THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Kinh Duy Ma - Bài 3 >> Phẩm 3:Thanh văn

Kinh Duy Ma - Bài 3 >> Phẩm 3:Thanh văn Việc Đức Phật bảo mười đại đệ tử đến thăm Duy Ma có thật hay không, chúng ta gác qua một bên. Tôi nghĩ rằng kinh Duy Ma kiết tập sau khi Phật Niết bàn, hình thành ý thức trách nhiệm của Đại chúng bộ khác hẳn với ý tưởng xuất ly của Thượng tọa bộ. Với kiến giải của Đại chúng bộ, Đức Phật là người cứu khổ, Ngài không còn trên cuộc đời, không trực tiếp cứu độ; nhưng Ngài ủy thác việc này cho chư Tăng thay Ngài đến với mọi người, được diễn tả bằng sự kiện Phật gọi mười đại đệ tử đến thăm bệnh Duy Ma. Đệ tử Phật thay Phật thăm bệnh Duy Ma mang ý nghĩa chúng ta gánh vác trọng trách giải quyết vấn đề đau khổ của trần thế. Muốn giải quyết, hành giả phải nương theo pháp bảo Như Lai và sử dụng giáo pháp thích hợp để cứu lành bệnh cho nhân gian. Đức Phật ủy thác mười vị Thanh văn đến thăm bệnh Duy Ma hay đó là sáu vấn đề quan trọng đặt ra cho chúng ta, khi tu hành phải triển khai cách nào cho lợi lạc bản thân và sáng đẹp cuộc đời. Sáu vấn đề đó là: tu Thiền, thuyết pháp, khất thực, giữ giới, xuất gia và nhận thức về Đức Phật. Xá Lợi Phất từ chối thăm bệnh Duy Ma Duy Ma chỉ trích Xá Lợi Phất ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây có phải là Thiền hay không, Thiền như vậy còn cách trí tuệ Phật xa lắm, v.v... Qua câu chuyện chất vấn của Duy Ma với Xá Lợi Phất gợi cho hành giả nhận thức thế nào là tu Thiền. Thiền là tĩnh lự, nghĩa là sự hiểu biết ở trong trạng thái yên tĩnh gọi là siêu thức, khác với hiểu biết qua ý thức của thế gian. Thiền của Đức Phật giúp chúng ta chẳng những thân khỏe, tâm không phiền não, mà đặc biệt là tâm hồn được yên tĩnh và sáng suốt để giải quyết mọi việc đúng đắn, tốt đẹp nhất. Vì thế, Duy Ma đề cao tâm chứng Thiền phát xuất từ sinh hoạt nội tâm và bác bỏ Thiền hình thức. Duy Ma bảo Xá Lợi Phất, hay Thanh văn từ bỏ Thiền ngoại đạo để sống với Tam pháp ấn trong trạng thái tâm yên lặng, hoàn toàn hướng về Phật đạo. Hàng Thanh văn nghe pháp Phật xong, tập trung tư tưởng vào giáo lý Phật, để giáo lý bừng sáng trong lòng và phát triển khả năng hiểu biết của mình. Không phải ngồi yên rồi trở thành cây khô hay than nguội củi mục. Thanh văn Thiền hay Thiền thoại đầu đưa ra đề mục theo mẫu suy cứu có sẵn, lần hồi bước theo toàn bộ mẫu của Đức Phật trở thành A la hán. Duy Ma cũng nhắc Xá Lợi Phất rằng Thiền không phải là tránh chỗ ồn ào tìm nơi thanh tịnh. Thanh tịnh hay không là cốt lõi ở tâm. Cảnh dù có yên tĩnh đến đâu, nhưng khi tâm dao động, thì cũng khó định được. Giống như Xá Lợi Phất vừa trải tọa cụ ngồi thiền ở nơi thanh vắng, liền bị Duy Ma xuất hiện quấy phá. Xá Lợi Phất không thể vào định nổi. Duy Ma cảnh giác Xá Lợi Phất không nên đi theo lối mòn bỏ động tìm tịnh của hàng sơ tâm học đạo, sẽ uổng phí cho người có trí tuệ như Xá Lợi Phất. Sai lầm của Xá Lợi Phất là sai lầm trong Thiền định, giữ ngài ở vị trí A la hán, không thành Phật. Ngài chỉ phát huệ một chiều nghĩa là huệ giới hạn, khác với Phật huệ thì vô cùng, có khả năng điều động toàn bộ Pháp giới. Sau khi chứng Niết bàn Tiểu thừa theo pháp tu Thiền của Thanh văn, Duy Ma dạy pháp tu Thiền của Bồ tát. Tiêu biểu cho mẫu Bồ tát thực hành Thiền định đúng pháp là Ngài Duy Ma. Duy Ma tuy thực hiện đầy đủ mọi việc làm ở thế gian một cách tốt đẹp, tâm vẫn trụ chánh định. Không lúc nào tâm Duy Ma không thanh tịnh và rời giải thoát. Ngài không tu Thiền để chết lần về thế giới u tịch. An trú trong Thiền định, Duy Ma vẫn hiện hữu trên cuộc đời, bước trên Bát chánh đạo dưới dạng đại bi tâm, sửa đổi những sai lầm của Thanh văn, dìu dắt họ từ tâm niệm Tiểu thừa sang phát tâm Đại thừa. Mục Kiền Liên từ chối thăm bệnh Duy Ma Trước khi vào thành Tỳ Da Ly, ngài gặp các con của trưởng giả và nói cho họ nghe sở đắc mà ngài chứng ngộ trong Thiền định. Nhưng họ đã bỏ đi và Duy Ma xuất hiện đúng lúc như người bạn tâm đắc của Mục Kiền Liên. Sự thật không phải Mục Kiền Liên không dám thăm bệnh Duy Ma. Ý này của Đại chúng bộ ngầm ám chỉ sau Phật Niết bàn, chư Tăng hay Thượng tọa bộ mang ý tưởng tách rời thế gian, không chịu dấn thân vào đời, vì nhận thức kém hơn thế gian. Chỉ trích này của Đại chúng bộ cũng dễ hiểu. Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử triết học Ấn Độ, nhận thấy rõ sau Phật Niết bàn, hàng tu sĩ Phật giáo không kham lãnh việc giáo hóa, vì lạc hậu hơn người, hiểu biết thua kém người. Duy Ma khẳng định rằng thuyết pháp phải chú trọng đến trình độ của người nghe và phải đáp ứng được yêu cầu của đại chúng, giúp họ phát triển tâm Bồ đề. Nhận thấy họ thuộc giới kinh doanh, Duy Ma dạy pháp tạo ra nhiều của cải và dùng tài sản này làm lợi ích cho chúng sinh. Khi nghe Duy Ma giảng như vậy, họ liền phát tâm Đại thừa, cố gắng làm việc tốt để nâng cao đời sống hạnh phúc cho họ và cho mọi người. Duy Ma gợi cho họ hình ảnh của Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời, chỉ nhằm làm vơi bớt khổ đau của chúng sinh và tăng thêm an lạc cho mọi người. Ca Chiên Diên từ chối thăm bệnh Duy Ma Ca Chiên Diên là nghị luận đệ nhất A la hán. Trước kia, ngài giảng pháp vô thường, khổ, không, vô ngã và lập thành hệ thống lý luận có bài bản. Một hôm, ngài gặp các thanh niên, con của trưởng giả, đem nguyên văn này trình bày, liền bị họ bác bỏ. Duy Ma xuất hiện để gỡ rối cho Ca Chiên Diên, không phải đến để hạ ông. Ca Chiên Diên phạm lỗi lầm là giảng giải theo hình thức. Điều này nhằm diễn tả sau Phật diệt độ, các Tỳ kheo lớn tuổi theo chủ nghĩa hình thức, giáo điều, thường buộc mọi người sống theo khuôn mẫu có sẵn. Lối thuyết pháp này, hay nói rộng hơn, lối tu theo mẫu cố định chẳng những không có tác dụng, đôi khi còn phản tác dụng. Vì lịch sử không bao giờ tái diễn như cũ. Chúng ta học đạo, nghe nhiều; nhưng phải biết kết hợp với nhận thức của riêng mình để phát huy trí tuệ rồi tùy nghi ứng xử cho có kết quả tốt. Duy Ma chỉnh Ca Chiên Diên tán dương Niết bàn tịch tĩnh cho những người đầy nhiệt tình xây dựng xã hội, thì thật là sai lầm. Sở dĩ Đức Phật nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã để phù hợp với tâm niệm của những người bất lực chán đời. Còn những người đang hướng về tương lai tươi sáng trước mắt, mà ta nói pháp vô thường, tất nhiên họ sẽ chống ta. Duy Ma gợi nhắc Ca Chiên Diên nên phân biệt căn tánh của đối tượng nghe pháp. Những người căn tánh Đại thừa, mang chí lớn muốn xây dựng phát triển xã hội, phải chắp cánh cho họ thăng hoa. Hay nói cách khác, đây là tư tưởng tiến bộ của Đại chúng bộ chống lại tư duy hình phạm cố định của Thượng tọa bộ. Duy Ma triển khai pháp vô thường, vô ngã để lớp người trẻ nghe, họ không thấy chán đời, không trốn đời. Ngài không nói vô thường để dẫn đến không có gì hết. Duy Ma cho biết tất cả các pháp sinh diệt mang tính chất vô thường, luôn thay đổi; nhưng trong sinh diệt, Đức Phật tìm được cái không sinh diệt. Không phải vô thường rồi mất luôn. Nói vô thường để tìm thấy cái thường còn. Tìm cái chân thường trong vô thường, tìm cái không biến đổi trong cái biến đổi, tìm Niết bàn trong sinh tử. Đó chính là pháp Phật. Phú Lâu Na từ chối thăm bệnh Duy Ma Phú Lâu Na kể lại trước kia ngài thuyết pháp cho hàng tân học Tỳ kheo về các pháp căn bản, Duy Ma xuất hiện bảo ông đừng đem đồ ô uế đựng vào bát lưu ly, đừng lấy nước bốn biển đổ vào lỗ chân trâu. Nghĩa là đừng lấy pháp nhỏ dạy cho người có tâm hồn rộng lớn. Duy Ma có chỉnh Phú Lâu Na thật hay không, là việc ngoài tầm tay của chúng ta. Theo tôi, đây là ý niệm của những người trí thức trẻ tuổi đầy nhiệt tình của Đại chúng bộ phải chịu đựng sức đè nặng của lớp cha anh bảo thủ. Họ muốn bung lên để phát triển, không bằng lòng học và làm những gì không còn thích hợp, không chấp nhận được. Duy Ma chỉnh Phú Lâu Na là bậc Pháp sư đệ nhất, thuyết pháp mà không quan sát được căn tánh hành nghiệp của Tỳ kheo, vô tình phá hư hạnh của họ. Muốn dạy người, phải biết rõ căn cơ của họ; đừng căn cứ vào hình thức mới tu, còn nhỏ. Vì trên dòng sinh mệnh tương tục của Bồ tát, trong kiếp luân hồi nhân quả, nay tái sinh lại, tuy mới tu còn nhỏ tuổi; nhưng công đức và yếu tố Bồ đề của họ đã được un đúc từ nhiều đời quá khứ. Không thể đặt họ ngang bằng với người lớn tuổi tu trước, nhưng thật ra chỉ mới tu trong đời này. Người đồng tu hay người đi trước hư hạnh, bị Duy Ma ví như đồ ô uế và tâm của người mới xuất gia vào đạo trong sạch ví như bát lưu ly. Thói hư tật xấu của người trước đập vào mắt, ăn sâu vào tim người mới vào đạo. Duy Ma xem đó như đồ ô uế để vào bát lưu ly. Điều này Duy Ma nhắc người xuất gia phải luôn luôn thể hiện đời sống kiểu mẫu phạm hạnh. Đó chính là thuyết pháp. Ca Diếp và Tu Bồ Đề từ chối thăm bệnh Duy Ma Ca Diếp và Tu Bồ Đề có chung một hạnh khất thực. Ca Diếp chuyên khất thực xóm nghèo. Tu Bồ Đề ngược lại, chỉ đến nhà giàu khất thực. Kinh Duy Ma mượn hai nhân vật Ca Diếp và Tu Bồ Đề để chỉnh lại ý niệm sai lầm rằng khất thực thì thành đạo, không khất thực không phải người tu. Chúng ta xét lại việc hành đạo của Đức Phật để xem Ngài có quan niệm rằng khất thực là cứu cánh hay không. Trước hết, thấy rõ Đức Phật sử dụng nó như phương tiện để gần gũi hàng Sa môn. Đi khất thực như Đức Phật không phải đi xin ăn. Ngài sống trong Thiền định, không cần ăn; nhưng Đức Phật vào đời và sử dụng khất thực như một pháp tu, một phương tiện để tạo mối quan hệ với người đời. Lần lần, Ngài giáo hóa, dìu dắt họ tiến trên con đường thánh thiện. Vì vậy trước khi đi khất thực, Ngài quán sát nhân duyên xem nên đến độ ai và dùng pháp gì để độ. Ca Diếp tiêu biểu cho đầu đà đệ nhất A la hán. Đầu đà nghĩa là khổ hạnh, ngài lập hạnh xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Ca Diếp nói với Đức Phật rằng lòng ngài điềm đạm vô dục, không có mong muốn nào cả và đi vào xóm nghèo khất thực. Ngay khi đó gặp Duy Ma vặn hỏi Ca Diếp thật sự có lòng từ bi rộng lớn, thương người nghèo hay không. Khất thực như vậy có trái với nghĩa vô dục hay không. Vô dục thì phải bình đẳng khất thực, không khởi ý nghĩ giàu nghèo; còn ham muốn đến chỗ nghèo, là đã rớt qua dục mà cứ tưởng là vô dục. Đạo Phật là đạo bình đẳng, đạo trí tuệ. Đức Phật trải tình thương khắp mọi người, không phân biệt giàu nghèo. Ai có duyên với Ngài đều được tế độ; từ bà già ăn mày cho đến vua có quyền thế nhất, Ngài đều không từ bỏ. Ca Diếp xuất thân giai cấp giàu có, bỏ địa vị giàu sang, xuất gia và thích độ người nghèo để thấy mình cao cả. Như vậy, tâm Ca Diếp đã kẹt vào pháp. Duy Ma hỏi Ca Diếp có nên từ bỏ người giàu chăng và từ bỏ có đúng không. Vì biết khéo sử dụng người giàu tri thức và giàu của cải, họ sẽ đóng góp nhiều lợi lạc cho nhân quần xã hội. Duy Ma chất vấn Ca Diếp rằng ngài là người cao cả đức hạnh, ai cũng quý trọng. Ngài từ bỏ tất cả, nhưng nay tại sao lại ôm bình đi xin ăn. Ngài có nghĩ khất thực sẽ thiệt hại lớn cho việc tu hành và giáo hóa của ngài hay không. Đến đây, Duy Ma gợi cho Ca Diếp mục tiêu khất thực. Theo Duy Ma, không vì kéo dài mạng sống mà ăn, là ý nghĩa của pháp đầu đà. Vì ăn mà khất thực chẳng khác gì ăn mày. Vì sống để ăn chẳng khác gì phàm phu, làm sao có thể xem là đệ nhất A la hán. Theo Phật, người khất thực không cầu món ăn, nhưng cầu giải thoát, cầu pháp hỷ thực và Thiền duyệt thực, tinh tấn tu hành để đắc đạo, đắc pháp, không còn bị trói buộc trong Tam giới. Nhờ Duy Ma chất vấn, Ca Diếp tìm được ý nghĩa pháp tu khổ hạnh, ý nghĩa của việc vào làng khất thực. Đối với Tu Bồ Đề là A la hán giải Không bậc nhất, Duy Ma khuyên rằng người trí phải hiểu được nghĩa lý của việc mình làm. Tu Bồ Đề không nghĩ gì, nhưng tại sao lại đến nhà giàu của Duy Ma khất thực. Giải thích rằng ngẫu nhiên đến là Tu Bồ Đề đã lạc qua ngoại đạo. Còn đến mà không nghĩ gì thì không đúng. Duy Ma chỉnh lại kiến giải Không của Tu Bồ Đề. Giải Không nghĩa là khi chạm phải thực tế cuộc đời, mọi việc phải giải quyết dứt khoát viên mãn, không tồn tại trong lòng thắc mắc buồn phiền. Một Tỳ kheo đúng nghĩa vào làng khất thực, mang hình bóng, lời nói, tâm niệm đều giải thoát, khiến cho người cũng thanh tịnh theo. Lời chất vấn của Duy Ma với Tu Bồ Đề hay Ca Diếp không phải phát xuất từ một ông Duy Ma bên ngoài. Theo tôi, trên cuộc đời có hai Đức Phật, một Đức Phật Thích Ca ở bên ngoài và một vị Phật thứ hai ở trong lòng chúng ta. Duy Ma không ai khác hơn là bản tâm thanh tịnh của chính chúng ta. Lòng chúng ta thật yên tĩnh, phiền não trần lao không xâm nhập, mới lắng nghe được tiếng nói chân tình phát xuất từ đáy lòng phê phán chính mình và tùy theo đó, ta điều chỉnh cho đúng Chánh pháp. Những điều Duy Ma phê phán là những gì mà tâm vương của chúng ta phát hiện; hay nói cách khác, là lẽ chân thật giúp chúng ta thăng hoa trên đường đạo. A Na Luật, Ưu Ba Ly, La Hầu La và A Nan lần lượt từ chối thăm bệnh Duy Ma A Na Luật hay A Nâu Lâu Đà là thiên nhãn đệ nhất A la hán. Tầm nhìn sự vật, phân tích sự vật, không ai vượt qua ngài. A Na Luật quán sát sự vật bằng tâm, không bằng mắt, dùng trí rọi qua chân lý, không rọi qua cảnh. Một hôm, ngài vừa tham Thiền, vừa kinh hành, thấy thế giới Phạm Thiên hiện ra và nghe Phạm Thiên hỏi: “Thiên nhãn của ngài thấy xa được bao nhiêu?”. A Na Luật trả lời ngài quán sát thấy rõ tất cả mọi vật như thấy trái cam trong lòng bàn tay. Lúc đó Duy Ma Cật xuất hiện. Duy Ma không phải là người bên ngoài, nhưng là người từ thế giới thuần tịnh đến, hay là một hiện thân của Đức Phật để giáo hóa. Duy Ma Cật nghĩa là bản tâm thanh tịnh, tức tu hành đạt đến trạng thái bình ổn cao nhất, tự đáy lòng ta hiện lên tiếng nói của Duy Ma. Vì vậy, Duy Ma không nói với người ngoài, chỉ nói với người tu cao. Duy Ma nói với A Na Luật là người mù ở thế gian, nhưng ngài rất sáng ở chân lý. Duy Ma chỉ trích A Na Luật rằng nếu thấy thế giới bằng hình tướng thì thuộc giả tướng, tức dùng tâm sinh diệt thấy pháp sinh diệt. Cả hai nằm trong tướng vô thường là sinh diệt. Như vậy, đâu đáng gọi là Phật pháp. Nếu thấy dưới dạng thể, thì tánh thấy và vật bị thấy là một, nên phải nói không thấy. Còn nói thấy thì rớt qua nhị nguyên. Không thấy mà thấy là cái thấy vượt thế gian, là xuất thế gian. Nói cách khác, vượt hiện tượng giới và bản thể, một cái thấy chỉ có Đức Phật Thích Ca sau 49 ngày tư duy ở Bồ Đề Đạo Tràng chứng nghiệm được. Tiếp theo, Ưu Ba Ly là trì luật đệ nhất A la hán, thích sống khuôn mẫu nên dễ rớt vào giới điều. Ông chấp chặt giới luật trong việc xét xử hai Tỳ kheo và bị Duy Ma chỉnh lý, nay khiếp sợ không dám đến thăm bệnh Duy Ma. Có hai Tỳ kheo phạm giới, xấu hổ, không dám thưa với Đức Phật, liền đến hỏi Ưu Ba Ly phải sám hối bằng cách nào. Ưu Ba Ly đưa ra chúng xét xử và đuổi khỏi Tăng đoàn. Hai thầy Tỳ kheo thất vọng quá, đúng lúc đó Duy Ma đến, nghĩa là lương tâm con người sống dậy. Khi họ phạm lỗi, Ưu Ba Ly muốn xử nặng để làm gương; nhưng thấy họ khổ lại thương, lòng thương từ chơn tâm hiện ra là hình ảnh Duy Ma xuất hiện. Hay có thể nói Duy Ma này là bản tâm thanh tịnh của Ưu Ba Ly khởi lên, nhắc nhở ông một tình huống nào cũng có mặt lý và mặt tình không giống nhau, phải cân nhắc suy xét cho kỹ. Duy Ma xuất hiện giải tỏa khó khăn cho Ưu Ba Ly trong việc áp dụng giới. Duy Ma nói với Ưu Ba Ly tuy hai Tỳ kheo có tội, nhưng ông đừng tròng cho họ thêm một tội thứ hai. Giới để ngăn ngừa tội, nhưng nếu lỡ phạm tội thì phải tùy theo đó mà ngăn tội kế tiếp. Không phải xét xử để đưa họ đến phạm tội khác. Chuyện tội lỗi chỉ có hai Tỳ kheo và Ưu Ba Ly biết. Ông nên dùng trí tuệ xóa đi. Tại sao lại đem phơi bày cho cả trăm người biết, làm cho đại chúng có ấn tượng xấu đối với hai Tỳ kheo kia. Ưu Ba Ly tiêu biểu cho người giữ giới hình thức, nên Duy Ma xuất hiện để phát triển phần nội dung; vì đôi khi hình thức rườm rà giết chết nội dung quan trọng. Duy Ma nhắc rằng cứu cánh của người tu hành nhằm đạt tới Phật quả, còn giới chỉ là phương tiện giúp ta đắc đạo, không phải lấy giới ràng buộc để cột cứng ta lại, chẳng làm được gì. Hai vị Tỳ kheo nghe Duy Ma giảng xong liền phát tâm Bồ đề. Trên bước đường tu hành, chúng ta lưu ý đừng để việc trì luật làm khổ mình và người. Cần nhận chân được Phật pháp chỉ có một vị giải thoát và tội tánh Không; vì thế, ta tạo nghiệp đều do ảo giác. Bao giờ chúng ta chuyển được tâm hoàn toàn thanh tịnh, trí tuệ bừng sáng thì tội tự mất. Bồ đề tâm phát, tội tự tiêu, giống như mặt trời lên, bóng tối tan đi. Đạt được tâm địa này, chúng ta có thể chuyển hóa người hết phiền não nhiễm ô và được thanh tịnh. La Hầu La mật hạnh đệ nhất A la hán, cũng vấp phải lỗi lầm về quan niệm xuất gia khi ngài khuyên các vương tử ở thành Tỳ Da Ly xuất gia để được công đức. Có Duy Ma và La Hầu La nói chuyện thật hay không, không quan trọng. Đối với tôi, đây là vấn đề xuất gia đặt ra cho chúng ta suy nghĩ. Tư tưởng Duy Ma nhằm chỉnh lý sai lầm của chúng ta về vấn đề xuất gia bằng cách mượn nhận thức sai lầm của một số người gán lên cho La Hầu La để chỉ chúng ta thế nào là xuất gia đúng pháp. Người quan niệm xuất gia có phước đức rồi xuất gia, là lạc vào sai lầm lớn. Họ vì lợi xuất gia. Kẹt vào lợi có khác gì phát xuất từ lòng tham, thuộc nghiệp và phiền não, quả báo chắc chắn sẽ đến. Duy Ma khẳng định xuất gia không có công đức. Xuất gia là hy sinh để làm chuyện khó khăn hơn. Vì có gia đình, chúng ta bị ràng buộc trong môi trường nhỏ hẹp, ý chí không tung hoành ngang dọc được. Vì ấp ủ tình thương bao la, muốn ôm cả vũ trụ vào lòng. Vì không trông coi gia đình nhỏ bé, mà muốn điều động cả thiên nhiên. Rời xa cha mẹ, người thân để bao phủ tình thương cho muôn loài. Tất cả những điều này đều khó làm, thuộc vô vi pháp, khởi lên từ những tâm hồn hướng thượng cao cả, từ chối quyền lợi thế gian đạt đến siêu xuất thế gian. Duy Ma vẽ ra cho hành giả lộ trình của người xuất gia đúng Chánh pháp là xuất thế tục, xuất phiền não và xuất tam giới; vì ba trạng thái sống này trói chặt chúng ta trầm luân sinh tử trong tam giới. Người xuất gia phải chuyển đổi ngũ uẩn thân thành ngũ phần Pháp thân, để thấy chính xác mọi việc, cũng như vận dụng được mọi pháp một cách tự tại, không còn bị trói buộc trong sinh tử luân hồi. Đây là điểm cao nhất của lộ trình xuất gia. A Nan đa văn đệ nhất A la hán, nghe và nhớ hết lời Phật dạy. Ngài nghe Phật nói không khỏe nên đến Bà la môn xin sữa cho Đức Phật. Duy Ma xuất hiện chỉnh A Nan, bảo ông nên yên lặng, đừng để chư Thiên và Bồ tát mười phương nghe lời nói ấy. Ông nghĩ về Phật thế nào, mà nói Ngài bệnh. Chuyển luân vương phước báo chưa bao nhiêu còn không tật bệnh. Như Lai có thân kim cang, các ác đã dứt, các lành tròn đủ, làm sao bệnh được. Đây là quan niệm trái ngược với quan niệm nguyên thủy. Giáo lý nguyên thủy nói đến Phật là nhắc đến sanh thân Đức Phật Thích Ca tu hành, thành Phật, thuyết pháp và 80 tuổi chết. Nhưng kinh Duy Ma mở màn cho kiến giải Đại thừa nhìn về Đức Phật qua tinh thần, qua lý tưởng cao đẹp của Ngài. Đức Phật cũng là con người, nhưng khác mọi người ở điểm Ngài thành đạo. Thành đạo đồng nghĩa với tìm ra chân lý. Trong thân tứ đại của Phật hàm chứa điều cao quý, đó là chân lý. Chân lý thì làm sao sinh già bệnh chết được. Đức Phật thể hiện trí tuệ tuyệt vời, tức Pháp thân bất sinh bất diệt và thân Phật còn kết tụ bằng đạo hạnh làm lợi ích cho vô số quần sanh, gọi là Báo thân. Duy Ma bảo A Nan nhìn Phật qua Pháp thân và Báo thân, thì làm gì có bệnh. Với con người A Nan bằng xương thịt nghe Phật nói sao ghi y vậy là kinh Nguyên thủy. Tiến lên, A Nan bằng tư duy nghe Phật thuyết, suy nghĩ và kiết tập lại là kinh Duy Ma. Ở đây mượn sai lầm của tu sĩ Thượng tọa bộ đem gán lên cho A Nan để nhắc nhở hành giả học giáo lý, phải suy nghĩ và ứng dụng vào cuộc sống, ngõ hầu nắm bắt được Pháp thân và Báo thân Phật tồn tại mãi trong thời gian vô tận và không gian vô cùng. KẾT LUẬN Tóm lại, mười vị đại đệ tử tiêu biểu cho mười hạnh tu của Đức Phật, gợi cho chúng ta nhận thức tu hành thế nào đúng Chánh pháp. Mỗi vị chuyên tu một pháp, suốt đời chỉ rèn luyện một hạnh mà còn vấp phải sai lầm. Huống chi chúng ta thực hiện nhiều hạnh, chắc hẳn sẽ lạc vào sai trái, khó đắc quả. Mới đọc qua kinh Duy Ma, chúng ta nhận thấy giá trị của Tỳ kheo thấp. Mười vị đại đệ tử đều lãnh đạo đại chúng, nhưng vẫn bị Duy Ma chê trách. Vì vậy dưới cái nhìn của Tiểu thừa, họ cho rằng kinh này bôi nhọ chư Tăng. Làm gì có chư Tăng thấp kém hơn cư sĩ. Tuy nhiên, trên thực tế, điển hình tôi thấy cụ Lê Đình Thám, một nhân vật rất gần chúng ta. Ngài là thầy của các vị danh Tăng như Hòa Thượng Mật Hiển, Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Trí Thủ, Thiện Hoa, Thiện Hòa, v.v... Nhận thức của chúng xuất gia không chính xác bằng cư sĩ, gợi cho tôi liên tưởng đến hình ảnh Duy Ma là hiện thân của Đức Phật. Ngài chỉnh lý mười đại đệ tử để khích lệ chúng xuất gia nỗ lực phát triển đạo đức và tri thức, loại bỏ tánh tự mãn ngõ hầu thăng hoa trên bước đường tu. Nếu không, chúng xuất gia sẽ dễ dàng vấp ngã trong đời ngũ trược ác thế này. Dưới tầm nhìn của Đại thừa lấy tri thức làm nền tảng quyết định. Hình thức bên ngoài mang thân cư sĩ hay xuất gia không thành vấn đề. Nhận thức của chúng ta ở tầm mức nào và chúng ta thành tựu được lợi ích gì cho xã hội, cho nhân loại. Chỉ có sự đóng góp này quyết định giá trị của chúng ta trên cuộc đời. Kinh Duy Ma không có kinh Pháp Hoa phụ đính, chúng ta dễ hiểu sai lầm. Kinh Pháp Hoa cho thấy các đại đệ tử Phật không dở, không thua bất cứ người nào, chứ không riêng gì cư sĩ. Có thể nói các ngài giả bộ thua, để tạo thành tấm gương cho hàng Tăng thượng mạn Tỳ kheo khiếp sợ, nỗ lực tu học. Điển hình như Ca Diếp có lần được Phật nhường cho ngài nửa tòa ngồi, thì làm sao Ca Diếp có thể thua được. Hoặc ngài Phú Lâu Na đã từng ở 90 ức Phật quá khứ hộ trì trợ tuyên Chánh pháp của Như Lai. Trong hiện tại và trong hiền kiếp về tương lai, ngài cũng là bậc nhất. Hay ngài A Nan đã từng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác với Đức Phật Thích Ca từ thời Phật Không Vương. Thật sự, những vị này không phải thuộc hàng Thanh văn tầm thường. Kinh Pháp Hoa cũng xác định nếu Đức Phật nói tất cả sự thật này, mọi người sẽ khiếp sợ không dám tu. Đệ tử Phật thua Duy Ma, vì ý của Đức Phật muốn vậy, gọi là phương tiện của Ngài. Đức Phật sắp xếp cho họ thất bại, đẩy họ vào đường cùng để phát sinh trí tuệ, đưa ra bài học giáo hóa sống động cho mọi người. Mười đại đệ tử thể hiện pháp tu Thanh văn, nhưng thật sự các ngài có căn tánh Đại thừa. Xuất hiện trên sân khấu cuộc đời, đối trước những người mang tâm niệm chán đời, các ngài phải khoác chiếc áo yếm thế để giáo hóa, lần khai ngộ cho họ. Sự thật tâm hồn các ngài thật cao thượng, đã cùng với Đức Phật dấn thân trên vạn nẻo đường đời, tích cực trợ lực với Phật trong việc tuyên dương Chánh pháp, mới tạo được uy tín rộng lớn cho Tăng đoàn thời bấy giờ. Công đức, hạnh nguyện và trí tuệ của các vị đại đệ tử như Đức Phật xác định trong kinh Pháp Hoa rằng ngoài Đức Như Lai, không ai có thể thấu biết được.
Kinh Duy Ma » Bài 10 » Phẩm 10 » Phật Hương Tích Vấn đề diễn tả trong phẩm Phật Hương Tích thuộc thần thông biến hóa. Nếu chỉ hiểu theo tín ngưỡng, chúng ta khó chấp nhận thần thoại này. Tuy nhiên, điều chắc chắn rằng Phật giáo là đạo của trí tuệ, đạo đi ngược lại với thần quyền. Vì vậy, câu chuyện nêu lên trong phẩm này theo tôi hàm chứa ý nghĩa sâu xa bên trong buộc người nghe phải suy nghĩ. Và tôi xem phần chân lý mà Đức Phật đã thể nghiệm được mới thật sự quan trọng. Trong phẩm trước, Bồ tát Văn Thù tán thán sự lặng thinh của Duy Ma là tuyệt diệu, gợi cho chúng ta ý tưởng vô tác diệu lực của Duy Ma. Tuy Ngài không làm, nhưng tác động đến muôn loài ở độ cao nhất, không còn dùng ngôn ngữ giảng giải được. Tuy nhiên, hàng Thanh văn đối trước sự yên lặng này lại khởi tâm chán nản. Lúc trước, an trụ trong pháp bất tư nghì giải thoát, thể nhập chân lý bất nhị của Bồ tát, các Ngài quên đi nhu cầu bức bách của thân tứ đại, quên đói. Nhưng nay không tiếp tục an trú trạng thái tịch tĩnh, rớt trở lại thực tế của con người bình thường, cảm thấy chán nản, thấy đói. Xá Lợi Phất đại diện cho hàng Thanh văn khởi tâm nghĩ giờ ăn gần đến, các Bồ tát sẽ thọ thực nơi đâu. Ở đây, Xá Lợi Phất thị hiện chưa giải thoát để nhắc nhở những người xuất gia còn vướng mắc trong căn trần thức. Duy Ma biết tâm niệm Xá Lợi Phất liền hỏi Ngài đến đây cầu pháp hay cầu thực. Điều này cảnh tỉnh người tu không được nghĩ đến thức ăn. Đối với người tu, ăn để sống, không phải sống để ăn. Nhưng theo tôi, chúng ta cần đặt lại vấn đề ăn là gì. Theo cái thấy biết bình thường, ăn là cho thức ăn vô miệng nhai và nuốt xuống bao tử. Tuy nhiên, quan sát kỹ hành động ăn, chúng ta thấy rõ nó là các pháp nằm trong vòng luân chuyển. Thật vậy, trong hành động ăn có diễn tiến từ vật này xuyên qua vật khác, để sinh ra vật mới, giống như ta đưa nguyên liệu vào máy và cho ra sản phẩm. Ăn cũng vậy, chúng ta đưa nguyên liệu thức ăn vào nhà máy cơ thể sẽ cho chúng ta sự sống. Như vậy, rõ ràng ăn là sự chuyển đổi. Theo Thiền sư phân tích thân này không phải là Ta, mà là sự vật luân chuyển. Thức ăn và không khí ngày hôm nay thủ tiêu thức ăn và không khí ngày hôm qua. Thức ăn và không khí luôn luân chuyển, chúng ta nhận nó làm Ta, chẳng khác nào chụp mồi bắt bóng để đời đời kiếp kiếp ở trong ngục tù tam giới. Vì thế, hành giả đang ở pháp bất nhị thanh tịnh giải thoát, rớt trở lại thực tế nghĩ đến ăn, chấp nhận ăn là Ta, thì vô số tội lỗi sinh ra. Phẩm trước là Bất nhị pháp môn nhằm xác minh rằng vật không phải là Ta. Ta là chơn tánh giải thoát và từ chơn tánh giải thoát khởi niệm ăn, vấn đề mới đặt ra. Đối với người xuất gia, đời sống tâm linh quan trọng và cần thiết hơn, còn sự vật mặc cho nó luân chuyển. Tâm vắng lặng như Duy Ma, dù vật có luân chuyển bên ngoài, thì ý niệm cũng thành không. Vì vậy khởi lên ý niệm ăn, liền rớt vô sinh diệt và Duy Ma lợi dụng cái ăn sinh diệt này để giải thích cho thấy người tu có cái ăn khác với phàm phu. Hàng La hán không cần ăn như chúng ta. Nhưng chưa đắc quả, còn mang thân phàm, vấn đề ăn quan trọng, nó đè nặng chúng ta, không ăn không chịu được. Thuở bé tu hành, tôi cũng bị chuyện ăn làm khó dễ; vì chỉ ăn ngọ, nhưng suốt đêm bao tử dày vò mình, nó cồn cào, vượt qua được không đơn giản. Xá Lợi Phất không ở trong tâm trạng này, nhưng Ngài đại diện cho người chưa đắc đạo đặt vấn đề để chúng ta suy nghĩ. Theo thông lệ phải đi khất thực. Khi nghe Đức Phật Thích Ca dạy Bồ tát Văn Thù đến thăm Duy Ma, các Thanh văn nghĩ hai thượng thủ gặp nhau chắc có pháp gì hay. Họ cùng đến nhà Duy Ma, quên mất việc khất thực, vì cầu pháp nên quên chuyện ăn. Nhưng đến nhà Duy Ma thấy trống không, chỉ có một cái giường nằm. Xá Lợi Phất khởi niệm không có gì ăn. Theo Phật, mục tiêu chính của người tu là giải thoát, cởi bỏ những gì ràng buộc chúng ta. Những cái gần chúng ta nhất, dễ nắm bắt, dễ cởi bỏ là ăn, mặc, ở. Tuy thấy nó gắn liền với chúng ta mật thiết, nhưng thật sự từ bỏ nó không khó. Thọ, tưởng, hành, thức thuộc tâm, khi ẩn khi hiện, chúng ta khó điều chỉnh, khó bỏ hơn. Khi tu còn cảm thấy muốn ăn, thèm ăn, phải tự biết xấu hổ, vì còn ở mức thấp nhất trong pháp Phật. Vấn đề tầm thường nhất, dễ nhất chúng ta không vượt nổi, làm sao qua được những khó khăn khác. Duy Ma chỉnh Xá Lợi Phất tu giải thoát không được khởi niệm ăn. Nếu trụ pháp thanh tịnh, hành giả sẽ thâm nhập Thật báo trang nghiêm Tịnh độ có nhiều món để ăn. Kinh diễn tả rằng Duy Ma bảo Xá Lợi Phất nếu muốn ăn, hãy chờ giây lát sẽ có bữa ăn thượng diệu chưa từng có. Theo tôi, "Muốn ăn có ăn" mà Duy Ma nói khiến chúng ta dễ hiểu lầm với cái muốn của thế gian. Ở đây vấn đề diễn dịch kinh điển gặp nhiều vướng mắc ngôn từ, nên diễn tả không trung thực lắm. Phải hiểu rằng "Không muốn" mới thâm nhập pháp bất nhị. Ý này nhằm diễn tả A la hán vào được pháp bất nhị, nhận được nhiều thức ăn thượng diệu. Đức Phật dạy đầu tiên chúng ta có Pháp hỷ thực. Món ăn chính của người tu là pháp, tinh thần chúng ta ăn pháp hay sống với pháp. Pháp luôn luôn sinh diệt, nên người tu quán pháp sinh diệt mà sống. Hành giả quán pháp sinh diệt, hiểu và vận dụng được pháp sinh diệt, không còn lệ thuộc nó, trở thành chủ nhân của các pháp. Đức Phật khác chúng ta ở điểm đó. Thực tế là Đức Phật ăn tất cả pháp giới, mà không phạm tội gì. Trong khi chúng ta chỉ khởi niệm ăn, đã thành tội. Đức Phật đứng ở lập trường giải thoát nuốt tất cả Pháp giới, nói cách khác, Ngài vận dụng được pháp giới, biến pháp giới thành pháp thân Ngài. Kinh diễn tả các loài sinh diệt đang sống trong thường trú pháp thân của Thích Ca Như Lai, là thức ăn của Như Lai hay một phần thân Như Lai. Đối với người tu, cần nuôi lớn tinh thần bằng pháp. Và tiến sâu vào thiền định, sinh hoạt trong trạng thái nội tâm có món ăn thứ hai là thiền thực. Thiền là bản tâm thanh tịnh. Sự vật bên ngoài luôn biến đổi, nhưng tâm hành giả vẫn lắng yên, không biến đổi. Tâm no đủ, không đói, nhưng sự thật thân có đói. Bấy giờ, hành giả quán chiếu được thân là vật sinh diệt, thì đáp ứng yêu cầu sinh diệt để thân tứ đại tồn tại. Trong khi tâm luôn no đủ sáng suốt, quét sạch tham vọng của thức. Vô minh không còn, thì yêu cầu của cơ thể không nhiều như chúng ta tưởng. Yêu cầu của cơ thể nhỏ, nếu bản tâm thanh tịnh. Điều này thể hiện rõ qua đời sống của các Thiền sư ngộ đạo. Các Ngài chỉ ăn đơn sơ mà vẫn sống khỏe. Thân không có khả năng đòi hỏi nữa, hành giả chỉ cung cấp những thứ cần thiết cho thân tồn tại. Biết cách cung cấp đúng chính xác, chu kỳ tồn tại của thân càng kéo dài hơn, nghĩa là tuổi thọ tăng và khỏe mạnh. Ngược lại, tham vọng của chúng ta quá lớn sẽ làm chu kỳ sinh diệt của thân rút ngắn lại. Chúng ta nghĩ rằng bồi dưỡng để thân khỏe hơn; nhưng cung cấp cho nó thật nhiều, để rồi nó thải ra những độc tố vật chất và độc tố tâm hồn, làm cho thân bệnh hoạn, tâm khủng hoảng. Chẳng hạn có những loại thuốc hóa chất dùng chữa bệnh, nhưng chữa được bệnh này lại gây ra bệnh khác nặng hơn. Thậm chí có những sản phẩm giúp con người sống tiện nghi hơn, đỡ phí sức, tăng tuổi thọ. Nhưng giải quyết việc này xong, lại gây ra khủng hoảng ô nhiễm môi trường đe dọa sức khỏe con người, làm phát sinh những bệnh mới nữa. Nói chung, tất cả tồn tại khổ đau khó giải quyết, vì văn minh của con người chính là vô minh. Duy Ma tiêu biểu cho bản tâm thanh tịnh giải thoát mới có thiền thực. Ngài làm thí nghiệm bằng cách nhập định, tác động cho chúng hội nhìn thấy thế giới Chúng Hương, nghĩa là Ngài trắc nghiệm cho chúng ta thấy bản thân hành giả giải thoát và người chung quanh được giải thoát theo. Kinh diễn tả là đi ngược về phương trên, tìm thấy nước Chúng Hương. Nghĩa là tìm những gì cao đẹp có trước chúng ta, tìm thấy hằng hà sa chư Phật, mỗi vị Phật có cách sống, cách giáo hóa chúng sinh riêng. Hành giả góp nhặt những gì mà Đức Phật quá khứ làm để sống theo. Đó là món ăn thượng diệu. Câu chuyện mở đầu này mang tính chất triết học, mượn chuyện thần thoại để diễn tả sự phát triển tri thức. Từ một người thường mở rộng tầm nhìn để thấy thế giới Chúng Hương và tạo điều kiện cho người khác cùng thấy. Đó là việc làm của Bồ tát Duy Ma thể hiện ý nghĩa mỗi người đứng ở hoàn cảnh riêng của chính mình mà đi lên, hội ngộ Đức Phật Thích Ca. Kế đến, Duy Ma hiện ra một Bồ tát đầy đủ uy đức và Ngài dặn Bồ tát biến hóa này lên gặp Đức Phật Hương Tích xin cho Duy Ma một phần cơm thừa để làm Phật sự. Vị hóa Bồ tát nếu hiểu theo ngày nay là chúng ta có trí khôn sẽ làm được tất cả, sử dụng trí khôn con người chuyển được vật chất thành phương tiện. Hoặc hiểu theo nghĩa thứ hai, hành giả dùng bản tâm thanh tịnh kết hợp với sự vật dưới dạng bản thể để khởi lên hiện tượng. Pháp thân Bồ tát ở dạng thể tánh đến Ta bà, dùng tâm chuyển vật mà hình thành một sắc thân y như người Ta bà để sống với họ, gọi là ứng hóa thọ sanh thân. Bồ tát biến hóa theo tia sáng bay đến nước Chúng Hương đảnh lễ Phật và nói đúng lời Duy Ma dặn, không khác. Theo giáo sư Nomura, một hóa Bồ tát do Duy Ma tập trung tư tưởng biến hóa ra và lập y lời Duy Ma khiến ông có cảm giác đó là một người máy robot do con người tạo nên để làm việc thế cho ta và chỉ có người máy, hay máy điện tử ghi nhận mới lập y lời được. Ở đây, Duy Ma tập trung tư tưởng vào Thiền định để khám phá ra một cái gì khả dĩ thay cho sức người, được diễn tả dưới hình thức Duy Ma đưa hóa Bồ tát lên nước Chúng Hương và làm cho chúng hội cùng thấy được nước Chúng Hương. Bồ tát ở thế giới Chúng Hương nghe tên thế giới Ta bà khởi tâm muốn xuống xem thử Ta bà thế nào. Và Phật Hương Tích dặn các Ngài xuống Ta bà phải nhớ đừng hiện thân y như nước Chúng Hương và đừng tỏa mùi hương. Muốn tồn tại thích nghi với chúng sinh Ta bà, các Ngài cũng phải thu hình lại, mang thân tứ đại hữu hạn như người ở Ta bà. Hành Bồ tát đạo chúng ta phải ghi nhớ lời Đức Phật Hương Tích dạy cũng đồng nghĩa với lời Đức Thích Ca dạy chúng ta tu Đồng sự nhiếp trong Tứ nhiếp pháp. Bước chân giáo hóa đến nơi nào, chúng ta phải sống y như mọi người, hài hòa với họ; vì sống khác biệt dễ tạo thế đối lập, khó an toàn giải thoát. Thế giới Ta bà được giới thiệu cho Bồ tát ở thế giới Chúng Hương và ngược lại cảnh giới Chúng Hương được mở rộng cho Bồ tát Ta bà. Điều này gợi cho chúng ta ý niệm mỗi Đức Phật hiện thân sinh hoạt trong một môi trường khác nhau, nên sự giáo hóa tất nhiên phải khác nhau. Hai chúng Bồ tát của Ta bà và Chúng Hương gặp gỡ nhau mới làm sáng tỏ được pháp môn bất nhị. Khi hóa Bồ tát đã lãnh bát cơm xong cùng với 900 vạn Bồ tát thừa thần lực của Phật và Duy Ma trong khoảnh khắc về đến nhà Duy Ma. Lúc ấy Duy Ma Cật hóa ra 900 vạn tòa sư tử cho các Bồ tát ngồi. Nếu hình dung nhà Duy Ma với một diện tích hữu hạn, làm thế nào dung chứa được trăm vạn tòa sư tử cho các Bồ tát. Điểm này đối với người có thế giới quan do tu chứng, dễ cảm nhận, hoặc người có đời sống tâm linh mới hiểu được cái không cùng tận, vô giới hạn. Ngược lại, đứng trên lãnh vực của đời sống hiện thực rất giới hạn, khó thâm nhập cảnh giới tâm chứng này. Thật vậy, thế giới tâm linh tuy nhỏ, nhưng nhiếp thu bao trọn được vật lớn. Cả vũ trụ nằm gọn trong đơn vị nhỏ nhất là tri thức, thì không còn gì mà nó không dung chứa được. Vì tri thức của chúng ta mở rộng đến đâu, muôn vật theo đó tự xuất hiện. Mọi diễn biến do thần lực Bồ tát phát huy tạo thành cảnh giới bất tư nghì. Hiểu theo thời đại ngày nay, tương tự như tất cả hình ảnh của thành phố Hồ Chí Minh, hoặc cả trái đất, hay mặt trăng được thu gọn vào một cái vô hình qua vệ tinh viễn thông và chui gọn vào tivi dễ dàng. Tôi cảm nghĩ nó tương tự như thế giới bao la của chúng ta trong thiền định. Trong vệ tinh, chúng ta không biết thế nào, nhưng nó mang hình ảnh cả thế giới hay hành tinh đưa vào làn sóng điện nhỏ chuyển thẳng về đây cho chúng ta thấy. Và thế giới được khuếch đại rộng lớn tùy theo màn ảnh tivi, màn ảnh tivi của chúng ta 12 Inche, chúng ta có thế giới rộng 12 Inche, màn ảnh 21 Inche thế giới biến thành 21 Inche, v.v… Tác động tinh thần của chúng ta cũng vậy và có phần linh hoạt gấp bội lần. Duy Ma thể hiện được lực tác động tinh thần này gọi là phát huy thần lực, tạo thành cảnh giới bất tư nghì, một cảnh giới chỉ hiện ra cho những vị Bồ tát nào đã thể nghiệm tâm chứng. Tùy trình độ tu chứng của Bồ tát mà cảnh giới chư Phật mười phương mở ra hay khép lại, giống như có tivi thì hình mới hiện lên vậy. Sau khi mang chúng hội vào thế giới hiện thực Ta bà, Duy Ma hỏi các Bồ tát của thế giới Chúng Hương rằng Phật Hương Tích giáo hóa chúng sinh như thế nào. Các Ngài trả lời thật đơn giản rằng tâm những người ở thế giới Chúng Hương thuần thiện, không làm việc ác, không phạm sai lầm. Tùy theo độ cảm tâm giữa Bồ tát và Phật mà các Ngài đắc đạo, chỉ ngồi gốc cây nghe mùi hương tỏa ra cũng được giải thoát. Câu trả lời của Bồ tát Hương Tích gợi nhắc chúng ta nhớ lại hình ảnh Đức Phật Thích Ca xưa kia thành đạo dưới cây Bồ đề. Bồ đề là trí giác, nghĩa là hành giả sống trong ánh sáng chân lý của Phật. An trú trong pháp Phật cảm nhận mùi hương lạ, hương đạo hạnh, hương trí tuệ, hương giải thoát của Ngài. Hành giả thưởng thức mùi hương đó hay sống với pháp Phật lâu ngày được giải thoát. Đức Phật Hương Tích không cần giáo hóa bằng ngôn ngữ. Mọi người tự thăng hoa theo trình độ tu chứng của Bồ tát đạo. Nói cách khác, Đức Phật Thích Ca đã Niết bàn, không thuyết pháp, nhưng hành giả thâm nhập thiền định, tìm ra vô số ý nghĩa của Phật pháp thân thường trú. Bồ tát Chúng Hương học được với Phật pháp thân, cảm được lực tác động của pháp thân Phật mà giải thoát. Điểm này cũng dễ hiểu khi chúng ta thấy trên thế giới ngày nay tùy từng nơi có cách giáo dục khác nhau. Ở thế giới văn minh có hình thức giáo dưỡng theo văn minh. Ở nước lạc hậu, phương cách giáo dục tất nhiên có phần yếu kém. Và Bồ tát của thế giới Chúng Hương hỏi lại Duy Ma ở Ta bà, Đức Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh như thế nào. Duy Ma trả lời ở Ta bà, đối với chúng sinh ngang ngược bướng bỉnh, Đức Phật Thích Ca phải nói rõ mọi tội lỗi và hình phạt quả báo tương ưng, nhằm ngăn chặn tâm ác của họ. Các Bồ tát này cảm thấy kinh ngạc với các pháp môn không giải thoát mà các Ngài chưa hề nghe. Vì ở thế giới Chúng Hương thuần thiện, tên tội ác và địa ngục còn không có, huống là có tội ác thật. Đức Phật Hương Tích giáo hóa không giống Đức Phật Thích Ca. Ngài lặng thinh tác động cho chúng nhân thể nhập chân lý. Trong khi Đức Phật Thích Ca phải đi, phải nói, phải ngăn, nghĩa là dùng mọi phương cách để điều phục chúng Ta bà. Từ điểm khác biệt này, Đức Phật Thích Ca khai mở cho chúng ta hình dung thế giới thánh thiện chỉ đạo cho thế giới xấu ác. Ngài thuyết minh rằng thế giới Ta bà có sáu đường sinh tử, không phải có một đường duy nhất tiến đến Phật đạo. Bồ tát ở nước Phật Hương Tích, pháp thân tiến triển lần, không cần trải qua sáu đường sinh tử như ở Ta bà. Quá trình Đức Phật Thích Ca thuyết pháp trong tứ sanh lục đạo gợi cho chúng ta ý nghĩ tìm pháp thân thường trú trong cuộc sống thực tế hay từ sinh hoạt tầm thường này vượt lên thành cuộc sống phi thường là Phật vĩnh hằng bất tử và từ con người phi thường ấy trở lại giáo hóa chúng sinh là Phật ứng hóa thọ sanh thân. Bồ tát Chúng Hương nghe Duy Ma nói chúng sinh thế giới Ta bà cang cường, các Ngài sợ muốn bỏ về liền, ngầm chỉ các vị La hán đắc đạo muốn nhập Niết bàn theo Phật. Vì Bồ tát Chúng Hương hay La hán sống trong pháp Phật cảm thấy an lành bao nhiêu, ra đời phiền lụy bấy nhiêu. Các vị này vội vàng từ giã Ta bà trở về trụ xứ gấp. Duy Ma dạy rằng các Ngài hãy ở lại đây, tuy khó nhưng tu một ngày ở đây bằng ở thế giới Chúng Hương tu vô số kiếp. Theo Duy Ma, ở Ta bà mới có điều kiện cho hành giả tu sáu pháp ba la mật, đạt cứu cánh Vô thượng đẳng giác. Thật vậy, ở thế giới Chúng Hương, không có người nghèo dốt, dở để chúng ta hành pháp bố thí. Đối với pháp tu trì giới để độ phá giới, trên cuộc đời có bao nhiêu điều xấu cám dỗ, chúng ta mới luyện được tâm thanh tịnh, sống với nhiễm ô tội lỗi mà vẫn trong sạch. Về pháp tu tinh tấn, ở Ta bà có nhiều việc cho chúng ta làm; nếu thật tâm tu hành muốn tạo công đức, ai cũng có khả năng làm, dù dở. Lên Hương Tích, chúng ta có bằng ai mà làm. Pháp tu nhẫn nhục cũng vậy. Chúng sinh cang cường, chúng ta mới có cơ hội nhẫn nhục. Ở Hương Tích, chẳng ai gây, chẳng ai làm phiền cho chúng ta nhẫn. Duy Ma đem cơm Hương Tích từ thế giới Chúng Hương về thế giới Ta bà. Theo tôi, Đức Phật Hương Tích không phải là một vị Phật nào khác lạ đối với chúng ta. Ngài chính là Đức Phật Thích Ca được hình thành dưới một dạng khác. Và thế giới của Đức Phật Hương Tích và thế giới Ta bà thông với nhau thành một cõi. Thật vậy, cùng một Đức Phật nhưng sinh hoạt giáo hóa trong hai cảnh giới khác nhau, phải xuất hiện dưới hai dạng thân khác nhau. Đức Phật Hương Tích giáo hóa dưới dạng Pháp thân ở thế giới giải thoát Niết bàn tịch diệt phi diệt. Và một Đức Phật Thích Ca sinh hoạt với tư cách một sanh thân tứ đại của con người Ta bà hiện hữu trên nhân gian, mang lợi lạc an vui cho chúng hữu tình. Hành trình của Duy Ma từ thế giới Ta bà bay bổng về thế giới Chúng Hương xin cơm, mở ra cho chúng ta quan sát hai thế giới riêng biệt. Ngài dẫn chúng ta từ thế giới Ta bà khổ đau đi vào thế giới không khổ đau. Và từ cảnh giới không khổ đau là cốt lõi của Duy Ma hội nhập trở lại đời sống khổ đau. Hay đó là hình ảnh Đức Phật Thích Ca kiên trì lặn lội giáo hóa dọc sông Hằng, tích lũy đầy đủ công đức trở thành Phật Hương Tích. Và từ chánh báo là Phật Hương Tích tạo thành y báo mang tên thế giới Chúng Hương, một thế giới chứa nhóm tất cả mùi hương và chỉ giáo hóa bằng mùi hương. Hương này thuộc năm phần tâm hương gồm giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. Tìm được hương này, chúng ta hội ngộ Đức Phật Hương Tích, hay diện kiến được báo thân viên mãn của Đức Phật Thích Ca. Năm phần tâm hương tiêu biểu cho sự thành tựu trên nhân gian mà Đức Phật Thích Ca tích lũy được. Và chính việc làm kiểu mẫu, lợi lạc cho chúng hữu tình còn lưu lại đến ngày nay, mới tạo thành thường trú pháp thân Phật tồn tại mãi với chúng sinh ở Ta bà. Năm phần tâm hương mà Duy Ma đốt lên ở Ta bà hay cốt lõi Chánh pháp của Đức Phật mà Ngài rút ra mang cho chúng ta, giúp chúng ta thấy giáo pháp chúng ta học và cốt lõi của giáo pháp khác nhau. Pháp chúng ta học trên ngôn ngữ văn tự, trong khi cốt lõi lìa ngữ ngôn, gọi là Thiền ngữ. Người tu chấp ngôn ngữ, không bao giờ giải thoát. Vì thế, Thiền tông chủ trương tìm trực cảm giữa hành giả và Phật, truyền thừa qua tâm. Tâm hành giả thông với tâm Phật quá khứ, chuyển quá khứ và hiện tại nhập làm một. Kinh Duy Ma diễn tả bằng hình ảnh mang bát cơm từ Phật Hương Tích về Ta bà. Thâm nhập Thiền, cảm được Phật quá khứ, thấy được lẽ sống của Đức Phật. Và từ Thiền định mang tinh ba đó trở lại cuộc đời, trang trải cho mọi người, không bao giờ hết, hay cơm Hương Tích ăn không hết. Quan sát cơm Phật, chúng ta thấy gì. Đức Phật không để lại cho đệ tử tài sản nào. Người đời thì để lại đủ thứ của cải, sự nghiệp cho con cháu. Phật Niết bàn như chim bay lưng trời không để lại dấu vết. Ngài bình thản rời thế gian, chẳng để lại chút gì, nhưng sự thật những gì Ngài đã ban tặng cho đời, quả thật là quá vĩ đại. Người xuất gia theo Phật chỉ có một bát ba y. Bát Phật truyền cho đệ tử là cái bát không, không có cơm, khi thọ giới chúng ta nhận cái bát không. Nhưng từ thời Phật đến nay, trải qua mấy ngàn năm, không có vị Tăng nào đói. Rõ ràng chúng ta thấy cơm Phật nhằm chỉ cho cốt tủy của giáo pháp Phật. Chư Tăng theo đúng cốt tủy Phật dạy, tu hành phát tâm Đại thừa thì một người ăn, vô số người ăn cho đến nhiều thế hệ về sau ăn cũng không hết. Tuy nhiên, thực tế có những nhà sư đói rách, chúng ta cần xét xem tại sao như vậy. Theo Duy Ma, vì chưa phát tâm Đại thừa nên ăn cơm Phật vô, bụng bị chướng lên. Nghĩa là mặc áo Phật, mang hình tướng đệ tử Phật, nhưng đức hạnh và trí tuệ không giống Phật, thì sớm muộn gì họ cũng tự chết. Đạo hạnh của người tu theo công phu miên mật tự lớn dần, trong kinh diễn tả rằng ăn cơm Hương Tích lỗ chân lông có mùi hương. Thật vậy, suy nghĩ, việc làm của chúng ta đúng với cốt lõi của Phật dạy là vấn đề quan trọng của người xuất gia. Nếu không thâm nhập tinh ba Phật pháp, ăn cơm này, chúng ta khổ, vì bị xã hội gán cho tiếng ăn bám. Ngoài bát của Phật, người xuất gia còn có y là mảnh vải vá. Nhưng từ thời Phật tại thế đến nay, có bao nhiêu người tu chân chánh cũng không bao giờ thiếu y. Thiếu vì không phát tâm Đại thừa, không làm đúng di chúc Phật, không đến với Phật xin cơm ăn. Chỉ ăn cơm trần thế lâu ngày thành lú lẫn. Thiền tông khơi dậy ý này để chúng ta tỏa rộng sức sống đạo pháp trên cuộc đời. Cơm dư của Phật Hương Tích, Duy Ma sai hóa Bồ tát xin về cho đại chúng ăn vẫn không hết. Phật Hương Tích tiêu biểu cho pháp thân Phật Thích Ca. Năm phần Pháp thân hay tất cả những việc làm thánh thiện của Đức Phật trên cuộc đời và tam tạng kinh điển lưu truyền tiêu biểu cho cơm thừa. KẾT LUẬN Cơm Hương Tích đượm mùi thiền vị, hay bản tâm thanh tịnh mới thể nhập được thiền vị. Duy Ma là mẫu người thể hiện trọn vẹn bản tâm thanh tịnh, chỉ có Duy Ma mới lấy được cơm Hương Tích. Cơm này chứa pháp vị lạ thường. Một người ăn no rồi cho người khác ăn cũng no và phát triển pháp thân họ. Có bao nhiêu người ăn một bát cơm cũng không hết. Điển hình như Duy Ma tận hưởng được cơm thiền, tu đắc đạo và tỏa ra ảnh hưởng cho đại chúng ở thành Tỳ Da Ly tiếp nhận đều đạt giải thoát. Thực tế cho thấy từ khi Phật Niết bàn, giáo pháp Ngài để lại được từng thế hệ tiếp thu. Mọi người thăng hoa, giải thoát, ra khỏi nhà lửa sinh tử mà mỗi ngày bát cơm Hương Tích không bị vơi sụt. Bát cơm ấy lại càng lớn rộng thêm, luôn luôn cung cấp đầy đủ cho người cầu đạo. Riêng tôi, trên bước đường hành đạo, tuy gặp thật nhiều chông gai khó khăn, vẫn an lành nhờ hưởng chút hương thừa của Đức Phật, ân triêm pháp nhũ làm chất đề hồ tươi nhuận cho giới thân huệ mạng của mình. Đó là phần cảm nhận của tôi. Còn mỗi người tùy theo sự tâm chứng riêng, tiến thẳng lên thế giới Chúng Hương. Quý vị tự lấy hương công đức về trang nghiêm thân tâm, tinh tấn dũng mãnh bước theo con đường của Đức Phật đi, được giải thoát giác ngộ và làm lợi ích cho chúng hữu tình.
Kinh Duy Ma » Bài 11 » Phẩm 11: Bồ Tát - Phần 2 Đức Phật dạy Bồ tát phương trên biết được giải thoát của Bồ tát ở Ta bà, nghĩa là muốn dạy người xuất gia cần phải biết sự giải thoát của người không xuất gia. An trụ thế giới giải thoát, thì được giải thoát; đó là chuyện thường. Nhưng sống trong thế gian không giải thoát, cũng được giải thoát; đó mới là giải thoát chân chính. Người được mệnh danh xuất thế gian thường rơi vào tâm chấp trước, tưởng rằng mình giải thoát, nghĩ mình là thầy; nhưng khi không được coi là thầy, thì việc khác rồi, tâm hết giải thoát liền. Thậm chí có người quan niệm đơn giản rằng mình có cơm ăn, chỗ ở, không quan tâm cơm này từ đâu đến, nhà ở từ đâu có; nếu nghĩ thêm, sẽ không giải thoát. Không thể nghĩ như vậy được, vì người có chút lương tâm chắc chắn phải xót xa khi thấy người nông dân dầm mưa dãi nắng cực khổ cho mình có cơm ăn, thấy vật bị giết cho mình hưởng. Nếu nghĩ rằng tại nghiệp của họ như vậy, còn mình giải thoát thì cứ ăn, vật cứ chết. Chuyện ai nấy làm, không dính líu với nhau. Giải thoát như vậy chỉ có giới hạn và tạm bợ. Thực tế mối liên hệ giữa chúng ta với vật bị chết, với người nông dân, là nhân duyên phải còn. Thanh văn tu giải thoát chỉ tạm thời, chưa giải quyết dứt khoát chuyện sinh tử. Thực tế không phải vậy, nhưng chúng ta gán ép cho nó để được giải thoát. Khi nhu cầu hàng ngày còn ràng buộc chặt chẽ thân tứ đại, chúng ta còn liên hệ với mọi người mà phủ nhận sự liên hệ này, là đã rớt qua ngụy biện. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa rằng khi hành giả đắc La hán phải thấy liên hệ của ba tụ này, phải nghĩ vì tôi ăn mà vật chết, vì tôi ăn mà người nông dân phải cực nhọc. Tâm từ bi phát xuất từ đó, nên đắc La hán phải phát tâm Bồ đề. Không phát được tâm Bồ đề, thuộc về hàng tăng thượng mạn. Bích Chi Phật tu pháp quán nhân duyên, thấy rõ chỉ khi nào không còn ăn mặc ở, nghĩa là chứng được chơn như thật tướng, mới đạt giải thoát hoàn toàn. Vì vậy, cái nhìn của Bồ tát Hương Tích phiến diện và thực tế Phật dạy trong kinh Duy Ma có tính cách toàn diện, Đại thừa. Quyền Đại thừa thấy có hai thế giới riêng biệt và có sự phân công rõ rệt. Thật Đại thừa chỉ có một, không có hai, tùy từng chặng đường mà chúng ta tiến tu trên lộ trình giải thoát mà thôi. Ngay trong thế giới Ta bà mới thật có Bồ tát. Ở thế giới khác, chỉ có Thanh văn thừa hay người được mệnh danh là Bồ tát, chỉ là Bồ tát quyền thừa, thuộc về Bồ tát tâm. Họ cũng nghĩ thương vật bị giết, thương người nông dân cực nhọc; nhưng vẫn thích ăn. Họ cho rằng chuyện ai nấy làm. Nói cách khác, họ biết việc cần làm, nhưng không chịu dấn thân. Trong khi Bồ tát thật Đại thừa phát tâm Bồ đề, thấy được hiện tượng xấu, phải nghĩ ra cách xóa bỏ hiện tượng này và đi vào cuộc đời để làm công việc xóa bỏ việc tệ xấu. Bồ tát của kinh Duy Ma đạt đến tận và vô tận giải thoát. Còn giải thoát của Thanh văn một chiều, tức là có hai thế giới, tận là thế giới sinh diệt và vô tận là thế giới không sinh diệt. Thanh văn tu, diệt tận thế giới sinh diệt, để thế giới không sinh diệt hay Niết bàn hiện ra gọi là "Sinh diệt diệt, thời tịch diệt vi lạc". Từ trước đến kinh Duy Ma, chỉ có giải thoát một chiều, bằng cách tận thế giới hữu vi và sống trong vô tận của thế giới vô vi. Vì chúng ta thường quan niệm kẹt hữu vi làm sao giải thoát và bỏ vô vi cũng không giải thoát. Muốn giải thoát phải bỏ hữu vi, trụ vô vi. Đến kinh Duy Ma, chuyển sang giai đoạn Bồ tát "Bất tận hữu vi, bất trụ vô vi". Tại sao không trụ vô vi, không tận hữu vi? Hữu vi là pháp sinh diệt liên tục, cái này chết cái kia sinh, làm sao tận được. Từng con người sinh ra và từng con người lần lượt rời bỏ cuộc đời; nhưng thế giới này không mất chúng sinh, thế giới này không tận diệt. Bồ tát nhìn thấy chân lý "Hữu vi bất tận". Trong khi Thanh văn thấy "Hữu vi tận", nên vào Niết bàn. Thanh văn thấy hữu vi là tận vì họ đeo kính cố chấp của nhị thừa, ăn cơm Hương Tích nhưng không tiêu hóa được giống như bệnh lờn thuốc, vi trùng không còn sợ thuốc nữa. Thuốc không còn hiệu lực hay Phật pháp không tác động cho họ, đến độ tu lâu trở thành tăng thượng mạn, nhất xiển đề. Người chưa phát tâm, gặp Phật pháp, thì phát tâm. Nhưng tu hư rồi, gặp Phật pháp chẳng thích thú gì, là lờn thuốc. Hạng nhất xiển đề tận hữu vi mà thực tế hữu vi không tận. Họ phán rằng Chánh pháp trụ thế 500 năm, tượng pháp 500 năm, mạt pháp 1.000 năm; như vậy 2.000 năm tận thế. Kinh Pháp Hoa gọi họ là người uống lầm thuốc độc. Chúng ta sống cách Phật hơn 2.500 năm, mà rõ ràng Phật pháp "chưa tận" và tin tưởng chắc chắn rằng con cháu chúng ta còn nương theo sự nghiệp này phát triển hơn nữa. Duy Ma khuyên Xá Lợi Phất hay Thanh văn đừng trụ vô vi. Vì hữu vi không tận, trụ vô vi chúng ta sẽ bị lạc hậu, tự chết và con em chúng ta sẽ thua cuộc đời. Bồ tát bất trụ vô vi nhìn thẳng cuộc đời, phát triển khả năng, tri thức và hành động thích nghi. Trụ hữu vi là bỏ mặc cuộc đời, đóng cửa phòng lại ngồi yên chờ tận thế. Nhưng không tận thế, chúng ta sẽ khổ, con cháu sẽ chết khô; không chết khô cũng thành ăn mày, vì đã bị cuộc đời đào thải. Duy Ma bằng bản tâm thanh tịnh thấy rõ thế giới không tận. Ngài mới khuyên đừng trụ vô vi. Tuy nhiên, đại chúng khó chấp nhận, nên Duy Ma rủ Bồ tát Văn Thù dẫn đại chúng đến vườn Yêm La thỉnh ý Đức Phật phán quyết xem pháp nào đúng. Sự kiện này nhằm nói lên ý gì? Theo tôi, sau Phật Niết bàn, giáo lý được lưu truyền đời sau mang hai khuynh hướng Đại thừa và Tiểu thừa. Khuynh hướng Tiểu thừa chấp nặng hình thức, coi đó là truyền thống quý báu của đạo Phật không thể sửa đổi. Phật giáo Đại thừa không rập khuôn, chủ trương sinh hoạt gắn liền với cuộc đời, làm lợi ích cho mọi người. Hai khuynh hướng này dẫn đến hai hậu quả, một là người tu sống thoát ly, không phù hợp với xã hội, trở thành lạc hậu. Họ không phát triển đạo pháp được và chính bản thân cũng không giải thoát. Hai là người tu thuận theo thế gian để phát triển đạo, nhưng càng phát triển càng cách xa truyền thống nguyên thủy. Hai quan điểm lý giải giáo lý Phật khác nhau như vậy, đưa đến mối hoài nghi cho mọi người. Và Duy Ma làm nhiệm vụ trình Phật xét xem mô hình nào đúng. Đức Phật xác định Xá Lợi Phất đại diện lập trường Tiểu thừa hay Thanh văn thừa và Duy Ma tiêu biểu cho Đại thừa hay Bồ tát đạo, cả hai đều đúng. Ngài giải thích bằng cách đưa ra pháp môn "Tận và Vô tận giải thoát". Đức Phật cho biết từ trước Ngài dạy Thanh văn "Tận giải thoát", không dạy "Vô tận giải thoát". Ở thời kỳ nào áp dụng "Tận giải thoát" và giai đoạn nào cần tu "Vô tận giải thoát". Cả hai đều là pháp Phật. Tuy nhiên pháp Tận giải thoát dễ hiểu, dễ chấp nhận hơn. Nghĩa là muốn giải thoát, đương nhiên phải cắt đứt sự ràng buộc của thế gian, sợ luân hồi phải chấm dứt điều kiện tái sinh hay tránh cuộc đời. Pháp này dễ nghe, dễ làm và bước thứ nhất này ai cũng làm được. Thành tựu đoạn đường đầu rồi, Đức Phật mới dạy thêm rằng giải thoát nói trên chỉ có tính cách tạm thời, không vĩnh viễn. Đó là Niết bàn phương tiện mà Đức Phật tạo ra cho Thanh văn. Vì vậy, đạt được pháp Tận giải thoát xong, Đức Phật dạy Thanh văn phải tiếp tục hành Bồ tát đạo để chứng Vô tận giải thoát của Bồ tát. Thế giới Vô tận giải thoát thuộc thế giới vô vi, bất tư nghì, không nói được. Kinh Pháp Hoa diễn tả các pháp tướng thường tự vắng lặng là pháp Phật dạy Bồ tát, mà Thanh văn không thể biết; vì pháp ấy nằm ngoài ngôn ngữ, ngoài suy nghĩ, thuộc bí mật tạng. Bồ tát đồng cảm, đồng hạnh với Phật, mặc nhiên tự biết, ngang qua bản tâm thanh tịnh đạt được Vô tận giải thoát mới trực nhận pháp âm Phật. Đức Phật khẳng định quá trình tu hành của Ngài đi từ Tận giải thoát đến Vô tận giải thoát. Ngài cho biết khi thành đạo, tìm được người thợ xây ngôi nhà ngũ ấm nghĩa là chứng được Tận hữu vi hay Tận giải thoát, cuộc đời không còn ràng buộc Ngài. Mọi liên hệ với cuộc đời không còn, Ngài không tái sinh hay chứng quả Vô sanh. Sau khi thành đạo, Ngài quán nhân duyên, thấy rõ mối liên hệ chằng chịt giữa mọi người và họ tự làm khổ nhau. Muốn hết khổ, có Niết bàn, theo Phật, chúng ta phải biết chuyển đổi mối liên hệ xấu thành tốt. Làm thế nào để mọi người cùng hợp tác xây dựng với chúng ta; vì chúng ta biết rõ một cá nhân đơn lẻ làm việc không thể thành công. Con đường chuyển hướng xây dựng, bước ra cuộc đời, tất yếu phải qua cửa Bồ tát đạo, phải ăn cơm Hương Tích, phải có sức chịu đựng và đủ trí khôn mới dấn thân vào đời. Cơm Hương Tích rất cần, hay pháp Phật tác động cho nghiệp và phiền não tiêu sạch. Đạt đến Tận giải thoát xong thì bước vào lộ trình Bồ tát đạo để cứu nhân độ thế, không khó. Đức Phật xác định Ngài giáo hóa chúng sinh thành tựu công đức dễ dàng; vì Ngài đã trải qua vô số kiếp ra vào sinh tử, kiên nhẫn tu Bồ tát hạnh, tạo thành Báo thân Phật. Đến khi mọi việc không tác hại được Phật, tất cả đều diễn biến tùy ý Như Lai điều động, mới lên Niết bàn thật. Niết bàn này là giải thoát vô tận. Đức Phật không cần làm, mọi người tự làm, Phật sự tự thành. Thật vậy, Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn hơn 2.500 năm. Từ đó đến nay, từng thời kỳ, các vị danh Tăng nối tiếp ra đời ở khắp mọi nơi. Các Ngài diễn dịch giáo lý thích hợp với thời đó, làm sáng tỏ pháp Phật, nên đạo Phật không bao giờ lỗi thời. Đức Phật không dụng công làm việc này, nhưng đệ tử của Ngài hay nói đúng hơn là công đức của Ngài đã làm. Tôi thường nghĩ những điều gì tốt đẹp của đời mình đem cúng dường Phật. Tác phẩm lý giải kinh điển của Phật ở khắp nơi trên thế giới, nhiều vô số, nhưng đều nói là của Phật. Và đặc biệt hơn nữa, những gì lý giải đúng, lý giải hay, mới là của Phật; những sai lầm, dở, bị coi như ngụy tạo. Theo Phật bằng tâm niệm Đại thừa, nếu thật đắc đạo, hành giả phải hoàn toàn tốt. Điều sai xấu không thể gán cho hành giả. Đức Phật dạy rằng hoa sen không dính nước, Bồ tát không nhiễm trần. Hành giả xóa sạch một phần phiền não trong tâm, sẽ thấy một người xấu xa lánh mình. Một phần xấu của hành giả còn, một người xấu sẽ tự động đến với mình. Tâm hành giả thanh tịnh, thế giới thanh tịnh; đạo tràng vô tướng là như thế. Trên bước đường tu, tất cả xấu ác từ từ tan biến, những gì tốt đẹp dần dần quy tụ, hành giả đã tu đúng Bồ tát pháp. Đức Phật Thích Ca sau khi hoàn tất quá trình Bồ tát đạo, cảm thành thọ mạng vĩnh hằng của Như Lai. Ngài không làm nữa, nhưng giáo pháp vẫn bất tận mấy ngàn năm và chúng ta tin chắc rằng mãi về sau cũng còn giá trị. Đức Phật hành Bồ tát đạo kết thành Báo thân. Từ Báo thân hội nhập lại cuộc đời, đưa vào các pháp, biến thành Pháp thân Phật. Nghĩa là giáo pháp trong sáng toàn bích của Phật, mẫu mực đạo đức thánh thiện của Phật tác động lợi lạc, chỉ đạo cuộc đời. Đến đây mở ra cánh cửa cho hành giả nào muốn xây dựng Vô tận giải thoát tất yếu phải đi theo lộ trình Bồ tát đạo của Đức Phật vạch ra. Bồ tát Duy Ma tiêu biểu cho Bồ tát đạt được Vô tận giải thoát, hay thành tựu pháp "Bất tận hữu vi, bất trụ vô vi". Giải thoát của Bồ tát Duy Ma là giải thoát không bỏ hữu vi, không trụ vô vi. Ngài vẫn sống ở thế giới hiện tượng sinh diệt, không bỏ nó. Đó là điểm quan trọng mà Bồ tát Hương Tích thán phục và kính nể Đức Phật Thích Ca cùng các Bồ tát ở Ta bà. Nếu cũng trụ vô vi, thì có khác gì Bồ tát Hương Tích. Không trụ vô vi, không chấm dứt sinh hoạt ở thế gian, ngầm chỉ cho Đức Phật Thích Ca giải thoát ngay trên cuộc đời này, không tìm giải thoát ở thế giới xa xăm nào. Sau khi thành đạo, trong 49 năm hoằng hóa độ sinh, Đức Phật đến với mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội. Trong những hoàn cảnh khác nhau, Ngài đều mang lợi lạc cho tất cả và mọi người cũng phải nhìn nhận là Ngài giải thoát. Đức Phật giới thiệu cho Bồ tát Hương Tích giải thoát thật sự của Bồ tát Duy Ma, cũng nhằm chỉ sự hành đạo hoàn toàn tự tại của Đức Phật Thích Ca trên cuộc đời này. Bồ tát Bất tận hữu vi sống với thế giới sinh diệt, thấy đúng thực tế và chấp nhận như vậy. Thực tế có người làm ruộng, có vật bị chết và có người ăn. Nếu không chấp nhận thực tế này, là rơi vào ảo giác, giống như Bồ tát Chúng Hương ở thế giới khác bước vào Ta bà, không biết gì về Ta bà. Bồ tát ở Ta bà phải biết việc thực tế của Ta bà. Nhìn thực tế này, Bồ tát nghĩ rằng từ khi mới phát tâm tu đạo giải thoát cho đến thành La hán, chúng ta ăn biết bao nhiêu cơm rau, không phải của một người, một nhà. Ăn cơm do đàn việt mang đến, nay nghe họ gặp khó khăn khổ sở, mà dửng dưng Niết bàn, thì quả thực vô lương tâm. Vì vậy, khi đắc La hán phải phát tâm Bồ đề. Nhìn lại từng kiếp, thấy mối liên hệ giữa chúng ta và các loài chúng sinh quá mật thiết và thọ ơn của chúng sinh không thể nào kể xiết. Nếu dửng dưng với người mình mang ơn, chắc chắn không phải là La hán. Trước kia, tâm trí chưa sáng, không thấy điều ấy; nhưng đắc đạo rồi, phải thấy. Mục Kiền Liên thành La hán, thấy mẹ đọa địa ngục. Ngài nhớ rõ vì mình, mà mẹ Ngài làm những việc ác. Việc làm ác của bà Thanh Đề có liên hệ với sinh mệnh của Mục Kiền Liên, không thể lập luận rằng bà tự ý làm, Ngài không bảo; vì dù thuận hay nghịch đều là duyên có dính líu đến mình. Đắc đạo nhìn thấy người thân của chúng ta nhiều đời đang sinh tử khổ đau từng phần dưới đủ dạng khác nhau, thấy trong tứ sanh lục đạo, tất cả các loài đều có liên hệ cha mẹ, anh em, bạn thù nhiều đời nhiều kiếp. Vì thế, thành đạt rồi, có khả năng, hành giả nghĩ đến cách cứu vớt họ để trả ơn tri ngộ trong hiện kiếp hay nhiều kiếp về trước. Như vậy gọi là phát tâm Bồ đề hành Bồ tát đạo. Bồ tát phát tâm nhìn vào thực trạng xã hội có tâm trạng giống như Bồ tát Hương Tích nghe Đức Phật nói mối liên hệ của chúng ta với tứ sanh lục đạo trong nhiều đời. Các Ngài thấy Đức Phật nói có lý, nhưng nhập cuộc hay không để các Ngài về ra mắt Đức Phật Hương Tích và nghĩ lại đã. Thành đạt quả vị La hán, tâm bừng sáng, thế giới quan hiện ra, thấy thế giới sinh diệt, các loài trôi lăn trong sinh tử. Từ đó, Bồ tát khởi ý niệm vào sinh tử, coi chốn sinh tử như là vườn tiêu dao của mình, là thế giới Niết bàn. Vào trần lao sinh tử mà kẹt sinh tử, không phải là Bồ tát. Vì vậy Bồ tát "Bất tận hữu vi", điều kiện tiên quyết phải đạt được A la hán vị, hết phiền não, vào đời mới không bị đời làm ô nhiễm. Phật tử chúng ta tự xác định lại xem đoạn sạch phiền não chưa. Nếu nhập cuộc với tư cách con người đầy đủ tham sân phiền não, chắc chắn sẽ chồng chất thêm phiền não nhiễm ô. Đối với hạng người này, xin cứ hướng Niết bàn đi thẳng. Tuy nhiên, dù chưa là La hán, Bồ tát Duy Ma đã nhắc nhở chúng ta ở phần trước rằng những người ăn cơm Hương Tích chưa được quả Dự lưu, đến khi được quả vị này, cơm mới tiêu. Điều này nhằm nói lên rằng người chưa đắc đạo vẫn giáo hóa chúng sinh được, với điều kiện cơm Hương Tích chưa tiêu. Nghĩa là chúng ta sống trên cuộc đời gặp không biết bao nhiêu khó khăn buồn phiền, nhưng nhờ pháp Phật hằng hữu trong lòng, hóa giải tất cả buồn phiền, giúp chúng ta trụ giải thoát. Kết luận Phiền não bao vây Bồ tát bao nhiêu, các Ngài vẫn bước tới. Bồ tát lớn vững tiến dễ dàng và Bồ tát nhỏ vẫn có Phật pháp che tâm. Khi bị người tác hại, chúng ta liền tự nhớ hình bóng từ bi giải thoát của Phật, nhớ lời dạy cao quý của Ngài, mọi việc phiền muộn thế gian tự tiêu. Kinh ví pháp Phật như thuốc uống vào, bao giờ vi trùng chết, thì thuốc tan. Chúng ta tu học, trầm mình trong giáo lý, mang pháp Phật vào lòng, đi vào trần thế. Giáp mặt với đời, chấp nhận phiền não, để cho thuốc Phật hóa giải, đưa chúng ta đến bờ giải thoát. Vấn đề quan trọng là cần kiếm cơm Hương Tích nuôi dưỡng thân tâm. Thiếu cơm Hương Tích, chúng ta cũng chỉ là kẻ ăn xin, đời đời lang thang trong sinh tử.
Kinh Duy Ma Cật - Thầy Tuệ Sỹ giới thiệu Kinh: BẤY GIỜ, trong thành Tỳ-da-ly có vị trưởng giả tên Duy-ma-cật, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật và trồng sâu gốc rễ thiện, chứng đắc vô sinh pháp nhẫn, có tài biện thuyết vô ngại, hiện du hí thần thông, nắm vững các tổng trì, đạt được vô sở úy; khuất phục mọi thù nghịch và quấy nhiễu của Ma, đã đi vào cửa Pháp sâu thẳm, thiện xảo trong trí độ, thông suốt các phương tiện, hoàn thành đại nguyện. Ông biết rõ xu hướng của tâm của chúng sinh, có thể phân biệt căn tính bén nhạy hay chậm lụt. Đã từ lâu tâm của ông đã thành thục trong Phật đạo, đã quyết định nơi Đại thừa. Mọi hành động của ông đều dựa trên tư duy chân chính. An trú trong oai nghi của Phật, tâm trải rộng như đại dương. Được chư Phật ca ngợi; Đế Thích, Phạm thiên, Thế chủ đều kính phục. Vì để hóa độ nhiều người, bằng vào phương tiện thiện xảo, ông cư trú trong thành Tỳ-da-ly. Bằng gia sản bất tận của mình, ông bao bọc người cùng khổ. Bằng giới thanh tịnh, ông bao bọc người hủy phạm cấm giới. Bằng sự nhu thuận của nhẫn, ông bao bọc người sân hận hung dữ. Bằng đại tinh tấn, ông bao bọc người biếng nhác. Bằng nhất tâm, thiền định, tịch tĩnh, ông bao bọc những kẻ có tâm ý tán loạn. Bằng tuệ quyết định, ông bao bọc những hạng vô trí. Tuy là hàng bạch y ông vẫn tuân hành mọi luật tắc thanh tịnh của Sa-môn. Tuy là cư sỹ ông vẫn tự tại không vướng mắc ba cõi. Tuy thị hiện có vợ con ông luôn sống đời tịnh hạnh. Tuy hiện thân giữa các thuộc hạ, vẫn thường vui thú viễn ly. Tuy mang ngọc vàng châu báu nhưng trang điểm thân mình bằng tướng hảo. Dù thụ hưởng các thức ăn uống nhưng chỉ thưởng thức vị ngon của thiền. Đến phường cờ bạc để đưa người vượt thoát. Tiếp nhận dị đạo mà không hủy chính tín. Thông hiểu kinh điển thế gian, nhưng thường hâm mộ Pháp Phật. Ai gặp ông cũng đều kính nể, tôn kính vào hàng bậc nhất. Ông chấp trì luật pháp, duy trì trật tự dưới trên. Hợp tác hài hòa trong tất cả sự nghiệp buôn bán, tuy cũng gặt hái những tài lợi thế tục, ông không lấy đó làm mừng. Rong chơi trên các ngõ đường để giúp ích mọi người. Vào chốn công đường để bảo vệ kẻ thế cô. Tham gia các luận nghị để đưa người vào Đại thừa. Đến các trường học để khai sáng tâm mọi người. Vào nơi kỹ viện để cho thấy tai họa của dục vọng. Vào trong tửu lâu để khiến mọi người giữ vững ý chí. Trong hàng trưởng giả, ông được các trưởng giả tôn kính để diễn thuyết những pháp tối thắng. Trong hàng cư sỹ, ông được cư sỹ tôn kính để dạy họ dứt trừ tham đắm thế tục. Trong hàng Sát-lị, ông được các Sát-lị tôn kính để dạy họ biết nhẫn nhục. Trong giới Bà-la-môn, ông được các Bà-la-môn tôn kính để dạy họ đoạn trừ ngã mạn. Trong các Đại thần, ông được các Đại thần tôn kính để dạy họ pháp luật công chính. Trong các Vương tử, ông được các Vương tử tôn kính để dạy họ đạo trung hiếu. Trong chốn cấm cung, ông được các nội quan tôn kính để giáo hóa hết thảy cung nữ đức hạnh. Vào trong hạng thứ dân, ông được thứ dân tôn kính để khích lệ họ vun trồng phước đức. Trong hàng Phạm thiên, ông được các Phạm thiên tôn kính, hiển hiện cho Phạm thiên huệ tối thắng. Trong hàng Đế Thích, ông được Đế Thích tôn kính, chỉ họ thấy rõ tính vô thường. Trong hàng Hộ thế, ông được các vị Hộ thế tôn kính, khiến họ bảo vệ hết thảy chúng sinh. Trưởng giả Duy-ma-cật đã bằng vô lượng phương tiện như vậy làm lợi ích cho chúng sinh. • digg • Facebook • Twitter • del.icio.us • StumbleUpon • reddit
Kinh Duy Ma Cật Trang 1 trong tổng số 5 Kinh "DUY MA CẬT" cũng có tên gọi: Kinh "BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT". Kinh này nói rõ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập. Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh. Ngài DUY MA CẬT chính là Đức Phật Kim Cương Trì, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cõi Ta bà này. Muốn hiển bản tánh "Bình Đẳng Chơn Thật Không Hai" của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo. Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh "bình đẳng không hai" và đầy đủ diệu dụng giải thoát. Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lý thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để. Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải được thanh tịnh như trong kinh nói "TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH". Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi. Bộ Kinh "DUY - MA - CẬT" này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được. Giáo lý Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Bạn có thể download bản .doc ở đây Tham khảo sách Huyền thoại Duy Ma Cật của tác giả Tuệ Sỹ tại đây Tham khảo sách Kinh Duy Ma Cật của dịch giả Đàm Trung Còn tại đây Download bản ghi âm hoặc nghe online: || Tape-1a || Tape-1b ||Tape-2a ||Tape-2b ||Tape-3a ||Tape-3b||

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét