THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Pháp Tu Chứng Các Tầng Thiền

Pháp Tu Chứng Các Tầng Thiền Ðể tu hành được chứng đắc các tầng thiền, theo gương và lời Phật dạy trong các kinh truyền tụng cũng như các vị đạo học nhiều kinh nghiệm mà hành trì miên mật và tinh tấn không thối chuyển về cả giới luật, pháp học đúng lẫn thọ trì đúng thì thành quả tất phải đến mà thôi. Sơ thiền là một bước khởi đầu trong sự tu chứng cần phải trải qua nhiều cố gắng không ngừng nghỉ giũ gìn giới luật nghiêm minh, đặc biệt ly dục và tránh những điều bất thiện. Phạm hạnh căn bản bước đầu tự nhìên là khó khăn lắm; ý chí tìm cầu giải thoát đợi người tu sĩ có cơ duyên nắm bắt thành tựu vĩ đại này phải có nguyện lực lớn. Theo bước chân đi của đức Thế Tôn, bất cứ người cư sĩ hay tu sĩ có đủ phạm hạnh hiểu đúng hành đúng những pháp môn Phật dạy, thì dòng tâm thức được trong sạch hóa ắt phải vượt khỏi bản ngã ác pháp vô thường ưu khổ hay tiến xa hơn nữa là giải thoát dòng bộc lưu sanh tử. Ước nguyện Phổ Nguyệt thì nhiều, mong mỏi chúng ta có đủ duyên phước để thành tựu quả vị không ngoài tầm tay chỉ e không có nguyện lực đủ lớn để kham nhẫn mà thôi. I. GIỚI LUẬT Theo sự trình bày Ðại Cương về Giới Luật Tu Sĩ của Hòa thượng Thích Thiện Siêu thì phần Chỉ trì, Tác trì được tóm tắt như sau: Giới luật thì nhiều, nhưng không ngoài hai môn: Chỉ trì và Tác trì. 1. Chỉ trì là đình chỉ, đình chỉ không làm các điều ác. Tức qui định về điều giới, đó là giới, thuộc chỉ trì. 2. Tác trì là tu thiện, tức làm các điều thiện. Tức qui định về các pháp Kiết-ma, đó là luật, thuộc Tác trì. Riêng Giới bản của Tỷ-kheo có 250 giới, Tỷ-kheo-ni có 348 giới. Theo Nam truyền Luật tạng Tỷ-kheo có 227 điều, Tỷ-kheo-ni có 311 điều. Các giới điều tuy có khác, nhưng chỉ khác phần chi tiết, còn phần nội dung chính vẫn giống nhau, tức tu sĩ nói chung là phải không làm những điều ác, mà phải thực hiện điều thiện, đó là những phạm hạnh của người tu theo Phật giáo. Do nhận định về “ GIỚI LUẬT - CƠ SỞ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO” của TT. Thích Viên Giác thì: Nguyên tắc hành trì mà Đức Phật thiết lập cho các đệ tử khép mình vào đó để làm đình chỉ dục vọng có thể nói đó là những nguyên tắc khách quan và phổ quát. Đó là năm giới của người Phật tử : Không giết hại, Không trộm cắp, Không quan hệ tình dục phi pháp (tà dâm), Không dối gạt hại người, và Không rượu chè say sưa. Một nhà tri thức phương Tây nhận định : "Năm giới này cho thấy 5 hướng chính mà người Phật tử tự mình kiểm soát để hành trì (tri hành). Đó là giới thứ nhất răn người Phật tử kiềm chế nóng giận, giới thứ hai kiềm chế tham đắm vật chất, giới thứ ba kiềm chế nhục dục, giới thứ tư kiềm chế sự khiếp nhược và ác ý (nguyên nhân không chân thật) và giới thứ năm kiềm chế lòng ham muốn các sự kích thích nhơ bẩn" (Edmond - Homes - Tín điều của Đức Phật). dù Phật tử hay không là Phật tử, các nguyên tắc đạo đức này cần phải được thực hành, dù trong điều kiện thời gian hay không gian nào, nếu không muốn có hậu quả xấu. Đức Phật xác định rằng một người nếu có hành vi sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối và đắm say các chất gây nghiện ngập thì sẽ có một cuộc sống sợ hãi và hận thù, đồng thời cõi ác đau khổ đang chờ đợi họ; ngược lại một người (Phật tử) từ bỏ sát sanhỢ. thì cuộc sống không có sợ hãi, hận thù và cõi thiện đang chờ đợi họ. Giá trị của một người không phải được đánh giá qua tài sản, thân tướng, dòng họ, địa vịỢmà được đánh giá qua đời sống mà chuẩn mực được thể hiện qua 5 nguyên tắc đạo đức trên. Đức Phật dạy thêm rằng :"Một người mà hành vi của họ được bảo vệ bởi 5 nguyên tắc (giới) trên thì người ấy có thể thành tựu một cách nhanh chóng bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú" (Tăng Chi III). Đi sâu hơn các nguyên tắc căn bản trên, Đức Phật thiết lập 10 giới (10 điều thiện) nhằm nâng cao hơn nữa hành vi và tâm lý đạo đức của con người, 10 điều ấy được thiết lập trên cơ sở hành vi, ngôn ngữ và tâm ý. Hành vi gồm có: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không quan hệ tình dục phi pháp. Ngôn ngữ gồm có : Không nói dối, Không nói hai lưỡi, Không nói lời độc ác, Không nói lời phù phiếm ba hoa. Tâm ý gồm có : Không tham lam, Không sân hận, Không si mê tà kiến. 10 giời điều này thực sự bước vào lộ trình của giải thoát, đây là giới căn bản cho cả tại gia và xuất gia, khác với năm giới là bước đầu chỉ quy định trong phạm vi, hành vi và ngôn ngữ là những biểu hiện đạo đức cụ thể gây hậu quả trực tiếp, tuy vậy vẫn chưa thể hiện được nguồn gốc, động cơ bên trong. Luật pháp của xã hội cũng chỉ giới hạn ở mức độ hành vi và ngôn ngữ mà thôi. Đức Phật dạy rằng, một người thực hành 10 điều bất thiện thì cuộc sống của họ là phi đạo đức, đồng thời không đạt được mục tiêu hạnh phúc: "Này các Tỳ kheo, sát sanh, lấy của không cho, tà hành trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận và tà kiến, đây gọi là phi pháp và phi mục đích" (Kinh Tăng Chi III). Ngài khuyên mọi người nên sống đúng theo 10 điều thiện, như vậy phù hợp với nguyên tắc đạo đức và quy luật của hạnh phúc. Trong 10 điều thiện phân làm 3 lãnh vực: thân, miệng, ý - Theo Phật giáo lãnh vực tâm lý rất quan trọng, những hành vi của thân, miệng, ý, đều có động cơ từ ý thức. Những hành vi bất thiện chỉ là những biểu hiện của động lực bên trong: tham, sân hay tà kiến. Vì vậy, đạo Phật thường coi trọng tu tâm hay tu tướng, nếu lòng tham không được nhận diện và tu tập để chế ngự chúng thì tội ác sẽ phát sinh, thiện pháp sẽ tổn giảm. Đức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, do nhân tham, sân, si mà có sát sinh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Như vậy, tham là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, sân là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi, si là nhân duyên cho nghiệp sanh khởi; ngược lại tham sân si đoạn diệt thì nghiệp đoạn diệt "(Kinh Tăng Chi III). Sự phát triển giới điều trong các sinh hoạt của Tăng chúng cũng chỉ khai triển sâu và rộng hơn 3 cái động lực thiện và bất thiện bên trong tâm ý này. Tham lam là gốc nhưng tham có nhiều loại : tham sắc, tham tài, tham danh, chấp ngã. Sự mở rộng giới luật chính là để tương ứng với nhiều sắc thái khác nhau của ba tâm bất thiện này. Những nguyên tắc giới luật vừa để chế ngự, đình chỉ 10 ác nghiệp nhưng đồng thời cũng để phát triển 10 thiện nghiệp, trong luật gọi tính chất hai mặt này của giới : chi trì và tác trì. Đạo Phật chú trọng vào động cơ tâm ý, hay ý nghiệp, điều đó không có nghĩa là coi thường hành vi của thân, miệng và kết quả của đối tượng. Ví dụ giới sát :"Cố ý tự tay mình làm dứt sinh mạng con người hoặc cầm dao đưa người khác giết, hoặc khen ngợi sự chết hoặc khích lệ cho chết. Người kia vì các điều trên mà chết thì phạm tội giết người phải bị trục xuất" (Giới Tỳ kheo). Một giới nếu vi phạm phải có tác ý, hay cố ý làm căn bản nhưng để thành một hành vi phi đạo đức phải có biểu hiện thân, miệng và kết quả của đối tượng. Có trường hợp thân miệng, hành động có hậu quả cho đối tượng nhưng không cố ý, không tác ý thì không phạm tội hay tội rất nhẹ. Đó là lý do đạo đức Phật giáo thường đi sâu vào động lực tâm ý của con người. Những động lực tâm ý ấy trở thành giới luật có tác dụng phòng ngừa và làm cho con người trở nên thánh thiện. Đối với người xuất gia, giới luật rất nhiều và chi tiết : Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo Ni 348 giới, Bồ tát 48 giới, nhưng cũng chỉ phát triển từ sự đoạn trừ các động lực bất thiện của tâm ý là tham, sân và si. Nếu một người không có tham, sân, si thì đạo đức đã hoàn thiện, không còn giữ các giới điều trên làm gì. Vì vậy, đức tính của một Tỳ kheo được Đức Phật dạy bao gồm các thiện tâm mà nguồn gốc là vô tham , vô sân, vô si diễn ra như sau :"Người có tâm xấu hổ (tàm quí) sẽ đưa đến không tâm sợ hãi các tội lỗi, đưa đến không phóng dật, đưa đến biết khiêm cung, đưa đến nghe lời dạy bảo, đưa đến ưa gần người hiền, đưa đến có lòng tin vào chánh pháp, đưa đến lòng vị tha, đưa đến tinh cần trong thiện pháp, đưa đến chế ngự các dục vọng, đưa đến thiện giới được tuân thủ, đưa đến gần gũi bậc Thánh hiền, người trí tuệ, đưa đến ưa nghe pháp, đưa đến không quan tâm chỉ trích kẻ khác, đưa đến chánh niệm tỉnh giác, đưa đến tâm định tỉnh, đưa đến tác ý hợp chân lý, đưa đến không lầm theo tà đạo, đưa đến tâm tỉnh bén nhạy, tích cực, đưa đến đoạn trừ thân kiến, giới cấm thủ và nghi, đưa đến đoạn trừ tham sân si để thành tựu đạo đức hoàn toàn vô tham, vô sân, vô si". (Kinh Tăng Chi III). Tóm lại, đaọ đức Phật giáo được xây dựng trên cơ sở giới luật và những giới luật ấy là những nguyên tắc nếu được tuân thủ sẽ đem đến hiệu quả chế ngự dục vọng bản năng, thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên một cách hoà điệu; xa hơn nữa, có thể tịnh hóa tâm thức thoát ly các chướng ngại và ức chế tâm lý để sống một đời sống hạnh phúc chân thật. II. PHÁP HỌC A). Rèn luyện phạm hạnh Đặc tánh của Thiền Tịnh Độc Hành. Sống một mình, hoặc cư sĩ, khi thiền độc hành cần thiết nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần. Mười lợi ích thiện lành của cuộc sống ẩn dật, -1) Không ham bóng sắc dục vọng: Không có cảnh nam nữ, tức không có lòng ham muốn, - 2) Không nói điều tà vạy: Không có nhơn duyên gây ra lời ăn tiếng nói lộn xộn, tức không có việc bày điều đặt chuyện láo xược, - 3) Không có kẻ thù: Không có kẻ đối địch, -4) Không xung đột với ai: Không sợ việc tranh giành, -5) Không có bằng hữu khen chê: Không có bạn nói chuyện thị phi, tức không có việc khen chê, -.6) Không có ai để cho mình bươi móc lỗi lầm của họ: Không thấy kẻ lỗi lầm, -7) Không có ai để chúng ta nói chuyện về họ: Không có việc đàm luận việc quấy của người khác, -8) Không bạn bè, không đệ tử, không kẻ hầu người hạ cho chúng ta vui chơi, dạy dỗ hay sai bảo (không gây tội tạo nghiệp), -9) Không ao ước có bạn đồng hành, -10) Không có những phiền phức gây nên bởi xã hội như khách khứa, lịch sự, quần áo chỉnh tề, cũng như giao tế xã hội. - Riêng bản thân sống không phóng dật là thường tĩnh không uể oải, luôn chú ý mọi hành động suy nghỉ và hoạt động. Phải nhiệt tâm tu tập thiền tịnh. Ngoài ra, theo Phật giáo, tinh cần có nghĩa là cố gắng làm điều thiện và đồng thời cố gắng triệt tiêu điều ác Thiền Tập. Khi nhận thức mắt thấy sắc khả ái. khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, tán thưởng thì chấp thủ và an trú tham đắm, nếu tán thưởng thì dục hỷ sanh là tập khởi của khổ. Tiếp theo nhận thức thinh hương vị xúc pháp do nhĩ tỹ thiệt thân ý cũng vậy, dục hỹ sanh thì tập khởi khổ. Khi có sắc thinh hương vị xúc pháp do nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý nhận thức, khả ái, khả hỹ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp dẫn, nếu không tán thưởng , không chấp thủ và an trú thì dục hỹ diệt. Từ diệt tận dục hỹ là sự diệt tận đau khổ. Sống Chí Thiện. Dù sống một mình ở nơi đâu, chỗ hung kiết, người thiện ác, dù bị mắng nhiếc, nhục mạ, đánh đập ngay cả đoạt mệnh, lúc nào cũng sống chí thiện. Sống như vậy chứng được tâm minh. Thiền tịnh độc cư là một pháp nghiêm túc và phải có nhiệt huyết tu tập cẩn mật, sống một mình với những đức tính trong sạch, không phóng dật, chí thiện, giới luật nghiêm minh, tinh cần hành trì thượng trí để đạt giác ngộ niết bàn. Thiện và bất thiện -- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp.(Kinh Giáo GiớI Phú Lâu-Na) * Bất thiện gồm có: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói phù phiếm, tham dục, sân, tà kiến không tham sân si {là căn bổn thịện). * Thiện là từ bỏ tất cả các việc: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói phù phiếm, tham dục, sân, tà kiến. B). Quán Niệm Xứ: Dùng Chánh Niệm để Rèn Luyện Trí Tuệ Đạo Phật là đạo giải thoát nói từ viễn cảnh cứu cánh, nhưng trên thực tế thì trí tuệ mới là pháp căn bản để tu tập cho mọi tu sĩ đến bờ giác ngộ. Từ sự giác ngộ, chúng sanh mở ra đường sáng vượt khỏi đám mây mù của dòng tâm thức vốn che khuất bầu trời trí tuệ. Tâm thức là nhận thức sự vật (lục trần) bằng lục căn, nên lục thức hay tâm thức vô thường và biến dị. Sự vật được nhận thức chẳng qua là do duyên khởi hoặc giả danh, nên chúng chịu luật sanh diệt theo thời gian ngay cả nhận thức cảm thọ tưởng thức là những hành động liệt tri. Muốn vượt thoát khỏi sự sanh diệt ấy tất phải dùng trí năng soi sáng mọi biến đổi, vô thường của thọ, tưởng, và thức (nói chung là dòng tâm thức) mà đến thế giới bất sanh bất diệt, trong sáng và thường hằng. Trí tuệ có khả năng trong sạch hóa mọi dòng tâm thức bằng cách hư không hóa mọi hữu tồn dù tâm hay vật. Rèn luyện trí tuệ lúc đầu là dùng niệm xứ tức chánh niệm, một nhu cầu thiết yếu cho mọi tu sĩ sơ cơ hiểu rõ trước khi tu tập các pháp môn khác. • Trong Đại Kinh Phương Quảng,43 Trung Bộ, Tôn giả Mahakotthita (Đại-Câu-hy-la) vấn đạo với Tôn giả Sariputta (Xá lợi Phất) do HT. Thích Minh Châu chuyển dịch từ tiếng Pali đã diễn đạt pháp rèn luyện trí tuệ rất căn bản và rõ ràng. • Trong kinh Sáu Xứ,148 Trung Bộ, Phật đã giảng rõ ràng mọi nhân duyên khởi lên mà sanh. Dòng tâm thức luôn trôi chảy theo thời gian mà duyên theo xúc, thọ, ái gây ra thân kiến, ba độc. Ba pháp (căn + trần + thức) kết thành tâm thức vì chúng không có tự thể hay vô ngã, chúng thay đổi luôn, nên chúng dễ bị nhận thức sai lầm vì duyên xúc thọ và ái lôi cuốn theo thời gian từng sát na sanh diệt luôn không ngừng nghỉ. Phật đã dạy, đoạn diệt thân kiến, đoạn tận ba độc là pháp hành để trở nên phạm hạnh, vẫn chưa đủ mà phải thực hành pháp giải thoát mới rửa sạch mọi sai lầm của dòng tâm thức đang trôi chảy làm cho tâm thức không còn trở lui trạng thái vẩn đục nữa. • Trong ÐạI Kinh Sáu Xứ, 149 Trung Bộ và nhiều Bô Kinh Trung Bộ khác, Phật đã chỉ rõ: Vô Minh. Khi chúng ta không th ấy biết như chơn mắt, chơn các sắc, chơn nhãn thức nên chúng ta nhận thức và quán sát vị ngọt, chấp vào ái trước (ký ức), rồi sự hệ lụy và say đắm nên năm thủ uẩn được tích trử trong tương lai. Ái ấy tái sanh, ưa thích ngũ dục. Thủ Hữu là tìm cầu và giữ lấy những thú vui và tham luyến, sanh thân ưu não, thân nhiệt não, và tâm khổ não. Nên tạo nên những cái có, chính những cái sở hữu này là những nghiệp. Cảm thọ thân khổ và tâm khổ. Tóm lại, nếu không thấy không biết như chơn lục căn, chơn lục trần và chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm cũng xãy ra tương tự như trên.Nói cách khác, không thấy không biết chơn lục căn, lục trần, lực thức là thể cách nhận thức sự vật một cách vô minh của tâm thức thường tình. Chơn Trí. Khi chúng ta thấy biết nh ư chơn mắt, chơn các sắc, chơn nhãn thức nên chúng ta nhận thức và quán sát vị ngọt, không chấp vào ái trước (ký ức), không có sự hệ lụy và say đắm nên năm thủ uẩn không được tích trử trong tương lai. Ái ấy không thể tái sanh, và không ưa thích ngũ dục. Không có Thủ Hữu thì lấy gì tìm cầu và giữ lấy những thú vui và tham luyến thì thân không ưu não, thân không nhiệt não, và tâm không khổ não. Nên thân tâm không thủ hữu gì cả. Cảm thọ thân và tâm không có ưu khổ, được an lạc. Tựu chung, nếu thấy biết như chơn lục căn, chơn lục trần và chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm không xãy ra. Nói cách khác, thấy biết chơn lục căn, lục trần, lực thức là thể cách nhận thức sự vật một cách sáng suốt vô thời không; đó cũng là sự nhận thức của chơn trí. * Bát Chánh Đạo .Theo lời Phậ t dạy, Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập. (HT. Thích Tâm Châu Việt dịch) Sống theo Bát Chánh Đạo như vậy, thì bốn niệm xứ (thân bất tịnh, Thọ thị khổ, Tâm vô thường, Pháp vô ngã) được tu tập và phát triển sung mãn. Bốn Chánh Tinh Tấn (Tinh tấn phát triển những điều thiện lành chưa phát sanh, Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện lành đã phát sanh, Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh, Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh) được tu tập và phát triển sung mãn. Bốn Như Ý Túc (Dục Như Ý Thần Túc, Niệm Như Ý Thần Túc, Tinh Tấn Như Ý Thần Túc, Tư Duy Như Ý Thần Túc) được tu tập và phát triển sung túc.Năm căn (Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân) được tu tập và phát triển sung mãn. Năm lực ((Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực, Huệ lực) được tu tập và phát triển sung mãn. Bảy giác chi (Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Niệm Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi) được tu tập và phát triển sung mãn. Hai pháp là: Chỉ và Quán dược chuyển vận song hành. Với thượng trí những pháp nào cần phải đơạn tận vàcần phải tu tập vớí thượng trí. Với thượng trí hành giả chứng ngộ những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí. Đặc biệt những pháp cần phải liễu tri với thượng căn của con người phải thông suốt. * Pháp Thể Nhập Thượng Trí. Như chúng ta đã biết chơn trí, hay là thượng trí là những nhận thức chơn thật. Vô minh và hữu ái là những pháp cần phải đoạn tận. Pháp Chỉ và Quán cần phải tu tập. Chỉ có nghĩa là đình chỉ, quán là quán đạt. Như vậy chỉ quán là đình chỉ vọng niệm để quán đạt chân lý. Khi cơ thể ngừng nghỉ là “Chỉ,.” vô thời gian. Khi tâm đang nhìn thấy một cách rõ ràng là “Quán," thấy và biết như thật như chơn. Được Minh Tâm và Giải thoát khỏi Vô minh đó là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí. Thấy con bò liền biết con bò và xa lià cái biết đó thì ta có Thượng Trí. Nói khác đi là nhận thức niệm đầu (Thấy) một đối tượng để có giác thức nguyên sơ. Tri nhận (Biét) giác thức (hình ảnh thấy) là ta có Chơn Trí hay Thượng Trí, cần phải chánh niệm trong tứ oai nghi. Tạm trích một số kinh căn bản cốt yếu để tham khảo, người tu sĩ cần thâm cứu kinh Phật dạy thiết thực nữa càng nhiều càng hữu ích trong việc tu tập. C). Thiên Ðịnh Noi theo lời Phật dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh, tu tập “Phần Thiền Ðịnh” (HT.Thich Minh Châu Việt dịch) để nghiền ngẫm và thừa hành nghiêm chỉnh. XX. Phẩm Thiền Ðịnh 1-192 Thật Sự Là Vậy 1. Thật sự cái này là một trong những điều lợi, này các Tỷ-kheo, tức là sống trong rừng ... sống khất thực ... mang y phấn tảo ... chỉ mang ba y thuyết pháp ... trì luật ... biết nhiều về sự thật ... đã lâu ngày là vị trưởng lão ... có oai nghi nghiêm chỉnh ... có được hội chúng quy tụ ... có đại hội chúng đoanh vây, con gia đình tốt đẹp ... diện mạo đoan chánh ... ngôn ngữ hòa nhã ... thiểu dục ... không có bệnh hoạn. 2-9. Nếu chỉ trong thời gian búng ngón tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập Thiền thứ nhất, vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là một Tỷ-kheo trú Thiền không phải uổng phí, đã làm theo lời dạy bậc Ðạo sư, là vị chịu nghe lời giáo giới, ăn đồ ăn quốc độ không phải vô ích, còn nói gì vị ấy làm cho sung mãn Thiền ấy. Nếu chỉ trong thời gian búng ngón tay, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập Thiền thứ hai, ... Thiền thứ ba, ... Thiền thứ tư ... tu tập Từ tâm giải thoát ... tu tập Bi tâm giải thoát ... tu tập Hỷ tâm giải thoát ... tu tập Xả tâm giải thoát ... 10-13. Nếu vị ấy trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ... quán thọ trên các cảm thọ ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ... 14-17. ... Ðối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn làm an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... 18-21. Tu tập như ý túc câu hữu với Dục định tinh cần hành ... câu hữu với Tinh tấn định tinh cần hành ... câu hữu với Tâm định tinh cần hành ... câu hữu với Tư duy định tinh cần hành ... 22-31. Tu tập Tín căn ... tu tập Tấn căn ... tu tập Niệm căn ... tu tập Ðịnh căn ... tu tập Tuệ căn ... Tu tập Tín lực ... tu tập Tấn lực ... tu tập Niệm lực ... tu tập Ðịnh lực ... tu tập Tuệ lực ... 32-38. Tu tập Niệm giác chi ... tu tập Trạch pháp giác chi ... tu tập Tinh tấn giác chi ... tu tập Hỷ giác chi ... tu tập Khinh an giác chi ... tu tập Ðịnh giác chi ... tu tập Xả giác chi ... 39-46. Tu tập Chánh tri kiến ... tu tập Chánh tư duy ... tu tập Chánh ngữ ... tu tập Chánh nghiệp ... tu tập Chánh mạng ... tu tập Chánh tinh tấn ... tu tập Chánh niệm ... tu tập Chánh định ... 47-54. Quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ... " Quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ... " Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ... " Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ... " Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ... " Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ..." Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ..." Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ..." 55-62. Tự mình có sắc, thấy các sắc. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các loại ngoại sắc ... quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy ... Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến các tưởng khác biệt, với suy tư: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ....Vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng ... 63-72. Tu tập địa biến xứ ... tu tập thủy biến xứ ... tu tập hỏa biến xứ ... tu tập phong biến xứ ... tu tập xanh biến xứ ... tu tập vàng biến xứ ... tu tập đỏ biến xứ ... tu tập trắng biến xứ ... tu tập hư không biến xứ ... tu tập thức biến xứ ... 73-82. Tu tập tưởng bất tịnh ... tu tập tưởng về chết ... tu tập tưởng yếm ly các món ăn ... tu tập tưởng không hỷ lạc đối với tất cả thế giới ... tu tập vô thường tưởng ... tu tập tưởng khổ trên vô thường ... tu tập tưởng vô ngã trên khổ ... tu tập tưởng đoạn tận ... tu tập tưởng ly tham ... tu tập tưởng đoạn diệt ... 83-92. Tu tập tưởng vô thường ... tu tập tưởng vô ngã ... tu tập tưởng về chết ... tu tập tưởng ghê tởm đối với các món ăn ... tu tập tưởng không hỷ lạc đối với tất cả thế giới ... tu tập tưởng hài cốt ... tu tập tưởng bị trùng bọ ăn ... tu tập tưởng bị xanh bầm ... tu tập tưởng bị đầy những lỗ hổng ... tu tập tưởng bị sưng phồng lên ... 93-102. Tu tập niệm Phật ... tu tập niệm Pháp ... tu tập niệm Tăng ... tu tập niệm Giới ... tu tập niệm Thí ... tu tập niệm Thiên ... tu tập niệm Hơi thở vô, Hơi thở ra ... tu tập niệm Chết ... tu tập Thân niệm ... tu tập An tịnh niệm ... 103-112. Tu tập Tín căn đồng với sơ Thiền ... tu tập Tấn căn đồng với sơ Thiền ... tu tập Niệm căn đồng với sơ Thiền ... tu tập Ðịnh căn đồng với sơ Thiền ... tu tập Tuệ căn đồng với sơ Thiền ... tu tập Tín lực ... tu tập Tấn lực ... tu tập Niệm lực ... tu tập Ðịnh lực ... tu tập Tuệ lực đồng với sơ Thiền. 113-122. Tu tập Tín căn đồng với Thiền thứ hai ... Tu tập Tuệ lực đồng với Thiền thứ hai ... 123-132. Tu tập Tín căn đồng với Thiền thứ ba ... Tu tập Tuệ lực đồng với Thiền thứ ba ... 133-142. Tu tập Tín căn đồng với Thiền thứ tư ... Tu tập Tuệ lực đồng với Thiền thứ tư ... 143-152. Tu tập Tín căn câu hữu với Từ ... Tu tập Tuệ lực câu hữu với Từ ... 153-162. Tu tập Tín căn câu hữu với Bi ... Tu tập Tuệ lực câu hữu với Bi ... 163-172. Tu tập Tín căn câu hữu với Hỷ ... Tu tập Tuệ lực câu hữu với Hỷ ... 173-182. Tu tập Tín căn câu hữu với Xả ... Tu tập Tuệ lực câu hữu với Xả ... 183-192. Nếu tu tập Tín căn ... nếu tu tập Tấn căn ... nếu tu tập Niệm căn ... nếu tu tập Ðịnh căn ... nếu tu tập Tuệ căn ... nếu tu tập Tín lực ... nếu tu tập Tấn lực ... nếu tu tập Niệm lực ... nếu tu tập Ðịnh lực ... nếu tu tập Tuệ lực ... , vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là một Tỷ-kheo trú Thiền không phải trống không, đã làm theo lời dạy bậc Ðạo sư, là vị chịu nghe lời giáo giới, ăn đồ ăn quốc độ không phải uổng phí, còn nói gì vị ấy làm cho sung mãn pháp ấy. XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2) 1-70. 1. Như một ai, này các Tỷ-kheo, với tâm biến mãn cùng khắp biển lớn, có thể bao gồm tất cả con sông bé nhỏ đổ vào biển cả, cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp, gồm những pháp thuộc về minh phần. 2-8. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Ðây là một pháp, này các Tỷ-kheo, tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn... , đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. 9-12. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn. 13. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, khi làm cho sung mãn một pháp này, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn tận. 14-15. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, khi làm cho sung mãn một pháp này, này các Tỷ-kheo, các pháp thiện chưa sanh....đưa đến tăng trưởng, quảng đại. 16-21. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi, ngã mạn được đoạn tận, các tùy miên được nhổ sạch, các kiết sử bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, vô minh bị đoạn tận... các kiết sử bị đoạn tận. 22-23. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự phân tích của trí tuệ, đưa đến Niết-bàn không có chấp thủ. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự phân tích .... không có chấp thủ. 24-26. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự thông đạt của nhiều giới, sự thông đạt của nhiều giới sai biệt, sự vô ngại giải của nhiều giới. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự thông đạt ... sự vô ngại giải của nhiều giới. 27-30. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu,.... quả A-la-hán. 31-46. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng đắc trí tuệ, đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ, đưa đến quảng đại trí tuệ, đưa đến đại trí tuệ, đưa đến trí tuệ rộng rãi, đưa đến quảng đại trí tuệ, đưa đến thâm sâu trí tuệ, đưa đến vô song trí tuệ, đưa đến vô hạn trí tuệ, đưa đến nhiều trí tuệ, đưa đến trí tuệ nhanh lẹ, đưa đến trí tuệ nhẹ nhàng, đưa đến trí tuệ hoan hỉ, đưa đến trí tuệ tốc hành, đưa đến trí tuệ sắc sảo, đưa đến trí tuệ thể nhập. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng đắc trí tuệ,... đưa đến trí tuệ thể nhập. 47-48. Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm. 49-50. Những vị này không chia sẻ bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị không chia sẻ thân hành niệm. Những vị này chia sẻ bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị chia sẻ thân hành niệm. 51-52. Bất tử bị đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm. 53-54. Bất tử bị khiếm khuyết, này các Tỷ-kheo, đối với những ai khiếm khuyết thân hành niệm. Bất tử được viên thành, này các Tỷ-kheo, đối với những ai viên thành thân hành niệm. 55-56. Bất tử bị xao lãng bỏ phế, này các Tỷ-kheo, đối với những ai bỏ phế thân hành niệm. Bất tử không bị bỏ phế, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không bỏ phế thân hành niệm. 57-58. Bất tử bị vong thất, này các Tỷ-kheo, đối với những ai vong thất thân hành niệm. Bất tử không bị vong thất, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không vong thất thân hành niệm. 59-60. Bất tử không được thực hiện, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không thực hiện thân hành niệm. Bất tử được thực hiện, này các Tỷ-kheo, đối với những ai thực hiện thân hành niệm. 61-62. Bất tử không được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không tu tập thân hành niệm. Bất tử được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với những ai tu tập thân hành niệm. 63-64. Bất tử không được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không làm cho sung mãn thân hành niệm. Bất tử được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, đối với những ai làm cho sung mãn thân hành niệm. 65-66. Bất tử không được thắng tri, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không thắng tri thân hành niệm. Bất tử được thắng tri, này các Tỷ-kheo, đối với những ai thắng tri thân hành niệm. 67-68. Bất tử không được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không liễu tri thân hành niệm. Bất tử được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với những ai liễu tri thân hành niệm. 69-70. Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. Thế Tôn thuyết như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. D. Pháp Ðịnh Niệm Khi quán niệm xứ và tập thiền định thuần thục hành giả cần hành pháp môn thâm sâu hơn là định niệm hơi thở hay định niệm xứ để tiến cứu cánh niết bàn; như kinh Phật dạy trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra-54 (kinh Tương Ưng Bộ): …..14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý. 15) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 16) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 17) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán", thời định niệm... 18) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán", thời định niệm... 19) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời định niệm... 20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm... 21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm... 22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm... 23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm... 24) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm... 25) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên", tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời định niệm... 26) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm... 27) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 28) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 29) Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết không hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". 30) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biếy: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh". 31) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được III. PHÁP HÀNH Trước hết tu sĩ cần thiết phải giữ giới luật nghiêm minh và pháp học cẩn mật như trên, mới bắt đầu thọ hành. + 1. Quán Niệm Xứ Tốt hơn hết là hành giả cần chánh niệm trong tứ oai nghi, đặc biệt thực hành tứ niệm xứ, hay minh sát tuệ hay quán hơi thở là cốt yếu. Tứ niệm xứ A) Ngồi Thiền, -1) Quán Thân Thờ vô, biết (tuệ tri) thở vô. Thở ra, biết thở ra Thở vô dài, biết thở vô dài. Thở ra dài, biết thở ra dài. Thở vô ngắn, biết thở vô ngắn. Khi nghe tiếng động, biết nghe có tiếng động, khi không có tiếng động, biết nghe không có tiếng động. v.v... Hành giả sống quán thân trên thân: “Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.” (Lời Phật thuyết) -2) Quán Thọ Khi cảm giác lạc thọ, hành giả biết có lạc thọ. Khi không cảm giác lạc thọ, biết không có lạc thọ. Khi cảm giác khổ thọ, biết có khổ thọ. Khi không cảm giác khổ thọ, biết không có khổ thọ. Khi có cảm giác ngứa, biết có cảm giác ngứa, khi không có cảm giác ngứa, biết không có cảm giác ngứa v.v... Hành giả sống quán thọ trên thọ: “ Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.” (Lời Phật thuyết) -3) Quán Tâm Quán tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không tham, biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân. Tâm không sân, biết tâm không sân. Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không si, biết tâm không si. Tâm thâu nhiếp, biết được tâm thâu nhiếp. Tâm tán loạn, biết tán loạn. Tâm được quảng đại, biết được tâm quảng đại. Tâm không quảng đại, biết tâm không được quảng đại. Tâm hữu hạn, biết tâm hữu hạn. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm có định, biết tâm có định. Tâm không định, biết tâm không định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. v.v.. Hành giả sống quán tâm trên tâm “Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.” (Lời Phật thuyết) -4) Quán Pháp * Đối với năm triền cái: Nội tâm có ái dục, biết nội tâm có ái dục. Nội tâm không có ái dục, biết nội tâm không có ái dục. Ái dục chưa sanh nay sanh khởi, biết nội tâm chưa sanh nay sanh khởi. Ái dục đã sanh nay đoạn diệt, biết ái dục đã sanh nay đoạn diệt. Tương lai không sanh khởi nữa, biết tương lai không sanh khởi nữa. Hay nội tâm có sân hận, biết nội tâm có sân hận. Nội tâm không có sân hận, biết nội tâm không có sân hận. Sân hận chưa sanh nay sanh khởi. Sân hận đã sanh nay được đoạn diệt. Sân hận đã đoạn diệt, biết tương lai không sanh khởi nữa. Nội tâm có hôn trầm thụy miên, biết nội tâm có hôn trầm thụy miên. Nội tâm không có hôn trầm thụy miên, biết như vậy. Hay tâm hôn tầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, biết tâm hôn tầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi. Tâm hôn tầm thụy miên đã sanh được đoạn diệt, biết tâm hôn trầm thụy miên đã đoạn diệt. Tâm hôn trầm thụy miên đã đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa. biết tâm hôn trầm thụy miên đã đoạn diệt tương lai không sanh khhởi nữa. Nội tâm có trạo hối, biết nội tâm có trạo hối. Nội tâm không có trạo hối, biết nội tâm không có trạo hối. Trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, biết trạo hối chưa sanh nay sanh khởi. Trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, biết trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt. Trạo hối đã được đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa, biết trạo hối đã được đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa. Nội tâm có nghi, biết nội tâm có nghi. Nội tâm không có nghi, biết nội tâm không có nghi. Nghi chưa sanh nay sanh khởi, biết nghi chưa sanh nay sanh khởi. Nghi đã sanh nay được đoạn diệt, biết nghi đã sanh nay được đoạn diệt. Nghi đã được đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa, biết nghi đã đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa. Rồi đến năm thủ uẩn, sáu nội ngoại xứ, bảy giác chi, trạch giác chi, v.v.. cũng tĩnh giác như vậy. “Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.” (Lời hật thuyết) B) Tứ oai nghi: Khi đi đứng nằm ngồi luôn tĩnh th ức từng cử động. Thí dụ, thấy biết, nghe biết, ngữi biết, nếm biết, chạm biết, nghĩ biết, v.v... bao gồm hoạt động của trí năng tình năng và hoạt năng đều quán biết. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. “Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời, v.v...” (Lời Phật thuyết). + 2. Ðịnh Niệm PhảI hành bốn thiền định niệm hơi thở và năm loại thiền cao cấp định niệm xứ. a). Ðịnh niệm hơi thở Ðịnh niệm hơi thở đựợc tu tập từ sơ thiền đến tứ thiền. *1). Nhẩm biết niệm hay đọc hơi thở (ngôn hành): Ðịnh niệm bằng tướng hơi thở (có lời, có tiếng): Ðịnh niệm bằng thể tướng hơi thở. Ðịnh Niệm Hơi Thở bằng lời. Biết Nhẫm Ðọc hơi thở. Khi thở vô, “Tôi biết tôi thở vô.” Khi thở ra, “Tôi biết tôi thở ra” Sơ định có tầm tứ và hỷ lạc có lời là có tầm, có tướng là có tứ và hỷ lạc. Ðồng thời cũng dùng thiền định để luôn trao dồi giới lẫn định. Từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. *2) Thầm hội biết Thức Hơi Thở (Thức Hành). Ðịnh niệm bằng nhận thức luồng hơi thở (ý thức thầm hội hơi thở) “Biết tôi thở vô Biết tôi thở ra” Chỉ dùng căn ý là chủ (lặng lẻ) để nhận thức (với ý tác động) hơi thở vô hơi thở ra là khách. Ðó là cách Tĩnh Thức. Khi có định và chánh niệm thì tầm và tứ được đoạn diệt chỉ được nội tĩnh nhất tâm. Còn Thức là còn trạng thái hỷ lạc. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm *3). Ngộ nhập biết + ý trí Hơi Thở (Trí hay Tánh Hành). Ðịnh niệm bằng ý trí ngộ nhập hơi thở (tri nhận đối tượng trong trí: ngộ nhập luồng hơi thở vào cái biết). Biết tri nhận luống hơi thở. Ðịnh và chánh niệm hơi thở nên gọi là Trí Hành hay Tĩnh Giác. “Biết thở vô Biết thở ra.” Biết rõ hơi thở vô hơi thở ra. Ðịnh và chánh niệm bằng ý trí (ý tác năng) Ðó là Tĩnh Giác về hơi thở. Chỉ có thở vô thở ra được ý trí ý niệm hóa mà thôi. Hành này dùng pháp tánh không (biết=định), dùng trí (tuệ tri) để tri nhận hơi thở. Còn đối tượng thì còn lạc thọ vì có định của trí (tĩnh giác), nên lạc thọ này không ảnh hưởng đến tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. *4). Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm: không niệm tướng niệm thức cả niệm trí): Pháp bổn như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm lặng Vô Ra. “Biết cảm giác vô, Biết cảm giác ra.” Biết cảm giác Vô Ra, vì khi nhận dạng cảm giác (bóng dáng) của một đối tượng mà chưa được nhận thức (chưa được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể nhập nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối tượng chưa thành hình, chưa có tên (giả danh), đó cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của chân trí. Biết cảm nhận luồng hơi vô luồng hơi ra mà thôi. Khi không có mặt đối tượng thì làm gì có hỷ lạc trong tâm. Khi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vô niệm: buông xả Buông xả và ngưng động: Từng cảm giác ra vô tự nhiên tự động hiện hữu rõ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một trạng thái trống rỗng: Vô Niệm Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh như nhiên b). Ðịnh niệm xứ Khi thân chứng và trú tứ thiền, tức là đã thuần thục vô niệm, thể nhập thực tướng sự vật, hành giả bắt đầu tu tập các loại thiền cao cấp định niệm xứ để tiến năng sở song vong đến độ định tĩnh được giác ngộ toàn diện, cứu cánh niết bàn. *5). Thiền Không Vô Biên Xứ Dùng định tĩnh thể nhập vào Không vô biên xứ: một không gian bao la không có giới hạn. Như ngồi trong phòng, Ta biết, “không tác ý đến địa tưởng, không tác ý đến lâm tưởng, chỉ nhất trí tác ý đến không vô biên xứ” Khi ấy Tâm ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Không vô biên xứ. Ta biết : "Các ưu phiền, do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Ta biết: "Loại tưởng này không có lâm tưởng". Ta biết : "Loại tưởng này không có địa tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, tôi xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây Ta biết : "Cái kia có, cái này có". Cái này đối với Ta là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Do vậy, nếu ta ước muốn rằng: : "Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm... *6). Thức Vô Biên Xứ Khi Ta không tác ý địa tưởng, không tác ý Không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ. Tâm Ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Thức vô biên xứ. Ta biết : "Các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có địa tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây Ta biết : "Cái kia có, cái này có". Cái này đối với ta là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Do vậy, Ta ước muốn rằng: "Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên", Ta có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời định niệm... *7). Vô Sở Hữu Xứ Khi Ta không tác ý Không vô biên xứ tưởng, không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng. Tâm Ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô sở hữu xứ. Ta biết : "Các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Ta biết : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng". Ta biết: "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, Ta xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, Ta biết: "Cái kia có, cái này có". Cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Ta ước muốn rằng: "Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm... *8). Phi Phi Tưởng Xứ Khi Ta không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tâm Ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ta biết : "Các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Ta biết : "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng". Ta biết "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng.” Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, Ta biết : "Cái kia có, cái này có". Này Ðối với Ta là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Ta ước muốn rằng: "Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. *9). Vô Tướng Tâm Ðịnh Khi Ta không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không có tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ý sự nhất trí do duyên Vô tướng tâm định Tâm Ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Ta biết : "Các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Ta biết : "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng". Ta biết : "Loại tưởng này không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái gì không có mặt ở đây, Ta xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây Ta biếti: "Cái kia có, cái này có". Cái này đối với Ta là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Thêm nữa, Ta không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhứt trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm Ta được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Ta biết rõ : "Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Do Ta biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, là sự hiểu biết (nana) rằng đã được giải thoát. Ta biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa". Ta biết: "Các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên hữu lậu không có mặt có ở đây; các ưu phiền do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây. Và chỉ ở một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này:” Ta biết "Loại tưởng này không có dục lậu". Ta biết : "Loại tưởng này không có hữu lậu". Ta cũng biết : "Loại tưởng này không có vô minh lậu. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái gì không có mặt ở đây, Ta xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây Ta biết : "Cái kia có, cái này có", cái này đối với Ta là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, Không tánh. Do vậy, dù trong quá khứ hiện tại hay tương lai, sau khi chứng đạt Ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không tánh. Khi hành giả đã thuần thục các pháp định niệm nhuần nhuyễn là đã đến lúc không còn niệm nữa, mà đạt trạng thái định tĩnh, thực hiện hoàn toàn thanh tịnh không tánh (Ðịnh tĩnh =định và yên lặng); tức là năng sở đã hoàn toàn song vong. IV. TU CHỨNG Tuần tự thực hành nghiêm túc các bước thiền tập nêu trên, sau khi lìa đời, thì lộ trình tu chứng mà hành giả đắc pháp được Kinh Thủ Lăng Nghiêm ghi nhận theo hạng bậc như sau. SƠ THIỀN l. A Nan! Tất cả người tu tâm trong thế gian chẳng nhờ Thiền Na thì chẳng có trí huệ; nếu được giữ thân chẳng dâm dục, khi đi khi ngồi, niệm tưởng đều không, ái nhiễm chẳng sanh, chẳng lưu luyến Dục Giới, làm bạn với Phạn Thiên, hạng này gọi là Phạn Chúng Thiên. 2. Dục lậu đã trừ, "Tâm lìa dục" hiện, ưa hành theo các luật nghi, đức hạnh trong sạch, hạng này gọi là Phạn Phụ Thiên. 3. Thân tâm diệu viên, oai nghi đầy đủ, giới cấm trong sạch, lại có sự tỏ ngộ, được thống lãnh Phạn Chúng, làm Đại Phạn Vương, hạng này gọi là Đại Phạn Thiên. - A Nan! Ba bậc này tất cả khổ não chẳng thể bức bách, dù chẳng phải chánh tu chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm trong sạch, dục lậu chẳng thể lay động, gọi là Sơ Thiền. NHỊ THIỀN l. A Nan! Hàng Phạn Thiên thống lãnh Phạn chúng, đầy đủ phạn hạnh, lắng tâm chẳng động; do tịch lặng sanh ra ánh sáng; hạng này gọi là Thiểu Quang Thiên. 2. Ánh sáng chói lọi, chiếu soi vô cùng, chiếu khắp mười phương cõi đều như lưu ly; hạng này gọi là Vô Lượng Quang Thiên. 3. Hào quang đồng như âm thanh, thành tựu giáo thể, phát ra sự giáo hóa trong sạch, ứng dụng vô cùng; hạng này gọi là Quang Âm Thiên. - A Nan! Ba bậc này tất cả lo buồn chẳng thể bức bách, dù chẳng phải chánh tu chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm trong sạch, những phiền não thô động đã uốn dẹp, gọi là Nhị Thiền. TAM THIỀN l. A Nan! Hào quang thành âm, dùng âm thanh tỏ bày diệu lý, thành hạnh tinh tấn, thông với sự vui tịch diệt, hạng này gọi là Thiểu Tịnh Thiên. 2. Cảnh "Tịnh Không" hiện tiền, chẳng có bờ bến, thân tâm nhẹ nhàng, thành sự vui tịch diệt, hạng này gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên. 3. Thế giới và thân tâm, tất cả đều trong sạch, thành tựu đức tánh trong sạch, thắng cảnh hiện tiền, qui về cái vui tịch diệt, hạng này gọi là Biến Tịnh Thiên. - A Nan! Ba bậc này đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên ổn, được sự vui vô lượng, dù chẳng phải thật đắc chơn Tam Ma Địa, nhưng nơi tâm yên ổn trọn đủ sự hoan hỷ, gọi là Tam Thiền. TỨ THIỀN l. Lại nữa A Nan! Cõi trời này, thân tâm chẳng bị bức bách, nhân khổ đã hết, biết sự vui chẳng thường trụ, lâu ắt biến hoại, hai tâm khổ vui nhất thời cùng xả, tướng thô đã diệt, tánh phước được sanh, hạng này gọi là Phước Sanh Thiên. 2. Tâm xả viên dung, thắng giải trong sạch, được sự tùy thuận nhiệm mầu, cùng tột vị lai, tánh phước chẳng ngăn ngại, hạng này gọi là Phước Ái Thiên. 3. A Nan! Từ cõi trời này tẻ ra hai đường: Nếu dùng tâm sáng tỏ đầy đủ phước đức trước kia để tu chứng an trụ, hạng này gọi là Quảng Quả Thiên. 4. Nếu nơi tâm trước kia, nhàm chán cả khổ vui, lại nghiền ngẫm cái tâm xả chẳng gián đoạn, trọn thành đạo xả, thân tâm tiêu diệt, lắng tâm bặt tưởng, trải qua năm trăm kiếp. Nhưng vì người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì chẳng thể phát minh tánh chẳng sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh, hạng này gọi là Vô Tưởng Thiên. - A Nan! Bốn bậc này tất cả cảnh khổ vui của thế gian chẳng thể lay động, dù chẳng phải là chỗ chơn bất động của đạo vô vi, nhưng nơi tâm có sở đắc, công dụng thuần thục, gọi là Tứ Thiền. NGŨ TỊNH CƯ THIÊN - Ở đây, còn có năm bậc Bất Hoàn Thiên, đã dứt sạch chín phẩm tập khí của cõi dưới, khổ vui đều hết, chẳng định cư ở cõi dưới, nên an lập chỗ ở nơi tâm xả của đồng phận chúng sanh. l. Vậy, khổ vui đã diệt, ưa ghét chẳng sanh, hạng này gọi là Vô Phiền Thiên. 2. Tự tại phóng xả, chẳng có năng sở, tâm chẳng đối đãi, hạng này gọi là Vô Nhiệt Thiên. 3. Mười phương thế giới, diện kiến trong lặng, chẳng còn tất cả cấu nhiễm của cảnh trần, hạng này gọi là Thiện Kiến Thiên. 4. Diệu kiến hiện tiền, biến tạo vô ngại, hạng này gọi là Thiện Hiện Thiên. 5. Sắc trần từ tướng lăng xăng đến chỗ cứu cánh chẳng động, cùng tột tánh sắc chẳng có bờ bến, hạng này gọi là Sắc Cứu Cánh Thiên. - A Nan! Với các cõi Bất Hoàn Thiên này, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương cõi Tứ Thiền mới được nghe biết, nhưng chẳng thể thấy biết. Như nay trong thế gian, nơi núi sâu rừng thẳm, những đạo tràng của bậc thánh, đều có các vị A La Hán trụ trì, mà người thế tục chẳng thể thấy. - A Nan! Mười tám cõi trời kể trên, dù thoát khỏi cảnh dục, nhưng chưa thoát khỏi sắc thân, gọi là Sắc Giới. VÔ SẮC GIỚI - Lại nữa A Nan! Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường: - Nếu nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông, bèn ra cõi trần, thành A La Hán, vào Bồ Tát Thừa, hạng này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán. - Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không, hạng này gọi là Không Xứ. - Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức; hạng này gọi là Thức Xứ. - Sắc và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ. - Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. - Hạng này xét cùng cái Không, nhưng chẳng tột lý Không; nếu từ thánh đạo Bất Hoàn Thiên mà xét cùng, hạng này gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. - Nếu từ Vô Tưởng Thiên của ngoại đạo mà chấp thật Không, chẳng biết quày đầu, mê muội hữu lậu, chẳng nghe chánh pháp, bèn vào luân hồi. - A Nan! Những cõi trời kể trên, mỗi mỗi đều là phàm phu đền trả nghiệp quả, khi nghiệp quả trả hết bèn vào luân hồi. Thiên Vương các cõi ấy, đều là Bồ Tát tu Tam Ma Địa, lần lượt tiến lên, hướng về đường tu của Bậc Thánh. - A Nan! Cõi Tứ Không này, thân tâm dứt sạch, tánh định hiện tiền, chẳng có sắc thân của nghiệp quả; từ đây đến cùng, gọi là Vô Sắc Giới. - Ấy đều do chẳng rõ diệu tâm sáng tỏ, tích chứa vọng tưởng, chấp thân trung ấm, tùy loại thọ sanh, vọng có tam giới, nên vọng theo bảy loài mà chìm đắm. V. KẾT LUẬN Sự chứng đắc từng bậc Thiền nói lên sự trì giới nghiêm minh, hành pháp miên mật của một hành giả có nguyện lực lớn. Noi gương đức Thế Tôn phụng hành pháp Phật, người tu sĩ phải có đủ bi trí dũng để đương đầu với mọi phong ba của thế giới hiện tượng đầy cạm bẩy. Sinh hoạt hàng ngày của thân khẩu ý được thúc liễm cẩn mật có nhiều cơ may thành quả nằm trong tầm tay. Trong bốn pháp định niệm và ngay cả các loại thiền cao cấp chúng ta nhận thức rằng còn định niệm hơi thở hay định niệm xứ là còn niệm, còn năng sở. Tuy vậy khi định niệm xứ là pháp thiền cao cấp mà hành giả đã chứng nhập tận cùng cái không để đoạn trừ năng sở, cũng là lúc tiến xa hơn nữa (không thối chuyển) để tâm được thuần thục nhuần nhuyễn định tĩnh. Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập tắt hoàn toàn những cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương thức thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ý không nhiễm không nương vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp nào.) Đây là phép định của bậc Thánh. Khi vào phép nầy thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới, truớc đi vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, Diệt Thọ Tưởng rồI tiến xa thêm đắc quả Phật và nhập Niết Bàn. Tham khảo
Pháp Tu Chứng Chánh Ðẳng Giác Của Ðức Phật Con đường tìm đạo, tự tu tự chứng đến khi đắc đạo của đức Phật là hành trình lắm chôn gai với lòng kiên trì quyết thắng là một nổ lực phi thường. Ngài cũng đã trải qua những thử nghiệm trong sáu năm khổ hạnh khốc liệt để chiến đấu chống lại sự ham muốn của tự ngã bằng những giai đoạn hành đạo với những vị thầy Bà-La-Môn như nhịn ăn, thiền nín thở, các loại thiền yoga, v.v…, nhưng tất cả phương pháp đó dù đoạn trừ được những tham dục, những ác hạnh mà vẫn không đem lại giác ngộ, vì từ cái bị sanh mà tìm đến cái bị sanh khác chỉ đem đến những thất vọng mà thôi. Từ đó Ngài tự tìm ra con đường vượt khỏi dòng sanh diệt đến thế giới vô sanh niết bàn. Mục đích bài này Phổ Nguyệt chỉ trình bày Pháp Tu Chứng Chánh Ðẳng Giác mà Phật đã chứng đạo. Tham khảo nhiều kinh Phật dạy (dù không đầy đủ) có liên hệ đế việc tu chứng của Bồ Tát là một gắng sức của chúng tôi để vừa thâm cứu vừa tu học, âu cũng là sự cần thiết cho việc thực hành đến mức độ tối ưu. I. Cái Bị Sanh. Thái tử Siddhattha là người rất trầm lặng, thích sống một mình giữa đời sống nhung lụa xa hoa đầy cám dỗ mà Ngài không động tâm bị các dục lạc làm say đắm. Nhận thức cuộc đời quá mong manh: sanh già bệnh chết, ngay cả những thứ như vợ con, đầy tớ, dê cừu, gà, heo, voi, bò ngựa vàng bạc là những thứ bị sanh sẽ bị bịnh bị già bị chết bị khổ bị ô nhiễm. Bồ Tát có ý nghĩ những thứ gì trong thế giới hiện tượng này khi có sanh thì có diệt. “Những thứ bị sanh đó nếu ta nắm giữ, tham đắm, mê say chúng thì chính ta là người bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh.” (Kinh Thánh Cầu, 26, Kinh Trung Bộ) Thật vậy, biết rằng “vạn pháp duy thức." Thức tức là tâm thức là do tương quan lập của căn trần thức. Tất cả con người, sự vật và vũ trụ, nói chung là sự vật trong thế giới hiện tượng này đều do duyên khởi hay tùy thuộc lập nên chúng hay thay đổi và không thể thường tồn. Nên con người thì sanh già bệnh chết, còn sự vật thì sanh trụ hoại diệt, cái vòng lẩn quẩn luôn bị sanh bị diệt mãi lăn trôi. Hiện tượng trong thế giới tương đối của sự vật hiện hữu do nhân duyên kết hợp, do đó chúng không có lúc nào tự mình độc lập tồn tại. Rõ ràng chúng có sanh ra thì có lúc phải hủy diệt vì lẽ có sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường chung quanh. Trong vật lý học, việc bảo tồn năng lượng cho biết năng lượng không sanh ra và không biến đi mà chỉ có thể thay đổi. Khi sự giao lưu năng lượng và vật chất của mỗi hữu thể với bên ngoài, hữu thể đó tạm thời ổn định cân bằng vì phải tiêu tán năng lượng và vật chất, nên thay cũ đổi mới để tồn tại. Sự trao đổi vật chất và năng lượng của hữu thể trong không gian là lịch trình sanh trụ hoại diệt. Sự giao lưu vật chất và năng lượng của xác thân con người với bên ngoài được tạm thời hiện hữu là lịch trình sanh lão bịnh tử. Sự vật hiện hữu do duyên họp, khi duyên tan thì hoại không, theo lý Duyên Khởi sau này của Ngài Long thọ. Còn sự vật tạm thời hiện hữu gọi là Thực Tại Tùy Thuộc theo Duy Thức Học của Ngài Vô Trước. (Xem Thực Tại và Chí Ðạo, Phổ Nguyệt, 2002) Lúc Phật chưa giác ngộ, Bồ Tát hành đạo với các thầy Bà La Môn như khổ hạnh, nhịn ăn, thiền nín thở tuy là những pháp diệt dục và loại trừ các pháp bất thiện rất tốt, cốt dùng cách hành hạ xác thân mong chế ngự được tâm, nhưng thật sự khi sức khỏe kiệt quệ, bụng đói, tinh thần tán loạn thì không an tịnh thì làm gì có trí sáng suốt để đi đến giác ngộ giải thoát. Sự giải thoát là sự hiểu biết mà đàng này họ chỉ dạy chế ngự thân và hành động của thân như ngũ dục và những ác pháp để mong tìm đến giải thoát, ngay các loại thiền yoga cũng còn trong thế giới hiện tượng (bị sanh) mà thôi. Riêng hành các pháp khổ hạnh nhịn ăn và thiền nín thở thì rõ ràng không thể đem lại trí định được; có thể các loại thiền cao cấp của yoga, như thiền vô hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng làm cho tư tưởng phong phú hơn, nhưng không đem đến giác ngộ. Tại sao? Vì còn dùng tưởng tri là vẫn còn bị sanh. Cái bị sanh cần được phân tích rõ ràng. Với sự nhận thức thường tình mà xét thì tâm được kết cấu như sau: a). Nhận Diện (Cảm giác: Sensation). Ngủ giác quan là phương tiện tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng dáng của trần cảnh. Đó là chúng ta cảm giác được hình ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí dụ, khi ta thấy con bò là thấy hình ảnh con bò ở võng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại, (Về thị giác) khi ta nhìn con bò, hình ảnh con bò hội tụ ở võng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác thần kinh lên não, lức đó ta mới nhận diện được hình ảnh con bò. Khi có thời gian thì sự vật chạy dài trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không còn là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian thì có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian và ảnh không còn thật trong không gian. Vậy, khi nhận diện được hình ảnh (thấy), ấn tượng chấn động lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích thích (nếm), hình ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc) là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ, như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư không) một dung thể không: sự vật và dung thể không của nó khắng khít nhau như một, thì thể không của nó là hình ảnh sự vật được hội tụ ở võng mạc mắt khi mắt nhìn sự vật. Do đó khi thấy sự vật cụ thể ở trong không gian là thấy hình ảnh của nó ở võng mạc của mắt mà thôi. b). Nhận Thức (Tri giác: Perception). Khi chúng ta cảm giác hình ảnh sự vật thì lúc đó chúng ta mới nhận biết được (perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay là chơn thức (pure perception or true consciousness), đó cũng là định của thức. Hình ảnh con bò là thể không được nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.) Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành hình. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không) sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật gọi là lục tặc, vì thức là nghiệp. Dòng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần làm cho dòng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục. c). Tri Thức (Cognition). Trong đời sống hằng ngày, ta thường nhận thức sự vật bằng ngũ giác quan. Khi ta tri nhận (cognize) sự vật đã nhận thức, ta có tri thức (Cognition). Trong quá trình tri nhận sự vật trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ý thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lý Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức và tạo ra nghiệp thức. Nên ta có thể gọi là tâm duyên ý mã vì tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó. Ðó là cái Bị Sanh. c). Giác Trí Tuệ (Pure Cognition). Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có thể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Giác Trí Tuệ là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa lìa nó ngay. Nói rõ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure Perception hay first consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí (Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa lìa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ (Vô thời gian). Vì Giác Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức, vì thấy hình ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức (perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Nên thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ý trí) giác thức ấy để có giác trí. Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa lìa cái biết ấy nữa thì mới có giác trí tuệ toàn diện. Vì giác thức vô thời không nên không có ái thủ hữu lôi kéo, tức giác trí tuệ, hay tuệ giác là cái biết vô trụ, cũng là cái định của trí. Ðó là cái Vô Sanh. Tóm: * Khi nhận diện đối tượng (cảm giác: sensation) rồi nhận thức cảm giác ấy với tên gọi (perceive its name) mới có tâm thức (consciousness or perception) hay giác thức. * Tri nhận (cognize) giác thức mới có giác trí hay tri thức hay tâm trí (cognition). * Giác trí tuệ (discernment) hay tri thức nguyên thủy (pure cognition) là khi giác thức không có thời không, là cái biết sat-na hiện tiền, tức là tuệ giác hay tánh giác phải dùng tuệ tri, tuệ quán, biết vô trụ, hay liểu tri đối tượng mới đạt được. Do hình thành giác trí, tri kiến tư tưởng, tưởng tri, quán tưởng (không dùng chánh niệm), suy nghĩ là cái bị sanh vì thế, thiền vô hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng của yoga chỉ ở giai tầng sanh khởi do tưởng tri hay sở tri, còn quán niệm thường, không có định trí được, chỉ là định của thức (si định) mà thôi, như sau nầy Phật dạy trong kinh Pháp Môn Căn Bản 01, (kinh Trung Bộ) trí của phàm phu: Phàm Phu Tưởng tri là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, ký ức, thuộc loại Mạc- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những hình ảnh được khôi phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và ngay cả có cái tương tự lẫn lộn với hình ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải đối tượng cũ. Đã là những hình ảnh cũ khôi phục lại là những ảo ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không có đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức hoặc suy nghĩ lại những ý tưởng so đo của tự ngã, tưởng tượng những đối tượng không thật có do tiền ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp trước, lệch lạc và không chơn thật của tri kiến phàm phu, chúng sanh thường tình mà thôi. Như Phật thuyết giảng: -- Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại. Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại. Người ấy tưởng tri. phong đại cũng như thế. Người ấy tưởng tri Sanh vật,chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Quang âm thiên,Biến tịnh thiên, Quảng quả thiên, Abhibhù (Thắng Giả)... Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ,Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ... Người ấy tưởng tri sở kiến, sở văn, sở tư niệm, sở tri... Người ấy tưởng tri đồng nhất, sai biệt, tất cả là tất cả... Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn. II. Cái Vô Sanh. Từ cái Sanh hay bị sanh của thế gian, Bồ Tát nhận rõ rằng con người với dòng tâm trí mê muội mãi chìm đắm trong cuộc sống xa hoa dục lạc, và cứ lăn trôi trong ngũ dục thì làm sao tránh khỏi thế giới sanh già bịnh chết, khổ, ô nhiễm. Sự vật trong thế giới hiện tượng là cái bi sanh, thì phải tìm đến cái vô sanh hay bản chất cuả thế giới này, cái luôn thường tồn bất biến. Khi con người đạt đến thế giới vô sanh thì không còn bị sanh nữa, tức là thoát khỏi cảnh sanh già bịnh chết, ưu khổ. Cũng là lúc Ngài phải từ bỏ tu lối thiền yoga để thực hành phương pháp do Ngài tự khám phá. Tâm trí mê muộI của con người trong thế giới hiện tượng biến dị trong dòng bộc lưu sanh tử phải được vượt thoát ra khỏi nó để đến thế giới vô sanh, thường tồn, giải thoát khỏi nhân duyên sanh diệt, tức là tìm về chân trí mà soi sáng vạn pháp để làm chủ cái bị sanh trong thế gian. Chúng ta cần tìm hiểu sự hình thành của chân trí (cái Vô Sanh) như thế nào mới có thể mở ra con đường trí tuệ giải thoát. Như Phật đã thuật lại sự tìm cái Vô sanh và đã chứng được cái vô sanh trong kinh Thánh Cầu-26 (kinh Trung Bộ): Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại củ ái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại củ ái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại củ ái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại củ ái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại củ ái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và trí và kiến khơi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. Khảo Sát Cái Vô Sanh Hay Chánh Trí (Chân Trí.) Khi ta tri nhận ngay đầu nguồn của của giác thức hay tâm thức (Niệm đầu) và xa lìa nó ngay là ta có tri thức nguyên thủy (cognize a pure perception to get a pure cognition or a discernment). * Nhất Nguyên Tuyệt Đối Khi đã đạt được nguyên lý Nhất Nguyên Tương Đối (Cái Bị Sanh), cái còn lại là phải tiến hành làm cho Giác Trí Đang Là đó không thể sanh Tư Tưởng vẩn vơ trong Tâm làm cho Tâm vẩn đục. Quá khứ, đã qua,bất khả đắc vì tiền ngũ căn không thể nắm bắt; tương lai chưa đến nên tiền ngũ căn cũng không nắm bắt được; còn hiện tại là Cái Đang Là, nó nối tiếp bằng những sát na sanh diệt, cũng không nắm bắt được; chỉ có Cái Hiện Tiền hay Sát Na Hiện Tiền, là một Thực Tại Điểm có thể nắm bắt được. Làm sao nắm bắt ngay cái ĐiểmThực Tại đó? * Diễn tiến Nhận thức Giác Trí Tuệ hay Thể cách Tri nhận Tự Tính Tuyệt Đối Nhất niệm hay cái Thức nguyên sơ là Thực Tại Điểm trong tiến trình nhận thức khởi đầu của Giác Thức Đang Là, cũng là Nhị Nguyên tính của Năng Sở, Chủ Khách, Căn Trần; Giác Trí là tiến trình tri nhận đầu nguồn của Giác Thức Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tương Đối của Trí Thức hay Tư Tưởng. Nhất Nguyên là vì khi Ý Tác Động của Căn (Ý thức) tiếp xúc với đối tượng (thực tại giả lập), thành Giác Thức (hay Tâm Thức), lập tức được Ý Tác Năng (Ý Trí) ý niệm hóa Giác Thức thành Giác Trí (hay Tâm Trí). Tâm Thức và Tâm Trí cùng một Tâm. Thức chuyển thành Trí. Giác Trí Đang Là (hiện tại), dù nằm trong đạo lý nhất nguyên, nhưng nó cũng huyễn hóa theo thời gian. Cái Đang Là là sự nối tiếp những điểm sát na sanh diệt liên tục. Dòng Giác Trí ấy trôi chảy làm cho Trí và Thức liên hợp sanh ra Tư Tưởng. Còn tư tưởng là còn có sự thay đổi, nên chưa phải là chân lý. Chân lý thì thường hằng bất biến. Do dó Giác Trí Đang Là thuộc diện tương đối; Chân Trí hay Giác Trí Tuệ hay cái Trí Nguyên Sơ được nhận thức ngay nơi thực tại điểm khởi đầu tiến trình của động tác Giác Trí Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối của Năng Sở song vong và vô Thời Không. Vậy Chân lý tối hậu hay Tự tính tuyệt đối, hay đạo lý Nhất nguyên tuyệt đối là Nhận thức vượt Thời Không, là Tánh Giác hay Tánh Không. Không dùng Tư Tưởng suy nghĩ bàn luận mà dùng pháp môn không hai, hay nói khác đi làThể hiện, là im lặng không dùng ngôn ngữ mà là Hành là Thiền, Cái Vô Sanh. Đó là pháp "Bất Khả Tư Nghị", là Trung Đạo. Thực Tại Tuyệt Đối hay Chân Lý Tối Hậu: Vô Thời Không Đứng trên phương diện chân lý tối hậu , thì tự tính tuyệt đối của sự vật đều có tánh không hay là không có tự tính , là tuệ giác, là cái biết sát-na hiện tiền, là tánh giác. Chân lý thì nó không lệ thuộc, không bị áp đặt, độc lập, vì tánh giác là ý trí tác năng, thường hằng trong tâm trí, có thức thì biết, không có thức cũng biết. Biết lại cái thức hay không là do chủ ý tự do. Nhắc lại, tánh Hư Không, đức Phật giải thích:’’ A Nan ! Ngươi phải biết trong Tạng Như Lai, ‘’Tánh giác’’ tức là thiệt hư không, ‘’Hư Không’’tức là ‘’Thiệt Tánh giác’’, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp thế giới... Thực tại tuyệt đối này là tuệ giác (tri giác) là cái biết sat-na hiện tiền là cái định của trí; thường dùng biết vô thời không, tuệ tri, hay tuệ quán để đạt được trí này. (Xem Tuệ Giác trong Cốt Tủy các Kinh Căn Bản Phật Giáo, Phổ Nguyệt, 2007) Sau khi rời bỏ phương pháp tu thiền yoga, Bồ Tát nhớ lại pháp thở ở thời thơ ấu vừa thoải mái vừa làm cho trí não sáng suốt hơn, nên Ngài dùng nó để đi vào thiền định. Ngài tự hành từ con đường giới định tuệ mới có thể giác ngộ giải thoát khỏi dòng bộc lưu sanh tử. Ngài dùng thắng trí hay chánh trí để liểu tri đối tượng như kinh Giáo Giới Nandaka -146 (Kinh Trung Bộ) mà Phật dạy sau này. * Chánh Trí Tuệ (Chánh Trí, Thắng Trí, Thượng Trí, dùng Tuệ Tri (Biết) hay Liểu Tri): Tri Kiến Hữu Học và Giác Ngộ Bài học này tôn giả Nandaka (Kinh Giáo Giới Nankada) đã được Phật day nên giáo giới lại cho các vi Tỳ-kheo-ni về sự vô thường của nhản căn sắc trần và nhãn thức theo chơn trí. Chúng ta nhìn một vật thì thấy và biết như chơn mắt, thấy biết như chơn các sắc, thấy biết như chơn nhãn thức vì chúng ta đã hiểu được chơn mắt, chơn các sắc, và chơn nhãn thức theo thật tướng của chúng như đã trình bày trên. Chơn mắt, chơn sắc, và chơn nhãn thức là một khi nhìn một vật gì thì sử dụng một lần mà thôi (vô thời gian). Nếu không kéo dài thời gian thì vật đó còn nguyên thủy: nó-là -nó tại đó và lúc đó, vô thời không hay mắt, sắc (vật), hay thấy (nhãn thức) vẫn còn chơn nguyên, thấy biết không bị xúc thọ ái lăn trôi theo thời gian mà có những khái niệm, nên mắt, sắc, thấy biết không thay đổi, cố định. Nói chung, nhận thức trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn biểu hiện Trí Năng, Tình Năng và Hoạt Năng, nên dây thần kinh dẩn truyền lên não hình ảnh của chơn các căn, từ chơn các căn đồng thời đã xúc chạm dây thần kinh, có nhân căn xúc; do duyên căn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vì chúng ta thấy biết (tuệ tri) chơn cảm thọ không có thời gian, nên không có ái trước (trong A Lại Da thức) đối với các căn (không lập lại), không có ái trước đối với các căn (hình ảnh các căn có sẵn tích tụ) và ái trước đối với căn xúc (Xúc có sẵn trong A-Lai-Da Thức: ký ức). Từ đó do duyên căn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ , bất khổ bất lạc thọ mà không có ái trước đối với cảm thọ ấy. Hành giả cần phải khéo thấy như thật như chơn, với chánh trí hay chơn trí, cái bất biến, thường còn hay pháp chánh tri kiến. Hành giả phải đoạn tận các lậu hoặc, để được tự mình chứng tri trong hiện tại, đạt đươc chánh trí, và an trú vô lậu tâm giải thoát, huệ giải thoát, tức là an trú vào không tánh vậy. Nói theo phương tiện cục bộ thời gian thì bản chất định và tuệ thì bình đẳng và đồng thời vì trong định có tuệ, trong tuệ có định. Ðịnh là cái tuệ giác, cái biết sat-na hiện tiền, cái an tịnh không động không rung chuyển (Tuệ quán trong Kinh Nhất Dạ Hiền Giả). Nói theo cứu cánh tối hậu thì định được thời gian tích lũy đến chí đạo mới đạt được tuệ giác toàn diện tức là tánh giác, như Phật chứng đắc Chánh Ðẳng Giác. Trước khi đắc pháp, Bồ Tát đã thực hành thuần thục giới luật qua khổ hạnh, nhịn ăn, thiền nín thở dù không làm phát triển trí tuệ, nhưng các pháp ấy được ly dục và xa lìa các hành động bất thiện, tưởng cũng đã làm căn bản cho sự rèn luyện phạm hạnh rất tốt. Cho đến khi Ngài chứng đắc thiền yoga của phàm phu cũng làm nền cho tiến trình thiền định thắng tri, với những vị Hữu Học thì tri kiến được chính xác hơn, cái biết sáng suốt như suy nghĩ rõ ràng, không đối chiếu lệch lạc mà nhìn thẳng vào sự vật. Thắng tri hay liễu tri sự vật mà không so đo, không suy nghĩ vẩn vơ, tưởng tượng và không dục hỷ mà dùng chơn trí bằng pháp chánh tri kiến; bậc A-La-Hán là những vị dùng pháp thắng tri để liễu tri sự vật (pháp chánh tri kiến) không dục hỷ và đoạn trừ được tam độc. Bậc I biết pháp liễu tri sự vật mà không dục hỷ. Bậc ÌI biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ và đã đoạn trừ được tham dục. Bậc III biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn trừ được sân hận.Bậc IV biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn trừ được si mê; c òn đấng Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ, hoàn toàn diệt trừ các ái, sự ly tham sân si, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác. Biết được kinh nghiệm tu hành của Bồ Tát theo các kinh dạy của Phật sau này như Thiền định-20, (Kinh Tăng Chi Bộ): 10-13. Nếu vị ấy trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ... quán thọ trên các cảm thọ ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ... 14-17. ... Ðối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Ðối với pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn làm an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... …… Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ..." 55-62. Tự mình có sắc, thấy các sắc. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các loại ngoại sắc ... quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy ... Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến các tưởng khác biệt, với suy tư: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ....Vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng ... Trong lúc thiền định Bồ Tát luôn dùng kèm phương pháp thở, như kinh NhậpTức Xuất Tức Niệm-118 (Kinh Trung Bộ) ….Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài, vị ấy biết : "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, được quả lớn, được công đức lớn… Lúc đầu Bồ Tát dùng chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra như trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra-54 (kinhTương Ưng Bộ): ……4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt; vị ấy chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra. 5) Thở vô dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở vô dài". Thở ra dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra dài". Thở vô ngắn, vị ấy rõ biết : "Tôi thở vô ngắn". Thở ra ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra ngắn". 6) "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 7) "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 8) "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 9) "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 10) "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. 11) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Trong tứ oai nghi, đi đứng nằm ngồi, mọi cử động, mọi hoat động đều phải chánh niệm như trong Phẩm Thân Hành Niệm-119 (Kinh Trung Bộ), chỉ trích phần thân hành niệm ở đoạn ngồi thiền: ….. Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài vị ấy biết: " Tôi thở ra dài" . Hay thở vô ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra". An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vi ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm…. Tu thiền không có phóng dật là đệ nhất hành đạo như trong Phẩm Bất Ðộng Lợi Ich-106 (Kinh Trung Bộ): ……Ở đây, các ác bất thiện ý này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Các dục hiện tại và các dục tương lai… cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý : tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập". Trong khi ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động…… …..Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Đây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước". Này Ananda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng. Những gì, Này Ananda, vị Đạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ananda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ananda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Đây là lời dạy của Ta cho Ông. Bồ Tát phải sống một mình lúc đó thân tâm mới được yên tịnh mà tu hành, như trong phẩm Sống Một Mình-36.11 (kinh Tương Ưng Bộ): 3……… Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ"? 4. Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Sống Một Mình-36.11)….. …..5) Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Đối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt. 6) Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ.... .. khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Đối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ. 7) Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Đối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an. Sau cùng Bồ Tát quyết định dùng Ðịnh Niệm Hơi Thở để đạt sự giác ngộ giải thoát như trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra-54 (kinh Tương Ưng Bộ): …..14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý. 15) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 16) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 17) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán", thời định niệm... 18) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán", thời định niệm... 19) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời định niệm... 20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm... 21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm... 22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm... 23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm... 24) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm... 25) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên", tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời định niệm... 26) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm... 27) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 28) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý. 29) Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết không hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". 30) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biếy: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh". 31) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh". III. Lược Thuật Pháp Hành A. Thực Hành. Bồ Tát quyết định tự thực hành theo chín bước - như Phật dạy các vị Tỷ-kheo trong X. Phẩm Tham (kinh Tăng Chi Bộ) - sau đây cho đến khi đắc đạo: (I) (93) Thắng Tri Tham 1. - Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín? 2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng yểm ly đối với các món ăn, tưởng không vui thích đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngã trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập. (II) (94) Thắng Tri Tham 1. - Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín? 2. Sơ Thiền, Thiền thứ hai, thiền thứ ba, Thiền thứ tư, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng định. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập. (III) (95 - 100) Liễu Tri Tham 1. - Này các Tỷ-kheo, để liễu tri tham... để diệt tận... để đoạn tận... để trừ diệt... để ly tham... để đoạn diệt... để trừ khử... để từ bỏ, chín pháp này cần phải tu tập. 2. Ðể liễu tri sân... si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan tham, man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột, mạn, tăng thượng mạn, kiêu, phóng dật... để thắng tri... để liễu tri... để diệt tận...để đoạn diệt... để trừ diệt... để ly tham... để đoạn diệt... để trừ khử... để từ bỏ, chín pháp này cần phải tu tập. Thế Tôn thuyết như vậy, các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy Chín pháp tu tập: Bốn pháp Thiền đầu tiên đều dùng định niệm hơi thở nghĩa là Biết (Tuệ Tri) và Chánh niệm như hơi thở, ly duc, ly pháp bất thiện, tịnh chỉ tầm tứ, hỷ lạc sanh, ly hỷ trú xả theo thứ tự các thời thiền từ định niệm tướng đối tượng (ngôn hành); định niệm Thức đối tương (ý hành hay tĩnh thức); định niệm Tánh (trí) đối tượng (trí hành, tĩnh giác); định niệm hơi thở bằng cách vô niệm, bất động (thân hành, thể nhập). 1. Nhẩm biết niệm hay đọc hơi thở (ngôn hành): Ðịnh niệm bằng tướng hơi thở (có lời, có tiếng): Ðịnh niệm bằng thể tướng hơi thở. Ðịnh Niệm Hơi Thở bằng lời. Biết Nhẫm Ðọc hơi thở. Khi thở vô, “Tôi biết tôi thở vô.” Khi thở ra, “Tôi biết tôi thở ra” * Tức là định niệm hay đọc nhẫm có phát ra lời, có chủ (chủ thể: tôi tức căn tai nhận thức), khách thể (đối tượng là tiếng thở vô và thở ra). Như vậy, sơ định có tầm tứ và hỷ lạc có lời là có tầm, có tướng là có tứ và hỷ lạc. Có thể nói là Ðịnh Tướng hơi thở mỹ lệ (hỷ lạc). Ðồng thời cũng dùng thiền định để luôn trao dồi giới lẫn định. Từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Lời Phật dạy (trong Ðaị Kinh Phương Quảng 43, Trung Bộ Kinh) “Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần." Cũng Phẩm 54, VIII Ngọn Ðèn (kinh Trung Bộ) có viết: 20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm... Khi ly dục, ly các pháp bất thiện chứng và trúThiền thứ nhứt, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ, lời nói được đoạn diệt. 2. Thầm hội biết Thức Hơi Thở (Thức Hành). Ðịnh niệm bằng nhận thức luồng hơi thở (ý thức thầm hội hơi thở) “Biết tôi thở vô Biết tôi thở ra” Chỉ dùng căn ý là chủ (lặng lẻ) để nhận thức (với ý tác động) hơi thở vô hơi thở ra là khách. Ðó là cách Tĩnh Thức. Khi có định và chánh niệm thì tầm và tứ được đoạn diệt chỉ được nội tĩnh nhất tâm. Còn Thức là còn trạng thái hỷ lạc. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. 21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm... 3. Ngộ nhập biết + ý trí Hơi Thở (Trí hay Tánh Hành). Ðịnh niệm bằng ý trí ngộ nhập hơi thở (tri nhận đối tượng trong trí: ngộ nhập luồng hơi thở vào cái biết). Biết tri nhận luống hơi thở. Ðịnh và chánh niệm hơi thở nên gọi là Trí Hành hay Tĩnh Giác. “Biết thở vô Biết thở ra.” Biết rõ hơi thở vô hơi thở ra. Ðịnh và chánh niệm bằng ý trí (ý tác năng) Ðó là Tĩnh Giác về hơi thở. Chỉ có thở vô thở ra được ý trí ý niệm hóa mà thôi. Hành này dùng pháp tánh không (biết=định), dùng trí (tuệ tri) để tri nhận hơi thở. Còn đối tượng thì còn lạc thọ vì có định của trí (tĩnh giác), nên lạc thọ này không ảnh hưởng đến tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. 22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm... 4. Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm: không niệm tướng niệm thức cả niệm trí): Pháp bổn như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm lặng Vô Ra. “Biết cảm giác vô, Biết cảm giác ra.” Biết cảm giác Vô Ra, vì khi nhận dạng cảm giác (bóng dáng) của một đối tượng mà chưa được nhận thức (chưa được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể nhập nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối tượng chưa thành hình, chưa có tên (giả danh), đó cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của chân trí. Biết cảm nhận luồng hơi vô luồng hơi ra mà thôi. Khi không có mặt đối tượng thì làm gì có hỷ lạc trong tâm. Khi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. 23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm... Chánh Giác (Vô niệm: buông xả} Buông xả và ngưng động: Từng hơi thở tự nhiên tự động hiện hữu rõ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một trạng thái trống rỗng. Vô Niệm Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh như nhiên Tức là phải trải qua ba giai đoạn trên (huân tập kinh nghiệm thuần thục), để hành giai đoạn thứ tư nầy một cách rốt ráo, nghĩa là vô tướng vô thức và vô trí (hay vô tánh) tức là vô niệm, từng chập hơi thở tự nhiên và tự động vào, ra, hiện hữu rõ ràng rỗng không). Khi Phật đã trải qua ba lối thở trên (kinh nghiệm) là đã đạt được chánh trí rồi như các kinh Phật đã giáo hóa chúng sanh sau này. Ðó là lúc Bồ Tát đã đoạn diệt cảm thọ vui buồn, vượt khỏi ái thủ hữu được minh tâm và giải thoát. Giai đoạn thứ tư này là Pháp mà Phật đã thể hiện được Tánh Giác còn gọi là Pháp Vô Niệm, Buông Xả là không Niệm Tướng , không Niệm Thức và cả không dùng Trí mà ngộ nhập vào từng dòng hơi vô ra tự động hiện hữu tư nhiên rõ ràng trong trống không. Ðó là Thiền Thứ Tư. Qua bốn giai đoạn định niệm hơi thở với bốn tầng thiền là đạt được định tĩnh; thân chứng, tâm chứng là mở ra con đường giác ngộ thực tướng vạn hữu. Tánh Giác hay Tánh Không, giống như Chân Như, Niết Bàn là Tự Tính Tuyệt Ðối vượt khỏi Thời Không, như vậy Tánh Không ở ngoài thế giới khái niệm của ngã tính (nhị nguyên). Tánh Không chỉ khéo có tác ý rằng Không không thể là đối tượng của tư duy ngã tính, mà chỉ có thể thể nhập thực tại tuyệt đối, một thứ thực tại như thật, thể nhập vào tánh không của cảm giác đối tượng trước khi biến thành thức. Tóm, bốn pháp định niệm hơi thở được Phật nhắc lại như trong Thánh Cầu -26 (kinh Trung Bộ): ……. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... vượt khỏi tầm mắt của Ác ma. Trong năm pháp thiền sau, Ngài đều dùng Tâm Ðịnh Tĩnh, một Tâm Ðịnh Niệm của Thiền thứ tư là Thân Hành bất động, chỉ định và tĩnh giác tức là Biết và Thể Nhập đối tượng cho nhuần nhuyễn đến Thuần Tịnh. 5. Không Vô Biên Xứ. Không Vô Biên Xứ là cõi vô sắc giới dùng Ðịnh Tĩnh đối tượng. Dùng Ðịnh Tĩnh Giác thực hành như sau: không tác ý những chi tiết (Cục Bộ), mà chỉ hân hoan thích thú và an trú hướng đến cái Hư Không Vô Biên (Toàn Thể). Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ý lâm tưởng, không tác ý địa tưởng, tác ý sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Không vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền, do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri: "Loại tưởng này không có lâm tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có địa tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh 6. Thức Vô Biên Xứ Tâm Ðịnh Tĩnh thích thú, hân hoan, an trú, chỉ nhất trí hướng đến Thức Vô Biên Xứ. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ý địa tưởng, không tác ý Không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Thức vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có địa tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. 7. Vô Sở Hữu Xứ Thiền định đi vào cõi vô sở hữu xứ vì vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ý Không vô biên xứ tưởng, không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô sở hữu xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri: "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. 8. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng X ứ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Thức tính bất động, diệt hẳn sự suy nghĩ hay không suy nghĩ. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ý Thức vô biên xứ tưởng, không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ý sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy biết như sau : "Các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây, vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. 9. Diệt Thọ Tưởng Ðịnh. Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập tắt hoàn toàn những cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương thức thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ý không nhiễm không nương vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp nào.) Đây là phép định của bậc Thánh. Khi vào phép nầy thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới, truớc khi đi vào cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, rồi đắc quả Phật và nhập Niết Bàn. Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không có tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ý sự nhất trí do duyên Vô tướng tâm định Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy tuệ tri: "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh. Lại nữa, này Ananda, vị Tỷ-kheo không tác ý Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ý Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ý sự nhứt trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau : "Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái gì thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt", vị ấy tuệ tri như vậy. Do vị ấy tuệ tri như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, là sự hiểu biết (nana) rằng đã được giải thoát. Vị ấy tuệ tri : "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn phải trở lại trạng thái này nữa". Vị ấy tuệ tri : "Các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên hữu lậu không có mặt có ở đây; các ưu phiền do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây. Và chỉ ở một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có dục lậu". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có hữu lậu". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có vô minh lậu. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái gì không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái còn lại, ở đây vị ấy biết : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, Không tánh. (Kinh Tiểu Không-121, Kinh Trung Bộ) B. Quả Ðạt Ðược Khi hoàn tất chín pháp thiền là lúc Bồ Tát đã đạt tâm định tĩnh, trong sáng, nhu nhuyễn dễ sử dụng.Trong Ðại Kinh Saccaka-36, Phật thuật lại sự chứng ngộ của mình như: 1). “Túc Mạng Minh” là nhớ lại tất cả kiếp quá khứ, từ một đến vô số kiếp của Ngài: Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, T ó tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, T ó tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta 2). “Thiên Nhãn Minh” là thấy rõ sự sanh tử và tái sanh của đủ hạng chúng sanh: Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. 3). “Lậu Tận Minh” là nhận biết rõ ràng như thật “khổ và lậu hoặc”, biết “nguyên nhân khổ và lậu hoặc”, “diệt khổ và lậu hoặc”, và “con đường đưa đến chấm dứt khổ và lậu hoặc”. Khi chứng được Lậu Tận Trí, Ngài không những thiết lập tứ đế mà còn cho biết Ngài đã hoàn toàn giải thoát khỏi dòng bộc lưu sanh tử. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Diệt khổ", biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát" Ta đã biết: "Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Như vậy này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta. IV. Kết Luận Xuyên qua chín pháp mà BồTát tự mình khám phá và thực hành để đạt được Chánh Ðẳng Giác. Chúng ta nhận thấy rằng sự diệt tham dục, và ác pháp của Bồ Tát trong giai đoạn đầu của sáu năm trong cuộc hành trình tim và tu đạo thật gian nan, khốc liệt, một loại giới luật quá nghiêm khắc mà ít ai làm được. Dù giới luật ấy không đem đến giác ngộ, nhưng nó cũng giúp Ngài rèn luyện được phạm hạnh tối ưu. Riêng thực hiện con đường giác ngộ và giải thoát của Bồ Tát với chin bước theo đạo lộ “Giới Ðịnh Tuệ” đưa đến sự hoàn tất thực chứng của Ngài. Bốn pháp định niệm hơi thở đã mở ra bốn giai đoạn thực tập tuần tự chứng và an trú từ thiền thứ nhứt đến thiền thứ tư là lần lượt đoạn diệt lời nói (ngôn hành), ý thức (ý hành), ý trí (tánh hành), và vô niệm (thân hành) là thể nhập thể tánh của đối tượng, là lúc tâm được định tĩnh. Ðịnh tĩnh (Biết và Tĩnh Giác) sơ khởi và thực hành tiếp năm pháp thiền cao cấp sau cùng để tiến tới tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh là đã đắc được tam minh hoàn toàn giác ngộ và giải thoát, chứng ngộ Niết Bàn trở thành một vị Phật tức đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một đấng Như Lai Chánh Ðẳng Giác. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
Pháp Tứ Niệm Xứ Áp Dụng Vào Đời Sống Hiện Đại “Áp dụng Pháp TỨ NIỆM XỨ vào đời sống hiện đại” là đề mục buổi nói chuyện của tôi chiều nay. Trước tiên tôi sẽ cố gắng trình bày cùng quí vị vài ý niệm về TỨ NIỆM XỨ, rồi sau tôi sẽ vạch rõ tình trạng đặc biệt và phức tạp của thời đại hiện tại như thế nào, để quí vị nhận thức rằng hơn lúc nào cả, Pháp TỨ NIỆM XỨ rất cần thiết cho thời đại của chúng ta. Cũng như quí vị đã biết, Pháp TỨ NIỆM XỨ đề cập đến sự phát triển một khả năng rất quí của Tâm, là “Sati” hay “Niệm” (chú tâm). Sự phát triển ấy có bốn cách. TỨ NIỆM XỨ có nghĩa là củng cố Niệm hoặc thực hành Niệm. Bốn cách Niệm mà ta thấy trong Kinh là: 1.Niệm-thân: Kayanupassana (niệm hơi thở thuộc về khoản này) 2.Niệm-thọ: Vedananupassana 3.Niệm-tâm: Cittanupassana 4.Niệm-pháp: Dhammanupassana Niệm là một trong tám Chi của Bát-Chánh-Đạo; nó là một trong Ngũ-Căn (Indriya) và cũng là một trong Thất-Giác-Chi (Bojjhanga). Như vậy quí vị cũng đủ thấy là Niệm (Sati) có một vị trí rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Thật vậy, Đức Phật đã gọi nó là “Ekayano Maggo” -- con đường duy nhất – “sattanam visuddhiya” – làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh – “soka pariddavanam samatikkamaya” – làm cho ta vượt qua phiền não và ta thán – “dukkha domanassanam atthangamaya” – làm cho ta diệt khổ não và u sầu – “nayassa adhigamaya” -- đem ta vào Chánh-Đạo – “nibbanassa sacchikiriyaya” – để chứng quả Niết-Bàn. Bởi thế nên dù theo quan điểm của người thường, Niệm cũng là một đức độ rất đáng kỳ vọng. Lẽ thường cho ta hiểu rằng thực hành niệm sẽ làm cho ta trở nên tinh tường, đúng mực hơn, nhặm lẹ hơn và làm giảm bớt tối đa những điều sai lạc, những lỗi lầm, những sơ xuất, những tai ương. Và lẽ thường cũng cho ta hiểu thêm rằng nếu thực hành Niệm thành một thói quen, Tâm ta sẽ được quân bình, ta sẽ ý thức được sự tương quan trong mọi việc, ta sẽ có một tinh thần minh mẫn và luôn luôn ta sẽ thận trọng. Nhưng xin quí vị nên nhớ rằng Đức Phật còn cho ta biết nhiều hơn nữa về kết quả của Niệm. Đức Phật với những lời lẽ hết sức rõ ràng, như tôi vừa trích trên đây, dạy ta rằng Niệm có tác dụng làm cho chúng sanh trở nên thanh tịnh, làm cho ta vượt qua phiền não, đưa ta vào Bát-Chánh-Đạo và cuối cùng làm cho ta chứng được quả Niết-Bàn. Song le, làm thế nào để đạt được những kết quả cao quí và tốt đẹp ấy? Cho đặng thành tựu như thế thì cái Niệm mà ta thực hành không phải chỉ thuộc về thế gian này, không phải là Niệm “tại thế” (lokiya), nhưng phải là Niệm ”siêu thế” (lokuttara), nghĩa là phải có một đặc tính riêng biệt thuộc về tinh thần, và do đó phải có một “kỹ thuật” đặc biệt để thực hành Niệm. Pháp TỨ NIỆM XỨ đề cập đến bốn cách Niệm và những phương pháp cần thiết để thực hiện. Như vậy, khi ta hành về một trong TỨ NIỆM XỨ bằng phương pháp đặc biệt của nó, ta có thể thu nhập được những kết quả hứa hẹn. Niệm cho đúng phương pháp có đặc điểm là nó đòi hỏi phải nhìn sự vật một cách khách quan, chứ không phải chủ quan: nếu Niệm không chứa đựng được yếu tố quan trọng là nhìn sự vật một cách khách quan, thì chưa chắc phải là Niệm đúng theo nghĩa của nhà Phật mà trong kinh gọi là Sati. Ta cần phải phân biệt giữa lối nhìn khách quan và lối nhìn chủ quan. Khi có người yêu cầu Pythagore định nghĩa nhà hiền triết là như thế nào, thì ông ta trả lời với một ý nghĩa cũng tương tợ như trên là khi mọi người trên thế gian nầy được mời đến dự “tiệc đời”, thì có một số người đến đặng hưởng lạc, một số nữa đến đặng cầu tiếng tăm, danh vọng, nhưng cũng có một số người khác chỉ đến để mà xem. Những hạng người sau nầy chính là những nhà hiền triết vậy. Tỷ dụ ấy ngụ ý là bậc triết nhân không đồng nhất mình với cuộc đời. Bậc triết nhân nhìn đời một cách bàng quan. Người tập luyện Sati cũng phải nhìn sự vật như thế. Khi quí vị nhìn vật gì một cách chủ quan thì giữa quí vị và vật ấy có một ái lực về tinh thần. Quí vị đem Tâm mình đến rất gần vật ấy. Quí vị liên kết mình với đối tượng và nếu có mối liên hệ nào đó giữa quí vị và đối tượng, thì quí vị sẽ không cố gắng để ngoài Tâm mối liên hệ ấy. Trái lại mối liên hệ ấy còn ảnh hưởng rất nhiều và sẽ tô màu việc quan sát của quí vị. Rốt cuộc, quí vị không còn là người quan sát vô tư nữa. Còn như quí vị nhìn vật gì một cách khách quan thì quí vị cần giữ Tâm mình cho xa đối tượng, quí vị tách mình ra khỏi đối tượng và nếu có mối liên hệ nào giữa quí vị và đối tượng, thì quí vị sẽ không cho nó ảnh hưởng đến việc quan sát của mình. Như vậy, quí vị là người chỉ quan sát mà thôi, khác hẳn với người quan sát thiên vị. Người quan sát khách quan, không bị ngoại cảm ảnh hưởng, tất nhiên sẽ thấy rõ hơn và đúng hơn người quan sát thiên vị, vì sự nhìn của người quan sát thiên vị có thể bị sai lệch bởi tư kiến, tư lợi. Người đứng ngoài thấy rõ nước cờ hơn người đánh cờ hoặc đánh ké. Vậy, khi ta thực hành niệm, ta phải thoát ra khỏi tất cả ý tưởng về bản ngã và tư lợi, phải ráng gắn Tâm vào đối tượng mà thôi, không lưu ý đến một giả thuyết nào, một phỏng đoán nào, thiên kiến nào, thành kiến nào hay ức đoán nào cả. Tóm lại, ta cố gắng có một hình ảnh thật của đối tượng và chỉ thấy có hình ảnh ấy mà thôi (hãy chăm chăm nhìn kỹ vào nó mà không nghĩ gì khác). Chính đó là đặc tính của Niệm mà ta phải đào luyện cho kỳ được. Tôi đã nói rằng có bốn đối tượng của Niệm: Thân, Thọ (cảm giác), Tâm (ý tưởng), và Pháp (đối tượng của ý), và đối với mỗi đối tượng ấy, ta phải hành Niệm một cách khách quan. Bất cứ là đối tượng nào của niệm, quí vị phải nhìn chỉ đối tượng ấy mà thôi. Đó là bí quyết trong việc thực hành satipatthana (TỨ NIỆM XỨ) để có hiệu quả, và bí quyết ấy Đức Phật đã giải thích rõ ràng trong rất nhiều cơ hội. Quí vị có thể tượng tượng tầm quan trọng của điều ấy khi tôi nhắc lại câu chuyện sau đây: Một hôm, trên đường đi trì bình, Đức Phật dừng bước lại để giải thích bí quyết ấy cho một người nọ. Hằng ngày, Đức Phật luôn luôn áp dụng một thời khắc biểu nhứt định và không khi nào thay đổi, như chẳng hạn trong lúc đi trì bình thì không bao giờ dừng bước lại để làm một việc nào khác. Thế mà trong trường hợp đặc biệt này, Ngài đã dừng chân lại để đàm luận cùng Bahiya, nhà lãnh đạo một giáo phái nọ. Ông Bahiya nầy đã sống một cuộc đời cực kỳ lương thiện và ông đã tự cho rằng mình đã đạt đến tầng A-la-hán. Nhưng một hôm có một vị Bồ Tát hiện đến bảo ông rằng, “Ngươi chưa phải là A-la-hán đâu, cũng chưa đến được A-la-hán đạo nữa! Ngươi đâu có biết được “kỹ thuật” (patipada) để trở thành bậc A-la-hán. Ngươi hãy đến hỏi với Đức Phật đi! Ngài là bậc A-la-hán và Ngài đang dạy phương pháp đưa chúng sinh đến tầng A-la-hán. Ngài ở cách đây rất xa, tận thành Savatthi (Xá Vệ).” Những lời khuyên của vị Bồ Tát làm cho Bahiya rất hoang mang. Ông tức khắc lên đường thẳng đến thành Savatthi. Trong Kinh chép rằng ông khao khát học tập “kỹ thuật” để trở thành bậc A-la-hán đến nỗi ông chỉ ngừng lại có một đêm trong suốt cuộc hành trình dài của ông. Khi đến Jetavana (Kỳ Viên) tại thành Savatthi, ông được biết rằng Đức Phật đã đi trì bình. Rất bối rối, ông bèn noi theo hướng Đức Phật đã đi. Gặp được Ngài, ông liền quì xuống, đặt trán lên chân Ngài và khẩn cầu Ngài chỉ dạy cho “kỹ thuật” để trở thành A-la-hán. Để thử lòng nhẫn nại của ông, hai lần ông thỉnh nguyện, cả hai lần Đức Phật đều không chấp thuận lời yêu cầu của ông, nói rằng, “Nầy Bahiya, anh đến không đúng lúc. Chúng tôi đã lên đường đi trì bình.” Khi ông thỉnh cầu đến lần thứ ba, có lẽ vì biết nghiệp của ông phải chết nội ngày ấy, nên Đức Phật mới dừng chân lại mà giải thích một cách tóm tắt như sau đây, “Nầy Bahiya anh phải tự luyện tập như thế này: ‘Ditthe dittha – mattam bhavissati Sute suta – mattam bhavissati Mute muta – mattam bhavissati Vinnate vinnata – mattam bhavissati.’ ‘Khi trông thấy vật gì, anh chỉ nên thấy vật ấy mà thôi. Khi nghe được tiếng gì, anh chỉ nên nghe tiếng ấy mà thôi. Khi có một ý tưởng nào, anh chỉ nên nhận thức ý tưởng ấy mà thôi. Khi có sự thấu đáo nào, anh chỉ nên nhận thức sự thấu đáo ấy mà thôi.’” Bấy nhiêu lời đủ làm cho Bahiya giác ngộ! Đó là những lời rất uyên thâm, đầy ý nghĩa. Với sự trình bày trước đây, tôi chắc rằng quí vị đã lãnh hội được đầy đủ. Nếu quí vị thực hành Niệm trên một sắc tướng nào thì quí vị phải chỉ thấy sắc tướng ấy mà thôi, chứ đừng thấy gì khác nữa. Những ý nghĩ và mối cảm kích nào do lợi ích riêng tư đã phát sinh khi quí vị thấy sắc tướng ấy, cũng không được làm sai lệch sự trông thấy của quí vị. Khi đối tượng của Niệm là một tiếng động thì phải chỉ có tiếng động ấy mà thôi, chứ không nên có những ý nghĩ và cảm kích nào tạo ra vì tư kiến tư riêng. Khi ta nghe một việc gì cũng vậy, ta chỉ nên nghe việc ấy mà thôi. Đối với ba cách Niệm kia quí vị cũng nên giữ một thái độ tinh thần chính xác như thế. Khi Đức Phật cùng các đệ tử trì bình xong trở về, Ngài thấy Bahiya nằm chết bên vệ đường, vì bị một con bò con húc. Đức Phật bảo đệ tử của ngài đem thi hài ông đi hỏa táng. Sau đó, Đức Phật mới nói rằng, “Bahiya đã vâng theo lời ta dạy. Anh đã chứng ngộ đạo quả A-la-hán!” Giờ đây ta mới thấy sự qua trọng của lối nhìn sự vật một cách khách quan. Mỗi khi cái gì đến ta, ta không nên để nó ảnh hưởng ta. Ta phải nhìn nó một cách thật khách quan. Cái gì đến ta đó có thể là sắc, hoặc thinh (tiếng động), hoặc hương, hoặc vị, hoặc xúc, hoặc một ý tưởng. Trong Anh ngữ không có danh từ nào đồng nghĩa với ý tưởng “cái gì đến trên con đường ta”. Danh từ Pali là “arammana” thường được dịch là ”đối tượng”. Ấy là những gì đến với ta trên đường đời và nếu ta nhìn những việc ấy một cách khách quan, thay vì để nó chế ngự ta, thì ta sẽ sống một cuộc đời đúng đắn không lầm lạc. Hiện nay thế gian đang khổ vì không quan sát cho đúng những “sự việc gặp gỡ” ấy. Trước những “sự việc gặp gỡ” ấy ta hồi tưởng lại bao nhiêu là phản ứng của ta đối với nó trong quá khứ, bao nhiêu là khuynh hướng của ta trong hiện tại, rồi ta vội vàng kết luận và hành động. Như vậy là điên cuồng! Ta cứ hãy để cho những hình ảnh thật đó tự nó in vào đầy đủ trong tâm thức ta một cách tự nhiên và khách quan. Trái lại, nếu ta không chịu khách quan chờ xem có một sự hiểu biết đầy đủ nào về “sự việc gặp gỡ” đó, thì những nét sơ thiển của nó cũng đủ ảnh hưởng ta và khiến ta vội vàng suy đoán và hành động xai sót! Thí dụ, quí vị thử xem một điều gọi là ác (như tham, sân, si chẳng hạn). Quí vị nên nhìn nó một cách khách quan, thay vì để những phản ứng thường tình do nó gây nên xen vào trong tâm thức quí vị. Quí vị hãy cố gắng đạt hết ý nghĩa của cảnh tượng ấy. Hãy vô tư, hãy thành thật, hãy bình tĩnh mà xem. Hãy nhìn nó cho lâu, đừng để cho những dục vọng (ước muốn), những cảm kích (vui, buồn, giận, thương, ghét), những quan niệm (phải trái, đúng sai, tốt xấu) mà cảnh tượng ấy có thể gợi lên trong tâm thức quí vị, làm xao xuyến, ham muốn, tức tối quí vị. Đừng kết luận, cũng đừng ước đoán. Cứ chỉ nhìn, nhìn một cách khách quan hồi lâu, thì chắc chắn rằng bộ mặt giả dối bên ngoài của điều xấu sẽ mất đi và quí vị sẽ không bị lầm lạc. Cái bề ngoài dễ thương của mọi điều ác quyến rũ một số không ít những người nhẹ dạ, không nghi ngờ gì cả, nhưng sẽ biến mất trước cái nhìn chăm chăm, không lay chuyển của người quan sát khách quan. Và người này sẽ thấy vạn vật đúng theo chân tướng của nó -- yatha – bhuta – nana – dassana – và một khi quí vị thấy vạn vật đúng theo chân tướng của nó thì quí vị không còn là nạn nhân của si mê sân hận nữa. Đó là sứ mệnh cao cả của Satipatthana (TỨ NIỆM XỨ). Tôi vừa nói về ý nghĩa đặc biệt của chữ Niệm. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua phương pháp đặc biệt để thực hành Niệm. Trước hết ta nên nói rằng phương pháp đặc biệt ấy nhắm vào sự thực hành đối tượng thứ nhất của Niệm, là Niệm-thân. Lối Niệm này đặc biệt nhắm vào cách Niệm về thân, là Niệm hơi thở “anapana-sati”. Thực hành loại Niệm này cần chọn một giờ nhất định và một cách ngồi riêng biệt. Các loại Niệm kia có thể thực hành bất kỳ chỗ nào, bất cứ giờ nào, tùy theo cơ hội thuận tiện. Vậy thực hành Niệm về hơi thở cần phải ở nơi nào? Trong kinh có chép “arannagato va rukkhamulagato va sunnagaragato va” – “trong một khu rừng, dưới một cội cây, hoặc trong một ngôi nhà trống”. Ba chốn được kể ra đây bao hàm ý nghĩa phải chọn một chỗ yên tĩnh, một nơi mà ta có thể lui về để tránh sự ồn ào, sự náo nhiệt, sự xôn xao của nếp sống bận rộn hàng ngày. Đây là một điều mà thế giới hiện đại rất cần có. Nhưng, rừng rú thì càng ngày càng bớt đi, ở thành thị thì rất hiếm có vườn tược với những cổ thụ có bóng mát. Ở thôn quê thì có vườn tược và cây cối, nhưng thôn quê cũng đang mau trở thành xầm uất và nơi đó hết phải là những nơi vắng vẻ, yên lặng và tĩnh mịch như hồi xưa. Những người sống ở thành phố rộn rịp hoặc ở thôn quê phát triển chỉ còn có giải pháp thứ ba là ngôi nhà trống (Sunnagara). Ngay đến ngôi nhà trống cũng không dễ gì tìm ra, vậy ta phải tìm một căn phòng trống. Trong đời sống hiện đại vấn đề chỗ ở khó khăn đến nỗi một căn phòng trống cũng không bao nhiêu người có đặng. Lối sống chen chúc và cách sống ở “building” hay “apartment” ngày nay làm cho ta càng khó có riêng một căn phòng trống. Điều cần thiết đó là chọn một góc yên tịnh trong căn phòng, hoặc hơn nữa quí vị nên Niệm hơi thở trên giường buổi tối hay sáng sớm khi đâu đó đều thật yên lặng. Khi chọn đươc một chỗ rồi, quí vị phải cố giữ chỗ ấy luôn luôn, đừng thay đổi, nếu không sẽ bất lợi nhiều. Thế rồi quí vị lại phải chọn một giờ nhất định và phải cương quyết giữ đúng giờ đó. Quí vị nên nhớ rằng thực hành số tức quan (anapana sati) tức là hành thiền, phải hành cho đều đặn, và một khi quí vị ý thức được tầm quan trọng của điều này thì quí vị không nên để bất cứ việc gì cản trở nó. Phải cứ chỗ mình đã chọn, mỗi ngày và mỗi ngày phải đúng giờ đã định. Đó là những yếu tố tâm lý quan trọng đem đến kết quả và thành công. Cơ thể con người đã được cấu tạo như thế nào để nó có thể đáp ứng dễ dàng với nhịp đều đặn trong sự hành thiền. Nếu quí vị tập cho quen việc hành thiền đúng nơi và đúng giờ, và nếu quí vị thành tâm hành thiền cho đều đặn thì chắc chắn mỗi khi đến giờ hành thiền, quí vị không còn muốn làm một việc nào khác cả. Nếu có một việc gì xảy đến làm trở ngại việc hành thiền của quí vị mà quí vị không sao tránh được, thì quí vị sẽ thấy thất vọng nhiều. Hơn nữa, khi đến giờ hành thiền, quí vị cảm thấy trong lòng thoải mái vì lúc bấy giờ tâm trạng của quí vị đã sẵn sàng chờ đón cuộc hành thiền. Quí vị sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tất cả những tư tưởng xấu đều dừng lại không vào được Tâm của quí vị trong giờ phút thiêng liêng này. Ngay khi quí vị đến chỗ hành thiền quen thuộc – chỗ ấy phải là thiêng liêng đối với quí vị -- quí vị cũng sẽ ngạc nhiên mà cảm thấy Tâm mình đáp ứng dễ dàng với kỷ luật mà quí vị đã áp dụng. Quí vị cũng sẽ ngạc nhiên mà nhận thấy tư tưởng xấu không vào được Tâm mình. Nếu có đi nữa, những tư tưởng ấy cũng sẽ mau chóng nhường chỗ dễ dàng cho những tư tưởng tốt. Vì thế nên quí vị cần dành riêng một thời giờ nhất định và chọn một nơi riêng biệt để hành thiền. Tôi cũng xin nhắc quí vị rằng mỗi ngày, trong lúc rảnh rang, quí vị nên nhớ lại số tức quan mà mình đã hành buổi tối hoặc hồi sáng sớm. Mỗi ngày trong lúc rỗi, quí vị phải biết đem Tâm mình trở về với sư yên lặng, phải biết giữ cho yên tĩnh trong cảnh náo nhiệt hằng ngày. Quí vị nên nhớ đến hơi thở, dầu trong vài phút cũng được. Trong trường hợp đó tất nhiên ta không nên câu nệ nào là giờ khắc nhất định, nào là chỗ ngồi riêng biệt, nào là cách ngồi đặc biệt. Có lẽ quí vị cũng muốn hỏi, “Trong thế giới bận rộn ngày nay làm thế nào mà tìm được thì giờ để hành thiền chút ít?” Tôi sẽ nói rằng, “Dầu thế nào đi nữa, quí vị cũng có thể có thì giờ”. Đành rằng thời đại này là một thời đại luôn luôn bận rộn tạo nên bởi sự quay cuồng khủng khiếp và sự căng thẳng triền miên của mọi vật. Chẳng hạn quí vị định đi đến một nơi nào đó mà không đi suốt được phải sang xe, sang tầu. Dầu chuyến xe, chuyến tầu dù có đến thật mau đi nữa, quí vị cũng phải chờ đôi chút trước khi bước sang xe sang tầu thứ nhì. Trong lúc chờ đợi, quí vị lấy làm nóng nảy. Tâm trạng của quí vị rất bồn chồn. Đó là dịp mà quí vị có thể niệm một chút về số tức quan (anapana sati). Hoặc giả quí vị đến nhà ga mua vé xe lửa. Trong lúc đó đã có rất đông người đang đứng nối đuôi nhau chờ. Quí vị bực bội không biết đến chừng nào mới đến phiên mình mua được vé. Đây cũng là một cơ hội nữa mà quí vị có thể thực hành anapana sati. Quí vị đáp máy bay trên một tuyến đường phải đổi chuyến bay. Khi xuống sân bay để đợi sang chiếc khác, quí vị đi bách bộ trên sân phi trường, quí vị cũng bồn chồn nóng nảy chờ được đổi chuyến. Đây cũng là một dịp nữa để quí vị thực hành anapana sati. Xe hơi của quí vị đang chạy rất nhanh, gần đến ngã tư thì đèn xanh lại cũng vừa tắt đi và đèn vàng thay thế. Quí vị sợ vượt đèn đỏ nên phải bực mình ngừng gấp lại. Rồi lại phải chờ đèn quẹo trái từ đỏ sang xanh. Tâm trạng quí vị rất khó chịu vì dường như quí vị phải chờ đợi không biết mấy kiếp cái đèn đỏ chạy thẳng mới chịu nhường chỗ cho đèn xanh trở lại. Trong khoảng thời gian “vô tận” đó, quí vị có thể thực hành chút ít về anapana sati. Được vậy sự căng thẳng trong người của quí vị sẽ biến đi, quí vị sẽ bình tĩnh hơn và sẵn sang đối phó với bất cứ vấn đề nào cần đến sự lưu ý của quí vị. Trong phòng đợi ở sân bay, nhà ga, trong phòng khách của bác sĩ hay của nha sĩ, trên xe lửa, trong lúc đi xe nhà hoặc đi xe buýt, quí vị lại không thể thực hành được một chút về anapan sati sao? Đấy, quí vị sẽ thấy rằng trong đời sống hàng ngày ở thế giới bận rộn ngày nay cũng còn có cơ hội cho quí vị trở về với sự yên lặng của Tâm và hành “Niệm” đôi chút. Giờ đây, sau khi xem xét về nơi và giờ hành thiền, chúng ta bàn đến cách ngồi cần thiết khi ta niệm hơi thở (anapan sati). Trong Kinh chép rằng, “Nisidati pallankam abhujitva ujum kayam panidhaya” – hành giả ngồi, hai chân tréo lại (kiết già), giữ thân mình cho ngay thẳng. Đó là một cách ngồi mà ta có thể không nhúc nhích trong một thời gian khá lâu. Có người cho rằng ngồi yên, không động đậy tay chân đến cả nửa giờ, dù có ngồi trên một chiếc ghế êm đi nữa, cũng rất là khó. Nhưng ta cần tập ngồi kiết già và ngồi không nhúc nhích. Điều đó rất cần thiết cho thời đại này vì thời đại này là một thời đại mà sự tác động của mọi vật đang lên một cách tột độ. Quí vị hãy nhìn chung quanh quí vị mà xem. Quí vị sẽ thấy toàn là sự náo động cả, và sự náo động đó sẽ đem ta đến náo động tinh thần. Tất cả những cảm giác về yên tĩnh đều mất hết, và khi sự yên tĩnh mất đi rồi thì Tâm ta mất hẳn quân bình của nó. Sự yên tĩnh là bước đầu trên con đường đi đến tinh thần thanh tịnh và tráng kiện. Rõ ràng hiện nay con người thiếu hẳn sự yên tĩnh. Một bữa nào đó quí vị thử làm một lần xem sao. Quí vị bỏ chỗ náo nhiệt, đi tìm một nơi nào yên tĩnh đoạn ngồi lại đó. Trong lúc tâm đang bị chao, ngồi yên như vậy quí vị sẽ cảm thấy nó được vô cùng thơ thới. Như thế không những làm cho thân quí vị được an mà Tâm quí vị cũng nhờ đó mà lắng xuống, yên tịnh, vững vàng. Tịnh được như vậy không khác nào Tâm ta được một liều thuốc bổ và chỉ trong một phút yên tịnh ngắn ngủi như vậy, quí vị cũng đủ cảm thấy phần nào như quí vị vừa thức giấc trong tâm trạng an lành và vững chắc. Đời sống hiện tại làm cho ta từng phút phải dao động luôn luôn, muôn ngìn hoạt động tấp nập xoay chuyển chúng ta, chúng ta sống trong tình trạng lo âu, bấn loạn, căng thẳng, đó là bao nhiêu lý do làm cho ta phải hao phí sức rất nhiều. Vậy thì, trong một dịp nào đó, quí vị thử ngồi yên, chỉ một phút thôi, quí vị sẽ thấy tâm lực của quí vị được bảo tồn nguyên vẹn. Cách ngồi kiết già như hoa sen (padmasana) thích hợp nhất, vì như thế quí vị mới ngồi được lâu mà không nhúc nhích hay mỏi mệt. Chính nhờ hai chân tréo lại và hai bàn tay chồng lên nhau mà khí lực của tâm còn nguyên vẹn và nhờ sự tham thiền, không bị hao giảm. Ngồi kiết già thì thân mình vững vàng, vì sức nặng của xác thân được phân ra đồng đều. Ngồi như thế, quí vị sẽ thấy dễ ngồi lâu không động đậy hơn là ngồi một cách nào khác. Nhờ cách ngồi thẳng lưng, quí vị hoàn toàn kiểm soát được hơi thở của mình. Quí vị có thể thong thả hơn. Vả lại, có một sự liên quan mật thiết giữa dây tủy xương sống và những cảm quan của ta. Khi quí vị ngồi như thế, quí vị dễ kềm hãm những cảm quan hơn. Nếu người nào cho cách ngồi kiết già là khó, thì có thể ngồi trên ghế có dựa ngay thẳng, đặng giữ thân mình cho được ngay thẳng, nhưng hai chân phải chấm đất. Giờ đây chúng tôi xin trình bày phương pháp thực hành “Niệm hơi thở” (anapana sati). Sau khi chọn một chỗ thích hợp, một giờ thích hợp, và đã ngồi được kiết già, quí vị bắt đầu chú tâm về hơi thở. Thở cho nhẹ nhàng, êm dịu và khi thở phải hoàn toàn nhận thức hơi thở và không nên rán sức. Đừng thở mạnh. Thở tự nhiên và êm dịu, luôn luôn chú tâm theo hơi thở cuả mình. “Digham va assasanto digham assasami ti pajanati; digham va passasanto digham passasami ti pajanati” – Khi thở vô dài, hành giả biết mình thở vô dài. Khi thở ra dài, hành giả biết mình thở ra dài. Cũng thế, khi mình thở vô vắn, biết mình thở vô vắn, và khi thở ra vắn, biết mình thở ra vắn. Hành giả chớ nên bao giờ đồng nhất mình với hơi thở. Phải nhìn hơi thở một cách khách quan, chứ đừng chủ quan. Không nên nghĩ rằng chính mình đang thở đây. Phải lắng xem chỉ hơi thở mà thôi, chứ không nên biết gì khác. Phải giữ cho kỳ được sự nhận thức rõ rệt về hơi thở. Điều cần thiết là Tâm phải an trụ và biết được rõ ràng khi nào thở vô, khi nào thở ra. Quí vị nên nhớ rằng đây không phải là sự luyện tập cách thở. Đây là sự luyện tập “niệm hơi thở”. Bền chí trong cách quan sát về hơi thở sẽ đem lại kết quả như sau: quí vị sẽ theo dõi được cho đến cùng hơi thở vô và hơi thở ra, và do đó quí vị sẽ cảm thấy càng ngày càng được bình tĩnh và yên trụ hơn. Sự thông khí trong phổi sẽ được dễ dàng hơn và sức khỏe sẽ được dồi dào hơn, nhưng đó là phụ thuộc. Thực hành Niệm về hơi thở (anapana sati) không gián đoạn đưa ta đến những tầng cao của Thiền-Chỉ-Quán (samatha bhavana): ấy là nhập định, thường được gọi là đắc thiền (Jhana). Nhưng, thay vì theo đuổi các Thiền, hành giả có thể chọn con đường của Thiền-Minh-Sát (Vipassana Bhavana) và đắc Minh-Sát-Tuệ (Vipassana). Con người sống trong thế kỷ hiện nay khó mà hiểu được tại sao việc quan sát hơi thở lại đem đến cho ta những kết quả cao quí như vậy. Trong quyển “Chủ yếu của Pháp Tham Thiền trong Phật giáo” Đại Đức Nyanaponika Thero cho rằng, “Cái thở của ta đứng giữa những tác động tự nhiên của cơ thể và những tác động do ý chí điều khiển. Vì thế nên hơi thở cho ta cơ hội thuận tiện để mở rộng quyền kiểm soát của ta trong cơ thể”; vậy chúng ta có thể đoán được biết bao nhiêu khả năng có thể khai thác một khi chúng ta thực hành Niệm về hơi thở đúng phương pháp. Ngài nó tiếp rằng bởi việc quan sát không gián đoạn về sự phồng lên và xọp xuống của cơ thể do hơi thở tạo ra, “Ta có thể chứng ngộ được sự dâng lên và hạ xuống của Biển Vô-thường”. Hành giả sẽ nhận thức rõ rệt sự phát sinh và tiêu diệt của chúng sanh và vạn vật. Đây không phải là là một sự hiểu biết về lý trí, mà là một kinh nghiệm về tâm thức, vừa uyên thâm vừa cao siêu, mà ta nhận thức được một khi ta chứng ngộ sự phát sinh và tiêu diệt của hơi thở. Thế rồi, về phương diện thân nghiệp, hành giả không còn hành động một cách dại dột nữa. hành giả không còn nô lệ với cái xác thân nữa. Vượt lên khỏi tầng vật chất, hành giả sẽ thấy trong thân thể con người không có gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm “Tôi” hoặc “của Tôi”. Và cũng không thể nói “Tôi thở”. Như vậy hành giả sẽ thấy rằng trong thân này không có một thực thể trường tồn nào đáng cho ta bám níu “Anissita ca viharati na ca kinci loke upadiyati”, “Hành giả không tùy thuộc cái gì cả, cũng không bám níu cái gì cả trên thế gian này”. Khi chứng được sự vô thường của xác thân, hành giả cũng chứng được tính vô thường của vạn vật. Chừng ấy hành giả mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Lúc bấy giờ hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn. Niết bàn nằm trên con đường ấy. Cũng có những cách niệm-thân khác. Đó là niệm về nhiều phần khác nhau trong cơ thể con người. Trong Kinh có kể đến 31 phần, thường ta được nghe những người giữ tám giới đọc khi họ xin giới, “Atthi imasmim kaye kesa loma nakha danta taco mansam haharu atthi…” “Trong thân thể này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương…” Kinh chép tiếp rằng, “Hỡi các Tỳ-khưu, giả như trong một cái giỏ có nhiều ngăn, trong ấy có đủ các loại hạt, như lúa đất gò, lúa mạch, đậu xanh, đậu chim, mè, gạo; và có một người với đôi mắt thật sáng, đến dở túi ra, rồi phân biệt như thế này: đây là lúa đất gò, đây là lúa mạch, đây là đậu xanh, v.v.; cũng như thế, một người Tỳ-khưu phải suy nghĩ về bản thân mình, có da bọc ngoài, trong đầy dơ bẩn, nghĩ từ gót chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống như vầy: trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, v.v.” Một cách niệm-thân khác nữa là lấy mỗi phần trong cơ thể ra mà xem xét, nhớ đến vị trí, màu sắc, hình dáng của nó và để ý rằng phần nào cũng thấy nhờm gớm và đáng ghét. Sự giải phẩu tỉ mỉ như vậy về thân xác sẽ giúp ta dứt bỏ cái ảo tưởng về “thân hình đẹp đẽ” và làm cho ta thấy rõ tính nhơ bẩn của nó. Trong lời chú giải có thêm rằng, “Dù tìm kiếm thế nào đi nữa trong cả thân hình chỉ cao hơn một thước này, bắt đầu từ gót chân trở lên, từ đầu trở xuống, và từ ngoài da trở vô, không ai thấy đặng một mảy may tinh khiết nào cả dù nhỏ cũng không, trái lại, người ta sẽ thấy toàn là đủ loại ô trược, rất hôi thối, rất độc hại, như râu tóc lông khi chưa cắt cạo, da dẻ thân thể khi chưa tắm gội, mồm miệng khi chưa đánh răng, hay đồ xú uế khi bài tiết ra hàng ngày… Tất cả đều ẩn dấu bên dưới cái thân xác đó, trong cái bụng đó, mà người ta hằng yêu quí nâng niu, và rồi dùng quần áo đẹp, đồ trang sức quí giá, hay dầu thơm mỹ phẩm để chải chuốt che đậy, lại tâng tiu phụng sự bảo bọc cho cái thân xác ghê tởm đó bằng ý tưởng tham sân si hay hành động hỉ nộ ai ái ố chỉ vì cái thân đáng bỏ đi đó. Hãy nhìn xem cái thân thể đó một khi không còn hơi thở nữa, thì hàng triệu giòi bọ bắt đầu đục khoét nó từ trong ra ngoài, bò ra từ mắt mũi miệng tai, khắp nơi trên da thịt đang trương xình thối tha…” Niệm-thân cách này rất cần thiết cho thế giới hiện đại vì ngày nay người ta đã quá chú trọng đến xác thân. Con người rất quyến luyến thân thể mình, xem nó như một sở hữu vô cùng quí giá. Vì thế, phải có một hương pháp giải phẫu cứng rắn như trên đây mới mong gợi lên trong con người lòng ghê tởm xác thân, ngõ hầu đi đến sự vô tâm đối với nó và cuối cùng chứng ngộ sự sinh diệt của vạn vật. Chừng ấy ta mới thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Hành giả lúc bấy giờ đạt đến một tầng cao hơn. Còn một cách niệm-thân nữa là niệm Tứ Đại. Niệm Tứ Đại cũng là một lối giải phẫu xác thân, nhưng khác với lối giải phẫu vừa nói ở trên. Ở đây xác thân được chia ra làm Tứ Đại, nghĩa là Đất, Nước, Gió, Lửa. Nhũng yếu tố này có trong thể xác con người cũng như trong bất cứ một vật chất vô tri nào, như cỏ cây đất đá chẳng hạn. Đôi khi những đặc tính căn bản ấy của vật chất cũng được gọi là tính Cứng Đặc, tính Kết Hợp, tính Nóng Nhiệt và tính Di Động. Cách giải phẫu này có kết quả là khiến ta nhận thức rằng xác thân này không khác gì một vật chất vô tri nào, nó cũng là vô ngã và vô thường vậy. Điều này thời đại của chúng ta thường hay quên, vì ta quá chú trọng đến thân thể, quá yêu quí cái ta. Cuối cùng lối giải phẫu như thế dẫn ta đến sự chứng ngộ sự sinh diệt của vạn vật. Khi thấy được chân tướng của sự vật, hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn. Chúng tôi đã cố gắng trình bày tường tận việc khảo sát của chúng tôi về loại Niệm đầu tiên là Niệm-thân (Kayanupassanna). Giờ đây chúng tôi xin bàn qua loại Niệm thứ nhì, là Niệm-thọ (Vedananupassana). Đây cũng thế, hành giả phải nhìn đối tượng một cách khách quan. Hành giả không nên đồng nhất mình với loại Thọ mà mình cảm nhận. Thọ thì có Lạc-thọ và Khổ-thọ, và đối với mỗi loại Thọ ấy ta chỉ nên cảm thấy nó mà thôi. Một người đau đớn về thể xác thường hay đồng nhất mình với cảm giác đau đớn ấy, đồng nhất chặt chẽ đến đỗi mình không thể xem nó một cách vô tư. Ta coi sự đau đớn là quan trọng nhất. Ta bị nó đè nén nặng nề. Đối với một Lạc-thọ cũng thế. Niệm-thọ giúp ta tách ra khỏi thân thể ta những khoái cảm tạm bợ, và xem những cảm giác đó với đôi mắt của người bàng quan. Trong lời chú giải về Pháp TỨ NIỆM XỨ có kể ra câu chuyện của một vị trưởng lão trong hàng Tỳ-khưu: Thân ông đau đớn dữ dội, nhưng ông cố tâm Niệm-thọ và trở thành khách quan đến đỗi khi người ta hỏi ông đau ở đâu, ông không thể chỉ đặng chỗ đau. Đối với hành giả nào tự luyện tập như thế, nghĩa là xem cảm giác một cách bình tĩnh, vô tư, không đồng nhất mình với nó thì sớm hay muộn, nó cũng phải mất tính cách tối quan trọng và tối cưỡng bách mà trước kia hằng trụ trong nó. Hành giả cũng sẽ xem Thọ như một phần trong những hiện tượng luôn luôn biến chuyển của sự sống. Hành giả biết rằng những Thọ ấy là vô thường. Nó cũng phát sinh và cũng hoại diệt. Cũng như đối với xác thân, đối với Thọ hành giả cũng chẳng thấy gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm “Tôi” hoặc “của Tôi”. Không thể nói “Tôi cảm thấy” mà phải nói “có một cảm giác”. Trong các loại Thọ nhứt thời ấy không có một loại nào mà trong đó ta có thể tìm thấy một thực thể trường tồn, có lợi cho ta quan tâm hoặc đáng cho ta bám níu. Khi thấu hiểu được tính chất của Thọ, sự sinh diệt của nó, hành giả không còn bị nó kích động nữa. Nhờ quan sát sự sinh diệt của Thọ, hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó. Khi đó hành giả đạt đến một tầng cao hơn. Loại Niệm thứ ba là Niệm-tâm (Cittanupassana). Cũng như hành giả phải khách quan mà xem những tác dụng của Thọ trong thân thể mình, thì đây hành giả cũng phải khách quan mà xem những tác dụng của tư tưởng trong Tâm mình. Ta rất có lợi mà nhìn Tâm một cách khách quan. Có phải là hằng ngày ta luôn luôn tiếp xúc với trăm ngàn “khách khứa” (tư tưởng xảy đến cho ta) không? Đúng vậy. Mỗi ngày trăm ngàn tư tưởng nhập vào tâm ta. Điều này thành một thông lệ, vì ta xem những tư tưởng đến viếng Tâm ta là một sự kiện dĩ nhiên. Mỗi tư tưởng phát sinh ra đều ảnh hưởng ta hoặc một cách tốt đẹp hoặc một cách xấu xa. Tuy nhiên, tư tưởng sau có thể sửa đổi ảnh hưởng của tư tưởng trước. Một tư tưởng Sân chẳng hạn, có tác dụng tai hại đối với Tâm ta, thậm chí đến Thân ta nữa; nhưng nếu tư tưởng liền kế đó lại là một tư tưởng có tính chất trái ngược hoặc một tư tưởng ăn năn chẳng hạn, như biết mình đã làm quấy, thì tác dụng tai hại của tư tưởng Sân có thể được sửa đổi. Nếu ta tập thành thói quen, nhìn một cách khách quan bất cứ một tư tưởng xấu nào nảy sanh ra, thì ta có thể chận đứng được dễ dàng sự tiến triển của tư tưởng xấu ấy. Thực hành Niệm-tâm có nghĩa là đào luyện thành thói quen lối nhìn một tư tưởng thật khách quan, chứ không chủ quan, và nhận thức rõ rệt sự hiện diện của nó. Không một tư tưởng nào vào được Tâm ta mà ta không hay biết rõ ràng. Chừng ấy ta mới khỏi bị tư tưởng sai khiến. Khi một tư tưởng Sân nổi lên, ta phải hoàn toàn hay biết và tự nhủ, “Hãy coi chừng, một tư tưởng Sân đã vào Tâm ta rồi!” Tự quan sát như thế đem lại kết quả tinh vi vì tư tưởng Sân mất tính cách cưỡng chế của nó. Nó đã kiệt lực và không thể phát triển ra ngoài bằng một hành động Sân. Phương pháp nhìn một cách khách quan bất cứ tư tưởng xấu nào làm cho hành giả tránh khỏi ảnh hưởng tai hại của nó. Mỗi khi một tư tưởng xấu vào Tâm hành giả thì “con chó” sati (niệm) đang canh phòng liền sủa “người khách” xấu xa ấy và báo cho hành giả biết để cảnh giác, chừng ấy hành giả có thể sai khiến một tư tưởng có tính cách trái ngược đến làm cho tư tưởng xấu kia trở nên vô năng, vô hiệu. Trong lời chú giải về pháp TỨ NIỆM XỨ có kể câu chuyện của Phussa Deva Maha Thera. Vị Đại Đức này thường hay dừng chân lại trong lúc đang đi, nếu có một tư tưởng xấu nào vào Tâm Ngài. Ngài nhất định đứng đó đến khi nào xua đuổi được tư tưởng xấu kia ra khỏi Tâm rồi Ngài mới chịu tiếp tục đi. Trong lúc Ngài đứng lại như vậy, ai cũng lấy làm lạ, không biết Ngài đã đi lạc đường hay là đã bỏ quên vật gì. Đến khi Ngài đắc quả A-la-hán, mà chỉ mới có hai mươi tuổi, ít người biết được nhờ đâu Ngài đạt đến quả ấy. Vậy khi một tư tưởng xấu vào Tâm quí vị, quí vị phải vô tư và thành thật mà nhìn ra nó. Chỉ chú tâm đến tư tưởng đó mà thôi, đừng nhớ đến những việc đã xảy ra, làm nguồn gốc phát sinh ra tư tưởng đó, cũng đừng nhớ đến loại hành động nào mà tư tưởng đó gợi ra trong tâm trí quí vị. Quí vị chớ nên nghĩ tới những vấn đề tùy thuộc như thế. Cứ nhìn thẳng vào tư tưởng ấy và chỉ nghĩ tới nó mà thôi. Chừng đó quí vị sẽ ngạc nhiên mà thấy tư tưởng xấu kia dần dần mất đi tính cách xúi giục của nó. Hãy kiên tâm mà nhìn nó. Cũng như nhà hiền triết mà Pythagore đã định nghĩa, quí vị chỉ nên nhìn mà thôi. Chỉ bao nhiêu đó thôi, và chắc chắn tư tưởng xấu kia sẽ không xúi giục quí vị hành động xấu được. Nó cũng có thể biến mất. Nhìn vào tâm mình không phải luôn luôn là chuyện dễ. Con người thường hay tránh nhìn thẳng thắn vào Tâm mình, bởi vì, nếu cố nhìn rõ Tâm mà hay biết được tư tưởng xấu xa thầm kín, điều ấy sẽ phá vỡ cái thành kiến tốt đẹp mà mình vốn sẵn có đối với chính mình! Thực hành Niệm-tâm không gián đoạn sẽ giúp hành giả thấu hiểu rằng những tư tưởng của mình không phải là của mình. Hành giả sẽ không đồng nhất mình với tư tưởng. Hành giả sẽ chứng được rằng, cũng như thân này, Tâm đây cũng chẳng phải là một thực thể, mà là một phối hợp tạm thời của những sự vậy nhất thời. Sự phối hợp tạm thời ấy cho ta cái ảo tưởng rằng có một thực thể trường tồn. Những thành phần phối hợp là vô thường và phải chịu sự biến chuyển như thế nào, thì vật được thành phần ấy phối hợp cũng vô thường và cũng phải chịu sự biến chuyển như thế ấy. Cũng như xác thân chỉ là sự phối hợp của lông tóc, xương thịt, máu mủ, toàn là những vật phải bị già nua hư hỏng đi mà hoại diệt, thì Tâm cũng chỉ là sự phối hợp, hoặc nói cho đúng hơn, là sự kế tiếp của những tư tưởng mà tất cả đều hiện ra chỉ để rồi biến mất. Tâm ví như giòng nước chảy “Nadi-soto viya”. Giòng tư tưởng tạo ra cái ảo tưởng rằng có thực thể Tâm. Ví như những giọt nước kế tiếp nhau rớt xuống thật nhanh cho ta có cảm tưởng rằng có một đường nước chảy. Những tư tưởng cũng thế, nó nối tiếp nhau nhanh chóng đến đổi ta lầm tưởng rằng có một thực thể gọi là Tâm. Chỉ nhờ thực hành “Cittanupassana” (Niệm-tâm), ta mới thấy được rằng bản chất của tư tưởng là vô ngã và tư tưởng đều là những hiện tượng rõ ràng nhứt thời. Nó đến rồi đi, nó hiện ra rồi biến mất, và cũng chỉ là sản phẩm trong cái thân hoại diệt mà thôi. Như thế hành giả đã chứng ngộ được sự sinh diệt của tư tưởng. Vậy, đối với tư tưởng, hành giả cũng không thấy có gì có thể làm nền tảng đúng lý cho quan niệm “Tôi” hoặc “của Tôi”. Không thể nói “Tôi tư tưởng” nhưng phải nói “có sự tư tưởng”. Trong những sự tiến triển nhất thời ấy không có một thực thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc nơi nào cả, không bám níu gì cả trên thế gian này. Hành giả thấy được sự sinh diệt của vạn vật. Hành giả đã đạt đến một tầng cao hơn, và Niết-Bàn nằm trên con đường ấy. Giờ đây chúng ta nói đến loại Niệm cuối cùng, khác hẳn với các loại Niệm đã kể trên, là Niệm-pháp (Dhammanupassana). Danh từ Pali “dhamma” (pháp) đây có một nghĩa rất đặc biệt. Nó có nghĩa là “thành phần của tư tưởng” hoặc đối tượng của Tâm”, và nó đặc biệt ám chỉ Năm Chướng Ngại của tâm hay “Panca Nivarana” (Tham dục, Thù hận, U mê, Hối tiếc, và Hoài nghi). Ngũ Uẩn (Panca Upadanakkhandha), Lục căn (Salayatana), Thất Giác Chi (Satta Bojjhanga), và Tứ Diệu Đế (Cattari Ariyasaccani) là những “dhamma” (pháp) khác được đề cập đến trong TỨ NIỆM XỨ Kinh. Nhờ luyện tập kinh nghiệm hằng ngày, hành giả phải biết quan sát những “dhamma” ấy (đối tượng đặc biệt của Tâm). Hành giả phải chú ý đến những pháp đó nếu nó đã phát sinh trong tâm mình, và nếu nó chưa phát sinh trong Tâm mình. Điều quan trọng không phải là sự hiểu biết những “dhamma” đó bằng lý thuyết. Ta phải “chứng” (biết) nó và thấu rõ nó khi nó phát sinh. Như về Năm Chướng Ngại chẳng hạn, ta không nên chỉ biết bằng lý thuyết rằng nó là những điều cản trở cho sự tiến bộ của ta trên con đường tu luyện, mà việc chánh yếu là ta phải coi chừng cẩn thận, hễ nó phát sinh trong Tâm ta là ta phải biết liền. Cũng như thế, mỗi khi một chân lý phát hiện trong Tâm hành giả, như Khổ-Đế chẳng hạn, hành giả phải hay biết nó ngay. Lối hành thiền này vừa là một liều thuốc giải độc cho những tư tưởng xâu, vừa là một sự chuẩn bi đón tiếp những chân lý trong Phật Pháp. Như vậy tất cả những kinh nghiệm hàng ngày của hành giả được đem ra đối chiếu và chứng y với những giáo điều trong Phật Pháp ở một điểm nào đó. Thấu đáo hay quán triệt như thế về đối tượng của Tâm khi nó phát sinh, hành giả một lần nữa thấy rằng không có một thưc thể trường tồn nào có lợi cho ta bám níu hoặc đáng cho ta bám níu. Hành giả không tùy thuộc gì cả, không bám níu gì cả. Lần nữa hành giả đạt đến một tầng cao hơn, và Niết-Bàn nằm trên con đường ấy. Chúng tôi đã nói tạm đầy đủ về phần lý thuyết cũng như về phần thực hành TỨ NIỆM XỨ. Giờ đây chúng ta hãy bàn qua việc áp dụng của Pháp nầy vào đời sống hiện đại. Trước hết ta hãy xem coi ở thế giới hiện nay những điều kiện về đời sống của con người đã tiến triển tới đâu. Hồi thế kỷ 17 và 18, chúng ta thấy xã hội đã mãn nguyện nhờ một đức tin ngây thơ về tiện nghi vật chất và ở những niềm hy vọng mà tôn giáo đã đem lại. Đến thế kỷ sau, tôn giáo lại bị khoa học lật đổ. Khoa học từ đó ngự trị tuyệt đối và xã hội lúc bấy giờ chuyên lo chế tạo đủ loại khí cụ hữu ích và đủ thứ máy móc vạn năng để cung phụng cho con người. Rồi về sau chúng ta thấy xuất hiện lòng Tham thống trị hoàn cầu toan cướp đoạt lần hồi địa vị của khoa học. Sự kiện này đưa đến việc kết hợp giữa lòng tham và khoa học, rồi từ đấy khao học bi lợi dụng một cách đê hèn, để rồi chế tạo ra những khí cụ tối tân, những máy móc tinh xảo, không phải để phụng sự cho lợi ích nhân loại, mà là để cho con người giết hại lẫn nhau. Thế chiến thứ nhất kế đến thế chiến thứ hai đem lại những biến đổi ghê tởm trên thế gian, biến đổi cả cơ cấu xã hội, kinh tế và chánh trị. Con người bắt đầu hết tin tưởng nơi những tư tưởng xưa kia. Con người bắt đầu coi rẻ tôn giáo, coi thường những tưởng thưởng về tương lai và tinh thần, vì con người hết quan tâm đến điều thiện và chỉ khao khát được hưởng thụ cho đầy đủ trong hiện tại mà thôi. Tập hợp lại thành một quốc gia, con người khao khát quyền thế, mong mỏi thống trị cả hoàn cầu. Vì thế nên những giá trị tinh thần bi suy giảm và hai thế chiến vừa qua đã chứng tỏ điều ấy. Cái gọi là văn minh ngày nay chỉ là một lớp sơn mỏng về lễ phép xã giao bề ngoài. Hai thế chiến đã làm nứt rạn lớp sơn ấy và phô bày ra ánh sáng cái thú tánh trong con người hiện đại. Sự tàn sát hàng chục triệu người, những khổ cảnh dã man trong các trại tập trung, những tai họa khủng khiếp không thể diễn tả nổi ở Hiroshima và Nagasaki chứng tỏ một điều đáng lo là thế giới hiện nay đang đi lần vào sự sụp đổ nguy hiểm. Nếu ta không lên tiếng để chận đứng lại thì ta sẽ bi tiêu diệt bởi chính những độc ác của ta. Hình như nhà khoa học ở thời đại này tưởng rằng mình đã giúp ích cho nhân loại. Nhưng, xin hỏi quí vị căn cứ vào đâu mà cho rằng họ đã phụng sự nhân loại. Thời đại khoa học hiện nay thật có làm giảm bớt những đau khổ của con người. Đúng vậy, người ta đã chữa được nhiều chứng bịnh, đã phát minh ra nhiều thứ thuốc mới và giúp con người sống lâu hơn. Khoa học cũng đã giúp xây cất những đô thị lớn, nhà máy tối tân, xa lộ khổng lồ. Người ta đã chế ra xe điện tốc hành, tàu ngầm, phi thuyền để du hành trên mặt đất, dưới biển, và trên không gian. Khoa học đã chế ngự không gian, thời gian, và tiết kiệm nhân lực. Nhưng, xin hỏi quí vị, khoa học hiện tại có phát minh được một khí cụ nào hầu giúp con người trở nên cao thượng chăng? Khoa học hiện tại có phát minh ra một khí cụ nào để giúp con người diệt Tham Sân Si chưa? Khoa học đã thăm dò vũ trụ và đã cướp lấy những bí ẩn của thiên nhiên, nhưng việc làm đó không dẫn đến sự giải thoát con người. Có một thế giới khác, một thế giới có lợi ích cho ta thám hiểm hơn, đó là Tâm-giới. Quí vị hãy tham cứu thế giới này bằng sự tham thiền đi, rồi quí vị sẽ đạt được trực giác và do đó quí vị sẽ giải quyết được vấn đề nhân sinh. Chừng ấy quí vị sẽ đạt được Panna hay Huệ và nhờ đó quí vị sẽ thấy được chân tướng của vạn vật. Mỗi bước nhỏ mà quí vị tiến về hướng ấy đều là những bước đến gần sự giải thoát, những bước đến Niết-Bàn vậy. Trào lưu rộng lớn, trào lưu nguy hiểm hiện tại lôi ta xa cách chân lý. Vì vậy nên một trào lưu trái ngược lại, cũng không kém phần rộng lớn, rất cần thiết cho nhân loại. Thế nên thực hành Satipatthana (TỨ NIỆM XỨ) rất quan trọng và thích ứng cho mục đích này. Satipatthana giúp con người hiện đại chèo ngược trào lưu nguy hiểm hiện đại này để hướng về nơi giải thoát bằng cách luyện cho mình đủ trí huệ để nhận thức đâu là những khuynh hướng xấu xa để tránh. Mỗi khi khuynh hướng của thời đại này lôi kéo quí vị tách xa con đường chánh đáng mà quí vị gần như không hay biết, thì quí vị nên tin cậy nơi “con chó” Sati trung thành của quí vị, để nó kéo quí vị trở lại. Sức mạnh của Satipatthana là như thế. Thời đại hiện tại chính là thời đại của sự bận rộn và của tốc lực. Con người thực ra không còn thì giờ để suy nghĩ cho chính xác. Nếu có chăng đi nữa, thì cũng chỉ để mà suy nghĩ tính toán việc kiếm ăn hay làm sao để sống còn với cái cuộc sống đầy bận rộn vất vả này từ ngày này qua tháng nọ. Nếu ta không tập suy nghĩ cho chính xác, sâu xa, thì ta dễ bị mất năng lực ấy của Tâm (stress và hậu quả trên tinh thần và thể xác của nó). Như cánh tay của quí vi chẳng hạn, nếu trong một thời gian sáu tháng mà quí vị không dùng đến nó, thì nó phải bị gầy yếu đi. Cũng thế, nếu quí vị không tập suy nghĩ cho sâu xa thì khả năng ấy của Tâm sẽ bị suy nhược và điều nguy hiểm là quí vị sẽ mù quáng tin theo những điều của bất cứ một ai nêu ra, do đó họ có thể chế ngự được quí vị. Hiện nay sự kiện ấy đang diễn ra trước mắt ta. Trong giới doanh nghiệp, trong giới chánh trị, trong giới tôn giáo, trong tất cả sinh hoạt hàng ngày, có một thiểu số người đang bằng mọi cách thao túng một số đông quần chúng. Và đa số quần chúng chỉ biết noi theo nghe theo tư tưởng, khuyến dụ của thiểu số kia, từ những quảng cáo hàng hóa rầm rộ sai lạc của giới kinh doanh sản xuất, đến những lời hứa hẹn xuông đầy đao to búa lớn của các chính trị gia, hay những lời khuyến dụ u mê huyền hoặc của những kẻ buôn thần bán thánh. Hiện nay, quí hãy thử xem coi bao nhiêu tư tưởng đó đã ảnh hưởng đến quí vị. Phải chăng đôi khi quí vị không còn có sự tự do lựa chọn những vật cần dùng, những thứ mình muốn, những điều mình tin cho mình và quí vị đã phải quyết định một cách vô ý thức? Ngày nay lối quảng cáo hàng hóa khắp nơi làm cho quí vị, dù muốn dù không, cũng phải chọn những gì mà người ta đã lựa sẵn cho quí vị. Nhiều khi quần áo, giày dép, nữ trang, xe cộ, máy móc trong nhà của quí vị cũng bị người ta lựa chọn thế cho quí vị (qua lối quảng cáo khôn khéo nhưng sai lệch) mà quí vị không dè. Phim, sách, đĩa nhạc quí vị mua về cũng thế, và những dược phẩm, rượu bia, đồ ăn, thức uống quí vị tiêu thụ cũng thế. Đó là kết quả xảo diệu của quảng cáo, vì những người quảng cáo rất thông tâm lý và chịu tốn rất nhiều tiền cho quảng cáo chỉ để dụ quí vị mà thôi. Báo chí, TV, radio được trả tiền để quảng cáo và có trách nhiệm phần nào trong việc tạo ra những tư tưởng, mẫu mực để ảnh hưởng tư tưởng của quí vị. Phần đông con người lại lấy làm thỏa mãn mà nhận lãnh những ý kiến ấy không cần phán đoán. Hiện nay có rất ít người biết tự mình tư tưởng, không để ai ảnh hưởng. Sự kiện này có nghĩa là phần đông con người chưa định được Tâm, nên Tâm còn yếu kém. Kết quả tai hại là hiện nay con người bị thiệt thòi trên đường tiến triển của Tâm, vì ta không thể nào tiến được về mặt tinh thần nếu ta không định Tâm và không tham thiền. Nếu không tham thiền, dù quí vị có sống một cuộc đời lương thiện đạo đức đến mức nào đi nữa, cũng không có gì bảo đảm rằng quí vị luôn trung dung chánh trực được. Quí vị có thể bị sa ngã bất cứ lúc nào không hay. Phương pháp dễ nhất để luyện Tâm thành một sức mạnh là thực hành số tức-quan (anapana sati) mỗi ngày một chút ít. Không có cách tham thiền nào dễ cho con người hiện đại thực hành hơn số tức-quan. Chỉ có số tức-quan mới bảo đảm ta tránh khỏi ảnh hưởng bên ngoài. Một tệ nạn khác của đời sống hiện đại là việc quá chú trọng về vấn đề tính dục. Hầu như mọi việc đều được sắp đặt và lèo lái như thế nào để nhục dục con người phải bị kích thích. Hãy nhìn xem chung quanh quí vị coi điều đó có đúng chăng? Quí vị hãy nhìn xem biết bao nhiêu là phim ảnh, quảng cáo, tiểu thuyết, ca nhạc, sách báo khiêu dâm được trình chiếu, chưng bày khắp nơi, trong rạp hát, trên TV, và trên internet; rồi quí vị sẽ ngậm ngùi mà nhận thấy rằng con người đang bắt đầu trụy lạc và rơi xuống hố sâu của tệ nạn. Xin hỏi quí vị, vậy chứ những rạp chiếu bóng, những vũ trường hộp đêm, những cuộc thi hoa hậu, những quán cà phê phòng trà với những nữ tiếp viên quần áo hở hang cũn cỡn, có ích lợi gì cho con người hiện đại, nếu không phải với mục đích là để kích thích nhục dục con người? Nếu thỉnh thoảng không ai nhắc lại cho con người hiện đại rõ cái chân tướng của xác thân tạm bợ thì Tâm của họ sẽ bị che án bởi sự quá chú trọng về vấn đề nhục dục và thể xác. Họ sẽ mất hẳn tất cả quan niệm về sự tương xứng quân bình và họ sẽ lấy giả làm chân. Kết quả cuộc sống sẽ là sự hỗn độn, bất hòa, trụy lạc. Một đặc điểm xấu nữa của thế hệ ngày nay là lòng khao khát cái gì mới lạ. Lòng khao khát này đã thành một tật bệnh. Bởi không thực hành Sati (Niệm), con người không thể thấy được chân tướng của vạn vật và không thể phân biệt đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc. Vì thế nên con người luôn luôn sống với một tâm trạng buồn chán, rồi trông mong, chờ đợi một cái gì đó không rõ, và lúc nào cũng bất mãn với cái hiện có. Một đời sống bình thản có vẻ quá ư buồn chán đối với họ. Họ khao khát những gì làm kích thích họ. Họ thích sống bằng cảm kích. Họ luôn luôn mong mỏi cái gì mới, cái gì lạ xảy ra. Họ không thể tự mãn với cái hiện có, những lề lối, những hoàn cảnh, những tình thế hiện hữu. Họ luôn luôn trông đợi một lề lối mới, máy móc mới, xe cộ mới, dược phẩm mới, một đời sống mới, một lý tưởng mới, ngay cả một người phối ngẫu mới. Họ mau chán những gì đã có. Họ thất vọng nếu đời họ không có nhiều cảm kích, rồi đâm ra nhậu nhẹt, đánh bạc, trai gái, hút xách, ngay cả đi giết người một cách vô cớ! Thái độ đó là triệu chứng của bệnh tinh thần bất ổn. Người làm quảng cáo và các nhà doanh nghiệp sẵn sàng lợi dụng nhược điểm này của con người hiện đại. Khi một mặt hàng nào đó chưa hết thông dụng thì một kiểu khác liền được đem ra thị trường thay thế. Quí vị hãy xem cách thay đổi mau chóng của thời trang trong y phục, trong máy móc như TV, computer, máy ảnh, máy quay phim, Ipod, các kiểu xe đời mới mắc tiền. Những thay đổi liền liền như vậy nhắm mục đích chiều cái tính nguy hiểm trong con người hiện đại là tính luôn luôn đòi hỏi cái mới cái lạ. Phương thuốc duy nhất trị tật bệnh đó là học một “nghệ thuật” để nhìn thấy chân tướng của vạn vật. Một khi người mua đã học được cái “nghệ thuật” nhìn sự vật một cách khách quan thì quảng cáo dù có hay cách mấy cũng không còn dễ gì ảnh hưởng được họ. Sự quan sát khách quan cũng sẽ giúp họ khám phá ra biết bao nhiêu rượu cũ trong những chai mới. Họ không còn ảo tưởng cho rằng vật gì mới lạ là quí. Vì hoàn toàn hiểu biết cái mục đích chánh đáng của đời họ và phân biệt được rõ ràng đâu là chánh yếu, đâu là phụ thuộc. Nhờ Sati (Niệm) nên họ hết còn là nạn nhân của tính ham mê cảm kích quá đáng. Tôi đã trình bày cùng quí vị việc áp dụng Pháp TỨ NIỆM XỨ vào đời sống hiện đại. Còn một phương diện nữa của vấn đề cần cho ta chú ý đến. Có lẽ quí vị cho rằng TỨ NIỆM XỨ là một phương pháp quá phiền toái và mệt nhọc, không thể nào thực hành cho có kết quả trong một kiếp người. Đức Phật có nói như thế chăng? Có khi nào Đức Phật nói Niết-Bàn không thể đạt được ngay ở kiếp này chăng? Trong một bài pháp hùng hồn về TỨ NIỆM XỨ, Đức Phật quả quyết rằng nếu ai thực hành TỨ NIỆM XỨ trong bảy năm thì người ấy thâu thập được một trong hai kết quả sau đây là hoặc chứng ngộ đạo quả A-la-hán ngay ở kiếp này (Bồ tát nhưng vẫn mang xác phàm của kiếp người cuối cùng cho đến ngày nhâp diệt), hoặc ít ra cũng chứng được đạo quả A-na-hàm (Bất lai vì sẽ thành thần tiên ở kiếp tới). Trong câu kế đó Đức Phật nói tiếp, “Hỡi các Tỳ-khưu, đừng nói chi đến bảy năm, sáu năm cũng đủ vậy”. Trong câu kế đó Ngài nói rằng năm năm cũng đủ. Rồi kế đến Ngài sụt xuống còn bốn năm, ba năm, hai năm, và một năm. Sau nữa chỉ còn bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng, và cuối cùng là bảy ngày. Chắc quí vị hãy còn nhớ câu chuyện ông Bahiya chỉ nghe Đức Phật chỉ dạy “kỹ thuật” để trở thành A-la-hán có nửa buổi mà đã chứng ngộ được đạo quả trước khi nhập diệt ngay ngày hôm ấy. Đành rằng Bahiya là người đạo hạnh, nhưng cái đó chưa đủ để giúp ông ta trở thành A-la-hán. Chính sự quyết tâm và luyện tập đúng cách đã giúp Bahiya thành đạo. Câu chuyện này cho ta thấy rằng việc chứng ngộ Niêt-Bàn không phải là một vấn đề thời gian, nhưng lại là vấn đề tinh tấn của hành giả hơn. Vậy quí vị thử nghĩ xem, bảy ngày hay một năm đi nữa mà chứng được Niết-Bàn có phải là một thành tựu mau lẹ không? Hiện nay con người vốn không nhẫn nại, luôn luôn mong mỏi những kết quả mau lẹ, nhưng lại hay nghi ngờ về khả năng của mình. Đây là một cơ hội lớn với kết quả mau chóng, nhưng quí vị tự phải tự luyện tập lấy cho mình, Đức Phật có thể chỉ dạy “kỹ thuật” nhưng chính quí vị phải tự chứng đạo quả bởi chính mình mà thôi. Tại sao con người hiện đại không nhận lấy tặng vật này đi? Có lẽ vì cho rằng kết quả hứa hẹn quá tốt đẹp nên khó mà có thật được. Nhưng ở đây ý kiến này nọ không thành vấn đề; thực hành mới chính là vấn đề. Muốn biết một cái bánh có ngon hay không, phải ăn nó, chứ không phải đi phân tách nó và học hỏi những thành phần trong bánh đó. Quí vị cũng đừng quên rằng có hằng hà sa số Phật và Bồ-Tát trong kinh Phật, phải chăng tất cả đều phải trải qua con đường mà quí vị đang lưỡng lự hiện nay. Vậy thì cuối cùng tôi xin nhắc với quí vị điều này: Xin hãy ngưng tranh luận suông về TỨ NIỆM XỨ. Xin quí vị hãy yên lặng mà thực hành đi, rồi chính quí vị sẽ thấy kết quả. Đức Phật đã nói, “Ehi passiko” “Hãy đến và tự mình chứng lấy, đó là con đường duy nhất!”
Pháp tu Tịnh độ trong Mật Tông. Lama Drikung Konchog Tinley - La Duy Khánh NAMO AMITABHA 2 bài nhạc thần chú phật A DI Đà: • 01-Adida.mp3 • 02-Adida2.mp3 Trong mật tông thì hầu như vị phật nào cũng có 1 cõi tịnh độ . Nhưng trong số đó thì cõi tịnh độ của đức Phật A Di Đà ( Amitabha Vô Lượng Quang , Vô lượng thọ ) là có duyên nhất với cõi Ta bà này , được đức Thích Ca Mâu Ni giới thiệu nhiều nhất . Dhyani Buddha Amitabha Tạng Ngữ .: ´Od.dpag.med Với lời thệ nguyện vãng sanh của mình , bạn có thể tái sanh vào cõi của Phật A Di Đà một cách dễ dàng. Lòng sùng mộ và công năng tu trì hàng ngày là điều tiên quyết , tư lương cho ta tái sanh vào cảnh giới của Đức Phật A Di Đà. Trong Phật giáo việt nam , tịnh độ tông rất phát triển vì căn cơ ứng hợp với mọi chúng sanh . Chỉ cần Tín Hạnh Nguyện là bạn có thể lên tới cõi Tịnh Độ của đức phật a di đà. Trong mật tông tây tạng cũng vậy . Tin chắc chắn đưc Phật a di đà có thật . Hàng ngày đọc tụng bài nguyện vãng snah và quán tưởng ngài hiện ra trước mắt rõ ràng không sai khác . Trong cõi luân hồi snah tử này , việc tái sanh ở một cõi như cõi của đức A Di Đà luôn luôn là khôn ngoan. Khi tôi tu tập tại tu viện Drikung thì vị thầy tôn kính của tôi người mà ai cũng coi là hóa thân của bồ tát Văn thù Sonam Rinpoche trao nhiều quán đảnh , nhưng nhiều nhất vẫn là quán đảnh A Di Đà cho mọi người . Quý vị biết tại sao không ? Tại vì ai ai ai cũng chết .Hãy biết rằng từng giây từng phút một chúng ta đang chết . Và vì thế , việc lựa chọn chắc chắn một nơi tái sanh là một điều hết sức khôn ngoan. Cõi cực lạc thì chỉ có thể đến được bằng công năng tu tập của mình . Bạn không thể hi vọng được khi đi tầu vũ trụ đến được cõi cực lạc . Chúng ta có thể dễ dàng đi tới các vì sao , mặt trăng vân vân ... Nhưng đạt tới cõi Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà thì không thể . Cõi đó siêu vượt thời gian không gian và mọi thứ . Trong kinh điển có nói rằng cõi tịnh độ của Phật a di đà thì luôn có ánh sáng , có nghĩa là luôn là ban ngày . Cõi cực lạc theo kinh A di đà ( Amitabha sutra ) chép thì làm bằng bảy báu , đất bằng vàng ròng bạc quý , nhà cửa lầu các đều bằng thất bảo , thậm chí những căn nhà bạn ở toàn bằng ngọc thạch , pha lê , ngọc bích , ngọc đỏ , mã não . Ở nơi đó thì không một cái gì thiếu vì ta được biết rằng mọi thứ ta mong cầu đều được đáp ứng như ý nguyện. Bạn nên tự hỏi tại sao bạn không tìm về cõi đó sau khi chết chứ ? Nhiều người nói với tôi rằng hàng ngày cầu xin về cõi Cực Lạc thì chẳng phải cầu chết hay sao ? Nhưng bạn nghĩ mà xem , đó quả là một cơ hội hiếm có để tu tập thành Phật . Thêm nữa đâu phải cầu chết là chết được , hết thọ mạng của ta thì tự nhiên sẽ chết thôi . Đâu cần phải cầu ! Cách thức để nhìn thấy Cõi tịnh độ ngay trong đời này là gì ? Hãy tịnh hóa tâm thức , tịnh hóa tam nghiệp Thân Khẩu Ý . Và cách thây cõi tịnh độ là băng tâm , một tâm thức thanh tịnh chứ không phải con mắt bình phàm .Hãy thấy bằng tâm thức của bạn , quán rằng : Thân Ngài có sắc đỏ và trông giống Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài có đủ 80 tướng chính và 32 tướng phụ của một hiển lộ Hóa Thân toàn giác. Chẳng hạn như Ngài có nhục kế mà bạn nhìn thấy ở những pho tượng và thangka của Đức Phật. Trong bàn tay Ngài có những luân xa và v.v.. như bạn có thể nhìn thấy có nhiều tướng khác nhau. Hai bàn tay ở trong tư thế quân bình thiền định, Ấn Thiền Định, và trong bàn tay là một bình bát. Từ tim của ngài phóng chiếu ra hào quang khắp pháp giới chúng sanh . Và giúp cho tất cả chúng sanh thành tựu quả vị Phật A Di Đà .Trong khi trụ trong quán tưởng này , hay đọc , trì tụng thật nhiều thần chú phật A Di Đà . Om Amideoa Hri Nguyên nhân của cõi linh thánh toàn hảo này là gì? Rất nhiều kiếp về trước, trước khi là một vị Phật, Đức Phật A Di Đà là một tu sĩ có tên là Dharmakara (Pháp Tạng), có nghĩa đen là ‘căn nguyên của Pháp.’ Khi Ngài tu hành như một Bồ Tát, Ngài đã lập một loạt những lời cầu nguyện, hay những nguyện ước mãnh liệt, về cách thế của những sự vật khi Ngài hoàn toàn Giác ngộ. Ngài nói: “Có rất nhiều cõi Tịnh Độ và những người tới được cõi đó là những chúng sinh đã từ bỏ ác hạnh, những người đã tích tập vô số công đức, và đã chuyên cần thực hành Pháp. Họ có thể đi tới những cõi Tịnh Độ đó, nhưng điều đó rất khó khăn. Còn tất cả những người không từ bỏ ác hạnh, không tích tập rất nhiều công đức, và không thể thực hành một cách nghiêm nhặt thì sao? Tôi sẽ thiết lập một coxi Tịnh Độ để những người đó có thể dễ dàng đi tới. Nguyện tôi giải thoát tất cả chúng sinh không có những phẩm tính siêu nhiên đó của những hành giả đi tới những cõi Tịnh Độ của tất cả những vị Phật khác Trong Cõi Cực Lạc không có bệnh taật, không có sự nghèo khó, sự già nua và sự chết. Không có sự phân biệt giữa người này và người khác. Tất cả đều tuyệt đẹp. Tất cả đều đầy ắp những phẩm tính tốt lành. Không có những thiếu sót, những lỗi lầm, những ô nhiễm, không có các loại đau khổ, thậm chí từ ‘đau khổ’ cũng không được nghe thấy ở cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Nói chung , trong tất cả các tông phái Phật giáo đại thừa , ngay đến cả KIm Cang thừa . Việc cầu nguyện để tái sanh vào cõi tịnh độ Cực lạc rất phổ biến .Thực hành Đức Phật A Di Đà và Cõi Tịnh Độ thích hợp với những người bình thường và ai cũng có thể thực hành. Bạn không phải là một đại nhân cao quý đã từ bỏ mọi ác hạnh. Bạn không phải là một hành giả tuyệt vời. Tùy thuộc vào năng lực những lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, bạn có thể dấn mình vào thực hành này. Và điều cuối cùng khi ta thành Phật ở cõi cực lạc , nhờ những giáo huấn siêu việt của đức Phật a di đà . Ta sẽ lại về đây và giáo hóa chúng sanh . Tôi thường khuyên các đệ tử của mình hàng ngày nên đọc tụng bài nguyện vãng sanh ít nhất một lần , tụng đến đâu quán tưởng đến đó với lòng cầu mong lớn lao, cùng 1 tràng A Di Đà Tâm chú , 10 tràng Lục tự đại minh chú . Nếu làm được như vậy thì việc làm lợi ích cho chúng sanh ngay hôm nay và hiện tại sẽ được như ý muốn . Lợi ích của pháp hành trì này hiện tại là gì ? - Nguyện tái sanh sẽ đưa bạn về cực lạc - A di đà Phật tâm chú sẽ đưa bạn về cực lạc và giúp ích cho bất cứ ai qua đời khi có bạn ở đó . Chỉ cần bạn tu trì miên mật , bạn có thể dễ dàng giúp ai đó siêu sanh tịnh độ bằng cách đọc 1 tràng thần chú này khi họ chết . - Lục tự minh chú Om Mani Padme Hum 10 tràng sẽ biến thân thể bạn thành 1 bảo tháp ban phước cho bất kì ai tưởng nhớ , xúc chạm , đi gần bạn , hay thậm chí cả trong bóng của bạn . Chúng sanh đó sẽ chết với một tái sanh tốt lành . Mọi việc mong cầu của bạn sẽ được như ý nguyện , lòng đại bi sẽ phát triển tột cùng . Và hơn thế , cuộc đời của bạn sẽ chẳng phải lo lắng gì cả nhất là cái chết . Hành trì như thế nào ? Nên chọn 1 khoản thời gian nhất định hàng ngày và nơi chốn cho phù hợp . Nên bày 7 ban nước sạch trứơc ban thờ , hãy thay nước hàng ngày . Đặt hình đức phật bổn tôn của bạn trên đó . Theo tôi thì ban thờ không nên quá cao . Chỉ cần ngang tầm mắt khi vạn thiền quán thôi .Đốt một nén hương lên , Bày những pháp khí và đặc biệt là hình ảnh vị bổn sư của bạn lên . Trước khi thiền quán hãy lễ lạy 3 lạy . Ban thờ nên được lau dọn thường xuyên , nếu có khăn Katag cúng dường biện lên càng tổt... This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 680x581 and weights 127KB. Một góc thờ cúng của tôi . Hãy ngồi tu tập theo tư thế 7 ĐIỂM TÌ LÔ GIÁ NA : Bảy lợi điểm của tư thế ngồi thiền thích hợp là: i . ngồi thoải mái trên gối trong tư thế kiết già hay bán kiết già ; ii. mắt hé mở, nhìn theo hướng sống mũi ; iii. ngồi thẳng, lưng như những đồng tiền chồng lên nhau ; iv. giữ vai cho thẳng ; v. đầu không cao quá, không thấp quá, không đưa tới đưa lui, thẳng một đường từ mũi cho đến lỗ rún ; vi. răng và miệng trong trạng thái tự nhiên, chót lưỡi chạm chân răng của hàm trên ; vii. hơi thở im lắng và nhẹ nhàng. Hãy tụng bản văn phát bồ đề tâm Từ nay cho đến khi giác ngộ , con xin nương tựa nơi phật pháp tăng tộ cùng cao quý , nhờ các hạnh toàn thiện cùng hạnh bố thí. Xin cho con thành tựu quả vị phật vì lợi ích cho tất cả chúng sanh . (x3) , 4 vô lượng tâm Nguyện cho hết thảy chúng sanh như những bà mẹ hiền vô biên như trời cao có được an lạc , biết đựơc cội rễ của an lạc , thoát khỏi đau khổ và biết cội rễ của đau khổ . Luôn được an vui thoát khỏi khổ não và sống trong tâm bình đẳng không tham ái và đố kỵ không đắm say vào bạn chẳng căm hận kẻ thù . (x3) , sau đó là bổn sư du dà đơn giản . Quán rằng vị bổn sư là phật thích ca ngồi trên đảnh . Nơi ngài có 3 chữ Om AH HUm phóng hào quang vào 3 điểm Om ( trán ) Ah ( Cổ ) Hum ( tim ) hòa nhập vào ta . Ta và thầy là một . Hãy tụng sau đó 10 chuỗi thần chú Om Mani Padme HUm với quán tưởng đức Quán Thế Âm vua của lòng từ bi ở trước mặt . Nơi tâm điểm ngài phóng ánh sáng trắng cứu độ tịnh hóa tất cả chúng sanh trong 6 nẻo luân hồi : Trời , a tu la , người , ngạ quỷ , địa ngục , súc sanh .Theo Phật giáo Tây Tạng thì mỗi cảnh giới này chịu sự khống chế mạnh nhất của một tâm niệm xấu cụ thể. Đó là: cảnh giới địa ngục (tâm sân hận), cảnh giới súc sinh (tâm ngu si), cảnh giới ngạ quỷ (tâm keo lận), cảnh giới loài người (tâm tham dục), cảnh giới A-tu-la (tâm ghen tị), và cảnh giới chư thiên (tâm kiêu mạn). Sau đó hình ảnh này tan biến đi . Từ tánh không rỗng lặng xuất hiện chủng tự HRI Chủng tự này phóng ra ánh sanh đỏ , cúng dường chư phật và tịnh hóa nghiệp chướng cho hét thảy chúng sanh . Sau đó anh sang biến tất cả thế giới này thành cõi cực lạc . This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 895x600 and weights 432KB. Từ đức phật A Di Đà ở giữa thân Ngài có sắc đỏ, Ngài có đủ 80 tướng chính và 32 tướng phụ của một hiển lộ Hóa Thân toàn giác như Ngài có nhục kế mà bạn nhìn thấy ở những pho tượng và thangka của Đức Phật. Trong bàn tay Ngài có những luân xa và v.v.. như bạn có thể nhìn thấy có nhiều tướng khác nhau. Hai bàn tay ở trong tư thế quân bình thiền định, Ấn Thiền Định, và trong bàn tay là một bình bát. Nơi tâm điểm ngài phóng ra hào quang biến cõi này thành cực lạc , tất cả chúng sanh đều hóa thành Phật A Di Đà . Trụ trong quán tưởng này trì tụng thần chú Om Amidewa HRi. Sau đó tụng bài tán : Sau đó hãy tụng bài hồi hướng nguyên cho công đức cho khắp chúng snah cũng như những uớc nguyện của riêng mình và cho vị thầy . Nên tụng thêm bài bát nhã tâm kinh khi tu tập xong . Không nên chấp và những thần thông này kia khi tu tập mật tông . Các điều kỳ lạ sảy ra là rất nhiều , bạn biết trước những điều sẽ sảy ra , nhìn thấy những thứ ở xa , những điềm báo trước , ánh sáng .... Một lời khuyên của tôi là quý vị hãy tụng đọc kinh A Di Đà mỗi tháng 2 lần , có thể tụng theo âm điệu việt nam , hay đơn thuần chỉ đọc to rõ trước ban thờ thôi . Khi tôi băt đầu tu tập pháp này nhiều chuyện lạ thường đã sảy ra . Đôi khi hình ảnh quán tưởng không được rõ ràng cho lắm nhưng hãy mặc kệ nó và cố gắng quán tưởng cho rõ . Tâm quán tưởng thì tâm tịnh , miệng trì chú thì khẩu tịnh , thân ngồi thiền thì thân tịnh . Đó là khi ba nghiệp thanh tịnh đồng phật về Tây phương . Hãy tu pháp này đến khi bạn chết và mong rằng những niệm cuối cùng khi chết là linh ảnh của đức phật A Di Đà . Nếu không thì bạn vẫn có thể tái sanh nếu tu tập hàng ngày pháp này .
Pháp Tu Tịnh Độ (Pure Land) Đức Phật đã chế ra 84,000 pháp môn để giúp chúng sinh tùy theo căn cơ của họ mà tu luyện. Căn cơ của mỗi người cao thấp khác nhau thì khả năng thu nhập của họ cũng không giống nhau được. Pháp môn Tịnh độ đã được chính Đức Phật chế ra để giúp đại đa số chúng sinh có thể vãng sinh mà phương pháp tu hành thì tương đối dễ dàng nhất so với các pháp môn khác. Dựa theo pháp môn nầy thì người tu chỉ cần chú tâm niệm Phật A Di Đà thì có thể vãng sanh về Tây phương Cực lạc được. Vì tính chất hữu hiệu của nó nên pháp môn Tịnh độ là cứu cánh cho tất cả mọi người nếu muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi. Chính ngài Diên Thọ, tổ thứ sáu của Tịnh độ tông khuyên chúng ta như sau: ”Có thiền, mà có tịnh thì như cọp mạnh thêm sừng”. Ngài còn thiết tha khuyên: Có thiền mà không có tịnh, Mười người tu thì lạc đến chín. Ấm cảnh nếu đã hiện tiền, Liền theo đó mà đi lẹ. Thật vậy, chính ngài Văn Thù Bồ-tát trong kinh Quán Tam Muội cũng xác định là: ”Trong các pháp môn tu, không có pháp môn nào qua môn niệm Phật. Niệm Phật là vua của các pháp môn”. Ngoài ra, những Bồ-tát như Quán Thế Âm, Thế Chí, Di Lặc, Mả Minh, Long thọ… đều cầu sanh Cực lạc cả. Trong lịch sử Phật giáo có rất nhiều bậc chánh truyền Thiền tông nhưng vì muốn chắc chắn để được vãng sanh, cuối cùng cũng đổi sang môn Tịnh độ. Những vị đó là Thiền sư Thừa Viển, Vĩnh Minh, Phát Huệ, Thức Hiển, Triệt Ngộ, Liên Trì… Điển hình là trường hợp của Thiền sư Triệt Ngộ. Chính ngài đã biết trước ngày giờ ngài sẽ vãng sanh nên sai đệ tử lập đàng trai và nói với họ rằng: ”Hôm qua ta thấy ba vị đại sĩ là Văn Thù, Thế Chí và Quán Âm. Hôm nay lại được chính Phật đến tiếp dẫn”. Sau đó ngài bèn kết ấn Di Đà rồi an tường mà viên tịch. Tất cả đại chúng còn nghe mùi hương lạ phảng phất khắp hư không. Như thế thì vãng sanh là Phật đến tiếp dẫn khi còn sống chớ đâu phải chờ cho đến lúc chết. Nói một cách khác là sống mà được tiếp dẫn thì gọi là được vãng sanh. Vậy Tịnh độ tông có những kinh sách gì? 1)Kinh Vô lượng thọ: Kinh nầy chép lại 48 lời thề nguyện của Pháp tạng Tỳ kheo với Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai trước khi Ngài thành Phật A Di Đà. Ngài phát nguyện là sau khi thành Phật thì Ngài sẽ lập ra một cõi thật trang nghiêm thanh tịnh để tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương thế giới. Nếu chúng sanh ấy thường niệm đến danh hiệu Ngài và thường cầu được vãng sanh cõi Tịnh độ của Ngài. 2)Kinh Quán Vô lượng thọ: Kinh nầy ghi rõ 16 pháp quan và 9 phẩm để dạy chúng sinh được vãng sanh về Tây phương Cực lạc. 3)Kinh Tiểu Bổn A Di Đà: Đây là kinh nói về cõi Cực lạc trang nghiêm khiến chúng ta sanh lòng ham mộ mà phát nguyện tu theo pháp môn “Trì danh niệm Phật cho đến khi Nhất tâm bất loạn” để được vãng sanh về cõi nầy. 4)Kinh Bửu Tích: Diễn tả việc Đức Phật Thích Ca thuyết pháp môn “Trì danh niệm Phật” cho vua cha Tịnh Phạn để ngài an tâm mà vãng sanh. 7)Kinh Đại Bổn A Di Đà: Bao gồm kinh Thập lục quan, kinh Ban Châu niệm Phật, kinh Bi Hoa, kinh Phương Đẳng, kinh Hoa Nghiêm… Vậy có bao nhiêu cách niệm Phật? 1)Trì Danh Niệm Phật: Mỗi ngày từ lúc mới thức dậy cho đến khi đi ngủ thì chúng ta phải chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Phật A Di Đà. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi ăn và trước khi đi ngủ thì chúng ta đừng bao giờ quên niệm Phật. Ngoài ra, chúng ta có thể theo phương pháp kinh hành niệm Phật, hoặc tọa thiền niệm Phật thì kết quả có thể khả quan hơn. Mỗi khi niệm Phật xong thì chúng ta phải hồi hướng cầu sanh về Tịnh độ. 2)Quán Tượng Niệm Phật: Chúng ta phải chú tâm chiêm ngưỡng và quan sát các tướng tốt mà liên tưởng đến các đức tánh của Phật. Chẳng hạn như chiêm ngưỡng đôi mắt của Phật thì liên tưởng đến trí tuệ của Phật. Khi chiêm ngưỡng nụ cười hiền hòa của Phật thì chúng ta liên tưởng đến tánh từ bi hỷ xả của Phật. Nhờ sự liên tưởng nầy mà các đức tính tốt của Phật như từ bi hỷ xã, bình đẳng, lợi tha được thấm nhuần vào tâm của chúng ta. Nếu làm được như vậy thì càng ngày tâm của chúng ta sẽ được thanh tịnh. Chúng ta có thể lọc sạch những niệm ác và sẽ giống tâm Phật, dĩ nhiên sau đó chúng ta sẽ được vãng sanh về cõi Phật. 3)Quán Tưởng Niệm Phật: Mặc dầu trước mắt không có tượng hay ảnh của Phật nhưng chúng ta liên tưởng như có Đức Phật A Di Đà cao lớn đứng trên tòa sen và phóng tỏa hào quang như tấm lụa vàng bao phủ cả thân hình. Chúng ta ngồi ngay thẳng và hay tay chắp lại để tưởng mình đang ngồi trên đài sen và đang được Đức Phật tiếp dẫn. Chúng ta chăm chú mãi mãi như thế như khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng không dừng nghĩ cho đến khi nào mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy Phật. Lúc đó thì chúng ta đã thuần thục và khi lâm chung chắc chắn sẽ được vãng sanh về Tịnh độ. 4)Thật Tướng Niệm Phật: Khi mà niệm Phật đã đến bản thể chơn tâm. Chơn tâm không sanh diệt, không khứ lai, không hư và không giả. 5)Tham Cứu Niệm Phật: Chúng ta phải tham khảo, cứu xét, suy niệm câu niệm Phật. Chẳng hạn như khi niệm:” Nam mô A Di Đà Phật” thì chúng ta phải quan sát câu niệm nầy từ đâu mà đến và sau đó sẽ đi về đâu? Niệm đây là ai niệm? Nhờ vào sự chuyên tâm chú ý tham khảo cầu niệm Phật như thế cho nên vọng tưởng dần dần chìm lặng và cưối cùng chúng ta có thể đạt được “Nhất tâm bất loạn”. Dĩ nhiên, đến khi lâm chung, chúng ta sẽ được vãng sanh về cảnh giới Cực lạc. Tóm lại: “ Người niệm Phật đến khi hết vọng tưởng và ngộ nhập được chơn tâm rồi thì Phật A Di Đà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ ở nội tâm mình hiện ra chứ không phải đâu xa”. Bởi vậy, kinh Phật mới nói rằng:”Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” là vậy. Trong môn Tịnh độ nầy thì lấy tâm tín nguyện mà chuyên trì danh hiệu Phật. Trì cho đến lúc nhất tâm bất loạn thì sự nghiệp tu Tịnh độ đã đến chổ thành tựu và sẽ được vãng sanh. Muốn tu theo những pháp môn khác thì chúng ta phải sám hối hết tất cả những tội nghiệp hiện tại cũng như trong quá khứ bằng không thì sự tu đạo sẽ gặp nhiều chướng ngại. Còn người tu tịnh độ thì được mang cả nghiệp mà vãng sanh. Và đây được gọi là đối nghiệp vãng sanh. Thêm nữa, chí tâm mà niệm một tiếng Phật thì có thể diệt được tội nặng sanh tử trong mười kiếp vậy. Còn một điều quan trọng khác là một khi tu những pháp môn khác thì chúng ta phải đoạn trừ mọi phiền não. Còn theo Tịnh độ tông thì chúng ta chỉ cần tu tịnh nghiệp là được ra khỏi tam giới mà không cần phải đoạn sạch phiền não. Khi đã được vãng sanh là chấm dứt sanh tử và một khi đã vào cõi Thánh rồi thì việc tu đạo lại càng dễ dàng hơn. Lúc đó chúng ta sẽ dễ dàng tăng quả vị một khi đã có cơ hội gần gủi với chư Phật. Lúc sắp lâm chung chúng ta phải làm gì? Cổ nhân có nói:”Ta thấy người khác chết, trong lòng cảm thấy xót xa. Chẳng phải thương cho kẻ chết mà xót xa cho chính thân ta”. Chúng ta đã biết đời là vô thường. Của cải, tiền bạc, thân bằng, quyến thuộc cũng đều là duyên giả tạm. Sống tùy giả cảnh thì khi chết rũ sạch không? Có biết bao người vì luyến tiếc tiền của hoặc thân thuộc, đến khi sắp chết phải gặp bao khó khăn, không yên tâm nhắm mắt cho được. Do vậy, con người trước khi lâm chung thì thường có những mối nghi ngờ và chính nó sẽ là những căn nguyên làm cản trở cho việc vãng sanh của họ. Có ba mối nghi ngờ mà chúng ta cần biết đến: 1)Nghi ngờ mình mang nhiều nghiệp nặng mà thời gian tu hành ít nên lo sợ không được vãng sanh: Họ quên rằng Đức Phật A Di Đà từng có lời thệ nguyện:”Chúng sanh nào chí tâm muốn về miền Cực lạc thì niệm danh hiệu Ngài đến mười niệm. Nếu không được vãng sanh, Ngài thề không thành Phật”. Phật không bao giờ nói dối. Mười niệm là thời gian tu hành rất ngắn mà còn được vãng sanh huống chi chúng ta niệm còn hơn số đó. Hơn nữa, dầu kẻ nghiệp nặng đến đâu mà nếu chí tâm sám hối nương về Phật A Di Đà thì Ngài sẽ tiếp dẫn. 2)Nghi ngờ mình bản nguyện chưa trả xong, tham, sân, si chưa dứt thì lo sợ không được vãng sanh: Nói về đạo thì có người nguyện cất chùa, hay nguyện tụng kinh bao nhiêu số nhưng chưa đạt được thì sắp lâm chung. Phật dạy: “Chỉ tín tâm niệm Phật khi được vãng sanh sẽ làm vô lượng vô biên công đức. Còn bản nguyện chỉ là việc nhỏ, làm xong hay chưa xong không mấy quan hệ và chẳng có hại chi cả”. Bây giờ nói về đời: Có người lo cho cha già mẹ yếu suy tàn không có người chăm sóc. Lo cho vợ dại con thơ thiếu chỗ nương tựa hoặc có kẻ thiếu nợ chưa kịp trả. Tâm nguyện của họ chưa vẹn nên lòng chưa yên. Phật lại dạy rằng:” Lúc ta sắp chết, dù có lo hay không, cũng chẳng làm gì được. Chi bằng chuyên tâm niệm Phật thì khi được vãng sanh về Tây phương thì tất cả mọi bản nguyện trái duyên đều có thể trả xong. Tất cả kẻ oán người thân đều có thể được cứu độ”. 3)Nghi ngờ mình niệm Phật mà Phật không đến rước thì không được vãng sanh: Người niệm Phật tùy theo công đức của mình nên khi lâm chung thì thấy Phật, Bồ-tát, hay Thánh đến rước. Có khi không thấy chi nhưng nhờ sức nguyện tinh tấn của mình và Phật lực thầm giúp đở cho nên thần thức tự bay về Tây phương Cực lạc. Chỉ cần lúc ấy họ phải chí tâm niệm Phật chớ đừng nghĩ ngợi chi khác. Nếu nghi ngờ sẽ tự sanh ra chướng ngại. Còn một điều nữa là trong gia đình từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái đều là do đời trước có nợ nần, ân oán nên kiếp nầy mới tạm hội ngộ nhau mà thôi. Khi nhân duyên đã hết thì mỗi người đi mỗi ngã. Nếu có lòng thương là tốt hơn chúng ta nên gác bỏ tình cảm trần gian để cầu sanh về Tây phương cực lạc. Khi cái chết sắp đến, dù có quyến luyến cũng không thể đem theo, không làm chi được. Bởi vì chính xác thân của chúng ta cũng phải tan về cát bụi. Nếu luyến ái thì khó mà được vãng sanh lại bị khổ luân hồi vô cùng vô tận. Có nên khóc lóc cho người thân khi họ sắp chết không? Theo Phật giáo, khi có người sắp chết thì thân bằng quyến thuộc không nên khóc lóc và cũng đừng lộ nét bi thương. Bởi vì lúc bấy giờ người sắp chết đã đi đến ngã rẽ phân chia giữa quỉ, người và Thánh. Đây là giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của họ chẳng khác nào ngàn cân treo dưới sợi tóc. Chúng ta chỉ chí tâm trợ niệm Phật A Di Đà là tốt nhứt. Dẫu người có chí nguyện vãng sanh mà bị thân quyến thương khóc làm cho khởi động niệm tình ái thì tất bị đọa luân hồi. Do đó bao nhiêu công phu tu luyện đều phí cả. Nên nhớ khi người sắp mãn phần thì họ cần sự trợ niệm của chúng ta bởi vì lúc nầy từ tinh thần đến thể chất của họ đều yếu kém mê mờ, khó mà tự chủ cho được. Chúng ta nên thỉnh tượng hay hình Đức Phật A Di Đà để trước mắt họ cho họ nhìn thấy. Sau đó cắm một bình hoa tươi và đốt vài nén nhang. Bởi vì khói thơm vừa thoáng để tiến đến chánh niệm cho họ. Chúng ta vẫn tiếp tục thay phiên nhau hay cùng nhau niệm Phật A Di Đà cho họ. Làm gì khi họ mới tắt hơi? Một điều thật quan trọng là khi họ mới tắt hơi thì không nên vội di động thân thể của họ cho dù có dơ dáy. Trước và sau khi chết, người thân không được khóc mà chỉ tiếp tục niệm Phật A Di Đà. Phải đợi 8 tiếng đồng hồ sau mới được đụng xác họ bởi vì trong khoảng thời gian nầy thì người chết vẫn còn cảm giác. Tuy họ đã chết, nhưng A-Lại-Da thức còn chưa ra khỏi xác thân họ. A-Lại-Da thức là thần thức đã giữ gìn tất cả những nghiệp thức của họ đã tao ra khi còn sống trong kiếp nầy và của kiếp trước dựa theo nghiệp lực để dẫn họ đi đầu thai khi có đủ nhân duyên. Việc gì sẽ xảy ra cho họ khi mà họ mới lâm chung? Có ba trường hợp xảy ra cho người vừa mới lâm chung: 1) Những người khi còn sống tạo ra rất nhiều thiện nghiệp, làm lành tránh dữ thì sẽ sinh lên cõi trời tức thì sau khi chết. Nhưng nên nhớ cõi trời ở đây vẫn nằm trong lục đạo, có nghĩa là chúng ta chưa thoát ra khỏi vòng sanh tử. 2) Những người lúc sinh thời tạo quá nhiều ác nghiệp thành thử nghiệp quả của họ quá nặng do đó khi chết họ sẽ bị đọa tức thì vào đường súc sanh, ngả quỷ hay địa ngục. 3) Những người tu tịnh nghiệp sẽ được vãng sanh về Tây phương Cực lạc. Ngoài ba trường hợp trên thì người chết phải đợi trong vòng 49 ngày để thần thức hội đủ tất cả các nhân duyên rồi mới được chuyển sinh tùy theo nghiệp thức của họ. Vì thế từ lúc mới chết cho đến khi đi đầu thai là khoảng 49 ngày thành thử cách tốt nhất là trong khoảng thời gian nầy chúng ta liên tiếp tụng, niệm Phật để trợ lực thêm cho họ. Nếu ho sinh vào cõi trời , nhờ sự trợ lục nầy họ có thể tăng thêm phước lạc. Nếu họ bị đọa vảo ba đường dữ, nhờ sự trợ lực nầy, họ cũng giảm đi nỗi khổ đau và cải thiện sự đầu thai của họ. Còn như họ đã sinh về cõi Phật thì phẩm sen cũng được nâng cao. Còn việc cúng tế thì sao? Chúng ta là người Phật tử thì chỉ nên cúng kiến những món chay mà thôi. Khi phải sát sinh để cúng cho họ thì chẳng những chúng ta tự mình tạo ra ác nghiệp mà còn gieo nghiệp ác cho người quá vãng nữa. Như vậy có thể cản trở cho việc vãng sanh của họ. Chúng ta phần lớn hấp thụ giáo lý Khổng Mạnh nên thường tổ chức cúng giỗ cho rình rang. Bởi vì Đức Khổng Tử nói rằng: “Thờ cha kính mẹ lúc còn sống cũng như khi chết”. Nhưng khi hỏi thì con người sẽ đi về đâu sau khi chết thì Ngài trả lời:”Việc sống còn không biết hết, thì việc chết miễn bàn”. Thật vậy, Đạo Khổng chỉ dạy con người một đời mà thôi có nghĩa là từ lúc sinh ra đến lúc chết. Nếu cho rằng cúng tế thật rình rang để tỏ lòng hiếu để đối với người chết thì thật là bất hiếu. Tại sao vậy? Bởi vì nếu lúc cha mẹ còn sinh tiền không giúp họ tu nhân tích đức, tu đạo để được vãng sanh thì là con bất hiếu rồi. Đến khi họ chết thì lo cúng giỗ cho lớn nhưng nếu họ chứng được thì là nguy to. Tại sao? Bởi vì sau bao năm mà họ không đầu thai được chỗ nào tức là không được siêu thoát thì họ đã thành ma đói rồi. Thật là một điều thê thảm. Còn nếu họ không chứng thì mình cúng lớn là để mình ăn cho sướng mà thôi. Mỗi năm nhân mùa Vu lan báo hiếu thì thường thường chúng ta về chùa để cầu nguyện cho ông bà quá vãng. Đây là dựa theo chuyện của ngài Mục kiền Liên ngày nọ để cứu mẹ là bà Thanh Đề ở dưới địa ngục. Nếu chúng ta đã học qua Phật pháp thì người con có hiếu là không phải đợi đến rằm tháng bảy mới lo cho cha mẹ. Lo như vậy là đã quá trễ rồi. Đó là con bất hiếu chứ đâu phải là hiếu tử. Nếu muốn báo hiếu cho cha mẹ thì từ đây phải khuyến khích họ cùng chúng ta để lo tu học, niệm Phật, tạo nhiều công đức và phước đức. Nên làm lành tránh dữ thì dù chúng ta không đến chùa vào lễ Vu lan nhưng chắc chắn tương lai của họ cũng như của mình sẽ vô cùng sáng sủa. Đây là cách báo hiếu chân thật. Niệm Phật tam muội. Người niệm Phật khi đạt đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng thì sẽ thấy cảnh hư linh sáng lạng và vọng giác tiêu tan. Lúc đó họ sẽ quên hết thân tâm ngoại cảnh, không còn ảnh hưởng thời gian không gian và tâm thể bừng sáng để chứng vào cảnh giới “vô niệm vô bất niệm”. Không niệm mà niệm, không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật bởi vì có thấy biết tức là lạc theo trần giới. Đến đây thì nước bạc non xanh, suối reo chim hót và tâm quang sáng chói. Có bốn môn niệm Phật tam muội là: I. Bát chu tam muội: Bát chu có nghĩa là Phật lập. Khi thực hành môn nầy thì chúng ta phải lấy 90 ngày làm một định kỳ. Trong thời gian ấy, ngày đêm chúng ta chỉ đứng hoặc đi, lúc nào cũng tưởng Đức Phật A Di Đà hiện thân với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Khi công thành thì chúng ta sẽ thấy Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước mặt chúng ta để khen ngợi. Người tu môn nầy thì khi đi, mỗi bước đều không rời danh hiệu Phật. Pháp môn nầy công đức rất cao nhưng chỉ dành cho những bậc thượng căn mà thôi. II. Nhất hạnh tam muội: Nhất hạnh có nghĩa là chuyên nhất về một môn mà thôi. Khi tu theo môn nầy thì chúng ta thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng hoặc niệm danh hiệu Đức A Di Đà. Mặc dầu tu một môn nhưng công phu thật viên hạnh. Môn nầy thì dành cho mọi người. III. Pháp hoa tam muội: Đây là một trong 16 tam muội như kinh Pháp Hoa Diệu Âm Bồ-tát đã nói. Khi tu theo môn nầy thì chúng ta có thể thay đổi giữa ngồi và đi để quán Phật hoặc niệm Phật cho đến khi nào chứng nhập vào Chánh định. Phép tu nầy thì có phần dễ hơn Nhất hạnh tam muội ở trên. IV. Tùy tự ý tam muội: tu theo pháp môn nầy thì tùy tâm mà đi đứng, nằm ngồi để niệm danh hiệu Phật A Di Đà cho đến khi vào tam muội. Lối tu nầy con được gọi là :”Lưu thủy niệm Phật”. Cũng như ngọn nước của dòng sông cứ kiên tục chảy mãi, dầu gặp cây đá ngăn cản thì nó chỉ dội lại rồi cũng tìm lối chảy đi. Người tu theo lối nầy thì cứ mỗi buổi trưa lễ Phật A Di Đà bốn mươi tám lạy. Còn Quán Thế Âm, Thế Chí và Hải Chúng mỗi danh hiệu bảy lạy. Sau đó quỳ xuống để sám hối. Rồi từ đó cho đến tối, lúc đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật. Họ có thể lần chuỗi ghi số, hoặc niệm suông, cho đến khi đi ngủ. Trước khi đi ngũ thì lễ Phật một lần nữa và đem công đức tu trong ngày mà phát nguyện hồi hướng vãng sanh. Pháp tu nầy tuy tùy tiện dễ dàng nhưng phải tránh bớt duyên và cố tâm bền bỉ mới mong thành tựu. Vội vội vàng vàng khổ nhọc cầu Mưa mưa nắng nắng trải xuân thu Hôm hôm sớm sớm lo sinh kế Lãng lãng quên quên thấy bạc đầu Thị thị phi phi không kết liểu Phiền phiền não não những bi ưu Rành rành rõ rõ một đường đạo Vạn vạn ngàn ngàn chẳng chịu tu. Cho nên chúng ta phải tu, phải lo niệm Phật: “Nắm lấy chuổi tràng trần niệm dứt Nghiễm nhiên thành Phật đã lâu rồi” Phần Tóm Lược Ngày nay rất nhiều người tu Tịnh độ, lễ bài rất chuyên cần mà vẫn không đạt kết quả bao nhiêu? Họ đi chùa lễ Phật , tham dự nhiều Phật thất năm nầy qua năm khác mà chứng nào vẫn tật nấy…Tại sao? Đối với Tịnh độ thì người tu phải nắm vững những nguyên tắc căn bản rất quan trọng là chí tâm chí thành mà thường được gọi là Tín, Hạnh, Nguyện thay vì thực hành như một thói quen máy móc nên không có kết quả bao nhiêu. Nên nhớ Tịnh độ không những chú trọng đến tha lực (Phật lực A Di Đà) mà còn đòi hỏi cả công phu về tự lực nữa. Quy tắc căn bản về pháp môn niệm Phật là phải biết nghiêm trì sáu căn: Mắt, Tai, Lưỡi, Mũi, Thân, Ý và ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ý cho thật thanh tịnh để lúc niệm Phật được nhất tâm. Đây chính là phần tự lực mà con người phần lớn bỏ quên đi không chú ý đến. Khi niệm Phật, hành lễ mà thấy tự tâm tha thiết mạnh mẽ, không hề có vọng tưởng thì có thể cảm thông được với chân tâm của chư Phật trong Pháp giới. Thật ra tâm Phật và tâm của chúng sinh không hề khác nhau, đều cùng một Bản Thể, nhưng vì chúng sinh chưa ý thức được điều nầy vì còn bị vô minh che phủ nên mới có sự phân biệt, xa cách. Thêm nữa, chúng sinh từ vô thỉ đến nay đã gây ra biết bao tội ác cho nên dù công phu tu tập đến đâu cũng khó mà giải trừ hết nghiệp chướng trong một đời nên phải nhờ oai lực của câu niệm Phật để tiêu trừ bớt nghiệp giúp cho tín căn, tín lực gia tăng mà được vãng sinh. Đó là phần tha lực. Còn về phần tự lực thì khi người niệm Phật thì họ biết giữ sao cho mắt đừng bị chi phối bởi ngoại cảnh, đừng nhìn ngang nhìn dọc làm cho tâm sinh loạn tưởng. Muốn tâm được thanh tịnh thì phải biết làm chủ sáu căn của mình. Khi niệm Phật thì mắt chỉ chăm chú nhìn lên tượng Phật hoặc giữ hình ảnh của Phật A Di Đà trong tâm mà thôi. Mắt không nên nhìn chung quanh rồi tâm sinh vọng động để rồi suy nghĩ, lo lắng đủ điều thì làm sao có thể đạt được trạng thái nhất tâm bất loạn được. Niệm tới đâu phải biết tới đó, niệm một câu biết một câu, niệm mười câu biết mười câu chớ không lầm lẫn hoặc lầm lạc. Khi niệm Phật đừng để cho tai nghe những tiếng động khác chung quanh mà làm cho tâm ý khởi vọng động. Các căn còn lại như mũi, lưỡi, thân, ý cũng phải kiểm soát như thế thì vọng động không xen vào trong tâm thức của người niệm Phật. Khi tất cả sáu căn được thu nhiếp và được đặt dưới sự kiểm soát của tâm để không còn vọng động, không còn loạn tưởng thì đạt được Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu nghĩ lại đây là Chánh Niệm của người tu Tịnh độ và đây cũng chính là Chánh Niệm của người tu thiền. Phương tiện tuy có khác nhưng mục đích nào có khác gì đâu. Trong ba nghiệp thì Ý Nghiệp là mạnh nhất. Ý là nhân mà thân khẩu là quả của nó. Vì thế đối với người tu Tịnh độ thì ít ai có thể kiểm soát được nên người niệm Phật phải trông vào tha lực của chư Phật hộ trì cho. Nếu người niệm Phật chí tâm chí thành niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì tâm vọng tưởng, tâm điên đảo, tâm nghĩ ngợi lung tung sẽ từ từ tan biến và được thay bằng bản tâm thanh tịnh. Oai lực của sáu chữ hồng danh rất lớn, bất khả tư nghì cho nên nếu người niệm Phật nhất tâm trì tụng thì có thể khắc phục được Ý Nghiệp của mình. Khi ba nghiệp Thân-Khẩu-Ý được thanh tịnh, sáu căn không còn dính mắc thì trí tuệ sáng suốt và chắc chắn sẽ được vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc. Tóm lại pháp môn Tịnh độ bao gồm cả tự lực lẫn tha lực, tuy giản dị nhưng công năng vô cùng huyền diệu. Muốn tu theo pháp môn nầy mà không nắm vững quy tắc căn bản là nghiêm trì sáu căn và ba nghiệp thì cho dù họ có đọc tụng thiên kinh vạn quyển, niệm muôn trùng biến thì cũng chẳng có lợi ích bao nhiêu. Rất nhiều người cho rằng tu Tịnh độ chỉ trông nhờ vào tha lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà mà thôi thì cũng là một thiếu sót. Bởi vì thiếu tự lực thì không thể được nhất tâm. Mà không nhất tâm thì làm sao thông cảm được với chân tâm của chư Phật. Thêm nữa, một số người niệm Phật để cầu phước hay để xin xỏ việc nầy việc nọ thì cũng là đi ngược lại với đường lối của Tịnh độ bởi vì niệm Phật mà thiếu tâm thành chỉ mong cầu nầy nọ tức là tâm vẫn còn tham thì làm sao có kết quả được. Đối với người tu Tịnh độ thì họ không cần xin gì ngoài việc vãng sinh về cõi Tây phương mà thôi. Vì Tịnh độ bao gồm cả tự lực và tha lực nên Tịnh gồm cả Thiền và Mật. Đó là người tu phải ý thức hành vi cử chỉ của mình và vừa tha thiết niệm hồng danh Phật A Di Đà để cầu vãng sinh. Pháp môn nầy do chính Đức Phật Thích Ca nói ra và chư Phật mười phương đều tán thán. Ngay cả Bồ-tát Di Lặc chỉ còn một đời nữa sẽ thành Phật mà còn ngày đêm hành lễ thì đủ biết tầm quan trọng và công năng của nó như thế nào. Chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Đà để dẹp trừ vọng tưởng chấp trước bao nhiêu đời . Vì thế một câu niệm Phật như cầm chổi quét sạch vọng tưởng. Niệm mãi không quên khiến vọng niệm tự tiêu trừ. Sáng niệm Phật, tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi trong 24 tiếng niệm niệm không quên. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần thục chín mùi thì cảnh Tây phương Cực lạc hiện trước mắt, được lợi ích vô biên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét