THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
THIỀN BỆNH
THẦY VÀ TRÒ
- Thế nào là thầy?
- Đó là cái phần linh diệu bên trong thầy.
- Thế còn cái xác thân thì thế nào?
- Chỉ là cái phương tiện tùy duyên biểu thị của thầy.
- Thế nào là trò?
- Đó là cái phần buông xuôi và tin cậy bên trong người
trò.
- Thế còn cái xác thân thì thế nào?
- Đó chỉ là phương tiện biểu thị mức độ tu chứng của
người trò, để thầy ấn chứng hoặc điều chỉnh.
- Thế nào là dạy?
- Không truyền đạt cái gì mới, mà là phá bỏ mọi sự nô lệ
của tâm trí người trò.
- Tại sao phải làm vậy?
- Để có thể tự do sử dụng mà không chấp chặt vào
phương tiện.
- Thế nào là học?
- Làm cho cái phần linh diệu bên trong đồng điệu và tức
thời với lời nói và hành động.
- Cái gì ngăn trở khiến cái phần linh diệu không biểu thị
được nơi thể xác?
- Tâm trí.
- Làm thế nào để vượt qua tâm trí?
- Đối trước sự vật, cực tịnh để cảm nhận sức tác động
của cái phần linh diệu, nương theo đó mà lời nói và
hành động tức khắc biểu thị.
- Để được cực tịnh phải làm thế nào?
- Đắc khí, yên lặng chứng kiến không phán xét.
THẾ NÀO LÀ THẦY
- Thế nào là thầy?
- Không có " Cái gọi là thầy".
- Tại sao lại thế?
- Vì rốt ráo không có việc dạy và truyền đạt.
- Vậy làm thế nào để giúp đỡ người khác thăng hoa và
phát triển?
- Kích thích để "Cái tự nhiên biết" của họ hiển thị và tự
phát triển.
- Thế nào là trò?
- Không có " Cái gọi là trò"?
- Tại sao lại thế?
- Vì rốt ráo không có việc học như thọ nhận và sở đắc.
- Vậy làm thế nào thăng hoa và phát triển thân tâm vì
một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn?
- Yên lặng chứng kiến, để "Cái tự nhiên biết" tuỳ duyên
mà hiển tướng.
- Chủ nghĩa tự nhiên sao?
- Không tự nhiên mà cũng không duy lý. Đều từ sự tồn
tại mà ra. Sự tồn tại vô hình vô tướng bao giờ cũng
có đấy. Nó hiển thị qua nguyên nhân này gọi là "thầy"
và qua nguyên nhân khác gọi là "trò".
- Xin cho một thí dụ?
- Ông thấy ngọn lửa trên cây đuốc này chứ?
- Vâng .
- Khi ta thổi tắt thì ngọn lửa đi đâu?
- Ngọn lửa không mất đi. Vì nếu ta đốt, thì nó lại hiển
thị.
- Đúng vậy khi không đủ duyên, vạn pháp vô hình vô
tướng thể nhập "Tánh". Khi đủ duyên, vạn pháp hiển
thị thành các hiện tượng hữu tướng. Vậy ông có cho
ngọn đuốc đang cháy là thầy của ngọn đuốc chưa
cháy.
- Không, vì "tánh cháy" cả hai đều có. Chỉ khác nhau ở
trạng thái hiển thị.
- Bây giờ ta lấy cây đuốc chưa cháy mồi vào cây đuốc
đã cháy. Thế nào, ông có cho cây đuốc đã cháy truyền
lửa của nó sang cây đuốc chưa cháy?
- Không, vì nếu cho lửa thì cây đuốc đang cháy phải hết
lửa dần đi khi ta mồi sang nhiều cây đuốc khác.
- Đúng vậy, đây là pháp" Vô tận đăng của nhà Phật".
Thế nào Cỏ May, ông có cho rằng thầy sẽ biến thành
ngu đi khi truyền đạt kiến thức cho học trò.
- Không có việc ấy.
- Vậy cho nên ta bảo rốt ráo thì không có sự dạy như
truyền đạt của thầy và sự học như thọ nhận của trò.
- Thế thì tại sao thực tiễn vẫn có sự truyền đạt và thọ
nhận?
- Vì còn có "ngã".
- Mô Phật! . . .
- Thầy là gì?
- Thầy là người ráng gò đệ tử vào khuôn mẫu lý tưởng của
mình
- Đệ tử là gì?
- Đệ tử là đám người ráng gò thầy vào khuôn mẫu thần
tượng của mình.
Cho nên thầy không ra thầy, trò không ra trò.
- Vậy thế nào mới là thầy mới là trò ?
- Không có việc dạy, không có việc học, đều là biểu thị của
tự nhiên!
- Xin cho một thí dụ.
- Thầy như phân như nước, như cánh cửa, như cột mốc chỉ
đường, như con thuyền rỗng. Trò như nắng mùa xuân,
như mưa lâm thâm, như sa mù, như khí xuân, là duyên
để hoa mai hoa đào hé nụ.
THIỀN BỆNH
Thiền vốn không bệnh, có bệnh sao gọi là thiền? Tuy nhiên, do người thực hành công phu nghiêng lệch, tâm vội vàng hấp tấp không thể nhận sâu lý thật, được ít cho là đủ, tạo cơ hội cho tính chấp ngã được nuôi dưỡng sống còn nên trở thành bệnh hoạn trên đường tu, nếu không kịp thời tỉnh giác thì nhân quả sẽ đến khó lường trước được!
Bởi lý thiền quá gần gũi, xác thật, người nhận ra chỉ trong chớp mắt nhưng sống được trong ấy hẳn không phải một ngày, hai ngày là xong. Người mới thấy dễ lầm Phật nhân thành Phật quả.
Thiền lại chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, lấy tự tin làm gốc, nên người không khéo nhận dễ thành kiêu mạn, cho TA là trên hết. Trong đây chỉ nêu một ít bệnh thường gặp, thường có để giúp cho người thực hành ngừa tránh, không rơi vào lối tẻ, đường ma mà thành tựu sức sống trọn vẹn.
I. BỆNH CHẤP LÝ BỎ SỰ, NGHIÊNH LỆCH MỘT BÊN
Người học thiền hấp tấp cứ nghĩ thiền là vượt ngoài đối đãi, không tu không chứng, vốn không có một pháp thật cho người thì có gì để làm, để học? Do đó, thấy người ngồi thiền thì chê là chấp tướng, thấy kẻ lễ Phật thì cười là hình thức, thấy kẻ nghe giảng thì bảo là mê chữ nghĩa v.v… trái lại tự mình sống buông thả như người tầm thường không tu, cho đó là TA đạt thiền. Đây là bệnh nghênh lệch bên lý, thiếu sức sống thật.
Hãy xem Lục Tổ gạn hỏi Hoài Nhượng:
- Có tu chứng chăng?
Hoài Nhượng thưa:
- Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô chẳng thể được.
Với chỗ thấy của ngài Hoài Nhượng thì không hoàn toàn bác bỏ tu chứng đã biết chỗ rốt ráo đó vốn không một vật gì có thể so sánh nhưng phải công phu thực hành sâu xa mới chứng nghiệm được, đâu phải để tự nhiên mà biết. Song tuy nói tu chứng nhưng thực ra nó vốn chưa từng có gì nhiễm ô được nên cũng không có chỗ để tu, để chứng, để được gì thêm nữa. Đây, chính là người có công phu thực sự mới nói lên được rõ ràng như thế. Nếu người kẹt trên lý suông thì khi bị gạn hỏi như thế hẳn sẽ đáp: “Không có tu chứng” vì không có một vật gì có thể so sánh thì tu chứng cái gì? Tuy nhiên với người có chỗ sống chân thật, nghe nói thế liền biết ngay, người này chỉ thấy một bên lý, chưa có sức sống thật sự. Người tu thiền chân chánh cần xét kỹ điểm này, chớ để nhân lành thành quả dữ!
II. BỆNH TRI GIẢI - THIỀN NÓI
Hòa thượng phù Sơn Pháp Diễn nói với Đạo Ngô Chân rằng: “Người học đạo chưa đến nơi đến chốn, tự khoe thấy nghe, đuổi theo hiểu biết, dùng miệng lưỡi để hơn thua nhau, khác nào nhà xí bồi đồ nhơ nhớp chỉ làm tăng thêm mùi hôi thối mà thôi.”
Đây là, cứ lo hơn thua trên cái miệng, đề cao cái Hiểu Biết của mình mà quên mất công phu thực tu, thực chứng. Đó là bệnh MÓI THIỀN, cần phải tránh!
III. BỆNH KIÊU NGẠO NGÔNG CUỒNG
Người có công phu thấy được chút ít lẽ thật, vội chấp vào đó là sở đắc của mình, chưa có sức sống chân thật sâu sa nên sanh tâm kiêu mạn. Thấy mình là hơn tất cả, vì ít ai có chỗ thấy được như mình. Nếu không sớm tỉnh, lâu ngày thành thói quen, thấy trước mắt như không người, chẳng có ai BIẾT ta, chỉ TA biết TA thôi, bèn trở thành ngông cuồng, xem thường nhân quả, rất nguy hiểm.
Như trong hội chúng của Thiền sư Bạch Ẩn có một ông tăng điên nghĩ rằng mình đã chứng đạt nhứt tính với Phật. Ông xé kinh sách và dùng làm giấy vệ sinh bị Bạch Ẩn quở trách (xem phần Một Sức Sống sáng tạo).
Thiền sư Quảng Trí bảo: “ Miệng nói niệm Phật, tụng kinh, lễ lạy là Tiểu thừa chấp tướng, dạy người tu tập, còn chính mình thì ngồi chơi. Hoặc suốt năm chẳng lạy một vị Phật nào, chẳng một lần lễ sám hối, chẳng tụng một bộ kinh. Trái lại, những sách vở thế gian không cần thiết thì ghi chép, hạnh người tu không làm việc thế tục mà làm, xưng là bác học. Khinh rẻ quả Phật không chịu tu, cũng không cần làm chút điều lành. Khiến cho trẻ nhỏ hậu sanh ra vẻ thông minh, chỉ tìm kiến giải, vừa có chỗ hiểu biết liền cho là một nhảy thẳng vào, còn gì phải nói. Rồi ngông cuồng, ngạo mạn, cống cao trừng trợn, miệng nói bừa bãi, thân không chọn bạn. Chẳng nghĩ đến tình dục thế gian vẫn đầy tràn không ngằn mé, thế nào lại dùng lời hoạt bát mà phá vỡ cửa nhân quả! Tự làm, làm lầm mọi người, đâu tránh khỏi bị chìm đắm. Nếu chẳng bị ma thâu nhiếp, nhất định phải đọa mãi nơi tam đồ, chịu cảnh núi đao rừng kiếm để đền lại cái nhân trước kia và mang lông đội sừng để đáp trả cái quả sau đó.”
Người biết rõ nhân quả, nghe đến chẳng rùng mình sao?
IV. BỆNH CHẤP KHÔNG, KHINH THƯỜNG NHÂN QUẢ
Bởi chấp lầm theo kiến giải thô cạn, nghe chỗ lý tột của thiền là bặt niệm đối đãi, không tướng phàm thánh, thiên đường địa ngục có thể được, bèn mặc tình mắng Phật, chửi Tổ, chê kinh. Song, đó chỉ là nghe hiểu, mà Tâm thật chưa đến , vội đi chê bai tất cả, không ngờ thân mình lọt vào lưới ma mà không hay biết.
Thiền sư Quảng Trí bảo: " Những người học đạo, nếu như hành chưa đoạn , tập khí phiền não lại sâu đậm, ghé mắt sanh tình, chạm trần thành trệ, dù rõ ý nghĩa sanh tử mà sức kia chưa đủ, chẳng thể chấp rằng:" ta đã ngộ xong, phiền não tánh là không , nếu khởi tâm tu lại là điên đảo". Thế nhưng, tánh phiền não dù không, mà hay khiến thọ nghiệp. Nghiệp quả không tánh, mà cũng tạo nhân khổ. Khổ đau tuy hư dối vậy mà khó nhẫn là sao ?"
Nghĩa là miệng nói không mà tâm chưa không thì đâu tránh khỏi nhân quả, chớ bảo là hoàn toàn không có gì.
Ở một đoạn khác , thiền sư Quảng Trí lại bảo: "Người xưa nói :- Kẻ học đạo dòm thấy một chút pháp không, rồi nghe người tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, thực hành các thứ hạnh, liền bảo:" Pháp lìa danh tự, nếu theo danh giả thuyết quyền, càng thêm hư vọng". Đây là hạng người trong tâm ngoài miệng trái nhau. Đâu chẳng thấy Kinh Lăng Nghiêm nói:" Nếu ở trong định kia, các thiện nam thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm sáng tỏ, tự cho mình là đủ, thì có một phần đại ngã mạn, bị ma nhập tâm phủ. Họ bảo, một niệm vượt qua ba vô số kiếp, trong tâm còn xem thường cả mười phương Như Lai, huống chi hàng Thanh Văn, Duyên Giác ở bậc dưới. Chẳng lễ tháp miếu, khinh thường kinh tượng, cho đây là đồng, vàng , gỗ, đất. Và bảo nhục thân là chân thường mà chẳng tự cung kính, lại đi sùng mộ gỗ đất thật là điên đảo. Quả làm nghi lầm người sau vậy. Phải biết, chấp không mà phá tướng như thế đều là quyến thuộc của ma. Mặc cho tất cả đều không, sanh không, tử cũng không, nhưng vua Diêm La chẳng không thì làm sao đây ? Thật đáng thương xót !"
Đó gọi là Si không, mê lầm nhân quả là bệnh chẳng phài thiền cần phải tránh !
V. BỆNH TỰ MÃN DỪNG BƯỚC GIỮA ĐƯỜNG
Người học được một ít lý thiền, hiểu được một vài công án, liền tưởng mình đã đạt thiền, đã đủ vốn liếng không cần học hỏi, tìm hiểu, thưa thỉnh gì thêm. Không ngờ tập khí ngã mạn ngấm ngầm nổi dậy, thấy ta hơn gnười, ta tự đầy đủ, ta biết hết rồi v.v… thành mở đường cho cái ta sống dậy mà không hay biết. Sự thật cái hiểu của mình có được bao nhiêu so với mười trí của Phật đã được mấy cái mà vội tự mãn quá thế? Đây là bệnh, chẳng phải thiền.
Thiền sư Tâm ở Hoàng Long sau khi đại ngộ, Sư vẫn sống chung lộn với chúng và thường hay tìm hiểu dứt khoát về lời dạy của Vân Môn. Hòa thượng Huệ Nam thấy vậy bèn hỏi:
- Đã biết việc này rồi thì thôi, ông còn dụng nhiều công phu để làm gì?
Sư thưa:
- Dạ, chẳng đúng. Hễ còn một mảy may nghi ngờ là chưa đến hàng vô học, đâu thể tự do
tung hoành xoay chuyển trời đất được.
Hòa thượng Huệ Nam công nhận.
Kinh nghiệm của người thực sống, thực hiểu đầy đủ là như thế. Người chân thật có đạo tâm cần thấy rõ!
VI. TÓM KẾT
Thiền sư Quảng Trí bảo: “Pháp tánh không bờ mé, biển hạnh khó đo lường. Vì vậy khoảng trong sát na hành đủ vô số kiếp, hoặc hằng hà sa kiếp chưa hết một niệm. Đều bởi, người có hiền ngu, căn cơ có lợi độn mà ngộ có chậm mau vậy. Hoặc đã ngộ nhập thôi dứt quá sớm, trí chẳng vào tới đạo vi điệu, thì khó thắng nổi tập khí. Nếu một niệm chẳng hết sạch , tức là cội gốc sanh tử, sẽ bị nghiệp lôi đi, trở vào trong bào thai thân sau.”
Nói chung người tu thiền phải luôn luôn thấy rõ chính mình trong mọi trường hợp, không để một chút bóng tối xen vào khiến che mờ chân tánh. Điều nên nhớ là, mình đang sống trở về chân, thì phải chân thật với chính mình, không thể dối mình bằng lý này lý nọ. Một điểm qua trọng nhất không thể lầm lẫn là, phải luôn luôn sáng ngời không để tướng ngã xen vào mà không hay biết. Có tướng ngã vào, nhất định là bệnh, dù lý luận bao che cách mấy cũng không khỏi! Mà chúng ta đều là những người hiện còn đang tu, chưa phải đến quả cứu cánh thì ai dám bảo là hoàn toàn sạch hết tướng ngã ?. Đã chưa thật sạch hết thì dám tự hào hay sao? Vừa có niệm tự hào thì chính nó đã hiện ra rồi, đâu thể che mắt được bậc thiện tri thức! Cần phải một phen sáng là sáng mãi tột mé vị lai không cùng tận, chẳng dừng lại ở bất cứ chỗ nào. Mong huynh đệ chúng ta hãy cẩn thận !
Thiền duyệt
Thiền duyệt có nghĩa là sự an vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải có một sự cố gắng vất vả ghê gớm lắm. Tôi còn nhớ trong khóa tu thiền đầu tiên, tâm tôi cứ suy nghĩ lung tung và chu du đi khắp mọi nơi. Ðến một lúc bực mình quá, tôi tự nhủ là nếu nó xảy ra lần nữa thì tôi sẽ đập đầu vào tường cho biết! Nhưng thật may cho tôi, lúc ấy tiếng chuông báo hiệu giờ ăn trưa cũng vừa được thỉnh lên. Trong khi sắp hàng chờ lấy đồ ăn, tôi nghe trộm hai người đứng phía sau nói chuyện với nhau. Một người hỏi thăm người kia về thời ngồi thiền vào buổi sáng này. Anh ta trả lời với một giọng thật vui tươi, “Sáng này tôi ngồi chẳng được yên gì mấy, nhưng chiều nay chắc chắn là sẽ tốt hơn”.
Tôi quay lại nhìn anh ta với một ánh mắt kinh dị và khó tin. “Tại sao anh lại không hề bị bực mình như tôi?”. Tôi tự hỏi. “Anh ta có coi chuyện hành thiền là quan trọng hay không chứ?”. Và đó cũng là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, anh ta là Joseph Goldstein. Năm năm rưỡi sau, hai chúng tôi cùng với Jack Kornfield và một số bạn có tâm đạo, đã cùng nhau đứng ra thành lập Trung tâm thiền tập Insight Meditation Society. Ðến lúc ấy thì tôi cũng đã hiểu được ý của Joseph khi anh nói lên câu đầy hy vọng ấy.
Khi sự tu tập tiến triển hơn, tôi mới hiểu những điều kiện cần thiết cho sự phát triển định lực không phải là cái thái độ tranh đấu, gian khổ mà tôi đã có. Theo tâm lý học Phật giáo thì bất cứ một tâm hành thiện nào cũng đều có một nhân duyên gần của nó. Ðó là một điều kiện cơ bản làm phát khởi lên đức tánh ấy. Ví dụ, nhân duyên gần của tâm từ, metta, là thấy được sự tốt lành trong người khác. Vì vậy, tâm metta dễ phát khởi nhất khi ta nhìn thấy những cái hay, cái đẹp của người chung quanh mình. Tôi thì cứ tưởng nguyên nhân để làm phát sinh tâm định phải là một sự căng thẳng, tranh đấu mãnh liệt. Nhưng hoàn toàn ngược lại, tôi vô cùng ngạc nhiên vì nhân duyên gần để làm phát khởi định lực chính lại là sự an lạc.
Sau này tôi mới hiểu, cố gắng trói buộc tâm mình vào trong một đối tượng sẽ không tạo điều kiện cho định lực phát sinh. Và trái lại, khi tâm ta buông thả, tĩnh lặng và hạnh phúc, ta sẽ có thể định tâm rất dễ dàng và tự nhiên. Hạnh phúc tôi muốn nói ở đây không phải chỉ là một cảm giác vui thú thoáng qua, mà tự nó chứa đựng một sự lo âu vì ta sợ sẽ mất đi. Hạnh phúc làm điều kiện cho định lực mà tôi muốn nói là một trạng thái tĩnh lặng, khi tâm ta yên ổn, cởi mở và tự tin. Ðây là một khu vườn phì nhiêu cho cây Ðịnh đâm hoa, kết trái. Nhưng làm sao ta có thể có được trạng thái an lạc ấy đây?
Theo tôi nghĩ, muốn có một sự an lạc, trước hết ta cần phải có một cái nhìn cho đúng. Một cái nhìn mà Joseph đã biểu lộ trong giờ ăn hôm ấy nhiều năm trước đây. Trong hành trình tu tập, bao giờ ta cũng sẽ có những kinh nghiệm mà ta cho là sự thăng trầm. Thiền tập là một tiến trình tuần hoàn, một vòng tròn, nó thách thức hết mọi sự phân tách nhưng đòi hỏi một sự chấp nhận. Và càng tu tập, tôi lại càng khám phá rằng khả năng chấp nhận và cho phép những kinh nghiệm thay đổi, nó có liên hệ đến mức độ tự trọng của mình.
Khi đức tự trọng của tôi vững mạnh, tôi có thể trải qua những giai đoạn khó khăn mà không hề nản lòng. Vấn đề khó khăn không phản ảnh sự yếu kém của tôi. Và khi gặp những lúc an vui, dễ chịu, tôi cũng không bị lệ thuộc vào chúng, vì sợ chúng sẽ đổi thay hoặc mất đi. Ðối với tôi, đức tự trọng là một yếu tố chủ yếu trong việc duy trì sự an lạc và từ đó dẫn đến định lực. Tôi cũng hiểu, mức độ tự trọng của tôi còn được cắm rễ trong những việc làm hằng ngày của tôi nữa, chứ không phải chỉ giới hạn trong lúc ngồi yên trên tọa cụ thực tập, và nó cũng đã được ghi chép trong kinh điển.
Kinh điển Phật có trình bày cho ta thấy một trạng thái tâm thức sẽ giúp tạo nên điều kiện cho sự phát sinh của tâm thức kế tiếp như thế nào, theo một thứ tự ngẫu nhiên. Trong quyển Thanh tịnh đạo, Visuddhi-magga, một tác phẩm nổi tiếng trong bộ Luận tạng của Phật giáo Nam tông, thì sự an lạc là một phần tự nhiên của tiến trình đi từ giới luật cho đến sự giải thoát tối thượng.
Mở đầu, bộ luận ấy nói rằng giới luật là nền tảng của sự phát triển định lực. Trong đạo Phật, giới luật không phải được xem như là những điều lệ bắt buộc, cố định. Giới luật có nghĩa là sống với chủ ý phản ảnh tình thương và tâm từ của ta ra đối với chính mình và người chung quanh. Như triết gia George Santayana nói, “Giới luật là ước muốn làm vơi bớt khổ đau cho cuộc đời”. Khi chúng ta sống hòa hợp với chân lý muôn đời mà mọi vật trên thế giới này đều có liên hệ với nhau, ta sẽ không bao giờ muốn làm hại bất cứ một cái gì. Và, giới luật sẽ làm phát khởi lên điều kiện tâm thức kế tiếp là sự câu thúc.
Câu thúc tức là ngăn ngừa, kềm chế, là nền tảng của sự phát triển một tâm không hối hận. Khi ta biết dừng lại một sự thúc đẩy nhất thời, xúi giục ta hành động gây hại, ta có thể thấy được cái tính chất vô thường và vô ngã của ý muốn vừa khởi lên ấy. Tránh được những hành động gây hại, ta sẽ tránh được mặc cảm tội lỗi, sợ bị người khác biết, và nỗi bối rối, hối hận khi ta khám phá rằng bất cứ hành động nào cũng đều đem lại hậu quả.
Một điều kiện tích cực phát sinh từ sự câu thúc là trạng thái hỷ, tức vui mừng. Vì không hối hận chính là nền tảng của sự phát triển tâm hỷ. Hỷ là một trạng thái nhẹ nhàng và dễ chịu mà ta có trong cuộc sống, khi ta bắt đầu biết lo cho chính mình và người chung quanh nhiều hơn. Khi chúng ta thật sự cảm thấy một sự liên hệ với người chung quanh, ta sẽ buông bỏ những hành động nào có tính cách gây hại, và bớt làm những việc gì khiến ta cách biệt với người khác. Từ đó, cái cảm giác cô đơn, xa cách của ta cũng sẽ tan biến mất. Tâm hỷ lại là nền tảng cho sự phát triển an lạc.
Và ta có được sự an lạc qua phương cách đó - một sự an lạc của vững chãi và thảnh thơi. Sự an lạc ấy sẽ không bao giờ bị lay chuyển, cho dù vật đổi sao dời, con người có làm cho ta thất vọng, hoặc ta không đạt được những gì mình muốn. Hạnh phúc ấy dựa trên ý thức rằng mọi sự sống đều có liên hệ với nhau, và hành động của ta bắt nguồn từ một trạng thái nguyên lành và trọn vẹn nhất. Nó bắt nguồn từ một tâm thư thái. Ta gọi đó là đức tự trọng.
Tiếp theo đó, như trong Thanh tịnh đạo ghi chép, an lạc lại là nền tảng cho sự phát triển một tâm tĩnh lặng. Thay vì là những sôi động, xôn xao mà ta thường kinh nghiệm khi mình lo nghĩ và hối hận, tâm ta trở nên yên lặng hơn. Vì không phải lo đối phó và tháo gỡ những rối rắm trong tâm hồn, ta có thể an trú trong phút giây hiện tại này hơn. Tĩnh lặng, phát khởi từ sự an lạc, là nền tảng của sự phát triển định lực. Sự tĩnh lặng này chính là cái mà tôi đã thiếu trong khóa tu ngày xưa, nhiều năm trước đây.
Ðịnh là sự vững vàng của tâm, một cảm giác mà ta có khi sự chú tâm của ta nhất điểm và mãnh liệt. Khi ta có định lực, cánh cửa của tuệ giác sẽ mở rộng. Chừng ấy, ta có thể nhìn thấy được sự việc như chúng thật sự là, và không để bị méo mó qua những lăng kính của sự ưa thích và ghét bỏ của ta. Chính nhờ bỏ đi những lăng kính này mà ta bắt đầu biết tin tưởng vào khả năng cảm nhận sự thật của mình. Một cái nhìn và hiểu biết đúng đắn, khi đã thật sự trở thành một phần trong đời sống của ta, sẽ là nền tảng cho sự phát triển một tâm bình thản.
Tâm bình thản không phải là một thái độ lãnh đạm và dửng dưng, mà là một tâm thức bao la, trong đó ta cảm thấy trọn vẹn và đầy đủ, cho dù hoàn cảnh cuộc đời có thăng trầm đến đâu. Nó là một sự trầm tĩnh trước những biến động của cuộc đời mà ta phải liên tục đối diện. Cho dù ta có đạt được những gì mình muốn hay không, chúng ta vẫn thấy được vấn đề trong đúng phối cảnh của nó. Ta vẫn có thể làm những gì cần làm, để làm vơi bớt khổ đau của mình và của kẻ khác, nhưng hành động ấy sẽ phát xuất từ một hạnh phúc nội tại. Ðó chính là Joseph trong giờ ăn trưa hôm ấy, mặc dù lúc đó tôi cho rằng anh ta quá tầm thường, vì anh đã không tự hành hạ mình giống như tôi.
Sự bình thản là nền tảng cho sự phát triển một tâm bớt tham lam và giận dữ. Một khi chúng ta đối diện với cuộc đời bằng một tâm quân bình và hạnh phúc, ta sẽ không còn bị phản ứng máy móc theo thói quen và tập quán của mình nữa, như là lúc nào cũng chạy theo lạc thú và trốn tránh đớn đau. Những tập quán lâu đời ấy sẽ thôi không còn cắm rễ vào tâm ta như xưa. Và nếu chúng có khởi lên cũng sẽ rất là mềm yếu, ta không cần phải sợ hãi vì biết mình có một sự chọn lựa và không để chúng sai sử như trước.
Sự phai mờ của tâm tham lam và sân hận là nền tảng của giải thoát. Giải thoát chính là một sự hiểu biết chân lý mãnh liệt đến nỗi ta không còn có thể quay trở lại được nữa. Khi ta tiếp xúc với những kinh nghiệm của mình không bằng thành kiến, không cố gắng dùng chúng để khỏa lấp một sự trống vắng nào trong ta, ta sẽ thấy được rõ ràng những gì đang có mặt. Chúng ta có thể cởi mở ra với sự sống và học hỏi nó, vì chân lý của cuộc đời bao giờ cũng có mặt trong mỗi kinh nghiệm của mình. Khi ta có chánh niệm, ý thức rõ ràng và không phê phán, ta sẽ khám phá được nguyên nhân của khổ đau cũng như sự chấm dứt của khổ đau.
Sự tiếp nối này, như đã được diễn tả trong Thanh tịnh đạo - giới luật, ngăn giữ, hỷ, lạc, tĩnh lặng, định, bình thản, sự phai mờ của tham lam và sân hận, và giải thoát - chúng tiếp theo nhau thật tự nhiên như sự chuyển động của một làn gió. Và an lạc, khi được nhìn dưới ánh sáng của tiến trình này, sẽ trở thành một phần của con đường tu tập. Ta sống với tình thương, lòng từ bi, tâm bất hại, và chúng sẽ dẫn ta đến một khung trời giải thoát.
Mặc dù an lạc tự nó là mục đích, là quả trái của thiền tập, nhưng nó cũng là một phương tiện, một trạng thái tâm thức mà ta có thể có ngay bây giờ và ở đây, chỉ cần ta biết tự trọng và sống với tình thương. Và niềm an lạc ấy là một nguyên tố chủ yếu giúp ta giải thoát khỏi mọi khổ đau trong cuộc đời này.
THIỀN HỌC VẤN ĐÁP
1.- Tâm vọng có thể tu sao ?
- Đúng như thế. Chỉ có nhắm vào tâm vọng mà nói chuyện hạ thủ công phu. Tại sao ?
Giả sử chúng sinh không hề quên đi bổn tánh, thì tâm vọng làm gì có. Đã không có tâm vọng, thì làm gì có tâm chơn, và tâm với Tánh là 2 hay 1 cũng không còn thành vấn đề, vậy lấy đâu để tu ? Nhưng khi đã có tâm vọng mới có chuyện tâm chơn, vì bổn tánh bị tâm vọng che khuất đi, giống như cụm mây nhỏ che khuất mặt trời, bề trên vẫn sáng, bề dưới tối. Cho nên, không nhắm vào tâm vọng để tu đều là pháp hướng ngoại, không phải con đường thẳng tắt nữa.
Phải biết rằng, tâm vọng hay tâm chơn chẳng qua cũng chỉ là một pháp trong vạn pháp của bổn tánh, chỉ vì phát triển có mất chính thường hay không mà thôi.
Một chúng sanh khi bị khổ đau phiền não dày vò, tự mình cảm thấy bất ổn nên mới nói tới chuyện chọn đường tìm pháp để tu. Chính hồi ấy cũng là một thứ tâm vọng, nhưng là tâm vọng đã bắt đầu chuyển hướng. Kinh Lăng Nghiêm có nói :” Ngay hồi tính trừ vọng, chính hồi đó là vọng, đến bao giờ tâm cuồng vọng ngừng dứt tức là giải thoát” . Như thế không nhằm vào tâm vọng mà gỡ, mà tu vậy dựa vào đâu để chấm dứt khổ đau, thoát vòng tục lụy ?
2.- Như thế nào là MINH TÂM KIẾN TÁNH ?
-Tất cả ngôn ngữ văn tự chẳng qua chỉ là một thứ dụng cụ tạm bợ bất toàn. Điểm quan trọng của câu hỏi nầy ở ý của người muốn hỏi là sao ?. Sự thực đáng lẽ phải nói là “tự minh bổn tâm tự kiến bổn tánh” mới đủ ý nghĩa. Tại sao ? Vì đây là tự mình mình biết, tự mình mình hay, tựa như người uống nước vào trong bụng cảm biết được sự lạnh nóng, chứ không phải cái biết trong thế 2 tướng.
Nói minh tâm đây có bao gồm 2 ý nghĩa :
1/ Tự thấy được tâm vọng của chính mình, nó đang tự ngôn tự ngữ, tự nói tự rằng rối rối rít rít không bao giờ ngừng dứt.
2/ Khi tâm vọng ngừng dứt, biển lòng sóng lặng gió yên, TÂM THỂ VÔ NIỆM xuất hiện, mặt thật của tâm hiển bày, tự mình trực nhận mà thấy được. Đó là minh được Chơn Tâm. Thế là cả tâm chơn và tâm vọng của chính ta, ta đều nhận được. Xa hơn nữa, suốt đi đứng nằm ngồi khi tâm chưa động dụng, thì tâm thể như Hư không. Khi có động dụng, nếu động dụng theo điên đảo, theo mê, đam chấp theo tướng thì gọi là nghịch dụng hay chúng sinh dụng. Nếu động dụng theo Ngộ, theo chánh biến tri, xứng theo bổn tánh, thì gọi là thuận dụng hay Phật dụng. Mà Phật dụng thì luôn luôn được rỗng rang rời rảnh, khi xúc duyên chạm cảnh động dụng phân minh.
Xa hơn nữa, nhờ có minh tâm mà trực nhận được chính thân tâm mình cùng với bao la vô tận vốn nằm tròn trong cái thế tuy không phải một nhưng không phải khác. Vốn nó có cái lẽ đồng nhất tương quan quân bình trật tự biến hóa lưu thông chớ không phải khác. Nên khi tâm vọng dấy khởi, thì thấy tâm với Tánh hình như hai. Đến khi Tâm Chơn xuất hiện, thì thấy Tâm Với Tánh hình như một. Đến đây, trong ta có tất cả, cũng như trong tất cả đều có ta, chỉ có “động dụng Mê” hay “động dụng Ngộ”, mở hiểu biết theo chúng sanh hay mở hiểu biết theo Phật mà thôi.
Người xưa muốn nghiệm biết xem coi có Minh Tâm Kiến Tánh hay chưa, đại khái có 2 cách :
- Hoặc trắc nghiệm bằng cơ phong, không bao dung lý trí, tức thì hỏi tức thì đáp, không chấp nhận dần dà suy nghĩ. Nếu còn thời gian suy nghĩ là chưa toàn bích, chưa nhập diệu, việc chưa rồi.
- Hoặc nhìn suốt cả động dụng hằng ngày trong đi đứng nằm ngồi, để biết được người đó đã thuần thục hay chưa.
3.- Tu hành được Minh Tâm Kiến Tánh là xong chưa ?
- Chúng sinh là sản phẩm của đại tự nhiên mắc liền vào bao la vô tận. Đại tự nhiên vốn vô thỉ vô chung, không đầu không đuôi không khúc giữa. Con người giải thoát là tự trả về với trật tự thiên nhiên, không còn vận dụng theo ý riêng nữa. Vậy lấy đâu mà nói là xong hay chưa xong. Như thế đủ biết nói xong hay chưa xong hoàn toàn nhắm vào tâm mê vọng mà nói. Sau khi tâm mê vọng dứt rồi, từ đây về sau đều thuộc về pháp thị hiện. Hoặc thị hiện thuận hay thị hiện nghịch, để thành diệu dụng mà thôi. Phương chi con sư tử một tuổi tuy vẫn đầy đủ gan ruột, tướng tá oai vệ của một con sư tử, nhưng nếu so sánh với con sư tử già nhất định không thể không có chỗ khác.
4.- Làm sao để biết chắc con đường tu của mình là thẳng tắt và chính xác ?
- Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có một ví dụ : Đức Phật dùng một cái khăn thắt lại thành nhiều gút, rồi nắm hai mối lại hỏi Ngài ANAN :”Nếu muốn gỡ phải làm sao?”. Ngài ANAN thưa :”Phải bắt từ ngoài mà gỡ lần trở vào trong đến bao giờ hết gút”. Đức Phật bảo :”Đúng thế ! Đúng thế !” Tâm đã vọng tạo thành trói buộc thì không thể không căn cứ vào tâm vọng mà mở. Như thế không phải là việc làm chính xác sao ? Chỉ có điều là mở có phưng pháp, có kỹ thuật hay không mà thôi. Nếu có phương pháp và kỹ thuật tốt, thì kết quả sẽ được nhanh chóng và dễ dàng.
Khi ta đã ý thức được, vì mê nên cấu tạo thành khối tâm vọng bao hàm cả không gian và thời gian tâm lý. Nay quay hẳn trở vào, căn cứ vào tâm vọng mà gỡ, áp dụng “thân chính giác” và “kỳ tình” làm lợi khí, thì sao mà không thẳng tắt chính xác được ? Phương chi người xưa có nói, khi lội trở ra thì biển hận muôn trùng, nhưng quay hẳn vào thì lập tức thấy bờ mé. Như thế thì còn gì nghi ngờ nữa chứ?
Thật không ai ngờ sinh thế của một con đỉa với sinh thế của một khối vọng tâm giống hệt nhau.
Con đĩa vì tế bào ngang, và nơi sinh sống của nó ở dưới nước. Nếu đem cắt nó ra từng đọan, rồi cho đất ẩm ướt và chôn dấu kỹ lưỡng. Ít lâu sau đào lên, mỗi một khúc kéo dài ra thành một con đỉa, để ngọ ngoạy chen lấn lẫn nhau. Nhưng, nếu người ta chơi rắn mắt, bắt nó lộn ngược bề trong ra ngoài, nó liền tức khắc chết.
Thật vậy, khối vọng tâm muôn đời nếu ta chống lại nó bằng cách hướng ngoại hay phân tán, nó sẽ đứt đoạn từng khúc mà biến thành linh tinh để khuấy rối chúng ta, mà Thiền học gọi là 50 thứ ma chướng. Nhưng, nếu ta quay hẳn trở vào mà hạ thủ công phu, thì chúng nó hoàn toàn bị phân hóa, để ta dễ bề hóa giải hay tiêu diệt. Đây quả là một định tắc hoàn toàn chính xác.
5.- Quan Niệm Về Thân Xác và Kỳ Tình có gì bí mật đâu, mà sao lại có khả năng tiêu hóa Vọng Niệm hiệu lực đến thế ?
- Mục đích của hạ thủ công phu tu hành là nhắm vào việc tiêu hóa tận nguồn cội của khối vọng tâm muôn thuở (=Hoặc+Nghiệp+ Khổ) . Tâm mê nên đam chấp lấy thân, nhà Phật gọi là chấp ngã. Vì chấp ngã, nên mới có cái chuyện dựng đứng cái TÔI. Nay muốn phá trừ tâm vọng, chỗ bí yếu duy nhứt là làm cách nào, để có thể tách rời sự đam chấp ấy, để tâm với thân có thể là hai mà cũng có thể là một.
Ý thức Quan Niệm Về Thân Xác (=thân chính giác) và phát khởi Kỳ Tình là vạch một luồng tách bạch rẻ đôi giữa thân và tâm vọng. Bởi vậy, nếu một người tu mà ý thức sâu xa chính chắn kỹ lưỡng về Khu Xác Quan Niệm và Kỳ Tình (=nghi tình) một cách thường trực nằm sâu tận đáy tâm não sẳn sàng, thì đối với vấn đề rẻ đôi giữa thân và tâm vọng của người đó khẳng định sẽ rất dễ dàng, hễ động dụng là thành công.
Người xưa có nói : “Không biết bổn tâm học Đạo vô ích”. Còn ngày nay lại có người nói :”Không biết tự thân học Đạo vô ích” là tại mẹo nầy !
Bởi vì khối tâm vọng lấy đam mê xác thân để tồn tại, nay giữa thân và tâm vọng bị tách làm đôi, tự nhiên muôn niệm của tâm vọng đều lập tức bị tiêu hóa. Phương chi chỉ ý thức về Khu Xác Quan Niệm thôi cũng đã đủ là một thế mẹo tâm lý để tách rời thân và tâm vọng, mà đàng nầy lại còn bồi thêm Kỳ Tình giống như một con đường có lú lấp vừa mới được vạch xong lại cho thêm một ban đi tém dẹp thúc đẩy sâu vào cho con đường rẽ thêm rộng rãi thênh thang. Do đó, khối vọng tâm bị lộn ruột vỡ toang giống như đỉa bị lộn bề trái ra ngoài, tự nó phải chết mất.
Quả thật, Quan Niệm Về Thân Xác và Kỷ Tình là một thứ diệu dược rất mầu nhiệm, một kỹ thuật siêu đẳng để tách rời thân với tâm vọng, nếu khéo vận dụng, thì thành công dễ dàng.
6.- Kinh nói : “Bổn tánh chúng sinh vốn ngậm chứa vạn pháp” (bao gồm cả hữu tình và vô tình) nên gọi là “Hàm Tàng Thức”... Thế thì cái chứa trong lòng của chúng sinh lẽ ra cũng tự nhiên, thế sao phải có chuyện điều chỉnh lại ?
Xưa, khi HUỆ MINH (T.Tọa MINH) đuổi kịp LỤC TỔ HUỆ NĂNG và thỉnh pháp. Tại sao LỤC TỔ không giải thích mà chỉ giáng vỏn vẹn có một câu hỏi : “Hồi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính hồi đó cái gì là Bản Lai Diện Mục của Thượng Tọa MINH ?”. Như thế không phải là bổn tánh của chúng sinh vốn tự thanh tịnh, vốn có khả năng sinh ra vạn pháp sao?
Khi chưa động dụng, thì tâm với Tánh vốn không hình tướng, vốn không thể phân, cũng không thể hợp. Nhưng khi đã động dụng tất có động dụng Mê hoặc động dụng Ngộ. Động dụng Mê là chúng sinh dụng, là xứng thân. Còn động dụng Ngộ là Phật dụng là xứng tánh dụng. Xứng Tánh dụng thì rỗng rang rời rảnh, tỉnh táo sáng suốt thường xuyên. Xứng thân dụng, thì chèn ép, ồn ào, lao xao lầm lẩn, khổ đau phiền lụy. Như thế há không phải tuy vẫn ngậm chứa vạn pháp mà khi đã nghịch dụng là biến dạng rồi đó sao? Bản thể tuy là một, nhưng tướng dụng lại khác xa. Nên mới có việc chuyển thức cho thành trí, chuyển thức hàm tàng thành ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ. Chuyển cái tâm đam chấp như máy chụp hình cho trở thành cái tâm giải thoát như gương sáng, cho đến chỗ chuyển và tướng chuyển cũng không còn nữa. Thế là Phật không khác gì chúng sinh mà vẫn khác xa vậy !
7.- Người tu Tâm có nên xem thường xác thân nầy không?
- Bất cứ một pháp nào ở trên đời nầy, chính nó vốn sẵn có một tầm vóc giá trị đúng y như nó đang là, không có vấn đề tầm thường hay không tầm thường. Sở dĩ có xem thường hay không xem thường là vì chính con người không thật sự hiểu nó, mà hóa ra có chủ trương lệch lạc. Thử hỏi, nếu không thân, thì còn tu cái gì nữa ? Từ xưa tới nay có ai nói Hư không tu hay không ? Hay nói anh XOÀI anh ỔI tu. Giả thử không có thân lấy đâu để nói tâm vọng tâm chơn ? Không có tướng lấy đâu để nói “MỘT LÀ TẤT CẢ, TẤT CẢ LÀ MỘT”, “MỘT TỨC TẤT CẢ, TẤT CẢ TỨC MỘT”, trên đầu kim có đủ Tam Thiên Đại Thiên thế giới.
Khi chưa có tướng lấy đâu để có Mê và Ngộ, có thời gian và không gian ... Khi chưa có cái TÔI, chưa có cái biết của TÔI, thì mọi vật ra sao vốn không thành vấn đề. Nhưng, khi đã có TÔI, có cái biết của TÔI, thì muôn vạn vấn đề đổ xô kéo tới. Quả thật, TÔI là trung tâm của vấn đề. Đã có TÔI mới có Mê, có Mê mới có thời gian không gian. Có Mê và có thời gian không gian mới nói có tu có Ngộ. Vậy ai là người dám bảo trên đường đời, trong dòng thế tục, xác thân tứ đại nầy đối với người tu đâu không phải là con long mã để đưa TAM TẠNG đi thỉnh kinh hay chiếc thuyền con để cho ta vượt dòng sóng gió ? Mặc dù mới mấy bữa trước đây, chính ta đã dùng nó làm hệ lụy cho ta và người khác!? Thế mới biết, đi chưa đến TÂY PHƯƠNG mà định bỏ đói con long mã không cho ăn, không cho tắm; chưa qua được bờ bên kia mà đã nghĩ tới chuyện hủy bỏ chiếc thuyền, thì nào có khác chi kẻ đã vượt qua bờ bên kia rồi mà ngồi đó tiếc rẻ chiếc thuyền không muốn lên bờ giải thoát !.
8.- Trường hợp không thể phát khởi nổi Kỳ Tình là vì sao?
- Vì không biết rõ vọng tâm dính mắc liền với xác thân nguy hiểm thế nào, nên vấn đề thân giác (=Quan Niệm Về Thân Xác) không ảnh hưởng sâu vào tâm não. Do đó, mà KỲ TÌNH khó phát khởi hoặc phát khởi yếu, cho nên phải nghiên cứu kỹ, nếu biết rõ thì sẽ không còn khó khăn nữa.
9.- Đối với khối vọng tâm muôn thuở, ngoài cách áp dụng pháp Vô Niệm (=Giải Thoát pháp) để hạ thủ công phu, còn có pháp nào hay hơn nữa không ?
- Thực ra, dùng pháp Vô Niệm hay Pháp Giải Thoát để hạ thủ công phu cũng chỉ là pháp thứ hai, Tại sao ? Sở dĩ có ra khối vọng tâm muôn thuở là tại cái thấy mê lầm buổi ban đầu của chúng sinh chỉ lục đục xoay quanh theo sự lợi hại của bản thân, lấy cái TÔI làm trụ cốt, nên càng ngày càng bẩn chật khó khăn, mất hẳn tầm mắt thấy xa nhìn rộng, làm cho khối vọng tâm càng thêm sức mạnh. Nếu ai có đủ tầm mắt thấy xa nhìn rộng đúng sự thực, thì khối vọng tâm không còn hiệu lực nữa. Bởi vậy, NGŨ TỔ có nói với các đệ tử của Ngài rằng :“Các người suốt ngày chỉ lo cúng bái làm phúc. Đến giờ phút chót, bổn tánh nếu mê thì phúc nào cứu được!?” Hay như có người hỏi Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA :” Đồ tể còn nghiệp sát sanh, cư sĩ còn vợ con dâm dục làm sao thành Phật được ?. Tổ đáp :” Đây không bàn đến vợ con dâm dục hay đồ tể sát sanh, mà chỉ nhằm vào việc thấy Tánh. Một khi thấy được bổn tánh rồi, thì nghiệp dâm nghiệp sát tự rỗng lặng”. Cũng vì thế mà LỤC TỔ HUỆ NĂNG đến với NGŨ TỔ HOẰNG NHẪN một cách hết sức tự nhiên với bài kệ họa vận với bài kệ Ngài THẦN TÚ :
“Bồ Đề vốn không phải cội,
Gương sáng cũng không phải đài,
Bổn lai không một vật,
Lấy gì bám trần ai”.
Thế là được trúng tuyển !.
Chính vì thế cho nên, nếu có một cách nhìn thật sâu rộng nhẹ nhàng (thể hội sâu chắc 100%), để buông xả, thì tự nhiên vọng tâm không còn thành vấn đề nữa.
Thời nay, chỉ vì không có được cách nhìn như thế, nên bất đẳc dĩ phải dùng pháp thứ hai mà thôi.
Có ai ngờ, hồi Tết Mậu Thân có một cậu trai con một của một bà lão bị tử nạn... Khi qua cơn khói lửa, nhiều người đến thăm hỏi chia buồn, bà có nói một câu :” Nếu không ai chết chắc tôi sẽ chết theo con tôi rồi, nhưng khi thấy người ta chết nhiều quá bỗng dưng việc con tôi chết hết thành vấn đề trong tâm tôi nữa”. Ôi !. Nếu không có điều kiện thấy suốt nhìn khắp, mà cũng không thực hành được pháp thứ hai (Vô Niệm Pháp), thì chỉ còn có nước chờ pháp độ nghịch theo kiểu bà lão nói trên mà thôi vậy !.
10.- Tu pháp Vô Niệm nầy có được vãng sanh về Tịnh Độ không?
- Nếu câu nói :”Tự tánh là nghĩa A DI ĐÀ, duy tâm là Tịnh Độ. Muốn thanh tịnh quốc độ trước phải thanh tịnh cái tâm, tùy theo tâm được thanh tịnh thì quốc độ được tịnh”, là nghĩa cứu cánh, thì tu pháp nầy quyết định sẽ được Tịnh Độ.
Còn như đặt vấn đề Tịnh độ ngoài tâm theo chiều hướng ngoại xa tít tận trời Tây, thì pháp Vô Niệm nầy thuộc về pháp hướng nội, so với tinh thần hướng ngoại, hai thế trái ngược nhau làm sao hợp lại mà cùng bàn được ? Vẫn biết rằng Đạo vốn không có gần với xa, nhưng hướng nội và hướng ngoại hai thế muôn trùng cách biệt.
11.- Pháp Vô Niệm với pháp Tịnh Độ, pháp nào thẳng tắt hơn?
- Gốc bệnh ở chỗ nào thì nhắm vào đó mà chữa trị, bệnh ở tại tâm quay vào tâm mà chữa. Đây là một định tắc đã có nói từ trước. Giờ đây, nếu so sánh để biết thẳng tắt hay không thẳng tắt, vậy thử hỏi bệnh ở tại tâm mà không quay hẳn theo chiều hướng nội để chữa, lại quay ra theo chiều hướng ngoại qua 10 muôn ức cõi nước hướng về mặt trời lặn để tìm kết quả. Sự thật hai việc là như thế, còn thẳng tắt hay không thẳng tắt, xin nhường cho diễn đàn chung nhận xét.
12.- Với lý luận “Đới nghiệp vãng sanh”, ông nghĩ thế nào ?
- Nếu có uế độ, thì có Tịnh Độ là lẽ tất nhiên. Uế độ là hậu quả của nghiệp nhiễm, còn Tịnh Độ là hậu quả của nghiệp tịnh. Cả hai nghiệp nhiễm và nghiệp tịnh cũng như cõi uế và cõi tịnh đều thuộc lãnh vực nghiệp cả. Người có đạo giải thoát phải là người không nghiệp, cho nên đới nghiệp có được vãng sanh hay không, chưa phải là vấn đề quan trọng, mà chỗ quan trọng là ở chỗ có được giải thoát hay không mà thôi vậy.
13.- Người ta nói “Kiến Tánh Thành Phật” là thuộc về PHẬT PHÁP THÂN, khác với PHẬT BÁO THÂN xa lắm, làm sao sánh kịp. Nghĩa nầy thế nào ?
- Ta hãy nghe Đức LỤC TỔ nói về ba thân :”Pháp thân là bổn tánh. Báo thân là trí tuệ giác ngộ thấy được bổn tánh. Hóa thân là y cứ nơi Pháp thân và Báo thân mà hiển hạnh”. Vậy thử hỏi, có chúng sanh nào thành Phật Báo Thân, mà bỏ qua Pháp Thân được không ? Phương chi, Pháp, Báo, Hóa Thân là một cách nói khác của Thể, Tướng và Dụng. Cả ba đều không rời nhau. Vậy thử hỏi, có Tướng mà không cần đến Thể và Dụng được không ? Như thế đủ biết, lìa bổn tánh đi tìm Phật Báo Thân chẳng khác nào leo cây tìm cá vậy !
14.- Ai cũng nói tu Thiền khó lắm không chắc ăn, nên theo Tịnh Độ cho dễ. Nghĩa đó thế nào ?
- Thế nào là dễ ? Thế nào là khó ? Nghĩa nói dễ đây, có phải là ỷ lại vào nghe trong Kinh nói về nguyện lực của PHẬT A DI ĐÀ, rồi mỗi ngày niệm hơ hà mấy câu rồi bỏ đi nằm nghỉ, để đến khi lâm chung bề nào cũng có Phật đến rước có phải thế không ?
Chúng ta hãy nghe Kinh nói :” Nầy XÁ LỢI PHẤT, không thể dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ mà được sanh về cõi nước đó... Nếu có thiện nam tín nữ nào nghe nói về PHẬT A DI ĐÀ, bèn chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày... cho đến bảy ngày, một lòng không loạn, thì người nầy khi sắp mạng chung có PHẬT A DI ĐÀ cùng các Thánh chúng hiện ở trước. Người nầy khi lâm chung, nếu tâm không điên đảo thì được vãng sanh về TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC... Giờ đây ta hãy xét :
Đã nói không được dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ, đó là yếu tố thứ nhứt. Nói chấp trì danh hiệu... Chấp nghĩa là cầm , trì nghĩa là nắm. Nghĩa là giữ chặt lấy danh hiệu, thế tức là niệm. Niệm thuộc về tâm. Tụng thuộc về miệng. Đây là yếu tố thứ 2.
Lại nói tâm chẳng điên đảo thì mới được vãng sanh. Vậy thế nào là điên đảo ? Là hướng ngoại. Vậy đã hướng ngoại thì làm sao tâm chẳng điên đảo ? Đây là yếu tố thứ ba.
Xin hỏi, tại sao tiền thân của PHẬT A DI ĐÀ là Tỳ Kheo PHÁP TẠNG, và tại sao PHẬT A DI ĐÀ còn được gọi là PHÁP GIỚI TÀNG THÂN A DI ĐÀ PHẬT ? Như thế nếu lìa bổn tánh, để tìm PHẬT A DI ĐÀ theo phép tụng niệm của đà hướng ngoại có thể dễ dàng gặp được PHẬT A DI ĐÀ không ? Phương chi, nếu nói tu Thiền là khó là căn cứ vào đâu ? Quả thật, quả thật ! Nếu không có phương pháp tốt, kỹ thuật hay khéo, thì biết đâu sẽ không dễ như hàng ngày ăn cơm bữa. Cho nên đối với người có nghiên cứu kỹ đường lối tu sẽ không còn nghi ngờ để nói khó nói dễ nữa.
Và Kinh đâu không nói :” Y theo văn chữ mà giải nghĩa thì Phật ba đời cũng chết hết. Nếu lìa Kinh một chữ là bị lọt vào đường tà”( Y Kinh giải nghĩa tam thế chư Phật oan, ly Kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết), là nghĩa thế.
15.- Niệm Phật bằng miệng ra tiếng, lần chuỗi, với mặc niệm của Pháp VÔ NIỆM khác nhau như thế nào ?
- Niệm bằng miệng ra tiếng hay lần chuỗi, trong đó hàm ẩn 2 ý nghĩa : một là tập trung tinh thần theo chiều hướng ngoại, hai là đồng thời bài tiết bớt những hơi độc do ăn uống, sinh hoạt, tâm tư tạo nên, để đuổi ra khỏi cơ thể đến mức bình thường của một con người, hầu cho khí độc nầy xung động lên đầu, kích thích thần kinh các bộ phận ở thân cũng như nội tạng, thúc đẩy ta rơi vào con đường của các nghiệp ác.
Một người khi chưa tu mà giấc ngũ nặng nề trằn trọc, ác mộng diễm mộng không yên, đó là triệu chứng của chất độc vừa kể trên nó kích thích. Sau khi siêng tu pháp môn nầy ít lâu sẽ thấy giấc ngủ yên lành, và thỉnh thoảng nằm mơ trong lãnh vực mình tu. Đó là bằng cớ hơi độc đó đã bài tiết được phần nào. Đến khi tu thật lâu, thật tinh tiến, trong giấc ngủ sẽ không còn mơ nữa. Nhưng, nếu không phải là giấc ngủ tỉnh táo, thì trái lại đó là một bằng cớ ta đã lạm dụng pháp nầy làm cho nhiệt lực trong cơ thể xuống dưới mức bình thường, để rơi vào bầu trời của ông hỗn độn vô ký, mặc dù tạm thời có thể trấn an sức thúc đẩy của người khác.
Còn phép mặc niệm của Pháp Vô Niệm có thể nói là Thiền Tịnh song tu, là một phương pháp, một kỹ thuật để đi đến kết quả TÂM THỂ VÔ NIỆM tức là giải thoát, trong đó bao hàm ý nghĩa hoàn toàn hướng nội, đóng bít các cửa, nuôi dưỡng năng lực, biến hóa chất độc của vọng tâm cho trở thành Vô Thượng Bồ Đề, hai pháp khác nhau một trời một vực.
16.- Kinh nói :”Tu phải trải qua 3 A Tăng Kỳ kiếp”, so với pháp VÔ NIỆM ý nghĩa ra sao ?
- Mỗi khi chúng ta lật Kinh Phật ra đều bắt gặp bài kệ, mà câu đầu là :”Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”, chớ không thấy nói Vô thượng thậm thâm vi diệu lý. Như thế nghĩa là sao ? Có phải Phật chứng lý rồi lập pháp, để cho chúng sanh nương nơi pháp mà ngộ lý không ?
Tại sao Phật bảo không một chúng sanh nào mà không tu ? Nếu mỗi chúng sanh đều đang tu và đã tu, vậy thử hỏi, từ khi có mặt, chúng sanh đó đã phải tu, cho đến khi hiện tướng thành Đạo là bao nhiêu kiếp?
Nói “A Tăng Kỳ” nghĩa là vô lượng. Vô lượng nghĩa là không thể tính đếm. Mà không thể tính đếm, thì một cái không thể tính đếm với ba cái không thể tính đếm khác nhau thế nào ? Như thế, có phải chăng nghĩa tu đã trải qua 3 A Tăng Kỳ kiếp chỉ có giá trị trong phạm vi của người vận dụng pháp, chớ không có nghĩa y theo văn ngữ mà tin.
Hơn nữa, nếu y vào nghĩa Phật nói, không chúng sanh nào mà không tu, thì nghĩa chữ tu nầy không phải chỉ để ám chỉ riêng cho một số người tu ở trong chùa, mà là tất cả bò bay máy cựa, đồ tề sát sinh, sát nhân giặc cướp v.v... đều tu. Và nghĩa của chữ tu nầy không thể hiểu khác hơn là, nó thấy điều lợi ích trước mắt cho nó, nó nhảy bổ vào. Khi thấy tai hại, nó lại dang ra, cứ kinh nghiệm chuyền níu thế mãi đến bao giờ đục nước cùng đường, mới bắt đầu rơi vào chánh vị của chữ tu. Từ khi rơi vào chánh vị của chữ tu, mà nếu chưa phải hoàn toàn đắc pháp ( =như thực Ngộ Đạo), thì từ đây cho đến khi thành Đạo lại phải trải qua chừng bao nhiêu kiếp nữa ?
Như thế đủ biết câu nói 3 A Tăng Kỳ kiếp nầy quả là một ẩn ngữ bao hàm hai nghĩa. Một là đa số người tu, sự thực họ chẳng có tu gì hết, và hai là nếu tu theo pháp ngoài tâm hay theo xuẩn động, thì đều là làm việc phí công vô ích hết cả.
17.- Hiện nay đang có không biết bao chủ thuyết như : Thiền xuất hồn, chuyển luân xa, Thiền nhân điện, Thiền Yoga, Luyện đơn, Cơ bút, sấm giảng... làm cho quần chúng không còn biết đâu là phải trái, đâu là chánh tà. Nay muốn cứu vãn tình thế, lôi cuốn chúng sanh trở về đường chánh, xin hỏi làm sao có thể làm được ?
- Bổn tánh của chúng sinh vốn không dư không thiếu, đầy đủ cả vạn pháp kể cả pháp thuận và pháp nghịch đều có giá trị và tác dụng của nó. Cho nên, nói tất cả pháp đều là pháp Phật, không độ thuận thì độ nghịch, không có pháp chúng sinh thì pháp Phật hết thành vấn đề. Không có pháp Phật, thì pháp chúng sinh cũng không lấy đâu để hiển thế độ nghịch. Vạn pháp đã vốn thị hiện, dòng đời đang lúc đổ dốc, thế mê của chúng sanh nếu không có pháp phản tá, bỗng dưng muốn theo hạnh thuận, mà kéo lại theo thế ngược dòng, chắc chắn sẽ hoài công vô ích? Sao bằng cứ để tùy sở thích tha hồ đổ dốc, kiến bò miệng chén có mất đi đâu ? Việc chúng sinh, chúng sinh cứ làm, việc của Phật, Phật cứ nói ? Đến lúc đã thèm theo thế chúng sinh rồi, thì trở về với Phật. Cho nên hai pháp vốn nương nhau mà tồn tại, thị hiện để độ rỗi chúng sinh, tuy thấy trái nhau nhưng kỳ thực là giúp nhau. Vì thế pháp Phật vốn thường hằng và liên tục không hề gián đoạn. Nếu thế gian nầy, tất cả đều như ý không hề có chướng ngại, vị tất đã là hay ? Nên, nếu thiếu pháp chúng sanh, thì pháp Phật không có giá trị. Pháp chúng sinh càng ngặt nghèo thì pháp Phật càng nhiệm mầu và vi diệu. Người ta nói :”Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, vậy tại sao không thể “Ma cao 1 thước, Đạo cao 1 trượng”? Cũng như nói : “Thầy hay gặp quẻ mắc”. Vậy tại sao không nói :”Không có quẻ mắc khó có thầy hay”?. Cho nên hai pháp phải nương tựa lẫn nhau mà hiển dụng. Người ta hay đến than với tôi, đời Mạt pháp tà thuyết bạo hành, nhưng riêng tôi, tôi nói :”Tâm chúng sinh đang hồi nguy ngập nên pháp Phật siêu tuyệt không thể lường ? Chỉ có những người căn cơ nhỏ hẹp mới băn khoăn than vãn?”.
18.- Tu Pháp VÔ NIỆM có điều gì cấm kỵ hay không ?
- Có, có cấm kỵ cái điều cấm kỵ. Vì sao ? Từ xưa đến nay, hễ trâu thì tìm về với trâu, ngựa chạy theo ngựa, bợm nhậu về với rượu, bợm hút về với á phiện, ma túy, kẻ muốn giải thoát thì về với pháp giải thoát. Cho nên, nếu thiếu hiểu biết, thiếu lòng thành, rồi dùng ý riêng ghét bừa làm bậy, thì sẽ thất bại sa đọa. Còn như đủ hiểu biết, đủ lòng thành, có ý chí xuất trần và kham nhẫn thực hành chính xác, thì bảo đảm hoàn toàn thành công.
19.- Người ngộ được bổn tánh rồi, khi va chạm với sự thật, khó mà điều động được mình. Thí dụ như va chạm với “danh lợi, sắc tình” hoặc cảnh trái chướng, như thế có thể dùng pháp nầy để điều chỉnh được không?
- Tất cả cuộc sống đau khổ bệnh tật làm mất hẳn sức tự tại của con người, không đâu không bởi khối vọng tâm muôn thuở nó điều động. Tâm vọng là tâm đắm chắp, cho nên dù người đã ngộ được bổn tánh rồi mà vẫn chưa điều động nổi được mình, tức là người nầy chưa triệt ngộ. Do đó, người nầy ngoài việc tinh tấn hạ thủ công phu ra, còn phải thường trực giác ngộ sâu cái thân tứ đại vật chất (Khu Xác Quan Niệm), để cho vọng tâm với xác thân không còn sức kết cấu chặt chẽ nữa, thì khi va chạm với sự thật mới không còn nặng nề khó điều động nữa.
20.- Làm sao để biết mình chưa được tự tại giải thoát ?
- Thực ra thì từ xưa tới nay, hết thảy những người có xác thân bị trói, không ai không biết rằng chính mình đã bị trói, nên không ai không căm hờn oán trách. Đến khi được mở trói cũng không ai không tự biết mình đã được mở trói, nên không ai không tự vui mừng, chỉ trừ những người điên. Trên nguyên tắc, hình như ở thân hay ở tâm cũng không thể khác hơn. Nhưng, khi vào thực tế, thì phần xác thân với phần tâm không hoàn toàn hẳn như thế ? Ai cũng biết, có những người đang trong đau khổ trói buộc mà vẫn hãnh diện tự cho là vui là giải thoát. Nên ít nhứt cũng phải có cách biết. Nếu khi mình bị đau khổ trói buộc mà không tự biết tự hay, thì khi được giải thoát làm sao biết !? Nên cần nhất phải ý thức cho được nổi niềm bẩn chật đau khổ của chính mình, mới nên nói tới chuyện giải thoát.
Một con heo được chủ nuôi săn sóc, nâng niu cho ăn uống đầy đủ. Mặc dù mục đích là nuôi cho lớn để bán làm thịt, nhưng việc chưa xảy ra, đương sự làm sao biết được, nếu vô ý thức !? Đợi khi viêc đã lỡ dở thì dù có trời Phật hiện trước mặt cũng không phương cứu chữa.
- Một con chó, chủ nhà nuôi bắt giữ nhà bỏ đi không được, đói không cho ăn, chỉ xua ra đồng để tìm đến những nơi phóng uế. Con chó không thể nào không oán trách căm hờn. Thế mà có những thứ chó, còn hãnh diện lấy đó làm vui !? Thế mới biết, trói buộc bằng cảnh nghịch mà còn có kẻ không biết, thì trói buộc bằng cảnh thuận lại há gì biết được sao ?
Jésus có nói : “ Rất vô phúc cho các ngươi, bây giờ các ngươi sướng để rồicác ngươi sẽ khố !”.
Thế mới biết :”Vầng trán chưa từng nhăn nheo vì sạm nắng, gót chân chưa dẫm nát gai chông, chén cơm chưa đẫm mùi nước mắt, dòng sinh mệnh chưa từng ăn hoàn sắt nóng, uống nước đồng sôi, thì mùi thế sự chưa đã thèm, thì thử hỏi làm sao máu thánh hiền nổi dậy cho được !?”.
Tuy nhiên, đây chỉ mới là phần sâu rộng, trên thực tế trong việc hạ thủ công phu của Pháp VÔ NIỆM còn có những điểm tế nhị hơn:
a)- Khi hạ thủ công phu đến một lúc biển lòng sóng lặng gió yên, mặt phẳng của Chơn Tâm được trải ra cho ta trực tiếp với bổn tánh. Đến đây chừng như xong việc, nhưng không hẳn thế. Có thể vì ta tỉnh táo quá chừng, tiếp xúc thẳng với Chơn Tâm Bổn Tánh, để rồi lọt vào kẽ hở có chủ thể, có khách thể của nhị nguyên tương đối, chớ không phải kiểu như mình uống nước, lạnh nóng tự hay. Hoặc cảm giác thanh lương an lạc nầy kéo dài được độ 5 - 10 phút, rồi vọng niệm sóng lòng lại tiếp tục phủ lên. Đó là một điểm để cho ta biết việc giải thoát chưa xong vậy.
b)- Khi hạ thủ công phu tiến được đến mức biển lòng sóng lặng gió yên, nhưng không phải trong suốt im lìm như “muôn dậm không mây muôn dậm trời”, mà là tựạ như sương mờ che khuất rặng núi, như sáng sớm mặt trời chưa lên, như trăng rằm bị chuyển mưa. Đấy là điều thứ hai cho ta biết chưa hoàn toàn giải thoát, hãy còn ở trong chân trời của ông hỗn độn.
c)- Mặc dù suốt trong đi đứng nằm ngồi ta thấy hình như thênh thang vô sự, tâm thể phẳng lặng như tờ, nhưng có lúc phát lên cao hứng tựa như kinh Bà La Môn nói : Xưa kia chúng ta ở trên cõi trời sung sướng, nhìn xuống dưới nầy thấy ánh sáng không biết ra sao, cao hứng muốn xuống coi cho biết. Xuống đây mắc kẹt không về được. Đây là điều thứ ba, để biết được ta chưa giải thoát.
d)- Hoặc đột ngột bị hoàn cảnh dồn ép vào ngõ bí, không lựa là cảnh thuận hay cảnh nghịch, tinh thần trở nên lạng quạng nhất thời chỗ đứng bị lung lay.
LỤC TỔ HUỆ NĂNG có nói : “Niệm trước mê là chúng sanh, niệm sau ngộ là Phật, mới hồi nãy đắm cảnh là phiền não, bây giờ lìa cảnh là Bồ Đề”. Lại nói :” Các ngươi hãy thận trọng, đừng khai tri kiến chúng sanh...”. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là bổn tánh vốn không chúng sanh hay Phật, vốn nguyên chất như vậy. Cho nên hễ động dụng theo chúng sanh, theo tướng theo điên đảo, qui y với xác thân là thành chúng sanh. Còn động dụng theo Phật theo Tánh, theo chánh biến tri, theo hướng nội là thành Giải Thoát (Phật). Cho nên mặc dù khi tâm thể được Vô Niệm cũng phải ý thức hàm dưỡng để đừng Khai Tri Kiến Chúng Sanh. Tức là trong cuộc sống hằng ngày, ta cũng ăn cũng uống cũng sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi mà lòng vẫn thảnh thơi vô sự. Khi xúc duyên tiếp cảnh, động dụng sáng suốt phân minh, không bị mê lầm chạy lệch ra ngoài vòng bổn tánh. Đến mức độ mà Bồ Tát ĐẠI HUỆ nói trong Kinh Lăng Già là :”Kim thế hậu thế tịnh” tức là vĩnh viễn thanh tịnh. Đây là điều thứ tư, để cho ta biết được là giải thoát hay chưa vậy?
21.- Pháp VÔ NIỆM với Y ĐẠO là một hay khác?
- Không phải một cũng không phải khác. Tại sao? Ngày nay chúng ta bị rơi vào thế hệ khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến trình độ năm châu họp chợ. Nhìn trở lại con người, cuộc sống càng ngày càng cách biệt với trật tự thiên nhiên, con người càng ngày càng sát mặt nhau hơn, mà lòng dạ càng ngày càng cách biệt. Tất cả những văn minh cục bộ được cho là tương đối đẹp đẽ, đều bị thế vật chất năm châu họp chợ phá hủy, làm cho con người rơi vào cái thế hoặc phải thủ tiêu hẳn năng lực khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ đi, để trả về với thời kỳ cục bộ, hoặc con người phải nỗ lực tìm cho ra con đường hướng thượng khắp mọi lãnh vực tinh thần, để cho xứng với thế vật chất năm châu họp chợ, thì cuộc sống mới mong lấy lại thế quân bình.
Phương chi ngoài nhân sự ra, trật tự thiên nhiên đã đến hồi nối tiếp xảy ra nhiều biến cố, vận thế vận tốc của địa cầu đã lệch lạc đi nhiều, không biết đến lúc nào sẽ xảy ra một cuộc đổi cực?
Trải qua một thời gian dài đăng đẳng, nền văn minh Y Đạo Á Đông đã bị lòng người đóng cứng làm chết mất đi sức biến hóa, cho đến ngày nay đã trở thành hoàn toàn thất truyền phá sản, trong đó có những quãng thời gian xen kẽ, nhờ Thiền học Phật Giáo Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa biến thành một sinh lực mới để tiếp dưỡng hơi tàn cho Y ĐẠO. Đến ngày nay, có thể nói Thiền học cũng bị phá sản và thất truyền luôn ?
Con người là một sinh vật xuất hiện từ thiên nhiên, thuộc về của trật tư thiên nhiên, hoàn toàn theo mạng lệnh của trật tự thiên nhiên mà tồn tại. Con người muốn tồn tại phải hoàn toàn ứng hợp với trật tự thiên nhiên, nhất là giai đoạn năng lực của địa cầu đã xuống dốc, con người lại càng cần phải ứng hợp với trật tự thiên nhiên hơn nữa, để khỏi phải thêm một bàn tay phá hoại. Đây quả là một định nghĩa cho Y ĐẠO, mà cũng là một minh chứng cho ta thấy Y ĐẠO phải được vãn hồi.
Con người dù có muốn ứng hợp với trật tự thiên nhiên đến đâu chăng nữa cũng không thể theo dõi thiên nhiên mà bắt chước lấy từ chút từ chút cho được. Chỉ có một cách duy nhứt là con người phải trở lại với chính mình là hoàn toàn ứng hợp nhất. Nay cả Y Đạo lẫn Thiền Đạo đều bị thất truyền phá sản, cả hai đều trở thành quá độ, con người biết nương nơi đâu, để trở lại với chính mình cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên? Trong giai đoạn vật chất năm châu họp chợ, cộng với trật tự thiên nhiên đã xê dịch chánh thường, con người trở nên hoang mang lạc lõng. Đó là cơ để cho Pháp VÔ NIỆM nương vận mà thành hình vậy.
22.- Xin phân biệt rõ ý nghĩa Y ĐẠO và THIỀN ĐẠO?
- Tất cả chúng sinh cũng như con người đều là tác phẩm của trật tự thiên nhiên, tự nó không thể không ứng hợp với trật tự thiên nhiên, chỉ vì tâm mê, nên dong ruổi theo đà hướng ngoại, tạo thành thế vặn tréo cho cuộc sống, làm cho cả thân lẫn tâm đều bệnh.
Trật tự thiên nhiên là Đạo, cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên là cuộc sống có Đạo. Nay cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên đã bị đổ vỡ, cả thân lẫn tâm đều bị khổ đau bệnh tật. Y khoa chỉ căn cứ vào lằn mức chánh điên đảo, cắt khứa lấy một khúc bệnh thân để chữa trị, và dựng lên danh từ Y Khoa. Còn Thiền học cứ xoắn ngay căn cội của tâm mê mà lập ra một lối giải thoát gọi là Thiền Đạo. Còn Y Đạo, thì gốc của nó vốn là là đạo giải thoát, nó bao gồm cả pháp giới vật chất, thâm nhập vào tận nguồn cội tâm linh. Cho nên Y Khoa chỉ là ngọn ngành.
Chữ Y tùy thuộc vào đứng riêng một mình hay có chữ ghép mà định nghĩa giá trị khác nhau. Riêng một chữ Y, thì có nghĩa là điều chỉnh sửa trị.
Con người là một tác phẩm bao gồm cả hai hệ thống vật chất lẫn tinh thần, vì thế nên công việc điều chỉnh hay sửa trị không thể chỉ ở hệ thống vật chất hay tinh thần không mà đủ. Phương chi nhiều cá nhân họp lại thành gia đình, nhiều gia đình họp lại thành xã hội, họp xã hội thành quốc gia, thành thế giới. Và thế giới bao gồm cả hữu tình và vô tình, tất cả đều hoàn toàn lệ thuộc vào trật tự thiên nhiên.
Cá nhân bệnh thì gia đình bệnh. Gia đình bệnh thì xã hội bệnh. Xã hội bệnh thì quốc gia bệnh. Mỗi quốc gia đều bệnh thì thế giới sụp đổ đau thương, vạ lây đến cả hữu tình và vô tình.
Cuộc sống của chúng sanh không thể chỉ nói tâm không mà đủ, mà trong đó còn bao gồm ăn uống sanh hoạt, hoàn cảnh, khí hậu, tâm tư, xã hội, truyền thống... Huống chi còn thêm điều kiện vật chất năm châu họp chợ nữa. Do đó, Y Đạo có một cái nhìn suốt từ bao la vô tận xuyên qua vạn hữu, thâm nhập vào tận thân tâm của chúng sanh, vào đến tế bào, vi trùng, vi khuẩn, nguyên tử..., để thấy đến toàn bộ hệ thống trật tự, để biết thật rõ khi có bịnh tật, dù bệnh ở thân hay ở tâm, đều tìm đến tận chỗ kẹt mà gỡ, hầu trả về với trật tự thiên nhiên, mà thỏa mãn với cách nhìn không hai. Đó là chỗ khác và giống nhau giữa Y Đạo và Thiền Đạo vậy.
Lại nữa, cách làm việc của Y Đạo không chỉ nhắm vào mục đích giải thoát con người, mà còn bao hàm cả hữu tình động vật nữa. Về chữa trị, nhỏ từ bệnh thân bệnh tâm, bệnh cá nhân, bệnh gia đình, bịnh xã hội, lớn đến bịnh quốc gia, thế giới đều không thể lọt qua tầm mắt nó được. Về đặc điểm tương đồng với Thiền Học là cái chuôi cuộc sống đều nằm ở TÂM THỂ VÔ NIỆM vậy.
23.- Tự mình có thể trắc nghiệm lấy trình độ tiến triển của Tâm Linh không?
- Muốn tự trắc nghiệm lấy mình, trên dặm đường hạ thủ công phu, không cách nào khác hơn là phải y cứ vào vọng tâm mà nghiệm xét. Hãy nhận định kỹ trạng thái vọng tâm của ta khi mới bắt đầu hạ thủ công phu, thì tự khắc thấy được trình độ dần dà tiến triển, cuộc sống tinh thần càng ngày càng được ổn định hơn, yên vui hơn. Chuyện nầy không đợi người ngoài cuộc nhận biết mới là chắc, vì việc làm đã có phương pháp, có bản đồ, có kỹ thuật. Cứ y vào đấy là thấy ngay. Mà cũng có thể hoặc bạn đồng tu bên cạnh thấy được./.
DUY KỲ TÂM TỊNH TỨC PHẬT ĐỘ TỊNH
SIÊU TRẦN TOÁT YẾU
1.- THÂN CHÍNH GIÁC
Tấm thân là vật chất,
Vốn tổ hợp vô thường,
Nguyên lai không hay biết ?
Không thể có nhiễm tịnh,
Không thể có phân biệt,
Cũng không tham sân si,
Không đam mê dục lạc,
Vốn tuyệt đối tĩnh chỉ,
Tùy duyên mà biến khác,
Duyên mê thành trói buộc,
Duyên ngộ thành giải thoát,
Có thân chưa phải lụy,
Lụy tại chỗ có biết,
Nếu đạt sâu thân giác,
Nhất thời thành giải thoát.
2.- CHƠN TÂM BỔN TÁNH
Muốn phát hiện Chơn Tâm,
Cùng mặt thật bổn tánh,
Phải quét sạch vọng niệm,
Cho tâm thể chính thường,
Trả về với tĩnh lặng,
Trong suốt tợ như gương,
Mới viên thành giải thoát./.
CÔNG PHU HÀM DƯỠNG
Công cuộc cách mạng toàn diện cuộc sống con người trong lãnh vực Thiền học, dù phương pháp kỹ thuật của người hướng dẫn có khéo léo đến đâu, hành giả cũng cần phải ý thức 5 điều khó là : biết khó, thực hành khó, chứng khó, bỏ khó và dụng khó. Như thế nghĩa là sao ? Tại sao cần phải chứng mà lại bỏ, và tại sao bỏ lại khó ?
Thực ra, nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng, chẳng qua chỉ là nhắm vào khối vọng tâm mà nói vậy thôi. Kỳ thực, Đạo vốn y nguyên, từ xưa vốn thế, muôn thuở thường hằng, không tăng không giảm, lấy đâu để nói biết, nói thực hành, nói chứng, nói bỏ, nói dụng? Thế mới biết, nói biết là biết cái không biết, nói thực hành là nói làm cái không làm, nói chứng là chứng cái không chứng, nói bỏ là bỏ cái không bỏ, nói dụng là dụng cái không dụng. Như thế mới gọi là biết diệu, làm diệu, chứng diệu, bỏ diệu và dụng diệu.
Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là phải đi đến chỗ lúc nào cũng như lúc nào, đều phải tuyệt diệu một cách tự nhiên như nhiên. Vì thế nên mới có chuyện công phu hàm dưỡng.
Ta vẽ một hình tròn, dù nhỏ bằng đầu kim đi nữa, nếu đã tròn, thì mở ra bao lớn cũng tròn, nếu méo, thì càng mở rộng ra càng thêm méo. Đã là con sư tử, dù ở trong thai vẫn là sư tử, cho nên không thể có chuyện nuôi con dê già lâu năm cho thành sư tử. Tuy nhiên, con sư tử mới lọt lòng mẹ được mấy hôm, dù có biết vươn vai gào thét chăng nữa cũng vẫn còn phải được tiếp dưỡng bằng sữa mẹ đến bao giờ được trưởng thành. Cho nên, từ nhân tướng đến quả tướng, quãng đường dài nầy, công phu hàm dưỡng có một giá trị to tát bao trùm.
Đã trót có cái thùng đựng rác, rác chưa đến nỗi đầy tràn, mà có chủ ý đập vỡ thùng, thủ tiêu cả rác, mặc dù khi đập vỡ chắc chi rác rến không tung tóe ? Nhưng thùng đã vỡ, thì không còn cái để đựng, rác rến tung tóe cũng được thu xếp lần hồi. Việc làm nầy trông có phần táo bạo và đột ngột.
Cũng một cái thùng rác, với một thời gian dài, rác đựng đầy nhóc tràn ra ngoài, cái thùng cũng được cũng cố lại cho bền chắc hơn. Nay muốn thủ tiêu cho dứt khoát mà phương pháp trên không thể áp dụng, thì chỉ còn có cách tuần tự trút hết rác mang vứt đi, rồi theo đó sẽ phá vỡ cái thùng cho mất tích. Hai việc làm, hai đường lối, hai kết quả, mỗi mỗi đều có khôn ngoan và kỹ thuật khác nhau.
Trong thời kỳ kẹt đâu gỡ đó, chú trọng hoàn toàn đến cơ duyên khai thị, mở chỉ cho thấy thẳng bổn tâm bổn tánh vốn có một giá trị độc đáo. Thí dụ : Có người hỏi Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA :”Cư sĩ còn vợ con dâm dục, đồ tể còn sát sanh làm sao thành Phật được?”
- ĐÁP : “Đây không bàn đến đồ tể sát sanh hay vợ con dâm dục, mà chỉ bàn đến việc thấy tánh (Kiến tánh). Khi đã Kiến tánh, thì nghiệp sát nghiệp dâm tự nó rỗng lặng, khỏi cần phải mó tay vào”.
Lại nói : “Từ phàm vào thánh phải nên ngừng nghiệp dưỡng thần, tùy phận qua ngày, tự nhiên nhập diệu”
Lại nói :”Khi đã Kiến tánh, dù có học nữa cũng được, không học chả sao, nếu không khéo giữ càng học càng chuyển sanh mê muội”.
Với LỤC TỔ HUỆ NĂNG, khi môn đồ được khai ngộ rồi, thì Ngài dạy rằng : “Từ đây về sau đừng Khai Tri Kiến Chúng Sanh, mà phải biết kính trên nhường dưới, thương xót kẻ nghèo nàn, học rộng nghe nhiều, suốt lý chư Phật”.
Thế thì khuyên bảo đừng cần học hay cần phải học rộng nghe nhiều ... trong đó đều có ngụ ý công phu hàm dưỡng, chớ không phải thứ ngôn ngữ chết cứng như người ta thường tưởng, cũng không phải là thứ có kẽ hở bời rời. Như thế, điểm trọng tâm hoàn toàn nằm ở Kiến tánh mà thành tác dụng.
Đến thời kỳ hạ thủ công phu bằng thoại đầu, bằng công án, bằng chỉ quán, bằng hô hấp tĩnh tọa, để tìm kiếm cái trút sạch rác trong thùng, lẽ cố nhiên sự nỗ lực và công phu hàm dưỡng cũng phải có khác. Cả hai thời kỳ đến nay đều đã trở thành quá độ, lổi thời.
Nay ta muốn có một kỹ thuật siêu tuyệt, hoàn toàn ứng hợp với thời thế cơ duyên của thế kỷ khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ nầy, tất nhiên ta không thể không bước vào thời kỳ siêu độ, áp dụng cả hai thủ đoạn của hai thời kỳ một lúc trong khuôn khổ kỹ thuật, để nắm vững cơ thành công. Thì lẽ cố nhiên công phu hàm dưỡng cũng phải theo đó mà trở nên siêu tuyệt. Nhưng, ngược lại, lẽ ra mục công phu hàm dưỡng nầy không cần phải đề cập. Tại sao ?
- Sau khi hành giả bắt gặp được cái “TÂM THỂ VÔ NIỆM” tức là đã giáp mặt với Chân Như Bổn Tánh rồi, từ đây về sau hoàn toàn tùy thuộc vào chí khí hướng thượng của mỗi người. Phương chi công phu hàm dưỡng tuy không ngoài đi dứng nằm ngồi, nhưng vẫn siêu ra ngoài đi đứng nằm ngồi của cuộc sống. Huống chi công phu hàm dưỡng của phép Vô Niệm Viên Thông lại càng đặc biệt hơn.
Hơn nữa, ngoài việc hạ thủ công phu nhắm hướng Tâm Thể Vô Niệm ra, còn có biết bao nhiêu kinhsách nhứt thừa liễu nghĩa như Kinh KIM CANG, PHÁP HOA và PHÁP BẢO ĐÀN của Đức LỤC TỔ, THIỀN HẢI MINH CHÂU và GIẢI THOÁT HỌC... lúc nào cũng là ngọn đuốc soi đường đưa ta đi thẳng vào toàn bộ cuộc sống.
Xưa, Lục Tổ HUỆ NĂNG đến với NGŨ TỔ, sau mấy phút khám nghiệm, NGŨ TỔ bảo : “Thôi, hãy đi xuống nhà dưới cùng làm việc với mọi người”. Lục Tổ thưa :” Tự tâm của đệ tử luôn luôn thường sanh trí huệ, chẳng lìa tự tánh tức là phước điền, chẳng hay Hòa Thượng còn sai làm việc chi nữa ?
- Ngũ Tổ nói : “ Thằng mường mán nầy căn tánh sáng quá...!? Thử hỏi, với tinh thần đó, công phu hàm dưỡng có còn thành vấn đề nữa không ?
Thiền sư TRÍ HOÀN nương tựa với NGŨ TỔ nhiều năm, tự tin rằng mình đã được chánh thọ, tách rời đến một nơi xa xôi kết am ở ẩn, ngồi hoài không nằm suốt 20 năm, tình cờ HUYỀN SÁCH là đệ tử của Lục Tổ HUỆ NĂNG đi du phương đến gặp.
HUYỀN SÁCH hỏi :” Ngài ở đây làm chi ?”.
Đáp :”Nhập định”.
HUYỀN SÁCH hỏi :”Khi Ngài nhập định là hữu tâm mà nhập hay vô tâm mà nhập. Nếu hữu tâm mà nhập, thì lý ưng bò bay máy cựa cũng phải được Định. Nếu vô tâm mà nhập, thì cây cối ngói gạch vô tình cũng phải được Định”.
Giây lâu TRÍ HOÀN đáp :”Ngay trong khi tôi nhập định, tôi không thấy có cái tâm hữu vô”.
HUYỀNSÁCH nói : “ Nếu không thấy có cái tâm có hữu có vô tức là thường định, mà đã thường định sao lại có nhập có xuất?
TRÍ HOÀN làm thinh giây lâu rồi hỏi : “Thầy của ông là ai?”.
HUYỀN SÁCH đáp : “Lục Tổ HUỆ NĂNG”.
TRÍ HOÀN hỏi :” Lục Tổ nói thế nào ?”.
HUYỀN SÁCH đáp :” Chỗ thầy tôi nói là nhiệm mầu, rỗng rang, tròn đầy, vắng lặng, thể và dụng như như, 5 ấm vốn không, 6 trần không phải có, không ra không vào, không định không loạn, tánh thiền không trụ, lìa cái trụ vắng lặng của thiền, tánh thiền không sanh, lìa cái tưởng sanh thiền, tâm như hư không, cũng không có cái tâm suy lường hư không nữa”.
Thế rồi cả hai người dắt nhau đến Lục Tổ, ra mắt Lục Tổ kể hết tự sự.- Tổ bảo :”Đúng như vậy !”. Và thương hại nên có lời khai thị : “ Đạo do tâm ngộ, há phải do ngồi, ngồi hoài còm lưng có ích gì cho Đạo !?”. Rồi lại nói kệ rằng :
“Sống ngồi hoài không nằm,
Chết nằm hoài không ngồi,
Vẫn là bộ xương thôi,
Sao lấy làm công khóa?”.
Từ đó, TRÍ HOÀN mới vỡ lẽ. Như thể đủ biết cái mê của chúng sinh chẳng ai giống ai, nhân duyên của mỗi người đều khác.
Nếu công phu hàm dưỡng phải bao gồm cả đi đứng nằm ngồi lồng vào cuộc sống, không công phu hàm dưỡng, thì hóa ra đầu voi đuôi chuột, vậy phải làm thế nào?
Thực ra, cuộc sống nầy nếu có giây phút nào bỏ quên Bổn tánh, là bắt đầu rơi vào sa đoạ. Nếu không căn cứ vào Tâm Thể Vô Niệm, để làm tay lái thường xuyên, thì chỉ nam cuộc sống sẽ mất. Nếu trụ vào một tướng nào, thì đã bị rơi vào tướng. Nếu không trụ vào tướng, mà trụ vào không, là đã bị rơi vào không. Cho nên phải là không trụ. Và điều quan hệ là phải nhập vào cuộc sống cho thật liền. Cho nên, nếu muốn công phu hàm dưỡng được nhập diệu, thì phải lấy cuộc đời làm lò, thường xuyên hồi quang phản chiếu, biện chứng nghịch lý, đề cao cảnh giác làm lửa, để trui luyện cho chính con người của mình mãi mãi đến bao giờ viên mãn vô thượng giải thoát, vì đời với Đạo không phải hai. Nếu lìa đời mà tìm Đạo là không tưởng. Lục Tổ có dạy đồ đệ :”Các ngươi hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. Đã là kẻ có chí xuất trần, thì bao nhiêu đó cũng là nhiều lắm, nếu thiếu chí khí xuất trần, muốn tỉa ngón chân cho vừa chiếc giày, e không khỏi có phần thương tổn ?
K Ệ R Ằ N G :
“Tất cả đều không dè,
Với tấm thân vật chất,
Bổn lai không hay biết,
Không tử sanh phân biệt,
Cũng không tham sân si,
Không đam mê dục lạc,
Không đòi hỏi thèm khát,
Vốn tuyệt đối bình thường,
Không hề có rắc rối,
-Vậy tại sao bây giờ,
Lại phát sanh hệ lụy,
Quái gở từ đâu ra,
Do đâu thành trói buộc ?
-Tại sao không thắc mắc,
Để phát khởi kỳ tình,
Giải thoát cả thân tâm,
Nhất thời liền an lạc !?.
THIỀN LÀ HIỂU CHÍNH MÌNH
Một hôm có một thiền sinh từ Chicago đến Trung Tâm Thiền Providence và hỏi Seung Sahn Soen-sa: “Thiền là gì?”
Soen-sa giơ thiền trượng lên đầu và hỏi: “Bạn có hiểu không?”
Thiền sinh trả lời: “Con không biết.”
Soen-sa nói: “Cái tâm-không-biết này là bạn đó. Thiền là hiểu chính mình.”
“Thầy hiểu gì về con? Xin hãy dạy con.”
Soen-sa nói: “Trong một xưởng làm bánh qui, những loại bánh qui khác nhau được nướng theo dạng những con thú, những xe hơi, con người và máy bay. Chúng có những tên và những hình thù khác nhau, nhưng tất cả đều được làm bằng bột và có cùng một hương vị.
“Theo cùng một cách, mọi vật trong vũ trụ - mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, con người v.v… có những tên và hình dạng khác nhau, nhưng tất cả đều cùng được làm ra từ một căn bản. Vũ trụ này được cấu thành những cặp đối nghịch: sáng và tối, nam và nữ, âm thanh và yên tĩnh, tốt và xấu. Nhưng tất cả những đối nghịch này lại có cùng một liên hệ vì chúng được làm ra từ cùng một chất. Tên và hình dáng của chúng khác nhau nhưng thực chất lại giống nhau. Tên và hình thể được tạo ra bởi sự suy tưởng của bạn. Nếu bạn không suy tưởng và không dính mắc với danh tướng thì toàn bộ căn bản là một. Cái tâm-không-biết của bạn cắt đứt mọi suy tưởng. Đây là bản thể của bạn. Bản thể của cây Thiền trượng này và bản thể của bạn thì giống nhau. Bạn là cây gậy này; cây gậy này là bạn.”
Thiền sinh bèn hỏi: “Một số triết gia nói rằng thực thể này là năng lượng, là tâm, là Thượng Đế, hoặc là vật chất. Điều nào đúng?”
Soen-sa nói: “Bốn người mù vào sở thú xem voi. Một người rờ trúng mình voi và nói, ‘Con voi giống một bức tường.’ Người kế rờ trúng vòi voi lại nói, ‘Voi giống như con rắn.’ Người khác rờ trúng chân rồi nói, ‘Voi giống như cây cột.’ Người cuối rờ trúng đuôi thì nói, ‘Voi giống cây chổi.’ Cuối cùng thì bốn anh mù bắt đầu cãi nhau, người nào cũng cho là mình đúng. Mỗi người chỉ hiểu cái phần mà họ rờ mà thôi; không ai trong họ hiểu được toàn diện.
“ Bản thể không danh không tướng. Năng lượng, tâm, Thượng Đế và vật chất đều là danh tướng. Bản thể là Tuyệt đối. Có danh tướng là có đối nghịch. Như vậy toàn thể thế giới cũng giống như những người mù cãi nhau. Không hiểu chính mình là không hiểu sự thật. Đó là lý do tại sao có chiến tranh giữa chúng ta. Nếu mọi người trên thế giới hiểu được mình, ắt hẳn họ đạt được Tuyệt Đối. Và như vậy thì thế giới bình. Thế giới bình chính là Thiền vậy.”
Thiền sinh hỏi: “Tại sao hành Thiền lại khiến thế giới bình?”
Soen-sa nói: “Con người ham muốn tiền bạc, danh vọng, sex, ăn uống và ngủ nghỉ. Mọi ham muốn này đều là suy tưởng. Suy tưởng là khổ. Khổ đau có nghĩa là thế giới không bình. Không suy tưởng thì không khổ đau. Không khổ đau có nghĩa là thế giới bình. Thế giới bình là Tuyệt Đối. Tuyệt Đối chính là mình.”
Thiền sinh hỏi: “Làm sao con hiểu được Tuyệt Đối?”
Soen-sa nói: “Bạn phải hiểu mình?”
“Làm sao con hiểu được mình?”
Soen-sa giơ Thiền trượng lên rồi nói: “Bạn có thấy cái này không?”
Rồi ngay tức khắc ông dùng cây gậy này đánh vào cái bàn và hỏi: “Bạn có nghe không?” Cây gậy này, âm thanh này và tâm bạn – chúng khác hay giống nhau?
- Chúng giống nhau.
Soen-sa nói: “ Nếu bạn nói chúng giống nhau, tôi sẽ đánh bạn ba mươi hèo. Nếu bạn nói chúng khác nhau, tôi cũng sẽ đánh bạn ba mươi hèo. Tại sao?
Thiền sinh im lặng.
Soen-sa hét lên “KATZ!!!” rồi nói: “Xuân tới, cỏ mọc.”
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét