảo Tích: Gồm 2 phần chính và phần liên hệ.
A. Phần chính: Tức kinh Đại Bảo Tích (Mahàratnakùta-sùtra), N0 310, 120 quyển, 49 hội, do Đại sư Bồ Đề Lưu Chí (562-727) dịch và tập hợp các kinh đã được dịch từ trước. Công việc này được tiến hành từ năm 706, kéo dài trong 8 năm thì hoàn thành. Trong tổng số 49 hội, 120 quyển, thì:
* Các kinh được dịch từ trước: 23 hội, hơn 80 quyển.
* Các kinh do Đại sư Bồ Đề Lưu Chí dịch gồm 26 hội, hơn 39 quyển. Bảo Tích có nghĩa là tích tập các Pháp bảo, nên mỗi hội có thể xem như một bộ kinh với chủ đề riêng và có một vài trùng lặp với các bộ khác. Chẳng hạn:
* Hội thứ 46 mang tên: hội “Văn Thù thuyết Bát Nhã” gồm 2 quyển 115, 116, Hán dịch là Đại sư Mạn Đà La Tiên, dịch vào khoảng đầu thế kỷ thứ VI TL, đời Lương (502-556), chính là hội thứ 7 của kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (quyển 574, 575).
* Hội thứ 47 mang tên “Hội Bồ tát Bảo Kế” gồm 2 quyển 117, 118 do Pháp sư Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn thì trùng với kinh Đại Tập, quyển 25, 26, do Đại sư Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương (397-439).
Kinh Đại Bảo Tích đã được HT. Trí Tịnh Việt dịch và cũng đã được biên tập, dò lại tương đối hoàn chỉnh.
B. Phần liên hệ:
Các kinh thuộc hệ Bảo Tích mang số hiệu từ 311 đến 373 hầu hết đều có trong kinh Đại Bảo Tích, vậy chỉ nên dịch một số kinh sau đây:
* Kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng (gọi tắt là kinh Thắng Man), N0 353, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Cầu Na Bạt Đà La, dịch vào đời Lưu Tống (420-478). Kinh này thuộc hội 48 của kinh Đại Bảo Tích mang tên hội "Phu nhân Thắng Man”, 1 quyển, nhưng do tầm quan trọng của nội dung kinh nên cần được Việt dịch thêm, giúp các nhà nghiên cứu đối chiếu, tham khảo. (Hiện chúng ta đã có bản Việt dịch, chú giải công phu của HT. Trí Quang).
* Kinh Vô Lượng Thọ: N0 360, 2 quyển, Hán dịch là Đại sư Khương Tăng Khải, dịch vào đời Tào Ngụy (220-265).
* Kinh Đại A Di Đà: N0 364, 2 quyển, do cư sĩ Vương Nhật Hưu (?-1173) hiệu đính biên tập vào khoảng năm 1160-1162 đời Triệu Tống (960-1276).
* Kinh Quán Vô Lượng Thọ: N0 365, 1 quyển, Hán dịch là Đại sư Cương Lương Da Xá, dịch vào khoảng năm 424 đời Lưu Tống (420-478).
* Kinh A Di Đà: N0 366, 1 quyển, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập.
* Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ: N0 367, 1 quyển, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng, là một dị dịch của kinh A Di Đà.
Các kinh trên (360, 364, 365, 366, 367) là những kinh chủ yếu của tông Tịnh Độ và tín ngưỡng Tịnh độ. (2 kinh 360, 364 đều có nơi hội thứ 5 của kinh Đại Bảo Tích, mang tên: hội “Như Lai Vô Lượng Thọ”, gồm 2 quyển 17, 18).
7. Bộ Niết Bàn: Cũng gồm 2 phần: phần chính và phần liên hệ.
A. Phần chính: Tức kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahà-parinirvàna-sùtra) cũng là một bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền, thuyết minh về các giáo nghĩa như Như Lai thường trụ, chúng sinh đều có Phật tính, xiển đề đều thành Phật... Kinh này có 2 bản Hán dịch:
* Kinh Đại Bát Niết Bàn Bắc bản: N0 374, 40 quyển, 13 phẩm, do Đại sư Đàm Vô Sấm (385-433) Hán dịch vào khoảng năm 415-421 đời Bắc Lương.
* Kinh Đại Bát Niết Bàn Nam bản: N0 375, 36 quyển, 25 phẩm, do các Đại sư Huệ Nghiêm (363-443), Huệ Quán (thế kỷ V TL) và cư sĩ Tạ Linh Vận (385-433) dựa vào bản Hán dịch kinh Đại Bát Nê Hoàn của Đại sư Pháp Hiển (380-418/423), N0 376, 6 quyển, tham khảo Bắc bản của Đại sư Đàm Vô Sấm để tu đính, soạn thành vào khoảng sau năm 421 đầu đời Lưu Tống.
Sự kiện “Niết bàn” của Đức Bổn Sư đã được nói đến trong kinh Trường A Hàm (kinh số 2: kinh Du Hành, ĐTK/ĐCTT, T1, tr. 11A - 30B) và một số kinh thuộc Trường A Hàm rời (các kinh mang số hiệu 5, 6, 7), nhưng với kinh Đại Bát Niết Bàn, nội dung đã không dừng ở việc thuật lại giai đoạn sau cùng của cuộc đời Đức Thế Tôn, mà đã nhân nơi bối cảnh ấy thuyết minh, quảng diễn một số diệu lý then chốt như đã nêu trên.
Nên Việt dịch cả 2 bản Hán dịch kinh Đại Bát Niết Bàn.
B. Phần liên hệ:
Những kinh thuộc bộ Niết Bàn mang số hiệu từ 376 đến 396 nên Việt dịch hết.
8. Bộ Đại Tập: Cũng gồm 2: phần chính và phần liên hệ.
A. Phần chính: Là kinh Đại Phương Quảng Đại Tập (Mahàsamnipàta-sùtra), gọi tắt là kinh Đại Tập, N0 397, 60 quyển, 17 phẩm, Hán dịch do các Đại sư:
- Đàm Vô Sấm (385-433) dịch vào đời Bắc Lương, từ phẩm 1 đến phẩm 11 và phẩm 13, gồm 29 quyển.
- Trí Nghiêm (350-427) và Bảo Vân (376-449) dịch phẩm 12 (4 quyển) vào đời Lưu Tống.
- Đại sư Na Liên Đề Da Xá (490-589) dịch vào đời Cao Tề (550-576) gồm các phẩm 15, 16, 17 (15 quyển) và phẩm 14 gồm 12 quyển, dịch vào đầu đời Tùy (580-618).
Công việc sắp xếp này là do Đại sư Tăng Tựu thực hiện vào đời Tùy. Nội dung kinh Đại Tập thuyết minh về một số pháp tu tập của hạnh Bồ tát như Ba học, 6 Ba la mật, các pháp Tam muội, Tổng trì, cùng nhấn mạnh về sự nghiệp hộ pháp của 8 bộ chúng.
Có 2 điểm cần lưu ý:
- Một số đoạn nơi phần sau của phần Nhật tạng (phẩm 14, quyển 34 - 45), nội dung hoặc lạc đề, hoặc quá xa rời tính chất giác ngộ, giải thoát của Phật giáo, đề nghị lược bỏ.
- Đoạn cuối của phần Nguyệt tạng (phẩm 15, quyển 46 - 56) nêu việc phân công hộ trì Chánh pháp của chư vị trong 8 bộ chúng cùng các vị tiên, các ngôi sao trong “Nhị thập bát tú” v.v... cần được tóm lược, bỏ bớt.
B. Phần liên hệ: Các kinh thuộc bộ Đại Tập mang số hiệu từ 398 đến 424, chỉ nên Việt dịch các kinh:
* Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện: N0 412, 2 quyển, Hán dịch là Đại sư Thật Xoa Nan Đà, dịch vào đời Đường. (Đại sư Thật Xoa Nan Đà là dịch giả kinh Hoa Nghiêm, bản 80 quyển).
* Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội Phần: N0 415, 10 quyển, Hán dịch là Đại sư Đạt Ma Cấp Đa, dịch vào đời Tùy.
* Kinh Ban Chu Tam Muội: N0 418, 3 quyển, Hán dịch là Đại sư Chi Lâu Ca Sấm, dịch vào đời Hậu Hán.
* Kinh Đại Tập Hội Chánh Pháp: N0 424, 5 quyển, Hán dịch là Đại sư Thi Hộ, đời Triệu Tống.
9. Bộ Kinh Tập: Bộ này gồm 4 tập 14, 15, 16, 17 của ĐTK/ĐCTT. Có mấy ghi nhận:
a) Nên tách và tập hợp các kinh ngắn, vừa, nói về Thiền, Quán thành một mảng và Việt dịch. Đó là các kinh mang số hiệu: 463, 464, 465, 466, 467 (tập 14), 602, 603, 604, 605, 609, 610, 611, 612, 613, 614, 616, 617, 618, 619, 620, 621, 622, 623, 624, 625, 627, 630, 631, 632, 633, 634 đến 648 (tập 15).
b) Đưa kinh Bột Kinh Sao (kinh Hiền Nhân), N0 790, 1 quyển, Hán dịch là cư sĩ Chi Khiêm (thế kỷ thứ III TL) lên bộ Bản Duyên, vì nội dung kinh này nói về tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni.
c) Đưa kinh Thủ Lăng Nghiêm, N0 945 (tập 19), 10 quyển, Hán dịch là Đại sư Bát Thích Mật Đế, dịch vào khoảng đầu thế kỷ VIII TL, đời Đường, lên bộ Kinh Tập.
d) Chúng tôi dựa theo sự lựa chọn của người Nhật về các kinh nên dịch (Việt dịch) thuộc bộ Kinh Tập này như sau (có nhắc tới các kinh đã được Việt dịch)(*):
* Tập 14: Các kinh mang số hiệu: 425 (8 quyển) 426 (1 quyển) 427 (1 quyển) 433 (1 quyển) 434 (3 quyển) 450 (1 quyển): Kinh Dược Sư, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng. 452 (1 quyển): Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh, Hán dịch là Thư Cừ Kinh Thanh, dịch vào đời Lưu Tống. 454 (1 quyển): Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập. 456 (1 quyển) 460 (1 quyển) 461 (2 quyển) 471 (1 quyển) 475 (3 quyển): Kinh Duy Ma, Hán dịch là Pháp sư Cưu Ma La Thập. 477 (1 quyển) 480 (1 quyển) 482 (4 quyển) 485 (4 quyển) 489 (20 quyển) 512 (1 quyển) 513 (1 quyển).
* Tập 15: 586 (4 quyển) 600 (1 quyển): Kinh Thập Thiện, Hán dịch là Đại sư Thật Xoa Nan Đà. 650 (2 quyển) 653 (3 quyển).
* Tập 16: 656 (14 quyển) 657 (10 quyển) 661 (1 quyển) 663 (4 quyển): Kinh Kim Quang Minh, Hán dịch là Đại sư Đàm Vô Sấm. 666 (1 quyển) 668 (1 quyển) 669 (2 quyển) 670 (4 quyển) 671 (10 quyển) 672 (7 quyển): 3 kinh 670, 671, 672 là kinh Lăng Già, với 3 bản Hán dịch của các Đại sư: Cầu Na Bạt Đà La (4 quyển), Bồ Đề Lưu Chi (10 quyển) và Thật Xoa Nan Đà (7 quyển). Nên Việt dịch hết 3 bản Hán dịch. 673 (2 quyển) 676 (5 quyển): Kinh Giải Thâm Mật, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng. 680 (1 quyển) 682 (2 quyển) 683 (1 quyển) 684 (1 quyển) 685 (1 quyển) 686 (1 quyển) 687 (1 quyển): Các kinh từ 684 đến 687 là các kinh ngắn nói về đạo Hiếu, trong ấy kinh 685 là kinh Vu Lan. (Xem thêm bài viết của chúng tôi: Giới thiệu chùm kinh ngắn trong Hán tạng nói về chữ Hiếu, nguyệt san Giác Ngộ số 77, 78 tháng 8-9/2002). 688 (1 quyển) 692 (1 quyển) 695 (1 quyển) 697 (1 quyển) 700 (1 quyển) 701 (1 quyển) 702 (1 quyển) 708 (1 quyển) 709 (1 quyển) 714 (1 quyển) 717 (2 quyển).
* Tập 17: 721 (70 quyển) 723 (1 quyển) 726 (1 quyển) 727 (10 quyển) 734 (1 quyển) 735 (1 quyển) 741 (1 quyển) 745 (1 quyển) 765 (7 quyển) 766 (1 quyển) 769 (1 quyển) 775 (1 quyển) 779 (1 quyển): Kinh Bát Đại Nhân Giác, Hán dịch là Đại sư An Thế Cao, dịch vào đời Hậu Hán. 780 (1 quyển) 781 (1 quyển) 784 (1 quyển): Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Hán dịch là 2 vị Đại sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, tương truyền là kinh được Hán dịch sớm nhất ở Trung Quốc. 788 (1 quyển) 792 (1 quyển) 796 (1 quyển) 799 (1 quyển) 801 (1 quyển) 807 (1 quyển) 810 (2 quyển) 811 (1 quyển) 814 (1 quyển) 815 (3 quyển) 818 (2 quyển) 821 (2 quyển) 822 (1 quyển) 829 (1 quyển) 832 (1 quyển) 833 (1 quyển) 835 (1 quyển) 837 (1 quyển) 839 (2 quyển) 840 (1 quyển) 842 (1 quyển): Kinh Viên Giác, Hán dịch là Đại sư Phật Đà Đa La, dịch vào đời Đường. 843 (3 quyển) 846 (1 quyển).
II. Về tạng Luật (3 tập 22, 23, 24, mang số hiệu từ 1421 đến 1504) và tạng Luận (8 tập: tập 25 - 32, mang số hiệu từ 1505 đến 1692) chúng ta nên theo sự chọn dịch của người Nhật, như họ đã ghi rõ nơi phần Mục lục ĐTK/ĐCTT (tr. 150 - 178).
Cùng với Phong trào Chấn hưng Phật giáo dấy khởi khắp 3 miền Nam Trung Bắc với các tạp chí Phật học như Từ Bi Âm (Nam, 1932), Viên Âm (Trung, 1933), Đuốc Tuệ (Bắc, 1935), công việc biên dịch 3 tạng Kinh, Luật, Luận từ Hán tạng sang tiếng Việt để hình thành Đại tạng kinh Việt Nam đã được xúc tiến và nối tiếp. Hơn 60 năm của thế kỷ XX, chúng ta đã chuyển dịch được khá nhiều, nhưng do những điều kiện khách quan và chủ quan, Đại tạng kinh Việt Nam vẫn chưa được hoàn thành. Thế kỷ XXI đã đi qua được 4 năm, thời gian vẫn đang mở rộng trước mắt - mở rộng nhưng không phải là vô tận - vì hầu như không còn lý do gì để chần chừ, trì trệ; hoàn thành Đại tạng kinh Việt Nam phải là Phật sự hàng đầu của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.
(*) Sự dựa theo này không hoàn toàn cố định, vẫn có thể có một số thay đổi cho hợp lý, ví dụ nơi tập 14: 2 kinh N0 461 (2 quyển) và 462 (3 quyển). Hai kinh này là hai bản Hán dịch từ 1 bản tiếng Phạn:
* Kinh N0 461/2: kinh Văn Thù Sư Lợi hiện bảo tạng, Hán dịch là Pháp sư Trúc Pháp Hộ, đời Tây Tấn (ĐTK/ĐCTT, T14, tr.452B - 466A).
* Kinh N0 462/3: kinh Đại Phương Quảng Bảo Khiếp, Hán dịch là Đại sư Cầu Na Bạt Đà La, đời Lưu Tống (ĐTK/ĐCTT, T14, tr.466B-480A). Người Nhật đã chọn bản N0 461/2 trong khi bản N0 462/3 văn sáng rõ, thuận hợp dễ hiểu, còn bản N0 461/2 văn có rất nhiều đoạn lủng củng, tối nghĩa, rất khó đọc. Đề nghị chúng ta nên chọn bản N0 462/3.
PHẦN HAI: KHÔNG TÁNH TRUNG QUÁN LUẬN
8. Tự tính Không và Tha tính Không
Theo Trung quán tánh Không của một sự vật triệt để phủ định sự có tự tính nơi sự vật ấy. Tánh Không không có nghĩa là không có chính nó, bởi vì nếu sự vật không có nó thời làm gì có sự vật, làm gì có tánh Không. Chẳng hạn như cái bình, nó không có tự tính nhưng nó vẫn có cái bình. Một khi hành giả thành tựu thực chứng tánh Không của một sự vật thời tất nhiên thấy rõ sự vật không có cái gọi là yếu tính quyết định mà tập khí vô minh làm lầm tưởng là hằng có nơi nó. Tự tính ở đây có nghĩa là một phẩm tính không hiện hữu mà vẫn định chắc cho sự vật một cách mê lầm. Vì không có tự tính nên thế giới hiện tượng là thế giới của những giả pháp tức là pháp có một cách tương đối (y tha khởi tính) hay vọng pháp tức là pháp có một cách sai lầm (biến kế chấp tính). Vậy giả pháp hay vọng pháp là sở y của tự tính và là đối tượng của hư vọng phân biệt. Nói cách khác, cơ sở y cứ của Không (dharmin) trong trường hợp này là một sự vật, là một pháp hữu vi, đối tượng của thế tục trí tức hư vọng phân biệt. 'Không' ở trong cách thế này được gọi là “Tự tính Không”. Đức Phật dạy: “Thế nào là Bát nhã ba la mật? Đó là sắc không; thọ, tưởng, hành, thức không; cho đến nhất thiết chủng trí không”. Cái Không của tất cả pháp như vậy chính là Tự tính Không.
Tiểu Phẩm Bát nhã (Astasàhasrikà; Bát thiên tụng) liệt kê 18 hình thức của Không, tất cả được giải thích kỹ trong luận Đại trí độ của ngài Long Thọ. Bản liệt kê chỉ cho thấy có nhiều thí dụ khác nhau của ý niệm về Không. Không thứ 12 dịch theo bản chữ Hán là Tánh Không. Theo bản chữ Phạn, thời đó là “prakrti-sùnyatà”, dịch là “bản tính Không”. Nói đến bản tính tức là nói đến bản chất nguyên sơ của mỗi vật thể cá biệt. Bản tính Không có nghĩa là không có tự ngã (àtman) bên trong vật thể để tạo ra bản chất nguyên sơ của nó. Vậy ý niệm đích thực về bản chất nguyên sơ là một ý niệm Không. Không có tự ngã cá biệt nơi hậu cứ của cái mà ta coi như vật thể cá biệt bởi vì vạn hữu là sản phẩm của nhân duyên. Do đó, chẳng có gì đáng gọi một bản chất nguyên sơ độc lập, đơn độc, tự hữu. Tất cả đều Không. Dù có thứ bản chất nguyên sơ nào đó, thời có cách nào đi nữa rốt ráo cũng vẫn là Không. Hiểu như vậy thời bản tính Không không phải là sự phủ định 'không có tự tính' đối với các pháp do hư vọng phân biệt tạo tác. Bởi thế cái Không trong 'bản tính Không' không phải là 'Tự tính Không'.
Trên phương diện nhận thức luận, nếu hiểu chữ prakrti theo tục đế, thời bản tính là một khái niệm về bản chất nguyên sơ của vật thể cá biệt, nên nó là không. Hiểu theo chân đế thời bản tính là siêu hý luận (nisprapanca). Vậy cơ sở y cứ của Bản tính Không (Không thứ 12) đồng nhất với cơ sở y cứ của Không Không (Không thứ tư). Sở dĩ nói một trạng thái Không đến hai lần với hai tên gọi khác nhau là vì thói thường khi nhận biết tất cả đều Không thời hay nảy sinh ý nghĩ cho rằng Không là một ý tưởng có thật, chỉ Không đó mới là cái khả đắc khách quan. Bởi vậy cho nên cần đến Không Không hay Không của Không (sùnyatà-sùnyatà) để hủy diệt chấp trước ấy.
Nối với Bản tính Không và Không Không, cơ sở y cứ của Không là đối tượng của Vô phân biệt trí chứ không phải là của thế tục trí. 'Không' ở trong cách thế này được gọi là “Tha tính Không”. Tha tính Không biểu thị Thật tướng của vạn pháp, còn gọi là Pháp tánh (Dharmatà), là Phật tánh (Buddhatà). Pháp tánh hay Chân như là bản thể thường trụ của muôn pháp, là khiển trừ vọng nhiễm, là lìa sạch phiền não. Và cần phải có một tuệ giác đặc biệt mới nhìn thẳng vào Thực tại ấy mà không kết dệt những mắc lưới vọng tưởng chung quanh nó. Tuệ giác ấy là Phật trí (Buddhajnàna). Kinh nghiệm hành thiền quán Không có thể mô tả sơ lược như sau. Ban đầu, trí Bát nhã tự phân hai hay tự mâu thuẫn để tự thấy. Trong giai đoạn này, hành giả ở trong tình trạng phân hai như phương tiện và cứu cánh, chủ thể và khách thể, cái này và cái kia, cái thấy và cái bị thấy.
Đến khi trí Bát nhã thực sự nắm được đối tượng thời sở tri và năng tri trở thành một. Khi ấy hành giả thấy được các pháp không có mặt riêng biệt ngoài nhận thức và thấy được nhận thức không có mặt riêng biệt ngoài các pháp. Đó là tình trạng đồng nhất vô phân biệt, gọi là giác ngộ, cái thấy thực sự bình đẳng không phân chia. Trong trạng thái này, các pháp hiện rõ tính cách niết bàn của chúng. Niết bàn có nghĩa là tịch diệt. Chữ tịch diệt ở đây có nghĩa là hoàn toàn vắng mặt những ý niệm ta và của ta, ta và người, sinh và diệt, thường và đoạn, một và nhiều.
Tuy vậy, trí Bát nhã không tri nhận hiện tượng tục ước đồng thời với tánh Không của chúng trong giây phút chứng ngộ. Cơ sở y cứ của tánh Không không hiện ra đồng thời với tánh Không trong giây phút ấy. Theo Giải thâm mật kinh, các vị Bồ tát phải tinh cần tu tập cho đến khi “diệt trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng cùng cực vi tế, không còn vướng mắc không còn chướng ngại, đối với cảnh giới sở tri, tức toàn thể chủng loại, đã thể hiện chánh biến giác”, chứng được viên mãn phần địa thứ mười một tên là Như Lai địa. Khi ấy, Phật trí hay Nhất thiết chủng trí chứng đắc mới đủ khả năng trực nhận đồng thời tục đế lẫn chân đế, thấy biết cùng một lúc tánh Không và cơ sở y cứ của nó. Thấy được các pháp như vậy mới thật sự là tri kiến như thực (yathàbhùtam), thấy được chân tướng các pháp một cách triệt để xuyên thâu qua những giả tướng của chúng.
Nhưng tại sao lại bảo Thật tướng của vạn pháp, Pháp tánh, hay Phật tánh là Không? Há chẳng phải khi mô tả sự vật gì là Không tức là muốn nói sự vật ấy là một danh tự giả tướng hay một thứ ảo ảnh, mộng mị, huyễn hoặc? Câu trả lời là xin lưu ý Không ở đây không phải là Tự tính Không mà lại là Tha tính Không. Sở dĩ gọi là Tha tính Không vì tại cái Không trong trường hợp này không có nghĩa là không có Thực tại mà là sự không có mặt của những tánh khác, hay nói rõ hơn, là sự xa lìa tất cả nhiễm pháp. Sự vắng mặt này hành giả quán là không có và cái còn lại quán “là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, và tối hậu chứng ngộ tánh Không” (Kinh Tiểu Không. Trung bộ 3, số 121). Đứng về hiển tánh Không mà nói thời gọi là Không tánh, nhưng thật thể là bất không: Tha tính Không là không và bất không.
Xét trên phương diện cơ sở y cứ của Không, mười tám Không có thể tóm thâu vào bốn chỗ Không (Tứ Không): Pháp tướng Không, Vô pháp Không, Tự pháp Không, và Tha pháp Không.
Pháp tướng là cơ sở y cứ của Không nên nói là Pháp tướng Không. Pháp tướng là đối tượng của tri giác, và là nội dung của tri giác. Trong kinh Kim Cang, đức Phật nói: “Bất cứ cái gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy được các tướng không phải là tướng, thời thấy được Như Lai”. Tướng có hai loại: tự tướng (svalaksana) tức là bản thân của thực tại, và cọng tướng (samànya) tức là những khuôn khổ mà nhận thức gán ghép cho tự tướng. Pháp tướng Không là khiển trừ cọng tướng.
Vô pháp Không là chỗ không có pháp. Nhìn hiện hữu từ hai quan điểm hữu và vô, luận Đại trí độ luận chung ba Không cuối, vô pháp Không (Không thứ 16), hữu pháp Không (Không thứ 17), và vô pháp hữu pháp Không (Không thứ 18) như sau: “Vô pháp không là, có người nói: Vô pháp tức là pháp đã diệt. Pháp diệt ấy không, nên gọi là vô pháp Không. Hữu pháp Không là các pháp nhân duyên hòa hợp sanh, cho nên có pháp. Hữu pháp ấy không có, nên gọi là hữu pháp Không. Vô pháp hữu pháp Không là tìm tướng vô pháp hữu pháp không thể có được; ấy là vô pháp hữu pháp Không. ...
Lại nữa, trong 18 Không, ba Không đầu (Nội Không, Ngoại Không, và Nội ngoại Không) phá hết thảy pháp, ba Không sau cũng phá hết thảy pháp: hữu pháp Không phá hết thảy pháp khi sanh, khi trụ; vô pháp Không phá hết thảy pháp khi diệt; vô pháp hữu pháp Không phá chung cả sanh diệt một lúc. ...
Lại nữa, có người nói: pháp vô vi không sanh, trụ, diệt, ấy gọi là vô pháp; pháp hữu vi có sanh, trụ, diệt, ấy gọi là hữu pháp. Tất cả đều Không nên gọi là vô pháp hữu pháp Không.”
Về mặt nhận thức, thế giới tục ước bao gồm hai thứ hiện tượng, hữu và phi hữu. Hữu là do pháp tướng, đối tượng nhận thức của thế tục trí, nghĩa là hiện khởi phát sinh từ sự chuyển biến phân hai của thức. Phi hữu là do vô pháp, đối tượng nhận thức của Vô phân biệt trí, đạt được sau khi hành giả thành công chuyển y toàn bộ tâm thức, chuyển tám thức thành bốn trí.
tự như vậy, Thực tại tuyệt đối cũng được tri nhận có hai trạng thái, tự pháp Không và tha pháp Không. Tự pháp Không là chỗ pháp tự tính không có mặt, tức là cơ sở y cứ của Tự tính Không. Tự tính có nghĩa “nó là nó”, nhưng không có cái nó nào như thế, cho nên Không. Đây là nhận thức theo thế tục đế, nương trên các “hữu” tức các pháp hư vọng phân biệt để tìm tới Thực tại.
Tha pháp Không là chỗ pháp khác vắng mặt, tức là cơ sở y cứ của Tha tính Không. Vô pháp như Như Lai tạng và Pháp tánh đều là Tha pháp Không. Ngài Nguyệt Xứng nêu ra ba điểm khác biệt giữa tha pháp Không và tự pháp Không (Madhyamakàvatàra; Bổ túc Trung Luận). Một, tự pháp Không vô thường, tha pháp Không thường trụ. Hai, tự pháp Không không phải là đối tượng nhận thức của tuệ giác, tha pháp Không là cái sở đắc của Thánh trí tự giác. Ba, tự pháp Không có tác dụng ràng buộc và gây đau khổ, tha pháp Không không còn tác dụng ràng buộc và gây đau khổ.
Ngài còn lưu ý trong Trung luận, Phẩm XV: Quán Hữu Vô, chữ svabhàva trong bài tụng đầu có nghĩa khác với nghĩa của chữ svabhàva trong bài tụng kế tiếp. Sự khác nghĩa ấy tương ứng với nghĩa khác nhau giữa Tự pháp Không và Tha pháp Không.
1. Trong bài tụng XV.1: “Có tự tính (svabhàva) trong các duyên, đó là một sự sai lầm. Tự tính (svabhàva) mà từ các duyên phát sanh thì tự tính ấy chính là pháp hữu vi sinh diệt.” Svabhàva ở đây có nghĩa là tự tính. Đó là một đối tượng phi hữu, y nơi những pháp hư vọng phân biệt (Tự pháp Không), và là đối tượng bác bỏ.
2. Trong bài tụng XV.2: “Làm thế nào có thể có ý nghĩa nếu Thật tướng (svabhàva) là một cái gì được tạo tác? Thật tướng (svabhàva) chính là cái không do tạo tác, không nhờ vào pháp khác mà thành.” Svabhàva ở đây có nghĩa là Thật tướng. Đó chính là Tha pháp Không, cơ sở y cứ của Tha tính Không, “cái thanh tịnh sở duyên”, cái đối tượng trong sáng do tuệ giác trong sáng (Phật trí) nhận thức.
vậy, Tha tính Không là tự tính của Không, của vạn pháp và của nhận thức. Không ở đây không còn là khái niệm “không” đối chiếu với khái niệm “có” mà là thực tại của vạn hữu vượt lên trên hết thảy khái niệm của nhận thức thông tục. Tri thức thường nghiệm là cái thấy qua khuôn khổ ý niệm nên không thể nào nắm bắt được Tha tính Không, bởi vì
“tự tính của Không không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt, và vượt thoát mọi tri kiến. Tại sao thế? Vì tự tính của Không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng, không thể khái niệm được, chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm bắt được, và thoát ly mọi sự nắm bắt. Vì thoát ly được mọi sự nắm bắt nên nó bao hàm được tất cả các pháp và an trú nơi cái thấy bình đẳng không phân biệt.” (Kinh Pháp Ấn)
Để lãnh hội Tha tính Không, lý tính hiện hữu của sự vật, hành giả cần phải thức tỉnh (sambodhi; giác ngộ) tức xoay ngược (àsrayaparàvrtti; chuyển y) lối nhìn về thế giới, nhảy quay ngược từ cách nhìn từ phía bên ngoài theo thế tục trí qua cách nhìn từ phía bên trong theo Vô phân biệt trí. Bước nhảy đặt hành giả vào cõi Tha tính Không, cái Không nằm bên dưới thế giới của những nhân và duyên. Hãy nghe Thiền sư D. T. Suzuki: “Do Không mà có tạo tác của nhân duyên; Không là một tấm vải trên đó duyên sinh tô vẽ những bức họa vô cùng sặc sỡ. Như thế, Không đến trước nhưng không phải trước trong thời gian vì thời gian giả định một chuỗi duyên sinh; cái đến trước có nghĩa là cái căn bản. Khi người ta có thể nghĩ đến duyên sinh hay tương đối tính được, là vì chúng đã sẵn trong Không. Sự phân biệt này tối quan trọng trong tất cả các kinh nghiệm tôn giáo của chúng ta, và cố nhiên trong tất cả tư tưởng triết lý sáng tỏ của chúng ta. Do đó các triết gia Bát nhã ba la mật nhấn mạnh rằng, Không là ý niệm căn bản nhất khi những trực giác của họ cố hiện thân qua trung gian của trí thức. Nó không phải là một khái niệm tiêu cực, mà là tích cực quyết liệt. Chỉ có vẻ tiêu cực đối với những ai chưa đi qua phía bên kia màn bạc. Chưa vào tới sâu, tri thức dao động và những suy luận sai lầm nổi lên vô số.” (Thiền luận. Tập Hạ. Tuệ Sỹ chú dịch)
Trước đây, ngài Long Thọ cũng đã nói trong bài tụng Trung luận XXIV.14: “Do tánh Không mà tất cả pháp được thành tựu và hợp lý. Nếu không có ý nghĩa rằng các pháp đều Không thì tất cả pháp đã không thể cấu thành được.”
Mệnh đề “Nhất thiết pháp Không” có nghĩa là tất cả mọi pháp đều không có tự tính. Vậy chữ Không ở đây chính là Tự tính Không. Với tri thức thường nghiệm sự vật hiện hữu như riêng biệt, độc lập, có tự thân thường tại, nhưng kỳ thật không phải là như vậy. Bởi vì sự vật hiện khởi trong một cái lưới nhân duyên rộng lớn vô biên, lớp này lớp khác trùng trùng vô tận, một làm duyên cho tất cả, tất cả làm duyên cho một. Do duyên sinh nên sự vật không có yếu tính quyết định, giống như những giấc mơ, hay những lời hứa hão huyền. Nếu hiểu sự vật thấy vậy mà không phải vậy, hiểu bản tính của chúng là Không nên chúng đều như huyễn như mộng, thời đó mới chỉ hiểu chữ Không một bề mà thôi, hiểu Không là Tự tính Không, hiểu theo nghĩa tiêu cực.
Hành giả có thể thực chứng một khía cạnh khác tích cực hơn của tánh Không là tánh như hư không của vạn pháp bằng phép quán hết thảy các pháp tùy thuận với trí Bát nhã tức quán sát chúng tùy thuận với bản tính hư không (àkàsa). Thật vậy, vạn pháp tuy Không, tuy không thật vì chỉ là danh tự giả tướng [danh ở đây chỉ cho khái niệm hay tâm tạo] nhưng vẫn được coi là không hư, bởi lẽ chúng có cái chỗ dụng riêng biệt. Đức Phật nói “nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” (Kinh Kim Cang), nghĩa là tất cả mọi pháp đều là Phật pháp, đều là pháp giải thoát, có lợi ích cho chúng sinh. Và Phật pháp được ví như hư không vô vi trong kinh Bát thiên tụng: “Pháp của Phật tùy thuận hết thảy các pháp. Cũng như hư không, lìa hết thảy các chướng ngại. Các pháp như hư không nên vượt ngoài hết thảy các ngôn thuyết. Các pháp là bình đẳng nên vượt ngoài mọi pháp phân hai. Các pháp vô sinh nên vượt ngoài pháp hiện khởi. Các pháp vốn vô diệt nên vượt ngoài pháp diệt tận. Các pháp vốn vô tướng nên vượt ngoài thủ tướng. Các pháp vốn vô xứ nên hết thảy xứ đều bất khả đắc.”
Đó là ý nghĩa tích cực của Tha tính Không. Cùng một ý nghĩa như vậy, bài tụng Trung luận V.7 nói đến tính phi hữu phi vô của hư không và ví năm chủng: địa, thủy, hỏa, phong, và thức như hư không: “Thế nên biết rằng hư không là chẳng phải có chẳng phải không có; nó chẳng phải tướng trạng, chẳng phải vật thể có tướng trạng (chẳng phải tướng năng mà cũng chẳng phải tướng sở). Ngoài ra, năm thứ khác (địa, thủy, hỏa, phong, và thức) cũng giống như hư không tức là phi hữu diệc phi vô, phi tướng phi khả tướng.”
Trái với Tự tính Không có thể theo lối quán gọi là Tích Không quán dùng đủ mọi hình thức luận lý phân tích trong trạng thái thiền định để triển khai một niềm xác tính sống động rằng đối tượng phủ định hoàn toàn phi hữu, Tha tính Không có điểm đặc biệt là chỉ có thể thể nhập trực tiếp mà thôi. Pháp môn thể nhập trực tiếp Tha tính Không thấy sự vật như thấy trăng dưới nước, như thấy bóng trong gương gọi là Thể Không quán. 'Không' ở trong cách thế này được đề cập trong kinh Tiểu Không (Trung Bộ 3, số 121). Một số đề mục quán tưởng được lần lượt nói đến trong kinh là những cơ sở y cứ của Không tuần tự chuyển biến để luyện tâm bồ đề nhằm trực ngộ Tha tính Không: bắt đầu từ một vị trí như thôn xã hay khu rừng, chuyển qua một biến xứ (kasina) như đất, rồi vượt bốn nơi Không tại Vô sắc giới: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cho đến cuối cùng, một đối tượng vô tướng. Kinh định nghĩa chữ Không như Tha tính Không, tùy thuộc trú xứ, tùy thuộc thiền chứng. Tại trú xứ nào, những gì không có mặt nơi trú xứ ấy, thời phải quán là không có. Nhưng những gì tại trú xứ ấy thật có, thời phải quán là thật có. Tại thiền chứng nào chứng được, những gì thiền chứng ấy không có, thời phải quán là không có. Nhưng những gì thiền chứng ấy có, thời phải quán là thật có.
Đề mục quán tưởng chuyển đổi tùy theo trình độ thông đạt tánh Không. Theo ý kiến của Khenpo Tsultrim Gyamtso, một vị lạt ma Tây tạng thuộc học phái Kagyu-Nyingma [Nói chung Tây tạng có bốn học phái, một học phái cổ là Nyingma và ba học phái mới là Mũ Vàng Gelug, Kagyu, và Sakya], tiến trình quán Không có thể chia làm năm cấp. Ở cấp đầu, ngũ uẩn, cơ sở y cứ của Không, là đối tượng quán tưởng. Sự vật bác bỏ ở cấp này là nhân ngã hay chúng sinh ngã. Thành quả là xa lìa chấp ngã, xác tín ngũ uẩn là vô ngã.
Ở cấp hai, đề mục quán tưởng là tự tính y tha khởi của ngã và pháp, tức là thức, dòng tâm sở tương tục các sát na sinh diệt. Cơ sở y cứ của Không trong trường hợp này là dòng tương tục của tâm. Sự vật phải bác bỏ là kiến tướng phân hai. Thành quả là thấy biết vạn pháp đều không, xác tín nhân vô ngã và pháp vô ngã, xa lìa cả chúng sinh ngã lẫn pháp ngã. Đây là phương pháp quán tưởng theo Duy thức.
Ở cấp ba, đề mục quán tưởng là tất cả pháp, sáu thức và đối tượng của sáu thức, nghĩa là tất cả những hoạt động tâm lý và đối tượng ngoại giới. Cơ sở y cứ của Không ở cấp này là những hiện tượng tục ước. Sự vật phải bác bỏ là tự tính (svabhava), là yếu tính quyết định “nó là nó”. Mọi hiện tượng tục ước đều vô tự tính vì do nhân duyên hòa hợp mà thành. Không ở trong trường hợp này là Tự tính Không. Không ở đây là không có tự tính chứ không phải là không hiện hữu.
Ở cấp bốn, đề mục quán tưởng là bản tính siêu hý luận (nisprapanca) tức bản chất nguyên sơ của hết thảy đối tượng quan năng và đối tượng tư tưởng. Sự vật phải bác bỏ là mọi vọng tưởng hý luận (prapanca). Trường hợp này là trường hợp đoạn tận mọi khái niệm về cơ sở y cứ của Không và về sự vật phải bác bỏ.
Cứ mỗi lần chuyển cấp từ cấp một cho đến cấp bốn hành giả phải quán sát phân tích kỹ càng để hiểu thấu đáo những phần quả nào chưa viên mãn trong cấp trước hầu tinh cần tu tập để chứng được ở cấp sau. Như vậy qua mỗi cấp có hai phần trong sự tu tập. Một là phân tích để thấu rõ thật lý của sự vật hầu dứt đoạn sự mê mờ nhận định, đạt đến trạng thái lý trí không còn lầm lẫn, điên đảo. Hai là không ngừng tu luyện để khắc phục kiến hoặc hay tâm hành nhiễm trước. Chứng kiến ngộ đạo không phải tất cả đều cùng lúc thành tựu viên mãn, mà cần phải cố gắng kiên nhẫn để dần dần trừ sạch những nhiễm trước vi tế, tận diệt mọi quan niệm ý tưởng bất hợp lý ẩn tàng trong tâm thức.
Sau mỗi lần chuyển cấp, ý thức về sự tồn tại của ngã pháp lần hồi bị tiêu diệt. Kiến chấp ngã pháp cũng được hành giả tận lực tiêu diệt trong chiều sâu vô thức. Trên nguyên tắc, khi hành giả chứng đắc viên mãn cấp bốn thời tà kiến vô thức về sự tồn tại của ngã và pháp hoàn toàn tiêu tán. Lúc bấy giờ hành giả đạt được Phật quả, hoàn tất sự đồng nhất của trí Bát nhã và Giác ngộ, thấy được chân lý của vạn hữu. Chân lý đó là Nhất thiết trí, là Phật trí. Nó vượt lên sống và chết, vượt trên tất cả mọi tạo tác. Nó chính là cảnh giới của tánh Không, là kho lẫm của hết thảy mọi chân lý (dharmakosa). Điều này có thể xảy đến cho những bậc Thánh giả có căn tính nhạy bén, đủ khả năng tự mình quán sát, phân tích, tự mình tìm tòi, nghiên cứu trong các kinh điển rồi y theo pháp mà tu tập để thấy được Chân đế. Nhưng đối với những vị không có trí tuệ nhạy bén, căn tính chậm lụt thời điều đó không thường xuyên xảy đến. Nguyên do là vì đối với những vị này chấm dứt triệt để tình trạng thiên chấp vi tế và khắc phục hoàn toàn cái khuynh hướng thâm căn cố đế kiến giải phân hai về hiện hữu quả thật rất đỗi khó khăn.
Đối với những vị này sự phân biệt giữa Tự tính Không và Tha tính Không rất quan trọng. Trung quán luận xác chứng rằng Không là tự tính của vạn pháp và của nhận thức. Nhưng diều đáng chú ý là ngoài những luận chứng cho thấy luận lý không thể dẫn đến Không, nhiều nhất là đến chân trời vô tự tính của thế tục, Trung quán luận không có một chỉ dẫn nào cụ thể giúp hành giả luyện tâm trong phần đạo lộ siêu ngôn thuyết cho đến khi thực chứng tánh Không. Nếu hành giả không có một ý niệm nào về Tha tính Không thời tâm thức hành giả sẽ lâm vào tình trạng lơ lửng chơi vơi ở nơi cái chân trời vô tự tính, biên giới của tư duy suy lý.
Khi tư duy suy lý đã được tận dụng hết mức mà không còn có khả năng giúp hiểu và thâm nhập được các giáo pháp siêu ngôn thuyết như Phật trí, Thật tướng, Pháp tánh, Phật tánh,... thời nhân cách Phật và Bồ tát, nói chung là năng lực gia trì hay hộ trì hết sức cần thiết. Đây là giai đoạn hành giả cần triển khai lòng tin vào Tha tính Không tức vào Thật tướng của vạn pháp, vào Pháp tánh, hay Phật tánh,... ở cấp năm tức là cấp cuối cùng trong tiến trình quán Không.
Kinh Thắng Man có đoạn Thắng Man Phu nhân bạch Phật: “Như Lai tạng tự tánh vốn thanh tịnh mà khách trần phiền não vô tình làm nhiễm ô, khiến cho cảnh giới Như Lai chẳng thể nghĩ bàn. ... Bạch Thế tôn! ...Tâm tự tánh thanh tịnh mà lại có nhiễm phiền não, điều này thật khó thấu triệt. Duy chỉ Phật Thế tôn là con mắt của sự thật, là trí tuệ chân thật, là căn bản của Pháp, là bậc thấy suốt Pháp, là nơi nương tựa của Chánh pháp, mới có thể thấy và biết như thực.”
Phật tùy hỷ nói rằng: “Thật như vậy! Thật như vậy, tự tánh thanh tịnh tâm mà có nhiễm ô; thật sự khó thấu triệt. Có hai pháp khó thấu triệt, đó là tự tánh thanh tịnh khó thấu triệt, và tâm ấy bị phiền não nhiễm ô cũng khó thấu triệt. Hai pháp này, chỉ con và các Bồ tát ma ha tát, những người đã thành tựu đại pháp, mới có thể nghe và chấp nhận. Còn các Thanh văn kia chỉ biết tin lời Phật chớ chẳng liễu nghĩa”.
Tự tánh thanh tịnh nói trên đây là tự tánh thanh tịnh của Như Lai tạng. Như Lai tạng có hai nghĩa: Như Lai tại triền, nghĩa là Phật tánh (Như Lai) còn bị chứa trong vòng phiền não nhiễm ô và Như Lai xuất triền, nghĩa là Phật tánh (Như Lai) chứa đựng các pháp vô lậu thanh tịnh. Song trong kinh luận nói đến Như Lai tạng, là phần nhiều dùng cái nghĩa “Như Lai tại triền”, tức tánh Phật bị chứa trong phiền não.
Về tín tâm, ngay đầu Chương 1 khi giải thích nghĩa chữ “Như thị” trong Phật kinh, luận Đại trí độ nói : “Phật pháp mênh mông như biển cả, có tin thì vào được, có trí thì qua được. Nghĩa của chữ 'Như thị' chính là tin.” Sau đó, có đoạn: “Ý Phật: Như vậy pháp của Ta thậm thâm vi diệu bậc nhất, là pháp vô sở đắc, không thể lường, không thể đếm, không thể nghĩ bàn, không động, không tựa; không vướng mắc, không là bậc Nhất thiết trí thì không thể hiểu. Cho nên trong Phật pháp lấy tín lực làm bước đầu. Do sức tin được vào, không phải do bố thí, trì giới v.v... mà có thể bắt đầu vào được Phật pháp, như kệ nói:
... ... ...
Pháp sâu xa của Ta
Không tin làm sao hiểu!”
Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển do Phật đà bạt đà la dịch) cũng nói: “Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của công đức, nuôi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dòng nước ái dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn.”
Căn bản học Phật có hai yếu kiện. Một là tin, tức chú trọng nơi tín tâm, theo tín tâm để vào Phật pháp. Hai là trí, tức đặt trọng tâm nơi lý trí để thấu hiểu Phật pháp. Trung quán luận thiên trọng pháp trí, nghĩa là dùng trí tuệ quán sát chánh pháp để vào Phật pháp. Tuy nhiên, như vừa trình bày ở trên, tín tâm cuối cùng vẫn có ưu thế để “khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn.”
Trái lại theo như kinh Thắng Man chẳng hạn, hành giả căn vào tín tâm trước hết, nghĩa là nương theo lòng tin mà vào đạo. Luận Đại thừa khởi tín giải thích rất cặn kẽ về ba giai vị, tín vị, giải hành vị, và chứng nhập vị, của sự phát tâm [Phát tâm có hai nghĩa: 1. Lập chí cao rộng, và 2. Phát triển tâm tánh, hay phát minh tâm tánh] tu về đạo quả Đại thừa. Tùy theo tín tâm mà tín hành, dần dần thâm sâu kiên cố tạo thành nghị lực. Lòng tin tăng trưởng gọi là tín lực. Do tin mà vào đạo và hiểu Phật pháp gọi là minh tín. Minh tín là lòng tin chơn chánh sáng suốt, khác với mê tín ở chỗ hàm hữu ý nghĩa trí tuệ được sử dụng để giải minh chánh tín. Nói cách khác, minh tín là y nơi tín mà dùng trí tuệ để giải, để chứng pháp nghĩa thâm sâu. Khi đã có minh tín rồi thời tùy thuận pháp trí [tức là tùy thuận một số thiện xảo phương tiện quán sát cái tự tính thanh tịnh nhiễm trần] mà tiến lên cứu cánh. Cứu cánh ở đây là “chân như thanh tịnh nhưng bị phiền não nhiễm ô”. Dùng minh tín tinh tấn hành trì chánh đạo thời đắc cứu cánh, ngộ nhập chánh pháp. Như vậy trí tuệ vẫn là yếu tố tối cần thiết để có minh tín. Tất cả các pháp của Phật đều dạy phải sử dụng trí tuệ làm căn bản để chiếu soi hay quán tưởng. Có tín tâm mà không có trí tuệ thì chỉ làm tăng trưởng cái ngu si mê tín. Có trí tuệ mà không có tín tâm thời hay làm tăng trưởng tà kiến.
Ở thời đại này, tín tâm có thể ví với sự tin tưởng vào cái được gọi là “phương pháp khoa học”. Trong tiến trình khảo cứu bất cứ một vấn đề gì, trước hết là bằng vào lòng tin một số giả thiết do kinh nghiệm trực giác và suy luận thành lập. Sau đó với những nỗ lực thí nghiệm, nếu có sự tương hợp giữa giả thiết với thực tế thời kết quả xem như có lợi ích cho cả cá nhân lẫn quần chúng.
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao đã biết Phật trí vượt ngoài phân biệt, chấp trước, và còn được gọi là một cảnh giới của 'thanh tịnh tuyệt đối' (atyantavisuddhi; Tất cánh thanh tịnh) thế mà vẫn mô tả Phật trí bằng những cụm từ có ý nghĩa khẳng định, như “thực hữu” và “có phẩm tính”? Một số luận sư cho rằng nếu không mô tả như thế thời Phật trí có thể bị hiểu lầm là một pháp như mọi pháp khác và do đó sự tồn tại bản hữu của Phật trí, động lực chính cho nỗ lực mong cầu giải thoát, tất bị phủ định theo quan điểm Tự tính Không. Thực ra, thuyết Tha tính Không nhằm mục đích giúp hành giả đoạn tận một số tùy miên rất vi tế [tùy miên là những tiềm năng của kiến chấp còn lưu lại ở vô thức].
Tuy ở cấp bốn đề mục quán tưởng là bản chất siêu hý luận của các pháp, nhưng trong thực tế, hành giả thường quán thế giới hiện tượng trước để đả phá chấp ngã chấp pháp, rồi sau đó mới quán thực tại cứu cánh để lìa bỏ chấp thủ tướng Không của các pháp. Trong trường hợp đả phá và lìa bỏ có hiệu quả, mọi vọng niệm về ngã và pháp giờ đây đã ngưng sinh khởi và hành giả không còn có đối tượng để quán tưởng hay để phủ định nữa. Tuy vậy, hành giả có thể vẫn còn dính mắc với tiềm năng phủ định đã huân tập trong quá trình tu tập nên cuối cùng cái “Phật tánh” mà hành giả chứng đắc cũng có thể bị phủ định nốt.
Đó là trường hợp nhận thức điên đảo về Như Lai pháp thân được nói đến trong kinh Thắng Man. Vì chúng sinh nhận thức bản chất tồn tại một cách sai lầm nên đối với năm thủ uẩn vốn vô thường mà tưởng là thường; vốn khổ mà tưởng là lạc; vốn vô ngã mà tưởng là ngã; vốn bất tịnh mà tưởng là tịnh. Để đối trị bốn nhận thức điên đảo đó, hành giả được chỉ dạy quán về bốn hành tướng, vô thường, khổ, vô ngã, và bất tịnh, của năm thủ uẩn. Nhưng sau đó quen với khuynh hướng phủ định huân tập trong quá trình hành thiền nên hành giả tiếp tục thấy khắp nơi toàn là những phẩm tính phải bác bỏ. Do đó mà hành giả không nhận thức chân chính về “Pháp thân của Như Lai là thường ba la mật, lạc ba la mật, ngã ba la mật, tịnh ba la mật”. Kinh nói: “Tất cả các bậc tịnh trí A la hán, Bích chi Phật đối với cảnh giới của Nhứt thiết trí và Như Lai pháp thân vốn chẳng thấy biết”. Có nghĩa là đối với sanh tử, các bậc A la hán, Bích chi Phật hiểu rõ vô thường, nhận chân các pháp sanh diệt, v.v... , tuy sanh khởi quả trí thanh tịnh (tức tịnh trí) không điên đảo, nhưng đối với Như Lai pháp thân, Bồ đề Niết bàn mà cũng cho là vô thường, khổ, vô ngã, và bất tịnh, thời nhận thức như thế cũng là điên đảo. Phủ định các pháp sanh tử mà không khẳng định được pháp thường lạc ngã tịnh là chánh kiến Niết bàn, như thế vẫn không phải chơn chánh trí rốt ráo.
Nói tóm lại, cấp cuối cùng của tiến trình quán Không là để đối trị tiềm năng phủ định còn lưu lại trong vô thức của hành giả. Công phu tác dụng ở giai đoạn này là để trừ bỏ một loại kiến hoặc vi tế do hiểu lầm phép quán Tự tính Không. Thuyết Tha tính Không báo động hành giả có một Thực tại năng động cần phải chứng đắc một khi đã đoạn diệt mọi hư vọng phân biệt. Theo thuyết này, Trung quán phủ định tự tính của các hiện tượng tục ước là tương đương với Duy thức khẳng định sự không có mặt của biến kế chấp tính trong y tha khởi tính. Nói cách khác, đối tượng Trung quán bác bỏ là tự tính (svabhàva) và đối tượng Duy thức bác bỏ là biến kế chấp tức bác bỏ sự kiến tướng phân hai của nội thức. Chân đế Trung quán tương đương với viên thành thật Duy thức, tức là sự vắng mặt vĩnh viễn của biến kế chấp nơi y tha khởi.
Thuyết Tha tính Không chú trọng phân biệt ba tự tánh và ba vô tánh giống như Duy thức. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt. Đối với Duy thức y tha khởi tính là cơ sở y cứ của Không và đối tượng bác bỏ là biến kế chấp tính. Đối với Tha tính Không thời viên thành thật là cơ sở y cứ của Không và đối tượng bác bỏ là biến kế chấp tính và y tha khởi tính. Nói cách khác, muốn chứng ngộ Tha tính Không chỉ cần thân thể và tâm quay về trạng thái tự nhiên của nó, yên nghỉ thoải mái trong trí Vô phân biệt và không một chút cố gắng thực hành bất cứ điều gì để nhận thức viên thành thật.
Tại sao gọi là viên thành? Nhiếp luận giải thích: “Viên thành là biến kế vĩnh viễn không còn, thì sao thành viên thành? Viên thành nghĩa là tánh không biến đổi, lại là đối tượng của tuệ giác thanh tịnh, là tối thắng của tất cả thiện pháp; vì cái nghĩa tối thắng này mà gọi là viên thành.” Trong Giải thâm mật kinh, đứng về mặt không, viên thành thật tính tức thắng nghĩa vô tánh được ví “tương tự hư không do sắc tướng vô tánh hiển lộ và phổ biến tất cả... vì do pháp vô ngã hiển lộ và phổ biến tất cả.” Đứng về mặt có, viên thành thật tính được ví như “cảnh vật không thác loạn” mà “bản tính con mắt trong sáng nhìn thấy”.
Như vậy, cơ sở y cứ của Tha tính Không còn có thể mô tả theo nhiều danh hiệu khác nữa, như là cảnh giới của tự nhiên nhi nhiên, cảnh giới của thanh tịnh quang, cảnh giới của tánh Không, Phật trí, Chân như, Thật tướng, Pháp tánh, Pháp giới, v.v...
Về sự hiện hữu của các hiện tượng tục ước, quan niệm của phái Tha tính Không hoàn toàn đối nghịch với quan niệm của phái Tự tính Không. Đối với phái Tự tính Không, thời có những hiện tượng tuy vô tự tính mà vẫn hiện hữu hay có những hiện tượng không thật nhưng hiện hữu như huyễn, hư giả, không tồn tại bất biến. Ngược lại, phái Tha tính Không chủ trương mọi hiện tượng vô tự tính hay không thật được thấy tuồng như hiện hữu nhưng kỳ thật không hiện hữu. Do đó, phái Tự tính Không chỉ trích rằng chối bỏ sự hiện hữu của những sự vật hiện hữu như vậy là rơi vào đoạn kiến. Phái Tha tính Không giải thích quan điểm của họ không khác gì quan điểm của ngài Long Thọ.
Thật vậy, thức là một pháp y tha khởi nên khi cả kiến phần (chủ thể) lẫn tướng phần (đối tượng) đồng thời sinh khởi như là đối tượng chuyển hiện của thức, thời mỗi phần đều không có tự tính. Theo phái Tự tính Không, đặc tính bất nhị của nội thức có nghĩa là không có sự phân hai nhận thức thành đối tượng có thật và chủ thể có thật. Đó là hiểu đặc tính bất nhị nương theo thuyết nhân duyên (kàransamutpàda). Cả thức (vijnàna) lẫn Trí (Jnàna) đều được quan niệm như là những dòng tâm sở tương tục các sát na sinh diệt. Điều khác biệt giữa thức và Trí là chỉ có Trí mới nhận thức được đặc tính bất nhị (ngộ) chứ thức thì không có khả năng thấy biết đặc tính ấy (mê). Do đó mà nói rằng dòng tâm sở tương tục các sát na sinh diệt của thức thời bất tịnh mà dòng tâm sở của Trí thời thanh tịnh vì đối tượng nhận thức của Trí luôn luôn là sự không phân hai, nghĩa là tánh Không.
Nhưng như thế thời thử hỏi làm thế nào một dòng tâm sở liên tục như Phật trí có lúc lại có thể thấy biết hai đối tượng, sự vật và tánh Không của nó, cùng một lúc? Phái Tha tính Không không chấp nhận quan điểm giải thích Trí là một dòng tâm sở liên tục do nhân duyên hòa hợp mà thành. Theo phái này, nếu chủ thể nhận thức và đối tượng của nó không thể tồn tại độc lập nhau thời cả hai phần kiến và tướng chẳng có phần nào sinh khởi cả. Lý do là tại vì không có cái A nào có thể hiện khởi tùy thuộc vào cái B nếu cái B không thể hiện khởi khi cái A vắng mặt. Như vậy không thể giải thích y tha khởi là sự hiện khởi tùy thuộc sự tương quan giữa cái này với cái kia bởi vì không có pháp nào được dùng làm đơn vị nền tảng như tâm sở, cực vi, nhân, quả, v.v... để từ đó xuất sinh sự hiện khởi của các pháp khác.
Đối với thuyết Tha tính Không, y tha khởi không những là tương quan giữa cái này với cái kia, mà còn là tương quan giữa sự vật với lý tính hiện hữu của chúng. Cái được chứng nghiệm là cái lý tính hiện hữu của sự vật, là bản tính chân thực, là chân lý cứu cánh, là pháp tánh của hiện tượng. Nó sinh động, sáng tỏ, thế mà không thể bắt lấy được (bất khả đắc), không thể phiên chuyển thành ngôn từ để truyền thông. Bản tính của sự chứng nghiệm quả là một sự kiện sâu kín khó hiểu. Tha tính Không bắc một nhịp cầu nối liền sự sâu kín khó hiểu của sự chứng nghiệm với tánh thâm mật diệu huyền của Phật trí. Như vậy, nói hiện tượng do duyên sinh thời đó chỉ là một cách phát biểu rằng vì duyên khởi vô tự tính (Tự tính Không) nên bản tính của nó không thể suy luận mà biết được. Tựu trung bản tính các pháp là bất khả ngôn thuyết, bất khả tư nghì, là siêu hý luận, là tánh Không.
Trong Tâm kinh có câu: “Sắc tức thị Không”. Có nghĩa là dùng biện chứng pháp Trung quán phân tích thời không tìm thấy Sắc ở đâu cả. Đương thể “Sắc” tức Không, đương thể là Không. Đối với trí suy luận điều này thật khó hiểu. Do thường nghiệm, ta thấy có Sắc, nhưng bằng luận lý, ta không thấy Sắc đâu cả. Ngay cả cái giả tướng của Sắc đến khi dùng biện chứng phân tích thời nó cũng biến mất. Không đây là Tự tính Không. Sắc đây là cơ sở y cứ của Không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
Tiếp theo lại có câu: “Không tức thị Sắc”. Trong câu này Không chính là Tha tính Không và Sắc có thể gọi là “Sắc cứu cánh” bởi vì do Phật trí mà thực chứng. Thọ cứu cánh, tưởng cứu cánh, hành cứu cánh, thức cứu cánh cũng vậy. Đạt tới Phật trí tức giác ngộ thời mới có cái thấy bình đẳng nhờ đó mà nhận thức được tự thân thực tại. Phật trí, cảnh giới của Tha tính Không, hiển minh khi hành giả hoàn toàn lìa xa mọi tư niệm đối đãi qua tác dụng của Thức. Sự vắng mặt của tất cả những ý tưởng sinh ra từ chỗ đối đãi do vô minh không chỉ cho cái ngoan không, mà chỉ vào một “bất không”, một thực hữu không thể nắm bắt và diễn tả được: đó là Tha tính Không. Đứng về hiện tượng của các pháp mà nói thời Thức là Phật trí bị khách trần phiền não và vô minh che lấp hoàn toàn, và khi vô minh đã hoàn toàn đoạn sạch thời Phật trí hiển lộ. Nhưng đứng về bản thể của các pháp mà luận thời Thức và Phật trí đều đồng thể tánh chân như của Vô phân biệt trí.
Phái Tự tính Không chỉ trích rằng xác quyết Tha tính Không là một hiện hữu tức là phạm lỗi lầm rơi vào thường kiến. Lý do nêu ra: Trong thời kỳ chuyển pháp luân lần thứ hai giáo pháp Bát nhã dạy rằng “Nhất thiết pháp Không” và các pháp toàn không bao gồm cả chân đế lẫn tục đế. Phái Tha tính Không không chối cãi điều đó. Nhưng vì chủ trương của phái này là mọi hiện tượng vô tự tính đều không hiện hữu cho nên suy diễn ra thời những pháp vô thượng vô tự tính như Trí, Đức của Phật, đức tánh của Niết bàn, của Tam Bảo, của Đại thừa, v..v... tất cả đều không hiện hữu. Như vậy là không hợp lý. Theo họ, tánh Không của các pháp vô thượng là Tha tính Không, là bất không.
Sự hiện hữu của Tha tính Không (còn gọi là Bản tính hay Thật tướng) được ngài Nguyệt Xứng đề cập khi chú giải bài tụng Trung luận XV.2. Ngài nói: “Cái bản tính như được (Long Thọ) Đại sư mô tả (trong bài tụng Trung luận XV.2) có hiện hữu hay không? Đức Tối Thắng tôn từng tuyên thuyết rằng thật tướng hiện hữu: 'Dù Như Lai có ra đời hay không, thật tướng các pháp là thường trụ nhất tướng'. Vậy thì thế nào là thật tướng? Đó là chân tánh của mắt này, vân vân. Và thế nào là chân tánh của mắt này,... ? Là cái không do tạo tác, không nhờ vào pháp khác mà thành, được thể nghiệm bằng thứ tuệ giác đoạn bặt vô minh. Chân tánh có hiện hữu hay không? Nếu chân tánh không hiện hữu, thử hỏi lịch trình xả thân tu thiện của các vị Bồ tát có ý nghĩa gì? Vì nguyên nhân nào các vị Bồ tát chấp nhận biết bao gian khổ để tựu thành sự chứng ngộ thật tướng?”
Thêm vào những lời giải thích trên, phái Tha tính Không tựa trên kinh Giải thâm mật để xác quyết rằng chỉ pháp luân được chuyển trong thời kỳ thứ ba mới liễu nghĩa (Nitartha), nghĩa là “không còn có cái gì trên nữa, không còn chịu đựng sự đả phá nào nữa, nghĩa lý đích thực hoàn hảo, không còn là nơi đặt chân của sự tranh luận”. Trái lại, giáo pháp thuyết giảng trong thời kỳ chuyển pháp luân lần thứ hai không liễu nghĩa (Neyartha) theo như Kinh nói: “Đức Thế tôn chỉ vì những vị xu hướng Đại thừa, căn cứ đạo lý 'các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn', dùng sự ẩn mật mà chuyển pháp luân, tuy càng rất lạ, càng rất hiếm, nhưng pháp luân được chuyển trong thời kỳ này vẫn còn có cái trên nữa, vẫn còn chịu đựng đả phá, vẫn là nghĩa lý chưa hoàn hảo, vẫn là nơi đặt chân của sự tranh luận.” Vậy phái Tha tính Không hiểu giáo pháp thuyết giảng trong thời kỳ chuyển pháp luân lần thứ hai như thế nào?
Phái Tha tính Không cho rằng pháp luân được chuyển trong thời kỳ thứ hai là nhằm đối trị kiến chấp sai lầm tục thức có thể nắm bắt được thực tại cứu cánh. Có thể sử dụng biện chứng pháp để biện minh những giáo lý như Thật tướng, Tánh Không, Như Lai tạng,... đều vô tự tính. Tuy nhiên, pháp luân được chuyển trong thời kỳ thứ ba những khi nói Pháp tánh hay Như Lai tạng hiện hữu, thời luôn luôn không quên nhắc nhở thêm rằng những pháp ấy không phải do ngôn từ hý luận mà có. Trên phương diện tu dưỡng, chúng không thể chỉ hiểu và chấp nhận bằng tư duy và lý luận suông mà được. Do đó, để có thể hiểu và thâm nhập các giáo lý này, tín tâm thật vô cùng cần thiết. Chẳng hạn, làm thế nào để phàm phu chấp nhận sự kiện thật khó hiểu là Như Lai tạng vốn tự tính thanh tịnh mà có thể bị quấn chặt trong các lớp vỏ phiền não, vô minh? Thắng Man Phu nhân nói: “Nếu đối với Như Lai tạng đang bị bọc kín trong vỏ phiền não mà không nghi hoặc, thời đối với Pháp thân vốn siêu xuất vô lượng phiền não tạng cũng không nghi hoặc.” Tin rằng Pháp thân hiện hữu, tức là tin rằng Phật tánh cũng thường hằng hiện hữu trong mỗi chúng sinh. Nếu không tin được như thế thời không thể phát Bồ đề tâm, không có ý hướng mong cầu làm Phật. Như vậy, Bồ tát đạo không có ý nghĩa gì cả.
Tóm lại, vấn đề là có nhu cầu muốn truyền đạt thành quả tu chứng. Quả chứng đắc sinh động và sáng tỏ, nhưng không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường được. Phương pháp phủ định rất hữu hiệu nhờ vào tiến trình khiển trừ những gì không phải là cái đương thể đang muốn được nói ra. Nhưng phương pháp này cũng rất nguy hiểm vì tác dụng phủ định trong tiến trình khiển trừ có thể bác bỏ luôn cả cái đương thể đang muốn được phát biểu. Thuyết Tha tính Không giúp ngăn chận cái đà phủ định đó bằng vào lòng tin có một năng lực tự nhiên trong bản tính sâu thẳm nhất của hết thảy mọi loài, vô nhiễm, vô tướng, không có pháp đối đãi, không bao giờ biến đổi, luôn luôn có mặt, chỉ do thiền quán giác nghiệm và chứng thực mà thôi. Như vậy, mục đích cuối cùng của mọi pháp tu đều cốt nhổ gốc rễ mọi khổ đau và vô minh vi tế nhất ra khỏi tâm trí để giải thoát và giác ngộ, nghĩa là đạt đến trọn vẹn Phật tánh, cái năng lực có bản chất thanh tịnh căn để trong sáng ấy. Trong cuộc sống hàng ngày, Phật tánh biểu lộ thành tình yêu thương bao la (từ bi), sự hiểu biết chân thật (trí tuệ), và một nguồn an vui vô tận (an lạc).
Do đó, thuyết Tha tính Không liên quan mật thiết với các pháp môn tu tập thiền quán, như các giáo pháp Minh sát thiền (Vipasyanà), Thiền tông (Zen), Đại thủ ấn (Mahamudra), và Đại toàn thiện (Dzogchen). Nhiều học phái xem thuyết Tha tính Không như học thuyết về “Thời kỳ thứ ba Chuyển pháp luân”, trong thời gian đó giáo pháp liễu nghĩa về sự hiện hữu của Pháp tánh và của Như Lai tạng được đức Thế tôn thuyết giảng.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét