THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Kinh Duy Ma » Bài 8 » Phẩm 8: Phật Đạo

Kinh Duy Ma » Bài 8 » Phẩm 8: Phật Đạo Từ đầu kinh đến phẩm 7 diễn tả Bồ tát dấn thân vào đời thành tựu lợi ích chúng sinh, ở khía cạnh nào việc làm của Bồ tát cũng đẹp. Như vậy, chỉ thấy các Ngài tương ưng đối với chúng sinh. Đối với Phật, thì Bồ tát làm gì cho Phật. Các Ngài có đến với Phật được không và tu bằng cách nào để thành Phật. Đây là vấn đề Phật đạo, hay con đường dẫn đến quả vị Phật của Bồ tát được Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nêu lên. Duy Ma trả lời hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo, nghĩa là làm những việc sai quấy trên cuộc đời thì thành Phật. Điều này làm chúng ta hoài nghi, vì trước chúng ta thường nghĩ rằng những việc trái đạo lý không bao giờ đưa đến quả vị Chánh đẳng giác. Chỉ có con đường thánh thiện dẫn chúng ta đến Phật đạo và các đệ tử Phật cũng đã trải qua hai phần ba con đường này. Họ đã được Niết bàn, xa rời chúng sinh và thế giới phiền não, thâm nhập chốn không tịch. Đối thoại giữa Bồ tát Văn Thù và Duy Ma gợi cho chúng ta suy nghĩ để tu hành, tìm một lối đi đích thực cho mình. Vì chúng ta chấp Niết bàn, nên Duy Ma nói sinh tử. Đối với chúng sinh tội lỗi, Ngài sẽ nói con đường duy nhất dẫn đến quả vị Phật là con đường thánh thiện, làm lành lánh dữ. Dạy như vậy, để điều trị tâm người phiền não trong tam giới. Riêng pháp Duy Ma dạy hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo nhằm mục tiêu phá chấp của hành giả đã ra khỏi tam giới. Vì vậy đừng lầm vị trí phàm phu của chúng ta với vị trí của nhị thừa. Thật vậy, phàm phu không còn cách nào trong sạch hóa thân tâm ngoài con đường làm lành lánh dữ. Chúng ta chưa phá được phiền não thế gian, chắc chắn không thể hành Phật đạo bằng con đường phi đạo được. Nhưng hàng nhị thừa sau khi theo con đường thuần thiện, đã đoạn sạch phiền não thế gian, lại kẹt vào Niết bàn. Nghĩa là kẹt quả vị đã tu chứng, đóng khung trong thế giới đang sống, trụ vào hư vô, không thành Phật. Các Ngài phải phá bỏ Niết bàn giả tạm của A la hán, để bước tiếp chặng đường tu thứ hai của Bồ tát để tiến lên Phật đạo. Chỉ có các Ngài mới dám nói rằng làm những điều sai quấy là con đường đưa tới Phật đạo. Duy Ma cụ thể hóa những việc làm phi đạo cho chúng ta thấy. Khởi đầu chúng ta tu 37 trợ đạo phẩm, 6 pháp ba la mật, 4 pháp nhiếp, v.v..., nói chung, giáo lý tam thừa đều quy vào đó. Nhưng đến giai đoạn này, Duy Ma lại nói với Bồ tát Văn Thù rằng những việc làm nào ngược với các pháp vừa kể là Phật đạo. Thí dụ từ trước đến nay kinh điển quy định rằng những người phạm tội ngũ nghịch giết cha mẹ, A la hán... sẽ đọa vô gián địa ngục. Nay Duy Ma nói ngược lại rằng những người này tiến tu quả vị Phật. Hoặc chúng ta thường làm mười việc thiện để sinh về thế giới an lành của chư Thiên. Nay Duy Ma lại dạy tạo ngũ nghịch thập ác đọa vào địa ngục là con đường tiến đến quả vị Phật. Vì địa ngục đối với Bồ tát trở nên cần thiết để đắc đạo, còn đối với chúng sinh, địa ngục đáng sợ. Đến đây chúng ta cần suy nghĩ về hai vị trí khác nhau của người hành đạo. Chúng ta ở vị trí nhân môn để tu hành, nương với Phật, học hạnh Phật. Trái lại, Bồ tát đứng trên quả môn, đã thành xong Vô thượng đẳng giác và ngược chiều đi đến với chúng sinh. Vì vậy Bồ tát tạo tội ngũ nghịch thập ác khác chúng sinh tạo tội đó. Duy Ma khẳng định tuy việc làm giống y hệt nhau, nhưng dẫn đến kết quả là Bồ tát làm ác thì thành Phật. Chúng sinh làm ác, thì vĩnh viễn ở địa ngục. Đây là Bồ tát đã thông đạt Phật đạo khác với chúng sinh khởi niệm ác để bị đọa. Vào sống trong địa ngục là sự trắc nghiệm tu hành của Bồ tát. Sự thật các Ngài đã an trú quả vị Niết bàn, nhưng tạo tội để có cơ hội vào sống trong địa ngục và cứu độ chúng sinh bị đọa ở đó, khác với chúng sinh vì tham sân si tạo nghiệp phải vào địa ngục. Duy Ma nói thêm rằng tuy thân ở địa ngục mà tâm hồn các Ngài an lạc giải thoát như người sống ở cõi trời Sắc Cứu cánh tiêu biểu cho sự an lành cùng tột. Hiện vào địa ngục, tâm Bồ tát hoàn toàn an lành, tạo nên cuộc sống an lành và ảnh hưởng cho chúng sinh đồng sống trong địa ngục phát tâm tu để họ phát triển khả năng và cũng được giải thoát. Như vậy, ngũ nghịch thập ác tội làm thắng nhân cho Bồ tát đi đến Phật đạo giải thoát là điểm khác biệt giữa chúng sinh ở địa ngục và Bồ tát ở địa ngục. Kế tiếp, Duy Ma nói kiếp sống ngạ quỷ là con đường dẫn đến Phật đạo. Ngạ quỷ là quỷ đói do lòng tham quá lớn. Bồ tát nhìn thấy chúng sinh hung dữ, gian tham, trộm cắp nhiều, nhưng cuộc sống càng nghèo thêm. Ngài mới khởi tâm đại bi tạo nên nhân ngạ quỷ để sinh vào thế giới ngạ quỷ. Nghĩa là Bồ tát nhập cuộc trong xã hội tối tăm đó, mang thân ngạ quỷ, nhưng tâm Bồ tát thánh thiện mới là Bồ tát thông đạt Phật đạo. Còn Bồ tát làm tất cả việc đúng đắn để thành người gương mẫu, theo Duy Ma, chưa phải là Bồ tát thông đạt Phật đạo. Bồ tát ở ngạ quỷ cũng như Bồ tát ở địa ngục, vì đã tu vô lượng phước đức trên quả môn, nên hiện thân ngạ quỷ nhưng tâm đầy đủ phước đức trí tuệ. Các Ngài ảnh hưởng ngạ quỷ khác, giáo dưỡng chúng thành ngạ quỷ có tri thức, có đạo đức. Giáo sư Nomura giải thích rằng sự hiện hữu của Bồ tát ở ngạ quỷ theo nhãn quan của chúng ta ngày nay ví như người thánh thiện minh triết vào sống ở xứ lạc hậu để khai hóa, sử dụng khoa học kỹ thuật cải tiến đời sống người dân phát đạt, văn minh lên. Ngoài ra, Duy Ma còn chỉ cho chúng ta thấy cách hành đạo của Bồ tát hiện thân ở thế giới súc sanh. Bồ tát tạo nghiệp ác để vào thế giới ngang bướng của súc sanh. Bấy giờ, Bồ tát cũng ngang tàng mà còn mạnh hơn, dữ hơn họ, mới hàng phục được họ, dìu dắt họ về Phật đạo. Theo tôi, phi đạo của Bồ tát là không có con đường sẵn. Đạo là con đường có sẵn. Bồ tát thông đạt Phật đạo vận dụng trí tuệ, thấy việc cần phải làm. Ví dụ như Phật giáo Ấn Độ mặc y vấn, đi chân đất, ngủ gốc cây, ăn một bữa. Theo lý giải Đại thừa, đạo Phật sinh hoạt ở thời kỳ du mục cách đây hơn 2.500 năm, thì người tu ngủ hang đá, đi chân đất, nói chung, sống theo tập tục bấy giờ của xứ Ấn Độ, là việc bình thường. Nhưng đến thời đại đô thị hóa, định canh định cư, đường sá đàng hoàng, hình thức Phật giáo Ấn đầu trần, chân đất, khất thực được truyền sang Trung Quốc. Hình thức này không được giữ y như vậy, mà trở thành chùa cao, Phật lớn, người tu có áo rộng, mão cao, đi hia. Các nhà truyền giáo đã khéo kết hợp sinh hoạt của Phật giáo với văn hóa bản xứ, tạo thành sức sống mãnh liệt cho Phật giáo Trung Quốc. Khi Phật giáo truyền đến nước ta, Thiền sư Việt Nam mở đôi mắt trí tuệ kết hợp Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc với tình cảm, sinh hoạt của người Việt Nam. Từ đó, tạo thành Phật giáo Việt Nam dựng nước giữ nước, luôn luôn sống còn với dân tộc. Phật giáo Nhật Bản thì lại khác hẳn. Sư không mặc y, trông bề ngoài họ giống người thường. Tuy nhiên, khác ở điểm các nhà sư là thành phần ưu tú của xã hội, thông minh, đức hạnh. Phật giáo quản trị 120 trường đại học, cung cấp cho xã hội giai tầng trí thức. Vì thế, tu sĩ Phật giáo khác người thường ở việc làm. Người đời vì lợi ích cá nhân, người tu vì lợi ích cho tất cả. Có thể hiểu thông đạt Phật đạo là không theo lối mòn cũ. Phải vận dụng trí tuệ trong cuộc sống tu hành, giúp người an vui hạnh phúc, làm sáng danh Phật pháp. Không thông đạt Phật đạo, phạm sai lầm, tức cứ làm y hệt, giữ đúng khuôn mẫu, dù không còn thích hợp. Tôi rất tâm đắc điều Duy Ma dạy rằng Bồ tát thông đạt Phật đạo là Bồ tát thường dạo chơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta sợ nhất ba đường ác này. Nhưng tôi thấy rõ nhờ dạo chơi ba đường ác, trí khôn chúng ta mới lớn lên. Nghĩa là có giáp mặt với cuộc đời đầy tệ ác, mà không bị nó tác hại, chúng ta mới biết khôn. Trong môi trường khó giúp chúng ta phát sinh nhận thức đúng nhất, nhận thức có được từ việc tiếp xúc với hiện thực cuộc sống. Theo Duy Ma, vào đời tiếp xúc với tất cả thành phần, chúng ta nảy sinh được nhận thức, hiểu tất cả, làm được tất cả, mới được giải thoát. Tôi được tiếp xúc nhiều tầng lớp người xấu. Nhờ vậy có cơ hội quan sát chúng sinh bên ngoài và chúng sinh bên trong tâm mình nói chuyện với nhau và chúng ta làm trọng tài nói chuyện với cả hai. Nhìn người tâm tánh xấu nhất, tôi phát hiện cái gì là chúng sinh dẫn đến quả khổ. Trực diện với chúng sinh để hiểu chúng sinh và hiểu thêm được chư pháp thường không tánh, hay tánh không cố định. Chúng ta có thể uốn nắn thay đổi được, dạy dỗ chúng sinh bên ngoài cho đến thay đổi diễn biến trong tâm chúng ta. Điều hòa pháp này, tôi gặp được người hộ đạo phát tâm mạnh nhất lại là người xấu ác nhất. Duy Ma nói với Văn Thù rằng hành phi đạo của Bồ tát phải phát xuất từ tâm đại bi, không phải từ tham vọng cá nhân. Các Ngài không an trú Niết bàn và thật sự cũng không dính líu gì đến thế gian. Tuy nhiên, Bồ tát nhìn thấy chúng sinh đau khổ khởi lòng đại bi và đến với chúng sinh theo tinh thần bất vụ lợi, khác với chúng sinh đến chúng sinh bằng sự đổi chác. Bồ tát cho, không cần bồi hoàn, giúp người xong để vô quá khứ, tiếp tục làm lợi ích cho chúng sinh. Bồ tát không nhờ vả chúng sinh, không kêu gọi chúng sinh. Nhưng chúng sinh đến với Bồ tát để được sống an lành, tiếp nhận được trí tuệ tuyệt vời của Bồ tát, tiếp nhận tình thương bất vụ lợi của Bồ tát. Chẳng khác gì Phật ngồi yên trên chùa nở nụ cười nhẹ mà chúng sinh cứ tự động kéo đến quỳ lạy, tâm sự với Ngài. Trên bước đường hành đạo tôi cảm nhận ý này một cách sâu sắc, thấy rõ người sa cơ thất thế mới thật tu. Họ chết đến nơi hay sắp bị tù tội mới chịu tụng kinh, nghĩ đến Phật. Rõ ràng ở ba đường ác mới có đạo, trên thiên thượng quá sung sướng không có đạo. Từ trong ba đường ác hay hoàn cảnh khác thường, hành giả dễ bắt gặp trí tuyệt vời của Đức Phật. Không tiếp xúc với thành phần xấu trong xã hội, thì không hiểu gì về xã hội, làm sao làm Phật được. Phật thì hiểu rõ mọi việc của cuộc đời. Phật và Bồ tát đầy đủ phước đức, thông đạt Phật đạo. Giáo hóa của các Ngài so với việc làm của chúng ta trên nhân gian hoàn toàn cách xa. Ví dụ như tiền thân của Phật Thích Ca có một lần cùng đi trên thương thuyền gặp tên cướp muốn giết các thương buôn để cướp của. Lúc ấy, Ngài hành Bồ tát đạo, có khả năng trừng trị tên cướp. Vì lòng đại bi, Ngài giết tên cướp để cứu đoàn thương thuyền. Ngài đã tình nguyện làm đối tượng cho mũi nhọn căm thù của tên cướp luôn hướng về Ngài, đeo đuổi từ kiếp này sang kiếp khác, để làm nhân giáo hóa anh ta. Đến khi Ngài thành Phật Thích Ca, 500 thương buôn được Ngài cứu vẫn làm nghề buôn đứng đầu là Bạt Đà Ba La Bồ tát. Họ hướng dẫn thương thuyền từ Hy Lạp sang Ấn Độ, gặp Phật liền có thiện cảm. Vì vô lượng kiếp trước đã thọ ơn cứu độ của Ngài, nên nay hiện thân thương buôn mà thật là Bồ tát hết lòng với Phật sự. Riêng tên cướp nhờ tâm luôn dán sát với Đức Phật để trả thù, nhưng không thấy kẽ hở tội lỗi nào của Ngài, sau cùng anh ta nhập được bất nhị pháp môn và được sanh lên Thiên cung. Phát xuất từ tình thương có trí tuệ chỉ đạo, Đức Phật giết chết tên cướp biển để đưa hắn lên Thiên cung, không phải giết để Ngài và hắn cùng kẹt trong nhân quả ở địa ngục. Thiết nghĩ việc làm cần xét trên tâm lượng và kết quả để quy định thông đạt hay không thông đạt Phật đạo. Việc làm ác của Bồ tát phát xuất từ gốc thiện, mới dẫn đến kết quả thiện. Chúng ta chưa thuần thiện mà làm ác, bảo đảm ta và người cùng nắm tay nhau vào địa ngục. Trên cương vị Bồ tát, các Ngài sẵn sàng làm bất cứ việc gì, dù bị thiệt thòi, nhưng lợi ích cho người. Bồ tát mà không dám làm, vì còn sợ quả báo là Bồ tát cách Phật đạo xa. Cũng như chúng ta phải cân nhắc việc làm được, mới làm. Việc không làm được, chúng ta phải hẹn lại kiếp khác, thì chúng ta chỉ là Bồ tát sơ phát tâm. Hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo, theo giáo sư Nomura, còn có nghĩa là trong ác có hạt nhân thiện và ngược lại trong thiện có nhân ác. Ông chứng minh rằng những người cực ác như vua A Xà Thế hay A Dục khi hối hận, phát tâm trở thành cực thiện. Và từ đó, họ thể hiện được thật nhiều việc làm tốt đẹp, lợi ích cho mọi người. Có thể nói trong việc làm ác, đã có mầm thiện sinh ra. Nếu không làm ác, họ không có điều kiện phát tâm Bồ đề. Trên con đường phẳng phiu, khó thấy được chân lý. Trên đường gồ ghề đẩy chúng ta vào tuyệt thể tuyệt mạng, khiến chúng ta dễ phát tâm. Đức Phật xác định Ngài cũng phát tâm từ vị trí A tỳ địa ngục là nghĩa này. Còn người làm thiện không mất lòng ai. Nhưng lỡ có người nào xúc phạm, thì họ nổi sân si thành cực giận, bỏ luôn việc thiện. Nghĩa là từ thiện biến thành ác. Do đó theo ông, không thể đặt vấn đề thiện ác phân minh. Trong ác có thiện và trong thiện có ác. Duy Ma hỏi Bồ tát Văn Thù muốn giải thoát phải thế nào. Văn Thù cho biết thân tứ đại ngũ uẩn là nhân tố giải thoát. Câu trả lời của Văn Thù cũng tương ưng với ý Duy Ma rằng ở trong ba đường ác mau thành Phật. Ngũ uẩn là nhân tố Bồ đề hay ngũ uẩn là quả khổ thế gian. Chúng ta dễ nhận lầm hai việc này. Thông thường, người tu đều có quan niệm như Xá Lợi Phất cho ngũ uẩn là thân và thân này làm cho chúng ta khổ. Vì thế, người tu thường có ý thoát ly, vứt bỏ thân, để cảm thấy nhẹ trên bước đường tu. Tuy nhiên, chúng ta theo gót chân Văn Thù đến gặp Duy Ma sẽ thấy khác, thấy tứ đại ngũ uẩn là hạt giống Bồ đề. Bỏ nó, không có Bồ đề, ví như hạt giống gieo trong hư không. Hạt giống Bồ đề nằm trong tứ đại ngũ uẩn, kinh Pháp Hoa gọi là hạt châu trong chéo áo. Có giáp mặt cuộc đời mới hiểu cuộc đời, có thân người mới biết khổ của thân. Đối với Bồ tát, thân tứ đại của mọi người bên ngoài giống nhau; nhưng xoáy sâu vào ngũ uẩn thân để biết được cái bên trong là tri thức hay trực giác do tỉnh giác. Trực giác của người tu biết được sự vật, khác với nhận thức của chúng sinh bằng phân biệt, suy nghĩ. Chúng sinh nhiều đời ở trong sinh tử, bị xã hội nhồi nhét, tạo thành cái bên trong là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v... Nói chung, một số cố chấp của chúng ta trên cuộc đời in sâu trong tim óc làm chúng ta khổ. Nhiều người tu thường nghĩ rằng tu phải như vầy như vầy, dù có khổ gì cũng đeo theo. Họ đã bị ác kiến cố chấp ràng buộc. Trên bước đường tu, làm với lòng tốt, làm bằng tình thương chúng sinh thì mọi việc tốt lành tự đến. Làm theo yêu cầu của mình, chỉ chuốc lấy quả báo xấu. Thay đổi từ trong tâm, hoàn cảnh tự đổi theo, là cách tu của Bồ tát Văn Thù trả lời Duy Ma rằng ngũ uẩn là hạt giống Bồ đề, hạt giống giải thoát. Hội nhập cuộc sống, biết tất cả, thì không việc gì có khả năng làm khổ chúng ta. Tu theo Thanh văn ngồi hóc đá không biết gì. Đến lúc cuộc đời đem xe ủi tróc đá cũng khổ. Tinh thần Duy Ma muốn dạy rằng hội nhập sinh tử là Niết bàn, tìm giải thoát ngay trong sinh tử. Hay đó cũng chính là hình ảnh Đức Phật Thích Ca thành đạo ở Ta bà, giáo hóa lợi lạc chúng hữu tình ở ngay Ta bà. Nếu thành đạo rồi, Đức Phật cũng ngồi cội Bồ đề cho đến chết, thì chắc chắn không ai tôn danh Ngài là Phật. Điểm quan trọng đáng kể là Đức Phật đã trải qua 12 năm từ khi thành đạo đến lúc nói kinh Duy Ma, mới có năm anh em Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp... và thành tựu sự nghiệp giáo hóa trên cuộc đời này. Đó là phần giải thích của Bồ tát Văn Thù trả lời Duy Ma về quá trình tu hành của Đức Phật cho mọi người nhận biết. Duy Ma tóm ý này dạy rằng Bồ tát hành đạo phải vào chốn bùn nhơ tội lỗi. Đối tượng không trong sạch mới là đối tượng giáo hóa của Bồ tát. Phát tâm Bồ đề phải tìm đối tượng khổ, nghiệp, phiền não, mới tiếp nhận được chân tình thật sự. Duy Ma ví như hạt giống Bồ đề không thể gieo trong hư không. Bồ tát có trí tuệ đem hạt giống gieo vào đất phì nhiêu là nơi dơ bẩn có phân nước, ví cho nghiệp và phiền não. Từ đó hạt giống dễ nảy mầm, cây sẽ sum sê, đơm bông kết trái. Giáo hóa ở nơi nhiều nghiệp và phiền não, ta đã làm đúng con đường của Đức Phật Thích Ca đã trải qua và chỉ có con đường này mới đưa ta đến Phật đạo nghĩa là thành Phật. Bồ tát Văn Thù vừa luận pháp này xong, Ca Diếp liền tán thán rằng pháp này hay quá, nhưng Ngài không ứng dụng được, ví như người tàn tật không làm được gì. Trong khi chúng sinh ở ba đường ác còn phát tâm Bồ đề được, mà các Ngài không phát nổi. Ca Diếp đại diện cho hàng Thanh văn thú tịch hướng giải thoát, từ bỏ trần thế để không bị đời làm đau khổ; nhưng khi xe đời ủi đến thì không ngồi yên được nữa. Câu chuyện giữa Bồ tát Văn Thù và Duy Ma nhằm thúc bách người tu hành tiêu cực không nên lẫn trốn như vậy. Khi chỗ ẩn náu cuối cùng bị cuộc đời lật đổ, họ mới thấy được Văn Thù và Duy Ma là hai biểu tượng sống, vượt hơn nhân gian. Các Ngài mới thật sự là người giải thoát trong danh dự. Đó là giải thoát theo Đại thừa không phải trốn đời. Giải thoát theo tinh thần Phật giáo Nhật Bản nghĩa là hàng năm Phật giáo phải đào tạo cho xã hội bao nhiêu người trí thức. Nói cách khác, phải tạo vị trí nhất định của Phật giáo trên cuộc đời. Hành đạo không lợi ích gì cho đời hay căn tánh bại hoại rất nguy hiểm. Ca Diếp lãnh đạo Tăng đoàn nói lên chân tình, hay đúng hơn là tiếng nói của người có tâm huyết lo âu trước thực tế người tu chán đời, trốn đời, không làm được gì trên cuộc đời, mới đi tu. Căn tánh bại hoại mới vô chùa xuất gia chỉ xảy ra ở những nước lạc hậu, người nào bệnh cho tu, mạnh để ở nhà. Những gì xã hội vứt bỏ thì đem vô chùa. Tập hợp toàn những người phế thải này lại cho tu, thì đương nhiên họ phải tu theo kiểu bại hoại. Đành rằng người khổ đến nương nhờ bóng từ bi của Phật, chúng ta dang tay an ủi; nhưng đó không phải là mẫu thầy tu. Chúng ta phải đào tạo lớp người có khả năng làm tàng lọng che mát thế gian, không thể chỉ có toàn người núp bóng. Đến phần kết, Ngài Phổ Hiện Sắc Thân Bồ tát hỏi Duy Ma cách sinh hoạt của Bồ tát thông đạt Phật đạo ở thế gian như thế nào. Duy Ma trả lời Bồ tát thông đạt Phật đạo sống y như mọi người trên cuộc đời, vì sống khác hơn sẽ bị nhiều buồn phiền khó khăn trên bước đường tu. Đây là ý niệm hoàn toàn khác pháp tu của Thanh văn. Trước tu Thanh văn dạy chúng ta phải sống khác mọi người, nhưng nay lại bảo chúng ta hoàn toàn giống mới là lẽ sống của Bồ tát. Từ điểm đảo ngược pháp tu này, Phổ Hiện Bồ tát hỏi rằng sống bình thường là có gia đình, có quyền thế, có sự nghiệp y như người đời phải không. Ý này gợi cho tôi nhiều suy nghĩ khi chính mình mang hình thức xuất gia, như vậy có thông đạt Phật đạo chăng. Theo Duy Ma, Bồ tát sống y như mọi người, nhưng bên trong hoàn toàn khác, vì đã dứt sạch tham sân phiền não. Bồ tát cũng có cha mẹ, nhưng không phải là cha vô minh, mẹ phiền não. Bồ tát được kết tinh bằng hai pháp là trí khôn và phương tiện. Mẹ của Bồ tát là tri thức và cha là phương tiện. Trí tuệ là mẹ của Bồ tát vì trí tuệ sinh ra tất cả công đức lành. Người có lòng tốt nhưng thiếu hiểu biết, sẽ hành động theo vô minh. Họ dễ thành kẻ phá hoại gây phiền hà, tác hại cho người. Không có trí tuệ không thể hành Bồ tát đạo, không thể thành Phật. Dù họ tu năm pháp ba la mật, nhưng không có trí sáng suốt, cũng biến công đức thành tội lỗi. Phương tiện là cha của Bồ tát. Phương tiện nghĩa là làm được tất cả việc trên thế gian theo sự chỉ đạo của trí tuệ. Trí tuệ và phương tiện đầy đủ, ngôi sao Bồ tát sáng lên. Chỉ có trí tuệ, thiếu phương tiện, chẳng làm được gì, ví như người vào kho báu không lấy được, vì không có hai tay. Bồ tát hình thành phương tiện và trí tuệ, hiểu theo ngày nay là phải có kiến thức khoa học và sở hữu tài sản mới tạo nên của cải. Trên bước đường tới Bồ Đề Đạo Tràng, chứng đắc Phật quả tiêu biểu cho sự hiểu biết chính xác toàn vẹn. Và Đức Phật xuống Lộc Uyển giáo hóa là khai phương tiện, Ngài mới có đệ tử. Kế tiếp, Bồ tát khác chúng ta ở điểm lấy tâm ngay thật diệu hòa làm con trai, lấy tình thương làm con gái. Như vậy tri thức, phương tiện, lòng ngay thật và tâm từ tạo thành gia đình của Bồ tát, tức phần căn bản tu hành của Bồ tát. Hình thành khuôn mẫu gia đình Bồ tát như vậy, phải được hiểu rằng chúng ta cần tu hành giới định tuệ, lấy trí tuệ làm chuẩn. Tu trí tuệ và phương tiện trước. Hai pháp này hiện hữu trong Bồ tát và rọi ra ngoài. Bất cứ chúng sinh nào đến với Bồ tát đều đến trong trí tuệ và vì phương tiện mà đến, không phải đến trong nghiệp và phiền não. Bồ tát phát đại bi tâm rọi tới bất cứ chúng sinh nào, họ nương theo tâm đại bi này mà đến với Bồ tát. Họ sẽ rất thuận thảo, hiếu đễ, nên được coi như con gái của Bồ tát, giúp Bồ tát thành tựu sự nghiệp. Và tâm Bồ tát ngay thật diệu hòa được chúng sinh tiếp nhận. Đó là con trai của Bồ tát, giúp Bồ tát thành đạo nghiệp. Một gia đình kiểu mẫu gồm tri thức, phương tiện, tâm ngay thật và ý diệu hòa. Bốn pháp này nhân rộng ra xã hội, lấy 37 trợ đạo phẩm làm thầy chỉ dạy. Trong 37 trợ đạo phẩm, chỉ tu hai pháp sau cùng là Thất bồ đề phần và Bát chánh đạo. Bạn bè sẽ đến với Bồ tát bằng tám cửa Bát chánh đạo, Bồ tát sẽ tạo được một xã hội tốt trên nhân gian. Đó là điều kiện tất yếu giúp Bồ tát tiến đến quả vị Chánh đẳng giác. Bấy giờ, mới khai lục độ hạnh môn, lấy lục độ làm pháp lữ, lấy thiền định làm chỗ dạo chơi, lấy hàng phục chúng ma làm vui thú. Hình dung ra Bồ tát thông đạt Phật đạo, chúng ta thấy các Ngài xuất hiện nơi nào, ma oán tự tan. Thực tế như một người bị ngũ ấm phiền não ma đột nhập, gặp Bồ tát, họ tự hết buồn. Bồ tát diệt trừ ma chướng, giúp cho người tiến tu, không phải để làm phiền họ thêm. Phiền não tiêu là ma tiêu, không phải thân tiêu. Kết luận Muốn gỡ ma cho người, điều trước tiên chúng ta phải tự gỡ ma cho mình trước. Vì vậy Bát chánh đạo hay nói chung 37 trợ đạo phẩm, hành giả đừng bao giờ xa rời. Tâm hành giả hoàn toàn bình ổn, gọi là vườn dạo chơi của Bồ tát. Thiền định là thế giới an trụ của Bồ tát. Chúng ta đừng lầm diệt trừ ma bằng cách tiêu trừ chúng sinh. Diệt trừ nhằm diệt trừ phiền não, nghiệp chướng của họ và cách diệt trừ cao nhất mà Đức Phật thể hiện phải là diệt trừ phiền não trong chúng ta trước. Thân tâm chúng ta giải thoát, người nhìn thấy phát tâm Bồ đề, thăng hoa cuộc sống. Nói cách khác, chúng ta vẫn sinh hoạt bình thường trên nhân gian, cùng song hành với chúng sinh, nhưng không tham đắm nhiễm trước như chúng sinh. Ngược lại, có đầy đủ trọn vẹn phước đức trí tuệ mới tiêu biểu thật sự cho mô hình Bồ tát thông đạt Phật đạo.
Kinh Duy Ma >>> Bài 6 - phẩm 6: Bất tư nghì Bất tư nghì, hay bất khả tư nghì nghĩa là không thể nghĩ bàn, ngoài sức hiểu của con người, đòi hỏi hành giả phải tu hành đến một trình độ nào mới hiểu. Đó là trạng thái tu chứng, diệu dụng thần thông của Bồ tát. Ở đây nêu ra một số việc làm tiêu biểu mà Thanh văn và Bồ tát không làm nổi. Khi Duy Ma và Bồ tát Văn Thù bàn về pháp bất khả tư nghì giải thoát, tất cả chúng hội đều mờ mịt, không biết vị nào bệnh, vị nào không bệnh. Người bệnh và người không bệnh nói chuyện với nhau, hay đối đáp giữa Bồ tát thọ ấm thân và Bồ tát Pháp thân hoàn toàn vô hình, tức giữa hai tâm hồn trong sáng gặp nhau, đứng ngoài phần ngũ uẩn luận bàn. Vì thế, những người còn sống xoay vần trong sáu giác quan làm sao hiểu được; đối với họ tất nhiên phải thành bất tư nghì. Bồ tát Văn Thù và Duy Ma bàn luận với nhau rằng nên khuyên Bồ tát bệnh thế nào để họ vững tâm hành đạo và Bồ tát bệnh phải vận dụng pháp gì để chữa bệnh; đó là suy tư và việc làm của Bồ tát. Hàng Thanh văn tham dự pháp hội không hiểu nổi. Ví như người ở trình độ thấp nghe hai nhà bác học nói về sự chuyển biến của vũ trụ, tất nhiên họ không thể nào hiểu được. Cũng vậy, Xá Lợi Phất và chúng Thanh văn cảm thấy việc làm của Duy Ma và Bồ tát Văn Thù không liên quan gì đến các Ngài. Các Ngài không bắt gặp cái hay của Bồ tát đến thăm bệnh, mới trở về tâm niệm hạn hẹp của con người, khởi lên ý niệm 8.000 Bồ tát và 500 La hán tập trung về phòng Duy Ma. Số lượng người nghe pháp quá đông và hội trường quá nhỏ. Làm sao vào được và vào được thì trong phòng không có bàn ghế, chỉ có cái giường của Duy Ma. Xá Lợi Phất nghĩ như vậy cũng đúng, nhưng đúng với thực tế của con người còn kẹt trong sinh tử, không phải của người tu giải thoát. Đến đây, mở màn cho pháp bất tư nghì phô diễn, làm đảo lộn cái thấy bằng nhãn quan thông thường của chúng ta là phòng rộng mới chứa được nhiều người. Phòng Duy Ma nhỏ nhưng dung nhiếp được nhiều người, là việc bất tư nghì. Cũng như Đức Thích Ca Như Lai với hai bàn tay không, điều động dễ dàng cả năm ông vua cai trị miền ngũ hà ở Ấn Độ và hàng vạn Tỳ kheo, vô số cư sĩ. Điều này đối với chúng ta cũng bất tư nghì. Thanh văn thấy phòng nhỏ không có chỗ ngồi. Điều này gợi cho chúng ta biết rằng nếu suy nghĩ theo con người phàm phu dễ rớt qua tham vọng, vì túi tham không đáy, rộng bao nhiêu cũng không dung được. Nhưng đối với Bồ tát an trú pháp Không, nhỏ bao nhiêu cũng chứa đủ. Đứng trên lập trường Phật pháp, không có vấn đề nhỏ lớn nhiều ít. Chỉ ở trên sinh diệt pháp, mới có vấn đề này. Chúng ta cần lưu ý, không khéo chỉ tu hành trên sinh diệt, trăm kiếp ngàn đời vẫn ở trong sinh diệt. Ngoài ra, Xá Lợi Phất không thấy chỗ ngồi, còn có thêm ý nghĩa thứ hai mà người Việt Nam thường nói phải biết chỗ mình ngồi, ngồi cho đúng chỗ. Nói cách khác, hai vị thượng thủ Duy Ma và Văn Thù luận bàn về pháp Bồ tát thì Thanh văn không còn chỗ nào chen vô. Mang tâm niệm Thanh văn, nên nghe pháp Bồ tát cảm thấy lạc lõng. Đến đây, Duy Ma muốn nói lên tâm niệm sai lầm, tự ti mặc cảm của Thanh văn. Họ thường nghĩ Phật cao vòi vọi, còn thân phận chúng ta thấp kém. Hay đó là tư tưởng của hàng Thượng tọa bộ thường khẳng định chúng ta chỉ đạt quả vị A la hán là cùng, không thể thành Phật, không thể tu hạnh Bồ tát, hay không thấy chỗ ngồi của mình trong hàng Bồ tát. Duy Ma muốn phá bỏ tự ti mặc cảm này. Ngài tìm chỗ ngồi cho Thanh văn, bằng cách nương theo khởi niệm của Xá Lợi Phất để hỏi Xá Lợi Phất đến tìm chỗ ngồi hay cầu pháp. Câu chuyện giữa Bồ tát Văn Thù và Duy Ma đến đỉnh cao, thay vì kết thúc, nhưng bị Xá Lợi Phất cắt đứt, vì hiểu biết con người không vói tới được. Vì vậy, Duy Ma phải quay ngược lại. Xá Lợi Phất trả lời Duy Ma rằng Ngài đến cầu pháp, không cầu chỗ ngồi. Duy Ma liền chỉnh rằng không cầu chỗ ngồi, tại sao lại nghĩ đến chỗ ngồi . Xá Lợi Phất có khởi niệm chỗ ngồi là đã rớt vô sai lầm, mà vẫn không biết mình sai. Điểm này gợi chúng ta suy nghĩ trên bước đường tu, cần biết rõ được chính mình là việc quan trọng. Riêng Bồ tát, chắc chắn nhận biết và kiểm soát được từng tâm niệm của các Ngài. Chúng ta tu suốt đời, không đắc đạo vì khởi tâm động niệm liền liền. Hãy thử kiểm tra xem một ngày, chúng ta động niệm bao nhiêu lần. Duy Ma hỏi Xá Lợi Phất cầu pháp gì, có phải pháp trần nằm trong sắc, thanh, hương, vị, xúc hay không. Câu hỏi này nêu lên cho Xá Lợi Phất cũng là vấn đề đặt ra cho chính chúng ta. Chúng ta tu hành cầu pháp Thanh văn, Bồ tát, hay pháp thế gian? Pháp thế gian nghe bằng tai và nhận biết bằng tâm niệm thế gian, nên nghe pháp rồi không đắc đạo, không giải thoát. Phật dạy "Tà nhân thuyết Chánh pháp, Chánh pháp tức quy tà". Nghĩa là đứng lập trường vọng niệm căn trần thức, mà thuyết pháp và nghe pháp. Đó chỉ là pháp thế gian hay pháp sinh diệt mà Duy Ma gọi là cầu sắc, thanh, hương, vị, xúc. Cùng một pháp, nhưng hai tâm niệm khác nhau, nên tiếp thu phải khác. Người nghe pháp lòng nhẹ nhàng, phiền não tự rơi rụng là người cầu pháp Thanh văn, nghe thanh trần mà chứng Pháp thân. Còn người cầu sắc, thanh, hương, hay cầu pháp thế gian chỉ nghe chơi, rồi đâu cũng vào đó, cuộc sống của họ vẫn đầy đủ tham sân tội lỗi. Người cầu pháp sinh diệt và tu pháp sinh diệt, có được chăng chỉ được phiền não. Tuy nhiên, mặc dù pháp không phải là sắc, thanh, hương, vị, xúc; nếu chúng ta chấp nó là thật thì không đúng, nhưng lìa sắc, thanh, hương, vị, xúc để cầu pháp, cũng không được. Cần nương pháp để được giải thoát, rời nó, chúng ta càng rơi vào không tưởng hơn nữa, chẳng khác gì giấc mơ nằm trong giấc mơ, hay bỏ thế gian này đi tìm thế gian khác. Thông thường, Thanh văn tu triển khai sáu thức do sáu căn tiếp xúc sáu trần. Họ lóng tai nghe giảng pháp và Duy Ma bảo đó không phải là pháp, chỉ là thanh trần còn cách đạo xa lắm. Đến đây, chúng ta thấy chuyển từ Thanh văn thừa sang Bồ tát thừa. Hành giả hướng về chân lý cầu pháp, nên pháp thông qua tâm. Vì thế, không sử dụng sáu giác quan nắm bắt Bồ tát pháp được. Nó là tịch diệt tướng, không phải nhìn thấy bên ngoài mà phát tâm. Hành giả tự nhiên phát tâm, dù chưa nghe chưa thấy. Lúc ấy tâm Bồ đề của hành giả ngang qua tâm giải thoát của Phật, mà Nhật Liên Thánh nhân ví như chim ngoài trời hót làm thức tỉnh con chim trong lồng. Nói cách khác, Như Lai thuyết pháp tịch diệt, làm sao hành giả nghe. Tuy nhiên, tâm hoàn toàn lắng yên, liền trực nhận được pháp này, nên không thấy mà thấy, không nghe mà nghe. Duy Ma dạy rằng pháp không phải là sáu trần mà dùng sáu căn để tiếp xúc, ta đã rớt qua Thức, thuộc về pháp sinh diệt. Pháp cũng không phải là Khổ, Tập, Diệt, Đạo mà tự khởi, vì pháp vốn vắng lặng. Duy Ma bảo thực tế cuộc đời có khổ đâu, nhưng ông tự khởi niệm đời là bể khổ và mang ý niệm khổ này vào thân. Như Lai vì lòng đại bi vận dụng bất tư nghì bằng cách tạo dựng hai Niết bàn cho Thanh văn tạm nương tựa. Niết bàn này Duy Ma bảo là Niết bàn giả. Nhờ sống trong hai Niết bàn, Thanh văn không có ý nghĩ xấu về người và người cũng không sinh ác tâm đối với họ. Từ đó, Thanh văn tạm có đời sống an lành và theo Phật nghe pháp đã lâu, Đức Phật chuyển hướng cho họ có tầm nhìn khác. 12 năm trước, Ngài nói đời là bể khổ. Nay Đức Phật mượn Duy Ma để nói đời không phải là bể khổ. Vì con người mê lầm nghĩ khổ, mới có khổ. Đối tượng ở đây thuộc Bồ tát Pháp thân ở dạng bất tư nghì, thì làm gì có khổ. Không khổ mà nghĩ tưởng khổ, Thanh văn đã rớt vào vọng tưởng điên đảo. Đối với Bồ tát giải thoát, hiện tượng không chi phối, vì các Ngài không khởi niệm, nhờ đó, đạt đến bất tư nghì giải thoát. Xá Lợi Phất đang hoang mang vì pháp tu Khổ, Tập, Diệt, Đạo của Ngài đã dẫn đến quả vị Niết bàn. Nay Duy Ma lại chỉ trích không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có cứu cánh Niết bàn. Như vậy, Niết bàn giải thoát của Xá Lợi Phất tu chứng là gì, có thể có một cái gì khác cao hơn hay không. Xá Lợi Phất khởi niệm như vậy, Duy Ma liền hiển thị bất tư nghì, bằng cách hỏi Bồ tát Văn Thù đã từng dạo chơi mười phương thế giới, có thấy tòa sư tử nào cao đẹp nhất hay không. Bồ tát Văn Thù trả lời rằng Ngài đi khắp mười phương tới nước Tu Di Tướng, có Phật Tu Di Đăng Vương Như Lai, thấy tòa sư tử đẹp nhất. Ngày nay có thể diễn tả theo thời đại là đi tham quan một vòng thế giới xem nước nào văn minh nhất. Tòa sư tử là chỗ ngồi, là vị trí. Tòa này cao 84.000 do tuần tương đương với 600.000 cây số ngày nay. Đức Phật cũng có chiều cao tương xứng như vậy. Duy Ma thấy Đức Phật ngồi trên đó đẹp nhất. Lúc đó, trong pháp hội có bao nhiêu người nghe pháp, Duy Ma mượn đủ tòa cao như vậy cho họ ngồi và thỉnh Văn Thù Sư Lợi cùng các Bồ tát an tọa. Các Bồ tát nhất sanh bổ xứ đi với Văn Thù cũng biến thành thân cao lớn cân xứng để ngồi. Các Bồ tát mới phát tâm và chúng Thanh văn chỉ ngước mắt nhìn, không lên được vì còn vướng mắc căn trần thức. Hiện tượng bất tư nghì này mở hướng nhìn mới cho Thanh văn chuyển sang Bồ tát pháp. Tòa sư tử của Phật mang đặt vào thế giới phàm phu, hay trong thế giới phàm phu có Phật. Kiến giải này khác với kinh Tiểu thừa. Duy Ma bảo Xá Lợi Phất cùng đại chúng chắp tay lại đảnh lễ Tu Di Đăng Vương Như Lai, liền ngồi lên tòa sư tử được. Đến đây, chúng ta thấy Duy Ma muốn phá bỏ cố chấp lâu đời của Thanh văn, Ngài phải đưa ra cái mới cao đẹp hơn. Thời Phật tại thế, văn minh của loài người bấy giờ nằm gọn trong những lời dạy của Phật, hay lời dạy của Ngài là chân lý. Nhưng sau Phật Niết bàn, văn minh nhân loại vẫn tiếp tục phát triển, trong khi đó, những người bảo thủ theo chủ nghĩa giáo điều đến mức độ sự vật bên ngoài đổi mới khá nhiều mà họ vẫn không hay biết. Duy Ma chỉ trích Thanh văn tu Khổ, Tập, Diệt, Đạo để chứng Niết bàn và xem đó là cứu cánh, không dám bỏ. Điều này nhằm ám chỉ các tu sĩ Thượng tọa bộ sống đóng khuôn trong chùa với những quy tắc cứng nhắc. Còn thực tế bên ngoài biến đổi quá nhanh, những văn minh tiến bộ của loài người, thì hàng tu sĩ hoàn toàn không biết. Tầm tri thức của họ quá cạn cợt, không thể nào tiến lên theo kịp đà phát triển của xã hội. Duy Ma phê phán Thanh văn mất 12 năm tu hành không được gì, hay đó là sinh hoạt cục bộ cố chấp của Thượng tọa bộ chẳng lợi lạc cho đạo, chẳng giúp ích cho đời. Việc làm của Xá Lợi Phất và của Duy Ma cách nhau một trời một vực. Bồ tát ứng dụng Phật pháp một cách linh động nhịp nhàng với sự phát triển văn minh của con người. Trái lại, Thanh văn hay những người bảo thủ theo chủ nghĩa giới điều, không chịu thoát ra ngoài khuôn cố định, chỉ giữ y nếp sống tu hành cục bộ, không biết gì đến sự phát triển bên ngoài. Vì vậy, khi Thanh văn đi theo Bồ tát Văn Thù đến thăm bệnh Duy Ma, hay nói cách khác, khi tiếp xúc với cuộc đời, họ thấy khiếp sợ Bồ tát. Với hiểu biết thấp kém quan sát việc làm của Bồ tát, thì mọi việc đều trở thành ngoài sức tưởng tượng, hay bất khả tư nghì đối với Thanh văn. Sự thật Đức Phật chủ trương không có gì mà chúng ta không thể biết, không thể hiểu. Không biết, không hiểu chỉ vì chúng ta không chịu học, không chịu phát triển. Dưới nhãn quan của Bồ tát, không có gì là bất khả tư nghì. Các Ngài bước theo dấu chân Phật, nỗ lực trau giồi trí tuệ siêu xuất thế gian. Càng tiếp xúc với đời để giáo hóa chúng sinh, Bồ tát càng phát huy trí tuệ và đạo đức, là biểu tượng chỉ đạo cho mọi người kính ngưỡng. Kinh diễn tả Đức Phật ngồi trong vườn Yêm La tượng trưng cho Phật ở trong tháp không còn thuyết pháp. Lúc ấy, văn minh của cuộc đời thể hiện qua hình ảnh cư sĩ Duy Ma thuyết pháp. Pháp này là nhân sinh, là cuộc sống của con người luôn luôn thay đổi, mà đối với trí tuệ của Bồ tát Văn Thù không có gì lạ lùng hay bất khả tư nghì. Cũng như sự kiện Duy Ma thông suốt các pháp, đầy đủ thần lực giáo hóa mọi tầng lớp xã hội dưới mắt Bồ tát Văn Thù cũng không có gì bất khả tư nghì. Chỉ riêng mười đại đệ tử kinh sợ sự hiểu biết và việc làm của Duy Ma. Hay nói cách khác, Phật giáo phát triển muốn diễn tả tình trạng bi đát của chư Tăng sau Phật Niết bàn 100 năm. Tu sĩ Thượng tọa bộ cách ly thế gian, sống đóng khuôn, chấp chặt hình thức, không chịu phát triển nội dung. Họ đi ngược trào lưu tiến hóa của xã hội, trở thành thiển cận, bị đẩy lùi vào bóng tối; làm thế nào đủ khả năng, đủ tư cách chỉ đạo thế gian, làm thầy mọi người. Duy Ma dạy đại chúng đảnh lễ Tu Di Đăng Vương Như Lai thì lên tòa sư tử được. Lên tòa sư tử được hay không lên được nhằm chỉ cho tâm chúng sinh. Tâm chúng sinh có lớn nhỏ khác nhau. Hàng Bồ tát Đẳng giác thuộc thượng căn thượng trí đồng đẳng với Như Lai, hiểu biết ngang tầm Như Lai. Tâm các Ngài trực tiếp với giáo pháp vô thượng, dễ dàng bước lên tòa sư tử. Riêng hàng nhị thừa và Bồ tát mới phát tâm chỉ ngước mắt nhìn, không lên được nhằm chỉ khả năng nhỏ bé của họ đối trước thần thông diệu dụng bất tư nghì của đại Bồ tát. Hàng trung hạ ngước nhìn lên tòa sư tử. Đức Phật có hai tòa, tòa thứ nhất là tòa sen chúng ta phải lên trước. Tòa sen của Phật tượng trưng cho sự trong sạch, cao quý của Ngài.. Hành giả theo Phật, lòng lắng yên dần. Ngày nào lòng trần hoàn toàn dứt sạch, tâm hồn thanh thoát như hoa sen, hành giả về với Phật, hay gần Phật, hoặc bằng Phật, là ba nghĩa của tam thừa giáo, chúng ta có ba tòa sen. Bằng với Phật là Bồ tát Đẳng giác, gần Phật là Bích Chi Phật, về với Phật là La hán. La hán không mong thần thông, chỉ xin được tâm hồn thanh tịnh là ý nghĩa tòa sen của La hán. Từ tòa sen trong sạch này, hành giả bước sang tòa sư tử. Mới đắc đạo, ngồi tòa sen, nhưng giáo hóa chúng sinh thì ngồi tòa sư tử. Tòa sư tử có tính cách tiêu biểu, không phải tòa thật, chỉ cho trí vô úy của Đức Phật mang tính chất vạn năng. Đức Phật ngồi trên cỏ vẫn gọi là sư tử tòa. Pháp âm Phật thường được ví như tiếng rống sư tử làm muôn thú khiếp sợ. Thành Phật, với trí tuệ tuyệt luân, tư cách trong sạch thánh thiện hoàn toàn, lời nói mới có giá trị tuyệt đối, không ai chống phá được. Hàng Bồ tát ngồi tòa sư tử nghĩa là các Ngài tuyên dương được Chánh pháp Như Lai; vì liễu ngộ chơn thừa, tác động chúng sinh lợi lạc bằng với Như Lai. Riêng hàng trung hạ chưa lên tòa sư tử được, nghĩa là nói pháp không ai nghe hoặc người nghe không giải thoát. Thanh văn nhờ Duy Ma dùng thần lực đưa lên tòa sư tử, nhằm nhắc nhở Thanh văn chớ an phận với chiếc ghế nhỏ của mình hay đừng hài lòng với quả vị tu chứng. Phải tiến lên đỉnh cao vô thượng để cầu tòa sư tử cao nhất. Đến đây vẽ ra hướng mở cho Thanh văn phát tâm tu Bồ tát đạo. Bồ tát đủ tư cách ngồi tòa cao 84.000 do tuần, vì các Ngài đã vượt 84.000 phiền não trần lao của phàm phu. Xá Lợi Phất không hiểu tại sao Duy Ma đem đủ tòa sư tử vào phòng để cho chúng ngồi, mà phòng không lớn thêm và tòa sư tử cũng không nhỏ đi. Nhà Duy Ma hiểu dưới dạng nhà ngũ uẩn. Trong ngũ uẩn, chúng ta chỉ sử dụng Thức uẩn đã tạo được những linh hoạt. "Thức" là hiểu biết của con người. Nó là một đơn vị không ai thấy mà phải chấp nhận nó có thật. Những gì chúng ta học hiểu đều nằm gọn trong Thức. Chúng ta muốn đi phải nhờ xe cộ chở thân xác này; nhưng nhận thức của ta muốn đến đâu cũng được, chẳng cần phương tiện chuyên chở nào cả. Chẳng hạn khi ý thức của tôi vụt nhớ chùa Đông Đại ở Nhật Bản, tôi đến đó được ngay. Như vậy cả trái đất này mà tôi có học và suy tư, thì toàn thể vũ trụ có trong đầu tôi. Đây mới là phần Thức uẩn làm việc, so với siêu Thức của La hán, Bồ tát còn cách xa. Siêu thức hay trực giác mà Bồ tát sử dụng, chắc chắn phải đạt kết quả diệu dụng, dung nhiếp cả Pháp giới. Kinh diễn tả bằng hình ảnh Duy Ma phát huy thần lực mang 32.000 tòa sư tử của thế giới Tu Di tướng đặt vào phòng của Ngài. Kinh Duy Ma sau thời Bát Nhã là sau giai đoạn Bồ tát đã thấy được tướng Không. Núi Tu Di là Không và tướng hạt cải cũng Không. Dưới dạng Bát Nhã hay dưới tuệ nhãn của người đắc đạo, thật tướng các pháp đều Không. Vì thế, cái Không lớn bao nhiêu, cũng đưa vào cái Không nhỏ được. Các tòa sư tử Không và phòng Duy Ma cũng Không, thì Không này đem đặt vào cái Không kia, làm gì có chướng ngại. Duy Ma nói tiếp với Xá Lợi Phất khi Bồ tát đạt bất tư nghì giải thoát có thể đem núi Tu Di nhét vào hạt cải. Tất cả chúng sinh sống trong núi Tu Di cũng không thấy mình nằm trong hạt cải và Tu Di cũng không lớn ra. Hoặc đem nước bốn biển đặt vào lỗ chân lông mà tất cả loài sinh hoạt trong biển không thấy bị chật hẹp trong lỗ chân lông và lỗ chân lông cũng không lớn thêm. Hoặc hiện tượng phòng Duy Ma chứa được 32.000 tòa sư tử, có Bồ tát cao đến 42.000 do tuần lên ngồi trên tòa, mà Duy Ma bệnh nằm đằng trước các tòa này chẳng khác gì con kiến v.v... Tất cả hiện tượng đó gọi là bất tư nghì giải thoát, chúng ta suy nghĩ chứng được pháp nào, là việc riêng của từng người. Đối với tôi, nhìn về bất tư nghì này mang máng nhận ra Phật sanh thân, Báo thân và Pháp thân. Pháp thân Phật bao la, chúng ta không thấy nhưng phải công nhận thân này tồn tại. Vì Đức Phật còn chỉ đạo cho những người đi theo con đường thánh thiện trên khắp năm châu xuyên suốt chiều dài lịch sử hơn 25 thế kỷ. Đó là Pháp thân do Đức Phật tu chứng. Ngoài ra, Báo thân Phật viên mãn hạnh Bồ tát, chúng ta cũng không thấy; nhưng sự thật là đức hạnh và trí tuệ của Đức Phật vẫn tỏa rộng sức thuyết phục đối với loài người. Và trở về sanh thân con người, thì ai cũng như nhau. Có thể nói Bồ tát hiện hữu như mọi người, nhưng Pháp thân Bồ tát chứng được lực dụng bất tư nghì. Hiểu theo ngày nay, là nắm được quy luật. Tùy mức độ nắm được quy luật đến đâu, thì khả năng Bồ tát tiến đến đó. Ví dụ ngày nay, sức của con người hữu hạn, nhưng điều khiển được vật khổng lồ như máy bay hay phi thuyền chẳng hạn. Với sự kiện thực tế này để chúng ta hiểu lực của Bồ tát nằm ngoài hữu hạn và vận dụng đến vô cùng. Đó là ý nghĩa Bồ tát sử dụng sanh thân như là công cụ để hành đạo Bồ tát. Ở đây, cần nói sơ về bất khả tư nghì của Đức Phật khác với bất khả tri luận của ngoại đạo. Bất khả tri luận mang tính chất tuyệt đối của thần học, theo đó, chúng ta là con người thì vĩnh viễn không thể nào hiểu được thần thánh. Bất khả tư nghì của đạo Phật cũng có nghĩa là không thể hiểu, không thể biết. Tuy nhiên, khác ngoại đạo ở điểm chúng ta là phàm phu, chuyện của Thánh đương nhiên không biết. Nhưng phát tâm Bồ đề, mang ý hướng thượng tìm học điều chưa biết. Ngày hôm nay chưa hiểu, ngày mai chúng ta sẽ hiểu, nếu chịu học. Vì vậy, đạo Phật dạy chúng ta tiến lên đạt quả vị Phật sáng suốt giác ngộ, không phải vĩnh viễn là phàm phu mê muội. Tôn giáo khác thì chủ trương con người muôn đời làm tôi mọi cho Thánh, không thể nào đạt quả vị Thánh, chỉ có Thánh mới là Thánh. Hàng A la hán như Xá Lợi Phất trí tuệ bậc nhất, nay gặp lực Bồ tát, Ngài không hiểu, cũng cho là bất tư nghì. Dưới mắt La hán, muốn giải thoát, phải xuất gia, không dính líu cuộc đời, mới không bị nhiễm ô. Các Ngài hiểu thiện ác phân minh, Thánh phàm khác nhau, sống trong Niết bàn giải thoát, bỏ Niết bàn không giải thoát. Vì thế, các Ngài không hiểu được giải thoát của Bồ tát. Giải thoát một của Thanh văn ở Niết bàn và giải thoát hai của Bồ tát ở trong sinh tử. Khi còn yếu kém, phải tránh giặc là giải thoát của Thanh văn. Hành giả tránh đau khổ, tìm an lành. Đây là tương đối pháp phân ra hai, thế giới giải thoát đối lại thế giới sinh tử. Kinh Duy Ma giới thiệu Bồ tát thi thố một loạt các thần lực, Thanh văn không hề biết, nhằm gợi ý cho Thanh văn hướng tâm tu Bồ tát hạnh, chuyển từ trụ định La hán sang phát tâm Bồ đề. Sau khi nghe xong pháp bất tư nghì giải thoát, Ca Diếp cùng các Thanh văn bật khóc. Họ tự ví như người mù, dù có đem sự vật phô bày trước mắt cũng không thấy được. Điều này không phải diễn tả Ca Diếp và các Thanh văn khóc thật. Các Ngài có còn đâu mà khóc. Ý này nhằm diễn tả tâm trạng đau buồn của những người có tâm huyết với sự sống còn của đạo pháp. Tâm trạng ấy được nhân cách hóa thành tiếng khóc của Ca Diếp đối trước những người thừa kế hư hỏng cứ mãi sống đóng khuôn trong tháp ngà, ràng mình kỹ lưỡng bằng những giới điều không còn thích hợp với thời đại. Kinh Đại thừa thường ví Ca Diếp hay Thanh văn như người mù, mù vì không chịu phát huy trí tuệ, vì thua sút thế gian, vì sống không ích lợi gì cho đời. Ngược lại, Duy Ma hay đó là hình ảnh của những người đã thoát ra ngoài vỏ hình thức tôn giáo, có óc cầu tiến, hiểu biết sâu rộng, khéo ứng dụng giáo lý làm lợi lạc cho đời. Mẫu người tiêu biểu cho trí tuệ và đạo đức như vậy mới thể hiện đúng nghĩa đệ tử Phật, hiểu Phật, xứng đáng thừa kế sự nghiệp của Đức Phật. Ca Diếp nói tiếp rằng tuy Ngài không biết, nhưng thấy được bất tư nghì của Phật, Ngài chẳng còn sợ gì ai, kể cả ma vương. Duy Ma khởi tâm thương hại Ca Diếp lúc nào cũng núp bóng theo Phật mà lại sợ Thiên ma. Duy Ma cho biết sự thật Bồ tát trụ bất tư nghì giải thoát, mới có khả năng làm Thiên ma. Ca Diếp không hiểu tại sao Bồ tát lại có thể là ma. Ma đối với Thanh văn là cái gì đáng sợ, đáng khinh nhất. Duy Ma trả lời rằng người tu hành không đối đầu với chông gai khó khăn trên cuộc đời, không bao giờ đắc đạo. Vì vậy, các Bồ tát nguyện làm chướng ngại, biến thành ma vương phá người tu, để họ lập chí tu hành. Tuy nhiên, chúng ta đừng nghĩ rằng tất cả chướng duyên hay ma là Bồ tát thật, rất nguy hiểm. Duy Ma mới làm bạn được với Thiên ma là những Bồ tát bất tư nghì giải thoát. Chúng sinh phàm phu chưa vượt khỏi tam giới, với thấy biết hạn hẹp của "căn trần thức", không thể phân biệt ai là ma thật, ai là Bồ tát bất tư nghì giải thoát giả làm ma. Khi chưa nhận được pháp lữ hay yêu ma thật, chúng ta nên ngồi yên trên tòa sen. Nghĩa là không khởi tâm, không tham dự, không thọ nhận thì tốt hơn. Chúng ta nên nhớ trong thế giới Thiên ma có Bồ tát bất tư nghì, nhưng không phải tất cả Thiên ma là Bồ tát bất tư nghì. Đối với tôi, những gì chướng ngại giúp tôi thăng hoa trên bước đường tu, tôi coi đó là Bồ tát bất tư nghì giải thoát tạo điều kiện khó khăn cho tôi phát huy đạo lực. Trái lại, ai thật sự chống phá là ma thật, chúng ta không khoan nhượng. Kết luận Trên lộ trình tiến tu đạo giải thoát, từ sơ phát tâm cho đến quả vị Bồ tát bất tư nghì giải thoát, mỗi ngày chúng ta chạm trán với khó khăn nhiều hơn. Nhưng càng đối đầu với chông gai hung ác, chúng ta càng tỉnh táo hơn, thấy rõ đáp số chính xác cho mỗi vấn đề, cũng như thân tâm càng giải thoát theo Phật sự, thực hiện đúng sáu pháp Ba la mật. Điều đó chứng tỏ chúng ta đang bước đúng trên con đường Chánh pháp, công việc sẽ thành dễ dàng. Chúng ta cố gắng mở rộng tầm nhìn, phát huy trí tuệ và đạo đức, sẽ bắt gặp chư Phật, Bồ tát theo từng nấc thang một trong con người đi lên của chúng ta. Điểm chính yếu cần ghi nhớ rằng chúng ta chỉ vượt qua mọi chướng ngại dễ dàng với điều kiện thân tâm phải hoàn toàn thanh tịnh giải thoát. Đạt được trạng thái tâm chứng này, mới dẫn đến tòa sư tử của Bồ tát bất tư nghì giải thoát. Ngược lại, mang chướng ngại vào tâm theo mỗi việc Phật sự là hành tà đạo và đang đi trên con đường ngắn nhất dẫn đến địa ngục trần gian.
Kinh Duy Ma >> Bài 4>> Phẩm 4: Bồ tát Kinh Duy Ma đưa ra bốn vị Bồ tát tiêu biểu phạm phải những hành động sai lầm khi bước vào lộ trình Bồ tát và bị Duy Ma chỉnh lý. Vì vậy, khi Đức Phật bảo các vị này đến thăm bệnh Duy Ma, các Ngài đã từ chối. Bốn vị Bồ tát này là Di Lặc, Quang Nghiêm, Trì Thế và Thiện Đức. Các Ngài tiêu biểu cho tất cả hạnh Bồ tát từ khởi đầu đến kết thúc, không phải chỉ là bốn người riêng biệt. Di Lặc Bồ tát từ chối thăm bệnh Duy Ma Chúng ta còn nhớ Đức Phật có tam “Bất năng” là ba điều không làm được, một trong ba điều đó là Phật không thể độ những người không có duyên với Ngài. Công việc giáo hóa chúng sinh của Đức Phật đã hoàn tất, giống như công việc của lương y đã cho thuốc hay. Việc uống thuốc để mạnh khỏe thuộc về chúng sinh. Ai uống tự lành. Không uống, thì cứ ôm bệnh gào khóc. Khả năng giáo hóa của Bồ tát cũng không nằm ngoài quy luật này. Bồ tát Di Lặc thưa với Đức Thích Ca rằng không dám gặp Duy Ma hay nói lên ý nghĩa “Bất năng”, độ hết không được. Tâm đau khổ và tâm thanh tịnh của chúng ta được hình thành bằng thế giới Đâu Suất nội viện và Đâu Suất ngoại viện. Hoặc điều ấy diễn tả thế giới Phật ở hai mặt “Năng” và “Bất năng”. “Năng” là ở trong nội viện hay trong bản tâm thanh tịnh. “Bất năng” là ở ngoại viện hay hiện tượng giới bên ngoài. Đối với hiện tượng giới bên ngoài, hành giả không làm gì khác hơn được. Nhưng về mặt bản tâm thanh tịnh, hành giả ở bất cứ tình huống nào mà không được giải thoát. Đức Phật muốn giới thiệu thế giới thanh tịnh bản tâm, nên gọi Bồ tát Di Lặc đi thăm bệnh Duy Ma; nghĩa là từ thế giới nội viện đi ra thế giới ngoại viện. Ở ngoại viện thì “Bất năng” không kham nổi, nhưng vào nội viện, Bồ tát Di Lặc vẫn tiếp tục giáo hóa chư Thiên. Trong kinh điển Pàli chỉ có Bồ tát Di Lặc được thọ ký thành Phật. Ngài là Bồ tát từ nhân hướng quả tu thành Phật để xác định rằng đệ tử Phật nếu tiến đúng lộ trình tu Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, đầy đủ đạo hạnh cũng thành Phật. Không phải chỉ có Đức Phật tu hành mới thành Phật như đại chúng thường nghĩ lầm. Đức Phật cho biết từ vô lượng kiếp Bồ tát Di Lặc tu tâm từ, đạt đến đại định, hiện tướng hoan hỷ, ai thấy cũng thương. Đức Phật chọn mẫu Bồ tát Di Lặc như vậy làm người thừa kế, tất nhiên không ai thắc mắc. Chư Thiên đang nghe Di Lặc giảng đạo Bồ tát thì Duy Ma xuất hiện khuấy phá. Điều này gợi nhắc chúng ta sẽ gặp phiền não của “Tịnh” khi bước vào thế giới tâm linh, thường được gọi là trần sa vô minh hoặc. Duy Ma viếng Di Lặc trong lúc Ngài đang tịnh. Nói cách khác, Di Lặc chỉ bắt gặp Duy Ma trong định mà thôi. Theo tôi, đây là từ tâm nói chuyện với tịnh tâm, nghĩa là ở trạng thái yên tĩnh của Thiền định, từng sở đắc của chúng ta trong quá trình hành Bồ tát đạo tích lũy thành công đức, tự nó từ từ hiện lên lúc ta ngồi yên. Còn lăn xả vào đời, chuyện đời cứ chồng chất nhồi thêm dày đặc, tất nhiên cái cũ khó hiện ra. Trước khi Bồ tát Di Lặc thành Phật, lần cuối phải giải quyết phần công đức tồn đọng, xả bỏ tất cả. Di Lặc gặp Duy Ma khuấy phá để nói lên ý nghĩa từ hiện tượng giới bên ngoài tích lũy công đức dưới dạng Bồ tát Báo thân, cần xả hết, để thành Phật chứng được Pháp thân thanh tịnh. Lúc ấy, trần lao và Pháp giới nhập làm một, trụ ở bản thể mà hành đạo trên thế gian mới không vấp ngã vì chướng ngại. Còn hoàn toàn ở trên sinh diệt của cuộc đời mà hành đạo, chúng ta khó bề vượt khỏi trùng trùng điệp điệp chướng ngại bao vây nối tiếp nhau. Đó là cuộc vấn đáp giữa Duy Ma và Di Lặc hay giữa từ tâm và tịnh tâm mà chúng ta nghe được. Đức Phật thọ ký cho Di Lặc Bồ tát thành Phật, là người thừa kế Đức Phật Thích Ca làm giáo chủ. Vấn đề này gợi cho chúng ta suy nghĩ thừa kế Thích Ca về vật chất hay tinh thần. Thừa kế tinh thần, thì không cần thọ ký. Người nào có đủ tư cách thay thế Phật trên thế gian, người đó là thừa kế, không riêng gì Bồ tát Di Lặc. Thừa kế vật chất nằm trên sinh diệt dễ đi đến sụp đổ và phá sản, chùa cao Phật lớn sẽ trở thành mối tranh chấp quyền lợi trong nhà lửa tam giới. Nghe Đức Thích Ca thọ ký cho Di Lặc một đời thành Phật, Duy Ma bắt đầu suy nghĩ, nghĩa là từ bản tâm của ta tự chất vấn ta, một đời thành Phật là đời nào. Một đời trên sinh diệt môn luôn luôn biến đổi, có gì đáng cho ta quan tâm. Và cuộc đời hạn cuộc trong một lần sinh, một lần chết, thì Duy Ma chẳng muốn được thành Phật làm gì. Một đời theo Đại thừa đánh dấu từ khi phát tâm Bồ đề, từng kiếp tu hành cho đến thành Phật giống như xâu chuỗi có nhiều hạt. Mỗi hạt tượng trưng cho một lần Bồ tát thay đổi xác thân. Và sinh mệnh tương tục của Bồ tát là sợi dây nối liền các chuỗi lại không gián đoạn. Tuy nhiên, Bồ tát không lấy tứ đại ngũ uẩn làm sinh mệnh. Vì đứng ở lập trường Bồ tát, tứ đại này không khác gì chiếc áo bên ngoài, tâm Bồ đề bên trong mới thật là sinh mệnh của Bồ tát. Hàng nhị thừa hiểu lầm Di Lặc được thọ ký lên Đâu Suất và sau đó xuống Ta bà thành Phật. Cách hiểu này không đúng. Theo Đại thừa, thành Phật hay không là do quá trình tu tập của hành giả. Đức Phật thọ ký cho Bồ tát từ nhân hướng quả, để xác định quá trình tu Bồ tát đạo, Bồ tát xả vô số sanh thân, trải qua vô số sinh mệnh tương tục, tiến đến thành tựu Báo thân, chứng Pháp thân, thâm nhập Pháp giới mới thành Phật. Lúc ấy, Báo thân của Bồ tát tu chứng sát nhập vô Pháp thân thường hằng, để trở thành diệu dụng của Bồ tát ứng xử lợi lạc trong mọi tình huống. Đó là quá trình Bồ tát phải trải qua để được thọ ký. Không phải được thọ ký thành Phật là thành Phật liền. Ngoài ra, chúng ta cần lưu ý rằng không phải thân ngũ uẩn thành Phật. Tuy nhiên, bỏ ngũ uẩn, chúng ta cũng không thành Phật được. Trên bước đường tu, sử dụng ngũ uẩn thân để đoạn phiền não. Phiền não xóa sạch, chơn tâm hay Pháp thân thường trú sẽ hiển hiện. Thiền tông thường ví chơn tâm như gương bị bụi ngũ uẩn ngăn che. Nếu lau sạch bụi ngũ uẩn, chơn tâm tự hiện. Đó là ý nghĩa Phật thọ ký cho Di Lặc. Quang Nghiêm Đồng tử từ chối thăm bệnh Duy Ma Bồ tát Quang Nghiêm trong sạch, nhưng quan niệm sai lầm về vấn đề trong sạch đến mức cách biệt trần thế. Ông tưởng rằng xa cuộc đời sẽ thấy đạo; nhưng sau cùng, cũng không nắm bắt được chân lý. Phải nhờ Duy Ma điều chỉnh để ông thấy Bồ Đề Đạo Tràng, tức thấy Phật. Thật vậy, khi chúng ta hướng về giải thoát quá mạnh, thường vấp phải khuyết điểm lúc trở về thực tế dễ trở thành ngây ngô. Kinh Viên Giác nhắc chúng ta Phật pháp bất ly thế gian giác để khỏi rơi vào sai lầm này. Bồ tát Quang Nghiêm gặp Duy Ma để chứng nghiệm pháp hành đạo hoàn toàn tự tại giải thoát. Bồ tát hiện thân trên cuộc đời dưới dạng sen tỏa hương trong vũng bùn, lúc nào cũng tỉnh táo quan sát sự vật. Quan sát xem sen hút bùn như thế nào để tỏa hương cho đời, Bồ tát sử dụng thân thế nào để thành Hiền thánh. Đứt gốc bùn, không thành sen, cũng như Bồ tát bỏ thân ngũ uẩn không thành Phật và phải chuyển ngũ uẩn thân thành ngũ phần Pháp thân bằng cách tu tập giới, định, huệ. Như vậy, ở giai đoạn một, Bồ tát tích lũy công đức. Và giai đoạn hai, Bồ tát phải tiếp tục hiện thân ở cuộc đời giáo hóa chúng sinh y như trước. Tuy nhiên, khác ở điểm Bồ tát thành tựu công đức rồi, phải xả bỏ tất cả để tiến lên bờ giải thoát. Hiện hữu trên cuộc đời làm mọi việc bình thường, thể hiện mẫu người giải thoát trong chốn không giải thoát. Đó là hình ảnh Duy Ma từ ngoài đi vào thành, nhắc nhở Quang Nghiêm, hay vẽ lên cho chúng ta pháp tu Bồ tát thành tựu lợi ích chúng sinh, mà không hề sanh tâm chấp trước. Bồ tát Quang Nghiêm từ thành ra gặp Duy Ma ở cổng thành. Nhìn bề ngoài, Quang Nghiêm hoàn toàn trong sạch, Duy Ma hoàn toàn nhơ bẩn, việc gì cũng làm, chỗ nào cũng đến. Đối với ông “Dâm phòng tửu điếm, vô phi thanh tịnh đạo tràng”. Quang Nghiêm đồng tử từ cuộc đời hướng về chân lý, gặp Duy Ma từ chân lý đi ngược về nhân gian. Hai lập trường tương phản gặp nhau, trí mới bừng sáng. Hai người gặp nhau ở cửa thành là hai thế giới thanh tịnh và nhiễm ô giao nhau, tạo thành thế giới bất nhị cho Bồ tát bước vào. Do suốt đời giữ giới thanh tịnh, được Đức Phật Thích Ca ấn chứng, Quang Nghiêm đồng tử mới gặp Duy Ma. Duy Ma khuyên Bồ tát Quang Nghiêm hãy trở lại cuộc sống thực tế ở thế gian này, mới thấy Bồ Đề Đạo Tràng, mới bắt gặp chân lý, gặp Thích Ca ở đây. Bỏ cuộc đời, tìm Thích Ca không có. Vì chính Duy Ma thấy Phật, nghe được pháp âm vi diệu ở ngay trên cuộc đời này. Duy Ma nói với Bồ tát Quang Nghiêm rằng Trực tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm là đạo tràng, Sáu pháp ba la mật là đạo tràng, v.v... Đâu có gì trên cuộc đời không phải là chỗ giác ngộ. Nếu rời bỏ cuộc sống hiện thực này sẽ rớt qua không tưởng. Đây là ý niệm khi chúng ta hành đạo, xa rời thực tế sẽ không thấy đạo. Đạo ở ngay trước mặt, ngay trong lòng chúng ta. Sự hiểu biết của chúng ta phát xuất từ quá trình hành đạo, tức trí tuệ ta phát sinh do cọ xát với đời. Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm rằng Bồ đề ở nơi chúng sinh. Chúng sinh càng cang cường, Bồ tát càng mau đắc đạo. Trì Thế Bồ tát từ chối thăm bệnh Duy Ma Trì Thế nghĩa là giữ lại sự sống cho mọi người, nên trong kinh ghi Trì Thế làm quốc sư cho Kiều Thy Ca vương là vua cõi trời cai quản nhân gian. Đây là quan niệm có sẵn của Ấn Độ. Dựa trên tinh thần này, chúng ta thấy các vị Tăng xuất gia tu hành giải thoát, mà vẫn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cho đời, tham gia vào việc quốc sự. Chưa bước chân vào đời, không có vấn đề đặt ra cho chúng ta. Nhưng nghe Duy Ma khởi sự nhập cuộc, liền gặp vô số khó khăn. Ở đây điển hình là Trì Thế Bồ tát bị đời làm hoa mắt, tưởng ma là Đế Thích. Sai lầm của Trì Thế gợi cho chúng ta suy nghĩ khi quá nhiệt tình lo cho đời, thường dễ bị đời làm chúng ta phiền muộn. Trì Thế Bồ tát mới đến cung trời Đao Lợi, thân tâm hoàn toàn trong sạch. Tuy nhiên, ở đó lâu, tâm thay đổi, không còn thanh tịnh. Vì khi ngài ngồi tĩnh tâm, Thiên ma hiện ra. Ma này ở trong lòng, tâm động nên cảnh động. Lúc trước, Trì Thế đã từng tiếp xúc với Kiều Thy Ca và Thiên nữ có đàn ca. Nay ngồi nhập định thấy Kiều Thy Ca và Thiên nữ xuất hiện là điều tất yếu. Thật vậy, ban ngày hành Bồ tát đạo. Nếu chưa vượt ngũ ấm, khi tham thiền, những gì ta tiếp cận sẽ hiện ra trong tâm thức, nhiễu loạn và tác hại công đức của chúng ta. Vì vậy, tiếp xúc cuộc đời, làm được mọi việc nhưng phải xả tất cả. Nếu còn nhớ nghĩ, nó sẽ làm ta đọa ngay trong ngày đó. Thiên ma đến, Trì Thế lầm là Kiều Thy Ca và ông khuyên Kiều Thy Ca nên nương phước báo có sẵn để tìm đến ba điều không thay đổi của Như Lai, đó là thân vô hạn, mạng sống vô cùng và thánh tài vô tận. Điều Trì Thế khuyên Kiều Thy Ca có thể hiểu rằng thật sự ông nói với chính lòng ông, cũng gợi cho chúng ta suy nghĩ. Trên bước đường tu hành, cần tích tụ nghị lực, trí tuệ, công đức để làm hạt nhân đưa chúng ta đến quả vị Phật. Kiều Thy Ca xin cúng dường tất cả tài sản cho Trì Thế. Trì Thế cũng muốn nhận, nhưng chưa dứt khoát. Duy Ma hiện ra bảo không phải là Đế Thích, nhưng là ác ma nhiễu loạn tâm ông. Duy Ma nhắc Trì Thế hay nhắc chúng ta đừng lầm Thiên ma với Đế Thích. Theo tôi, Đế Thích tiêu biểu cho người hộ đạo. Chúng ta muốn thành tựu Phật sự cần nhờ đàn việt hằng tâm hằng sản hỗ trợ. Tuy nhiên, trong bất cứ sự trợ giúp nào đều có điều kiện kèm theo. Nếu chúng ta không đáp ứng yêu cầu của họ là có chuyện. Điều kiện họ đặt ra cho chúng ta khi ta đã lỡ thọ ơn, tôi coi đó là Thiên ma. Trì Thế gặp hoàn cảnh ma chướng như vậy, nhưng nhờ căn lành, ông được Duy Ma xuất hiện hóa giải. Duy Ma đến với Trì Thế trong lúc tâm Trì Thế dao động. Nghĩa là hành giả tu giải thoát, nhưng khi tiếp cận cuộc đời bị dao động, liền có Duy Ma thật, hay thiện tri thức bên ngoài đến giúp đỡ. Hoặc hiểu dưới dạng khác là khi hành giả vấp phải sa ngã, từ trong bản tâm thanh tịnh văng vẳng lời Phật dạy chỉ đạo hành giả tự thức tỉnh, phát hiện ra pháp tu và giải quyết vấn đề đúng đắn theo chánh đạo. Trì Thế Bồ tát nhờ tu lâu nên có tịnh tâm, khi tâm niệm sai lầm khởi lên, liền có tâm tốt chỉnh lại ngay. Duy Ma và Trì Thế tiêu biểu cho sự gặp gỡ giữa người lãnh trách nhiệm hướng dẫn cuộc đời và người ở thế giới thanh tịnh. Thiên ma trốn không được và nghe trên hư không bảo hãy đem Thiên nữ cho Duy Ma Cật mới đi được. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ khi chúng ta có đầy đủ công danh sự nghiệp, bỏ nó không dễ. Tuy thất bại, nhưng cũng muốn gánh gồng mang theo cho đủ. Ma Ba Tuần đành giao các Thiên ma cho Duy Ma. Trì Thế không thể tiếp nhận ma, nhưng Duy Ma nhận được. Trong quá trình tu hành, nếu đạo đức và khả năng của chúng ta còn kém mà tiếp cận ma chướng nhiều, sẽ trở thành nguy hiểm. Nhưng khi ta là Duy Ma, hay bản tâm thanh tịnh hoàn toàn, thì thiện ác đôi bề nước một sông; những điều ác xấu không tác hại chúng ta nữa. Chúng ta tốt, ma thành pháp lữ. Còn tâm không thanh tịnh, pháp lữ thành ma. Duy Ma đón nhận ma nữ, nhìn thẳng vào tâm họ, tùy từng người mà giáo hóa. Ma nữ tiếp cận bản tâm thanh tịnh của Duy Ma, nhận được lòng tốt tuyệt đối của Duy Ma, liền phát tâm Bồ đề. Gặp Trì Thế, nó biến thành ma. Nhưng gặp Duy Ma, nó trở thành Phật tử. Duy Ma khuyên họ từ đây nên chuyển thú vui tầm thường theo thế gian thành niềm vui cao thượng; đó là vui thấy Phật, vui nghe giáo pháp, vui sống với giáo pháp, vui sống với tập thể hòa hợp thanh tịnh và vui làm lợi ích chúng sinh. Lúc ấy, ma Ba Tuần xuất hiện, đòi các Thiên ma về. Điều này nhằm nói đến những người hưởng đầy đủ phước lạc thế gian một lúc sinh tâm nhàm chán, muốn tu; hoặc người gặp phiền muộn, muốn vô chùa, nương theo Phật pháp để tu. Ở đây diễn tả bằng hình ảnh ma nữ đi tu; nhưng sống lâu ngày với tương rau, họ lại chán, muốn trở về. Ý này được kinh ghi là hình ảnh ma vương xuất hiện, nghĩa là họ bắt đầu nhớ lại phước lạc thế gian, nhớ đời sống vật chất sung sướng trước kia, nên thấy ma xuất hiện gọi về. Ma xuất hiện là tâm muốn về, không muốn tu nữa. Lúc ấy, Duy Ma dạy họ pháp môn vô tận đăng, ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng. Ông khuyên họ nên trở về Thiên cung chỉ dạy các Thiên ma khác phát tâm Bồ đề như họ. Điểm này nhắc hành giả giáo hóa chúng sinh, cần quan sát rõ tâm trạng và yêu cầu từng người đúng hay sai, có chánh đáng hay không để giúp đỡ. Khi giúp xong, hành giả nên trả họ về vị trí riêng của chính họ, để từ đó họ tự phát triển. Trưởng giả Thiện Đức từ chối thăm bệnh Duy Ma Trưởng giả Thiện Đức hay Cấp Cô Độc chuyên hành bố thí. Theo truyền thống gia đình của cha ông nhiều đời, mỗi năm đều mở đàn chẩn tế. Nay ông nối chí cha ông, lập đàn bố thí cúng dường trong bảy ngày, gọi là thí vô giá hội. Đối với chư Tăng, ông hết lòng cung kính cúng dường. Duy Ma nói rằng việc Thiện Đức làm tốt, nhưng còn quá nhỏ để mang tên đại thí hội. Phải chi ông bố thí cúng dường theo Phật thì công đức lớn vô lượng. Theo Duy Ma, có hai cách bố thí, bố thí theo nhân gian và theo Phật. Bố thí theo Phật gồm có bố thí của Thanh văn và của Bồ tát, nhưng hai cách bố thí này không rời nhau. Vì Đức Phật đứng ở lập trường nhất thừa để nâng cao tư cách của con người, làm cho việc bố thí của họ có tác dụng lợi lạc lâu dài và sâu rộng hơn. Đức Phật không phủ nhận pháp bố thí của nhân gian, nhưng theo Ngài đây chỉ là tình người đối xử với nhau, có tính cách tương thân tương trợ, là làm việc tốt của người đời, chưa phải là đạo Bồ tát. Trước hết bố thí theo thế tục là tài thí, tức giúp đỡ người nghèo bằng cách cho ăn. Việc làm này có tính cách giai đoạn nhất thời. Nếu ta đem cơm gạo bố thí cho người nghèo, cho họ bữa ăn sáng, thì họ sẽ giải quyết bữa ăn chiều ở đâu. Trong xã hội, có nhiều người bố thí như Thiện Đức, chắc chắn sản sinh ra toàn người ăn mày. Họ lười biếng, không chịu làm việc, chỉ ngửa tay xin ăn và không bao giờ phát triển khả năng. Họ đã trở thành người ăn hại suốt đời và đời đời. Duy Ma muốn chỉnh lý quan niệm bố thí sai lầm như vậy. Duy Ma điều chỉnh cách bố thí theo nhân gian cho tốt hơn, không muốn để họ nghèo và phải nuôi hoài. Phải đào tạo họ trở thành người tốt, giỏi, dạy nghề cho họ tự phát triển, tự làm ra của cải. Bố thí theo Phật, phải làm cho người phát tâm Bồ đề, nghĩa là nâng cao trình độ, khả năng và đạo đức của người thọ thí, từ đó đời sống vật chất của họ cũng phát triển theo. Ta dạy họ làm và họ truyền lại cho người khác. Đó là bố thí vô tận theo thời gian. Trưởng giả Thiện Đức bố thí thật nhiều nhưng chỉ là tiểu thí chủ. Ngày nay, có còn ai nhớ đến ông mà tổ chức đám giỗ hay không? Việc làm nào có lợi ích theo vô tận thời gian, mới là pháp bố thí của Phật. Điển hình là Đức Phật Thích Ca từ bỏ hữu hạn, chứng được pháp vô cùng. Ngài truyền đạt pháp vô cùng vào tâm tư mọi người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho đến nay, khắp nơi trên thế giới, đều kỷ niệm ngày Phật nhập diệt 2553 năm. Đối với thọ mạng Phật pháp kéo dài cả ngàn năm như vậy, mà nhân loại vẫn còn tôn thờ kính ngưỡng Đức Phật. Bây giờ và mãi mãi về sau, chúng ta vẫn cảm thấy thọ ơn Ngài. Vì vậy, vô hình trung Đức Phật Thích Ca là đại thí chủ, dù Ngài chưa cho ai đồng nào. Với trí tuệ siêu việt nhìn thấy rõ nên bố thí cái gì, nhờ vậy những người theo Phật lần tiến tới Nhất thiết chủng trí. Quan niệm bố thí theo vô tận thời gian phổ cập đến mọi người, thường được Đức Phật ca ngợi. Cụ thể là Ngài dạy sửa cầu đắp đường được công đức lớn nhất, công đức lo cho người ăn không thể nào sánh bằng. Nếu đắp một con đường hay bắc một cây cầu cho người đi qua, mỗi ngày hàng trăm người qua lại phải thọ ơn ta bố thí. Về mặt thời gian, từng thế hệ tu bồi mỗi ngày tốt thêm, từng thế hệ đều thọ ơn ta. Vị Bồ tát thể hiện hạnh tiêu biểu này là ngài Trì Địa. Ngày nay, tất cả thành tựu của các nhà bác học khắp nơi trên thế giới về khoa học, kỹ thuật, y tế giúp nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho con người mỗi ngày tốt đẹp, tiện nghi hơn, cũng là hình thức bố thí vượt thời gian và không gian. Sau khi Bồ tát Thiện Đức được Duy Ma giáo hóa, ông đổi cách chăm lo cho chúng sinh. Những người theo ông được đào tạo, phát triển khả năng, xây dựng thành tài. Và cuối cuộc đời, ông giao sự nghiệp cho họ cai quản, mà không hề thất thoát. Cùng việc làm bố thí như trước, nhưng nay trưởng giả Thiện Đức chuyển đổi tâm niệm theo Phật pháp, liền dẫn đến kết quả tốt lành. Mọi người kính trọng, quý mến, nhớ ơn ông, xem ông như người cha. Trong khi bố thí theo truyền thống gia đình ông, chỉ có giá trị giới hạn trong bảy ngày. Từ cách bố thí chung chung theo nhân gian có giới hạn, Đức Phật chuyển sang dạy Thanh văn nhìn thấy rõ nhân quả mà hành bố thí. Hàng Thanh văn bố thí không cầu phước lạc nhơn thiên. Họ cầu quả Niết bàn. Họ bố thí, cúng dường nhiều để tích lũy công đức, vì biết không có công đức không hành đạo được. Ngoài ra, bố thí theo Thanh văn còn nhằm xóa bỏ lòng tham, đạt đến Niết bàn Không, cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản, tạo điều kiện cho ta đắc đạo. Khi thành tựu quả vị La hán, Đức Phật dạy Thanh văn đi ngược trở lại cuộc đời để hành bố thí theo Bồ tát và pháp bố thí này phải thực hiện cho đến ngày thành Phật mới xong. Duy Ma nhắc nhở Thiện Đức hay nhắc chúng ta sự khó khăn vô cùng của Bồ tát từ nhân hướng quả. Khi tu Bồ tát đạo, muốn vượt đường hiểm sinh tử và dắt chúng nhân cùng đi trên lộ trình này, thì đối với thì giờ, sức khỏe, tiền bạc, chúng ta phải giữ gìn tiết kiệm từng chút, như những giọt nước quý trong sa mạc. Để làm nên đạo cả, xây dựng Tịnh độ, chúng ta phải dùng phước báo, trí tuệ đúng đạo Bồ tát, vì nó quý báu, cần thiết cho việc thành tựu Báo thân. Tạo không dễ, nhưng phí phạm phá hết tư lương này, chúng ta sẽ chết trước khi ra khỏi đồng hoang sinh tử. Hiện hữu trên cuộc đời, chúng ta mang thân hữu hạn và tài sản hữu hạn. Duy Ma dạy Thiện Đức bố thí theo Bồ tát, dùng ngay hữu hạn để đổi lấy vô cùng, lợi dụng thân hữu hạn phát triển Pháp thân có chiều cao cùng tột vũ trụ, chiều sâu tận địa ngục A Tỳ. Thật vậy, nếu chúng ta tốt và thương người thật sự, sẽ tập trung được người tốt đến với chúng ta. Thương mười người, mười người đến với chúng ta, thương cả dân tộc, dân tộc sẽ quý mến chúng ta. Tình thương phủ cả nhân loại, thì thân ta tràn đầy Pháp giới. Hành bố thí của Bồ tát quên thân mình, chỉ nghĩ đến lợi ích chúng sinh. Thương người đến độ quên mất bản ngã, thì hai người đồng một thể. Tiến đến tột đỉnh tình thương phủ cả vũ trụ, vũ trụ biến dạng thành ta. Đó là con đường vô ngã, vị tha của Bồ tát. Bồ tát chỉ bố thí tâm lượng, còn vật có bố thí hay không vẫn là vật, tác dụng chính ở lòng người. Đức Phật thương người thật sự nên mọi người luôn kính trọng Ngài. Kho vô tận Thánh tài của Ngài tràn đầy tình thương, dùng hoài không hết. Vì quên mình, nên tình cảm và tri thức của Ngài lan rộng mãi trong tình cảm, trong suy tư của mọi người là Pháp thân Phật. Sau khi nghe Duy Ma chỉ dạy bố thí cúng dường, trưởng giả Thiện Đức cởi chuỗi anh lạc, đưa cho Duy Ma, nhờ ngài đổi dùm ông Thánh tài vô tận. Duy Ma nhận xâu chuỗi, dùng công đức tu hành mà chia làm đôi. Một phần ông dâng cho Đức Phật Nan Thắng Như Lai là người cao quý nhất. Phần còn lại, ông tặng người ăn mày nghèo nhất trong pháp hội. Duy Ma nói rằng ngài coi Đức Nan Thắng Như Lai bằng với người ăn mày không khác. Hai người này bình đẳng, vì ở thể bất nhị, giữa Nan Thắng Như Lai và người nghèo đồng một thể. KẾT LUẬN Tóm lại, kinh Pàli của Phật giáo Nguyên thủy không hề ghi sự thất bại trong việc gặp gỡ luận đạo giữa cư sĩ Duy Ma và các đại đệ tử của Phật, hoặc các Bồ tát. Kinh Pàli chỉ ca ngợi đệ tử Phật là Thánh chúng. Tuy nhiên, theo tinh thần Phật giáo phát triển cho phép chúng ta có quyền suy luận, nghĩ đến thời kỳ phân chia các bộ phái ở thành Tỳ Xá Ly; trong đó đối kháng mạnh nhất là quan niệm giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Đối kháng nặng nề giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ làm cho người trí thức đương thời hiểu Phật pháp dưới dạng kinh Duy Ma. Nói rõ hơn, lỗi lầm của bốn vị Bồ tát được nêu ra không phải là lỗi thật của các ngài. Những lỗi lầm đó chính là sai lầm của Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ thời đó đã hiểu lệch lạc về quan niệm thừa kế, trong sạch, giới điều, bố thí. Những người trí thức có tâm huyết cho sự sống còn của Phật giáo đã nhìn thấy tranh chấp cục bộ này. Vì vậy, họ đưa ra lối thoát bằng cách mượn hình ảnh của bốn Bồ tát phạm lỗi lầm để cảnh tỉnh Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Đó cũng là lời nhắc nhở chúng ta cần thể nghiệm đúng đắn tinh thần Phật dạy trên bước đường thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét