THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012
Lật Ðổ Sự Ðộc Tài Của Sắc Tướng
Lật Ðổ Sự Ðộc Tài Của Sắc Tướng
Vượt Giới Hạn: Tự Coi Mình Như Một Vị Thần
Lực ái dục có thể ảnh hưởng tới chúng ta trong hai cách. Bằng các pháp tu tập của Mật giáo lực ái dục này có thể được chuyển hóa thành trí huệ an lạc và như vậy trở thành một năng lực dũng mãnh trong cuộc phát triển tâm linh của chúng ta. Thông thường, lực ái dục tạo thói quen chấp thủ, làm giảm ý thức, gia tăng vô minh và bất mãn.
Một trong những công việc chính yếu của hành giả là nhận định thật chính xác những nhân tố gây ra chu trình bất mãn này rồi ứng dụng pháp đối trị thích hợp nhất để tiêu diệt chúng, như vậy lực chuyển hóa mới có nhiều quả lớn nhất.
Theo Mật giáo, chúng ta bị kẹt trong sự bất mãn vì quan kiến về thực tại của mình rất chật hẹp. Chúng ta có quan niệm rất giới hạn về mình là ai, và mình sẽ trở thành cái gì, kết quả là chúng ta thấy mình thấp kém, xấu xí, cảm thấy bất lực và không hy vọng.
Khi còn có ý kiến về bản thân như vậy thì cuộc đời của chúng ta vẫn còn vô ý nghĩa. Nhiều người nghĩ rằng loài người không hơn loài khỉ bao nhiêu, tâm của con người chỉ là một loạt những phản ứng hóa học và xung điện trong bộ óc. Quan niệm này làm cho con người chỉ là một khối vật chất không thể vươn lên một bình diện cao hơn nào cả. Nếu vậy thì người ta sống để làm gì? Hay là chỉ để hưởng thụ những lạc thú trước khi trở về với cát bụi?
Mật giáo thách thức quan niệm thấp sáng này về tiềm tàng của con người bằng cách dạy chúng ta coi mình và người khác có vẻ đẹp siêu việt, là những vị thần. Một trong những pháp tu tập cốt yếu của tất cả các cấp trong Mật giáo là giải trừ những ý niệm thông thường về bản thân, rồi trong khoảng không mà những ý niệm này tan biến sẽ xuất hiện thân ánh sáng rực rỡ của một vị thần, đó là biểu lộ trong sáng nguyên thủy của chân tính. Càng tập coi mình như một vị thần thiền quán như vậy, chúng ta càng bớt bất mãn và phiền não. Sự tự quán tướng thiêng liêng này làm cho chúng ta có khả năng điều khỉển đời sống của mình và tạo cho mình một môi truờng trong sạch để chân tính có thể hiển lộ.
Các vị thần thiền quán trong Mật giáo khác với của thần linh trong thần thoại của các tôn giáo. Ở đây, vị thần mà chúng ta chọn để đồng hóa là tượng trưng cho các phẩm tính cốt yếu của kinh nghiệm giác ngộ trọn vẹn tiềm ẩn bên trong chúng ta. Vị thần thiền quán là nguyên mẫu của chân tính, tính chất sâu xa nhất ở mức sâu nhất của tâm thức. Trong Mật giáo, chúng ta tập trung tâm vào một hình nguyên mẫu như vậy là đồng hoá mình với hình đó để kích thích những phương diện sâu xa nhất của mình rồi đưa chúng vào thực tại của chúng ta. Nếu tự coi mình đã sẵn những phẩm tính thanh tịnh, hùng mạnh và đầy đủ khả năng thì chúng ta sẽ thực sự phát triển những phẩm tính đó, còn nếu vẫn coi mình là thấp kém thì chúng ta sẽ không vươn lên tới đâu cả.
Một thí dụ về pháp chuyển hóa Mật giáo, chúng ta có thể quán tưởng mình là Văn Thù, một vị thần cao quý thường được vẽ với mầu vàng cam, tay phải cầm gươm trí huệ, tay trái cầm quyển kinh "Bát Nhã". Nhưng một hình quán tưởng như vậy không phải là đức Văn Thù thực sự. Văn Thù thực sự là trí huệ, là sự trong sáng nguyên thủy của tâm đã thực hiện trọn vẹn tiềm năng của mình, và mục đích của pháp quán tưởng này là thúc đẩy sự khai mở trí huệ đã có sẵn bên trong chúng ta. Thanh gươm của Văn Thù tượng trưng trí huệ đoạn lìa vô minh và tà kiến. Càng quán tưởng sâu xa về phẩm tính của một vị thần thiền quán, chúng ta càng kích thích tâm của mình phát triển những phẩm tính đó.
Vào lúc đầu, việc quán tưởng mình là thần linh này phần lớn là giả tạo, nhưng nếu kiên trì thực hành pháp thần linh quán chúng ta sẽ có thể cảm nhận vị thần tự sinh này rõ ràng hơn, hình tự tạo của mình trong lúc này nhiều. Tâm của chúng ta sẽ hợp nhất với tâm của vị thần, những kinh nghiệm qua các giác quan thông thường, như nghe, nhìn - sẽ được chuyển hóa thành những lạc thú của vị thần. Ðây không phải là truyện thần tiên, mà sự chuyển hóa như vậy là kinh nghiệm của vô số hành gỉa Mật giáo trong quá khứ và không có lý do gì để chúng ta không thể đạt được những kinh-nghiệm siêu việt này.
Những Vấn Ðề Của Việc Quán Tưởng
Bạn có thể thắc mắc : " Tại sao tôi lại phải làm như mình là Văn Thù hay một vị thần nào khác? Ðời sống của riêng tôi thì cũng đủ khó khăn rồi, tại sao tôi lại thay đổi hình dạng, khoác vào hình dạng của một vị thần?"
Nên nhớ là khi quán tưởng mình như Văn Thù, chúng ta không biểu lộ một cái gì khác với bản chất của mình. Chúng ta đã có sẵn những phẩm tính sâu xa của một sự biểu lộ thiêng liêng như vậy bên trong mình lúc này. Chúng ta thực hành thần linh quán là để nhận thức rõ hơn và trau dồi những phẩm tính này không chịu kẹt trong thái độ tự hạ cho rằng mình là xấu, hèn kém và vô dụng.
Có thể bạn vẫn còn thắc mắc :"Nhưng làm sao Văn Thù hay một vị thần nào khác lại có thể là chân tính của con người đã có sẵn trong tôi?. Hình dạng của tôi không giống một vị thần nào cả. Tôi không vàng, xanh hay lục. Tôi không có nhiều đầu, nhiều tay như một vị thần". Ðể giải đáp những thắc mắc này, trước hết chúng ta phải xét kỹ để biết mình thực sự là ai.
Bộ mặt hiện tại của bạn không phải là bạn, xương thịt của bạn không phải là bạn. Không có một bộ phận cơ thể nào là chân thực con người bạn. Có thể nói thân thể của bạn giống như một người máy robot, vì nó không thể tự hoạt động mà phải được điều khiển bởi một vật khác. Cũng giống như chương trình máy tính điều khiển người này, tâm của bạn (hay thần thức, linh hồn, gọi là gì tùy ý) chính là vật làm cho thân thể có sự sống . Vì vậy, nếu muốn tìm chân tính của mình, nếu muốn biết cái gì chịu trách nhiệm cho lối sống của mình, bạn phải nhìn vào tâm thức.
Ðiều thứ nhì cần phải biết là từ lúc sinh ra cho tới bây giờ bạn đã tự biều lộ nhiều cách khác nhau. Giống như tất cả mọi người, bạn thường thay đổi hình dạng. Thí dụ, khi nổi giận, bạn trông giống một con quỷ, còn khi đầy tình cảm yêu thương thì bạn giống như một thiên thần. Những cảm xúc biểu lộ như sân hận, thanh thản, ganh tị, yêu thương, từ bi, si mê hay sáng suốt, đều không phát sinh từ cơ thể, hay thân vật chất, mà tự lực tâm của bạn. Tâm có khả năng sinh ra hàng ngàn cảm xúc và trạng thái khác nhau, còn thể xác chỉ biết đi theo theo sự dìu dắt của tâm. Nhưng chúng ta thường đồng hóa mình với thể xác hơn là với tâm. Chúng ta có khuynh hướng coi thể xác là chủ nhâ, còn tâm chỉ là phụ thuộc và chúng ta gần như là nô lệ của thể xác. Chỉ cần coi truyền hình vài phút là thấy rõ nền văn hóa của chúng ta dành bao nhiêu năng lực để phục vụ thân xác và một phần nhỏ nào để tu dưỡng tinh thần. Vì vậy mà sự việc quá rối loạn.
Ðặt thể xác trước tâm là một điều sai lầm, nhưng chúng ta lại còn không biết rằng thể xác vật chất thô kệch không phải là thể độc nhất mà mình có. Ngoài thể xác chúng ta còn có một thể ý thức thuộc một loại vật chất tinh tế hơn thể xác và liên hệ chặt chẽ với các mức tâm thức sâu. Từ những mức tinh tế này lực trí tuệ an lạc từ chỗ tiềm ẩn sẻ phát khởi một năng lực có sức mạnh chuyển hóa hoàn toàn tính chất đời sống của chúng ta. Tại đây, các vị thần Mật giáo được tượng trưng cho sự phát triển trọn vẹn từ lực trí huệ an lạc này, do đó, có thể nói rằng một vị thần như vậy, dù có mầu gì và có bao nhiêu mặt, tượng trưng chân tính của chúng ta và quả vị mà chúng ta có thể đạt được. Vì vậy thần linh quán không phải là tưởng tượng điều bất khả, mà là một phương pháp rất thực tiễn để sống với tiềm năng cao nhất của mình qua việc tu tập và chuyển hóa tâm.
Mới nghe thì thần linh quán có vẻ xa lạ và không thực dụng, nhưng chúng ta có thể biết qua về sự hiệu nghiệm của pháp môn này bằng cách nghĩ tới những phương pháp tương tự đã cho thấy giá trị của chúng với cả những người đa nghi nhất. Thí dụ, có nhiều trường hợp được ghi nhận về những người tự chữa bệnh ung thư và những bệnh khó chữa khác chỉ bằng thực hành pháp quán tưởng. Thay vì chịu thua bệnh tật, những người này coi mình như hoàn toàn lành mạnh. Họ không nghĩ tới hình ảnh bệnh hoạn, thay vào đó là hình ảnh đầy sinh lực. Trong nhiều trường hợp phương pháp này tỏ ra hiệu nghiệm ngay cả sau khi các y sĩ đã bỏ tất cả hy vọng.
Sức khỏe của cơ thể và tâm chính yếu là vấn đề tự quán sát. Những người nghĩ xấu về chính mình, dù với bất cứ lý do nào, sẽ không thể nào vươn lên cao hơn được, trong khi những người biết nhận ra và khai thác các nguồn năng lực nội tại có thể vượt qua những tình trạng khó khăn nhất. Thần linh quán là một trong những phương pháp tốt nhất để nâng cao hình ảnh tự thân và đó là lý do Mật giáo được coi là đạo pháp mạnh và nhanh trong việc thực hiện tiềm năng vĩ đại của chúng ta.
Chướng ngại lớn nhất cho sự chuyển hóa bản thân thành một vị thần Mật giáo chính là sự bám giữ vào sắc tướng thông thường của chúng ta. Chúng ta đã quen chỉ thấy mình là một người thông thường, chứ không tự coi mình là một đấng giác ngộ. Chúng ta không thấy mình có thân ánh sáng của một vị thần mà vẫn đồng hóa mình với thân xác thô kệch. Chúng ta không bao giờ có thể tiếp xúc với chân tính thanh tịnh nguyên thủy của mình nếu còn cho rằng tâm của mình không có gì khác hơn những cảm xúc và những ý nghĩ thô kệch.
Vậy, nếu muốn thực hiện trọn vẹn, chúng ta phải tìm cách thoát khỏi sự độc tài của hình tướng và ý niệm thông thường. Chúng ta phải hiểu rõ là không nên nghĩ về thân tâm, hay hình ảnh của bản thân mình, một cách thô thiển và giới hạn. Nếu chỉ biết chấp nhận sắc tướng thông thường thì chúng ta sẽ mỗi lúc mỗi phiền não, bất an và bất mãn hơn.
Lưỡng lự và sợ sệt là sản phẩm của tâm nhị nguyên, cái tâm tạo ra một chuỗi bất tận những ý nghĩ mâu thuẫn như: "Hy-vọng mình trông đẹp nhưng hình như mình xấu". Ðây cũng là lối nhận xét nông cạn mà chúng ta thường mắc phải. Hình dạng bên ngoài không phải là thước đo giá trị bên trong của bất cứ ai, nhưng chúng ta lại hay sợ những khuyết điểm thân thể có thật hay tưởng tượng nào đó. Có những người tuyệt thực cho tới chết vì họ thấy mình quá xấu, vô giá trị. Ðây là trường hợp cực đoan, nhưng tôi nghĩ rằng đa số chúng ta tự coi nhẹ và tự làm cho mình khốn khổ vì lý do này hay lý do khác.
Tâm Trí Xao Ðộng
Có khi tâm chúng ta chạy ra khắp hướng cùng một lúc, ngó bên này, nhìn bên kia, tìm kiếm một cách tuyệt vọng. Nhưng tìm cái gì? Chúng ta tìm một cái gì vô danh có thể làm cho mình vững chắc và an toàn, tìm khắp nơi vì vậy mà tâm luôn xao lãng. Chúng ta rất khó tập trung vào việc mình đang làm vì một phần của tâm đó bất mãn và đã bắt đầu tìm kiếm cái vô danh khác đó. Có khi làm một việc gì mình thích chúng ta cũng để mất tập trung. Như vậy không những chúng ta không tìm thấy ý nghĩa cao cả và mục đích của cuộc đời mà lại còn hay thất bại trong các công việc thông thường của mình.
Dù có ý niệm quá giới hạn về mình, chúng ta có khuynh hướng quay ra bên ngoài để tìm giải đáp cho những vấn đề của mình. Quen nghĩ là mình không hoàn hảo, chúng ta không nhìn vào nguồn lực bên trong mà chỉ tìm ở ngoại cảnh. Tìm kiếm như vậy là vô ích vì không một người nào, một đồ vật nào hay một tư-tưởng nào có thể thỏa mãn dục vọng của chúng ta khi nào nội tâm vẫn chưa trọn vẹn. Chắc chắn quyền lực và của cải không phải là giải pháp để chúng ta có được sự thỏa mãn lâu dài và thanh thản tâm hồn.
Ngay cả khi quay khỏi vật chất, hướng về một thực tại tâm linh cao cả nào đó để tìm giải đáp, những ý niệm hạn hẹp về bản thân vẫn có thể giới hạn nhiều những lợi ích mà chúng ta có thể đạt được. Tín đồ của các tôn giáo thường cảm thấy có một khoảng cách không thể vượt qua giữa họ và một đấng cao cả nào đó ỡ một nơi nào đó trên trời. Càng có ý kiến thấp về tiềm năng của mình thì lời kêu cầu Trời hay Phật của chúng ta càng thảm thiết, nhưng khi còn cuộn mình trong sự tủi thân thì chúng ta sẽ không nhận được bao nhiêu lợi ích.
Thám Hiểm Nội Tâm
Phương pháp tự coi mình như một vị thần là pháp đối trị thái độ tự hạ này. Càng tự coi mình là có thân thể và tâm bằng ánh sáng thanh tịnh, chúng ta càng tự mở rộng để đón nhận các lực lợi ích có ở bên ngoài cũng như bên trong mình. Bằng pháp quán tưởng, chúng ta có thể mời gọi các lực nội tại chữa những căn bệnh nguy hiểm nhất. Như vậy, thân và tâm tùy thuộc lẫn nhau, tâm giữ việc quy định kinh nghiệm sống của mỗi người. Nếu hình ảnh mà chúng ta hình dung về chính mình là tốt thì tự nhiên chúng ta sẽ hành động một cách tự tin, gây ấn tượng mạnh và đầy sinh lực đối với người khác. Ngược lại, nếu có ý kiến xấu về bản thân, chúng ta sẽ có vẻ yếu ớt và không có năng lực, thu hút nhìều vấn đề rắc rối, dễ gặp tai nạn và bệnh tật.
Tùy theo nhân sinh quan của mình mà chúng ta thành công hay thất bại, mạnh khỏe hay bệnh tật, đẹp hay xấu, vui hay buồn. Nhưng khi gặp khó khăn trong đời sống, chúng ta lại quen nhìn ra bên ngoài mình để tìm giải pháp. Thay vì nhìn thẳng vào tâm rồi tạo một thái độ có khả năng chuyển hóa kinh nghiệm sống của mình, chúng ta cố sửa đổi hoàn cảnh bên ngoài để giải quyết vấn đề. Nhưng như vậy không bao giờ mang lại thỏa mãn lâu dài, vì dù chúng ta có thay đổi hoàn cảnh nhiều bao nhiêu mà không kèm theo một sự chuyển hóa tâm sâu xa thì đó cũng chỉ là thành công tạm thời. Sớm muộn gì những vấn đề cũ sẽ tái xuất hiện và chúng ta lại khó chịu và bất mãn như trước.
Chúng ta đều có chân tính thanh tịnh nguyên thủy, nhưng việc tiếp xúc với chân tính không phải là dễ. Những tình cãm và tư tưởng thông thường đầy trong tâm làm cho chúng ta không biết tới sự rung động tinh tế của chân tính. Ðể tiếp xúc với chân tính, chúng ta cần phải dẹp mọi ý tưởng xao lãng và thoát khỏi sự kiềm chế của sắc tướng và ý niệm thông thường. Nói cách khác, chúng ta cần phải tạo một không gian trong đó chân tính có thể hoạt động mà không bị gián đoạn. Như vậy khi dùng kỹ thuật quán tưởng mình như một vị thần , chúng ta sẽ không giả vờ, mà sẽ làm hiển lộ những phẩm tính thiêng liêng vốn luôn luôn hiện hữu bên trong chúng ta.
Các pháp sơ khởi Mật giáo chính là những phương pháp tạo không gian thiết yếu này. Nếu tìm cách dùng những năng lực chuyển hóa rất mạnh của Mật giáo mà không thực hành các pháp sơ khởi trước thì sẽ không thành công mà lại còn có hại. Máy bay phản lực là phương tiện di chuyển nhanh nhất, nhưng một người không có sự luyện tập mà ngồi vào ghế phi công thì sẽ chỉ đi tới tai họa. Cũng vậy, Mật giáo là phương pháp nhanh nhất để đạt thực hiện trọn vẹn, nhưng nếu thực hành mà không có viẹc sửa soạn thân tâm trước thì sẽ cực kỳ nguy hiểm và như vậy là không hiểu mục đích của Mật giáo.
LỄ GIÁO
Bấm vào biểu tượng Play để nghe
Lễ là cách bày tỏ ý cung kính.
Lễ giáo là giáo lý của cách bày tỏ ý cung kính, hay cũng tức là cách bày tỏ ý cung kính,là một phương pháp giáo hóa, một giáo lý tốt đẹp quan trọng của đời sống nhơn loại.
Lễ giáo là nền tảng của sự thương yêu, thiện cảm, thân thiện, dung hoà tốt đẹp với nhau, ấy là phép sống đời tốt đẹp nên gọi là lễ phép. Lễ phép là một qui tắc, là phép tắc, là một kỹ niệm thiện, mà nguười có lễ phép, là sẽ được sự vui sướng nhứt trong đời.
Nhứt là sự lễ bái, sẽ làm cho vơi bớt đi nỗi khổ của trong người, mà thấy tâm hồn càng sạch nhẹ, an ổn, vui vẻ và thêm sự mừng rở nữa. Lễ phép là một hiếu thuận, mặt đất, của sự sống chung, hoà hiệp, quý báu lắm.
Kẻ mà biết lễ bái thì đời sống trở nên tự do, bác ái, rộng rãi và dễ thành công; vì trọn đời vĩnh kiếp, sẽ không còn vị kỹ tự cao và không có ai ghét giận thù nghịch, bỡi lẽ đối với ai ai cũng lễ bái hòa thuận được tất cả.
Đời mà có lễ giáo, thì không bao giờ chiến tranh khổ nạn loạn rối nhau. Cũng như xưa kia thời loạn đức Khổng Tử đem lễ giáo dạy ra, nên sớm được thái bình, còn đời sau, đang thái bình mà trở nên loạn biến, là bởi người ta quên lần lễ giáo, thế nên gọi lễ ấy là đạo, vô lễ tức là đời, sửa tập lễ giáo ấy là sửa đời lập đạo hay cũng gọi là sửa lập đời mới tốt đẹp trở lại.
Lễ giáo có ba phần gồm nơi thân, khẩu và ý, kêu là hột giống lễ, thân là võ, khẩu là ruột, ý là ngòi. Thân vỏ lễ, là đầu và tay, chân, năm thể mọp sát đất! Khẩu ruột lễ, là miệng nói lời cung kính ngọt! Ý ngòi lễ, là ý tưởng niệm thành Phật mến trọng! Gồm đủ cả ba như thế, mới trọn gọi là lễ phép được.
Và nếu trọn hột giống lễ, tròn trịa đầy đủ chắc thật, mà gieo trồng tại đâu, là nơi ấy ắt sẽ sanh cây trổ trái kết quả về sau, vậy nên gọi miếng đất xấu là ác, miếng đất tốt là thiện, miếng đất trong sạch là đạo đức, là chổ gieo trồng hột giống lễ, có 3 chi là người già, người trí và người đạo đức, để phải được kết quả ảnh hưởng ngày sau đó. Như thế nghĩa là, kẻ nào thật tâm tôn sùng cái ác là sẽ trở nên ác thấy, thật tâm tôn sùng cái thiện là sẽ trở nên đạo đức. Cũng tức là:
1) Người ta muốn được ích lợi cho thân, muốn cho thân sống dài, là phải kỉnh trọng cái thân người lớn tuổi hơn, kính lão đắc tràng, nghĩa là ai muốn được trường thọ sống lâu, thì đừng làm ác để phải bị chúng giết hại sớm mà phải xem gương của những bậc ông già kia, ấy là kẻ thiện lành, khôgn gây sự ác hại ai, nên họ mới được sống đến già như thế.
2) Người ta bằng muốn được ích lợi cho trí muốn cho trí sáng thông, là phải kỉnh trọng cái trí của người học, dầu lớn hơn ta, hay nhỏ tuổi hơn ta, nhưng trí sáng thông hơn ta, ấy tức là thầy ta, ta đều phải nên lễ bái, gieo trồng hột giống lễ, vì có cung kỉnh mới có vâng lời, có quý trọng mới có noi gương, thì mới có thể học tập, hành theo như người, được như chư Thiên cao thượng.
3) Còn như người ta muốn lợi ích cho tâm muốn cho tâm chơn thiệt chánh ngay tròn lớn, là phải kỉnh trọng cái tâm của người tu, vì người tu là trau tâm, nên dfầu cho hạng bậc nào đi nữa, dầu cho trẻ con nghèo thấp xấu xa, cũng có thể là thầy dạy đạo gương mẫu của ta, mà ta hằng lễ bái cúng dường hầu hạ, để được tu tập y như người: ấy là chổ miếng đất tốt quý hơn hết, trong sạch hơn hết, để cho ta gieo giống tâm, lễ bái tôn trọng, hầu được cho ngày sau kết quả tâm, quả Niết-bàn như Phật là vĩnh viễn.
Thế nên gọi là hột giống lễ bái có ba điều ích lợi : ích lợi vì thân, ích lợi cho trí, ích lợi cho tâm, hay là vì thân, vì trí, vì tâm, nên mới phải có lễ bái giáo pháp.
Kìa những người thường nhân lớn nhỏ, người ta lễ bái kẻ ác, là không phải kiêng sợ nó, mà cũng là sợ cái ác tâm của mình, tập nhẫn nhục để đè nén cái ác trong tâm của mình. tập nhẫn nhục để đè nén cái ác trong tâm xuống, để đừng chống cự với ai ai, là ý muốn tránh sự chết khổ cho thân người, thân mình và tất cả, hay cũng là sự lễ bái để van xin cái lợi danh, tánh mạng, nhu cầu chỉ cho thân đó vậy. Kìa người giàu có ông già, mà tự lễ bái người tuổi trẻnghèo hèn, là bởi các bậc ấy muốn cầu cho cái trí, bởi mình là đang thiếu trí, khổ sở lạc lầm.
Kìa nữa ông vua ông quan mà tìm kiếm lễ bái người tu xấu xa thấp thỏi, là vì các vị ấy đang lúc phải cần dùng tâm, cái tâm chơn tròn lớn chánh thiệt, thì mới nên hay cho sự ích lợi lớn lao và bền vững không thất bại. Thế nên xưa kia Phật và Tăng xin ăn, mà các vua quan, chư Thiên, Bồ Tát lễ bái, là không có điều chi lạ cả. Bởi địa vị càng quan trọng, sự việc càng nhiều, lòng tự ái càng sanh, là cái chơn tâm sẽ lần hồi tội lỗi hao mòn hư hoại trở lại, nghĩa là mất đi sự bình đẳng trong sạch của lẽ thường, như buổi lúc ban đầu kia vậy.
Do đó mà đức Huệ Năng xưa, rầy dạy những người lạy đầu không sát đất rằng: Lạy để trừ kiêu mạn, đầu lạy sau cách đất chấp mình thì tội sanh, quên công phước không bực.
Ông Đạt-ma nói: “Dứt kiêu mạn thì đắc quả A La Hán “ mới dứt luân hồi sanh tử tương đối được.
Kìa như Bồ Tát Thiện Huệ, đầu tay chơn mọp sát trên vũng bùn lầy, xõa tóc lót chơn cho đức Phật Phổ Quang Như Lai, mà được thọ ký quả Phật Thích Ca Như Lai. Về sau, ấy bởi công đức hạ mình tôn kính đạo, nên mới đắc đạo.
Lại như con voi và con vượn, hạ mọp quên mình dâng nước trái cho đức Phật Thích Ca, mà được san hlên cõi trời; thật thế, kẻ biết mình thấp là sẽ được cao, nay thấp là mai sẽ cao, thân thấp là tâm trí sẽ cao, càng thấp bao nhiêu là sẽ càng cao bấy nhiêu, người trí thấy rõ ngày xa về sau là như thế.
“Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị”, dầu ta đã đến được địa vị nào, ta cũng vẩn là đang ở lớp giữa mà thôi, vì nên ta bao giờ cũgn còn kẻ khác nữa. Bởi biết thế nên kẻ sống bằng tâm, cho rằng: tự cao là cái dốt, cái khổ, cái chết, cái ác, cái thấp thỏi hẹp hòi địa ngục, vì càng tự cao, là địa ngục sẽ càng xa sâu thêm mãi vậy.
Và cũng là các nhà tu, thường gọi rằng: đời là một cái hố chông gai nguy hiểm, nhưng cái cây gậy lễ phép, nó sẽ giúp cho người vào ra thong thả, tánh mạng vững vàng và lại còn cứu vớt được biết bao chơn loại, thật vậy lễ giáo là cảnh thiên đường của người trí, vui tươi cao thượng an nhàn, mà cũng là s ự xinh đẹp nhất trần gian, là cái đẹp nết hạnh hơn là sắc diện thân hình nhơn loại. Quý nhất là sự lễ giáo, là người ta có biết lễ phép vơi nhau, thì không bao giờ chiến tranh nhau, bằng tội lỗi sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, chơi bời sai quấy.
Nhờ lễ giáo mà từ loài thú, cho đến trẻ con, thảy được nảy nở lòng hơn, biết thiện. Kìa một người biết lễ phép đối với tất cả, thì sẽ được mọi sự tha thứ của tất cả, sẽ được cái lợi đến biết bao, và nhất là như đứa bé con lễ phépkia, được người ta nâng cao khỏi đầu, để trên lưng vay, mà không ái ngại. Đúng lý như vậy, hạ mình là hay hơn hết. “ Muốn được người tôn phục mình, thì trước phải phục tôn người, gieo nhơn hái quả không sai chạy, người ghét người thương chớ bất bình”. Xưa kia Ngài Đạt Ma lạy Tôn Thắng chín lạy, nhưng rồi Tôn Thắng sẽ lạy Đạt Ma trở lại mười tám lạy, đâu có mất chi đâu.
Khác nào học trò lạy thầy trau trí đức, để ngày sau nên ra, đệ tử sẽ lạy gấp muôn lần, nhơn quả vay trả xoay vần, mà về sau là được nhiều hơn lúc trước.
Thế nên đức Khổng Tử lập ra nhu đạo là giáo lý nho nhã nhu hòa dẻo ai mềm yếu, để thắng được sự mạnh cứng dở bòn, Ngài cho rằng: Người đời thường tật đố với kẻ trên hơn, nhưng lại thương xót người thấp kém, vì vậy mà đạo Ngài là đạo làm con, Ngài và chư đệ tử thảy xưng con với thiên hạ.
Và lúc nhỏ Ngài tập lễ bái đến khòm lưng, cục đá, khúc cây, cái chi Ngài cũng lễ cả, Ngài lễ tát cả mọi người cho đến con vật, như thế là để tập quên mình, theo nhu đạo.
Ngài chỉ ra kìa, loại thú còn có lễ giáo thân thiện nhau thay, hai con cá gặp nhau, đâu đầu xuôi lặng, để tỏ kính ý cho nhau, con chim còn biết chiu chít gật đầu, con mèo thì lấy tay rờ với, con lợn thì biết hít hưởi hôn nhau.
Vậy nên Ngài dạy tiếp lễ giáo là: con thì sáng chiều phải lạy cha mẹ đền ơn và xin học hỏi, đối với anh chị thì khi có lỗi phải lạy, cùng lâu ngày gặp nhau, cũng phải lạy, đi và về phải lạy cha mẹ, xá chào anh chị; phép lễ bái là lễ bái người sống hiện tại bây giờ, vì sự cung kỉnh là để vâng lời, vâng lời là để thực hành theo, cùng sự biết ơn là phải ngay trong lúc sanh tiền mới phải.
Sở dĩ đời sau, người ta lạy bàn thờ kẻ chết, ấy đó là sự lập lại việc trước, để làm gương hiếu thảo dạy dổ cháu con, cùng tập cho trẻ nhỏ ham chơi ngang ngạnh, tập lạy kẻ chết, là để cho quen lần lể bái người sống cho được, có như thế, tâm mới trọn thiện, mới được học, mới yên thân cho về sau.
Và phép làm cha mẹ là phải chịu cho con lạy bái, đặng cho con thêm đức tánh, mà cần nhứt là mình chẳng khá tự cao, vì tự cao là mất đức hạnh; vậy nên con càng lạy, là mẹ cha phải càng xét mình khiêm tốn, như vậy kẻ trên dưới đều được thêm đức quý cả.
Bằng trái lại, cha mẹ tự cao, còn con khiêm nhượng, tức là người lớn có học giác ngộ trí thức kinh nghiệm nhiều, mà còn thấp kém thua trẻ nhỏ, hay như không dám cho con lạy, bởi mình quá hư tệ, như thế dung là càng dưỡng, tập hại cả dưới trên hỗn độn. Vậy nên thuở xưa con mà không biết lạy, vong ân thất học là cha mẹ chẳng bảo nuôi.
Lại như khi một đứa trẻ bước chân vào trường học là “Tiên học lễ hậu học văn” còn người ở đời không lễ phép, là chẳng yên vui sống đời được.
Xưa kia vua quan thầy giáo, người ta đều lạy cả, là bởi các bậc ấy thi ân làm nghĩa xoay vần chẳng chịu đáp ơn tiền bạc, chẳng vì tiền bạc mà tuyệt niềm nhơn nghĩa ân hậu!
Cho đến như ông thầy dạy đạo, dạy học trò tu, là rất lựa chọn, nên trong “cửa lễ nhà hạnh”, chứa toàn là bậc trí thức đức cao, chớ không thâu nhập hỗn tạp và cũng là sự lựa chọn thầy, của một người tu là rất khó, vì khi người học trò tu đã chánh tín, chánh kiến nhập môn vào đạo rồi, là gia tất cả sự hay của mình cho thầy rồi, không còn tự ý riêng tư gì nữa mới được.
Ông thầy dạy đạo là quý báu trên hơn cả vua, quan, thầy, cha kia nữa, bởi vua còn phai có quốc sư đạo giáo, mới được goị minh quân, và quan, thầy giáo, ông cha, là cũng cần phải nên học đạo.
Bởi thế nên lời nói của vua, quan, cha, thầy giáo, là còn có chổ sai, chớ thầy dạy đạo là không bao giờ dạy quấy. Và đối với thầy dạy đạo đã lựa chọn, là không bao giờ ai dám cải lời một tiếng, theo ý của mình, vì như thế tức là ông thầy sẽ bỏ ra cho tự do; mà không còn dám ép buộc,
vì lẽ học trò ấy hoặc đã hơn thầy, hay là đức hạnh đã hư, tâm đã loạn, bởi tự cao chấp ngã đo ; vậy nên từ xưa sự dạy đạo, phép thử xem trò là như thế, phép tìm thầy lại cũng rất khó vô cùng, và lắm khi ông thầy xử quấy với trò, để rèn thêm đức hạnh, hoặc xét tâm chánh tà, chơn vọng, trình độ tới đâu, thật khó khăn lắm, mới trở nên Phật Thánh được, mà đầu tiên hết cũng là dùng lễ giáo, để trau đức hạnh, bằng thiếu lễ hạnh ắt không dạy đạo cho kẽ kiêu mạn,ác tánh, để phải nó lấy đạo tạo đời, nhiễu hại chúng sanh, gây nghiệp tôị về sau.
Lễ giáo là một chơn lý rất quý báu, là một phép tắc rất diệu mầu, là nấc thang thiện lành tránh ác, vượt đến chót núi mặt lầu cao trên chổ bình đẳng của hạng ông gia, là lên khỏi mặt đất hỗn loạn ngang ác, của ở dưới lầy sâu.
Kìa như số đông ông già hiền lương kinh nghiệm, ở chung nhau bình đẳng, trong sạch, yên vui hơn là bọn đám trẻ côi hoang ngang tàng cấu trượt; ấy phải chăng là nhờ nấc thang lễ phép của người một giới biết lễ bái người ba giới trên hơn, người năm giới biết lễ bái người tám giới, kẻ mười giới biết lễ bái người 250 giới như bậc thầy; người ở đời mà biết tôn kính cái thiện và nâng lên cao, hạ dìp cái ác xuống thấp, thì cuộc đời làm sao mà không tấn hóa lên cao hạnh phúc.
Bởi đó mà thánh hiền xưa dạy rằng “ Văn thiện ngôn tắc bái, kiến thiện sĩ tắc cung” là nghe lời lành phải lạy, thấy sĩ hiền phải cung dưỡng, đó chỉ là sự nghe thấy thay, huống hồ giới luật là nấc thang trình độ thiện, chúng sanh há sao không biết quý trọng với níu giới luậtg, để bước lên theo kịp với người ta cho được nên hay ích lợi.
Cũng bởi biết rõ đạo lý như vậy, nên từ xưa các nhà cư gia thường hay cung dưỡng chư Tăng sư, thân khẩu ý lễ phép chơn thành nơi giới luật thân lễ bái, khẩn thỉnh mời, ý quên mình trong sạch, mà không bao giờ dám gọi kêu là bố thí cả. Người ta chỉ cho thấy rằng:Một ông già lượm trái chín mùi, là lượm hốt cả hai tay đầy tay chân mọp sát đất, để ăn được ruột trái thơm ngon, lại có được hột giống để dành và bỏ đi cái vỏ, việc ấy có khác hơn là trẻ nhỏ, trèo trên ngọn cây cao, ăn vỏ trái non chua chát, đã không cò chi ích lợi, lại phải té gẫy tay chân thân mình tai hại.
Thế nên chơn lý của lễ giáo là tiến hoá về mặt tinh thần nhiều hơn, cũng như từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, có trước mới có sau, không nấc thang đường lộ làm sao đi lên tới; bởi đúng lẽ thật là ai cũng đang đi tới theo thời gian cả, mà trong đời ai ai cũng rồi sẽ giác ngộ kinh nghiệm, bởi những cái chế tkhổ sẽ hăm dọa rằng; “ Trên người còn có những người, cũng như loài người nào phải đâu là cùng tột hay hoàn toàn tốt đẹp “ Thế mới biết rằng: Chúng ta là đang ở khoảng giữa mãi, co 1thấp hơn người, mà cũng có cao hơn một số người, và như thế thì lễ giáo phép tắc, là đạo lý tiến hoá, là chơn lý mãi mãi đó.
Kìa như người tu xuất gia, tuy trình độ đã khá cao qua khỏi ác thiện, tuy không còn sự ham mộ nghi lễ cúng kiến phức tạp hữu lậu bên ngoài chớ ngoài giờ thiền định ra, các Ngài cũng còn lễ bái Phật, để làm gương chúng sanh, hay như lúc tham thiền, các Ngài dùng tư tưởng bên trong mà chầu Phật lễ bái mà cũng chẳng lễ bái, là làm sự xin ăn nhẫn nhục, thế mới hay rằng: Dầu bậc nào đi nữa, (ngoài Phật chơn tâm bình đẳng ra) là cũng phải nhắc nhở sự quên mình hạ mình, diệt cái sở chấp ta tự cao đi, thì mới mong thành Phật như nhau được.
Phép lễ bái cũng như sự cuốc đất gieo trồng, hai tay chắp lại in hình lưỡi dao, đầu kỉnh trọng tức là hột giống, giới luật thiện lành trong sạch ấy là đất phân tốt đẹp, là đáng nơi ương hột gieo giống cuốc trồng thận trọng. Vì vậy mà xưa kia vua A Dục, một hôm di giá đi dạo ngoài thành, gặp một vị Khất sĩ Sa môn đi ăn xin. Ngài bèn xuống xe loàm lễ sát dưới chơn vị sư, và hôn lên bàn chơn ấy. Một vị quan đại thần hộ giá tâu rằng : Bệ hạ là thể vàng vóc ngọc, há đi đê đầu đãnh lể kẻ tu ăn xin như thế, chẳn là mất giá trị rẻ lắm.
Vua A Dục lặng thinh,, khi về đến triều, vua bảo ông quan ấy kiếm đem nạp 99 cái đầu thú và một cái đầu người tử tù. Sau đó vua bảo đem bán tất cả, để cần dùng số tiền ấy, vị vua mang bán hết 99 cái đầu thú, còn đầu người chẳng ai mua. Vua lại bảo phải đem đi kêu cho người ta nhưng cũng chẳng ai lấy; vua bảo nài nỉ cho người ta, nhưng rồi cũng không ai chịu nhận. Bấy giờ vua mới hỏi rằng: tại sao đầu thú có giá trị, còn đầu người thiên hạ lại chê, ước như đầu quá ác, quá tội lỗi của trẩm đây, chắc thiên hạ chỉ càng chê hơn nữa, thế nhưng sao khanh lại nói đầu trẫm có giá trị quý mắc lắm.
Ấy vậy từ rày sắp về sau, trẫm đem đầu vô giá trị này, lễ bái tôn sùng đạo đức; ai mà ngăn cản, là trẫm sẽ chém đầu kông tư vị! Vì sao vậy? Bởi các khanh phải biết: trẫm mà hôm nay được giữ vững ngôi vua, là đã trãi qua bao trận ra binh sát phạt, cũng vì một lời nói,một ý niệm, cùng một việc làm nhỏ nhặt như một chữa viết của trẫm, là máu chảy thành sông, xương dồn như núi, tội các của trẫm biết là bao. Hồn oan oán trẫm đầy dẫy, người thù nghịch trẫm vô số, trẫm đã dạy ác, dãy sát sanh cho trong thiên hạ, để được cái ngôi vị này, là cái ngôi vị mà ai cũng thèm khác, để được giết trẫm chiếm ngôi, mạng trẫm chẳng biết rủi ro giờ phút nào cả. Trẫm nghĩ rằng: xưa kia các tiên đế dạy dân hiển, n ên khỏi bị trộm cướp, còn nay trẫm trị mãi, thì trộm cướp lại càng sanh là bởi chúng nó bắt chước cái oai quyền danh lợi của trẫm vậy. Xưa kia các tiên đế không dùng khóa sưu thuế vụ, lấy ân nghĩa hy sinh làm gương không giống như giặc cướp, nên thiên hạ ới phục tùng, còn trẫm nay nào được như thế; mạng trẫm rất nguy, tâm trẫm rất khổ, hôm nay trẫm đã giác ngộ ăn năn, muốn xua cừu đuổi oán, muốn chuộc tội trau tâm, muốn bỏ cái ngả ái tự cao, của cái ác ngang, mà người ái tự cao, mà người người ghét giận, kông chịu dạy, chẳng dám khuyên, để tập mình biết đọc, biết nghe, biết xét lổi trau tâm, tập tâm chánh tròn lớn thiệt quý báu, như các nhà sư trong sạch, có giới hạnh đức trí kia, ấy chẳng phải là nên hay cho trẫm và ích lợi cho cả chúng sanh, thiên hạ lắm sao? Mà các khanh lại đi cản ngăn, để xúi trẫm vào đường hôn ám của thất đưúc bất nhân nữa, để cho đời sau hậu sử sẽ nêu danh “ Nhà vua vô đạo đức là vua A Dục “ để cho người đời kêu rêu thán oán mãi.
Thế là từ đó về sau A Dục trở nên một tín đồ trung thành của đạoPhật là đạo trau tâm, ông xây cất ra 84.000 cái tháp để thờ Phật và Xá Lợi.
Khiến nên thuở đời ấy, thiên hạ rất thái bình, nhờ nhà vua biết kỉnh đạo, biết trau tâm, buết hành kễ giáo quên mình, mà đổi họa làm phước, vậy nên từ đó, người ta mới hiểu ra đạo phậ tlà đạo trao tâm, là đạo lý hạp cho vua quan vì vua quan mới là bậc hạng phải dùn gđến tâm chơn đức hạnh, là bậc mà cần phải rán nhớ quên mình, hạ mình, cần phải mở rộng tâm trí thẳng bằng khiêm nhượng, thì mới được gần gũi kẻ sĩ hiền,mà được ích lợi, nên hay, lâu dài và không thất bại.
Thật thế, cái tâm là hơn hết, đưộc tâm là được việc lơ n hơn hết.
Đời nay ít ai được như vua A Dục, và hoàn cảnh giống như vua A Dục, thế làm sao biết được sự ích hay của lễ giaó nên chi cũng có lắm người, quen sự tự cao gọi bình đẳng của lẽ ác thấp sâu, mà hiểu lầm khinh chê lễ giáo, để đến nỗi biết tâm đã hư, biết mình sa ngả biết sẽ lâm nguy, mà cũng phải cam đành nhắm mắt, ôm chất cái tự cao quan trọng để chịu té xuống vực sâu, một phút trèo cao, muôn năm tuột thấp, mà không biết phương pháp giải cứu làm sao thật là tội nghiệp.
Vậy mà sao có kẽ vẫn còn gọi rằng: bình đẳng, bình đẳng của dưới ao sình lầy nhoi nhúc, mãi ác trượt hết khổ vì nhau, mà chưa chịu bám núu nấc thang giới luật, là giai cấp pháp giáo tạm, để đến trên bờ ao, là lớp bình đẳng của chư Phật, trọn sáng trọn lành tốt đẹp. Ấy cũng bởi sự hiểu lầm, bình đẳng là mục đích Niết-bàn chư Phật chớ còn là chúng sanh đang tiến hoá, thì có đâu bình đẳng đặng, còn giai cấp của luật thiện lành trong sạch đạo đức, chớ phải nào xơi xác thân danh lợi thế quyền ép buộc.
Thế mới biết rằng: đời không lễ giáo là đám rừng hoang ly loạn. Còn người đời thò họ dễ gì họ chưa giác ngộ, mà bảo ép họ lạy mình được đâu! Mà nào ai đã cấm cản, có quyền đối với ai được, nơi việc phải của họ. Đó là lỗi bởi tại người thiếu hiểu và vô lễ quen tật, nên mới đám thốt ra lời kém học, mà cho rằng ác, thiện, đạo đức, là như nhau có một.
Nói rõ hơn: Lễ giáo là phép dạy thiện cho kẻ ác lớp dưới, trẻ con, cũng như cây gậy, giúp kẻ đi đường sình lầy nguy hiểm. Cũng như cái chuồng lồng tạm, để nhốt cứu những con vượn con, để khỏi nạn tai nơi thú dữ, nhưng về sau nó được sống và lớn lên, là chuồng lồng tự lần gãy nứt, nó sẽ lần tự do và thuần hậu, thì mới sẽ là sống chung bình đẳng hữu dụng, đối với trong đời được; ấy là giáo lý xã hội gia đình, lễ bái phép tắc, là chuồng lồng như thế, nhờ lễ phép mà trước hết nhơn loại được sống yên tu học, và về sau mới sẽ giải thoát giảm bớt lần, cho đến khi bình đẳng như Phật, mới không còn phép tắc lễ giáo gia đình xã hội. Như thế thì ai ai cũng nên cần phải biết đến lễ giáo, vì lễ phép là ích lợi nên hay cho mình chớ nào phải riêng cho người, nhưng mà chớ nên tự cao mê tín, chớ bắt buộc người khác lạy mình, hãy để tự tâm người trừ khi nào họ không hiểu và muốn học hỏi, là ta hãy giác ngộ giảng giải nghĩa lý cho họ thế thôi.
Còn sự lễ bái là rất tốt đẹp cho tâm mình, nhưng ai có muốn thật hành, thì cũng phải là người trí thức, chớ chẳng khá nên mê tín tà kiến ỷ lại, để phải khi người ta hỏi tại làm sao là sẽ không nói thông rành được, ắt phải bị kẻ dốt nát chê cười.
Vậy nên bất cứ việc gì, nếu ta chưa hiểu biết, thì chớ khá bắt chước làm theo người,vì e rằng: bởi sự chưa biết, là lắm việc khi việc hay hóa ra dở, thật là có hại! Thế nên Phật dạy rằng: lễ phép là việc của người trí, chớ kẻ mê thì không hiểu được,bởi hoặc dối lòng hay là ngạo mạn.
Nói cho đúng, lễ giáo thật là quí ích lắm, từ lễ giáo đi đến tế lễ, là phương pháp thâm diệu, nhưng cũng có chổ hại mà người ta cần ngừa tránh, là lễ vật lễ mễ, hối lót của tiền; ví dụ như vua, quan thầy dạy ngày xưa không có một đồng tiền, hột gạo, nên kẻ dưới giúp nuôi cung dưỡng; còn đời sau chẳng phải như vậy, mà lại có sự lễ dâng là xấu xa quá. Cũng tức như: sự tế lễ là lễ bái đọc văn tế tri ân, truy điếu, tri cổ sử, thế mà người ta lại đem đồ vật sanh mạng để lên dâng nạp, mà gọi là tế lễ thay cho hối lót, thì thật nhục nhã lọ lem cho danh tiếng của Phật Thánh, Trời, Tiên lắm vậy.
Chánh lý hơn hết của lễ giáo, là con người có lễ phép, thì không bao giờ có chiến tranh giết hại nhau được, bởi thân thiện, chớ đâu có chi thù oán.
Kìa như có người tướng binh ra trận họ muốn bỏ lễ phép thân thiện, nên mới bày lời sĩ mạ chọc để phải đánh đập nhau được thôi, chớ họ có ghét giận gì nhau sẳn đâu?
Ấy vậy đời sau, muốn cho được thiên hạ thái bình, thì mỗi người phải tập lễ phép chớ ngoài lễ giáo ra, là không có phép nào, để cho tự mỗi người cứu độ lấy tánh mạng mình được.
Thế nên ai ai cũng nên cần phải có lễ giáo hết.
ĐOÀN TU TĂNG THỌ TRAI TẠI VƯỜN BỒ RÔ SÀI GÒN
Già lam thắng cảnh xứ Di Đà
Chánh pháp nối truyền Phật THÍCH CA
Khất sĩ ra đời dìu bá tánh
Du tăng xuất hiện độ ta bà
Hỡi ai chìm đắm nơi trần lụy
Sớm khá quay đầu khỏi đọa sa
Đất khách trần nơi giả tạm
Thiêng đường Phật quốc thật nhà ta.
Lễ Hỏa Tịnh
Mở đầu
Hiện giờ, do các nhân duyên thù thắng nên mối liên hệ giữa cộng đồng Phật tử Việt Nam hải ngoại và nền Phật giáo Mật tông Tây Tạng ngày càng phát triển, chúng ta nhận thấy giáo pháp Mật tông đã được truyền bá rộng rãi. Ðiều này cũng là nhờ ân điển và lòng đại từ bi của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã cho phép chư tăng tiếp xúc với hải ngoại, vì thế Phật tử Việt Nam chúng ta, vốn được may mắn thấm nhuần nền Phật giáo rất sâu đậm hằng ngàn năm, đã hấp thụ nhanh chóng chánh pháp đại thừa của các dòng truyền thừa tinh túy Tây Tạng.
Tuy nhiên, chánh pháp của chư Phật vốn dĩ thâm sâu vô bờ bến, nếu không có lòng hâm mộ các truyền thừa tinh túy này một cách mạnh mẽ, và nhất là nếu không có sự trải rộng tâm thức của mình để xin học hỏi, văn tư và tu, thì có lẽ chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội ngàn năm để hấp thụ nền Phật giáo tinh túy ấy.
Do duyên may đặc biệt, chúng tôi đã được theo hầu chư tăng Tây Tạng trong các chuyến đi hoằng hoá của chư vị. Chuyến hoằng hoá của chư tăng viện Tashi Gephel, trực thuộc Tu Viện Ganden Shartse, do sư trưởng Geshe Lobsang Chophel hướng dẫn đã để lại trong lòng chư Phật tử hải ngoại tại Bắc Mỹ (Gia Nã Ðại và Hoa Kỳ) những linh cảm sâu sắc qua các buổi lễ mà chư tăng ban cho. Một trong những buổi lễ nhiệm mầu đó là Lễ Hoả Tịnh, từ ngữ Tây Tạng gọi là Jinsik, và dịch qua Anh ngữ là Fire Puja.
Do yêu cầu của chư Phật tử nhiều nơi, chúng tôi xin cố gắng tóm tắt ý nghĩa và cách thức tạo buổi lễ này, với hy vọng nhỏ trước tiên là giúp chư Phật tử mọi nơi hiểu được một phần ý nghĩa của buổi lễ, thọ hưởng phúc lạc vô lượng khi dự lễ, và sau là giúp chư vị trong ban tổ chức các phái đoàn có thể phụ tá chư tăng trong phần thực hiện một buổi lễ Hỏa Tịnh. Vì nghi lễ cần nhiều vật liệu đặc biệt mà chư tăng không thể mang theo khi đi hoằng pháp, chư tăng chắc chắn sẽ phải trông cậy vào sự phụ trợ của chư Phật tử địa phương.
Bài viết này được thực hiện với lòng thành tâm của tác giả. Mặc dù kém cỏi si mê, nhưng vẫn cố gắng chia xẻ sự hiểu biết giới hạn này đến mọi người, thế nên bài viết chắc chắn không thể không thiếu sót, do đó, xin nguyện, đệ tử xin sám hối trước chư vị trụ trong Công Ðức Ðiền, và cũng như xin quý đạo hữu niệm tình tha lỗi.
Ðịnh nghĩa từ Hoả Tịnh
Ở trong từ ngữ Tây Tạng, từ jin-sik bao gồm hai chữ : jin nghĩa là cúng dường và sik nghĩa là đốt cháy. Như vậy jinsik thuần nghĩa là cúng dường bằng một nghi lễ lửa. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua ý nghĩa chính, tuy không nằm trong từ ngữ, đó là mục đích cúng dường này vốn để xin tiêu trừ các ác nghiệp và chướng ngại trên con đường tu tập hành trì. Ác nghiệp và chướng ngại có thể đến qua nhiều phía : hoặc là do sự phạm giới, nguyện, phạm tội, hoặc là do các ngoại lực xâm phạm đến thân tâm của chúng ta. Dù những ác nghiệp, chướng ngại đó đã được tích lũy từ vô thỉ kiếp, lễ hoả tịnh vẫn có được công năng tiêu trừ. Ðó là nhờ thần lực của mạn đà la và chư Phật qua lễ cúng dường lửa để tịnh hoá các nghiệp chướng ấy.
Vì thế, Jinsik được dịch là Lễ Hoả Tịnh. Thông thường, sau một kỳ nhập thất, hành giả cần phải hành lễ Hỏa Tịnh.
Các loại lễ Hoả Tịnh
(Phần giải thích lễ Hoả Tịnh này có những chi tiết liên hệ đến những nghi thức dành cho các vị hành giả Mật tông đã thọ quy y và các lễ quán đảnh cho phép hành trì Mật tông. Lễ Hoả Tịnh cho người chưa thọ có thể được đơn giản hoá và ngắn hơn. Tuy nhiên, phần sau đây cũng cho người đọc một khái niệm lễ Hoả Tịnh nói chung như thế nào).
Trước khi đi vào chi tiết của nghi lễ, hãy nhắc lại là khi hành giả đi vào con đường hành trì Mật Tông, thệ nguyện sẽ hoàn mãn công hạnh tạo phúc lạc đến mọi chúng sinh hữu tình. Để hoàn mãn tâm nguyện này, hành giả cần phải phát nguyện đạt đến giác ngộ, và trên đoạn đường bắt đầu đi vào Mật Tông để đạt mục đích, hành giả phải chọn tu theo một (hay vài) vị Hộ Phật (nghĩa là vị Phật của mật pháp mình tu tập thiền quán và thủ hộ nơi tim), trì chú của chư vị Hộ Phật và hành trì lễ Hỏa Tịnh.
Khi hành trì lễ Hỏa Tịnh, hành giả làm chư vị phát lòng hoan hỷ, và chư vị giúp cho hành giả đạt đến thành tựu các nguyện hạnh trên con đường đạo. Hành lễ Hỏa Tịnh cũng còn có công năng tiêu trừ những tội lỗi hay ác nghiệp đã phạm, hay là tịnh hoá các lỗi lầm khi hành giả do si mê ngu muội chưa hiểu rõ mà phạm lỗi hành trì sai, và ngay cả khi hành giả quên không tụng đủ các câu chú như đã hứa nguyện, cũng như là tiêu trừ các chướng ngại ngăn che không cho hành giả đạt vào trong cõi thiền, an hòa kiên cố tâm của mình trong định.
Lễ Hỏa Tịnh được phân làm bốn loại nghi lễ như sau :
• An Hòa
• Tăng Trưởng
• Hàng Phục
• Tống Khứ
Nghi lễ Hỏa Tịnh An Hòa thường được hành trì để tịnh hóa những nghiệp bất thiện đã gây ra, hoặc là để xua đi các chướng ngại và các cấu uế (như tham sân si). Nghi lễ An Hòa cũng dùng để chặn trước các vấn đề và các bệnh tật sắp xảy ra và đã có điềm triệu trước như là nằm mộng hoặc do các điềm xấu báo trước.
Nghi lễ Hỏa Tịnh thuộc loại An Hòa và Tăng Trưởng đều có thể hành trì cho tự cá nhân mình hoặc cho các chúng sinh khác. Nhưng Lễ Hỏa Tịnh loại Hàng Phục và Tống Khứ chỉ có thể hành trì cho người khác chứ không được làm cho mình, bởi vì nếu hành lễ hàng phục hay tống khứ một sinh linh nào để lợi ích cho chính mình là đi ngược lại hạnh nguyện Bồ tát, nguyên tắc căn bản của con đường tu hành Mật Tông Phật giáo.
Nghi lễ Hỏa Tịnh Hàng Phục dùng để đối trị và khuất phục các ma lực làm hại các chúng sinh khác.
Nghi lễ Hỏa Tịnh Tống Khứ dùng để đối trị các ma lực làm hại người khác ở trường hợp khi đã dùng nghi lễ Hỏa Tịnh Hàng Phục rồi, nhưng không thành công và ma lực ấy cứ tiếp tục nhiễu hại người. Lễ Cúng Dường Hỏa Tịnh Tống Khứ có công năng trục xuất hay an bình nỗi khiếp sợ của nạn nhân bị nhiễu hại và làm cho ma lực ngưng quấy nhiễu. Khi hành trì nghi lễ Tống Khứ này, vị Bổn Sư đàn chủ phải luôn luôn phát nguyện khởi lòng đại bi với một tâm thức nhu nhuyễn, không những đối với nạn nhân bị nhiễu hại mà cả đối với các sinh linh tạo ma lực làm hại các nạn nhân. Ở Tây Tạng, phần lớn các nghi lễ ấy dùng để xua đuổi hoặc hàng phục các sinh linh quấy nhiễu địa phương sở tại, thí dụ như là các sinh linh ma quỷ quấy nhiễu, trường hợp bị ma nhập hay là bị lính tráng cướp phá v.v…
Chọn chỗ thích hợp để hành nghi lễ
Lễ Hỏa Tịnh thường được hành trì ở một bãi đất rộng lớn ngoài trời (làm đạo tràng) hay là trên mái nhà của một tòa nhà lớn. Ở Ấn độ thường có các lễ cúng dường lửa ở trong những toà nhà lớn đặc biệt dành cho nghi lễ lửa. Tuy nhiên, truyền thống này không lan truyền qua Tây Tạng.
Sau khi thiền quán tự hoá mình thành vị Hộ Phật của mật pháp hành giả đã chọn lựa, vị Bổn Sư đàn chủ cúng dường bánh hình tượng (torma) đến chư địa thần và xin phép để được hành lễ cúng dường. Sau đó, vị Bổn Sư đàn chủ quán đã được phép hành lễ. Để xua tan mọi mọi vấn đề của đạo tràng, vị đàn chủ trì chú xua tan chướng ngại, và bắt đầu thiền quán nhập tánh Không.
Dựng nền làm đồ hình mạn đà la
Nền để vẽ đồ hình mạn đà la phải được dựng trước tiên. Nền là một hình vuông vức khoảng 2 bộ anh, có thể dựng bằng gạch nung bao chung quanh một hình vuông 2 bộ anh. Trong hình vuông đó, chúng ta đổ đầy cát mịn mầu trắng và san bằng. Trên nền cát mịn này chư tăng vẽ hình mạn đà la của lễ Hỏa Tịnh. Củi khô lớn bằng cổ tay và bắp vế được dựng, một đầu trên hình vuông bao quanh mạn đà la, đầu kia chụm lại bên trên như là khi chúng ta làm lửa trại. Nếu cần, xếp các khúc củi nhỏ làm mồi lửa dưới các khúc củi lớn để khi đốt, lửa dễ bắt cháy, khi củi lớn đã cháy thì không còn phải mồi lửa nữa. Chúng ta cần phải hiểu rõ, thần lực tịnh hóa của lễ Hỏa Tịnh đến từ mạn đà la đã được chú nguyện bởi chư tăng. Lửa tự nó không có thần lực, nhưng khi ngọn lửa bốc lên từ trên nền cát mịn có vẽ đồ hình mạn đà la đã được chú nguyện hộ trì làm căn cứ, thì nó sẽ bốc lên với đầy đủ thần lực hộ trì.
Họa đồ hình mạn đà la cho nghi lễ Hỏa Tịnh An Hòa
Trên chính giữa của nền cát mịn, chư tăng họa đồ hình mạn đà la, là một bông hoa tám cánh, đường kính khoảng nhỏ hơn 2 bộ anh một chút nằm vừa vặn nơi chính giữa của hình vuông bằng gạch nung. Chúng ta gọi là nền mạn đà la. Chính giữa là hình chùy kim cang to khoảng 6 đốt tay anh. Bên ngoài bông hoa là một vòng tròn rộng khoảng 4 đốt tay anh. Ngoài cùng nữa là vòng rộng 4 đốt tay, trên đó vẽ nhiều hình chùy kim cang. Bên ngoài là hình vuông rộng hai đốt tay (một đầu củi được dựng trên hình vuông này), bốn góc vẽ hình nửa chùy kim cang và nửa hình mặt trăng. Sau hết ngoài cùng là hình vẽ rải rác các bông hoa. Thay vì hình vẽ, có thể dùng cát mạn đà la để rắc thành hình nền mạn đà la.
Họa đồ hình mạn đà la cho nghi lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng
Cũng tiến hành như trên, nhưng hình chính giữa là bánh xe có 8 nhánh, chính giữa là châu báu. Quanh bánh xe là hình vuông, cạnh cách xa bánh xe 8 đốt tay, và một đầu củi được xếp dựa trên hình vuông. Bên ngoài là hàng rào châu báu cũng 8 đốt tay và bao quanh là hình vuông bốn góc vẽ hình nửa chùy kim cang và nửa mặt trăng. Phần ngoài cùng còn lại vẽ rải rác hình các bông hoa.
Phần hành trì
Một cái ngai cho vị bổn sư chủ lễ được dựng lên trước nền, cách xa khoảng 2 bộ anh. Ngai phải được làm cao hơn nền khoảng 2 bộ rưỡi anh, trên đó là bồ đoàn cho vị đàn chủ. Trước ngai phải có một bức tường sắt lớn che chở cho lửa khỏi táp vào ngai của vị đàn chủ. Trên bức tường sắt ấy vẽ chủng tự BAM xoay hướng ra phía ngọn lửa, tượng trưng cho thủy đại. Bên phải của vị đàn chủ đặt một cái bàn lớn trải khăn trắng cho lễ Hỏa Tịnh An Hòa và khăn vàng cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng. Trên bàn trải đầy các chất liệu hành lễ gồm có 5 thức cúng dường được phân làm hai loại :
• Bốn loại vải (trắng cho lễ Hỏa Tịnh An Hòa và vàng cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng)
• Bốn loại chất trầu hòa trong bơ, quấn trong lá trầu
• Bánh hình tượng (torma), trắng hay vàng để cúng dường chư thiên
• Cành cây gỗ tươi, dài khoảng 12 đốt tay anh, phải được cắt từ ngọn cành, còn xanh tươi, không được héo úa, có đầy đủ vỏ cây. Các cành cây này phải thẳng, không bị thủng lỗ, bằng nhau và cắt thẳng thắn. Mật ong và bơ được bôi ở đầu ngọn cành.
• Cỏ với rễ cỏ còn xanh. Mật ong và bơ được bôi ở ngọn.
• Hột mè
• Gạo chưa chà vỏ
• Hột mù tạt trắng
• Lúa mạch chà vỏ và chưa chà vỏ
• Đậu lăng tin
• Lúa mì
Tất cả các thứ trên đều được chà xát với bơ và mật ong. Gạo (cơm) chín trộn đường mật, sữa đông, mật ong và đường. Đó là những chất liệu đặc biệt dùng cho lễ cúng dường Hỏa Tịnh An Hòa, công thêm sữa đông, sữa, hột mè, cơm chín, gạo thính, cỏ Câu Thi, cỏ tràng kỷ, gỗ trầm và hoa thơm màu trắng. Những thức này được chà xát với dầu ăn thực vật và mật ong.
Các chất liệu cho lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng cũng tương tự như thế, nhưng mọi thức cần phải là màu vàng hoặc càng nhiều thức màu vàng càng tốt.
Tất cả các chất liệu được xếp thành đống loại, và sắp thành hàng trên bàn. Cũng cần có một cái bình màu trắng hoặc màu vàng (tùy theo nghi lễ), trong bình chứa bốn loại nước cúng dường : nước rửa tay, nước rửa chân, và nước súc miệng cho chư Hộ Phật và để tưới rảy.
Lửa mồi
Lễ Hỏa Tịnh An Hòa cần được mồi lửa trên củi từ các nguồn lửa sau :
• mồi lửa do chà xát hai miếng gỗ
• lửa mồi từ nhà
• lửa từ nơi rất xa, cô lập
• lửa từ buổi lễ cúng dường trước
Lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng cần được mồi từ lửa của nhà vua, lửa đánh từ hai hạt châu báu, hay là lửa từ bếp nhà của một vị sư,
Y phục của các khán giả tham dự lễ
Các khán giả tham dự lễ và các vị phụ tá hành lễ nên tắm rửa sạch sẽ trước. Cư sĩ nên mặc quần áo trắng khi dự lễ An Hòa và quần áo vàng khi dự lễ Tăng Trưởng. Chư tăng nên mặc y như y của chư vị Hộ Phật ra ngoài y áo của mình để dễ dàng thiền quán hóa thành chư Hộ Phật.
Các điều kiện khác
Số lượng chất liệu cúng dường trong buổi lễ có thể thay đổi tùy hoàn cảnh. Để hành trì lễ, hành giả cần phải đã có thọ các lễ quán đảnh cho phép hành trì mật pháp của vị Hộ Phật mà vị hành giả sẽ hành lễ hôm đó và cần phải trì tụng ít nhất đủ 1000 lần câu chú cần thiết. Vị hành giả cũng cần phải đã thọ trì Bồ tát giới và Mật tông giới. Nhiều khi các kỳ nhập thất dài hơn lại còn đòi hỏi phải tụng đủ một triệu lần hay hai triệu lần câu chú. Thường thì một phần mười của các câu chú được cúng dường lên Hỏa Thần cùng với ba nắm tay chất liệu cúng dường, các phần lớn còn lại được cúng dường lên vị Hộ Phật chính.
Nếu hành giả đã có linh kiến nhìn thấy trực tiếp vị Hộ Phật trong kỳ nhập thất thì không cần phải trì chú nhiều như vậy cũng như không cần phải hành lễ Hỏa Tịnh vì làm những điều đó là để kiên cố thêm liên hệ với vị Hộ Phật, vì khi có linh kiến nhìn thấy trực tiếp vị Hộ Phật là đã đạt thành mục đích rồi.
Vào buổi sáng trước khi hành lễ Hỏa Tịnh, trước khi lên tòa ngồi, vị đàn chủ và chư tăng phải thiền quán vị Hộ Phật, cúng dường vị Hộ Phật với nước, hoa, bánh tượng (torma), và v.v… cũng như trì chú của vị Hộ Phật.
Phần dự bị cho buổi lễ chính
Vị Bổn Sư đàn chủ lên tọa trên ngai và chư tăng phụ tá ngồi trên hàng ghế trước mặt hoặc ngồi xếp hàng hai bên. Khi hành lễ Hỏa Tịnh An Hòa, vị đàn chủ ngồi khoanh chân kiết già, còn khi hành lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng vị đàn chủ ngồi buông chân như tư thế trong hình của Phật Di Lặc theo truyền thống Tây Tạng (là vị Phật tương lai, xin xem hình 1). Trước vị đàn chủ phải đặt một cái bàn nhỏ trên đó xếp chuông nhỏ và trống nhỏ (pháp khí của mật tông), một bình tịnh thủy, chén hình sọ người trong đó chứa nước cúng dường bên trong (nội tâm).
Sau đó, vị Bổn Sư đàn chủ và chư tăng thiền quán rải từ bi và quán tưởng hình mạn đà la lớn (cung điện mà chư Hộ Phật trụ bên trong). Quán mạn đà la nào thì tùy theo vị Hộ Phật mà hành giả chọn làm lễ cúng dường, thông thường lễ Hỏa Tịnh An Hòa để tịnh hóa nghiệp, vị Bổn Sư đàn chủ quán về vị Hộ Phật Chiến Thắng Dạ Ma (Yamantaka), tuy nhiên tất cả tùy thuộc vào buổi lễ vì cũng có khi là vị Hộ Phật Quán Âm hay Dược Sư hay là chư Hộ Phật khác. Nói chung là lễ cúng dường đến vị Hộ Phật nào thì vị đàn chủ quán về mạn đà la của vị Hộ Phật đó, nhưng khi làm lễ Hỏa Tịnh về một vị Hộ Pháp thì phải quán khác đi, vì thông thường không thể quán mạn đà la của Hộ Pháp được.
Trong cái hai bình trên bàn trước mặt vị đàn chủ, một bình chứa nước rảy và bình kia chứa bốn loại nước cúng dường. Vị đàn chủ sẽ chuyên nước cúng dường sang ba cái vỏ sò. Sau đó, khi đến lúc cúng dường mỗi loại nước thì lại chuyên sang bình cúng dường. Nước cúng dường luôn luôn đã được sửa soạn trước và được hộ trì bằng các chú nguyện.
Vị đàn chủ lại thiền quán thêm lần nữa về từ bi và quán sang tánh Không của nhất thiết pháp, sau đó cúng dường bánh tượng (torma) cho các sinh linh và các thần linh trú tại nơi đó, thỉnh cầu các vị đó đừng gây chướng ngại cho buổi hành lễ và mời họ thọ hưởng phúc lạc của buổi lễ. Lời cầu nguyện phải đi theo sát văn bản trì tụng. Chánh niệm trong quán tưởng về ý nghĩa các pháp khí, vị đàn chủ và chư tăng phụ lễ tay cầm chùy kim cang và chuông trong suốt buổi hành lễ. Sau đó, rảy nước từ bình tịnh thủy trên nền mạn đà la, trên ngai tọa và trên tất cả các chất liệu cúng dường để xua tan các chướng ngại cũng như các ô nhiễm trên đó. Phần cúng dường này được hộ trì bởi thiền quán là tất cả các thức cúng đều hòa tan thành tánh Không và rồi lại khởi lên thành tinh túy của tánh Không, hoàn toàn tịnh sạch mọi ô nhiễm. Sau đó là phần trì chú để tiên trừ ô nhiễm trên các thức cúng, bơ v.v... Một ngọn đuốc được gắn vào đầu một thanh gỗ dài, bao chung quanh bởi cỏ khô sạch sẽ, cột thêm một khăn trắng cúng dường và vị đàn chủ rảy nước trên đó để xua đi các chướng ngại trước khi mồi lửa vào đuốc. Vị đàn chủ nhúng đuốc cháy vào đống củi khô đã được xếp trên nền mạn đà la. Các vị phụ lễ dùng một cái quạt làm bằng một miếng vải xanh vuông vức, cột vào hai thanh gỗ để quạt 7 lần cho lửa bốc lên, đồng thời bơ được rưới lên trên củi để giúp lửa cháy. Cỏ Câu Thi, truyền thống cổ Ấn độ tin rằng loại cỏ này có công năng tịnh hóa, cũng được dùng để xua đi các chướng ngại, vị đàn chủ tung từng hai nhánh cỏ Câu Thi vào ngọn lửa để thỉnh cầu sự che chở. Khi hành lễ ở Ấn độ, các chất liệu này có nhiều nên vị đàn chủ có thể sử dụng những khối lượng lớn, nhưng ở Tây Tạng và ở ngoại quốc, vì khó kiếm nên phải tiết kiệm các chất liệu này.
Hỏa lễ cúng dường
Vị đàn chủ rảy nước thêm lần nữa vào nền mạn đà la để xua tan các chướng ngại và quán nền mạn đà la hòa tan vào trong tánh Không, rồi từ đó khởi lên đức Phật Tỳ Lô Giá Na và hóa thành nền mạn đà la, chính là tinh túy của trí tuệ. Nền mạn đà la này thanh tịnh thuần khiết và chứa tất cả các phẩm chất của một nền dúng làm lễ cúng dường Hỏa Tịnh An Hòa.
Chính giữa của nền mạn đà la là một hình tam giác lửa, ở nơi tâm điểm an trụ vị Thần Lửa (Agnidevatta). Thần Lửa (nam) có thân màu trắng, và có ba khuôn mặt, khuôn mặt chính diện màu trắng, mặt phải màu đỏ, mặt trái màu đen. Thần Lửa có sáu tay. Chân phải cong và chân trái thẳng (xem hình 2). Từ một hình tam giác lửa nơi tim phát ra một tia sáng thỉnh một vị hóa thân thị hiện, vị này đứng trên cỏ Câu Thi trước khi hòa tan vào tam giác lửa ấy.
Buổi lễ luôn luôn thỉnh mời Thần Lửa thị hiện để các thức cúng dường khỏi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa tầm thường. Nếu vị đàn chủ nào chỉ mới làm buổi lễ này lần đầu tiên thì nên cúng dường một phần mười của tổng số các thức cúng dường để mời vị Thần Lửa đến lần đầu tiên. Sau đó, thì Thần Lửa sẽ đến bất cứ khi nào được triệu thỉnh. Thức cúng dường được sắp làm hai bộ trên mặt bàn, một bộ dành để cúng dường Thần Lửa và bộ kia dành để cúng dường đến vị Hộ Phật hay là vị Hộ Pháp của buổi lễ.
Vị đàn chủ rảy nước từ bình tịnh thủy, tung hoa cúng dường trên không, và bơ chảy được rưới lên lửa. Vị đàn chủ cầm một cái môi dài và rưới bơ qua một cái phễu vuông cũng được cột vào một cái thanh dài để cầm, và như thế mà bơ rưới vào lửa. Vị đàn chủ quán rót bẩy lần bơ vào miệng của vị Thần Lửa. Và phải quán bơ chảy này chính là tinh túy của giòng nước cam lộ.
Mục đích chung của cúng dường các thức là để tiêu trừ các chướng ngại ngăn che giác ngộ bằng cách tẩy sạch các vết ô nhiễm gây ra từ các ác nghiệp, nhất là ác nghiệp do không giữ giới, và ngăn chặn mọi điều bất tường. Tuy nhiên, mỗi thức cúng dường đều có mục đích riêng biệt. Theo thứ tự các thức cúng dường Thần Lửa, mỗi thức có ý nghĩa sau :
Cúng bơ chảy để xin tăng trưởng thọ mạng, công đức và thành công thịnh vượng. Hành giả quán vị Thần Lửa đã hứa giúp thành tựu các điều cầu xin.
Các cành gỗ, cỏ Câu Thi và cỏ tràng kỷ cúng để tăng trưởng ánh sáng của vị Hộ Phật. Cành gỗ cúng thành từng đôi và phải cẩn thận không được lộn đầu lộn đuôi của các cành gỗ đó. Các thức này cúng để tiêu trừ chướng ngại về sức khỏe và đạt địa vị cao trong đời sống.
Cúng dường hột mè để tiêu trừ các ác hạnh, cỏ tràng kỷ để tăng trưởng thọ mạng, gạo để tăng công đức, gạo trộn sữa đông để tăng hạnh phúc, cỏ Câu Thi để che chở không bị ô nhiễm, hột mù tạt để xua tan các chướng ngại, lúa mạch hạt to chưa chà vỏ để tăng của cải, hạt lúa mạch để đạt thành tựu nhanh chóng, đậu lăng tin để tăng sức mạnh, và lúa mì để khắc phục bệnh tật. Các thức trộn nhiều chất, cũng là các thức ’đặc biệt’, được cúng dường để xin tăng trí tuệ.
Thành tựu cao nhất là để xin đạt giác ngộ, và đó cũng là mục đích chung của các thức cúng dường.
Lễ Hỏa Tịnh An Hòa hành trì sau một thời kỳ nhập thất thường được dùng để bổ túc đền bù cho các lỗi lầm hành trì như là định không sâu, không rõ nét, trì chú sai, kém hay là trì chú không đủ số. Trong trường hợp lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng, các thức cúng dường Thần Lửa để cầu tăng trưởng thọ mạng, công đức, của cải và trí tuệ của tam thượng học văn tư và tu
Bộ thứ hai của các thức là để cúng dường lên vị Hộ Phật hoặc là vị Hộ pháp. Hành giả (là vị đàn chủ) chú nguyện các thức cúng dường, quán tất cả hòa tan vào trong Tánh Không và rồi lại hiện ra trở lại từ Tánh Không và mang bản chất của Tánh Không.
Sau đó, hành giả quán toàn thể cung điện của vị Hộ Phật khởi ra từ tim của vị Thần Lửa, với từng vị Hộ Phật ở đúng các vị trí. Nếu vị Hộ Phật đó không có cung điện mạn đà la tương ưng, hành giả quán vị ấy ngồi trên toà hay ngồi trên cỗ xe. Khi buổi lễ có cả mạn đà la thì một vị sư phụ lễ sẽ phải đảnh lễ trước hình mạn đà la, thí dụ như vẽ trên vải hay gỗ, và cầu nguyện đến vị Hộ Phật chính như sau : chúng con hành trì buổi lễ để xin cho các ước nguyện được thành tựu, và thỉnh cầu vị Hộ Phật nhập vào trong cung điện đã quán tưởng trong ngọn lửa. Vị phụ lễ sau đó lấy một nắm tay các hạt bỏ vào chén vừa đi nhiễu vòng quanh mạn đà la vừa trì chú thỉnh mỗi một vị Hộ Phật từ mạn đà la vào trong chén (trong chén đã có sẵn vài mảnh nhỏ của chập chõa và kèn). Vị phụ lễ đi nhiễu vòng quanh nền mạn đà la ba lần và đưa chén ấy cho vị đàn chủ. Vị này tung các hạt trong chén vào lửa trong khi trì chú của vị Hộ Phật và quán tưởng chư Hộ Phật trong chén đã đi ra và nhập vào cung điện mà vị đàn chủ đã quán tưởng nằm trong lửa.
Đến đây, bộ thứ hai của các thức cúng dường được dùng. Bộ thứ hai gồm nhiều thức hơn bộ thứ nhất dùng để cúng dường Thần Lửa, nhưng các tiến trình hành lễ thứ tự và lợi lạc cũng giống như vậy. Sau mỗi phần cúng dường đến vị Hộ Phật chính, một phần nhỏ các thức được cúng dường lên chư tùy tùng hộ giá. Khi các thức cúng dường đã hết, hành giả (vị đàn chủ) rảy nước từ bình tịnh thủy lên trên lửa, quán là các ô nhiễm đã hoàn toàn tiêu trừ.
Đàn chủ cúng dường bơ chảy và hoa lên chư Hộ Phật, sau đó cúng dường bánh hình tượng (torma), trong khi quán bánh là tinh túy của nước cam lộ. Tiếp theo, hai mảnh vải sạch tượng trưng cho y phục phần trên và dưới được bỏ vào lửa, cùng rưới thêm bơ và mật ong (trầu) và lại cúng thêm hoa. Và tụng kệ tán thán dâng chư Hộ Phật, thỉnh chư vị từ niệm các lỗi lầm khi hành lễ. Sau đó, khấn xin được thành tựu các nguyện ước.
Khi đàn tràng không có kèm theo mạn đà la thật mà chỉ quán tưởng mạn đà la thôi, thì đàn chủ sau đó thỉnh chư vị Hộ Phật trở về cung điện mạn đà la của chư vị, cùng lúc, quán các hứa nguyện hòa tan vào trong vị Bổn Sư đàn chủ. Tuy nhiên, khi mạn đà la thật và riêng rẽ được thực hiện trong buổi lễ, như là mạn đà la cát hay tranh vẽ mạn đà la thì phải quán thỉnh chư Hộ Phật trở về nhập vào trong mạn đà la thật ấy, bằng cách quán: bắt đầu là chư vị từ cung điện trong ngọn lửa trở về chén đựng các hạt cúng dường trước đó, chén này do một vị sư phụ lễ cầm, lúc đó kèn (yaling) và chập chõa phải nổi lên để thỉnh chư vị Hộ Phật trở về cung điện là mạn đà la.
Bảy thức còn lại bây giờ cúng dường lên vị Thần Lửa, và cùng làm theo thứ tự trước, bắt đầu là cúng một nhúm của tất cả mọi thức cúng dường, gỗ, cỏ và v.v…. Bảy thức cúng dưòng được cúng tiếp theo, sau đó là phần cúng bánh hình tượng (torma) và tụng kệ tán thán. Vị Bổn Sư đàn chủ thỉnh Thần Lửa giúp đỡ và che chở hộ trì chống bệnh tật, được trường thọ và của cải. Sau đó, thỉnh Thần Lửa từ niệm những lỗi lầm khi hành lễ. Sau khi quán là đã thỉnh Thần Lửa để ban phúc lạc đến cho mình và mọi người, vị đàn chủ thỉnh Thần Lửa trở về bản địa và xin Thần Lửa hứa thị hiện bất cứ khi nào được thỉnh cầu. Chư tôn huệ thân quay trở về cung điện bản địa của chư vị, trong khi vị đàn chủ quán là các hứa nguyện đã quay trở lại vào trong tinh túy của ngọn lửa.
Lễ như thế đã hoàn mãn và ngọn lửa cứ để cháy dần cho đến khi tàn lụi. Tuy nhiên, khi hành lễ Hỏa Tịnh An Hòa thì có thể dập tắt ngọn lửa bằng nước trộn với sữa. Khi hành lễ Hỏa Tịnh Tăng Trưởng, chỉ dùng nước hoa thơm để dập tắt lửa. Cuối cùng, các tro tàn có thể bỏ vào trong bình mang ra sông thả hay là rắc chung quanh chùa để che chở hộ trì cho chùa.
Lời góp ý với các Phật tử đến dự lễ
Chúng ta có duyên may thù thắng để được dự lễ, nên phát tín tâm mạnh mẽ vào oai lực của chư tăng và buổi lễ. Khi chưa được thọ lễ Quán Đảnh thì chưa được phép chính thức để trì chú của vị Hộ Phật, do đó chúng tôi không dám tùy tiện chép các câu chú vào trong khuôn khổ bài viết này. Tuy nhiên cho dù chưa thọ lễ quán đảnh, nhưng hãy thành tâm khi nghe chư tăng hành lễ, cứ chú tâm nghe các câu chú do chư tăng đọc đi đọc lại rất nhiều lần, vừa đọc vừa tung các chất liệu cúng dường vào lửa cho nên rất dễ theo dõi và nhận ra câu chú. Nếu có thể hãy tập trung tâm thức vào câu chú (hay trì tụng thầm theo chư tăng) trong khi chư tăng hành lễ. Được vậy, toàn buổi lễ sẽ mang lại vô cùng lợi lạc cho Phật tử dự lễ.
LỄ HỘI DÂNG y
Từ lâu, dâng y cúng dường chư Tăng đã trở thành truyền thống thiêng liêng đối với người Phật tử, nhất là vào dịp chư Tăng tự tứ, sau ba tháng cấm túc an cư, dâng y trở thành một lễ hội song song với lễ hội Vu lan. Dịp ấy là cơ hội để Phật tử gieo trồng phước thiện, để tỏ lòng cung kính chư Tăng, đồng thời là để hồi hướng phước đức cho cha mẹ quá vãng cũng như còn tại tiền để tỏ lòng hiếu kính.
Trong ngày ấy, bất kỳ trú xứ nào có chư Tăng kiết giới an cư, Phật tử khắp mười phương đều nô nức, hân hoan hướng về với tất cả lòng thành kính dâng lên cúng dường chư Tăng tấm y vàng hoại sắc, như là một biểu tượng của đạo đức thanh tịnh và giải thoát.
Truyền thống tốt đẹp ấy đã có từ thời Ðức Phật còn tại thế. Tuy nhiên, không phải có ngay từ những ngày đầu thành lập Tăng đoàn.
Luật Tứ phần ghi lại rằng, sau khi Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại vườn Nai độ năm anh em ông Kiều Trần Như, họ kiến đế, đắc giới, thành Tỳ kheo. Ðó là những thầy Tỳ kheo đầu tiên. Năm vị Tỳ kheo này liền bạch Ðức Thế Tôn: "Chúng con nên thọ trì y gì?". Ðức Thế Tôn trả lời: "Nên thọ trì y phấn tảo và những loại y đã nhuộm thành màu ca sa".
Y phấn tảo, tiếng Pali gọi là pamsukùla, có nghĩa là vải lượm từ đống rác. Còn ca sa, Pali gọi là kàsàya, có nghĩa là những loại vải đã không còn giữ được màu sắc chính, bằng cách dùng các vỏ cây giã ra lấy nước rồi nhuộm vải. Những tấm vải này có màu vàng nâu, người ta gọi là hạt sắc y hay hoại sắc y.
Từ đó, các Tỳ kheo thường lượm những tấm vải xấu xí và cũ rách người ta vứt bỏ ở những bãi rác, hoặc ở bãi tha ma đem về giặt sạch may thành y để đắp. Các Phật tử thấy thế sanh lòng cung kính, tâm từ niệm phát sanh, lấy vải rất quý xé ra đem bỏ ở bãi rác để cho các Tỳ kheo nhặt lấy đem về dùng. Nhưng các thầy không dám nhặt. Việc ấy Ðức Phật biết, Ngài dạy: "Nếu họ vì các thầy Tỳ kheo thì nên lấy".
Ðó là hình thức cúng dường y đầu tiên của các Phật tử.
Về sau, Kỳ Ðà đồng tử, một bác sĩ nổi tiếng, đến bạch với Ðức Thế Tôn rằng: "Con trị bệnh cho quốc vương, trị bệnh cho đại thần, hoặc được một quốc độ, hoặc được một tụ lạc. Cúi xin Ðức Thế Tôn cho con một ước nguyện". Ðức Phật nói Ngài không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện. Kỳ Ðà đồng tử nói rằng "Con xin một ước nguyện thanh tịnh". Ðức Phật hỏi ước nguyện thanh tịnh ấy là gì? Kỳ Ðà đồng tử thưa: "Chiếc y quý giá này, con nhận được từ vua Ba La Thù Ðề, giá trị bằng phân nửa giang sơn. Cúi xin Ðức Thế Tôn ai mẫn, vì con nạp thọ. Từ nay về sau, nguyện xin Ðức Thế Tôn cho phép các thầy Tỳ kheo nào muốn khoác y của đàn việt cúng, hay y phấn tảo, thì tùy ý được mặc". Ðức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng. Nhân dịp này, Ðức Phật tập hợp các Tỳ kheo lại, cho phép họ từ nay về sau được phép khoác y của Phật tử dâng cúng.
Từ đó, các Phật tử thường tận tay dâng y cúng dường chư Tăng, trong đó phải kể đến kỹ nữ Am Bà La Bà Ðề, đã dâng y và thực phẩm cúng dường Ðức Thế Tôn cùng với 1.250 vị Tỳ kheo, khiến cho chủ nhân thành Vesàli, bộ tộc Licchavì hùng mạnh phải kính nể!
Ðược Ðức Thế Tôn cho phép nhận y của Phật tử cúng dường, nhưng một số Tỳ kheo vẫn ưa thích đời sống phạm hạnh, đắp y phấn tảo, tức vẫn tiếp tục nhặt nhạnh những tấm vải ở bãi rác hoặc ở bãi tha ma để mặc. Một số Tỳ kheo khác thì mặc y do Phật tử cúng dường. Lúc đầu Ðức Phật không quy định một Tỳ kheo được sử dụng bao nhiêu y, cho nên Phật tử cúng bao nhiêu các thầy đều nhận hết. Một hôm, Ðức Thế Tôn trông thấy các Tỳ kheo trên đường đi quảy theo nhiều y. Có vị đội y trên đầu. Có vị vắt nơi vai. Hoặc có vị quấn nơi thắt lưng. Thấy vậy, Ðức Thế Tôn suy nghĩ: "Ta hãy chế định cho các Tỳ kheo số lượng nhiều ít thế nào, chứ không được chứa nhiều quá".
Hôm đó, Ðức Thế Tôn ngồi nơi đất trống. Ðầu đêm khoác một chiếc y, đến nửa đêm cảm thấy lạnh. Khoác chiếc y thứ hai, đến cuối đêm vẫn thấy lạnh, mặc chiếc y thứ ba. Bấy giờ, Ðức Thế Tôn mới nghĩ như vậy: "Ðời sau, người thiện nam không chịu đựng được sức lạnh, thì nên cho phép chứa đầy đủ ba y. Ta nên cho phép các Tỳ kheo chứa ba y, không được quá".
Từ đó, một Tỳ kheo chỉ được nhận đủ ba y, không nhận thêm nữa. Ba y trở thành biểu tượng của đời sống tri túc. Tri túc là thái độ sống, là nghệ thuật sống mầu nhiệm đã đưa Thế Tôn đến giác ngộ, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Với chúng Tăng, đầu mùa Hạ là ngày đầu năm trong đời sống đạo hạnh, và kết thúc một mùa Hạ là kết thúc một năm, tròn một tuổi đạo hạnh sáng ngời. Và do đó, khi tiếng thu gọi khẽ trên cây, lác đác vài chiếc lá vội vã lìa cành, ấy là dấu hiệu của mùa Hạ đã hết, mùa Thu bắt đầu, cả hoàn vũ trỗi khúc ca hoan hỷ, cùng với chư Phật mỉm cười đón chào các Tỳ kheo vừa hoàn thành ba tháng nổ lực tu tập, nội cần khắc niệm chi công, và bắt đầu đặt bước chân trên vạn nẻo đường thực hiện công cuộc hoằng hóa độ sanh với tâm nguyện ngoại hành bất tranh chi đức. Các Phật tử nhân ngày này, dành hết tâm lực và tài vật, mà đặc biệt là chắt chiu dành dụm từng đồng để sắm cho được chiếc y vàng, thành kính dâng lên cúng dường chư Tăng để được thấm nhuần công đức.
Ngày ấy, ngày chúng Tăng tự tứ, đã tự nhiên biến thành lễ hội dâng y và đi vào lòng người Phật tử như là một lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, gắn liền với lễ hội Vu lan. Ðó là một truyền thống tốt đẹp, cần được tiếp tục và phát huy. Ðó âu cũng là một phương pháp giáo dục cho mọi người ý thức và tôn trọng nếp sống đạo đức, tri túc, giải thoát, và gìn giữ nền đạo hiếu của dân tộc
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét