THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
Pháp thể nhập Tri Kiến Phật - Kinh Pháp Hoa
Pháp thể nhập Tri Kiến Phật - Kinh Pháp Hoa
Yếu Chỉ của kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay thường gọi là Pháp Hoa là muốn nêu lên hoài bảo của Phật là Khai Thị Ngộ Nhập Tri Kiến Phật. Theo bản dịch chánh văn của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh ghi trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải của Thiền Sư Thích Thanh Từ, chúng tôi chỉ nêu trích ra một phần có liên hệ đến cốt tủy của kinh. Những phẩm tựa trình bày phần tổng quát hiện tượng và bản thể vũ trụ pháp giới. Phẩm hai đến phẩm mười, Phật chỉ rõ sự thấy biết của Ngài. Phẩm mười một đến hai mươi hai, Phật dạy pháp thị ngộ Phật Tri Kiến, chỗ thâm áo để tu hành. Phẩm hai mươi ba đến hai mươi tám, Phật chỉ cách thể nhập Phật Tri Kiến. Tuy vậy, chúng tôi chỉ nêu lên cốt tủy của kinh ở phần ngộ nhập Tri Kiến Phật, một phương pháp nắm bắt thực tướng hay tánh giác có sẳn nơi mỗi người.
"Từ phẩm Hiện Bảo Tháp tới phẩm hai mươi hai, Phật chỉ rõ tánh giác hằng soi sáng mà không hình tướng nên khó chỉ khó nhận. Giống như không khí tối cần thiết cho lẽ sống của sinh vật. Vì vậy Phật mượn những hình ảnh biểu trưng để chỉ cho chúng ta ngầm nhận ra Tri Kiến Phật. Nên phẩm Hiện Bảo Tháp, phẩm Đề Bà Đạt Đa...nêu ra những hình ảnh biểu trưng cho Tri Kiến Phật có sẵn muôn thuở không mất ở nơi mỗi người, khi người tin nhận thì nó hiện tiền. Ở đây mang tính cách giải bày nêu ra phần khai, thị, ngộ, nhập, kỳ thật toàn bộ kinh đều chỉ cho mọi người nhận ra nơi thân năm uẩn này có sẵn Tri Kiến Phật 'c6t chớ không có nơi nào khác."
Sau khi Phật chỉ rõ sư thấy biết Ngài với khai mờ qua những phẩm Tựa, Phương Tiện, Thí Dụ, Tín Gỉai, Thọ Ký... thì phẩm Hiện Bảo Tháp là bắt đầu tthị ngộ Tri Kiến Phật. Tri Kiến Phật, là Phật Tánh hay Tánh Giác. Chúng ta cần biết kết cấu của Tâm, từ đó phân biệt được thế nào là Tâm Thức (Giác Thức), Tâm Trí (Giác Trí) và Giác Trí Tuệ. Giác Trí tuệ còn gọi là Tánh Giác hay Tri Kiến Phật.
I. Kết Cấu của Tâm Thức
Rất cần thiết khi phân biệt Thức và Trí, quan trọng hơn nữa khi nhận biết thế nào là Vọng Tâm và Chân Tâm. Chúng ta cần biết rõ ràng cách thức cấu kết của Tâm Trí để thực hành đúng các pháp môn của Phật, nhất là ngồi Thiền. Do đó, sự phân biệt Cảm Giác (Sensation), Giác Thức (Perception hay Consciousness) Giác Trí (Cognition) và Giác Trí Tuệ (Pure Cognition) hay Tri Kiến Phật là cần thiết.
a). Nhận Diện (Sensation).
Ngủ giác quan là phương tiện tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng dáng của trần cảnh. Đó là chúng ta cảm giác được hình ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí dụ, khi ta thấy con bò là thấy hình ảnh con bò ở võng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại, (Về thị giác) khi ta nhìn con bò, hình ảnh con bò hội tụ ở võng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác thần kinh lên não, lức đó ta mới nhận diện được hình ảnh con bò. Khi có thời gian thì sự vật chạy dài trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không còn là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian thì có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian và ảnh không còn thật trong không gian. Vậy, khi nhận diện được hình ảnh (thấy), ấn tượng chấn động lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích thích (nếm), hình ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc) là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ, như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư không) một dung thể không: sự vật và dung thể không của nó khắng khít nhau như một, thì thể không của nó là hình ảnh sự vật được hội tụ ở võng mạc mắt khi mắt nhìn sự vật. Do đó khi thấy sự vật cụ thể ở trong không gian là thấy hình ảnh của nó ở võng mạc của mắt mà thôi.
b). Nhận Thức (Perception).
Khi chúng ta cảm giác hình ảnh sự vật thì lúc đó chúng ta mới nhận biết được (perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay là chơn thức (pure perception or true consciousness). Hình ảnh con bò là thể không được nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.) Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành hình. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không) sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật gọi là lục tặc, vì thức là nghiệp. Dòng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần làm cho dòng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục.
c). Tri Thức (Cognition).
Trong đời sống hằng ngày, ta thường nhận thức sự vật bằng ngũ giác quan. Khi ta tri nhận (cognize) sự vật đã nhận thức, ta có tri thức (Cognition). Trong quá trình tri nhận sự vật trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ý thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lý Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức nên nó tạo ra nghiệp thức. Nên ta có thể gọi là tâm duyên ý mã vì tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó.
d). Giác Trí Tuệ hay Tri Kiến Phật (Pure Cognition).
Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy thị nhập Tri Kiến Phật hay thực hành Giác Trí Tuệ đề được thành Phật đạo. Thực ra Tri Kiến Phật là Tánh Giác có thể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Tánh Giác là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa lìa nó ngay. Nói rõ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure Perception hay first consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí (Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa lìa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ hay Tri Kiến Phật (Vô thời gian). Vì Tri Kiến Phật là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức, vì thấy hình ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức (perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Nên thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ý trí) giác thức ấy để có giác trí. V853?y khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để Tri Kiến Phật và phải xa lìa cái biết ấy nữa thì mới có Tánh Giác toàn diện.
II. Cốt Tủy của Kinh Pháp Hoa
a). Phần Thị Ngộ Tri Kiến Phật
Từ phẩm Trì tới phẩm Chúc Lụy, Phật dạy: nam nữ bình đẳng có Thật Tánh như nhau. Muốn được an an lạc hạnh, thì an trụ nơi bón pháp: 1) "Hành xứ". Nếu vị đại Bồ Tát an trụ nơi nhẫn nhục hòa dịu, khéo thuận mà không vụt chạc, lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tướng như thật của các pháp cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ "Hành xứ" của Bồ Tát. 2) Trụ "Thân cận xứ" là chẳng gần gủi kẻ chơi việc hung hiểm hạng người tăng thượng mạn v.v...phải thấu suốt nhân quả, giới luật phải nghiêm minh. Vị đại Bồ Tát quán sát "Nhứt thiết pháp không như thiệt tướng" chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thói, chẳng chuyển, như hư không. 3) Lại chẳng nên hí luận các pháp có chỗ tranh cải. Phải ở nơi tát cả chúng sanh, khởi tưởng đdại bi.. Với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều. 4). Hành giả tri kinh Pháp Hoa tại gia hay xuất gia sanh lòng tứ lớn, còn hàng Bồ tát sanh lòng bi lớn. Kinh pháp Hoa này là tạng bí mật, của các đức Phật Như Lai vì kinh Pháp hoa là chỉ Tri Kiến Phật nên chỉ cho người rất khó, vì nó không có tướng mạo, vượt ngoài ngôn ngữ. Song nó hằng hiện hữu nơi m
'87i người, là tạng Như Lai. Khi căn lành tròn đủ, sạch hết các ma chướng lúc đó mới thấy được tạng bí mật này. Vì (Tùng địa dũng xuất) cái thấy biết của chính mình (Trí Vô Sư), chứ không phải Trí Hữu Sư, là Trí do mình học hỏi, tức là cái mình Biết tự nhiên của mỗi người. Đó lả Như Lai Thọ Lượng, cái không sanh không diệt, có sẳn nơi mọi người, thường hằng, nên công đức không thể nghĩ bàn, tùy theo công đức trì kinh và truyền bá kinh Pháp Hoa mà được sáu căn thanh tịnh do trở về sống với Tri Kiến Phật, thanh tịnh trong sáng, mới được công đức như vậy. Không thể Phân Biệt Công Đức, vì ngưới trì kinh Pháp Hoa là trở về sống với Pháp thân không hình tướng không sanh không diệt, nên công đức không thể nghĩ bàn. Bồ Tát đều có tâm bình đẳng giáo hóa, không chối bỏ người nào kẻ chống đối cũng như người mến thương. Như vậy, Bồ Tát Thường Bất khinh trì kinh và truyền bá kinh Pháp Hoa rất đơn giản nhưng hợp với lý kinh, nên lợi ích không thể lường. Như Lai Thần Lực, có đ0ủ thần thông vượt hẳn sức người, là Tri Kiến Phật có sẳn nơi mỗi người chúng sanh. Nếu ai biết quay lại sống với Tri Kiến Phật nơi mình thì sẽ được diệu dụng không thể nghĩ bàn. Tới đây Phật dặn dò (chúc lụy) đệ ba theo lời dạy của Phật, khi được chỉ cho biết thị ngộ Tri Kiến Phật rồi thì phải thực hành.
• b). Phần Thể Nhập Tri Kiến Phật
Phần Thể Nhập Tri Kiến Phật, thiết tưởng cần đến kỷ thuật hay phương pháp thực hành để nắm bắt Tri Kiến Phật. Thật vậy, sau khi được Phật Khai (Chỉ Cho Biết kinh nghiệm của Ngài), Thị Ngộ (Dạy chỗ thâm áo để tu hành hay những đặc điểm của Tri Kiến Phật hay Tánh Giác), và pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật, tức pháp công phu. Khi chúng sanh hiểu rõ pháp học, đối với tha nhân (lợi tha, giác tha), đối với mình (tự lợi, tự giác) bằng giới luật nghiêm minh, thì pháp hành kinh Pháp Hoa mới đạt cứu cánh là thành Phật đạo. Trước hết phải coi thường thân tứ đại (Sắc uẩn), phá thọ ấm (là hai phẩm Dược Vương Bồ Tát Bởn Sự và Diệu Âm Bồ Tát), đến tưởng ấm là phẩm Phổ Môn. Tưởng ấm là nguồn gốc của khổ đau, vọng niệm tư tưởng. Phá tưởng ấm bằng cách xoay lại tánh nghe của mình. Khi xoay lại nghe tánh nghe của mình, thì mọi niệm tưởng dừng, khi niệm tưởng dừng thì kinh sợ hết, thì khổ đau không còn. Nên Bồ Tát Quán Thế Âm cứu cho chúng sanh hết khổ. Vậy khi nghe một âm thanh, ta biết có tánh nghe, t13?c là khi nghe một âm thanh ta xoay lại nghe (biết) tánh nghe (nhĩ thức) của mình, tức Nhập được Tri Kiến Phật. Tuy nhiên muốn giữ được thâm tâm và Bồ Đề tâm hay là duy trì Tri kiến Phật bền lâu, hành giả nên tiếp tục đọc tâm chú để tránh kẻ hở cho tưởng thức xen vào. Tâm chú Đà La Ni tức khi đọc chú ta Biết có niệm chú. Đó là phá hành ấm. Hoặc giả khi thể nhập Tri Kiến Phật rồi, là lúc xa lìa Tri Kiến đó và tiếp tục nghe lại tánh nghe khác. "Hành trình thể nhập tri kiến Phật là sự miên mật Thắp sáng hiện hữu trong từng khoảnh khắc của từng tánh nghe( Tâm Thức), sống tĩnh giác với sự xoay chiều về Tâm Trí và Vô Thời Gian." Cuối cùng phá luôn thức ấm tức là chuyển thức thành trí hay giác trí, mà phải vượt khỏi thời gian để thể nhập Tri Kiến Phật và miên mật thắp sáng Tri Kiến Phật mãi.
III. Kết Luận
Thể nhập được Tri Kiến Phật là vượt khỏi thời không làm cho tâm thức trở thành tâm trí, trong sáng thanh thản tức là giải thoát khổ đau nhân quả luân hồi. Hành giả đã vượt qua mọi chướng ngại, mà phần lợi tha chưa được viên mãn. Vì vậy mà phải khởi lòng từ làm lợi ích chúng sanh bằng cách lao mình vào trong cảnh khổ đau, chỗ khó khăn,hiểm trở, để giáo hóa cho chúng sanh được giác ngộ. Như Bồ Tát Phổ Hiền với hạnh nguyện lớn đi giáo hóa chúng sanh, tức là Sai Biệt Trí thấy được căn cơ sai biệt của chúng sanh, giáo hóa đúng trình độ của họ sớm được thức tĩnh, tiến tu không lui sụt. Khi công hạnh tự giác và giác tha được viên mãn thì thành tựu quả Phật. Vậy khi hành giả nắm vững lý kinh Pháp Hoa , thấy rõ pháp tu, rồi y cứ đó mà tu hành. Thể Nhập Tri Kiến Phật, giữ được Thâm Tâm chí đến Bồ Đề Tâm là vượt khỏi thời không là giác ngộ Niết Bàn.
* Nhận Thức niệm đầu của Cảm Giác thành Chơn Thức. Tri nhận Chơn thức ấy để được Giác Trí và xa lìa (Vô thời gian)Giác Trí đó để có Giác Trí Tuệ hay Tri Kiến Phật.
* Nghe lại (Biết) tánh Nghe của mình là Thể Nhập Tri Kiến Phật (Vô thời gian bằng Tâm Chú Đà La Ni).
* Nắm bắt thực tướng của vạn hữu (Thể Nhập Tri Kiến Phật) là sự vượt khỏi thời không làm cho Tâm trở nên trong sáng thanh thản, tức là giải thoát khổ đau, nhân quả, luân hồi.
Tham Khảo
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải. Thiền Sư Thích Thanh Từ, xuất bản Phật Lịch 2542 - 1998.
Tác giả: Phổ Nguyệt
Biên Tập: Trang nhà Huệ Quang
Quí vị có thể xem đầy đủ các bài viết trong "Cốt Tủy Các Kinh Căn Bản Phật Giáo" bản PDF TẠI ĐÂY (Link phụ Download)
Tags:
• Cốt Tủy Các Kinh Căn Bản Phật Giáo
• Kinh Pháp Hoa
• Kinh Điển Phật Giáo Bắc Truyền
• Pháp Thể Nhập Tri Kiến Phật
Pháp thuật
Ngồi bên cửa sổ trên căn gác thấp lè tè, thằng Hào nhìn bâng quơ xuống con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo chạy ngang trước nhà, đôi mắt nó long lanh ngấn lệ. Nó đâu có muốn khóc, vì nó căm ghét nước mắt lắm.
Nó đâu có ưa gì chuyện khóc lóc, vì nó cho đó là yếu hèn, và khóc lóc kể lể là đặc tính chỉ nên dành cho phụ nữ. Mình là con trai thì nhất quyết không được khóc. Mười lăm tuổi rồi, sắp thêm một tuổi nữa rồi, đâu còn nhí nhóc nữa. Nhưng bây giờ nó không làm sao cưỡng lại được những giọt nước mắt cứ ứa ra, cứ chực tuôn chảy thành dòng. Nó kiềm nước mắt lại. Bỗng cảm thấy cổ họng nghẹn đau như đang bị mắc vướng một cục đá lạnh có góc cạnh sắc nhọn vậy. Nó nuốt ực một cái. Nếu là người khác, có lẽ người ta sẽ dùng bàn tay vuốt một cái thật mạnh từ cổ xuống tới ngực cho trôi cục nghẹn một cách dễ dàng. Đằng này, thằng Hào không làm như vậy được, vì nó đã không còn hai cánh tay. Nó có muốn dùng lý trí để sai khiến đôi tay thực hiện mệnh lệnh cũng không có tay mà cử động tuân lời. Đành phải ngồi yên đón nhận cảm giác đau tức chạy lừ đừ từ cổ xuống tới ức, và nước mắt đã chảy hai hàng…
Thằng Hào đang buồn lắm, tủi lắm. Năm hết Tết đến mà nhà nó chẳng có gì lấy làm vui. Ngồi bên song cửa sổ nhìn đời trôi ngang trước nhà thật sôi động huyên náo, thật vui tươi hồ hởi, nó không ước ao gì to tát, không mơ mộng gì hão huyền, chỉ mong sao không khí trong gia đình được thuận hòa đầm ấm. Mẹ sẽ không giận bố nữa. Bố sẽ không uống rượu giải sầu nữa. Và nó sẽ không buồn, không khóc nữa. Một ước ao đơn giản nhỏ bé như vậy thôi, nhưng nó không thể mãn nguyện được trừ khi có một phép lạ bay ra từ chiếc đũa thần trên tay bà tiên nhân hậu hiền từ. Tiên ư? Làm gì còn có thần tiên hay ma quỷ ở ngay thời đại văn minh tin học này? Có chăng cũng chỉ ở trong phim ảnh, trong truyện cổ tích, trong trí tưởng tượng của con người. Con người đã sáng tạo ra những thứ ấy, và cũng xóa diệt hết những thứ ấy. Còn Phật? Phật thì có đó. Bồ tát cũng có đó. Long thần Hộ pháp cũng có đó. Nhưng nó chỉ thấy trong kinh sách, trong tranh ảnh, và nghe được từ những chiếc đĩa VCD của chư Tăng đạo hạnh thuyết pháp. Làm sao để pháp Phật nhiệm mầu hiển hiện ra cho mình đây? Nó ước ao có phép thần thông vi diệu của Phật. Nó chỉ ước vậy thôi, trong lúc rối rắm bế tắc nhất thời này, còn mơ ước có thành sự thật hay không thì còn tùy ở thời gian và tâm tính con người, tùy ở bố và mẹ, nó tin là vậy. Cả nhà nó đã mất hết tinh thần, niềm tin vào cuộc sống chao nghiêng đung đưa trước thế thái nhân tình, ai nấy đều không còn giữ được sự bình tĩnh cần thiết. Chuyện đã bắt đầu xảy đến từ khi bố thằng Hào mất việc làm. Một chỗ làm ổn định, lương bổng khấm khá, mà ông đã theo đuổi từ hơn mười năm qua với biết bao kỷ niệm gắn bó vui buồn, và hao tốn biết bao công sức lẫn tâm huyết. Nhưng kể từ khi xí nghiệp của ông chuyển qua liên doanh với nước ngoài, ông đã tiên đoán được những hậu quả sẽ xảy ra, và phải từng giờ từng ngày đương đầu với những thử thách ghê gớm. Cho đến một ngày, lòng kiên nhẫn trong ông đã không còn nữa, ông đã cạn hết sức chịu đựng, phải vươn vai ưỡn ngực bước ra đấu tranh, chống đối lại mệnh lệnh của ông quản đốc người nước ngoài. Chỉ vì bất bình trước sự đối đãi tệ bạc, xúc phạm nhân phẩm công nhân của những kẻ quen thói ỷ có tiền mà lên mặt ông chủ bắt nạt người làm công, bố của thằng Hào phản kháng, cầm đầu cuộc đình công đòi quyền lợi cũng như đòi bồi thường danh dự cho những người lao động thấp cổ bé miệng. Có Liên đoàn Lao động tỉnh can thiệp, cuộc đình công thắng lợi, những ca trưởng, quản đốc và cả giám đốc người nước ngoài đã phải xin lỗi công nhân, đáp ứng những yêu cầu về quyền lợi của công nhân xí nghiệp. Bố thằng Hào vẫn đi làm bình thường, chỉ được một thời gian ngắn thì bị sa thải vì lý do tinh giản biên chế, và vì ông không biết ngoại ngữ. Ôm mối buồn đau hụt hẫng về nằm nhà thất nghiệp, mang nỗi uất ức không biết đường trở xoay giải tỏa, ông lao đầu vào những cuộc rượu say điên say đảo từ sáng tới khuya, không đi chùa sám hối như trước kia nữa. Mẹ thằng Hào buôn bán nhỏ ngoài chợ, bấy lâu nay đã ế ẩm chán chê, ngồi ngáp ruồi ngóng khách qua ngày qua tháng, hàng tồn nợ đọng, thuế lại lên cao không biết phải ứng phó ra sao, nhằm lúc nghe tin bố nó mất việc, uống rượu giải sầu cả ngày, bà đã không còn hứng thú hay hy vọng gì với cái chuyện buôn bán ngày càng bế tắc này nữa. Bỏ hàng bỏ chợ, bà về nhà thở dài thở ngắn, khuyên can an ủi bố thằng Hào hết lời mà chẳng xoay chuyển được tâm ai, mới tức lên mà gây gổ, hục hặc với chồng, và cáu gắt nạt nộ con cái của mình. Chị Huệ của thằng Hào, đang học lớp 12 dở dở ương ương cũng phải mất tinh thần, đâm ra chán học, trốn trường bỏ lớp đi chơi cho khuây khỏa khi gia đình đã mang một không khí nặng nề u ám. Mẹ thằng Hào biết được, đánh con gái một trận tơi tả chưa từng có xảy ra. Ông bố nóng mặt xót lòng phải bênh con, nhảy vào can gián và có lỡ tay thô bạo với người vợ yêu quý gần hai mươi năm trời của mình. Vậy là giận hờn, chiến tranh lạnh kéo dài gần một tháng rồi mà chưa thấy bên nào phất lên ngọn cờ trắng. Nghĩ cũng tức cười, cả bố và mẹ đều học hiểu pháp Phật lâu nay, biết phương pháp “hạn chế sân hận, trải rộng tình thương”, biết những giáo lý căn bản dùng để diệt trừ “tham sân si” trong cuộc sống, vậy mà chẳng ai chịu nhớ mà mang ra ứng dụng. Trong cuốn sách “Bàn về chữ Nhẫn” mà bố mua ở thư quán trên chùa mang về bảo mọi người nên đọc, thằng Hào còn nhớ mang máng một câu: “Nhịn một tiếng, sóng chìm gió lặng; lùi một bước biển rộng non cao”, thật là tuyệt hay, sao không ai chịu nhớ? Và, nghĩ cũng tức cười, giận gì thì giận, chuyện học của chị Huệ, thằng Hào vẫn được cả hai người lặng lẽ lo toan. Mẹ bán đi ti-vi, đầu máy video để có tiền lo cho con gái yên tâm đến trường, còn một ít làm vốn đi nhận hàng gia công về nhà may kiếm tiền lo cơm gạo muối mắm hàng ngày. Bố cũng lo, không biết chạy vạy xoay trở ở đâu ra một khoản tiền mang về trao cho con gái giữ “để phụ giúp mẹ trang trải những chi tiêu trong nhà”, và “con cần mua sắm gì để học tập thì cứ dùng”. Đối với thằng Hào cũng vậy, cả bố lẫn mẹ đều quan tâm chăm sóc cho nó nhiều hơn trước kia, nhưng nó đâu có mừng vui, nói thẳng những gì bụng nó muốn: “Bố hãy làm hòa với mẹ đi!”, hoặc “Mẹ hãy vui vẻ lại với bố đi!”. Nghe nó cứ nằng nặc yêu cầu, bố nó ầm ừ, còn mẹ nó thì gượng gạo: “Mẹ muốn vui vẻ lắm chứ, nhưng người phải làm hòa trước là bố chứ không phải là mẹ!”. Cứ vậy mà kéo dài… Bây giờ, nó ngồi buồn nhìn qua cửa sổ, thấy thiên hạ xôn xao đón Tết, nghĩ đến trong nhà mình bao chuyện không vui, hỏi sao nó không khóc được? Phải như nó là một đứa trẻ lành lặn, thì nó sẽ không ngồi một chỗ ru rú trên căn gác bề bộn những đồ chơi và giấy bút sách truyện này. Nó sẽ tung tăng chạy nhảy, làm cho sinh khí gia đình luôn được tràn trề. Nó sẽ cười cười nói nói, làm trò hề cho bố mẹ vui lên, quên đi phiền muộn mà làm hòa nhau. Nó sẽ chăm chỉ học hành, đem những điểm 10 đỏ chói về làm quà tặng cho bố mẹ được an ủi trong lúc bị yếm thế thất cơ. Nó tự biết bố mẹ cưng thương chìu chuộng nó lắm, nó mà đòi hỏi điều gì cũng được bố mẹ hoan hỷ đáp ứng. Nhưng mà… hiện giờ nó không thể tự mình làm những điều mà nó đang muốn làm được. Nó là một đứa trẻ mười lăm tuổi đang mang tật nguyền suốt đời, không còn đủ hai cánh tay như bao đứa trẻ khác. Một tai nạn khủng khiếp xảy đến với nó lúc nó mới lên tám. Nó bị điện giật đến cháy xém cả người. Cháy cả da đầu. Và hai cánh tay bị hoại tử phải phẫu thuật cắt bỏ lìa khỏi thân thể. Vậy mà nó vẫn còn sống. Sống để “trả cái nghiệp” theo lời mẹ nói. Sống để trở thành một gánh nặng cho bố mẹ, một nỗi đau cho người thân, làm hao tổn biết bao thời giờ và tiền bạc của bố mẹ nó trong suốt bảy năm qua. Nó không được đến trường như những đứa trẻ đồng trương lứa, cũng không được chạy nhảy vui chơi với mấy đứa nhỏ cùng xóm, và đau hơn cả là nó không thể ôm lấy bố, ôm lấy mẹ bằng hai cánh tay của mình, không thể dùng một bàn tay nào để vuốt ve xoa dịu trên ngực bố, ngực mẹ, cho cơn giận hờn bực dọc nguôi tan. Lời nói của nó chưa đủ sức thuyết phục bố mẹ quên đi đau buồn của cuộc sống. Nó phải làm một điều gì đó, chưa biết là điều gì, và nó phải nghĩ cho ra để kịp thực hiện đúng vào dịp Tết đến đã cận kề này. Điều nó sẽ làm, dĩ nhiên không phải là một pháp thuật thần thông như phép của Tôn Ngộ Không phạt trừ yêu quái cản đường, mà là một điều rất đơn giản ai cũng làm được nhưng nó thì không làm nổi, và nếu nó có làm nổi thì cũng chẳng có ai dám tin được. Thằng Hào ngồi nghĩ cho ra cái pháp thuật mà nó sẽ làm cho bằng được. Nó ngồi xếp bằng tĩnh lặng, mắt nhắm lại, hít thở đều và nhẹ, bắt đầu cầu đến chư Phật, cầu đến Đức Quán Thế Âm Bồ tát, cầu chư vị Long thần Hộ pháp, để xin các đấng linh thiêng ban cho nó tha lực, tiếp sức cho nó đạo lực nhiệm mầu mà nó luôn tin rằng có. Bên trong cơ thể yếu đuối bạc nhược của nó đang âm ỉ râm ran một quyết tâm dữ dội, và sục sôi một nguồn ý chí vững vàng cứng cỏi. Nó sáng mắt lên, tươi tỉnh mặt mày, và reo vui: “Có cách rồi!”. Lặng lẽ một mình. Bí mật hành sự một mình. Thằng Hào đã cặm cụi miệt mài suốt hai mươi ngày, hai mươi ngày nỗ lực phi thường đến nỗi nó còn chưa dám tin là mình đã làm nên một pháp thuật như vậy. Nó đã thành công rồi. Nó khóc vì vui sướng. Sướng cứ như một nhà bác học vừa mới phát minh ra một điều thần kỳ cho nhân loại vậy. Nó luyện tập lại cho nhuần nhuyễn để chắc chắn rằng pháp thuật của mình hoàn hảo. Trong nhà chưa có ai hay biết được chuyện nó làm, vì căn gác là thế giới riêng của mỗi mình nó, và nó muốn giữ bí mật chuyện kỳ công này cho đến phút cuối cùng trước khi công bố. Nó chỉ tiếc mỗi một điều là nó nghĩ ra ý định hơi trễ tràng, không kịp trước Tết phải hoàn thành. Bấy giờ đã thành công, thì tờ lịch cuối cùng của năm âm lịch đã sắp sửa được mọi người lột bỏ. Đã là ngày ba mươi tháng Chạp rồi. Lỡ trễ rồi, nó muốn để dành món quà tặng cho bố mẹ, và mọi người nữa, vào giờ giao thừa thiêng liêng. Chiều ngày cuối năm, bố nó bồng nó xuống gác để tắm rửa, nó hỏi nhỏ bên tai bố: “Mai Tết rồi, bố làm hòa với mẹ chưa?”. Bố nó ầm ừ không nói. Nó hiểu ngay là mọi việc đâu còn đó. Người lớn giận nhau dai quá, thua con nít nhiều. Lúc tắm xong, mẹ nó gọi lại cho mặc thử bộ quần áo mới, đôi giày mới, nó hỏi nhỏ mẹ: “Mẹ chưa làm lành với bố sao?”. Mẹ nó rơm rớm nước mắt, nói: “Để… từ từ. Mẹ chờ xem bố có xin lỗi mẹ không đã, rồi mới tính sau!”. Chờ đến tối, bố mẹ và chị Huệ có mặt đông đủ, chuẩn bị đón giao thừa, nó lẳng lặng trèo lên gác, nói rằng nằm ngủ cho khỏe và dặn đến giờ giao thừa hãy kêu nó dậy. Chỉ còn năm phút nữa là giao thừa, bố nó lên gác, thấy nó còn thức ngồi tỉnh queo, mặt mày đang háo hức lạ thường. Nó cười với bố, nói: “Bố cầm giùm con cây bút lông mực đen và xấp giấy trắng kia đi!”. Bố nó ngạc nhiên: “Để làm gì?”. Nó lại cười: “Bố cứ mang xuống nhà dưới, rồi bố sẽ biết!”.
Mẹ thắp những nén nhang thơm, khấn vái trước bàn thờ chư Phật và tiên tổ. Bố lặng thinh đứng nhìn. Chị Huệ đứng ngồi không yên, cứ ra cửa ngóng nghe vạn vật trở mình trong đêm trừ tịch. Chờ đến lúc bố thắp nhang xong, thằng Hào mới dõng dạc nói: “Con muốn khai bút đầu xuân để kính dâng tặng bố, tặng mẹ!”. Bố mẹ nó, và cả chị Huệ nó nữa, cùng trố mắt kinh ngạc nhìn nó chừng như không hiểu nó nói gì. Nó bình thản ngồi xổm xuống nền gạch hoa, trước một xấp giấy trắng khổ A4, rồi dùng chân kẹp cây bút vào giữa hai ngón chân, không nhìn ai, không nói không rằng, nó bắt đầu làm nên chuyện phi thường: khai bút đầu xuân bằng chân của mình. Lúc ấy, đồng hồ chỉ 0 giờ 5 phút. Nó viết một bài thơ ngộ nghĩnh: “Con mong bố mẹ hòa bình; Bước qua năm mới nhà mình yên vui; Hôm nay con viết được rồi; Bài thơ khai bút xin mời cùng xem!”… Bố mẹ nó ràn rụa nước mắt, nhào tới ôm con trai vào lòng. Chị Huệ nó cầm “bức thông điệp năm mới” do chính đứa em trai tật nguyền của mình viết nên bằng chân và bằng cả trái tim, đọc to lên ba lần bốn lượt bằng giọng nghẹn ngào xúc động, như để tin chắc rằng mọi người không phải đang mộng mị. Bố nó hôn lên trán nó, rồi nhìn mẹ nó mà nói thật chân tình: “Tôi làm bố mà thua con mình xa quá. Con mình nó có nghị lực phi thường, vượt qua tật nguyền như vậy mà tôi lại yếu hèn nhu nhược thật đáng khinh đáng trách. Cho tôi xin nhận lỗi, xin lỗi mình trước con!”. Mẹ nó không nói được gì, chỉ dang rộng vòng tay ra ôm siết hai cha con vào lòng mình.
Thằng Hào cảm thấy hạnh phúc vô bờ, nó cứ muốn cho giây phút này kéo dài ra, dài ra mãi mãi… Nó cảm nhận được, cảm thấy được từ bên ngoài vừa có một mùa Xuân an vui rộn rã tiếng cười và đầy ắp niềm tin đang tràn vào ngôi nhà của gia đình nó. Pháp thuật nhiệm mầu là đây, là đó, đang hiển lộ trước mắt, đang phơi bày ngay hiện tại. Nó đang còn hứng thú, muốn khai bút viết tiếp hằng trăm bài thơ khác nữa để dâng tặng cho cuộc đời, dâng tặng cho quê hương, dâng tặng chư Phật - Bồ tát - Thánh chúng, tặng cho chị, tặng cho bà con hàng xóm, cho bạn bè, cho muôn hoa muôn thú và cả vũ trụ nữa.
Nhưng thôi, nó để dành chuyện ấy cho ba ngày Tết rảnh rang, còn bây giờ nó phải tận hưởng giây phút ấm áp trong vòng tay âu yếm của bố lẫn mẹ. Nó nhìn thấy bố và mẹ đang nhìn nhau cười. Ôi… nụ cười tươi như hoa nở đón xuân về.
PHÁP TU CĂN BẢN CỦA HỆ NAM TÔNG
VÀ PHÁP TU CĂN BẢN CỦA HỆ BẮC TÔNG
Hôm nay tôi giảng buổi cuối năm với đề tài Pháp tu căn bản của hệ Nam tông và pháp tu căn bản của hệ Bắc tông. Qua đó, đối chiếu cho quí vị thấy mỗi phái có một hướng nhìn khác nhau, vì vậy chia thành Nam tông, Bắc tông riêng khác.
Hệ Nam tông lấy Tứ đế làm pháp tu căn bản. Trong Tứ đế, phần Ðạo đế tức ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thì Bát chánh đạo là phần căn bản tu hành. Bắc tông có nhiều pháp nhưng lấy Lục độ làm căn bản tu hành Như vậy chúng ta đối chiếu pháp lục độ của Bắc tông và Bát chánh đạo của Nam tông, để thấy tinh thần khác nhau của mỗi bên.
Nói về Nam tông, Bát chánh đạo là pháp căn bản, vì vậy người tu phải nắm vững pháp này. Tôi hiểu và dịch Bát chánh đạo là tám đoạn đường ngay thẳng đưa chúng ta đến Niết bàn. Tám đoạn đường chớ không phải tám nẻo đường . Vì mỗi một đoạn đường là một chặng, chúng ta đi từ chặng số một đến chặng số hai số ba, cuối cùng đến chặng số tám thì viên mãn sự tu hành, tức viên mãn con đường đi đến Niết bàn. Cho nên tôi gọi là tám đoạn đường đưa đến Niết bàn.
Tám đoạn đường đó là gì ? Thứ nhất là Chánh kiến, thứ hai là Chánh tư duy, thứ ba là Chánh ngữ, thứ tư là Chánh nghiệp, thứ năm là Chánh mạng, thứ sáu là Chánh tinh tấn , thứ bảy là Chánh niệm, thứ tám là Chánh định.
Chánh kiến là nhận định đúng đắn chân chánh. Nhận định đúng đắn từ đâu mà ra, hàng phàm phu có nhận định này không, muốn có chánh kiến phải làm sao ? Chỗ này lâu nay nhiều người lúng túng khi nghiên cứu nó. Ai cũng có thể nhận định thế này thế kia, nhưng làm sao biết đó là nhận định đúng đắn. Nếu không nắm vững chỗ này tự nhiên chúng ta sẽ lúng túng, không biết thế nào là nhận định đúng đắn, tư đuy đúng đắn. Nếu nhận định sai lầm thì tư duy cũng sai lầm. Vậy nhận định đúng đắn phát nguồn từ đâu ?
Chúng ta nhớ trong Tam tuệ học, thứ nhất là Văn tuệ. Có Văn tuệ rồi mới tới Tư tuệ . Ở đây cũng vậy, muốn có nhận định đúng đắn trước hết phải học kinh tức lời Phật, Tổ dạy. Nhờ học kinh, chúng ta thấm nhuần giáo pháp chân chánh, từ đó nhận định mới đúng, tư duy mới đúng. Ðó là điều hết sức rõ ràng. Nếu không học kinh Phật thì khó có chánh kiến được. Pháp tu này thuộc về Thanh văn thừa, nên bước đầu là nghe lời Phật dạy. Văn là nghe, thanh là âm thanh, nghe được âm thanh Phật dạy mới thấu hiểu. Nhờ thấu hiểu mới có trí tuệ nhận định đúng đắn.
Vì vậy muốn tu theo Nam tông, trước hết chúng ta phải học kinh tức có Văn tuệ, rồi mới đến Tư duy tuệ, và sau cùng là Tu tuệ. Thế nên Văn tuệ là bước đầu để có Chánh kiến. Chúng ta tu, làm việc, phải có nhận định đúng đắn. Suy nghĩ đúng đắn mới có ngôn ngữ đúng đắn, tức Chánh ngữ.
Suy nghĩ đúng là suy nghĩ như thế nào ? Có phải suy nghĩ làm ăn thế này mau giàu, thế kia mau phát tài không? Không phải vậy. Giáo lý căn bản trong hệ A Hàm luôn chỉ cho chúng ta thấy tất cả pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã. Nghĩ như thế là suy nghĩ đúng với những gì Phật dạy. Đó là Chánh tư duy. Nhờ có chánh kiến nên mới có Chánh tư duy.
Suy nghĩ đúng rồi, chúng ta nói năng hay dạy bảo ai cũng đúng với chánh pháp của Phật dạy đó là Chánh ngữ. Hành động đúng như chánh pháp là Chánh nghiệp. Sống cuộc đời an lành giải thoát không bị các nghiệp ác trói buộc là Chánh mạng. Từ Chánh mạng chúng ta cố gắng tinh tấn tiến lên là Chánh tinh tấn. Từ Chánh tinh tấn, chúng ta chuyên tâm niệm các pháp như Tứ niệm xứ ... là Chánh niệm. Có Chánh niệm mới đi tới Chánh định. Trong chánh định, định cuối cùng là Diệt tận định. Ðược Diệt tận định, cũng gọi là Diệt thọ tưỏng định, tức giải thoát sanh tử chứng Niết bàn.
Ngoại đạo cũng có những thứ định như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ, nhưng không có Diệt tận định. Chỉ những người tu Phật, sắp chứng A la hán mới đi tới Diệt tận định. Diệt tận định thì nhập Niết bàn, vô sanh, giải thoát sanh tử.
Cho nên Chánh kiến là chặng đườg ban đầu, chặng đường học Phật. Chúng ta học được chánh pháp của Phật, hiểu đúng rồi mới suy nghĩ đúng. Nhưng không phải học như con vẹt, học rồi còn suy gẫm, tìm hiểu. Suy gẫm thấy đúng chúng ta mới có lời nói và hành động đúng. Người đến với đạo Phật, tu theo Thanh văn thì sở nguyện phải chứng quả Niết bàn, giải thoát sanh tử. Muốn thế cần có đủ tám điều này Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Mỗi một điều là một chặng đường. Ðó là đại cương giáo lý căn bản của hệ Nam tông.
Bắc tông thì lấy Lục độ làm căn bản. Lục độ tức sáu điều cứu thoát: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ . Sáu điều này có công năng chuyển dở xấu thành hay tốt nên gọi là Lục độ. Vì vậy dùng Lục độ để độ lục tệ. Lục tệ tức là sáu điều xấu: xan tham, phá giới, sân nhuế, giải đãi, tán loạn, ngu si. Bố thí độ xan tham, trì giớỉ độ phá giới, nhẫn nhục độ sân nhuế, tinh tấn độ giải đãi, thiền định độ tán loạn, trí tuệ độ ngu si. Kiểm lại chúng ta có đủ cả sáu tệ, cho nên phải dùng Lục độ để cứu mình từ xấu tệ trở thành hay tốt.
Tôi sẽ đối chiếu Bát chánh đạo của Nam tông và Lục độ của Bắc tông cho quí vị thấy. Bát chánh đạo mở đầu là chánh kiến, còn Lục độ mở đầu là bố thí. Hai bên khác nhau thế nào ? Nam tông là phải thấy đúng như chánh pháp của Phật, còn Bắc tông đầu tiên phải có đủ lòng từ bi. Có từ bi mới bố thí, không có từ bi làm sao bố thí.
Như vậy vớí Bắc tông, bước đầu phải có lòng từ bi thương người. Bởi thương ngưởi nên ai khổ mình giúp, ai đói mình cho cơm gạo. Nhưng đói có đói của thân và đói chánh pháp. Người muốn nghe chánh pháp mà không được nghe là đói chánh pháp, hạng này phải bố thí chánh pháp. Ðói cơm thì cho cơm, đói pháp thì cho pháp, nên nói bố thí tài, bố thí pháp. Bố thí pháp thuộc về tinh thần, bố thí tài thuộc về vật chất. Người cần những điều thiết yếu nào chúng ta giúp thứ ấy, đó là tâm bố thí. Tâm bố thí đó phát nguồn từ lòng từ bi. Do thương người nghèo thiếu, ta chịu không nổi nên cứu giúp.
Bố thí trừ bệnh bỏn sẻn tham lam. Ta có tiền của, người ta đói không cho là bỏn sẻn. Ta biết pháp biết đạo, người ta thèm khát muốn được nghe, mà không chịu giảng dạy là bỏn sẻn. Cho nên nhờ có tâm từ bi, chúng ta giúp người bằng những phương tiện vật chất cho người được an ổn. Kế đến giúp phần tinh thần là chánh pháp. Như vậy là chúng ta tu hạnh bố thí, để tiêu diệt lòng tham lam.
Ví dụ quí Phật tử mỗi tháng làm được một triệu bạc, nuôi sống mình khoảng bảy tám trăm, còn dư vài trăm. Có ngưới đói thiếu quá, họ cần một trăm để qua cơn đói, mình nghĩ sao ? Ta dư để dành khi bệnh hoạn có tiền xài, nên không giúp. Như vậy là tâm keo kiệt, ích kỷ chỉ biết nghĩ tớí mình. Ta chưa đau đã lo để dành, người ta đói không thèm cho. Người đang đói và mình chưa đau, việc nào cần hơn? Cứu người hết đói là một nhu cầu cấp bách. Còn mình chưa đau mà để dành thì xa quá, như vậy là ích kỷ, keo kiệt rồi. Ta có dư, thấy người khác đang cần, mình giúp. Nhờ thế tâm tham lam của mình không còn. Nếu cứ lo để dành, tích lũy hoài, được một đòi hai, được hai đòi ba, cho tới trăm ngàn muôn ức, để dành hoài không chán, đó là đại tham. Nên bố thí để diệt tâm tham lam keo kịet. Vì vậy nói bố thí độ xan tham. Đó là pháp tu thứ nhất của Lục độ.
Thứ hai, Trì giới độ phá giới. Nghĩa là chúng ta giữ giới để tiêu diệt lỗi phá giới của mình. Bởi vì người tu thọ giới rồi, tuy có giữ nhưng tương đối thôi, chứ không trọn vẹn tuyệt đối. Thí dụ hàng xuất gia thọ Sa di, chiều Phật không cho ăn cơm. Nhưng đói quá cũng lén ăn cháo hoặc mua bánh mì, như vậy có phá giới không? Có. Còn hàng cư sĩ tại gia có giữ tròn năm giới không? Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Giả sử giữ được các giới khác, nhưng tới giới nói dối thì sao? Nhiều Phật tử làm ăn buôn bán bảo muốn có lời phải nói dối, như vậy có phá giới không?
Quí vị mới thấy chúng ta thọ giới của Phật là để khuôn mình trong vòng đạo đức, để thoát khỏi những khổ đau, nhưng thật sự chúng ta khuôn trong đó không nổi, nên cứ xé rào hoài. Xé rào gọi là phá giới, vì giới là hàng rào. Thường trong luật dạy “phòng phi chỉ ác” tức là ngừa đón lỗi lầm, xấu ác. Cho nên giới là hàng rào bao bọc để chúng ta đừng rớt vào hố tội lỗi. Nhưng nếu mình xé rào thì phải rớt thôi.
Phật vì thương nên dạy chúng ta tu để đạt được bản nguyện giải thoát sanh tử, chấm đứt khổ đau. Nhưng chúng ta tu thì tu, mà những điều Phật răn, Phật cấm cũng cứ lén lén làm. Lén lén chứ không phải công khai, song cũng gọi là phá giới. Phá giới thì nhất định rơi vào hố tội lỗi. Bởi giới này phá được thì giới khác cũng phá. Như phả giới nối dối được, lâu lâu có tiệc tùng ai mời uống rượu, mình tự nghĩ uống chút chút chắc không sao, nên phá thêm giới thứ hai nữa. Ðó là lý do khiến chúng ta rơi vào hố tội lỗi.
Giới là nền tảng bảo bọc chúng ta không rơi vào tội lỗi. Nếu người tu rơi vào tội lỗi thì làm sao bố thí lợi ích chúng sanh. Cho nên muốn bố thí tốt chúng ta phải giữ giới, giữ giới thì không có lỗi phá giới. Cho nên độ thứ hai là trì giới.
Thứ ba là Nhẫn nhục. Trong chúng ta có ai không nóng giận đâu. Nóng giận là bệnh phổ thông, ai cũng có hết. Bởi vậy Phật dạy phải tu nhẫn nhục để trị bệnh nóng giận, nên nói nhẫn nhục độ sân nhuế. Bố thí phá được tệ tham lam, giữ gỉới phá được tệ phá giới. Nhẫn nhục phá được tệ nóng giận Ai cũng biết nóng giận là tệ, nhưng sao lại chứa, nó là tệ thì bỏ đi.
Chúng ta thường tự cho rằng mình làm chủ mình, vậy những gì tệ sao không đuổi nó ra, những gì tốt mới nên nuôi dưõng. Mình làm chủ mà cái tệ thì chứa, như vậy ông chủ này đã dung ăn trộm trong nhà. Nóng giận là tệ mà chúng ta dung dưõng thì làm sao về Cực Lạc, làm sao được Niết bàn. Muốn được Niết bàn, muốn về Cực Lạc phải bỏ nóng giận. Muốn bỏ nó phải có phương pháp. Phương pháp ấy là nhẫn nhục.
Sao gọi là nhẫn ? Không giận là nhẫn. Làm sao để không giận ? Ví dụ người ta chửi mình, lúc đó chúng ta nổi nóng lên miệng sắp la. La thì hiền hay dữ. Vừa nổi nóng lên mở miệng nói là dữ. Bây giờ muốn nhịn làm sao đây ? Có ngưởi bảo nóng, uống ly nước lạnh cho nó mát lại. Như vậy được chưa ? Uống vô mát, một lát nóng lại nữa thì sao ? Chẳng lẽ uống cả chục ly nước sao, như vậy chắc bể bụng. Có người bảo nóng quá niệm Phật. Niệm Phật một hồi hết niệm, nhớ lại nổi nóng nữa. Như vậy niệm Phật thì bớt, buông ra thì nóng lại. Ðó là điều rất khó giải quyết.
Theo tôi thì thế này. Có hai trường hợp, khi chúng ta nổi nóng lên trước nhất là phải nhịn. Làm sao để nhịn? Lúc đó quí vị thử đọc câu thần chú này “Nói là dại, nhịn là khôn”. Nghĩa là khi nóng trong bụng quá, sắp la thì đọc câu thần chú trên. “Nói là dại, nhịn là khôn” ... đọc một hồi quên giận. Chớ lúc đó mở miệng ra thì nói bậy, nói bậy là gây chuyện thương tổn với nhau, là dại rồi.
Ðọc như thế để qua cơn nóng, nhưng muốn tẩy hết nóng giận phải khởi “quán Từ bi”. Quán từ bi là quán thế nào ? Ta nên xem xét như vầy, người đang nổi nóng chửi mình, gương mặt dễ thương không, lời nói dễ nghe không? Mặt họ đỏ, miệng nói bậy. Mặt đỏ nói sàm có phải là người điên chưa? Họ đang điên.
Chúng ta khởi nghĩ họ đang bệnh, đang điên cuồng; mà người bệnh, nguời điên cuồng đáng thương hay đáng giận? Mình tỉnh sáng, người ta bệnh thì phải thương mà tha thứ họ. Như vậy nhờ khởi lòng từ bi, chúng ta bỏ qua được hết. Chứ cứ nghĩ họ nói như thế là gác mình, nói nặng mình thì không bao giờ bỏ đưọc. Nghĩ tới họ là người đáng thương nên hết giận luôn. Ðó là lấy nước từ bi tẩy sạch lửa hận trong tâm mình, không trách, không hờn gì cả.
Cho nên đối trị nóng giận, trước dùng nhẫn nhục cho qua cơn, đừng nói bậy. Qua cơn nóng giận rồi phải khởi quán từ bi để dẹp sạch lòng nóng giận. Ðó là chúng ta khéo tu, biết tu. Ða số người tu nghe nói nhịn không biết nhịn làm sao? Có người nhịn và bảo “tôi nhịn một lần rồi nghen”, người kia vẫn tiếp tục mắng chửi thì bảo “tôi nhịn hai lần rồi nghen”, tới lần thứ ba hết nhịn nổi thì nổ tung. Như vậy chỉ là kếm chế, chứ chưa biết nhẫn. Kềm chế thì có giới hạn, tới mức nào đó chịu hết nổi thì nổ tung. Cho nên chúng ta phải khéo tu. Chúng ta biết nhẫn nhục, biết quán từ bi thì tâm sân hận sẽ không còn, nên nói nhẫn nhục độ sân nhuế. Ðó là độ thứ ba.
Thứ tư là Tinh tấn. Tất cả chúng ta ai cũng có bệnh lười biếng, không nhiều thì ít. Người lười biếng nhiều tới giờ tụng kinh, nhất là buổi khuya nghe đánh kiểng, lăn qua trở lại cựa mình không nổi nên nằm ngủ luôn. Người lười biếng ít lăn qua trở lại năm lần mười lượt rồi cũng ráng trỗi dậy, nhưng uể oải lắm. Người tinh tấn nghe kiểng thì trỗi dậy liền, không chần chờ, chậm lụt.
Phật tử mỗi tối có một thời kinh học sám hối, nhưng hôm nào trong mình hơi uể oải một chút thì nghĩ bữa nay mệt quá, thôi để mai sẽ sám hối bù. Ðó là hiện tượng giải đãi, lười biếng. Khi thấy trong người uể oải, mình cố gắng thức dậy súc miệng rửa mặt, mặc áo vô lễ Phật sám hối hoặc tụng kinh. Nhờ mạnh mẽ vậy, xuất hạn mồ hôi hết mệt. Ngược lại, vừa uể oải liền trùm mền là sẽ nằm luôn.
Vì vậy căn bản của sự tu là phải tinh tấn, nhờ tinh tấn chúng ta tiến mới nhanh. Trong kinh kể rằng, Ðức Di Lặc hồi xưa là bạn đồng tu với Phật Thích Ca. Nhưng ngài Di Lặc bị một lỗi là cầu danh, thường đến nhà quan tướng giáo hóa để được danh lợi, nên việc tu hành chậm trễ . Còn Ðức Phật Thích Ca rất tinh tẩn, Ngài nỗ lực tu nên thành Phật đã hơn hai ngàn năm rồi, mà Dức Di Lặc chưa thành Phật.
Như vậy tinh tấn là gốc để chúng ta đạt được đạo. Ðã là người tu thì phải cố gắng, tinh tấn, đừng chần chờ, đừng giải đãi. Giải đãi làm cho mình tốn rất nhiều thời giờ, trải qua nhiều đời nhiều kiếp vẫn chưa đạt đạo. Chúng ta đừng sợ tinh tấn sẽ sanh bệnh hoạn. Tinh tấn đúng thời đúng tiết thì không bệnh hoạn gì hết. Trừ những người tinh tấn quá đáng mới sanh ra bệnh hoạn.
Chúng ta tu phải cố gắng tinh tấn, không nên lười trễ. Bởi vì con ma lười nó đã nằm sẵn trong tâm mình, chờ có cơ hội nó liền lôi kéo, xúi giục mình ngủ cho ngon, chơi cho khỏe, không chịu cố gắng tu. Nhờ tinh tấn mà ma lười không thể lôi kéo được chúng ta. Nên Tinh tấn là độ thứ tư.
Thứ năm là thiền định độ tán loạn. Người tu Thiền khi ngồi lại tâm nghĩ tứ tung, người tu niệm Phật cũng thế. Do tâm không chuyên nhất nên vọng tưởng dẫn đi tứ tung. Cho nên phải dùng thiền định để phá tệ tán loạn. Thiền định là thế nào? Ðức Phật dạy người niệm Phật muốn Phật Di Ðà đón về Cực lạc thì phải niệm Phật đến nhất tâm. Trong kinh Di Ðà nói rõ từ một ngày cho tới bảy ngày, niệm Phật nhất tâm bất loạn, thì khi lâm chung Phật A Di Ðà cùng chư Thánh chúng hiện ở trước mặt đón mình về Cực lạc.
Nhất tâm bất loạn là không còn một chút loạn tưỏng nào, chỉ có nhất tâm. Có một số người niệm Phật còn lầm lẫn nhất tâm với nhất niệm. Nhất niệm là chỉ còn một mệm Nam mô A Di Ðà Phật, không có niệm nào chen vô đó cả. Nhưng còn niệm thì chưa phải nhất tâm. Kinh nói niệm tới chỗ vô niệm, nghĩa là không còn một niệm nào nữa hết. Nhờ câu niệm Phật ta dứt được những niệm khác, đến khi câu niệm Phật cũng lặng luôn, đó mới gọi là nhất tâm. Ðược nhất tâm thì Phật A Di Ðà và Thánh chúng mới hiện tiền.
Chư Tổ nói pháp tu Tịnh độ là dùng phưong tiện đạp gai lấy gai mà lể. Người lỡ đạp gai trong chân, nên mưọn cái gai khác bén hơn để lể bỏ gai cũ. Gai cũ đã bỏ rồi, nếu còn để cây gai mới ở đó thì sao? Thì cũng như không. Cho nên gai cũ lể được rồi, gai mới cũng phải ném luôn. Hai cây gai ném hết lúc đó chân mới lành. Niệm Phật là dùng câu niệm Phật để trị tâm tán loạn. Tán loạn hết rồi thì câu mệm Phật cũng buông luôn. Nên nói niệm đến chỗ vô niệm.
Người tu Thiền, theo kinh Ðại tứ niệm xứ của Nam tông dạy rằng: Người quán Tứ niệm xứ từ một ngày, hai ngày, ba ngày đến bảy ngày mà tâm không dời đổi, không xao lãng, người đó sẽ chứng từ tam quả A na hàm đến tứ quả A la hán. A la hán là vô sanh. Muốn được quả vô sanh, chứng Niết bàn thì cũng phải trụ tâm nơi Tứ niệm xứ. Trụ tâm nơi Tứ niệm xứ tới không còn chỗ trụ nữa, đó là Niết bàn. Còn người tu theo Thiền tông buông xả tất cả những niệm loạn tưởng . Buông xả tới chừng nào, suốt ngày đi đứng nằm ngồi không còn một niệm loạn tưởng, mới ngộ được lý Thiền. Chỗ cứu kính cũng giống pháp môn niệm Phật.
Tóm lại, phưong pháp tu nào cũng phải dẹp hết loạn tưởng. Nhờ dẹp bỏ loạn tưởng chúng ta ngộ đạo, nhờ dẹp bỏ loạn tưởng chủng ta được Niết bàn, nhờ dẹp bỏ loạn tưỏng chúng ta được về Cực lạc.
Loạn tưởng xấu dở ở chỗ nào mà chúng ta phải dẹp bỏ? Như chuyện xấu bậy thì bỏ được, còn chuyện hay tốt bỏ uổng quá. Mình nghĩ mai đi làm từ thiện, mốt đi nghe pháp, tốt quá bỏ sao đành. Nhưng còn nghĩ là còn loạn tưởng. Bởi vì trong kinh Phật dạy, chúng ta sanh tử luân hồi trong sáu đường, thấp nhất là địa ngục, kế đó là ngạ quỷ, súc sanh, rồi người, a tu la, trời. Trong sáu đường đó, ba đường ác, ba đường thiện. Nếu nghĩ xấu ác, tạo tội nặng thì đọa địa ngực. Nghĩ xấu ác với tâm gian xảo, keo kiệt thì đọa ngạ quỷ. Nghĩ xấu ác với tâm si mê thì đọa súc sanh. Ðó là ba đường ác. Nếu nghĩ phải, xứng đáng tư cách con người thì sanh làm người. Nghĩ lành nhưng còn nóng giận thì sanh làm A tu la. Còn nghĩ làm mười điều lành trọn vẹn thì được sanh cõi trời. Ðó là ba đường lành.
Riêng người dứt hết các thứ nghĩ thì đi đường nào? Ðó là chỗ tôi muốn nêu lên để chúng ta nắm cho thật vững. Còn nghĩ là còn niệm, còn niệm thì còn tạo nghiệp hoặc nghiệp xấu ác hoặc nghiệp lương thiện. Nghiệp ác thì đi ba đường dữ, nghiệp luơng thiện thì đi ba đường lành, nghĩa là còn đi trong lục đạo luân hồi. Bây giờ muốn ra khỏi lục đạo luân hồi thì phải làm sao?
Chỗ này Lục Tổ Huệ Năng đã bảo với Thượng tọa Minh: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay câu đó Thượng tọa Minh liền ngộ đạo. Như tôi đã nói, nghĩ ác thì đi đường ác, nghĩ thiện thì đi đường thiện. Còn đi tức là còn ở trong lục đạo luân hồi. Bây giờ dừng hết nghĩ thiện, nghĩ ác thì “bản lai diện mục” muôn đời của mình hiện ra. Như vậy dứt nghĩ thiện, dứt nghĩ ác thì tâm không còn sanh diệt, tâm không còn sanh diệt thì cái chân thật bất sanh bất diệt hiện tiền.
Chúng ta đã sẵn cỏ cái chân thật ấy gọi là Phật tánh, chân tâm nhưng vì nghĩ thiện, nghĩ ác che phủ nên mình không thấy. Bây giờ dừng được hai thứ này thì nó hiện ra. Vì vậy nghe Lục Tổ nói câu ấy, ngài Huệ Minh liền ngộ. Rõ ràng Tịnh độ hay Thiền Ðại thừa, Thiền tông, Thiền nguyên thủy... đều đi tới chỗ dừng hết các niệm nghĩ tưỏng. Tùy phưong tiện ứng dụng có khác nhưng chỗ cứu kính không hai. Ðó là điểm gặp nhau giữa các pháp tu.
Nhiều người không biết, cứ chỉ trích nhau mà không biết mình đang tu thế nào. Ðó là sai lầm lớn. Trong đạo Phật, cứu kính không hai đường. Khi nào tâm bặt hết những niệm nghĩ tưởng, bặt hết phải quấy hơn thua, đối đãi thì cái chân thật hiện ra. Nên nói tu giải thoát sanh tử là vậy, vì cái đó không sanh không diệt thì đâu còn đi trong lục đạo. Không đi trong lục đạo tức là nhập Niết bàn, là giải thoát sanh tử.
Thiền định cốt dừng tán loạn, nên niệm Phật được nhất tâm cũng là Thiền định, tu Tứ niệm xứ tới nhất tâm cũng là Thiền định. Khi dứt hết tán loạn thì được Niết bàn, không nghi ngờ gì nữa. Ðó là độ thứ năm, Thiền định tán loạn.
Thứ sáu là Trí tuệ độ si mê. Si mê tức là vô minh, nó khiến chúng ta tạo nghiệp rồi luân hồi trong sanh tử . Vì vậy muốn hết luân hồi sanh tử phải có trí tuệ. Bởi chỉ có trí tuệ mới phá tan mê lầm, không mê lầm thì không còn đi trong sanh tử nữa. Bát chánh đạo không nói trí tuệ mà nói chánh kiến. Chánh kiến này từ học mà có, nên thuộc văn tuệ tức hữu sư trí. Còn trí tuệ từ Thiền định phát sanh của lục độ thuộc về trí vô sư. Mỗi bên có một hướng khác nhau.
Hệ Nam tông vào đạo bằng trí tuệ hữu sư, nên trong kinh Pháp Cú, Phật dạy: “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”. Chúng ta mở sáng trí tuệ bằng cách nương theo chánh pháp của Phật. Hệ Bắc tông khai triển trí tuệ vô sư, nên từ Thiền định mà có.
Ðức Thỉch Ca giác ngộ sau khi thiền định dưới cội bồ đề bốn mươi chín ngày đêm, cuối cùng Ngài chứng đưọc tam minh v.v... Giác ngộ do định mà được nên sự giác ngộ đó không có thầy. Vì vậy Phật tuyên bố “Ta học đạo không có thầy”. Không có thầy thì ai dạy ? Do trí vô sư sẵn có vậy. Khi tâm thanh tịnh thì trí này tự sáng, không phải do học mà được. Trí vô sư là trí bất sanh, bất diệt, còn trí hữu sư là trí sanh diệt. Trí vô sư mới cứu chúng ta giải thoát sanh tử. Thượng tọa Minh ngộ được bản lai diện mục là nhờ đi tới chỗ không nghĩ thiện, không nghĩ ác tức dừng tâm đối đãi, bấy giờ trí vô sư hay Phật tánh mới hiện ra, rõ ràng như vậy.
Người tu Phật nói tới giải thoát sanh tử là phải dứt hết hai bên, còn trong vòng đối đãi, làm thiện tu phước thì không bao giờ giải thoát sanh tử, chỉ đi trong ba đường lành thôi. Nam tông tu tới A la hán là Diệt tận định thì nhập Niết-bàn. Các Ngài chỉ mong một đời tu chứng được vô sanh, còn Bắc tông tu để nhận được trí vô sư sẵn có. Vì vậy Bồ-tát tu Lục độ lấy trí tuệ tức giác ngộ làm mục đích cứu kínhh. Ðã giác ngộ rồi Bồ tát thấy mọi chúng sanh đều có tánh Phật, nhưng vì quên thành ra mê. Do đó Bồ tát phát nguyện vào đời độ sanh, giúp tất cả chúng sanh ngộ được tánh Phật sẵn có của mình. Còn A la hán được Diệt tận định rồi thấy chúng sanh mê lầm khó giáo hóa hết được, nên nhập Niết bàn cho yên. Vì vậy trong kinh thường trách: Tu theo hạnh Thanh văn là tiêu cực. Ðó là vì các Ngài đến được chỗ an lành rồi, an trú một mình mà không phát nguyện vào đời độ sanh.
Tinh thần nhập thế của Bắc tông vì thế được gọi là tinh thần Ðại thừa. Chúng sanh nào cũng có của báu nhưng lại quên. Bồ tát thấy biết mà không chỉ thì cảm thấy mình không xứng đáng là ngưới tốt, là người đi trước, nên các Ngài đem hết khả năng, sức lực của mình chỉ mọi người cùng thấy cùng biết, cho tròn bổn phận của mình. Vì vậy Bồ tát không chấp nhận nhập Niết bàn.
Chẳng những Bồ tát mà một vị A la hán như ngài A Nan cũng phát nguyện: “Như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn”, nếu còn một chủng sanh chưa thành Phật, con trọn không nhập Niết bàn. Vì các Ngài thấy mình có hòn ngọc quí, người khác cũng có mà chưa thấy thì nỡ nào làm thinh bỏ đi. Cho nên phải lăn lộn, phải chỉ bảo cho mọi người cùng thấy, cùng biết như mình. Chừng đó thảnh thơí muốn đi đâu thì đi, muổn nhập hay không nhập Niết bàn cũng được.
Vì vậy tâm Bồ tát khác tâm Thanh văn. Thanh văn chứng Diệt tận định rồi nhập Niết bàn. Bồ tát chứng ngộ chân lý rồi, luôn luôn giáo hóa không ngừng nghỉ để tất cả chúng sanh cùng ngộ như mình, đó là bản nguyện của các Ngài. Nam tông chú trọng sạch phiền não được vô sanh, nên lấy Chánh định làm gốc. Bắc tông chú trọng giác ngộ, nhận ra tánh Phật sẵn có của mình, nên lấy trí tuệ vô sư làm gốc. Như vậy hai lối tu có những điểm khác nhau, vì vậy tâm hạnh cũng khác nhau.
Chúng ta học kinh điển Phật, phải hiểu cho tường tận mới thấy đường tu hết sức rõ ràng, không có gì nghi ngờ hết. Phật dạy giải thoát không có đâu xa hết. Ngay nơi cõi này mà không bị vướng mắc, sống được với cái chân thật của chính mình đó là giải thoát, là vô sanh. Thế gian thích sống, nên nghe Phật nói chứng được Niết bàn vô sanh, buồn quá. Còn tu Tiên, luyện được thuốc trường sanh bất tử, sống hoài không chết nên ngườí ta ham. Nói trường sanh bất tử, nhưng chúng ta xem ngày nay còn ông Tiên nào không? Bất tử sao không còn, như vậy đâu phải là chân lý.
Phật nói Niết bàn là vô sanh, không sanh thì làm gì có tử, nếu có sanh thì có tử. Tử sớm là năm bảy mươi năm, tử muộn là vài trăm năm, cũng tử thôi. Chỉ vô sanh mới là bất tử. Ðó là lẽ thực, là chân lý.
Hôm nay tôi giảng về đề tài này để quí vị xét kỹ hai đường lối tu căn cứ vào hai phần giáo điển, một lấy Bát chánh đạo, một lấy Lục độ làm căn bản nên có những điểm sai biệt. Như vậy để nhận ra Bắc tông khác hơn Nam tông ở chỗ nào. Nhiều người nói Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, Ðại thừa là cỗ xe lớn. Nói vậy đúng chưa ? Nếu cho rằng Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ ít độ người, Ðại thừa là cỗ xe lớn độ nhiều người, như vậy không đúng.
Nhiều vị tu theo Nguyên thủy ngộ đạo độ cũng rất nhiều người. Còn vị tu theo Ðại thừa mà không tới đâu thì có độ được ai, làm sao nói nhiều ít. Chỉ kháe nhau ở chỗ, người tu chứng Diệt tận định nhập Niết bàn, ngang đó nghỉ vĩnh viễn không độ sanh thì mang tinh thần Tiểu thừa. Còn người tu ngộ được Pháp thân rồi, lăn lộn trong đời để độ chúng sanh không cùng, thì mang tinh thần Ðại thừa. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy giá trị đường lối tu của mỗi bên. Nhưng phải tu tới nơi kìa, chớ còn tu lơ mơ cũng không thấy không biết được gì. Giá trị ở sự tu chớ không phải giá trị ở chỗ học nhiều. Học nhiều mà không tu thì cũng không có kết quả.
Vì vậy tôi mong mỏi tất cả cố gắng hiểu, ứng dụng tu cho được tốt. Như vậy là tự cứu mình và cứu được mọi người. Nếu không chịu tu, bản thân chúng ta không tự cứu được thì mong gì cứu ai. Mong tất cả cố gắng thực hiện tu hành đúng như lời Phật Tổ dạy.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét