THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

KINH DUY MA CẬT

KINH DUY MA CẬT MỤC LỤC - Lời giới thiệu & Lời nói đầu 1. Phẩm Phật Quốc 2. Phẩm Phương Tiện 3. Phẩm Đệ Tử 4. Phẩm Bồ Tát 5. Phẩm Văn Thù Sư Lợi 6. Phẩm Bất Tư Nghì 7. Phẩm Quán Chúng Sanh 8. Phẩm Phật Đạo 9. Phẩm vào Pháp Môn Không Hai 10. Phẩm Phật Hương Tích 11. Phẩm Hạnh Bồ Tát 12. Phẩm Tháy Phật A Súc 13. Phẩm Pháp Cúng Dường 14. Phẩm Chúc Lụy LỜI GIỚI THIỆU Từ xưa chư Phật, Bồ-tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi-nguyện thâm-thiết đều muốn cho tất cả thoát-ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cánh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh g iới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải đưọc thanh tịnh như trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ÐỘ TỊNH”. Sớ dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẵn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi. Bộ Kinh “DUY MA CẬT” này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sững sốt, không thế lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nỗi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được. Giáo lý Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản. Nhận thấy pháp Tối Thưọng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ÐƯỜNG Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951 Sa môn : LÊ PHƯỚC BìNH LỜI NÓI ĐẦU Kinh “DUY MA CẬT” cũng có tên gọi : “Kinh BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢl THOÁT”. Kinh này nói rõ cảnh giới của Ðại Bồ Tát chứng nhập. Bồ Tát thườnng chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh. Ngài DUY MA CẬT chính là vị Ðại Bồ Tát ở cõi Bất Ðộng, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cõi ta bả này. Muốn hiển bản tánh “Bình Ðẳng Chơn Thật Không Hai” của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phưong pháp phá chấp : có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo. Ðọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật dạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh “bình đẳng không hai” và đầy đủ diệu dụng giải thoát. Ðạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lý thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để. Ðời đang đắm chìm trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới “bất tư nghị” mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có. Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ ! Dịch giả cẩn chí LỆ NGÔN I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm. II. Về phẩm 11 và 111, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bổ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị muốn xem. III. Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hàng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm “Thấy Phật A Súc”, phẩm “Pháp cúng dường” và phẩm “Chúc lụy” có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy. KINH DUY-MA-CẬT Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa Dịch giả: Thích Huệ Hưng KINH (1) DUY MA CẬT (2) SỞ THUYẾT CŨNG GỌI Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT” (3) Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa I. PHẨM PHẬT QUỐC (4) Chính tôi được nghe, một thuở kia, đức Phật Thích Ca ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng tám nghìn chúng Ðại Tỳ Kheo, hai vạn hai nghìn Bồ Tát, là những vị có tiếng tăm, đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không dể dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo ; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đã thanh tịnh ; trọn lìa năm món che ngăn (10) và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoát ; niệm định tổng trì (12) bình đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các hạnh Bồ thí, trì giớí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương tiện lợi mình lợì người thảy đều đầy đủ. Ðã được đến bực vô sở đắc (13) mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn)(14), hay tùy thuận dìễn nói pháp luân bất thối (15), khéo hiểu rõ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh, oai đức bao trùm đại chúng(16), không còn sợ sệt chi cả. Các Ngài dùng công đức trí tuệ trau sửa lòng mình, lấy tướng tốt trang nghiêm thân hình, sắc tượng dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi Tu di (17), lòng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi khắp, mưa nước cam lố, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt. Các Ngài đã thâm nhập lý duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không có hạn lượng và đã quá hạn lượng. Các Ngài tự mình nhóm góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rõ nghĩa lý sâu mầu của các pháp, biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập lực (20), vô úy (21), thập bát bất cộng(22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân trong năm đường(23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Ðại Y Vương (24) khéo trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Ðã thành tựu vô lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Người nào được nghe danh thấy hình đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng phí, các công đức như thế, đã hoàn toàn viên mãn. Danh hiệu các Ngài là Ðẳng Quán Bồ Tát, Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Ðại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thu Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Ðế Võng Bồ Tát, Minh Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Ðiễn Ðức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Ðức Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thuờng Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðắc Ðại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Ðộ Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát, cả thay như thế ba vạn hai nghìn Ngài. Lại có một vạn vị Thi Khi (25), Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại có một vạn hai nghìn vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội. Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la đà (27) v.v. . . đều đến trong pháp hội. Lại có các vị Tỳ kheo (28) , Tỳ kheo ni, ưu bà tắc (29), ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp hội. Bấy gỉờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưỏng giả tử(32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấv hiệp thành một cây trùm khắp cõi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó. Lại nữa, các núi Tu di, Mục chơn lân dà , Ðại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Ðại thiết vi bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguốn suối, cũng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cùng các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên thế giỡi này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng bảy báu ấy. Khi đó tất cả Ðại chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nhìn dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc bài kệ khen rằng : Mắt trong, dài rộng như sen xanh, Tâm sạch đã tột các thiền định, Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng, Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy. Ðã thấy Ðại thánh dùng thần biến, Khắp híện mười phương không lường cõi, Trong đấy các Phật diễn nói pháp, Nơi đây tất cả đều thấy nghe. Pháp lực của Phật vượt quần sanh Thường dùng Pháp tài thí tất cả, Hay khéo phân biệt các Pháp tướng, Ðối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động. Ðã được tự tại cùng các Pháp Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương. Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không Vì do nhân duyên các Pháp sanh, Không ta, không tạo, không thọ giả, Những việc lành dữ cũng chẳng mất. Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37) Ðặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác, Ðã không tâm ý, không thọ hành (39) Mà xô dẹp hết các ngoại đạo. Ba lần chuyển Pháp (40) cõi đại thiên, Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh, Trời người đắc đạo đó là chứng, Tam bảo vì thế hiện trong đời. Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh Thọ rồi không lui, thường vắng lặng, Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương, Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường. Khen chê chẳng động như Tu di Ðồng bực thương xót kẻ lành dữ, Tâm hạnh bình dầng như hư không, Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính. Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này Cõi Tam thiên tôi hiện trong đó, Thiên cung, Long thần kia nương ở, Càn thát cả thảy với Dạ xoa. Mọi vật trong đời đều thấy rõ, Vì thương Phật hiện tướng biến này, Thấy việc ít có chúng khen ngợi, Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43) Ðại thánh chỗ nương của mọi loài, Lòng sạch trong đó thảy vui vẻ, Ðều thấy Thế Tôn ở trước mình, Ðó là thần lực Pháp bất cộng. (44) Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu, Ðều cho rằng Phật đồng tiếng mình, Ðó là thần lực Pháp bất cộng. Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng, Khắp được thọ hành đều lợi ích, Ðó là thần lực Pháp bất cộng. Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp, Có người kinh sợ hoặc vui mừng, Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán, Ðó là thần lực Pháp bất cộng. Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn, Lạy đấng đã đặng không chỗ sợ, Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng, Lạy đấng Ðạo sư (45) của muôn loài. Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược(46) Lạy đấng đã đến nơi bờ kia, Lạy đấng hay vượt các thế gian, Lạy đấng trọn lìa đường sanh tử. Biết hết chúng sanh tướng đến lui Khéo nói các Pháp được giải thoát, Như hoa sen trong đời chẩng nhiễm, Thường khéo vào nơi hạnh không tịch.(47) Lúc đó Trưởng giả tử Bảo Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng : “'Bạch Thế Tôn ! Năm trăm vị Trưởng giả tử nầy đều đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe cõi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh độ (quốc độ thanh tịnh).” Phật bảo : “Hay thay Bảo Tích ! Ông lại vì các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hãy lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rõ”. Lúc ấy Bảo Tích cũng 500 vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe. Phật dạy rằng : “Này Bảo Tich ! Tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ Tát. Vì sao ? – Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế ? – Vì Bồ Tãt lãnh lấy cõi Phật thanh tịnh đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví như : Có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống, tùy ý được thành công, nếu xây dựng giữa hư khỏng quyết không thành tựu được ; Bồ Tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh nên nguyện lãnh lấy cõi Phật – Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy. Bảo Tích, ông nên biết ! - Trực tâm (49) là Tịnh dộ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không dua vạy, sanh sang nước dó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Ðề tâm (51) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó. Bố thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Trì giớí là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành (52), hạnh nguyện đầy đủ, sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước đó. Tứ vô lượng tâm(54) là Tịnh độ của Bồ Tát ; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước dó. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có ba đường ác (58) và tám nạn (59) . Tự mình giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nưỡc không có tên phạm giới cấm. Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh (60), lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến thuộc không chia rẻ, khéo giải hòa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có lợi ich, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó. Như thế, Bảo Tích ! Bồ Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy chỗ thâm tâm mà ý được điều phục, tùy chỗ ý được điều phục mà làm được như lời nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu chúng sanh mà cõi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cõi Phật thanh tịnh mà nói Pháp được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này ! Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh. Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng : “Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cõi Phật phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát tâm ý lẽ nào không thanh tịnh, sao cõi Phật này không thanh tịnh như thế ?”. Phật biết ông suy nghĩ vậy liền bảo rằng : – Ý ông nghĩ sao ? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy ? – Bạch Thế Tôn ! Chẳng phải thế. Ðó là tại người mù, không phảỉ lỗi ở mặt trời và mặt trăng. – Xá Lợí Phất ! Cũng thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cõi nước của Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai – Này Xá Lợi Phất ! Cõi nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi. Bấy giờ ông Loa Kế Phạm Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng : – Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh. Vì sao ? – Vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại (61). Ông Xá Lợí Phất nói : – Sao tôi thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế ? Ông Loa Kế Phạm Vương thưa rằng : – Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh. Khi ấy Phật lấy ngón chơn nhấn xuống đất, tức thì cõi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm nghìn thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cõi Vô Lượng Công Ðức Bảo Trang Nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Ðại chúng ngợi khen chưa từng có và đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu. Phật bảo Xá Lợi Phất : – Ông hãy xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh. Ông Xá Lợi Phất thưa : – Dạ, bạch Thế Tôn ! Từ trước dến giờ con chưa từng thấy, chưa từng nghe. Nay cõi nước của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh. Phật bảo : – Này Xá Lợi Phất ! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế ! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm. Trong khi Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn nghìn người phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bấy giờ Phật thâu nhiếp thần túc (62) lại, cõi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai nghìn người và Trời cầu Thanh văn thừa đều nhận rõ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa lìa trần cấu (64) đặng pháp nhãn thanh tịnh (65), tám nghìn vị Tỳ kheo không còn chấp thọ các pháp, kiết lậu (66) đã hết, tâm ý được giải thoát. Chú thích của phẩm I 1. Kinh: Nói đủ là “Khế kinh”, nghĩa là “pháp thường” khế hiệp chơn lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh. 2. Duy Ma Cật: Tên một vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là “Tịnh Danh”. 3. Bất khả tư nghị giải thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ “Giải thoát” đây là xa lìa tất cả phiền não nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên mãn tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà còn chướng ngại với cảnh pháp... Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rõ. 4. Phật quốc: Cõi nước của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cõi nước của Phật A Di Ðà, Ta bà là cõi nước của Phật Thích Ca. 5. Tỳ Da Ly: Tàu dịch là Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở về Trung Ấn Ðộ. 6. Am La : Tàu dịch là “nan phân biệt” nghĩa là thứ trái cây này từ khi còn sống đến khi chín chỉ có một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín. 7. Sư tử rống: dụ Phật, Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền não mê tánh của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng thì tất cả các thú đều khiếp sợ chạy trốn . 8. Sáu căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 9. Ba nghiệp: 1)Thân nghiệp, 2) Khẩu nghiệp, 3) Ý nghiệp. 10. Năm món che ngăn: 1) Tham dục ; 2) Sân nhuế ; 3) Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được; 4) Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động ; 5) Nghi pháp : Ðối với việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán. Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được. 11. Mười điều ràng buộc: 1) Vô tàm : có tội lỗi mà không biết hổ : 2) Vô quý : có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn. 3) Tật : thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét; 4) Xan : bỏn sẻn không Bố thí; 5) Hối: ăn năn những tội lỗi đã làm; 6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thâm tâm; 7) Ðiệu cử : Tâm niệm xao động; 8) Hôn trầm : thần thức hôn mê không rõ biết chi cả; 9) Sân hận : đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi; 10) Phú : che dấu tội ác. 12. Niệm định tổng trì: Niệm tức là Tuệ; Tổng Trì: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ, trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng trì. 13. Vô sở đắc: Là đối với hữu sở đắc mà nối. Nghĩa là không còn trụ trước một pháp nào cả, dầu trí chứng và cảnh chứng cũng không thấy có. 14. Vô sanh pháp nhẫn: Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong “Ðại Trí Ðộ luận”, quyển 50 nói : “Ðối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn”. 15. Pháp luân bất thối : Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ Tát đã chứng được “bất thối” rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối . 16. Ðại chúng: là một nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao nhiêu bậc Hiền Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi là Ðại chúng. 17. Tu Di: Tàu dịch là Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu: vàng: bạc, lưu ly, pha lê rất xinh đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao. 18. Lý Duyên khởi: Tất cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khởi. Vì tỏ ngộ lý duyên khởi, nhận rõ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có không đều lìa, mới là thâm nhập lý duyên khởi. 19. Hải đạo sư: Là nguời rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào biển để tìm ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc. 20. Thập lực: Mười trí lực của Phật. Trí lực của Phật 1) Biết rõ những điều hợp lý và trái lý. 2) Biết rõ nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trongng ba đời. 3) Biết rõ các pháp thiền định giải thoát tam muội. 4) Biết rõ tùng bực cao thấp các căn tánh của chúng sanh. 5) Biết rõ những ưa muốn sai khác của chúng sanh. 6) Biết rõ tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian. 7) Biết rõ chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền Thánh thế gian và xuất thế gian. 8) Biết rõ tánh danh khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh. 9) Biết rõ sự sống chết qua lại các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền Thánh. 10) Tự biết mình đã dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không còn sanh tử triền phược nữa. 21. Vô úy: Bốn món vô úy : 1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian; 2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết; 3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo; 4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thế diệt hết các khổ. Bốn điều này Phật đối giữa Ðại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói đuợc nên gọi là “Vô úy”. 22. Thập bát bất cọng: Mười tám (18) Pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa và Bồ Tát. 1) Thân không lỗi. 2) Miệng không lỗi. 3) Niệm không lỗi. 4) Không có tâm tuởng khác. 5) Không có tâm bất định. 6) Không có tâm không biết. 7) Sự muốn không giảm. 8) Tinh tấn không giảm. 9) Niệm không giảm. 10) Huệ không giảm. 11) Giải thoát không giảm. 12) Giải thoát tri kiến không giảm. 13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại. 17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại. 18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại. 23. Năm đường : Trời, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục. 24. Ðại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Ðức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông Thầy thuốc hay khéo tịi lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Ðại y vương”. 25. Thi khí : Tên vị vua cõi trời Ðại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cõi sơ thiên của Sắc giới. 26. Tứ thiên hạ: Bốn châu thiên hạ. 1) Ðông thắng thần châu; 2) Nam thiệm bộ châu; 3) Tây ngưu hóa châu; 4) Bắc cu lô châu. 27. Thiên, long thẩn v.v... : Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ. 1) Thiên : chư Thiên ; 2) Long : là rồng ; 3) Dạ xoa : loài quỉ bay đi rất mau ; 4) Càn thát bà : thần âm nhạc ; 5) A tu la : thần chiến đấu. Tàu dịch là Phi thiên ; có phước như Trời mà đức kém hơn Trời ; 6) Ca lâu na : chim đại bàng ; 7) Khẩn na la : thần pháp nhạc;. 8) Ma hầu la dà : thần mãng xà. 28. Tỳ kheo : Tiếng Phạn “Bhiksu”, các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Ðàn ông gọi là Tỳ kheo, còn đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới). 29. Ưu bà tắc : Tàu dịch là cận sự nam. Cận sự : nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới. 30. Ưu bà di : Tàu dịch là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ. 31. Tòa sư tử : Pháp tòa của Phật ; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là “tòa sư tử”; vì Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ . 32. Trưởng giả tử : con ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ. Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói : “Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật, hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả.” 33. Bảy báu : Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mã não. 34. Tam thiên Ðại thiên thế giới : Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu thế giớì, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế glới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là “Tam thiên Ðại thiên thế giới”. 35. Dùng tích độ chúng : Tức dùng đạo lý Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ chúng sanh. 36. Ðệ nhứt nghĩa : Tượng trưng chơn lý cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là “đệ nhứt”, có lý do như thật gọi là “nghĩa”. Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong kinh Pháp Hoa nghĩa sớ quyển 4 nói : “Cái đạo nhứt thật, lý cùng tột không chi hơn là “đệ nhứt””. Có nguyên do như thật gọi là “Nghĩa”. 37. Phật thọ : Tức là cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Ðạo thọ hay là Bồ đề thọ. 38. Cam lồ diệt : Cam lồ dụ cho Niết bàn; chứng đặng Niết bàn, dứt dòng sanh tử, gọi là “Cam lồ diệt”. 39. Không tâm ý, không thọ hành: Là không còn tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ, thi vi động tác. 40. Ba lần chuyển pháp : Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế cho 5 thấy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của Phật dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác, cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiểm của chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là “Chuyển pháp luân”. Lại có nghĩa là chuyển ba món : hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhã, Giải thoát, Pháp thân gọi là ba lần chuyển pháp. 41. Pháp hải: Biển pháp. Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả. 42. Nhơn bảo : Phật là đấng báu quí hơn hết trong cõi trời và cõi người . 43. Tam giới tôn : Ðức Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cõi, tất cả nhơn thiên đều cung kính tôn trọng nên gọi là “Tam giới tôn”. 44. Pháp bát cộng : cũng như thập bát bất cộng, có giải ở số 22. 45. Ðạo sư : Bậc dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát. 46. Kiết phược : Các phiền não ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền não cũng gọi là “kiết phược”. 47. Không tịch: Không các tướng là “Không”. Không khởi diệt là “tịch”. Rổng rang xa lìa tất cả tướng, không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh “không tịch”. 48. Pháp tướng : Tướng trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Ðại Thừa nghĩa chương quyển 2 nói : “Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng”. 49. Trực tâm : Tâm chơn thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như. 50. Thâm tâm : Tâm mong cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày, bền chắc, không thể dứt mất. 51. Bồ đề tâm : Tâm cầu đạo lý chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác. 52. Mười điều lành : Thuận lý khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ : 1) Sát sanh; 2) Trộm cắp; 3) Tà dâm; 4) Nói dối; 5) Nói lời thêu dệt; 6) Nói hai lưỡi; 7) Nói lờỉ độc ác; 8) Tham; 9) Sân; 10) Si mà thật hành những điều: phóng sanh, Bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến. 53. Ba mươi hai tướng tốt : 1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên; 2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào); 3) Tròng mắt đen trắng phân minh; 4) Lông nheo dài đẹp như của Long vưong; 5) Gương mặt tròn trịa như mặt trăng rằm; 6) Răng đủ 40 cái; 7) Răng nhỏ đều khít khao; 8) Răng trắng trong tinh sạch; 9) Luỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc; 10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa; 11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra; 12) Thân mình nở nang tròn suông; 13) Nam căn ẩn kín; 14) Hai bên hông đầy đặn; 15) Hal tay dài quá gối; 16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông; 17) Ngón tay dài và vót; 18) Vế như vế của Lộc vương; 19) Lưng hai bàn chân no tròn; 20) Lòng bàn chân bằng phẳng; 21) Gót chân tròn trịa; 22) Lòng bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng; 23) Kẻ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới; 24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lưng bàn chân, hai vai và yết hầu); 25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp; 26) Lông và tóc đều xoáỵ tròn về phía hữu; 27) Da mịn màng trơn láng; 28) Màu da như màu vàng ròng tử kim; 29) Thân hình cao lớn hơn mọi người; 30) Hình tướng đoan nghiêm; 31) Thân hinh ngay thẳng vững vàng; 32) Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm. 54. Tứ vô lương tâm : Cũng gọi là tứ đẳng tâm. 1) Từ : lòng ban vui cho chúng sanh ; 2) Bi : lòng cứu khổ chúng sanh ; 3) Hỷ : lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui ; 4) Xả : lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên. Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi bình đẳng nên gọl là đẳng. 55. Tứ nhiếp pháp : 1) Bố thí nhiếp : Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lý; 2) Ái ngữ nhiếp : Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý ; 3) Lợi hành nhiếp : Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơl thân, khẩu, ý làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lý. 4) Ðồng sự nhiếp : Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lý. 56. 37 phẩm trợ đạo : 4 pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5 lục ; 7 pháp giác chi ; 8 pháp đạo phần . 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau. 57. Hồi hướng tâm: Hồi: Hồi chuyển; Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chúng chơn như thật tế; 2) Chỗ sở cấu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh. 58. Ba đường ác : 1) Ðịa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh. 59. Tám nạn : 1) Ðịa ngục ; 2) Ngạ quỉ ; 3) Súc sanh ; 4) Trường thọ thiên ; 5) Bắc cu lô châu ; 6) Ðui, điếc, ngọng, liệu ; 7) Thế trí biện thông, 8) Sanh trước Phật hay sau Phật. Sở dĩ gọi là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp. 60. Phạm hạnh : Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục. 61. Cung trời Tự tại : Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cõi sắc giới. 62. Thần túc : Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng. 63. Hữu vi : các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ . 64. Trần cấu : Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cõi. 65. Pháp nhãn thanh tịnb : Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp ; tiểu thừa chứng đưọc sơ quả, do đã xa lìa trần cấu kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Ðại thừa chứng được Vô sanh pháp nhẫn vào bậc Sơ địa. 66. Kiết lậu : Các phiền não kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là “kiết lậư”. Kiết lậu đã hết, vì dứt trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp nên tâm ý được giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán). KINH DUY-MA-CẬT Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa Dịch giả: Thích Huệ Hưng * * * * * II. PHẨM PHƯƠNG TIỆN (1) Thuở ấy, trong thành lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng giả tên là DUY MA CẬT, đã từng cúng dường vô lượng các Đức Phật, sâu trồng cội lành, đặng vô sanh pháp nhẫn, biện tài vô ngại , du hí thần thông (2) chứng các môn tổng trì (3) , đặng sức vô úy, hàng phục ma oán, thấu rõ Pháp môn (4) thâm diệu, khéo nơi trí độ, thông đạt các Pháp phưong tiện, thành tựu đại nguyện, biết rõ tâm chúng sanh đến đâu, hay phân biệt rành rẽ các căn lợi độn, ở lâu trong Phật đạo, lòng đã thuần thục, quyết định nơi Ðại thừa. Những hành vi đều khéo suy lường, giữ gìn đúng oai nghi của Phật, lòng rộng như bể cả, chư Phật đều khen ngợi, hàng Đệ tử, Đế Thích, Phạm Vương, vua ở thế gian v.v... thảy đều kính trọng. Vì muốn độ người, nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện là thân Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, có của cải nhiều vô luợng để nhiếp độ các hạng dân nghèo ; giữ giới thanh tịnh để nhiếp độ các kẻ phá giới ; dùng hạnh điều hòa nhẫn nhục để nhiếp độ các người giận dữ ; dùng đại tinh tiến để nhiếp độ các kẻ biếng nhác ; dùng nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm ý tán loạn ; dùng trí tuệ quyết định để nhiếp độ những kẻ vô trí ; tuy làm người bạch y (5) cư sĩ mà giữ gìn giới hạnh thanh tịnh của sa môn; tuy ở tại gia mà không đắm nhiểm ba cõi (6), thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh; hiện có quyến thuộc , nhưng ưa sự xa lìa ; dù mặc đồ quí báu, mà dùng tướng tốt để nghiêm thân ; dù có uống ăn mà dùng thiền duyệt (7) làm mùi vị. Nếu khi đến chỗ cờ bạc, hát xướng thì ông lợi dụng cơ hội để độ người ; dù thọ các Pháp ngoại đạo nhưng chẳng tổn hại lòng chánh tín ; tuy hiểu rõ sách thế tục mà thường ưa Phật Pháp ; cung kính tất cả mọi người làm trên hết trong sự cúng duờng ; nắm giữ chánh Pháp để nhiếp độ kẻ lớn người nhỏ ; tất cả những việc trị sanh (buôn bán làm ăn) hùn hiệp, dù được lời lãi của đời, nhưng chẳng lấy đó làm vui mừng. Dạo chơi nơi ngã tư đường cái để lợi ích chung sanh ; vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả ; đến chỗ giảng luận dẫn dạy cho Pháp Ðại thừa ; vào nơi học đường dạy dỗ cho kẻ đồng mông ; vào chỗ dâm dục để chỉ bày sự hại của dâm dục ; vào quán rượu mà hay lập chí. Nếu ở trong hàng Trưởng giả, là bực tôn quý trong hàng Trưởng giả, giảng nói các Pháp thù thắng ; nếu ở trong hàng cư sĩ, là bực tôn quí trong hàng cư sĩ, dứt trừ lòng tham đắm cho họ ; nếu ở trong dòng Sát đế lợi (8), là bậc tôn quý trong dòng Sát đế lợi, dạy bảo cho sự nhẫn nhục ; nếu ở trong dòng Bà la môn (9), là bực tôn quí trong dòng Bà la môn, khéo trừ lòng ngã mạn của họ ; nếu ở nơi Ðại thần, là bực tôn quí trong hàng Ðại thần, dùng chánh pháp để dạy dỗ ; nếu ở trong hàng Vương tử, là bực tôn quí trong hàng Vương tử, chỉ dạy cho lòng trung hiếu ; nếu ở nơi nội quan (10) , là bậc tôn quý trong hàng nội quan, khéo dạy dỗ các hàng cung nữ ; nếu ở nơi thứ dân, là bực tôn quí trong hàng thứ dân, chỉ bảo làm việc phước đức ; nếu ở nơi trời Phạm thiên (11), là bực tôn quí trong Phạm thiên, dạy bảo cho trí tuệ thù thắng; nếu ở nơi trời Đế Thích (12), là bực tôn quí trong Ðế thích, chỉ bày cho Pháp vô thường ; nếu ở nơi trời Tứ thiên vương hộ thế (13), là bực tôn quí trong Tứ thiên vương hộ thế, hằng ủng hộ chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma Cật dùng cả thảy vô lượng phương tiện như thế làm cho chúng sanh đều được lợi ích. Ông dùng phương tiện hiện thân có bịnh. Do ông có bịnh nên các vi Quốc Vương, Ðại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số nghìn người đều đến thăm bịnh. Vì những người đến thăm bịnh, ông nhơn dịp thân bịnh mới rộng nói Pháp : “Nầy các Nhân giả ! Cái huyễn thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bịnh hoạn. Các Nhân giả ! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ, thì cái thân này như đống bọt không thể cấm nắm, thân này như bóng nổi không thể còn lâu ; thân này như ánh náng dợn giữa đồng, do lòng khát ái sanh, thân này như cây chuối không bền chắc ; thân này như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra ; thân này như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có ; thân này như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện ; thân này như vang của tiếng, do nhân duyên thành ; thân này như mây nổi, trong giây phút tiêu tan ; thân này như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng ; thân này không chủ, như là đất ; thân này không có ta, như là lửa ; thân này không trường thọ, như là gió ; thân này không có nhân, như là nước ; thân này không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành ; thân này vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở ; thân này là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá ; thân này không có làm ra (vô tác) (14), do gió nghiệp chuyển lay ; thân này là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn ; thân này là giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã ; thân này là tai họa, vì đủ các thứ bịnh hoạn khổ não ; thân này như giếng khô trên gò, vì nó bị sự già yếu ép ngặt ; thân này không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết ; thân này như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ (15) vì do ấm (16), giới (17), nhập (18) hợp thành. Các Nhân giả ! Hãy nên nhàm chán cái thân này, chớ tham tiếc nó. Phải nên ưa muốn thân Phật. Vì sao ? - Vì thân Phật là Pháp thân (19), do vô lượng công đức trí tuệ sanh ; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (20) sanh ; do từ bi hỉ xả (21) sanh ; do Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Nhu hòa, Cần hành, Tinh tấn, Thiền định, Giải thoát tam muội (22), Ða văn, Trí tuệ các Pháp Ba la mật (23) sanh ; do Phương tiện sanh ; do Lục thông (24), Tam minh (25) sanh ; do 37 phẩm trợ đạo (26) sanh, do Chỉ quán (27) sanh ; do Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng (28) sanh ; do đoạn tất cả pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh ; do chơn thật sanh; do không buông lung sanh; vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai. Này các Nhân giả ! Muốn được thân Phật, đoạn tất cả bịnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (29). Như vậy, Trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bịnh, mà nói Pháp làm cho vô số nghìn người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Chú thích của phẩm II 1. Phương tiện: Phương là phưong pháp, tiện là tiện dụng ; phương pháp đem ra dùng thích hợp căn cơ của mỗi chúng sanh, mỗi thời đại,. mỗi quốc độ nên gọi là phương tiện. 2. Du hí thần thông: Phật và Bồ Tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của mình, nên gọi là du hý. Lại có nghĩa: Bồ Tát đã lịch thiệp các pháp thần thông, do từ chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi ngăn ngại, chẳng phải như thần thông của nhà ngoại đạo, nhị thừa do tu luyện mà có, còn bị ngại, nên gọi là du hí thần thông. 3. Tổng trì: Tiếng Phạn gọi là Ðà la ni, Tàu dịch là Tổng trì, tức là chỉ cho công năng giữ gìn các pháp lành khiến cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn món : 1) Pháp Ðà la ni : với các Pháp Phật dạy nghe giữ gìn không quên. 2) Nghĩa Ðà la ni : với nghĩa các pháp giữ gìn không quên. 3) Chú Ðà la ni : do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không lường. 4) Nhẫn Ðà la ni : an trú nơi thật tướng của các pháp. Trong luận Phật Ðịa, quyển thứ 5 có nói : Ðà La ni là sức tăng thượng của niệm tuệ hay giữ gìn vô lưọng Phật pháp. 4. Pháp môn: Giáo pháp của Phật nói ra là phép tắc khuôn mẫu cho thế gian. Các bậc Hiền, Thánh nương vào đó mà được nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói “... dùng chữ pháp môn tỏ bày Phật đạo”. 5. Bạch y: Danh từ xưng gọi người thế tục, vì người thế tục ưa thích mặc y phục trắng nên gọi là “bạch y”. 6. Ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới. 7. Thiền duyệt: Sự vui thích trong cảnh thiền định. Khi nhập vào cảnh thiền định được nhàn tịnh, thư thới làm cho vui thích tâm thần. 8. Sát Ðế Lợi: (Ksatriya) tàu dịch là Ðiền chủ, giòng vua ở xứ Ấn Ðộ. Một họ trong bốn họ : 1) Sát đế lợi, 2) Bà la môn, 3)Tỳ xá, 4)Thủ đà. 9. Bà la môn: (Brahmana) Tàu dịch là Tịnh hạnh, một giòng họ tu hạnh trong sạch, thờ trời Ðại phạm thiên, ở xứ Ấn Độ. 10. Nội quan: Quan Bộ lại trong cung cấm nhà vua. 11. Phạm thiên: hoặc Ðại phạm thiên vương là vua cõi trời sơ thiền nơi Sắc giới. Cõi sơ thiền có 3 từng trời : 1) phạm chúng, 2) Phạm phụ, 3) Ðại phạm, đã xa lìa sự dục nhiễm ở cõi Dục giới, thân tâm yên tịnh trong sạch nên gọi là Phạm thiên. 12. Ðế Thích: Là vị trời chủ tể cõi Ðạo Lợi Thiên trên chót núi Tu Di. Từng trời này có 33 cõi mà vị Ðế Thích ở cõi chính giữa thống lãnh 32 cõi kia. 13. Tứ Thiên Vương hộ thế: Bốn vị ở bốn phía ngang lưng chừng núi Tu Di, làm vị ngoại tướng giúp đỡ trời Ðế Thích coi sóc dân gian, mỗi vị ủng hộ mỗi châu thiên hạ nên gọi là Tứ Thiên Vưong hộ thế : 1) Trì quốc thiên vương ở phương đông ; 2) Tăng trưởng thiên vương ở phương nam ; 3) Quảng mục thiên vương ở phương tây ; 4) Ða văn thiên vương ở phương bắc. 14. Vô tác: Không có thi vi tạo tác, là ý nói cái thân do nhân duyên hiệp thành, không có chủ tể nên nó không tự động tác chuyển vận được. 15. Như chốn không tụ: Như chỗ tụ lạc (xóm làng) trống không, vắng vẻ có bọn giặc cướp nưong ở, hoặc chỗ đồng trống có ác quỉ nhóm họp, là chỗ đáng ghê sợ, đáng nhàm chán không thể nương ở được. Thân con người cũng như thế, do tứ đại họp thành là đống không trơn, lại là ổ chứa nhóm tội lỗi, chiu mọi sự thống khổ bịnh hoạn già chết ép ngặt, nên đáng nhàm chán xa lìa cũng như chốn không tụ kia. 16. Ấm : Năm ấm : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 17. Giới : 18 giới : 6 căn : nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý ; 6 trần : sắc, thinh, huơng vị, xúc, pháp ; 6 thức : nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. 18. Nhập : 12 nhập : sáu trần : sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp xung nhập với 6 căn : nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý. 19. Pháp thân : Là pháp giới tánh hay là chơn như. Thân có nghĩa là nhóm họp, nên Pháp thân là chỗ sở y chứa nhóm tất cả công đức Pháp tánh. Lại đức Phật lấy pháp tánh chơn như làm thân, nên gọi là pháp thân. 20. Giới, Ðịnh, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến : Năm món này gọi là ngũ phần Pháp thân : 1) Thân, khẩu, ý xa lìa tất cả tội lỗi gọi là giới. 2) Chơn tâm đứng lặng lìa tất cả vọng niệm gọi là Ðịnh. 3) Chơn trí sáng suốt chiếu tỏ các pháp gọi là Tuệ. 4) Thân tâm giải thoát không bị triền phược gọi là giải thoát. 5) Biết mình thật giải thoát gọi là giải thoát tri kiến. Người tu hành nhờ giới, định, tuệ làm nhơn mà chứng được thể giải thoát, giải thoát tri kiến của Pháp thân là quả, nên gọi là ngũ phần pháp thân. 21. Từ, bi, hỉ, xả : Xem số 5 về phần chú thích ở phẩm trước . 22. Tam muội : Tàu dịch là Ðịnh Tâm, định trụ một cảnh, xa lìa những sự loạn động. 23. Ba la mật (Paramita) : Tàu dịch có ba nghĩa 1) Cứu cánh, 2) Ðáo bỉ ngạn, 3) Ðộ vô cực. Danh từ Ba la mật này là do đại hạnh của các vị Bồ Tát mà đặt tên. Chính mình thật thành đại hạnh và giáo hóa cho người đến chỗ rốt ráo nên gọi “sự cứu cánh”. Nương theo dại hạnh của Bồ Tát được từ bờ sanh tử bên này tới bờ Niết bàn bên kia, nên gọi “đáo bỉ ngạn”. Nhờ đại hạnh mà được các pháp rộng rãi sâu xa không bờ bến, nên gọi “Ðộ vô cực”. 24. Lục thông : Sáu món thần thông : 1) Thiên nhãn thông : con mắt thấy xa đến cả đại thiên thế giới, những vật nhỏ nhít như vi trùng, những vật có chất ngại, cản trở đều thấy được hết, thấy rõ các chúng sanh trong nhiều kiếp lâu xa, chết ở cõi nào, sanh về cõi nào đều thấy rõ rệt. 2) Thiên nhĩ thông : lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, nhẫn đến tiếng rung động hết sức nhỏ, những tiếng nói của các loại đều nghe được hết. 3) Tha tâm thông : hiểu biết được tâm nỉệm tư tưởng của tất cả chúng sanh. 4) Túc mạng thông : biết rõ những kiếp trước của mình và của chúng sanh không điều gì ngăn ngại. 5) Thần túc thông : được các pháp thần thông biến hóa tự tại. 6) Lậu tận thông : trừ sạch hết thảy phiền não. 25. Tam minh : l) Túc mạng minh : biết được những việc sống chết đời trước của mình và của tất cả chúng sanh . 2) Thiên nhãn minh : biết được những việc sống chết đời sau của mình và của tất cả chúng sanh. 3) Lậu tận minh : biết được những sự khổ hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch hết các phiền não. 26. Ba mươl bảy phẩm trợ đạo : 4 pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5) lực ; 7 pháp giác chi ; 8 pháp đạo phần. 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu đưọc đạo quả nên gọi là trợ dạo. 4 pháp niệm xứ: niệm ]à tâm năng quán (tâm hay quán sát), xứ là cảnh sở quán (cảnh bị quán sát). Vì chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối trị : 1) Quán thân bất tịnh : Quán sát thân này là vật nhơ bẫn. 2) Quán thọ là khổ: Quán sát sự thọ lãnh của thân tâm là khổ. 3) Quán tâm vô thuờng : Quán sát tâm thức luôn luôn sanh diệt không thường trụ . 4) Quán sát vô ngã: Quán sát các pháp không có chủ tể. 4 pháp chánh cần: 1) Ðoạn những ác pháp đã sanh ; 2) Ðoạn những ác pháp chưa sanh ; 3) Làm cho các pháp lành tăng trưởng ; 4) Làm cho các pháp lành chưa sanh được sanh. 4 pháp như ý túc : 1) Dục như ý túc : có tâm ham muốn tu tập các pháp lành thì được như ý. 2) Niệm như ý túc : quán sát cảnh gì mà nhứt tâm chuyên chú vào đó thì được như ý. 3) Tinh tấn như y túc : do tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như ý. 4) Tư duy như ý túc : do suy nghĩ mà tu tập được kết quả. 5 căn : 1) Tín căn : tin theo chánh đạo và trợ đạo. 2) Tinh tấn căn : là sự dõng mãnh tu theo thiện pháp ; 3) Niệm căn : ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo ; 4) Ðịnh căn : nhiếp tâm theo chánh đạo ; 5) Huệ căn : nhờ có dịnh mà chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào. 5 lực: cũng như ngũ căn nhưng vì thật hành theo ngũ căn thì căn lành có sanh, song gốc ác chưa phá hết nên phải gia công tu tập thêm khiến cho thiện căn tăng trưởng. Khi thiện căn thành thục, các ác pháp khỏng còn, nên gọi là ngũ lực. 7 pháp giác chi: Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay ngụy. Chi là ngành, nghĩa là 7 pháp này có chi phái khác nhau không xen lẫn nhau nên gọi là 7 pháp giác chi hay là 7 pháp giác phần : l) Trạch pháp giác chi : dùng trí tuệ quan sát các pháp, giản trạch rõ ràng chơn ngụy. 2) Tinh tấn giác chi : dõng mãnh chuyên tâm tu tập các pháp chơn chánh. (Không làm theo những khổ hạnh sai lầm của ngoại đạo) luôn luôn không gián đoạn. 3) Hỉ giác chi : Khởi tâm vui mừng khi ngộ được chơn pháp. Mừng này chẳng phải như những lối mừng theo các việc thường tình điên đảo hư vọng, mà là mừng được an trụ nơi pháp chơn chánh. 4) Trừ giác chi : đoạn trừ phiền não thô trọng làm cho thân tâm nhẹ nhàng thư thới, xa lìa các pháp hư giả, tăng trưởng công đức chơn thiện. 5) Xả giác chi : lìa bỏ tất cả pháp chơn, vọng, lòng rổng rang bình đẳng không tưởng dến. 6) Ðịnh giác chi : nhứt tâm an trụ một cảnh, xa lìa vọng tưởng tán loạn. 7) Niệm giác chi : thường ghi nhớ pháp tu rõ ràng khiến cho định, tuệ bình đẳng. Lúc tâm hôn trầm nhớ ngay đến ba chi giác : trạch pháp, tinh tấn, hỉ giác mà quán sát các pháp cho khỏi hôn trầm. Lúc tâm loạn vu vơ, nghĩ ngay đến ba chi : “Trừ giác” để trừ sạch các lỗii vê thân miệng ; “Xả giác” để xả tiêu cái trí quán sát ; “Ðịnh giác” để vào nơi chánh định thu nhiếp cái tâm tán loạn, cho khòi xao động vu vơ. 8 pháp đạo phần: 1) Chánh kiến : sự hiểu biết chơn chánh. 2) Chánh tu duy : sự suy nghĩ chơn chánh. 3) Chánh ngữ : nói những lời chơn chánh không hư vọng. 4) Chánh nghiệp : hành động chơn chánh. 5) Chánh mạng : lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng. 6) Chánh tinh tấn : tu theo giới, định. tuệ một lòng tinh chuyên không gián đoạn. 7) Chánh niệm : ghi nhớ nhữmg pháp chơn chánh. 8) Chánh định : thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh. 27. Chỉ quán : Tiếng Phạn là Xa ma tha Tỳ bác xá na, Tàu dịch là chỉ quán hay là định tuệ, tịch chiếu, minh tịnh. Chỉ : là ngăn dửt tư tuởng vọng niệm, đoạn trừ giác quán sai lầm, đối với đế lý không lay động. Quán : là trí quán sát phân biệt, hiểu rõ danh tướng các pháp nhơn duyên sanh diệt, khế hội vào lý chơn như. 28. Thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng : đã giải nơi phẩm trước. 29. Vô thượng chánh đẳng chánh giác : chỗ giác ngộ của Phật không còn ai hơn nữa gọi là Vô thượng, xa lìa tà vọng gọi là Chánh, ngộ được chơn lý nên gọi là Giác. Phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.
Kinh Duy-Ma-Cật Sở Thuyết MỤC LỤC Lời Giới Thiệu Lời Nói Đầu Lệ Ngôn 1. Phẩm Phật Quốc 2. Phẩm Phương Tiện 3. Phẩm Ðệ Tử 4. Phẩm Bồ Tát 5. Phẩm Văn Thù Sư Lợi 6. Phẩm Bất Tư Nghị 7. Phẩm Quán Chúng Sanh 8. Phẩm Phật Đạo 9. Phẩm Vào Pháp Môn Không Hai 10. Phẩm Phật Hương Tích 11. Phẩm Hạnh Bồ Tát 12. Phẩm Thấy Phật A Súc 13. Phẩm Pháp Cúng Dường 14. Phẩm Chúc Lụy -- * -- LỜI GIỚI THIỆU Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải được thanh tịnh như trong kinh nói "TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH". Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi. Bộ Kinh "DUY MA CẬT" này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được. Giáo lý Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản. Nhận thấy pháp Tối Thượng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ĐƯỜNG Mùa Hạ Năm Tân Mão - 1951 Sa môn: LÊ PHƯỚC BÌNH LỜI NÓI ĐẦU Kinh "DUY MA CẬT" cũng có tên gọi: Kinh "BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT". Kinh này nói rõ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập. Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh. Ngài DUY MA CẬT chính là vị Đại Bồ Tát ở cõi Bất Động, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cõi Ta bà này. Muốn hiển bản tánh "Bình Đẳng Chơn Thật Không Hai" của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo. Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh "bình đẳng không hai" và đầy đủ diệu dụng giải thoát. Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lý thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để. Đời đang đắm chìm trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới "bất tư nghị" mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có. Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ! Dịch giả cẩn chí. LỆ NGÔN I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm. II. Về phẩm II và III, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bồ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị muốn xem. III. Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa. IV. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hằng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm "Thấy Phật A Súc", phẩm "Pháp cúng dường" và phẩm "Chúc lụy" có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy.
Kinh Giải Thâm Mật Mục Lục I. Phần Dẫn Nhập (1) (1) (2) (3) II. Phần Dịch Giải Phần II (2) A1. Mở Đầu (Phẩm 1) B1. Nói Chỗ Nói B2. Nói Người Nói B3. Nói Người Nghe A2. Chính Thuyết B1. Nói Tâm Siêu Việt Như Thế Nào (Phẩm 2) C1. Nói Tâm Ly Ngôn Và Bất Nhị C2. Nói Tâm Siêu Việt Tầm Tư C3. Nói Tâm Phi Nhất Dị C4. Nói Tâm Phổ Biến Nhất Vị B2. Nói Tâm Siêu Việt Ấy Là Thế Nào C1. Nói Tâm Ấy Là Cảnh Sở Quán (Các Phẩm 3 Đến 5) Phần III (3) C2. Nói Tâm Ấy Là Hạnh Năng Quán (Các Phẩm 6 Và 7) C3. Nói Tâm Ấy Là Quả Sở Đắc (Phẩm 8) III. Lời Nói Cuối Ghi chú (4) Ghi Sau Khi Duyệt Giải Thâm Mật Giải thâm mật và Nhiếp luận gần gần như nhau. Nhưng rõ ràng Giải thâm mật nói đặc biệt về bản thể siêu việt, về du dà chỉ quán, nhất là về 3 vô tánh và về Phật ẫ thì không đâu sánh bằng. Mồng một tháng 5.2537. Trí Quang ________________________________________ Phần Dẫn Nhập [^] (1) Giải thâm mật là bộ kinh được đại luận Du dà, các cuốn 75-78, trích dẫn toàn văn, trừ phẩm một (Chính 30/713-736). Tháng 3 năm 51 tuổi, dương lịch 646, ngài Huyền tráng khởi dịch Du dà, năm sau dịch Giải thâm mật, tháng 3 năm sau nữa dịch xong Du dà. Giải thâm mật của ngài Huyền tráng dịch được gọi tắt là Đường dịch. Trước đó, dương lịch 453 (hoặc 443), ngài Cầu na bạt đà la đã dịch 2 phẩm bảy và tám, đề Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh. Dương lịch 515, ngài Bồ đề lưu chi dịch trọn bộ, đề Thâm mật giải thoát kinh, bộ này được gọi là Ngụy dịch. Dương lịch 561, ngài Chân đế dịch phẩm một mà chia nhỏ làm 4 phẩm, lại sớ giải thành 4 cuốn (tìm chưa thấy, chỉ thấy Viên sớ trích dẫn). Các bản dịch trên đây đều nằm trong Chính 16/665-720, riêng Đường dịch còn có trong Chính 30/713-736 (luận Du dà). Tài liệu để có ghi chú trên đây là Vạn 34/299; Chính 49/94, 45, 42; Phật học nghiên cứu, bài 10 và 18 (phụ lục 3); Thế giới đại sự biểu của Từ nguyên. Ghi chú trên đây cho thấy Ngụy dịch và Đường dịch đều hoàn chỉnh. Nhưng Đường dịch hoàn hảo hơn, bởi vì dịch chủ là ngài Huyền tráng, dịch kinh này là bộ kinh căn bản của Duy thức học mà, trong Phật giáo văn hệ Trung hoa, ngài là vị sơ tổ. Sớ giải Giải thâm mật thì bản tôi học là của đại sư Khuy cơ, bài tựa nói trích từ tác phẩm sớ giải Du dà mà khắc in riêng ra. Tiếc rằng hiện tôi không có bản này. Dò tìm cũng chưa thấy tác phẩm sớ giải Du dà nói trên. Còn bản sớ giải mà tôi hiện có là của đại sư Viên trắc. Đối với ngài Huyền tráng, đại sư là người sóng đôi mà khá mâu thuẫn với đại sư Khuy cơ, một vài truyện ký tương truyền như vậy. Đại sư Viên trắc sớ giải Giải thâm mật, nếu không phải trong lúc ngài Huyền tráng còn tại thế thì sau đó cũng không lâu. Trong sớ giải, đại sư trích dẫn lời ngài Huyền tráng khá nhiều. Bản sớ giải này gồm có 10 cuốn, nay chỉ thiếu cuốn chót, 9 cuốn hiện còn trong Vạn 34 và 35. Bản sớ giải này tôi gọi tắt là Viên sớ. Nhưng xin cảnh giác người đọc là chính văn Giải thâm mật của Viên sớ, qua Vạn 34 và 35 in lại, thì khá sai sót, nên phải dò lại chính văn ấy trong Chính 16/688-711 và 30/713-736. Bản dịch giải của tôi lấy Đường dịch làm chính văn, lấy Viên sớ làm tài liệu tham chiếu. (2) Giải thâm mật, Phạn tự là Sandhi-nirmocara, dịch âm là San địa niết mô chiết na. San địa có nghĩa sâu kín (thâm mật), đốt xương (cốt tiết hay tiết), nối nhau (tương tục). Niết mô chiết na là lý giải (giải), giải thoát. Vì những ý nghĩa nguyên thể và biến thể ấy mà các tên được dịch như đã thấy ở đoạn trên. Tựu trung, Đường dịch thì rõ và hay hơn cả. Còn sự thâm mật mà kinh này giúp ta lý giải thì sẽ thấy trong đoạn 3 dưới đây. (3) Giải thâm mật có 5 cuốn 8 phẩm. Cuốn 1 có phẩm một: mở đầu (tự) phẩm hai: thắng nghĩa (thắng nghĩa đế tướng) phẩm ba: tâm thức (tâm ý thức tướng); cuốn 2 có phẩm bốn: tự tánh (nhất thế pháp tướng) phẩm năm: vô tánh (vô tự tánh tướng); cuốn 3 có phẩm sáu: du dà (phân biệt du dà); cuốn 4 có phẩm bảy: địa độ (địa ba la mật đa); cuốn 5 có phẩm tám: Phật sự (Như lai thành sở tác sự). Tất cả 8 phẩm này Viên sớ chia làm 2 phần: mở đầu (phẩm một) và chính thuyết (phẩm hai đến tám). Phần chính thuyết có 3 mục: 1, nói về chân lý (cảnh) gồm có 4 phẩm hai đến năm; 2, nói về phương pháp (hành) gồm có 2 phẩm sáu và bảy; 3, nói về thành quả (quả) là phẩm tám. Trong mục 1, chia 4 phẩm làm 2: phẩm hai và phẩm ba nói về chân và tục, phẩm bốn và phẩm năm nói về có và không. Phần tôi, tôi xét có thể nói nội dung Giải thâm mật cũng tương tự với Lăng dà. Lăng dà, một bộ kinh căn bản khác của Duy thức học, nói về cái "Tâm của Phật thuyết" bằng 2 phần: nói cái Tâm ấy siêu việt như thế nào, nói cái Tâm siêu việt ấy là thế nào. Kinh này rõ ràng cũng vậy: phẩm hai nói Tâm siêu việt như thế nào, phẩm ba đến tám nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Lại xét Nhiếp luận thì toàn văn có 3 phần là cảnh hành quả. Phần nói về cảnh có 2 phần: phần căn bản là bản thức, phần biểu hiện là ba tánh. Giải thân mật càng rõ ràng cũng vậy: phẩm ba nói về bản thức, phẩm bốn và năm nói về 3 tự tánh và 3 vô tánh. Cách nói này cho thấy bản thức là căn bản của các pháp nên gọi duy thức. Tư tưởng duy thức như vậy tương đối cổ hơn, nhưng đơn giản và sâu sắc hơn. Vì xét như vậy, nên khác với Viên sớ, tôi chia 7 phẩm phần chính thuyết của Giải thâm mật làm 2 mục lớn: nói Tâm siêu việt như thế nào, nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Trong mục lớn thứ 2 cũng chia làm ba phần nhỏ: các phẩm ba đến năm nói Tâm ấy là cảnh sở quán, các phẩm sáu và bảy nói Tâm ấy là hạnh năng quán, phẩm tám nói Tâm ấy là quả sở đắc. Với nội dung này, Giải thâm mật không những làm căn bản cho Duy thức, mà còn làm tổng kết cho Đại thừa. Phẩm một: Mở Đầu [^] Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế tôn (1) ở trong đại cung điện (1B) , nơi (2) được cấu trúc bằng bảy chất liệu quí báu rực rỡ hơn hết, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp vô biên quốc độ, nơi có vô số khu vức được trang sức tuyệt diệu và vị trí xen nhau, nơi mà hình lượng tràn đầy một cách vô giới hạn và khó ước tính, nơi mà hình lượng ấy siêu việt lĩnh vực ba cõi, nơi được tạo thành bởi loại thiện căn tối thượng và siêu việt thế gian, nơi lấy tâm thức cực trong sạch và cực tự tại mà làm bản thể, nơi đức Thế tôn đóng đô, nơi các đại bồ tát (3) vân tập, nơi vô số tám bộ thường xuyên tùy tùng, nơi sống (4) bằng sự vui thích mùi vị chánh pháp quảng đại, nơi xuất phát mọi sự ích lợi chân thật cho chúng sinh, nơi dứt tuyệt phiền não, tai nạn, buộc ràng và dơ bẩn, nơi tách rời các loại ma (5) , nơi được sự trang hoàng của Phật, một sự trang hoàng vượt quá mọi sự trang hoàng, nơi lấy đại niệm, đại tuệ và đại hạnh mà làm đường đi, nơi lấy sự chỉ vĩ đại và sự quán tinh tế mà làm cỗ xe, nơi lấy sự không vĩ đại, sự vô tướng vĩ đại và sự vô nguyện vĩ đại mà làm cửa vào, nơi kiến thiết trên hoa sen chúa làm bằng ngọc lớn và trang trí bởi vô số lượng công đức (6) . Lược Giải.- Đoạn này nói về chỗ Phật thuyết Giải thâm mật. Chỗ ấy, đại bồ tát thấy, là tha thọ dụng độ của Phật, có 18 sự viên mãn (với 18 chữ nơi). Chỗ ấy đúng ra cũng nên nói là biến hóa độ mà những kẻ khác thấy, nhưng đoạn này muốn đề cao kinh này nên chỉ nói cái thấy thứ nhất. Một chỗ và cùng lúc mà thấy tha thọ dụng độ và thấy biến hóa độ là như trong Pháp hoa, Linh sơn mà thấy Linh sơn tịnh độ hay thấy Linh sơn bình thường. Nói Người Nói Chính Văn.- Còn đức Thế tôn thì tuệ giác cực kỳ trong sạch (7) : hiện hành bất nhị (8) , đạt đến vô tướng (9) , đứng vào chỗ đứng của các đức Thế tôn (10) , thể hiện tính bình đẳng của các Ngài, đến chỗ không còn chướng ngại (11) , giáo pháp không thể khuynh đảo, tâm thức không bị cản trở, cái được thiết lập không thể nghĩ bàn, biết rõ như nhau đối với mọi việc quá khứ hiện tại và vị lai, thân hình bủa ra khắp các thế giới, các pháp thì thông suốt, các hạnh thì toàn hảo, trí biết không còn nghi hoặc, thân hiện không có phân biệt, là tuệ giác mà tất cả Bồ tát cầu mong, chứng được cái thân đồng nhất của chư Phật mà đứng ở bờ bến tối thượng bên kia, thực hiện một cách không còn hỗn tạp về giải thoát và diệu trí của đức Thế tôn, toàn chứng cảnh Phật không có chính giữa cũng không có bên cạnh, cùng tận pháp giới, khắp không gian, và suốt thì gian. Lược Giải.- Phật mà đoạn này tả là tha thọ dụng thân. Thuyết chủ Giải thâm mật là tha thọ dụng thân ấy. Đó cũng là nói theo sự đề cao kinh này. Nói Người Nghe Chính Văn.- Cùng ở với đức Thế tôn có chúng đại thanh văn thuần hóa tất cả; toàn là con Phật; tâm khéo giải thoát; trí khéo giải thoát; giới khéo thanh tịnh; hướng cầu cái vui của chánh pháp; nghe chánh pháp rất nhiều, nghe thì nắm giữ trong trí, và cái nghe như vậy được dồn chứa mãi; khéo nghĩ cái được nghĩ, khéo nói cái được nói, khéo làm cái được làm (12) ; tuệ giác nhanh, tuệ giác chóng, tuệ giác sắc, tuệ giác thoát ra, tuệ giác quyết trạch siêu việt, tuệ giác lớn, tuệ giác rộng (13) , tuệ giác không ai đồng đẳng, thành tựu những phẩm chất quí báu như vậy của tuệ giác; hoàn hảo ba thứ minh trí; đạt được cái vui của chánh pháp ngay trong hiện tại và rất là bậc nhất; là ruộng phước vừa sạch vừa lớn; hoàn thiện không thiếu sự yên tĩnh của cử động; hoàn mãn không vơi sự ôn hòa của đức nhẫn; khéo léo phụng hành giáo huấn của đức Thế tôn (14) . Lược Giải.- Đoạn này nói về chúng đại thanh văn, 1 trong 2 chúng người nghe Giải thâm mật. Hãy chú ý ở chỗ đoạn này không nói những sở trường của Thanh văn mà quan trọng nhất là "sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu", cho thấy kinh này không đề cao Thanh văn định tánh là các vị chỉ "đãi đắc kỷ lợi". Thanh văn đoạn này nói là Thanh văn hướng đại, với những đức tính liên hệ đại thừa. Chính Văn.- Lại có chúng đại bồ tát từ các cõi Phật hội lại ở đây, toàn là những vị đứng trong đại thừa, đi trong đại thừa, đối với chúng sinh thì lòng rất bình đẳng, tách rời mọi sự phân biệt là có thể phân biệt và không thể phân biệt (15) , chế ngự các loại ma và thù địch, tách rời ý nghĩ của Thanh văn và Duyên giác, sống bằng sự vui thích mùi vị chánh pháp quảng đại, vượt qua tất cả năm sự sợ hãi (16) , thuần nhất bước vào địa vị không còn thoái chuyển, thể hiện địa vị làm ngưng khổ não bức bách cho chúng sinh. Danh hiệu các vị thượng thủ là đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý (17) , đại bồ tát Như lý thỉnh vấn, đại bồ tát Pháp dũng, đại bồ tát Thiêển thanh tịnh tuệ, đại bồ tát Quảng tuệ, đại bồ tát Đức bản, đại bồ tát Thắng nghĩa sinh, đại bồ tát Quan tự tại, đại bồ tát Từ thị, đại bồ tát Mạn thù (18) ... Lược Giải.- Đoạn này nói về chúng đại bồ tát đến nghe kinh Giải thâm mật. Có 10 câu nói về 10 phẩm chất vĩ đại. Nói Tâm Ly Ngôn Và Bất Nhị Chính Văn.- Phẩm hai: Thắng Nghĩa (19) [^] Vào lúc bấy giờ, ở trước đức Thế tôn, đại bồ tát Như lý thỉnh vấn hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, nói các pháp bất nhị (20) thì các pháp là những gì? tại sao lại bất nhị? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, các pháp đại khái có hai, một là hữu vi, hai là vô vi. Trong đây, hữu vi không phải hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi, (nên nói là bất nhị). Đại bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là hữu vi không phải hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, nói hữu vi thì đó là cái đức Bổn sư giả thiết; nếu là cái đức Bổn sư giả thiết thì cái ấy biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả (21) ; nếu là cái biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả thì cuối cùng chỉ là bao cách biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả chứ không phải chân thật, vì vậy mà không phải là hữu vi (22) . Nói vô vi thì cũng sa vào ngôn ngữ (23) ; ngoài hữu vi vô vi mà nói gì chút ít đi nữa thì cũng là như thế (24) . Thế nhưng không phải không sự thể mà có nói phô; sự thể ấy là gì, là các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà nói là hữu vi (25) . Thiện nam tử, nói vô vi thì đó cũng là cái đức Bổn sư giả thiết; nếu là cái đức Bổn sư giả thiết thì cái ấy biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả; nếu là cái biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả thì cuối cùng chỉ là bao cách biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả chứ không phải chân thật, vì vậy mà không phải là vô vi (26) . Nói hữu vi thì cũng sa vào ngôn ngữ (27) ; ngoài vô vi hữu vi mà nói gì chút ít đi nữa thì cũng là như thế (28) . Thế nhưng không phải không sự thể mà có nói phô; sự thể ấy là gì, là các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà nói là vô vi. Lược Giải.- Đoạn này nói thắng nghĩa (Tâm hay Như) thì ly ngôn và bất nhị. Chính Văn.- Lúc ấy đại bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói là vô vi? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, như nhà ảo thuật, hay đồ đệ của nhà ảo thuật, đứng giữa ngã tư, gom cỏ lá ngói gạch, và những vật liệu cùng việc, làm ra những ảo trạng tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, ma ni, chân châu, lưu ly, loa bối (29) , bích ngọc, san hô, kho tàng tiền của, kho tàng thóc gạo... Những kẻ thuộc loại ngu đần, hiểu sai, không trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe thật là tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo..., lại y như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại. Còn những người thuộc loại không ngu đần, hiểu đúng, có trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe toàn không thật tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo..., thế nhưng có những ảo trạng mê hoặc thị giác, nên tưởng đây là bản thân con voi và đây là chi tiết trên bản thân ấy, cho đến tưởng đây là bản thân kho tàng thóc gạo và đây là chi tiết trên bản thân ấy (29B) ; họ không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa. Tương tự như vậy, những kẻ thuộc loại ngu phu, thuộc loại dị sinh (30) , chưa được tuệ giác siêu việt thế gian của các vị thánh giả, thì không thể thấu hiểu pháp tánh tách rời ngôn ngữ của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi, nghĩ rằng cái mình thấy nghe được đó quyết định thật là hữu vi vô vi, lại đúng như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại. Còn những người không thuộc loại ngu phu, đã thấy chân lý của thánh giả, đã được tuệ giác siêu việt thế gian của thánh giả, thì thấu hiểu một cách đúng như sự thật về pháp tánh tách rời ngôn ngữ của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi nghĩ rằng cái mình thấy nghe được đó quyết định không thật hữu vi vô vi, thế nhưng có hành tướng (31) của sự phân biệt (32) như ảo trạng mê hoặc tuệ giác (33) , nên có ý tưởng bản thân hữu vi vô vi, có ý tưởng chi tiết nơi bản thân hữu vi vô vi; nghĩ như vậy nên không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa. Ấy vậy, Thiện nam tử, trong sự thể này các vị thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác nên giả thiết ngôn từ mà nói là hữu vi, nói là vô vi. Lược Giải.- Đoạn này giải thích tại sao thắng nghĩa ly ngôn mà thánh giả có ngôn thuyết. Chính Văn.- Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Pháp tánh bất nhị tách rời ngôn ngữ mà Thế tôn nói thì rất sâu xa, không phải ngu phu có thể hiểu biết. Với pháp tánh ấy, những kẻ ngu phu thì bị mê hoặc vì sự ngu dốt, nên thích nắm lấy hai pháp y cứ (34) , vận dụng ngôn từ hý luận đủ cách. Họ thành những kẻ thuộc nhóm bất định, hay còn hơn nữa. thuộc nhóm tà định, nên đã trôi lăn ở trong cái khổ của sự sống chết cực kỳ lâu dài; nay lại trái nghịch đối với tuệ giác cùng với ngôn luận rất là chính xác, nên trong vị lai họ phải sinh vào loài bò loài dê các loài tương tự. Lược Giải.- Đoạn này dùng văn chỉnh cú mà trùng tuyên C1 trong B1 của A2. Nói Tâm Siêu Việt Tầm Tư Chính Văn.- Bấy giờ đại bồ tát Pháp dũng thưa Phật: Kính bạch Thế tôn, phía đông cõi này, qua bảy mươi hai hằng sa thế giới hệ, có thế giới hệ tên Đủ tiếng khen lớn, đức Thế tôn giáo chủ hiệu Tiếng khen rộng lớn. Trước đây con từ cõi Phật ấy mà đến cõi này. Tại cõi Phật ấy, con từng thấy một nơi có bảy mươi bảy ngàn ngoại đạo, gồm cả các bậc thầy của họ, cùng ngồi với nhau. Để nghĩ về sắc thái của thắng nghĩa các pháp, họ chung nhau bàn luận, cân nhắc, xem xét. Suy tầm khắp cả mà rốt cuộc họ không biết được thắng nghĩa của các pháp, chỉ có những cái biết phức tạp, mâu thuẫn, bất định, nên họ chống nhau, cãi nhau, miệng lưỡi xuất ra giáo với lao mà đâm thọc nhau, quấy phá nhau, rồi họ giải tán. Lúc ấy con nghĩ riêng như vầy, sự xuất thế của các đức Thế tôn thật rất hiếm có, bởi vì nhờ sự xuất thế ấy mà đối với cái thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư (35) vẫn có những người thấu suốt chứng ngộ. Đại bồ tát Pháp dũng kính bạch như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói; đối với thắng nghĩa siêu việt tầm tư, Như lai đã chánh biến giác, chánh biến giác rồi Như lai nói rõ cho người. Lược Giải.- Đoạn này nói mục đích và giá trị xuất thế của Phật: sự xuất thế ấy là để nói về thắng nghĩa, làm cho có người cũng chứng ngộ được thắng nghĩa ấy. Chính Văn.- Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì thánh giả tự chứng ngộ từ bên trong, còn đối tượng tầm tư thì dị sinh chuyền cho nhau mà hiểu biết; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì tuệ giác vô tướng lĩnh hội, còn tầm tư thì chỉ biết đối tượng hữu tướng; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì không thể nói phô, còn tầm tư thì chỉ biết bằng nói phô; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì tuyệt hết mọi sự biểu thị, còn tầm tư thì chỉ biết bằng sự biểu thị; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì tuyệt hết mọi sự tránh luận (35B) , còn tầm tư thì chỉ biết bằng sự tránh luận; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Lược Giải.- Đoạn này lấy 5 mặt mà nói thắng nghĩa siêu việt tầm tư. Chính Văn.- Pháp dũng, nên nhận thức rằng, tựa như có kẻ suốt đời đã quen mùi vị cay đắng, thì đối với mùi vị của mật và đường, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao thì gian khẳng định dục vọng, lửa dục nung đốt, thì đối với cái vui siêu thoát tinh tế do từ bên trong đã loại bỏ ngũ dục (35C) , kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao thì gian khẳng định ngôn từ, ưa thích ngôn từ hoa dạng của thế gian, thì đối với cái vui lặng thinh thánh thiện do sự yên tĩnh từ bên trong, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao thì gian khẳng định sự biểu thị của thấy nghe hay biết (36) , ưa thích những sự biểu thị có tính thế gian (36B) , thì đối với niết bàn toàn hảo do hủy diệt mọi sự biểu thị và cái thân ngũ uẩn, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ mà trong bao thì gian khẳng định về ngã sở, chiếm hữu và tránh luận, ưa thích mọi sự tránh luận của thế gian, thì đối với sự không ngã sở, chiếm hữu và tránh luận của nhân loại ở đại lục Bắc câu lô, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Tương tự như vậy, Pháp dũng, những kẻ tầm tư thì đối với thắng nghĩa siêu việt cái biết của tầm tư, họ không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Lược Giải.- Đoạn này thí dụ về 5 mặt đã nói ở trên. Thí dụ mà cũng chỉ việc. Ngài Chân đế phối hợp 5 sự này với 5 cái vui: xuất gia, tách rời, yên lặng, chánh giác và niết bàn (Vạn 34/339B dẫn). Chính Văn.- Để lặp lại ý nghĩa đã nói, lúc ấy đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây. Chứng ngộ từ trong, vô tướng lĩnh hội, không thể nói phô, tuyệt hết biểu thị, đình chỉ tránh luận, thắng nghĩa như vậy siêu việt hết thảy sắc thái tầm tư. Lược Giải.- Đoạn này dùng văn chỉnh cú mà trùng tuyên C2 trong B1 của A2. Nói Tâm Phi Nhất Dị Chính Văn.- Lúc bấy giờ đại bồ tát Thiện thanh tịnh tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, Ngài thật kỳ diệu, cho đến Ngài thật khéo nói, ấy là Ngài nói thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu, khó thấu, vượt qua đặc tính đồng nhất hay dị biệt đối với các hành. Bạch đức Thế tôn, chính tại cõi này, con từng chứng kiến một nơi có các vị Bồ tát đồng đẳng tu hành chính xác về địa vị Thắng giải hành (37) cùng ngồi với nhau, chung nhau nghĩ bàn thắng nghĩa đối với các hành (38) là một hay khác nhau. Trong đó, một số nói thắng nghĩa với các hành hoàn toàn là một; một số nói không phải thắng nghĩa với các hành hoàn toàn là một, mà là tuyệt đối khác nhau; một số nghi hoặc, do dự, nói các vị ấy ai thật ai dối, ai đúng ai sai, khi một số nói thắng nghĩa với các hành là một, một số nói thắng nghĩa với các hành khác nhau. Bạch đức Thế tôn, chứng kiến như vậy, con nghĩ riêng, rằng các thiện nam tử này ngây thơ, không sáng, không khéo và không đúng; đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu và siêu việt nhất dị đối với các hành, họ không thấu hiểu. Đại bồ tát Thiện thanh tịnh tuệ kính bạch như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói; các Thiện nam tử ấy ngây thơ, không sáng, không khéo và không đúng; đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu và siêu việt nhất dị đối với các hành, họ không thấu hiểu. Lý do là vì, đối với các hành, không phải khi nhận thức như vậy mà gọi là thấu hiểu hay chứng ngộ thắng nghĩa. Lược Giải.- Đoạn này mở đầu nói về thực thể với hiện tượng; thực thể ấy là thắng nghĩa (Như hay Tâm). Chính Văn.- (Trước hết), Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một thì đáng lẽ hiện nay tất cả dị sinh đã thấy đế lý, đã được niết bàn yên ổn, đã chứng bồ đề tối thượng; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ người đã thấy đế lý không thể trừ khử các hành, không trừ khử các hành thì không thể giải thoát tướng phược (39) , không giải thoát tướng phược thì không thể giải thoát trọng phược (40) , không giải thoát hai phược ấy thì không thể được niết bàn yên ổn, cũng không thể chứng bồ đề tối thượng. (Nhưng), vì hiện nay các loại dị sinh không phải đã thấy đế lý, không phải đã được niết bàn yên ổn, không phải đã chứng bồ đề tối thượng, nên cho thắng nghĩa với các hành là một thì phi lý, nói thắng nghĩa với các hành là một thì do đạo lý này mà ông nên biết họ nói không đúng; (mặt khác), vì hiện nay không phải những người thấy đế lý không thể trừ khử các hành mà là trừ khử được, không phải không thể giải thoát tướng phược mà là giải thoát được, không phải không thể giải thoát trọng phược mà là giải thoát được, giải thoát được hai phược nên cũng được niết bàn yên ổn và chứng bồ đề tối thượng, nên cho thắng nghĩa với các hành khác nhau thì phi lý, nói thắng nghĩa với các hành khác nhau thì do đạo lý này mà ông nên biết họ nói không đúng. Thứ nữa, Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một thì đáng lẽ các hành là tạp nhiễm thắng nghĩa cũng tạp nhiễm; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ không phải cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa (41) . (Nhưng), vì hiện nay thắng nghĩa không phải là tạp nhiễm, (mặt khác), vì cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa, nên cho thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau thì đều phi lý, nói thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau thì do đạo lý này mà ông nên biết họ nói không đúng. Sau nữa, Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một thì đáng lẽ thắng nghĩa là phi sai biệt các hành cũng phi sai biệt, đáng lẽ hành giả tu quán, thấy nghe hay biết các hành rồi sau đó không còn tìm biết thắng nghĩa; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ không phải cái được hiển lộ bởi các hành vô ngã vô tánh chính là thắng nghĩa, đáng lẽ tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập (42) . (Nhưng), vì hiện nay các hành là sai biệt chứ không phải phi sai biệt, vì hành giả tu quán, thấy nghe hay biết các hành rồi sau đó còn tìm biết thắng nghĩa, (mặt khác), vì chính cái được hiển lộ bởi các hành vô ngã vô tánh gọi là thắng nghĩa, vì không phải tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập, nên cho thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau thì đều phi lý, nói thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau thì do đạo lý này mà ông nên biết họ nói không đúng. Lược Giải.- Đoạn này có 3 đoạn nhỏ nói thắng nghĩa siêu việt nhất dị. Tựu trung đáng chú ý nhất là 2 điểm: cọng tướng của các hành là thắng nghĩa (ghi chú 41) và nhiễm tịnh không song lập (ghi chú 42). Điểm trước là bản thể với hiện tượng, điểm sau chính là nghĩa bản tịnh (chứ không có bản nhiễm). Chính Văn.- Thiện thanh tịnh tuệ, như sắc trắng nơi loa bối, không dễ gì nói là một hay khác nhau với loa bối. Như sắc trắng nơi loa bối, sắc vàng nơi vàng cũng vậy. Như khúc nhạc nơi âm thanh đàn hầu, không dễ gì nói là một hay khác nhau với âm thanh đàn hầu. Như hơi thơm nơi trầm đen, không dễ gì nói là một hay khác nhau với trầm đen. Như vị cay nơi hạt tiêu, không dễ gì nói là một hay khác nhau với hạt tiêu. Như vị cay nơi hạt tiêu, vị bùi nơi trái ha lê cũng vậy. Như sự láng mịn nơi lụa tơ tằm, không dễ gì nói là một hay khác nhau với lụa tơ tằm. Như váng sữa nơi sữa chín, không dễ gì nói là một hay khác nhau với sữa chín. Như sự vô thường nơi các hành, sự khổ não nơi hữu lậu, sự vô ngã nơi các pháp, không dễ gì nói là một hay khác nhau với các hành, hữu lậu và các pháp. Sự thác loạn và tạp nhiễm nơi tham, không dễ gì nói là một hay khác nhau với tham; như nơi tham, nơi sân và nơi si cũng vậy. Tương tự như vậy, Thiện thanh tịnh tuệ, không thể qui định thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau. Thiện thanh tịnh tuệ, đối với thắng nghĩa siêu việt một khác các hành như vậy, rất nhỏ và cực kỳ rất nhỏ, rất sâu và cực kỳ rất sâu, khó biết và cực kỳ khó biết, Như lai đã thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác rồi, Như lai nói rõ cho người. Lược Giải.- Hai đoạn này, một, dùng 10 ví dụ để nói sự phi nhất dị của thắng nghĩa, một, nói với thắng nghĩa ấy Phật đã tự giác lại giác tha. Chính Văn.- Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Thắng nghĩa các hành (43) siêu việt một khác, phân biệt một khác là biết không đúng. Chúng sinh thì bị tướng phược trọng phược (44) ; siêng tu chỉ quán mới giải thoát được. Lược Giải.- Đoạn này dùng chỉnh cú mà trùng tuyên C3 trong B1 của A2. Nói Tâm Phổ Biến Nhất Vị Chính Văn.- Lúc ấy đức Thế tôn hỏi trưởng lão Thiện hiện: Thiện hiện, trong chúng sinh giới, trưởng lão biết bao nhiêu người có tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác định sự hiểu biết của mình (45) ? bao nhiêu người không tăng thượng mạn mà xác định sự hiểu biết của mình? Trưởng lão Thiện hiện thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong chúng sinh giới, con biết chỉ có một số người không tăng thượng mạn mà xác định sự hiểu biết của mình, nhưng có vô số người có tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác định sự hiểu biết của mình. Bạch đức Thế tôn, có một lần con ở chỗ thanh vắng trong rừng cây lớn. Bấy giờ có nhiều vị Bí sô cũng ở trong rừng ấy, gần con. Các vị Bí sô này, trong phần sau của ban ngày, lần lượt hội lại, căn cứ sự hiện quán có thủ đắc mà nói các pháp, xác định sự hiểu biết của mình. Tựu trung, một số do thủ đắc về uẩn: thủ đắc đặc tính của uẩn, thủ đắc sự phát sinh của uẩn, thủ đắc sự tận diệt của uẩn, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của uẩn, nên xác định sự hiểu biết của mình. Như một số do thủ đắc về uẩn, một số do thủ đắc về xứ và một số do thủ đắc về duyên khởi thì cũng như vậy. Một số do thủ đắc về thực: thủ đắc đặc tính của thực, thủ đắc sự phát sinh của thực, thủ đắc sự tận diệt của thực, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của thực, nên xác định sự hiểu biết của mình. Một số do thủ đắc về đế: thủ đắc đặc tính của đế, thủ đắc sự biến tri về đế, thủ đắc sự vĩnh đoạn về đế, thủ đắc sự tác chứng về đế, thủ đắc sự tu tập về đế, nên xác định sự hiểu biết của mình. Một số do thủ đắc về giới: thủ đắc đặc tính của giới, thủ đắc chủng loại của giới, thủ đắc đa dạng của giới, thủ đắc sự tận diệt của giới, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của giới, nên xác định sự hiểu biết của mình. Một số do thủ đắc về niệm trú : thủ đắc đặc tính của niệm trú, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của niệm trú, thủ đắc sự tu tập về niệm trú, thủ đắc sự chưa phát sinh thì làm cho phát sinh của niệm trú, thủ đắc sự đã phát sinh thì làm cho kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rộng ra của niệm trú, nên xác định sự hiểu biết của mình. Như một số do thủ đắc về niệm trú, những số do thủ đắc về chính đoạn, do thủ đắc về thần túc, do thủ đắc về căn, do thủ đắc về lực, do thủ đắc về giác chi, thì cũng như vậy. Một số do thủ đắc về tám chi thánh đạo: thủ đắc đặc tính của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự tu tập về tám chi thánh đạo, thủ đắc sự chưa phát sinh thì làm cho phát sinh của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự đã phát sinh thì làm cho kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rôểng ra của tám chi thánh đạo, nên xác định sự hiểu biết của mình (46) . Bạch đức Thế tôn, con chứng kiến như vậy thì nghĩ riêng như vầy, các vị trưởng lão này căn cứ sự hiện quán có thủ đắc mà nói các pháp, xác định sự hiểu biết của mình như thế, thì biết các vị toàn là tăng thượng mạn, bị tăng thượng mạn chi phối, nên không thể thấu hiểu đặc tính phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị của thắng nghĩa. Vì thế nên đức Thế tôn thật kỳ diệu, cho đến đức Thế tôn thật khéo nói, ấy là Ngài nói thắng nghĩa rất nhỏ và cùng cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất sâu, khó biết và cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị. Bạch đức Thế tôn, các vị Bí sô tu học trong chánh pháp mà còn khó thấu hiểu đặc tính phổ biến nhất vị của thắng nghĩa, huống chi những người ngoại đạo. Lược Giải.- Đoạn này cho thấy C4 này cốt nói tiểu thừa nhiều hơn, cũng như C3 trước đây nhắm nhiều hơn vào ngoại đạo (nhất là các thuyết bản thể luận). Chính Văn.- Bấy giờ đức Thế tôn bảo trưởng lão Thiện hiện: đúng như vậy, trưởng lão Thiện hiện; đối với thắng nghĩa rất nhỏ và cùng cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất sâu, khó biết và cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị, Như lai đã thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác rồi, Như lai nói rõ cho người. (Trước hết), Thiện hiện, Như lai đã nói cái thanh tịnh sở duyên (47) nơi toàn thể năm uẩn chính là thắng nghĩa; Như lai đã nói cái thanh tịnh sở duyên nơi toàn thể mười hai xứ, mười hai duyên khởi, bốn thực, bốn đế, mười tám giới, bốn niệm trú, bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo, chính là thắng nghĩa. Cái thanh tịnh sở duyên ấy, nơi toàn thể năm uẩn, Nó là đồng nhất tính vị, không có dị biệt; như nơi toàn thể năm uẩn, thì nơi toàn thể mười hai xứ, cho đến nơi toàn thể tám thánh đạo, Nó cũng là như vậy, đồng nhất tính vị, không có dị biệt. Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này mà trưởng lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể, đồng nhất tính vị. Thứ nữa, Thiện hiện, các vị Bí sô tu quán, thấu hiểu chân như thắng nghĩa vô ngã nơi một uẩn, thì không cần tìm cầu chân như thắng nghĩa ấy riêng biệt nơi các uẩn khác, nơi mười hai xứ cho đến nơi tám thánh đạo. Và chính cái trí thích ứng với chân như thắng nghĩa bất nhị này làm căn cứ mà thẩm cứu tiến chứng chân như thắng nghĩa phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị (48) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này mà trưởng lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị. Sau nữa, Thiện hiện, như năm uẩn thì triển chuyển khác nhau, như mười hai xứ cho đến tám thánh đạo thì cũng triển chuyển khác nhau, nếu chân như thắng nghĩa vô ngã của toàn thể các pháp ấy mà cũng khác nhau, thì chân như thắng nghĩa này đáng lẽ cũng có nhân tố, do nhân tố xuất sinh; nếu do nhân tố xuất sinh thì đáng lẽ là hữu vi, nếu là hữu vi thì đáng lẽ không phải thắng nghĩa, nếu không phải thắng nghĩa thì đáng lẽ phải tìm cầu thắng nghĩa nào khác nữa. (Nhưng), Thiện hiện, do chân như thắng nghĩa vô ngã không có nhân tố, không phải nhân tố xuất sinh, cũng không phải hữu vi, mà đích là thắng nghĩa, (nên) chứng ngộ thắng nghĩa ấy rồi thì không còn tìm cầu thắng nghĩa nào khác nữa, mà (thấy) chỉ có thường xuyên, vĩnh viễn, Như lai xuất thế hay không xuất thế, pháp tánh các pháp vẫn an lập, pháp giới các pháp vẫn an trú (49) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này mà trưởng lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị. Lược Giải.- Đoạn này có 3 đoạn nhỏ nói thắng nghĩa là phổ biến và nhất vị. Chính Văn.- Thiện hiện, tựa như trong toàn thể hình sắc khác nhau, đa dạng và đa số, hư không vẫn không hình sắc, không phân biệt, không biến đổi, mà là phổ biến và nhất vị. Tương tự như vậy, nơi toàn thể các pháp khác đặc tính và khác sắc thái, thắng nghĩa vẫn là phổ biến và nhất vị. Lược Giải.- Đoạn này nói thắng nghĩa phổ biến và nhất vị bằng ví dụ hư không. Chính Văn.- Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Chính cái thắng nghĩa phổ biến nhất vị Như lai nói là không có khác nhau. Nếu có kẻ nào phân biệt khác nhau, kẻ ấy u mê thượng mạn chi phối. Lược Giải.- Đoạn này trùng tuyên C4 trong B1 của A2. Phẩm hai của Giải thâm mật chấm hết ở đây, cho thấy cái Tâm của Phật nói siêu việt như thế nào. Từ sau đây cho đến hết Giải thâm mật, sẽ cho thấy cái Tâm siêu việt ấy là thế nào. Nói Tâm Ấy Là Cảnh Sở Quán D1. Nói Tâm Ấy Là Căn Bản Của Các Pháp (Phẩm 3) D2. Nói Các Pháp Của Tâm Ấy Biểu Hiện Đ1. Nói Tính Cách Có Của Các Pháp (Phẩm 4) Đ2. Nói Tính Cách Không Của Các Pháp (Phẩm 5) E1. Mở Đầu Nói 3 Vô Tánh E2. Giải Thích 3 Vô Tánh E3. Tiếp Nhận Lý Giải E4. Đối Chiếu Đề Cao E5. Danh Hiệu Và Lợi Ích Của Pháp Thoại Nói Tâm Ấy Là Căn Bản Của Các Pháp Chính Văn.- Phẩm ba: Tâm Thức (50) [^] Lúc bấy giờ đại bồ tát Quảng tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như Ngài nói Bồ tát khéo biết mật nghĩa (51) tâm ý thức, vậy Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức là ngang đâu mới được gọi là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức? và ngang đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức (52) ? Đại bồ tát Quảng tuệ bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Quảng tuệ, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về mật nghĩa tâm ý thức. Lược Giải.- Phẩm này tiêu đề nói về tâm ý thức, nhưng thực ra nói nhiều hơn về bản thức, cho thấy Nó là cái Tâm siêu việt (đã nói và còn nói đến hết kinh), là cái căn bản của các pháp (sẽ nói trong các phẩm 4 và 5). Chính Văn.- (Trước hết), Quảng tuệ, ông nên nhận thức rằng sự sinh tử trong sáu đường, chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào (53) , thì thân thể hoặc sinh trong loài sinh bằng trứng, hoặc sinh trong loài sinh bằng thai, hoặc sinh trong loài sinh bằng ẩm thấp, hoặc sinh trong loài sinh bằng biến hóa. Sự sinh ấy đầu tiên do chủng tử thức vốn đã thành thục nay triển chuyển hóa hợp, tuần tự lớn lên (53B) , với hai sự chấp thọ của thức ấy: một là chấp thọ các sắc căn và sở y của các sắc căn, hai là chấp thọ chủng tử của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ hý luận mà có (54) . Sinh trong thế giới có hình sắc thì có đủ hai sự chấp thọ vừa nói, còn sinh trong thế giới không hình sắc thì không đủ hai sự chấp thọ ấy (55) . Thứ nữa, Quảng tuệ, thức ấy cũng tên là a đà na, vì nó theo mà nắm giữ thân thể; cũng tên là a lại da, vì nó chấp thọ mà cùng yên cùng nguy với thân thể; cũng tên là tâm, vì nó do sắc thanh hương vị xúc pháp tích tụ tăng trưởng (56) . Sau nữa, Quảng tuệ, chính a đà na thức làm nền tảng và xây dựng mà phát sinh sáu thức nhãn nhĩ tyՠthiệt thân ý: do nhãn căn và sắc cảnh làm duyên tố mà phát sinh nhãn thức, đồng thời đồng cảnh có ý thức cùng phát sinh với nhãn thức ấy; do các căn nhĩ tyՠthiệt thân và các cảnh thanh hương vị xúc làm duyên tố mà phát sinh các thức nhĩ tyՠthiệt thân, đồng thời đồng cảnh có ý thức cùng phát sinh với các thức nhĩ tyՠthiệt thân ấy. Như vậy nếu một lúc nào đó chỉ có một thức phát sinh thì lúc đó chỉ có một ý thức cùng phát sinh với một thức ấy, nếu một lúc nào đó có hai đến năm thức phát sinh thì lúc đó cũng chỉ có một ý thức cùng phát sinh với hai đến năm thức ấy. Ví như dòng nước chảy vừa mạnh vừa lớn, nếu có duyên tố nổi một cơn sóng thì một cơn sóng nổi lên, nếu có duyên tố nổi hai đến nhiều cơn sóng thì hai đến nhiều cơn sóng nổi lên, nhưng bản thân dòng nước vẫn chảy mãi, không đứt không hết. Lại như mặt gương tốt và sáng, nếu có duyên tố hiện một hình ảnh thì chỉ một hình ảnh hiện ra, nếu có hai đến nhiều duyên tố hiện hai đến nhiều hình ảnh thì hai đến nhiều hình ảnh hiện ra, nhưng không phải mặt gương biến thành hình ảnh, cũng không có sự hết hiện hình ảnh. Tương tự như vậy, do dòng nước a đà na thức làm nền tảng và xây dựng, nên một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của một thức thì lúc đó một thức phát sinh, nếu một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của hai đến năm thức thì lúc đó có hai đến năm thức phát sinh (57) . Lược Giải.- Đoạn này có 3 đoạn nhỏ, nói bản thức là căn bản của thân thể (và thế giới của thân thể) của sự sống (và đời sống) của các thức (và đối tượng của các thức). Một cách nhìn khác, năng tính (chủng tử) và biểu hiện (hiện hành) của các pháp toàn là bản thức. Cái gọi là thế giới chỉ là sự biểu hiện tương tự (cọng biến) của các nghiệp thức tương tự (cọng nghiệp). Chính Văn.- Quảng tuệ, như trên là Bồ tát do cái trí pháp trú (58) làm nền tảng và xây dựng mà khéo biết mật nghĩa tâm ý thức. Thế nhưng Như lai không ngang đây qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức. Quảng tuệ nếu Bồ tát từ bên trong và rành rẽ, đúng như sự thật mà không thấy (59) a đà na và a đà na thức, không thấy a lại da và a lại da thức, không thấy tích tập và tích tập tâm, không thấy nhãn căn sắc cảnh và nhãn thức, cho đến không thấy ý căn pháp cảnh và ý thức, như thế mới gọi là vị Bồ tát khéo biết thắng nghĩa, và ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết thắng nghĩa; cũng ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức, và cũng ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức. Lược Giải.- Đoạn này đáp 2 câu hỏi mà, nói chung, biết tâm thức chưa phải khéo biết, biết tâm thức tự siêu việt (biết chân như thắng nghĩa của tâm thức) mới khéo biết. Để dẫn ra cái biết này, mạt na đã được ẩn lược. Chính Văn.- Muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên lúc bấy giờ đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây. Thức a đà na cùng cực vi tế, tất cả chủng tử như dòng nước mạnh (59B) . Như lai không nói cho kẻ phàm ngu, sợ họ phân biệt chấp làm bản ngã. Lược Giải.- Chỉnh cú này cho thấy càng rõ cái lý do ẩn lược mạt na, cái ý thức về ngã. Do vậy, nói a lại da là cốt phủ nhận Phạn thể (bản ngã) và thần ngã (tự ngã), nhưng không biết đúng như sự thật thì có thể a lại da cũng sẽ bị coi như bản ngã và tự ngã. Nói Tính Cách Có Của Các Pháp Chính Văn.- Phẩm bốn: Tự Tánh (60) [^] Lúc bấy giờ đại bồ tát Đức bản thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như Ngài nói Bồ tát khéo biết tánh của các pháp, vậy Bồ tát khéo biết tánh của các pháp là ngang đâu mới được gọi là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp? và ngang đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp? Đại bồ tát Đức bản bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Đức bản, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về tánh của các pháp. Lược Giải.- Phẩm này nói về 3 tánh, cho thấy Phật nói có thì cái có ấy là thế nào. Chính Văn.- Đức bản, tánh của các pháp đại lược có ba mặt: một là biến kế chấp tánh, hai là y tha khởi tánh, ba là viên thành thật tánh. Biến kế chấp tánh là thế nào, là tự tánh và sai biệt (60B) của các pháp, được giả thiết bởi danh từ, cho đến làm cho theo đó mà phát sinh ngôn ngữ. Y tha khởi tánh là thế nào, là đặc tính duyên sinh của các pháp, cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, vô minh duyên sinh hành, cho đến tập hợp cả đống đau khổ thuần nhất và lớn lao. Viên thành thật tánh là thế nào, là chân như nhất quán của các pháp, chân như mà Bồ tát phải do các duyên tố tinh tiến dũng mãnh, tác ý đúng lý và tư duy không ngược mới thông đạt, bằng vào sự thông đạt này mà tuần tự tu tập, cho đến vô thượng chánh biến giác mới chứng ngộ viên mãn. Lược Giải.- Đoạn này lược giải 3 tự tánh. Chính Văn.- Đức bản, như người bị bịnh màng mắt, cái màng mắt ấy biến kế chấp tánh cũng vậy. Như người bị bịnh màng mắt thấy những ảo ảnh tóc lông ong ruồi lá diếp giây sắn hay xanh vàng đỏ trắng, những ảo tượng ấy y tha khởi tánh cũng vậy. Như người mắt đã trong sáng, hết hẳn màng mắt, bản tính con mắt trong sáng nhìn thấy cảnh vật không thác loạn, cảnh vật không thác loạn ấy viên thành thật tánh cũng vậy. Lại tựa như ngọc bạch châu trong suốt, nếu nhuộm màu xanh (61) thì thấy như ngọc đế thanh, do ngộ nhận là ngọc đế thanh mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu đỏ thì thấy như ngọc hổ phách, do ngộ nhận là ngọc hổ phách mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu lục thì thấy như ngọc sát sắc, do ngộ nhận là ngọc sát sắc mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu vàng thì thấy như hoàng kim, do ngộ nhận là hoàng kim mà làm cho người lầm lẫn thác loạn. Tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt mà có màu sắc, nơi y tha khởi tánh mà có tập khí ngôn từ của biến kế chấp tánh thì cũng như vậy; tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt mà có những ngộ nhận đế thanh hổ phách sát sắc hoàng kim, nơi y tha khởi tánh mà có biến kế chấp tánh thì cũng như vậy; tương tự ngọc bạch châu trong suốt, y tha khởi tánh thì cũng như vậy; tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt, đế thanh hổ phách sát sắc hoàng kim luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính, nơi y tha khởi tánh, cái viên thành thật tánh mà biến kế chấp tánh luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính thì cũng như vậy (61B) . Lược Giải.- Đoạn này nói về 3 tánh bằng 2 ví dụ. Tổng quan nghĩa lý ở kinh này cũng như ở các kinh luận khác, có thể nói 3 tánh như sau. A lại da mặt ẩn là chủng tử của các pháp, mặt hiện là hiện hành của các pháp, các pháp ấy là y tha khởi tánh. Ngộ nhận các pháp như vậy là ngã pháp, ngã pháp ấy là biến kế chấp tánh. Giác ngộ a lại da như vậy vẫn chân như, chân như ấy là viên thành thật tánh. Như ngọc trong hiện ra đủ màu là y tha, lầm màu ấy là thật là biến kế, biết ngọc vẫn trong là viên thành (nói cách khác theo chính văn, biết màu ấy không thật là viên thành). Chính Văn.- Đức bản, biết do tướng và danh tương ứng làm duyên tố thì biết được biến kế chấp tánh; nơi y tha khởi tánh, biết cái chấp của biến kế chấp tánh làm duyên tố thì biết y tha khởi tánh; nơi y tha khởi tánh, biết không có cái chấp của biến kế chấp tánh làm duyên tố thì biết viên thành thật tánh. Lại nữa, nếu Bồ tát có thể nơi y tha khởi tánh của các pháp mà đúng như sự thật biết biến kế chấp tánh, thì thế là đúng như sự thật biết sự vô tướng của các pháp; nếu Bồ tát đúng như sự thật biết y tha khởi tánh, thì thế là đúng như sự thật biết sự tạp nhiễm của các pháp; nếu Bồ tát đúng như sự thật biết viên thành thật tánh, thì thế là đúng như sự thật biết sự thanh tịnh của các pháp. Bồ tát nếu nơi y tha khởi tánh mà đúng như sự thật nhận biết sự vô tướng thì có thể hủy diệt sự tạp nhiễm, nếu có thể hủy diệt sự tạp nhiễm thì có thể chứng đắc sự thanh tịnh. Lược Giải.- Đoạn này nói sự tu quán về 3 tự tánh. Chính Văn.- Đức bản, Bồ tát do đúng như sự thật mà biết biến kế chấp tánh, y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, nên cũng đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng, sự tạp nhiễm và sự thanh tịnh. Đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng nên hủy diệt sự tạp nhiễm, hủy diệt sự tạp nhiễm nên chứng đắc sự thanh tịnh: ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tánh của các pháp, và cũng ngang đây Như lai qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh của các pháp. Lược Giải.- Đoạn này kết thúc bằng cách đáp 2 câu hỏi. Chính Văn.- Lúc bấy giờ đức Thế tôn muốn nói lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Nếu không biết rõ về sự vô tướng thì sự tạp nhiễm không thể hủy diệt, nếu sự tạp nhiễm không thể hủy diệt thì sự thanh tịnh không thể chứng đắc (62) . Không hề quán sát lỗi lầm các hành, sự phóng dật này làm hại chúng sinh. Nên trong hai mặt trú pháp động pháp (62B) sự nhác làm cho đã không lại có (63) : mất hỏng đến thế thật đáng xót thương. Lược Giải.- Kết thúc Đ1 nói tính cách có của các pháp. Mở Đầu Nói 3 Vô Tánh Chính Văn.- Phẩm năm: Vô tánh (64) [^] Lúc ấy đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, con từng một mình ở chỗ thanh vắng, tâm trí tầm tư như vầy, bằng nhiều mặt, đức Thế tôn đã nói đặc tính, phát sinh, tận diệt, vĩnh đoạn và biến tri của năm uẩn; như Ngài đã nói năm uẩn, thì Ngài đã nói mười hai xứ, mười hai duyên khởi và bốn thực cũng như vậy; bằng nhiều mặt, Ngài đã nói đặc tính, biến tri, vĩnh đoạn, tác chứng và tu tập của bốn đế; bằng nhiều mặt, Ngài đã nói đặc tính, chủng loại, đa dạng, vĩnh đoạn và biến tri của mười tám giới; bằng nhiều mặt, Ngài đã nói đặc tính, năng trị, sở trị, tu tập chưa sinh thì phát sinh, đã sinh thì kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rộng ra của bốn niệm trú; như Ngài đã nói bốn niệm trú, thì Ngài đã nói bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo cũng như vậy. Nhưng đức Thế tôn lại nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Bạch đức Thế tôn, con chưa hiểu rõ do mật ý nào mà Ngài nói như vậy? Con xin thỉnh vấn Ngài về nghĩa ấy; xin Ngài thương mà giải thích cho chúng con về mật ý mà Ngài nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Bấy giờ đức Thế tôn bảo đại bồ tát Thắng nghĩa sinh: Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, sự tầm tư của ông rất là đúng lý. Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như lai sẽ giải thích cho ông về mật ý mà Như lai đã nói rằng các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Lược Giải.- Đổi từ ngữ mà nói thì chính 3 tự tánh được nói là 3 vô tánh, cho thấy Phật nói không thì cái không ấy là thế nào. Giải Thích 3 Vô Tánh Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, hãy nhận thức rằng Như lai căn cứ ba vô tánh sau đây mà mật ý nói các pháp toàn không, ấy là tướng vô tánh, sinh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh. Tướng vô tánh là thế nào, là chính biến kế chấp tánh của các pháp, tại sao, vì tánh ấy do giả danh thiết lập chứ không phải do tự tướng thiết lập, nên gọi là tướng vô tánh. Sinh vô tánh là thế nào, là chính y tha khởi tánh của các pháp, tại sao, vì do cái khác là duyên tố mà có chứ không phải tự nhiên mà có, nên gọi là sinh vô tánh. Thắng nghĩa vô tánh là thế nào, là (một mặt), các pháp do sinh vô tánh mà nói là vô tánh, có nghĩa chính các pháp duyên sinh cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, vì nơi các pháp, nếu là thanh tịnh sở duyên thì Như lai nói là thắng nghĩa vô tánh, mà y tha khởi tánh không phải thanh tịnh sở duyên nên cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh. Thêm nữa, (mặt khác), viên thành thật tánh của các pháp cũng gọi là thắng nghĩa vô tánh, tại sao, tại pháp vô ngã của tất cả các pháp thì gọi là thắng nghĩa, thắng nghĩa này cũng gọi là vô tánh, vì nó mới là thắng nghĩa của các pháp và do vô tánh hiển lộ, nên (viên thành thật tánh) gọi là thắng nghĩa vô tánh (65) . Tương tự không hoa, tướng vô tánh cũng vậy. Tương tự ảo tượng (của ảo thuật), sinh vô tánh cũng vậy, thắng nghĩa vô tánh mặt thứ nhất cũng vậy. Tương tự hư không do sắc tướng vô tánh hiển lộ và phổ biến tất cả (66) , thắng nghĩa vô tánh mặt thứ hai cũng vậy, vì do pháp vô ngã hiển lộ và phổ biến tất cả. Như lai căn cứ ba vô tánh như vậy mà mật ý nói rằng các pháp toàn không. Lược Giải.- Trọn đoạn E2 giải thích 3 vô tánh có đến 7 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, giải thích 3 vô tánh. Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, ông nên biết Như lai căn cứ tướng vô tánh mà mật ý nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặc, tự tánh niết bàn, vì sao, vì nếu tự tướng các pháp toàn không thì không sinh, không sinh thì không diệt, không sinh diệt thì bản lai vắng bặt, bản lai vắng bặt thì tự tánh niết bàn, trong đó không có chút gì gọi là có để còn phải làm cho nhập vào niết bàn, nên Như lai căn cứ tướng vô tánh mà mật ý nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Thế nhưng Như lai cũng căn cứ thắng nghĩa vô tánh được hiển lộ bởi pháp vô ngã mà mật ý nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, vì sao, vì thắng nghĩa vô tánh do pháp vô ngã hiển lộ thì, luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú, vô vi, không thích ứng với tất cả tạp nhiễm: luôn luôn và vĩnh viễn, pháp tánh các pháp là an trú nên vô vi, là vô vi nên không sinh diệt, là không thích ứng với tất cả tạp nhiễm nên bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, thế nên Như lai căn cứ thắng nghĩa vô tánh do pháp vô ngã hiển lộ mà mật ý nói các pháp không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, căn cứ 3 vô tánh mà giải thích câu nói các pháp toàn không, không sinh diệt, bản lai niết bàn. Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, nhưng không phải vì trong chúng sinh giới có những kẻ nhìn riêng biến kế chấp cho là tự tánh, cũng không phải vì những kẻ ấy nhìn riêng y tha khởi hay viên thành thật cho là tự tánh cả, mà Như lai thiết lập ba vô tánh. Như lai thiết lập ba vô tánh là vì những kẻ nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh. Những kẻ ấy, do biến kế chấp tánh (quá khứ) nên (hiện tại) nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà nổi lên ngôn ngữ; như ngôn ngữ nổi lên thế nào thì cũng như thế ấy (67) mà ngôn ngữ huân tập vào tâm, ngôn ngữ phát sinh ra biết, ngôn ngữ liên tục trong tâm (67B) , nên nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh (68) . Vì, như biến kế chấp tánh thế nào thì cũng như thế ấy (68B) , nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà tăng thêm biến kế chấp tánh, nên phát sinh y tha khởi tánh trong tương lai, nghĩa là bị hoặc tạp nhiễm, bị nghiệp tạp nhiễm, bị sinh tạp nhiễm, nên trong phạm vi sinh tử, (những kẻ ấy) mãi hoài dong ruổi, trôi lăn, không hề ngừng nghỉ, chịu mọi khổ não trong nại lạc ca (69) , trong bàng sinh, trong ngạ quỉ, trong chư thiên, trong tu la, trong nhân loại. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ ba, nói tại sao lập ra 3 vô tánh (hay nói vì người nào mà lập ra 3 vô tánh). Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, với những người từ hồi nào đến giờ chưa gieo trồng thiện căn, chưa làm sạch chướng ngại (70) , chưa thành thục liên tục (71) , chưa tu nhiều thắng giải, chưa thể dồn chứa hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, thì Như lai vì họ, căn cứ sinh vô tánh mà tuyên thuyết pháp yếu; nghe pháp yếu này rồi, họ có thể tùy sức mà lý giải các hành duyên sinh là không thường hằng, không yên ổn, biến động, hư rã; lý giải như vậy rồi, đối với các hành, họ e sợ, chán ghét sâu xa; e sợ chán ghét như vậy nên họ kềm chế điều ác, với điều ác thì có khả năng đình chỉ, với điều thiện thì có khả năng tu tập; tu tập điều thiện nên chưa gieo trồng thiện căn thì có thể gieo trồng, chưa làm sạch chướng ngại thì có thể làm sạch, chưa thành thục liên tục thì có thể thành thục, và do vậy mà tu nhiều thắng giải, dồn nhiều hai thứ tư lương phước đức trí tuệ. Tuy gieo trồng thiện căn cho đến dồn nhiều hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, nhưng đối với sinh vô tánh, họ vẫn chưa như thật thấu triệt tướng vô tánh và hai thắng nghĩa vô tánh, nghĩa là đối với các hành, họ vẫn chưa chán ghét chính xác, chưa ly dục chính xác, chưa giải thoát chính xác, chưa giải thoát toàn thể hoặc tạp nhiễm, chưa giải thoát toàn thể nghiệp tạp nhiễm, chưa giải thoát toàn thể sinh tạp nhiễm, nên Như lai nói thêm pháp yếu cho họ về tướng vô tánh và thắng nghĩa vô tánh, vì muốn làm cho họ đối với các hành có thể chán ghét chính xác, ly dục chính xác, giải thoát chính xác, vượt qua toàn thể hoặc tạp nhiễm, vượt qua toàn thể nghiệp tạp nhiễm, vượt qua toàn thể sinh tạp nhiễm; được nghe pháp yếu Như lai nói thêm cho như vậy, nên, đối với sinh vô tánh, họ có thể tin hiểu chính xác về tướng vô tánh và thắng nghĩa vô tánh, lựa lọc suy xét, thấu suốt chính xác, nghĩa là nơi y tha khởi tánh họ không còn chấp biến kế chấp tánh, cái trí không còn huân tập theo ngôn ngữ, không còn nhận thức theo ngôn ngữ, không còn liên tục theo ngôn ngữ, nên họ có thể hủy diệt y tha khởi tánh, ngay trong hiện tại họ được nắm giữ bởi sức mạnh của cái trí như trên nên vĩnh viễn diệt được cái nhân đời sau, tức là đối với các hành họ chán ghét chính xác, ly dục chính xác, giải thoát chính xác, giải thoát toàn thể hoặc, nghiệp, sinh, ba loại tạp nhiễm. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ tư, nói về tu chứng 3 vô tánh. Tựu trung có 2 giai đoạn tu chứng được nói đến là Tư lương vị và Da hành vị. Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, những người có chủng tánh đi theo Thanh văn thừa cũng do con đường và dấu đi này mà được niết bàn yên ổn tối thượng, những người có chủng tánh đi theo Độc giác thừa, những người có chủng tánh đi theo Như lai thừa, cũng do con đường và dấu đi này mà được niết bàn yên ổn tối thượng; tất cả các vị Thanh văn Độc giác Bồ tát cùng đi con đường sạch sẽ tinh tế và duy nhất này, cùng được sự thanh tịnh toàn hảo và duy nhất này, chứ không có con đường và sự thanh tịnh thứ hai, nên Như lai căn cứ sự thể ấy mà mật ý nói chỉ có Nhất thừa. Chứ không phải trong chúng sinh giới không có những chủng tánh khác nhau, hoặc độn căn, hoặc trung căn, hoặc lợi căn. Do vậy, nếu người có chủng tánh Thanh văn một chiều đi đến niết bàn, thì dầu được ơn Phật thiết lập đủ cách cải hoán hướng dẫn cho họ tu hành dũng mãnh đi nữa, cũng không bao giờ có thể làm cho họ sẽ ngồi nơi bồ đề tràng mà được vô thượng giác, tại sao, vì họ vốn chỉ có chủng tánh thấp kém, một chiều từ bi bạc nhược, một chiều khiếp sợ khổ sở; vì một chiều từ bi bạc nhược nên họ một chiều trái bỏ những công hạnh ích lợi chúng sinh, vì một chiều khiếp sợ khổ sở nên họ một chiều trái bỏ những thệ nguyện phát khởi công hạnh, và Như lai không bao giờ nói những người một chiều trái bỏ công hạnh ích lợi chúng sinh và một chiều trái bỏ thệ nguyện phát khởi công hạnh sẽ được ngồi nơi bồ đề tràng và thành tựu vô thượng giác, nên Như lai gọi những người này là Thanh văn một chiều đi đến niết bàn. Nếu người có chủng tánh Thanh văn xoay lại hướng về bồ đề, thì Như lai cũng dùng cách nói khác mà nói họ là Bồ tát, tại sao, vì họ giải thoát phiền não chướng rồi, khi được ơn Phật thức tỉnh cho, thì đối với sở tri chướng họ cũng sẽ được giải thoát; chỉ bởi nguyên thỉ họ vì tự lợi mà tu hành những cách giải thoát phiền não chướng, nên Như lai nói họ là chủng tánh Thanh văn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ năm, nói khuynh hướng khác nhau của những người tu chứng 3 vô tánh. Chính khuynh hướng này hình thành Thanh văn Bồ tát, tiểu thừa đại thừa, La hán Phật đà, dầu 3 vô tánh chính là nhất thừa. Chính Văn.- Thắng nghĩa sinh, như thế đó, trong chánh pháp mà Như lai khéo tuyên thuyết, khéo qui định, và được nói ra bởi ý muốn cực kỳ trong sạch, vẫn có những nhận thức khác nhau của nhiều hạng người. Như lai vốn căn cứ ba vô tánh như trên, nhưng do mật ý sâu xa, nên trong những kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo mà Như lai đã nói, Như lai nói pháp yếu theo cách nói kín đáo, rằng các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn. (Một), đối với kinh pháp như vậy (72) , người đã gieo trồng thiện căn thượng phẩm, đã làm sạch chướng ngại, đã thành thục liên tục, đã tu nhiều thắng giải, đã dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, thì nghe kinh pháp như vậy rồi, người ấy thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ý sâu xa của Như lai: người ấy tin hiểu sâu xa kinh pháp như vậy, đối với nghĩa lý của kinh pháp như vậy người ấy dùng cái trí tuệ không đảo ngược mà thông suốt đúng như sự thật, rồi dựa vào sự thông suốt này mà khéo léo tu tập, nên mau chóng đạt đến sự cứu cánh cùng cực ; và đối với Như lai, người ấy phát sinh một cách sâu xa đức tin trong sáng, nhận thức Như lai là bậc ứng cúng, chánh biến giác, đã chánh biến giác tất cả các pháp. (Hai), người đã gieo trồng thiện căn thượng phẩm, đã làm sạch chướng ngại, đã thành thục liên tục, đã tu nhiều thắng giải, nhưng chưa dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, mà tính họ chất trực, họ thuộc loại chất trực, dầu bất lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, họ vẫn không đứng yên trong sự cố thủ ý kiến của mình; do đó, họ nghe kinh pháp như vậy rồi, dầu bất lực trong sự thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ý sâu xa của Như lai, nhưng đối với kinh pháp như vậy họ vẫn có thắng giải, vẫn sinh đức tin trong sáng: tin rằng kinh pháp như vậy là do Như lai nói, là rất sâu xa, biểu lộ sự sâu xa, thích hợp đạo lý Không, khó thấy khó hiểu, không thể tầm tư, không phải lĩnh vực tầm tư biết thấu, mà là nhỏ nhiệm, xác thực, những người tuệ giác sáng suốt biết thấu; đối với nghĩa lý được nói trong kinh pháp như vậy thì họ khiêm tốn mà tự nói rằng tuệ giác đức Thế tôn cực kỳ sâu xa, pháp tánh các pháp cũng cực kỳ sâu xa, chỉ đức Thế tôn mới thấu triệt một cách khéo léo chứ không phải là cái mình hiểu nổi; đức Thế tôn thuyết pháp cho những người thắng giải khác nhau, thấy và biết của đức Thế tôn không có giới hạn, thấy và biết của mình chỉ bằng lỗ chân trâu bò; đối với kinh pháp như vậy họ tôn kính như thế, và đem nói cho người, sao chép, bảo tồn, mở đọc, truyền bá, thiết tha, hiến cúng, học hỏi, tụng thuộc, ôn tập, nhưng chưa thể đem cái tu của mình mà làm theo; do vậy, họ chưa thể thông suốt lời chữ của Như lai mật ý sâu xa nói ra, nhưng cũng do vậy mà họ vẫn tăng trưởng được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, và đời sau thì thành thục được cái chưa thành thục. (Ba), người chưa gieo trồng thiện căn thượng phẩm, cho đến chưa dồn chứa được hai thứ tư lương phước đức trí tuệ thượng phẩm, tính không chất trực, không thuộc loại chất trực, dầu có sức lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, nhưng vẫn đứng yên trong sự cố thủ ý kiến của mình, thì họ nghe kinh pháp như vậy không thể thấu hiểu đúng như sự thật lời nói mật ý sâu xa của Như lai, dầu tin hiểu kinh pháp như vậy nhưng đối với nghĩa lý kinh pháp như vậy thì chấp trước theo ngôn ngữ, cho các pháp quyết định toàn không, quyết định không sinh không diệt, quyết định bản lai vắng bặt, quyết định tự tánh niết bàn; do vậy, đối với các pháp, họ thấy không, thấy không tánh (72B) , vì thấy không và thấy không tánh nên phủ nhận rằng các tánh đều không tánh, nghĩa là họ bài bác tất cả biến kế chấp tánh, y tha khởi tánh và viên thành thật tánh của các pháp -- tại sao biết họ bài bác tất cả, vì có y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mới thiết lập biến kế chấp tánh, nếu y tha khởi tánh và viên thành thật tánh mà thấy là không tánh cả thì thế là bài bác cả biến kế chấp tánh, thế nên Như lai nói họ bài bác tất cả ba tánh -- và như thế thì dẫu đối với kinh pháp của Như lai họ thấy là kinh pháp, nhưng đối với phi nghĩa lý họ thấy là nghĩa lý, vì kinh pháp thấy là kinh pháp nhưng phi nghĩa lý thấy là nghĩa lý, nên họ nắm lấy kinh pháp làm kinh pháp và nắm lấy phi nghĩa lý làm nghĩa lý: họ tin hiểu kinh pháp nên phước đức tăng trưởng, nhưng chấp trước phi nghĩa lý nên trí tuệ lui mất, trí tuệ lui mất nên lui mất vô số thiện pháp quảng đại. Người nào nghe họ nói một cách cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lý là nghĩa lý, rồi chấp thuận kiến thức của họ thì cũng cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lý là nghĩa lý, vì cho kinh pháp là kinh pháp nhưng cho phi nghĩa lý là nghĩa lý nên, cũng như họ, người này lui mất thiện pháp. Còn người nào không chấp thuận kiến thức của họ, nhưng đột nhiên nghe họ nói các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn, thì sinh ra sợ hãi, sợ hãi như thế nên nói kinh pháp như vậy không phải Phật nói mà là ma nói; do nhận định này mà phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy, do phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy mà bị đại suy tổn, chạm đại nghiệp chướng, vì thế, Như lai nói ai cho các tánh toàn là không tánh, nghĩa là lấy phi nghĩa lý làm nghĩa lý, thì đó là phương cách tiện lợi nổi đại nghiệp chướng, vì họ làm cho vô số chúng sinh phải bị sa đọa mà tạo đại nghiệp chướng. (Bốn), người chưa gieo trồng thiện căn, chưa làm sạch nghiệp chướng, chưa thành thục liên tục, không tu nhiều thắng giải, chưa dồn chứa hai thứ tư lương phước đức trí tuệ, tính không chất trực, không phải loại chất trực, dẫu có sức lực trong việc suy nghĩ chọn lựa những sự phế bỏ và thiết lập, nhưng thường đứng yên trong sự cố thủ kiến thức của mình, thì nghe kinh pháp như vậy họ không thể thấu hiểu đúng như sự thật về lời nói mật ý sâu xa của Như lai, cũng không tin hiểu kinh pháp như vậy, nên kinh pháp cho là phi kinh pháp, nghĩa lý cho là phi nghĩa lý; kinh pháp cho là phi kinh pháp và nghĩa lý cho là phi nghĩa lý, nên nói rằng kinh pháp như vậy không phải Phật nói mà là ma nói, và nhận định này làm cho họ phỉ báng thóa mạ kinh pháp như vậy là hư ngụy, bằng lắm cách, họ hủy diệt xô đổ kinh pháp như vậy, những ai tin hiểu kinh pháp như vậy thì bị họ coi là kẻ thù; họ, trước kia bị nghiệp chướng làm cho chướng ngại, nay do lý do trên mà bị nghiệp chướng tiếp tục chướng ngại, và nghiệp chướng này mở đầu (có vẻ) giản dị, nhưng rồi (chịu khổ) trong thời kỳ bằng trăm ngàn câu chi na dữu đa (72C) , khó có lúc thoát khỏi. Thắng nghĩa sinh, như thế đó, trong chánh pháp mà Như lai khéo tuyên thuyết, khéo qui định, và được nói ra bởi ý muốn cực kỳ trong sạch, vẫn có những nhận thức khác nhau của nhiều hạng người như vậy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ sáu, nói những sự nhận thức đúng và sai về 3 vô tánh. Chính Văn.- Bấy giờ đức Thế tôn muốn nói lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. "Tất cả các pháp toàn là không cả, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh các pháp vốn thường niết bàn", lời có trí này sao không mật ý (73) ? Tướng vô tự tánh, sinh vô tự tánh, nghĩa vô tự tánh, ba thứ như vậy Như lai căn cứ mà nói lời trên (73B) ; nếu không biết được mật ý Như lai, thì mất đường chính, không đi đến đâu. Các vị trong sạch toàn do đường ấy; đường ấy duy nhất, không đường thứ hai, do sự thể này lập ra nhất thừa, không phải chúng sinh chủng tánh đồng nhất. Nên trong chúng sinh có vô số người chỉ đưa bản thân đi đến niết bàn, và thật hiếm có những ai đại bi tinh tiến dũng mãnh chứng đại niết bàn không hề bỏ rơi hết thảy chúng sinh. Trong vô lậu giới nhiệm mầu nan tư, thì sự giải thoát thật là đồng đẳng, hoàn thành chân thật, thoát ly khổ não, nên còn được gọi hai cách gọi khác, hoặc gọi là thường, hoặc gọi là lạc. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ bảy, kết thúc sự giải thích về 3 vô tánh. Tiếp Nhận Lý Giải Chính Văn.- Lúc ấy đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ngôn ngữ mật ý của đức Thế tôn thật rất kỳ lạ, rất hiếm có, cho đến tinh tế và rất tinh tế, sâu xa và rất sâu xa, khó thấu triệt và rất khó thấu triệt. Nay, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào (74) mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của sắc uẩn, giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của sắc uẩn phát sinh, của sắc uẩn diệt tận, của vĩnh đoạn sắc uẩn, của biến tri sắc uẩn, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; còn chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào thì gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngã hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Như đối với sắc uẩn (được nói như vậy) thì đối với các uẩn khác cũng nên nói rõ như vậy; như đối với năm uẩn (được nói như vậy) thì đối với mười hai xứ mỗi xứ cũng nên nói rõ như vậy, đối với mười hai hữu chi mỗi hữu chi cũng nên nói rõ như vậy, đối với bốn thực mỗi thực cũng nên nói rõ như vậy, đối với (ba lần) sáu giới tức mười tám giới mỗi giới cũng nên nói rõ như vậy. Nay, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của khổ đế và của biến tri khổ đế, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; còn chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào thì gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngã hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Như đối với khổ đế (được nói như vậy) thì đối với các đế khác cũng nên nói rõ như vậy; như đối với bốn đế (được nói như vậy) thì đối với bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám đạo chi, mỗi thứ cũng nên nói rõ như vậy. Nay, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà giả danh thiết lập làm tự tánh và sai biệt của chánh định, của các sự của chánh định là năng trị, sở trị, chính tu chưa sinh thì phát sinh, đã sinh thì kiên cố, bội tu thì cao lên và rộng ra, (sự giả danh thiết lập ấy) gọi là biến kế chấp tánh, và đức Thế tôn căn cứ biến kế chấp tánh như vậy mà thiết lập tướng vô tánh; còn chính các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào thì gọi là y tha khởi tánh, và đức Thế tôn căn cứ y tha khởi tánh như vậy mà thiết lập sinh vô tánh và một phần của thắng nghĩa vô tánh; và cứ như thế, theo ý nghĩa của đức Thế tôn nói mà con tiếp nhận lý giải, thì chính nơi các hành của phân biệt biết đến và biến kế dựa vào mà (thấy) biến kế chấp tánh không thật có: cái tánh không thật có biến kế chấp tánh này, tức chân như do pháp vô ngã hiển lộ và là thanh tịnh sở duyên này, gọi là viên thành thật tánh, và đức Thế tôn căn cứ viên thành thật tánh như vậy mà thiết lập một phần nữa của thắng nghĩa vô tánh. Lược Giải.- Sự tiếp nhận lý giải của đại bồ tát Thắng nghĩa sinh có 3 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói sự tiếp nhận lý giải về 3 tự tánh và 3 vô tánh. Chính Văn.- Bạch đức Thế tôn, như thuốc tỳ thấp phược (75) thì nên để khắp trong các phương thuốc tán và thuốc tiên; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lý đã hoàn hảo này nên để vào khắp trong các kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo. Như bột vẽ màu (76) thì có khắp trong tất cả nét vẽ, làm cho những nét vẽ ấy đều cùng một màu hoặc xanh hoặc vàng hoặc đỏ hoặc trắng, lại làm cho rõ ra những nét vẽ ấy ; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bànở, pháp thoại mà nghĩa lý đã hoàn hảo này có khắp trong tất cả các kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo, làm cho các kinh ấy cùng một ý vị, lại làm cho rõ ra nghĩa lý chưa hoàn hảo trong các kinh ấy (77) . Như những thực phẩm bánh trái đã chín và quí mà bỏ sữa chín vào thì càng thêm mùi vị đặc biệt; tương tự như vậy, "do ba vô tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lý đã hoàn hảo này đặt vào các kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo thì càng làm sinh ra nỗi thích thú siêu việt. Như hư không thì khắp nơi đều cùng mọẤt đặc tính, ấy là không trở ngại mọi sự việc; tương tự như vậy, "do ba tự tánh nên các pháp toàn không cho đến tự tánh niết bàn", pháp thoại mà nghĩa lý đã hoàn hảo này thì khắp trong các kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo đều cùng một đặc tính, ấy là không trở ngại việc tu của Thanh văn Độc giác và Đại thừa. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, nói tiếp nhận và lý giải về giá trị của 3 vô tánh. Chính Văn.- Đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa như vậy rồi, đức Thế tôn bảo ngài: Tốt lắm, Thắng nghĩa sinh, ông khéo lý giải về ý nghĩa của lời nói mật ý rất sâu xa mà Như lai đã nói. Ông lại khéo ví dụ về ý nghĩa ấy, ví như thuốc tỳ thấp phược, như bột vẽ màu, như sữa chín, như hư không. Thắng nghĩa sinh, đúng như vậy, đúng như ông nói chứ không có gì khác hơn nữa. Ông hãy tiếp nhận và lý giải đúng như vậy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ ba, đức Thế tôn chuẩn nhận. Đối Chiếu Đề Cao Chính Văn.- Bấy giờ đại bồ tát Thắng nghĩa sinh lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, xưa kia, trong thời kỳ đầu tiên, khi ở trong rừng Ban cho loài nai, chỗ tiên nhân Ba la niệt tư sa xuống (78) , đức Thế tôn chỉ vì những vị xu hướng Thanh văn thừa, căn cứ đạo lý tứ đế mà chuyển pháp luân, tuy rất lạ, rất hiếm, bao nhiêu người trời trong thế giới không ai chuyển được đúng cách, nhưng pháp luân được chuyển trong thời kỳ này vẫn có cái trên nữa, vẫn chịu đựng đả phá, là nghĩa lý chưa hoàn hảo, là nơi đặt chân của sự tranh luận. Kế đó, trong thời kỳ thứ hai, đức Thế tôn chỉ vì những vị xu hướng Đại thừa, căn cứ đạo lý "các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", dùng sự ẩn mật mà chuyển pháp luân, tuy càng rất lạ, càng rất hiếm, nhưng pháp luân được chuyển trong thời kỳ này vẫn còn có cái trên nữa, vẫn còn chịu đựng đả phá, vẫn là nghĩa lý chưa hoàn hảo, vẫn là nơi đặt chân của sự tranh luận. Còn nay, trong thời kỳ thứ ba, đức Thế tôn khắp vì các vị xu hướng Nhất thế thừa (79) , căn cứ đạo lý "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn", dùng sự minh bạch mà chuyển pháp luân, càng rất lạ nhất, càng rất hiếm nhất, và pháp luân được chuyển hiện nay không còn có cái gì trên nữa, không còn chịu đựng sự đả phá nào nữa, nghĩa lý đích thực hoàn hảo, không còn là nơi đặt chân của sự tranh luận. Bạch đức Thế tôn, đối với pháp thoại rất sâu xa và rất hoàn hảo của đức Thế tôn căn cứ đạo lý "do ba vô tánh nên các pháp toàn không, không sinh không diệt, bản lai vắng bặt, tự tánh niết bàn" mà nói ra đây, nếu thiện nam hay thiện nữ nào nghe rồi tin hiểu, sao chép, bảo tồn, hiến cúng, truyền bá, học hỏi, tụng thuộc, tu tập, tư duy đúng lý, và đem sự tu của mình mà nỗ lực tu tập, thì phát sinh được bao nhiêu phước đức? Lược Giải.- Sự đối chiếu đề cao có 2 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, đại bồ tát Thắng nghĩa sinh đề cao 3 vô tánh bằng cách hệ thống hóa toàn bộ Phật pháp thành 3 thời kỳ (mà thường gọi là hữu, không và trung), lại hỏi cái phước tín giải và tu học 3 vô tánh. Chính Văn.- Đại bồ tát Thắng nghĩa sinh thưa như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thắng nghĩa sinh, thiện nam hay thiện nữ như vậy được phước vô số vô lượng, khó thể đối chiếu và nhận thức. Như lai nay chỉ nói cho ông một phần nhỏ. Đất nơi móng tay mà so sánh với đất cả đại địa thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần trăm ngàn, không bằng một phần sổ, toán, kế, dụ, ô ba ni sát đàm (80) . Nước trong lỗ chân trâu bò mà so sánh với nước cả bốn đại dương thì không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần ô ba ni sát đàm. Tương tự như vậy, đối với các kinh nghĩa lý chưa hoàn hảo mà nghe rồi tin hiểu, cho đến đem sự tu của mình mà nỗ lực tu tập, cái phước như vậy đem so sánh với cái phước nghe rồi tin hiểu, cho đến đem cái tu của mình mà nỗ lực tu tập đối với pháp thoại nghĩa lý đã hoàn hảo này, thì không bằng một phần trăm, cho đến không bằng một phần ô ba ni sát đàm. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, đức Thế tôn đề cao cái phước tín ngưỡng và tu học 3 vô tánh. Danh Hiệu Và Lợi Ích Của Pháp Thoại Chính Văn.- Khi đức Thế tôn dạy như vậy rồi, đại bồ tát Thắng nghĩa sinh lại thưa Ngài: bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là gì? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy: Thắng nghĩa sinh, pháp thoại này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về thắng nghĩa. Ông hãy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về thắng nghĩa này thì trong đại hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề; ba trăm ngàn Thanh văn lánh xa bụi bặm, tách rời dơ bẩn, đối với các pháp thì được mắt pháp trong sáng; một trăm năm mươi ngàn Thanh văn hết hẳn mọi sự sơ hở (81) , tâm được giải thoát; bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn. Nói Tâm Ấy Là Hạnh Năng Quán D1. Nói Chỉ Quán (Phẩm 6) Đ1. Nói Y Trú Của Chỉ Quán Đ2. Nói Sở Duyên Của Chỉ Quán Đ3. Nói Sự Cầu Và Sự Khéo Về Chỉ Quán Đ4. Nói Tác Ý Tùy Thuận Của Chỉ Quán Đ5. Nói Đồng Dị Của Chỉ Quán Đ6. Nói Duy Thức Của Chỉ Quán Đ7. Nói Đơn Tu Và Song Tu Của Chỉ Quán Đ8. Nói Chủng Số Của Chỉ Quán Đ9. Nói Y Và Bất Y Pháp Của Chỉ Quán Đ10. Nói Có Và Không Tầm Tư Của Chỉ Quán Đ11. Nói Chỉ, Cử Và Xả Của Chỉ Quán Đ12. Nói Sự Biết Pháp Và Biết Nghĩa Của Chỉ Quán Đ13. Nói Sự Bao Quát Các Định Của Chỉ Quán Đ14. Nói Nhân Quả Tác Dụng Của Chỉ Quán Đ15. Nói Chướng Ngại của Chỉ Quán Đ16. Nói Sự Chứng Đắc Bồ Đề Của Chỉ Quán Đ17. Nói Sự Dẫn Ra Uy Đức Quảng Đại Của Chỉ Quán Đ18. Nói Sự Nhập Vô Dư Y Diệt Các Thọ Của Chỉ Quán Đ19. Kết Thúc Pháp Thoại Chỉ Quán D2. Nói Địa Độ (Phẩm 7) Đ1. Nói Về Các Địa Đ2. Nói Về Các Độ Đ3. Nói Về Chướng Ngại Đ4. Nói Về Nhất Thừa Đ5. Kết Thúc Pháp Thoại Nói Y Trú Của Chỉ Quán Chính Văn.- Phẩm sáu: Du Dà (82) [^] Vào lúc bấy giờ đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong Đại thừa, các vị Bồ tát y cứ vào chỗ nào và trú ở vào chỗ nào mà tu tập chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, hãy nhận thức rằng, trong Đại thừa, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán thì lấy giáo pháp của Như lai thiết lập mà làm chỗ y cứ, lấy sự không bỏ mất tâm nguyện vô thượng bồ đề mà làm chỗ trú ở. Nói Sở Duyên Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói có bốn đối cảnh sở duyên, một là có phân biệt, hai là không phân biệt, ba là biên tế các pháp, bốn là sở tác thành tựu (83) ; bốn đối cảnh này mấy là sở duyên của chỉ, mấy là sở duyên của quán, mấy là sở duyên của cả chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, một là sở duyên của chỉ, đó là đối cảnh không phân biệt; một là sở duyên của quán, đó là đối cảnh có phân biệt; hai là sở duyên của cả chỉ quán, đó là đối cảnh biên tế các pháp và đối cảnh sở tác thành tựu. Nói Sự Cầu Và Sự Khéo Về Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát do bốn đối cảnh sở duyên như trên mà cầu về chỉ và khéo về quán là như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, giáo pháp của Như lai thiết lập cho Bồ tát là khế kinh, ứng tụng, ký biệt, phúng tụng, tự thuyết, nhân duyên, thí dụ, bản sự, bản sinh, phương quảng, hy pháp, luận nghị; đối với giáo pháp ấy (84) , Bồ tát khéo lắng nghe, khéo tiếp nhận, văn khéo rành rẻ, ý khéo tìm tòi, thấy khéo thông suốt; rồi chính nơi giáo pháp phải khéo tư duy (85) như vậy, Bồ tát một mình ở chỗ không phiền không ồn mà tác ý tư duy; sự tư duy này phải được nội tâm liên tục tác ý tư duy: hễ đứng vững rất nhiều trong cái chánh hạnh ấy, sinh ra sự khinh an (86) nơi thân và sự khinh an nơi tâm, thì đó là chỉ, và Bồ tát như vậy là cầu về chỉ. Bồ tát này do cái thân tâm khinh an trên đây làm nền tảng, đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải khéo tư duy (87) nói trên, hãy quan sát, thắng giải (88) , bỏ cái tâm tướng về chỉ: hễ đối với ấn tượng chánh định cần phải chứng biết ấy mà chính xác quyết trạch, cùng cực quyết trạch, tầm tư toàn bộ, tứ sát toàn bộ, rồi xác nhận, ưa thích, hiểu biết, nhìn thấy, xét thấy, thì đó là quán, và Bồ tát như vậy là khéo về quán. Nói Tác Ý Tùy Thuận Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát từ khi lấy (ấn tượng của) tâm mà làm đối tượng, nội tâm tư duy tâm, cho đến lúc chưa được thân tâm khinh an, thì sự tác ý trong thì gian đó nên gọi là gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ý về chỉ, mà là tác ý thích ứng sự thắng giải tùy thuận với chỉ. Bạch đức Thế tôn, cho đến lúc chưa được thân tâm khinh an, Bồ tát có sự tác ý tư duy đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải tư duy, sự tác ý đó nên gọi là gì? Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ý về quán, mà là tác ý thích ứng sự thắng giải tùy thuận với quán. Nói Đồng Dị Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ với quán nên nói có khác nhau hay nên nói không khác nhau? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không phải có khác nhau, cũng không phải không khác nhau. Tại sao không phải có khác nhau, vì (chỉ) lấy cái tâm đối tượng của quán mà làm đối tượng của nó; tại sao không phải không khác nhau, vì ấn tượng có phân biệt (của quán) không phải là ấn tượng của nó. Nói Duy Thức Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ấn tượng chánh định của quán cùng với tâm thức chánh định ấy nên nói có khác hay nên nói không khác? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không khác. Bạch đức Thế tôn, vì sao không khác? Thiện nam tử, vì ấn tượng ấy chỉ là tâm thức. Thiện nam tử, Như lai nói cái gì thức biết thì cái ấy chỉ do thức hiện. Bạch đức Thế tôn, nếu ấn tượng tâm thức không khác tâm thức thì làm sao tâm thức trở lại nhận thấy tâm thức? Thiện nam tử, ở đây không có chút pháp nào nhận thấy chút pháp nào, nhưng chính tâm thức khi sinh ra thế nào thì hình thành đối tượng thế ấy. Như có kẻ nhờ mặt gương trong sáng rồi chính thân mình làm duyên tố mà thấy thân mình, nhưng bảo mình thấy hình ảnh, lại bảo hình ảnh đó biệt lập với thân mình; tương tự như vậy, khi tâm thức sinh ra thì thấy như có ấn tượng chánh định biệt lập hình thành. Bạch đức Thế tôn, như vậy thì chúng sinh ở trong đặc chất của mình (chứ không phải ở trong chánh định) mà nhận thức sắc thanh hương vị xúc pháp, ấn tượng ấy với nhận thức ấy cũng không khác nhau chăng? Thiện nam tử, cũng không khác nhau; nhưng kẻ ngu ngơ thì vì ảo giác thác loạn, không nhận thức ấn tượng một cách đúng như sự thật của chúng chỉ là tâm thức, nên sinh ra ngộ nhận. Nói Đơn Song Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì nên nói là Bồ tát một chiều tu quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, ngang nơi sự liên tục tác ý chỉ tư duy ấn tượng của tâm. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì nên nói là Bồ tát một chiều tu chỉ? Thiện nam tử, ngang nơi sự liên tục tác ý chỉ tư duy tâm ấy liên tục. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì nên nói là Bồ tát chỉ quán hóa hợp cùng có? Thiện nam tử, ngang nơi sự chính xác tư duy về tâm đồng nhất cảnh. Bạch đức Thế tôn, ấn tượng của tâm là gì? Thiện nam tử, là ấn tượng có phân biệt của chánh định mà quán chuyên chú vào. Bạch đức Thế tôn, tâm ấy liên tục là gì? Thiện nam tử, là cái tâm chuyên chú ấn tượng nói trên mà chỉ chuyên chú vào. Bạch đức Thế tôn, tâm đồng nhất cảnh là gì? Thiện nam tử, là thấu triệt rằng ấn tượng chánh định là duy thức, hoặc thấu triệt như vậy rồi lại tư duy về chân như. Nói Chủng Số Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, quán có mấy thứ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đại khái quán có ba thứ, một là có tướng, hai là tầm cầu, ba là tứ sát. Quán có tướng là gì, là sự quán thuần tư duy ấn tượng có phân biệt của chánh định; quán tầm cầu là gì, là sự quán nhờ tuệ nên tác ý tư duy để khéo thấu hiểu đối với toàn bộ các pháp chưa khéo thấu hiểu; quán tứ sát là gì, là sự quán nhờ tuệ nên tác ý tư duy để khéo chứng ngộ và cực giải thoát đối với các pháp đã khéo thấu hiểu. Bạch đức Thế tôn, chỉ có mấy thứ? Thiện nam tử, do chính cái tâm liên tục theo quán nên chỉ cũng có ba thứ; lại có tám thứ, đó là bốn tịnh lự và bốn không định, mỗi thứ là một chỉ; lại có bốn thứ, đó là bốn vô lượng từ bi hỷ xả, mỗi thứ là một chỉ. Nói Y Và Bất Y Pháp Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán dựa vào pháp, lại nói chỉ quán không dựa vào pháp, vậy thế nào là chỉ quán dựa vào pháp, thế nào là chỉ quán không dựa vào pháp? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát tùy thuận cái pháp đã tiếp nhận và tư duy, và chỉ quán đạt được bởi nghĩa lý của pháp ấy thì gọi là chỉ quán dựa vào pháp; nếu Bồ tát chưa có cái pháp đã tiếp nhận và tư duy, chỉ dựa vào sự chỉ dạy của người khác, và chỉ quán đạt được bởi nghĩa lý của sự chỉ dạy ấy, như quán thân thể bất tịnh, các hành vô thường, các hành khổ não, các pháp vô ngã, niết bàn vắng lặng, những loại chỉ quán như vậy gọi là chỉ quán không dựa vào pháp. Dựa vào pháp mà được chỉ quán thì Như lai qui định đó là Bồ tát tùy pháp hành, là Bồ tát lợi căn; không dựa vào pháp mà được chỉ quán thì Như lai qui định đó là Bồ tát tùy tín hành, là Bồ tát độn căn. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán vin vào pháp riêng biệt, lại nói chỉ quán vin vào pháp tổng quát, vậy chỉ quán vin pháp riêng biệt là thế nào, chỉ quán vin pháp tổng quát là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát vin vào mỗi pháp khế kinh cho đến luận nghị, đúng như pháp đã tiếp nhận và tư duy mà tu chỉ quán, thì gọi là chỉ quán vin pháp riêng biệt; nếu Bồ tát vin vào các pháp khế kinh cho đến luận nghị, tập hợp lại làm một viên một cục một phần một khối, tác ý tư duy các pháp ấy (bằng cách) tùy thuận chân như, xu hướng chân như, đi vào chân như, tùy thuận bồ đề, tùy thuận niết bàn, tùy thuận chuyển y, xu hướng các pháp này, đi vào các pháp này, từ các pháp này thuyết ra vô lượng vô số thiện pháp, tư duy như vậy mà tu chỉ quán thì gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, chỉ quán vin pháp tổng quát lớn, chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng, vậy thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát lớn, thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu vin vào mỗi khế kinh riêng biệt cho đến mỗi luận nghị riêng biệt mà làm một viên một khối để tác ý tư duy, thì nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ; nếu vin vào các khế kinh cho đến các luận nghị đã tiếp nhận và tư duy mà làm một viên một khối để tác ý tư duy, chứ không phải chỉ vin vào mỗi giáo pháp riêng biệt, thì nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát lớn; nếu vin vào vô lượng giáo pháp của Như lai, (bằng cách) vin vào vô lượng văn từ pháp nghĩa của giáo pháp ấy, vào vô lượng pháp được soi tỏ bởi vô lượng tuệ của các giai đoạn liên tiếp sau đó, mà làm một viên một khối để tác ý tư duy, chứ không phải chỉ vin vào các pháp đã tiếp nhận và tư duy, thì nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát ngang đâu thì gọi là đạt được chỉ quán vin pháp tổng quát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, ngang lúc có năm hiệu quả sau đây thì gọi là đạt được: một là khi tư duy thì trong từng sát na đã tiêu dung chỗ dựa của mọi thứ thô trọng, hai là bỏ phân biệt mà được pháp lạc, ba là mở tỏ vô số ánh sáng của cái pháp không phân biệt khắp trong mười phương quốc độ, bốn là đã thường xuyên hiện ra cái trí không phân biệt do việc làm đã thành mãn và đã thích ứng với phần thanh tịnh, năm là những giai đoạn sau đó vẫn thể hiện những nhân tố tinh tế hơn lên để làm cho pháp thân thành mãn. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán vin pháp tổng quát như trên thì từ đâu gọi là thông đạt và từ đâu gọi là chứng đắc? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, từ địa thứ nhất là Cực hỷ thì gọi là thông đạt, từ địa thứ ba là Phát quang mới gọi là chứng đắc. Thiện nam tử, các vị Bồ tát mới tu học cũng tác ý học theo chỉ quán này, tuy chưa đáng tán dương nhưng đừng nên nhác bỏ. Lược Giải.- Đoạn này, ngoài 1 đoạn nhỏ chính yếu, còn có 4 đoạn nhỏ tiếp phụ nói thêm về chỉ quán dựa vào pháp: dựa vào pháp mà có pháp riêng biệt có pháp tổng quát, pháp tổng quát mà có nhỏ có lớn và có vô lượng, 5 hiệu quả của pháp tổng quát, 2 địa vị của pháp tổng quát. Nói Có Và Không Tầm Tứ Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như vậy tại sao gọi là chánh định có tầm có tứ, chánh định không tầm chỉ tứ, chánh định không tầm không tứ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đối với ấn tượng đã thủ đắc từ giáo pháp đã tầm tứ, những chỉ quán có sự tiếp nhận quán sát rất thô thì gọi là chánh định có tầm có tứ; đối với ấn tượng ấy, những chỉ quán tuy không có sự tiếp nhận quán sát rất thô nhưng có sự tiếp nhận quán sát của ký ức sáng tỏ rất nhỏ, thì gọi là chánh định không tầm chỉ tứ; đối với ấn tượng của tất cả giáo pháp, những chỉ quán mà sự tiếp nhận quán sát không có mọi sự tác ý (89) , thì gọi là chánh định không tầm không tứ. Lại nữa, Thiện nam tử, chỉ quán có tầm cầu thì gọi là chánh định có tầm có tứ, chỉ quán có tứ sát thì gọi là chánh định không tầm chỉ tứ, chỉ quán chỉ vin pháp tổng quát thì gọi là chánh định không tầm không tứ. Nói Chỉ, Cử Và Xả Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, đình chỉ là thế nào? phấn chấn là thế nào? xả bỏ là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, khi tâm quấy động, hay khi phòng tâm quấy động, thì sự tác ý về cái đáng chán, và sự tác ý về cái tâm ấy liên tục, gọi là đình chỉ; khi tâm chìm đắm, hay khi phòng tâm chìm đắm, thì sự tác ý về cái đáng vui, và sự tác ý về cái tâm ấy, gọi là phấn chấn; hoặc chỉ có chỉ, hoặc chỉ có quán, hoặc cả chỉ quán song hành, mà khi bị nhuốm bẩn vì hai thứ tùy phiền não (là quấy động và chìm đắm như trên) thì sự tác ý trong vô công dụng mà nhiệm vận chuyển, gọi là xả bỏ. Nói Sự Biết Pháp Và Biết Nghĩa Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán thì phải biết pháp và biết nghĩa, vậy biết pháp là thế nào? biết nghĩa là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy do năm sự sau đây mà biết về pháp: một là biết tên, hai là biết câu, ba là biết văn (90) , bốn là biết riêng, năm là biết chung. Tên là thế nào, là sự giả thiết về tự tánh của tất cả các pháp nhiễm tịnh. Câu là thế nào, là sự qui tụ của tên, thành cấu trúc diễn tả về nghĩa nhiễm hay tịnh của các pháp. Văn là thế nào, là chữ mà tên và câu dựa vào. Biết riêng những thứ trên là thế nào, là tác ý nhận thức mỗi thứ riêng ra. Biết chung những thứ trên là thế nào, là tác ý nhận thức các thứ trên chung lại. Tất cả những sự trên đây tổng lược nhất trí thì gọi là biết về pháp, và biết về pháp như vậy thì gọi là Bồ tát biết pháp. Lược Giải.- Đ12 này có 4 đoạn nhỏ: nói về sự biết pháp, nói về sự biết nghĩa, nói về cái trí biết pháp biết nghĩa, nói về sự trừ khử của cái trí ấy. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói về sự biết pháp. Chính Văn.- Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy do mười sự sau đây mà biết về nghĩa: một là biết tánh tận hữu, hai là biết tánh như hữu (91) , ba là biết nghĩa năng thủ, bốn là biết nghĩa sở thủ, năm là biết nghĩa dựng nên, sáu là biết nghĩa hưởng dụng, bảy là biết nghĩa đảo ngược, tám là biết nghĩa không ngược, chín là biết nghĩa tạp nhiễm, mười là biết nghĩa thanh tịnh. (Một), tánh tận hữu là biên cương tất cả chủng loại của các pháp nhiễm tịnh, biên cương ấy gọi là tánh tận hữu, tức năm số về uẩn, sáu số về nội xứ, sáu số về ngoại xứ, những pháp số đại loại như vậy. (Hai), tánh như hữu là chân như nơi các pháp nhiễm tịnh, chân như ấy gọi là tánh như hữu. Chân như ấy có bảy: một là chân như nơi sự lưu chuyển, tức cái tánh không mở đầu không chấm hết của các hành; hai là chân như nơi các tướng, tức cái tánh nhân vô ngã và pháp vô ngã của các pháp; ba là chân như nơi sự liễu biệt, tức cái tánh duy thức của các hành; bốn là chân như nơi sự an lập, tức thánh đế về khổ mà Như lai nói; năm là chân như nơi sự tà hành, tức thánh đế về tập mà Như lai nói; sáu là chân như nơi sự thanh tịnh, tức thánh đế về diệt mà Như lai nói; bảy là chân như nơi sự chánh hành, tức thánh đế về đạo mà Như lai nói. Nên biết trong đây do chân như nơi sự lưu chuyển, nơi sự an lập và nơi sự tà hành nên tất cả chúng sinh rất là bình đẳng; do chân như nơi các tướng và nơi sự liễu biệt nên tất cả các pháp rất là bình đẳng; do chân như nơi sự thanh tịnh nên Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề và Vô thượng bồ đề rất là bình đẳng; do chân như nơi sự chánh hành nên cái tuệ của chỉ quán siêu việt vin vào pháp tổng quát, sau khi nghe giáo pháp, rất là bình đẳng. (Ba), nghĩa năng thủ là năm sắc xứ ở trong (92) , là tâm ý thức và các tâm sở. (Bốn), nghĩa sở thủ là sáu xứ ở ngoài, và những nghĩa năng thủ cũng là nghĩa sở thủ. (Năm), nghĩa dựng nên là giới thế giới (93) , trong giới thế giới này có thể dựng nên giới chúng sinh, tức ruộng đất một thôn, trăm, ngàn hay trăm ngàn ruộng đất thôn ấy; hoặc một lục địa giới hạn bởi đại dương, trăm, ngàn hay trăm ngàn lục địa ấy; hoặc một đại lục Thiệm bộ, trăm, ngàn hay trăm ngàn đại lục ấy; hoặc một bốn đại lục, trăm, ngàn hay trăm ngàn bốn đại lục ấy; hoặc một thế giới ngàn nhỏ, trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn nhỏ ấy; hoặc một thế giới ngàn vừa, trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn vừa ấy; hoặc một thế giới ngàn lớn (94) , trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn lớn ấy; hoặc một ức, trăm, ngàn hay trăm ngàn ức thế giới ngàn lớn ấy; hoặc một vô số, trăm, ngàn hay trăm ngàn vô số thế giới ngàn lớn ấy; hoặc (tại một phương hướng), thế giới ngàn lớn ấy nhiều đến vô số mà có cả trăm ngàn lần, hay nhiều như số lượng vi trần; và ở khắp mười phương hướng có vô lượng vô số những giới thế giới như vậy. (Sáu), nghĩa hưởng dụng là đồ dùng của chúng sinh thu thập (95) mà Như lai đã nói. (Bảy), nghĩa đảo ngược là đối với những sự từ nghĩa năng thủ sắp đi trên đây mà tưởng thác loạn tâm thác loạn và thấy thác loạn cho vô thường là thường, tưởng thác loạn tâm thác loạn và thấy thác loạn cho khổ là vui, cho bất tịnh là tịnh, cho vô ngã là ngã. (Tám), nghĩa không ngược thì nên biết là mâu thuẫn với những sự đảo ngược ở trên, có sức đối trị những sự đảo ngược ấy. (Chín), nghĩa tạp nhiễm là ba sự tạp nhiễm khắp cả ba cõi: một là hoặc tạp nhiễm, hai là nghiệp tạp nhiễm, ba là sinh tạp nhiễm. (Mười) nghĩa thanh tịnh là những pháp bồ đề phần có sức cởi mở sự thắt buộc của ba sự tạp nhiễm nói trên. Mười sự như trên đây, nên biết đã bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại còn do biết năm sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Năm sự ấy là những gì, một là sự biến tri, hai là nghĩa biến tri, ba là nhân biến tri, bốn là quả biến tri, năm là biết sự ấy. (Một), sự biến tri thì nên hiểu là tất cả pháp sở tri, tức các uẩn, các nội xứ, các ngoại xứ, những sự như vậy. (Hai), nghĩa biến tri là bao nhiêu phẩm loại khác nhau mà cần biết về sự ở trên, tức hoặc thế tục đế với thắng nghĩa đế; hoặc công đức với lầm lỗi; hoặc duyên tố với thì gian (96) ; hoặc sinh, trú và diệt; hoặc như bịnh tật, (như ung thối, như trúng tên, như đau đớn); hoặc khổ, tập, diệt, đạo; hoặc chân như, thật tế, pháp giới, và những danh hiệu cùng loại (97) ; hoặc phong phú với khái quát (98) ; hoặc bốn cách phán quyết là quyết định, phân tách, hỏi lại và lặng bỏ (99) ; hoặc ẩn mật với minh bạch; những pháp như vậy nên biết là nghĩa biến tri. (Ba), nhân biến tri là những pháp bồ đề phần có sức thủ đắc hai loại biến tri ở trên, tức bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, và những pháp số cùng loại. (Bốn), quả biến tri là các sa môn quả đã tạm diệt tham sân si (99B) và vĩnh diệt tham sân si, cùng với những công đức chứng sa môn quả mà Như lai đã nói, tức những công đức cọng hữu hay đặc hữu mà bao gồm cả thế gian và xuất thế của Thanh văn và của Như lai. (Năm), biết sự ấy là chính những công đức chứng sa môn quả nói trên, các trí giải thoát khai thị và tuyên dương phong phú cho người. Năm sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại do biết bốn sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Bốn sự ấy là những gì, một là chấp thọ, hai là lãnh nạp, ba là liễu biệt, bốn là nhiễm tịnh (100) . Bốn sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Thiện nam tử, các vị Bồ tát ấy lại còn do biết ba sự sau đây nên gọi là biết về nghĩa. Ba sự ấy là những gì, một là văn, hai là nghĩa, ba là giới. Văn là danh thân cú thân và văn thân. Nghĩa thì có mười: một là sự chân thật (101) , hai là sự biến tri, ba là sự vĩnh đoạn, bốn là sự tác chứng, năm là sự tu tập (102) , sáu là sự chi tiết của các sự nói trên, bảy là sự tương thuộc của sở y và năng y, tám là sự chướng ngại của sự biến tri cho đến sự tu tập, chín là sự tùy thuận của sự biến tri cho đến sự tu tập, mười là nhược điểm với ưu điểm của sự bất tri với sự biến tri, cho đến sự bất tu với sự tu tập (103) . Giới là năm giới: một là giới thế giới (104) , hai là giới chúng sinh, ba là giới các pháp, bốn là giới người được thuần hóa, năm là giới phương pháp thuần hóa. Năm sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, nói về sự biết nghĩa. Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, cái tuệ do nghe mà có và biết nghĩa của cái nó nghe, cái tuệ do nghĩ mà có và biết nghĩa của cái nó nghĩ, cái tuệ do tu chỉ quán mà có và biết nghĩa của cái nó tu, ba cái tuệ như vậy khác nhau thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, cái tuệ do nghe mà có thì dựa vào văn từ, chỉ như lời nói, chưa khéo biết ý nghĩa, (đồng loại với cái nghĩa đã biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện trước mắt, tùy thuận với giải thoát, nhưng chưa lãnh nhận được sự giải thoát thành đạt. Cái tuệ do nghĩ mà có thì cũng dựa vào văn từ, nhưng không phải chỉ như lời nói, lại khéo biết ý nghĩa, (đồng loại với cái nghĩa đã biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện trước mắt, nhưng càng thuận với giải thoát, dầu cũng chưa lãnh nhận được sự giải thoát thành đạt. Còn cái tuệ do tu mà có của Bồ tát thì cũng dựa vào văn từ mà cũng không dựa vào văn từ, cũng như lời nói mà cũng không như lời nói, khéo biết ý nghĩa, đồng loại với cái nghĩa đã biết là ấn tướng chánh định đã hiện trước mắt, cực thuận với giải thoát, đã lãnh nhận được sự giải thoát thành đạt. Đó là sự biết nghĩa mà khác nhau của ba tuệ. Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu chỉ quán thì phải biết pháp biết nghĩa, vậy biết là thế nào? thấy là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, bằng nhiều mặt, Như lai đã nói sự khác biệt của biết và thấy. Như lai nay nói khái lược cho ông về sự ấy: cái tuệ tinh tế vin vào pháp tổng quát mà tu chỉ quán thì gọi là biết, cái tuệ tinh tế vin vào pháp riêng biệt mà tu chỉ quán thì gọi là thấy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ ba, nói về cái trí biết pháp biết nghĩa. Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát tu chỉ quán là do tác ý nào? trừ khử tướng gì? và làm sao trừ khử? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tự, do tác ý chân như, và trừ khử pháp tướng nghĩa tướng. ẫ Đối với cái danh của pháp nghĩa, và tự tánh của cái danh ấy, khi vô đắc (105) thì cũng không thấy cái tướng của cái danh ấy dựa vào: trừ khử như vậy đó; như đối với danh thì đối với câu, đối với văn và đối với nghĩa nên biết cũng cũng vậy; sau hết đối với cái giới của pháp nghĩa, và tự tánh của cái giới ấy, khi vô đắc thì cũng không thấy cái tướng của cái giới ấy dựa vào: trừ khử như vậy đó. Bạch đức Thế tôn, thấu triệt chân như thì tướng chân như ấy cũng bị trừ khử chăng? Thiện nam tử, thấu triệt chân như hoàn toàn vô tướng và vô đắc, vậy trừ khử cái gì. Như lai nói rằng khi thấu triệt chân như thì trừ khử được pháp tướng và nghĩa tướng, chứ không phải chân như được thấu triệt đó cái khác có thể trừ khử. Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói đồ chứa nước dơ bẩn, bức gương không sáng sạch, suối hồ nước xao động, thì không thể nhìn thấy hình ảnh mặt mình, nhìn thấy thì không phải những thứ trên đây; tương tự như vậy, cái tâm mà không tu thì không thể chính xác nhìn thấy chân như, khéo tu cái tâm thì có thể nhìn thấy. Lời này nói về quán trí nào và nói về chân như nào? Thiện nam tử, lời này nói về ba quán trí là quán trí do nghe mà có, quán trí do nghĩ mà có và quán trí do tu mà có, và căn cứ chân như nơi sự liễu biệt (106) mà nói. Bạch đức Thế tôn, để trừ khử các tướng nên các vị Bồ tát biết pháp tướng nghĩa tướng phải nỗ lực tu tập phương cách trừ khử, vậy có bao nhiêu cái tướng khó trừ khử? và cái gì trừ khử được? Thiện nam tử, cái tướng có mười thứ, và cái Không có thể trừ khử. Mười thứ ấy là những gì ? Một là biết pháp biết nghĩa thì có cái tướng văn từ, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi các pháp không. Hai là biết chân như nơi sự an lập thì có cái tướng sinh trụ diệt và cái tướng liên tục chuyển biến, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi tướng không (107) và vô tiền hậu không (108) . Ba là biết nghĩa năng thủ thì có cái tướng luyến tiếc thân thể và cái tướng ngã mạn, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi nội không và vô sở đắc không. Bốn là biết nghĩa sở thủ thì có cái tướng luyến tiếc tài sản, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi ngoại không. Năm là biết nghĩa hưởng dụng, trong đó có trai gái phục dịch và đồ dùng thích hợp, thì có cái tướng trong thấy thích thú và cái tướng ngoài thấy tốt đẹp, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi nội ngoại không và bản tánh không. Sáu là biết nghĩa dựng nên thì có cái tướng thế giới bao la, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi đại không. Bảy là biết không hình sắc thì có cái tướng bên trong vắng lặng giải thoát, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi hữu vi không. Tám là biết chân như nơi các tướng thì có các tướng nhân vô ngã, tướng pháp vô ngã, tướng duy thức và tướng thắng nghĩa, bốn cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi cứu cánh không, vô tánh không, vô tánh tánh không và thắng nghĩa không. Chín là biết chân như nơi sự thanh tịnh thì có cái tướng vô vi và cái tướng không biến dịch, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi vô vi không và vô biến dị không. Mười là chính sự tác ý tư duy về cái không để đối trị các cái tướng nói trên thì có cái tướng không, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi không không. Bạch đức Thế tôn, như vậy khi trừ khử mười cái tướng là trừ khử cái gì? và giải thoát cái gì? Thiện nam tử, trừ khử cái tướng của ấn tượng chánh định, và giải thoát sự tạp nhiễm thắt buộc (109) , rồi sự trừ khử ấy cũng không còn. Nhưng ông nên biết Như lai căn cứ phần đặc thù mà nói cái không này trừ khử cái tướng kia, chứ không phải mỗi cái không không trừ khử được mọi cái tướng. Thí dụ vô minh không phải không sinh ra mọi thứ tạp nhiễm từ hành cho đến lão tử, nhưng căn cứ phần đặc thù nên nói vô minh sinh ra hành, vì nó là duyên tố gần nhất của hành. Đạo lý ở đây ông nên biết cũng là như vậy. Bạch đức Thế tôn, ở đây cái không nào là cái không tổng quát? Bồ tát hiểu được cái không ấy thì không có những sự mất mát hư hỏng, bỏ được sự tăng thượng mạn đối với cái không. Đức Thế tôn, vào lúc ấy, ca tụng đại bồ tát Từ thị, rằng tốt lắm, Thiện nam tử, tốt lắm; ông có thể hỏi Như lai cái nghĩa sâu như vậy để làm cho các vị Bồ tát không bị mất bị hỏng về cái không. Các vị Bồ tát mất hỏng về cái không thì mất hỏng toàn thể Đại thừa. Do vậy, ông hãy nghe cho thật kyլ Như lai nói cho ông về cái không tổng quát. Ấy là, nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, mọi biến kế chấp tánh dầu thuộc loại tạp nhiễm hay thuộc loại thanh tịnh đều rốt ráo rời bỏ, hoàn toàn vô đắc, như vậy gọi là cái không tổng quát của Đại thừa. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ tư, nói về sự trừ khử của cái trí biết pháp biết nghĩa. Nói Sự Bao Quát Các Định Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này bao gồm được mấy thứ chánh định siêu việt? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, vô lượng chánh định siêu việt của Thanh văn của Bồ tát và của Như lai mà Như lai đã nói, thì ông nên biết tất cả đều bao gồm trong chỉ quán ở đây. Nói Nhân Quả Tác Dụng Của Chỉ Quán Chính Văn.- Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này lấy gì làm nhân tố? Thiện nam tử, nhân tố của chỉ quán như thế này là giới thanh tịnh, là chánh kiến được có bởi nghe thanh tịnh và nghĩ thanh tịnh. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này lấy gì làm thành quả? Thiện nam tử, thành quả của chỉ quán như thế này là tâm thanh tịnh và tuệ thanh tịnh, còn nữa, hết thảy thiện pháp thuộc loại thế gian và thuộc loại xuất thế của Thanh văn và của Như lai, nên biết toàn là thành quả của chỉ quán như thế này tạo ra. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này làm được công việc gì? Thiện nam tử, làm được công việc giải thoát tướng phược và giải thoát trọng phược. Nói Chướng Ngại Của Chỉ Quán Chính Văn.- Bạch đức Thế tôn, trong năm thứ ràng buộc mà đức Thế tôn nói, mấy thứ là sự cản trở của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của quán? mấy thứ là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử, luyến tiếc thân thể và luyến tiếc tài sản là những sự cản trở của chỉ, không thích thánh giáo là sự cản trở của quán, thích ở xen lẫn và được ít đã đủ (110) là những sự cản trở của cả hai: vì sự thứ nhất mà việc tu không làm được, vì sự thứ hai mà việc tu không trọn được. Bạch đức Thế tôn, trong năm thứ ngăn che (111) , mấy thứ là sự cản trở của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của quán? mấy thứ là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử, trạo cử ố tác là sự cản trở của chỉ, hôn trầm thụy miên và nghi pháp là những sự cản trở của quán, tham dục và sân nhuế là những sự cản trở của cả hai. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì gọi là được trong sáng đầy đủ về chỉ? Thiện nam tử, cho đến lúc bao nhiêu hôn trầm thụy miên được chính xác và khéo léo loại trừ thì ngang đó gọi là được trong sáng đầy đủ về chỉ. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì gọi là được trong sáng đầy đủ về quán? Thiện nam tử, cho đến lúc bao nhiêu trạo cử ố tác được chính xác và khéo léo loại trừ thì ngang đó gọi là được trong sáng đầy đủ về quán. Bạch đức Thế tôn, Bồ tát khi chỉ quán đã hiện ra thì phải biết có mấy thứ làm cho tâm xao động? Thiện nam tử, phải biết có năm thứ: tác ý, ngoại tâm, nội tâm, cảnh tướng, thô trọng. Một, nếu Bồ tát rời tác ý hợp với Đại thừa mà rơi vào những tác ý hợp với Thanh văn Độc giác thì gọi là tác ý xao động. Hai, nếu bao nhiêu tầm tư đều xuôi theo phiền não khi đối trước đa dạng của năm thứ dục lạc tuyệt hảo, nếu buông thả tâm trí ra chảy tràn vào ngoại cảnh, thì gọi là ngoại tâm rối loạn. Ba, nếu vì hôn trầm và thụy miên, vì trầm một (112) , vì đam mê về định (113) , vì sự nhuốm bẩn của một tùy phiền não nào đó chướng ngại cho định (114) , thì gọi là nội tâm xao động. Bốn, nếu đối với cảnh tướng ngoài định mà nghĩ là cảnh tướng của định (115) bên trong thì gọi là cảnh tướng xao động. Năm, nếu những cảm giác do tác ý sinh ra mà cho là do cái thân thô trọng nên chấp tự ngã, nổi kiêu mạn, thì gọi là thô trọng xao động. Bạch đức Thế tôn, từ Bồ tát địa đầu tiên cho đến Như lai địa, chỉ quán như thế này đối trị được những sự chướng ngại nào? Thiện nam tử, chỉ quán như thế này trong Bồ tát địa đầu tiên thì đối trị được sự chướng ngại vì hoặc nghiệp sinh tạp nhiễm của ác đạo, trong Bồ tát địa thứ hai thì đối trị được sự chướng ngại vì hiện hành của sự lầm lỡ vị phạm rất nhỏ, trong Bồ tát địa thứ ba thì đối trị được sự chướng ngại vì tham lam của dục, trong Bồ tát địa thứ tư thì đối trị được sự chướng ngại vì định ái và pháp ái, trong Bồ tát địa thứ năm thì đối trị được sự chướng ngại vì một chiều chống sinh tử hướng niết bàn, trong Bồ tát địa thứ sáu thì đối trị được sự chướng ngại vì hiện hành nhiều của thô tướng, trong Bồ tát địa thứ bảy thì đối trị được sự chướng ngại vì hiện hành của tế tướng, trong Bồ tát địa thứ tám thì đối trị được sự chướng ngại vì phải da công dụng đối với vô tướng và không tự tại đối với hữu tướng, trong Bồ tát địa thứ chín thì đối trị được sự chướng ngại vì không tự tại đối với ngôn từ khéo léo về mọi chủng loại, trong Bồ tát địa thứ mười thì đối trị được sự chướng ngại vì không chứng đắc pháp thân viên mãn. Và chỉ quán như thế này, trong Như lai địa thì đối trị được phiền não chướng và sở tri chướng cực vi tế; và tối cực vi tế, vì vĩnh viễn hại được hai chướng như vậy nên chứng được một cách cứu cánh cái trí thấy biết hoàn toàn, không còn vướng mắc không còn chướng ngại, lại do đối tượng sở tác thành tựu (116) (của cái trí nói trên) nên lập ra pháp thân tối cực thanh tịnh. Nói Sự Chứng Đắc Bồ Đề Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế Tôn, Bồ tát do nỗ lực tu hành chỉ quán mà chứng đắc vô thượng bồ đề là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát đã được chỉ quán bằng cách căn cứ bảy chân như, đúng như cái pháp đã nghe và đã nghĩ, do tâm trí của chánh định siêu việt mà bên trong tự chánh tư duy về tánh chân như đã khéo thẩm định khéo tư lượng và khéo thiết lập, thì vì chánh tư duy chân như nên đối với sự hiện hành của tế tướng tâm trí còn bỏ được, huống chi đối với sự hiện hành của thô tướng. Tế tướng là ấn tượng chấp thọ, lãnh nạp, liễu biệt và nhiễm tịnh (117) , là ấn tượng pháp trong, pháp ngoài và trong ngoài (118) , là ấn tượng cho rằng mình làm mọi sự lợi ích chúng sinh, là ấn tượng chánh trí, chân như, là ấn tượng khổ tập diệt đạo, là ấn tượng hữu vi, vô vi, là ấn tượng hữu thường, vô thường, là ấn tượng khổ có biến dị, khổ không biến dị, là ấn tượng hữu vi đa dạng, hữu vi đồng nhất, là ấn tượng tất cả được có bởi biết tất cả là tất cả (119) , là ấn tượng nhân vô ngã, pháp vô ngã, mọi ấn tượng như vậy tâm trí Bồ tát loại bỏ được cả. Bồ tát ở nhiều trong sự tu hành như thế này nên lúc nào cũng khéo sửa trị tâm trí của mình trong mọi sự ràng buộc, ngăn che và xao động. Từ đó về sau, đối với bảy chân như có bảy cái trí thông suốt, tự chứng bên trong, được riêng biệt sinh ra (120) , và gọi là Kiến đạo vị. Do được như vậy nên gọi là vị nhập vào chánh tánh ly sanh (121) của Bồ tát, vị sinh vào nhà Như lai, vị chứng đắc Bồ tát địa đầu tiên, vị hưởng dụng mọi thành quả siêu việt của Bồ tát địa này. Bồ tát như vậy, trước đây được chỉ quán bằng cách được đối tượng có phân biệt và đối tượng không phân biệt, nay được Kiến đạo vị là được thêm đối tượng biên tế các pháp (121B). Rồi các giai đoạn liên tiếp về sau, trong tất cả Bồ tát địa còn lại, thì tiến tu Tu đạo vị, bằng cách tác ý tư duy cả ba đối tượng nói trên. Tựa như có kẻ lấy chốt nhỏ đẩy chốt to ra, vị Bồ tát này, với cách lấy chốt tháo chốt mà trừ khử mọi ấn tượng có từ bên trong, nên bao nhiêu cái tướng thuộc loại tạp nhiễm đều trừ khử cả, và tướng phược được trừ khử nên trọng phược cũng trừ khử. Vì vĩnh viễn hại được tướng phược và trọng phược nên tuần tự trong các Bồ tát địa về sau, vị Bồ tát này y như cách luyện vàng mà luyện tâm mình, cho đến chứng được vô thượng bồ đề, nghĩa là chứng được đối tượng sở tác thành tựu (122) . Thiện nam tử, như thế đó gọi là Bồ tát từ bên trong tu hành chính xác về chỉ quán nên chứng được vô thượng bồ đề. Nói Sự Dẫn Ra Uy Đức Quản Đại Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như thế nào là Bồ tát tu hành (chỉ quán) dẫn ra uy đức cao rộng của Bồ tát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, Bồ tát khéo biết sáu sự sau đây thì có thể dẫn ra uy đức cao rộng của Bồ tát: khéo biết tâm phát sinh, khéo biết tâm trú ở, khéo biết tâm thoát ra, khéo biết tâm thêm lên, khéo biết tâm bớt đi, khéo biết các phương tiện. Một, khéo biết tâm phát sinh là chính xác biết mười sáu tâm phát sinh khác nhau, đó là thứ nhất, sự phát sinh của cái thức mà hành tướng năng duyên khó biết, liên tục chấp thọ sắc căn và liên tục chấp trì thế giới, đó là a đà na thức; thứ hai, sự phát sinh của cái thức mà hành tướng đa dạng vin theo đối cảnh đa dạng, đó là phân biệt ý thức nhận thức một lúc tất cả đối cảnh sắc thanh hương vị xúc và cảm nhận một lúc tất cả ấn tượng của giác quan ở trong và đối cảnh ở ngoài, đó là phân biệt ý thức trong một thoáng mà nhập nhiều chánh định, thấy nhiều cõi Phật, thấy nhiều đức Phật; thứ ba, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh nhỏ hẹp, đó là thức hệ thuộc Dục giới; thứ tư, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh rộng lớn, đó thức hệ thuộc Sắc giới; thứ năm, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vô lượng, đó là thức hệ thuộc Không vô biên xứ và Thức vô biên xứ; thứ sáu, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vi tế, đó là thức hệ thuộc Vô sở hữu xứ; thứ bảy, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh tận biên, đó là thức hệ thuộc Phi phi tưởng xứ; thứ tám, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vô tướng, đó là thức siêu thoát thế gian và thức vin theo niết bàn; thứ chín, sự phát sinh của cái thức đi đôi với khổ thọ, đó là thức địa ngục; thứ mười, sự phát sinh của cái thức đi đôi với tạp thọ, đó là thức Dục giới; mười một, sự phát sinh của cái thức đi đôi với hỷ thọ, đó là thức Sơ thiền và Nhị thiền; mười hai, sự phát sinh của cái thức đi đôi với lạc thọ, đó là thức Tam thiền; mười ba, sự phát sinh của cái thức đi đôi với xả thọ, đó là thức Tứ thiền cho đến Phi phi tưởng xứ; mười bốn, sự phát sinh của cái thức đi đôi với các pháp nhiễm, đó là thức thích ứng với mọi phiền não và tùy phiền não; mười lăm, sự phát sinh của cái thức đi đôi với các pháp lành, đó là thức thích ứng với tâm sở thiện; mười sáu, sự phát sinh của cái thức đi đôi với pháp vô ký, đó là thức không thích ứng cả hai loại tâm sở nói trên. Hai, khéo biết tâm trú ở là biết chính xác chân như nơi sự liễu biệt (123) . Ba, khéo biết tâm thoát ra là biết chính xác rằng phải thoát khỏi hai thứ tướng phược và trọng phược, và đó là khéo biết rằng phải làm cho tâm mình thoát ra hai thứ như vậy (124) . Bốn, khéo biết tâm thêm lên là biết chính xác về cái tâm trí đối trị được tướng phược và trọng phược khi nó lớn thêm khi nó dồn lại, (những gì tùy thuộc nó) cũng được lớn thêm cũng được dồn lại. Năm, khéo biết tâm bớt đi là biết chính xác về cái bị đối trị, tức cái tâm trí bị bẩn vì tướng phược và trọng phược khi nó lui lại khi nó bớt đi, (những gì tùy thuộc nó) cũng bị lui lại cũng bị bớt đi. Sáu, khéo biết các phương tiện là biết chính xác về tám giải thoát tám thắng xứ và mười biến xứ, về cách tu tập và về sự trừ khử (của các pháp này). Thiện nam tử, Bồ tát nào khéo biết như vậy thì uy đức cao rộng của Bồ tát hoặc đã được dẫn ra, hoặc sẽ được dẫn ra, hoặc đang được dẫn ra. Lược Giải.- Ở đây cho thấy uy đức của Tâm cao rộng biết bao. Biết uy đức ấy mà tu tập để phục hồi và vận dụng thì thế chính là uy đức Bồ tát được dẫn ra đó. Nói Nhập Vô Dư Y Diệt Các Thọ Của Chỉ Quán Chính Văn.- Đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói trong niết bàn hoàn toàn (125) thì hết thảy cảm giác (126) vĩnh viễn diệt hết, không còn thừa sót, vậy những cảm giác nào bị vĩnh viễn diệt hết ở đây? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, lấy cốt yếu mà nói thì ở đây có hai loại cảm giác vĩnh viễn diệt hết, không còn thừa sót, đó là một, cảm giác xuất từ giác quan, và hai, cảm giác xuất từ đối cảnh (127) . Cảm giác xuất từ giác quan lại có bốn loại: thứ nhất là cảm giác dựa vào giác quan có sắc chất, thứ hai là cảm giác dựa vào giác quan không sắc chất, thứ ba là cảm giác của kết quả đã hoàn thành, thứ tư là cảm giác của kết quả chưa hoàn thành ẫ kết quả đã hoàn thành là cảm giác hưởng chịu trong hiện tại, kết quả chưa hoàn thành là cảm giác làm nhân cho vị lai (128) . Cảm giác xuất từ đối cảnh cũng có bốn loại: thứ nhất là cảm giác do thế giới đang sống (129) , thứ hai là cảm giác do đồ dùng để sống, thứ ba là cảm giác do hưởng dụng hai loại trên, thứ tư là các giác do luyến tiếc hai loại trên. Trong niết bàn chưa toàn thì đã diệt hết tất cả cảm giác của kết quả chưa hoàn thành, còn lại là cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị, là cảm giác mà thánh giả và phàm phu đều có, là cảm giác của kết quả đã hoàn thành; lại nữa, (trong niết bàn chưa toàn) cũng diệt hết cả hai loại cảm giác (của kết quả là đã hoàn thành và chưa hoàn thành), còn lại chỉ có cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị. Còn niết bàn hoàn toàn mà nhập vào thì lúc đó cái cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị cũng không còn. Do vậy nên Như lai nói rằng trong niết bàn hoàn toàn, hết thảy cảm giác đều vĩnh viễn diệt cả, không còn thừa sót. Lược Giải.- Rõ ràng đoạn này nói về niết bàn một cách cho giống niết bàn của La hán, chứ chưa phải nói về đại niết bàn của Phật. Còn cảm giác thì coi lại phẩm một và coi tới phẩm tám sẽ thấy cảm giác của Phật là thế nào, ấy là chưa kể cảm giác vì chúng sinh mà có. Kết Thúc Pháp Thoại Chỉ Quán Chính Văn.- Lúc ấy đức Thế tôn dạy như vậy rồi lại nói với đại bồ tát Từ thị: Tốt lắm, Thiện nam tử, hôm nay ông khéo căn cứ pháp du dà tinh tế, cùng cực trong sáng và hoàn toàn đầy đủ mà xin hỏi Như lai. Đối với pháp du dà, vốn ông đã được sự khéo léo hiểu biết một cách quyết định và tột bậc. Như lai cũng đã nói cho ông về pháp du dà tinh tế, cùng cực trong sáng và hoàn toàn đầy đủ. Trong quá khứ và trong vị lai, bao nhiêu bậc Chánh biến giác đã nói và sẽ nói thì cũng toàn là nói như vậy. Các thiện nam và thiện nữ nên dựa vào pháp thoại này, dũng mãnh tinh tiến mà chính xác tu học. Đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Đối với du dà giáo pháp lập ra (130) , ai sống buông thả mất đại niết bàn; dựa vào du dà giáo pháp lập ra, chính xác tu tập được đại bồ đề. Thấy mà thủ đắc, khó mong giải thoát! cho cái thấy ấy là đã được Pháp, kẻ ấy rời xa khỏi pháp du dà như là mặt đất cách xa không gian. Lợi ích chúng sinh một cách bền bỉ mà không nghĩ rằng mình làm như vậy: lĩnh hội như vậy càng làm lợi người. Ai người có trí làm hết kiếp lượng (131) thì được cái mừng cao cả trong sáng. Ai vì dục vọng mà thuyết chánh pháp, thì người như vậy phải được gọi là đã bỏ dục vọng lại theo dục vọng! Ngu si như vậy mà được Pháp này thì như một kẻ được ngọc vô giá mà đi lang thang làm kẻ ăn mày! Cái lối luận bàn vô ích ồn náo thì phải bỏ đi để mà nổi dậy hạnh nguyện tinh tiến vào bậc thượng thừa: vì để hóa độ cả trời và người, hãy siêng tu học pháp du dà này! Bấy giờ đại bồ tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là gì? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, pháp thoại này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về du dà. Ông hãy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về du dà thì trong đại hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề; ba trăm ngàn Thanh văn lánh xa bụi bặm, tách rời dơ bẩn, đối với các pháp thì được mắt pháp trong sáng; một trăm năm mươi ngàn Thanh văn hết hẳn mọi sự sơ hở, tâm được giải thoát; bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được tác ý về du dà rộng lớn. Phẩm bảy: Địa Độ (132) Vào lúc bấy giờ, đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói mười Bồ tát địa: thứ nhất là Cực hỷ địa, thứ hai là Ly cấu địa, thứ ba là Phát quang địa, thứ tư là Diệm tuệ địa, thứ năm là Nan thắng địa, thứ sáu là Hiện tiền địa, thứ bảy là Viễn hành địa, thứ tám là Bất động địa, thứ chín là Thiện tuệ địa, thứ mười là Pháp vân địa, lại nói Như lai địa làm thứ mười một; các địa như vậy được bao gồm vào mấy sự thanh tịnh và mấy phần (viên mãn)? Lúc ấy đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nên biết các địa như vậy bao gồm vào bốn sự thanh tịnh và mười một phần viên mãn. Bốn sự thanh tịnh bao gồm được các địa là một, sự thanh tịnh do ý lạc tăng thượng thì bao gồm địa thứ nhất, hai, sự thanh tịnh do giới tăng thượng thì bao gồm địa thứ hai, ba, sự thanh tịnh do tâm tăng thượng thì bao gồm địa thứ ba, bốn, sự thanh tịnh do tuệ tăng thượng thì trong các địa sau đó càng siêu việt và tinh tế hơn lên nên bao gồm từ địa thứ tư cho đến Như lai địa. Đó là bốn sự thanh tịnh bao gồm tất cả các địa. Thiện nam tử, mười một phần viên mãn bao gồm được các địa là (một), các vị Bồ tát trước tiên ở Giải hành địa (133) dùng mười pháp hạnh (134) mà rất khéo tu tập về thắng giải và thắng nhẫn, nên vượt qua địa ấy mà nhập vào chánh tánh ly sanh của Bồ tát. (Hai), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ nhất đã viên mãn; nhưng chưa thể chánh trí tu hành (135) trong hiện hành của sự lầm lỡ vi phạm rất nhỏ, vì vậy mà phần địa thứ hai chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Ba), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ hai đã viên mãn; nhưng chưa thể đạt được đẳng trì đẳng chí viên mãn và văn trì đà la ni viên mãn thuộc loại thế gian, vì vậy mà phần địa thứ ba chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Bốn), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ ba đã viên mãn; nhưng chưa thể làm cho pháp bồ đề phần nào đã được thì tu tập nhiều lên, tâm trí chưa bỏ được định ái và pháp ái, vì vậy mà phần địa thứ tư chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Năm), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ tư đã viên mãn; nhưng chưa thể chính xác quán sát các đế lý, chưa bỏ được cái tác ý một chiều bỏ sinh tử hướng niết bàn, chưa tu được các pháp bồ đề phần bao gồm trong phần phương tiện, vì vậy mà phần địa thứ năm chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Sáu), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ năm đã viên mãn; nhưng chưa thể chính xác quán sát sự sinh tử lưu chuyển, lại vì quá chán sự sinh tử lưu chuyển ấy, nghĩa là chưa thể ở nhiều trong sự tác ý về vô tướng, vì vậy mà phần địa thứ sáu chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Bảy), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ sáu đã viên mãn; nhưng chưa thể làm cho sự tác ý về vô tướng được không thiếu sót không gián đoạn và tu tập nhiều, vì vậy mà phần địa thứ bảy chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Tám), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ bảy đã viên mãn; nhưng chưa thể hết được sự dụng công về vô tướng, lại chưa được tự tại với hữu tướng, vì vậy mà phần địa thứ tám chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Chín), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ tám đã viên mãn; nhưng đối với những danh và những tướng diễn đạt khác nhau về hết thảy chủng loại để tuyên thuyết chánh pháp thì chưa được đại tự tại, vì vậy mà phần địa thứ chín chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Mười), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ chín đã viên mãn; nhưng chưa thể hiện tiền chứng thọ pháp thân viên mãn, vì vậy mà phần địa thứ mười chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Mười một), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ mười đã viên mãn; nhưng đối với toàn thể cảnh giới sở tri, vẫn chưa được cái trí thấy biết tinh tế không còn vướng mắc không còn chướng ngại, vì vậy mà phần địa thứ mười một chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được -- Chứng được phần này viên mãn là viên mãn tất cả các phần. Đó là mười một phần viên mãn bao gồm hết cả các địa. Lược Giải.- Đoạn Đ1 này có 6 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói 10 địa bao gồm trong 4 sự thanh tịnh và 11 phần viên mãn. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì sao địa đầu tiên tên là Cực hỷ địa, cho đến vì sao địa cuối cùng tên là Như lai địa? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan thế âm: Thiện nam tử, thành tựu lợi ích chân thật và vĩ đại, được tâm trí xuất thế mà trước đây chưa được, sinh hoan hỷ lớn lao, nên địa đầu tiên tên là Cực hỷ địa. Rời xa hết thảy mọi sự phạm giới rất nhỏ, nên địa thứ hai tên là Ly cấu địa. Chánh định và văn trì đà la ni mà ở đây đạt được thì có thể làm chỗ dựa cho vô lượng ánh sáng trí giác, nên địa thứ ba tên là Phát quang địa. Do pháp bồ đề phần ở đây thành đạt mà thiêu đốt phiền não, trí giác ở đây như ngọn lửa, nên địa thứ tư tên là Diệm tuệ địa. Chính pháp bồ đề phần nói trên, ở đây phương tiện tu tập cùng cực khó khăn mới được tự tại, nên địa thứ năm tên là Nam thăắng địa. Quán sát các hành lưu chuyển như ở trước mắt, nhưng đối với vô tướng thì tu nhiều về tác ý mới hiện ở trước mắt, nên địa thứ sáu tên là Hiện tiền địa. Đứng xa mà đã được cái tác ý không còn thiếu sót và gián đoạn về vô tướng, tiếp cận với vị trí thanh tịnh, nên địa thứ bảy tên là Viễn hành địa. Đã được vô công dụng đối với vô tướng, trong các tướng thì không còn bị phiền não hiện hành làm xao động, nên địa thứ tám tên là Bất động địa. Đối với sự thuyết pháp bằng tất cả chủng loại thì đã được tự tại, đã được trí tuệ rộng lớn và không tội lỗi, nên địa thứ chín tên là Thiện tuệ địa. Cái thân nặng nề thì như hư không, còn sự viên mãn của pháp thân thì như mây lớn giăng che khắp cả, nên địa thứ mười tên là Pháp vân địa. Diệt trừ vĩnh viễn phiền não chướng và sở tri chướng cùng cực vi tế, không còn vướng mắc không còn chướng ngại, đối với cảnh giới sở tri, tức toàn thể chủng loại, đã thể hiện chánh biến giác, nên địa thứ mười một tên là Như lai địa. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, giải thích danh nghĩa của các địa. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong các địa như thế này có mấy thứ ngu tối? có mấy sự nặng nề (136) ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, trong các địa như thế này có hai mươi hai thứ ngu tối và mười một sự nặng nề, toàn là những cái bị đối trị. Một, trong địa đầu tiên có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì ngã chấp và pháp chấp, hai là ngu tối vì những sự tạp nhiễm trong ác đạo, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Hai, trong địa thứ hai có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì sự lầm lỡ vi phạm rất nhỏ, hai là ngu tối vì các nghiệp, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Ba, trong địa thứ ba có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì tham lam của dục, hai là ngu tối đôắi với văn trì đà la ni viên mãn, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Bốn, trong địa thứ tư có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì định ái, hai là ngu tối vì pháp ái, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Năm, trong địa thứ năm có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì tác ý một chiều bỏ sinh tử, hai là ngu tối vì tác ý một chiều hướng niết bàn, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Sáu, trong địa thứ sáu có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì hiện tiền quán sát các hành lưu chuyển, hai là ngu tối vì hiện hành nhiều về hữu tướng, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Bảy, trong địa thứ bảy có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì hiện hành của tế tướng, hai là ngu tối đối với tác ý mong thuần vô tướng, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Tám, trong địa thứ tám có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì dụng công về vô tướng, hai là ngu tối đôắi với sự tự tại về hữu tướng, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Chín, trong địa thứ chín có hai thứ ngu tối, một là ngu tối đối với sự tự tại về tuệ biện đà la ni của các địa sau nữa, trong sự thuyết pháp vô lượng và trong vô lượng pháp nghĩa văn tự, hai là ngu tối đối với sự tự tại về biện tài, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Mười, trong địa thứ mười có hai thứ ngu tối, một là ngu tối đối với đại thần thông, hai là ngu tối đối với sự ngộ nhập về bí mật vi tế, cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Mười một, trong địa thứ mười một có hai thứ ngu tối, một là ngu tối vì sự vướng mắc cùng cực vi tế về toàn thể cảnh giới sở tri, hai là ngu tối vì sự chướng ngại cùng cực vi tế (về toàn thể cảnh giới sở tri), cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây. Do hai mươi hai thứ ngu tối cùng với mười một sự nặng nề như vậy nên lập ra các địa, và được vô thượng bồ đề thì thoát ly hết cả mọi sự ràng buộc ấy. Đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vô thượng bồ đề rất kỳ lạ, rất hiếm có, cho đến đạt được lợi ích lớn lao và thành quả lớn lao, là làm cho các vị Bồ tát phá được cái lưới ngu tối lớn lao đến thế, và vượt được cái rừng nặng nề lớn lao đến thế, mà hiện tiền chứng được vô thượng bồ đề ấy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ ba, phân biệt các địa bằng 22 thứ ngu tối, 11 sự nặng nề. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các địa như thế này được lập ra bởi mấy thứ đặc thù? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, khái lược có tám thứ: một là sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng, hai là sự thanh tịnh của tâm tăng thượng, ba là sự thanh tịnh của bi tăng thượng, bốn là sự thanh tịnh của độ tăng thượng, năm là sự thanh tịnh của sự phụng sự chư Phật tăng thượng, sáu là sự thanh tịnh của sự thành thục chúng sinh tăng thượng, bảy là sự thanh tịnh của sự thọ sinh tăng thượng, tám là sự thanh tịnh của uy đức tăng thượng. Sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng cho đến sự thanh tịnh của uy đức tăng thượng trong địa đầu tiên, cùng với sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng cho đến sự thanh tịnh của uy đức tăng thượng trong các địa sau đó cho đến trong Như lai địa, nên biết những sự thanh tịnh này triển chuyển hơn lên, chỉ trong Như lai địa thì trừ sự thanh tịnh của sự thọ sinh tăng thượng (137) . Thêm nữa, công đức mà địa đầu tiên có thì các địa trên nữa cũng có một cách bình đẳng, nhưng nên biết cái công đức đặc thù của bản địa thì vẫn là đặc thù (138) ; công đức của mười Bồ tát địa toàn là còn có cái trên nữa, còn công đức của Như lai địa thì nên biết không có gì trên nữa. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ tư, phân biệt các địa bằng 8 sự đặc thù. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà nói sự thọ sinh của Bồ tát đặc thù nhất đối với mọi sự thọ sinh khác? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì bốn lý do: một là do thiện căn cực kỳ trong sạch mà có sự thọ sinh ấy, hai là do sức mạnh của sự cố ý chọn lựa mà lấy sự thọ sinh ấy, ba là vì thương xót cứu vớt chúng sinh mà phải thọ sinh, bốn là bản thân không ô nhiễm vì sự thọ sinh mà còn trừ được cho người sự ô nhiễm ấy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ năm, nói các địa bằng sự thọ sinh đặc thù. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, do lý do nào mà nói các vị Bồ tát làm theo cái nguyện rộng lớn, nhiệm mầu và siêu việt? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, do bốn lý do, (một), Bồ tát biết rõ và biết khéo cái vui của niết bàn và mình đủ sức chứng lấy một cách mau chóng, (hai) nhưng vẫn bỏ sự mau chóng chứng lấy cái vui ấy, (ba) mà không cần mời mọc, không đợi biết ơn, vẫn phát ra tâm nguyện vĩ đại, (bốn) nguyện vì lợi ích chúng sinh mà ở trong cái khổ lớn lao vừa đa dạng vừa lâu dài. Vì vậy Như lai nói Bồ tát làm theo cái nguyện rộng lớn, nhiệm mầu và siêu việt. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ sáu, nói các địa bằng đại nguyện (đủ 3 đặc tính và do 4 lý do). Nói Về Các Độ Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát (trong mười địa) như vậy có mấy sự phải tu học? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, sự phải tu học của Bồ tát có sáu: thí độ, giới độ, nhẫn độ, tiến độ, định độ, tuệ độ. Lược Giải.- Đoạn Đ2 này có 18 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói về số lượng 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu sự phải tu học như vậy, mấy sự thuộc về giới học tăng thượng? mấy sự thuộc về tâm học tăng thượng? mấy sự thuộc về tuệ học tăng thượng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nên biết (thí độ giới độ nhẫn độ) ba sự đầu ấy chỉ thuộc về giới học tăng thượng, định độ một sự chỉ thuộc về tâm học tăng thượng, tuệ độ một sự chỉ thuộc về tuệ học tăng thượng, và Như lai nói rằng tiến độ thì khắp trong tất cả. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ hai, nói 6 độ thuộc 3 học. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu sự phải tu học như vậy mấy sự thuộc về phước đức tư lương? mấy sự thuộc về trí tuệ tư lương? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, sự nào thuộc về giới học tăng thượng thì thuộc về phước đức tư lương, sự nào thuộc về tuệ học tăng thượng thì thuộc về trí tuệ tư lương, còn hai sự tiến độ và định độ thì Như lai nói khắp trong tất cả. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ ba, nói 6 độ thuộc 2 tư lương. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đối với sáu sự phải tu học như vậy, Bồ tát phải tu học như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, phải tu học bằng năm cách thức sau đây: một là đầu tiên, tin hiểu sắc mạnh đối với giáo pháp tinh tế tương ứng với sáu độ, thuộc về Bồ tát tạng; hai là kế đó, đối với mười pháp hạnh thì đem cái trí được tác thành bởi sự nghe sự nghĩ sự tu mà tinh tiến tu hành; ba là theo mà giữ tâm nguyện bồ đề; bốn là thân gần các vị thiện tri thức đích thực; năm là siêng tu các loại thiện pháp một cách không có gián đoạn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ tư, nói 6 độ tu bằng 5 cách. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà qui định sự phải tu học như vậy chỉ có sáu số? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại : Thiện nam tử, vì hai lý do: một là lý do lợi ích chúng sinh, hai là lý do đối trị phiền não. Ba độ trước là để lợi ích chúng sinh, ba độ sau là để đối trị phiền não, nên nhận định như vậy. Ba độ trước lợi ích chúng sinh là Bồ tát do bố thí nên thu thập đồ dùng để lợi ích chúng sinh, do trì giới nên không tổn hại bức bách và quấy rối để lợi ích chúng sinh, do nhẫn nhục nên chịu đựng sự tổn hại bức bách và quấy rối của chúng sinh để lợi ích chúng sinh. Ba độ sau đối trị phiền não là Bồ tát do tinh tiến nên dẫu chưa trừ hẳn phiền não, cũng chưa diệt hẳn tùy miên (139) , mà vẫn dũng mãnh tu hành các loại thiện pháp, phiền não không thể khuynh động sự tu hành ấy; rồi do thiền định mà trừ hẳn phiền não; do tuệ giác mà diệt hẳn tùy miên. Đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà qui định các độ khác chỉ có bốn số? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại : Thiện nam tử, vì lý do làm sự hỗ trợ cho sáu độ. (Một), Bồ tát lợi ích chúng sinh bằng ba độ trước là dùng các nhiếp pháp (140) làm phương tiện mà thu nhận họ, đặt họ vào thiện pháp, nên Như lai nói phương tiện độ làm sự hỗ trợ của ba độ trước. (Hai), Bồ tát nếu vì hiện tại nhiều phiền não nên không thể tu hành một cách liên tục; vì ý lạc hèn kém và vì thắng giải (xao động) của cõi Dục nên không thể nội tâm an trú; vì không thể lắng nghe, vin theo và khéo tu giáo pháp Bồ tát tạng nên sự tịnh lự không thể dẫn ra cái tuệ xuất thế; (vì ba lý do như vậy), vị Bồ tát ấy thu thập phước đức tư lương đang ít và kém mà phát thệ nguyện chính yếu, để đời sau phiền não được nhẹ và nhỏ đi, như thế đó là nguyện độ; do nguyện này mà phiền não nhỏ và mỏng, có thể thực hành tinh tiến, nên Như lai nói nguyện độ làm sự hỗ trợ của tiến độ. (Ba), Bồ tát nếu thân gần các bậc thiện sĩ để lắng nghe chánh pháp và tác ý đúng lý, do nhân tố này mà xoay ý lạc hèn kém thành ý lạc siêu việt, lại được thắng giải (bình lặng) của cõi trên, như thế đó là lực độ; do lực này mà có thể nội tâm an trú, nên Như lai nói lực độ làm sự hỗ trợ của định độ. (Bốn), Bồ tát nếu đã lắng nghe, vin theo và khéo tu giáo pháp Bồ tát tạng thì có thể phát ra tịnh lự, như thế đó là trí độ; do trí này mà có thể dẫn ra cái tuệ xuất thế, nên Như lai nói trí độ làm sự hỗ trợ của tuệ độ. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ năm, nói lý do của số lượng 6 độ (và của 4 độ hỗ trợ, thành cái gọi là 10 độ). Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà nói sáu độ theo thứ tự như vậy? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì lý do dẫn ra các độ về sau: Bồ tát nếu không luyến tiếc thân mạng và tài sản thì có thể lãnh thọ và chấp trì tịnh giới, để chấp trì tịnh giới nên thực hành nhẫn nhục, thực hành nhẫn nhục thì phát ra tinh tiến, phát ra tinh tiến thì có thể thành đạt tịnh lự, thành đạt tịnh lự thì đạt được cái tuệ xuất thế. Vì thế mà Như lai nói sáu độ theo thứ tự như vậy. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ sáu, nói thứ tự của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu độ như vậy mỗi độ có mấy loại khác nhau? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, mỗi độ có ba loại. Ba loại thí độ là bố thí chánh pháp, bố trí tài sản, bố thí vô úy. Ba loại giới độ là tịnh giới diệt ác, tịnh giới sinh thiện, tịnh giới lợi người (141) . Ba loại nhẫn độ là nhẫn chịu oán hại, nhẫn chịu khổ cực, nhẫn chịu chân lý. Ba loại tiến độ là tinh tiến áo giáp (142) , tinh tiến sinh thiện, tinh tiến lợi người. Ba loại định độ là tịnh lự dẫn ra pháp lạc (143) , tịnh lự dẫn ra công đức, tịnh lự dẫn ra lợi người. Ba loại tuệ độ là tuệ giác vin thế tục đế, tuệ giác vin thắng nghĩa đế, tuệ giác vin lợi ích người (144) . Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ bảy, nói các loại của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà sáu độ gọi là độ (145) ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì năm lý do: một là vì không nhuốm bẩn, hai là vì không lưu luyến, ba là vì không tội lỗi, bốn là vì không phân biệt, năm là vì chánh hồi hướng (145B) . Không nhuốm bẩn là không nhuốm bẩn vì những cái trái ngược với các độ. Không lưu luyến là tâm không buộc vào các thành quả và dị thục quả (146) của các độ, và vào sự trả ơn về các độ. Không tội lỗi là đối với các độ, không có sự tạp nhiễm xen vào và tách rời sự phi phương tiện. Không phân biệt là đối với các độ không theo ngôn từ mà chấp đặc tính. Chánh hồi hướng là đem các độ đã làm đã qui tụ xoay lại mà cầu thành quả vô thượng bồ đề. Bạch đức Thế tôn, những gì gọi là cái trái ngược với các độ? Thiện nam tử, những cái ấy đại khái có sáu: một là ưa thích dục lạc (146B) và giàu có tự do mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích (147) , hai là tung thân miệng ý vào cái mình ưa thích mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích, ba là không nhẫn nhịn nổi khi kẻ khác khinh miệt mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích, bốn là không siêng tu tập và đắm say dục lạc mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích, năm là ở chỗ ồn náo và làm việc tạp loạn mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích, sáu là thấy nghe hay biết rồi ngôn từ hý luận mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích. Bạch đức Thế tôn, những gì là quả báo của các độ ? Thiện nam tử, quả báo ấy đại khái cũng có sáu : một là được giàu có lớn, hai là sinh chỗ tốt lành, ba là không có thù oán, không bị phá hoại, lắm nỗi vui vẻ, bốn là đứng đầu mọi người, năm là thân không tổn hại, sáu là thuộc dòng họ lớn. Bạch đức Thế tôn, những gì là sự tạp nhiễm xen vào của các độ? Thiện nam tử, là đại khái có bốn cách làm: một là làm mà không tình thương, hai là làm mà không hợp lý, ba là làm mà không thường xuyên, bốn là làm mà không thiết tha. -- Làm mà không hợp lý là khi làm một độ mà tách rời và đánh mất các độ khác (148) . Bạch đức Thế tôn, thế nào là phi phương tiện của các độ? Thiện nam tử, Bồ tát muốn đem các độ lợi ích chúng sinh, nhưng chỉ lợi ích chúng sinh bằng tiền của mà cho là đủ rồi, không đưa họ thoát chỗ ác, không đặt họ vào chỗ lành, thì như thế đó là cách làm phi phương tiện. -- Bởi vì, Thiện nam tử, không phải chỉ làm như thế cho chúng sinh mà gọi là lợi ích thật; tựa như phấn uế thì nhiều ít gì cũng không bao giờ làm cho thơm lên được, chúng sinh cũng vậy, vì là hành khổ (149) nên bản chất chúng sinh là khổ, không cách gì chỉ lợi ích tạm thời bằng tiền của mà có thể làm cho họ chuyển thành ra vui, chỉ có cách đem họ đặt vào trong thiện pháp tuyệt hảo mới được gọi là lợi ích bậc nhất. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ tám, nói về cái tên độ của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các độ như thế này có mấy sự thanh tịnh? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, Như lai không bao giờ nói ngoài năm sự nói trên mà các độ có sự thanh tịnh nào khác. Nhưng nay Như lai căn cứ chính năm sự ấy mà nói tổng quát và nói riêng biệt về sự thanh tịnh của các độ. Nói tổng quát về sự thanh tịnh của các độ thì ông nên biết có bảy sự: một là không cầu ai biết các độ ấy, hai là tự thấy có các độ ấy mà không sinh ra chấp trước, ba là không hoài nghi chính các độ ấy rằng đạt được vô thượng bồ đề hay không, bốn là không bao giờ khen mình chê người mà khinh miệt ai, năm là không kiêu ngạo buông thả, sáu là không bao giờ được chút ít mà đã mừng rằng đủ rồi, bảy là không bao giờ vì các độ này mà ganh ghét keo kiết với ai (khi thấy họ cũng có các độ ấy). Nói riêng biệt về sự thanh tịnh của các độ thì (mỗi độ) cũng có bảy sự. (Thứ nhất), các vị Bồ tát tùy thuận làm đúng như bảy sự thanh tịnh của thí độ mà Như lai nói, ấy là do của thanh tịnh, do giới thanh tịnh, do thấy thanh tịnh, do tâm thanh tịnh, do nói thanh tịnh, do trí thanh tịnh và do bẩn thanh tịnh (150) mà làm sự bố thí thanh tịnh. Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của thí độ. (Thứ hai), các vị Bồ tát khéo biết giới pháp Như lai thiết lập, khéo biết cách thức ra khỏi sự vi phạm, hoàn hảo giới pháp thường xuyên, giới pháp bền chắc, giới pháp thường làm, giới pháp thường chuyển (151) , và học tất cả giới điều. Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của giới độ. (Thứ ba), các vị Bồ tát thâm tín nghiệp báo nên khi có sự bất lợi xảy ra thì không tức bực; cũng không mắng lại, không giận không đánh, không khủng khiếp, không hý lộng, không hại lại bằng những cách bất lợi; không thù oán; khi họ sám hối (152) thì không làm họ bực bội; cũng không mong đợi họ đến sám hối; không vì sợ hay thương mà nhẫn nhục; không phải làm ơn (một lần) rồi bỏ họ liền (mà không tiếp tục lợi ích cho họ). Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của nhẫn độ. (Thứ tư), các vị Bồ tát nhận thức tính chất quân bình (chứ không gấp không hoãn) của tinh tiến, không vì dũng mãnh tinh tiến mà tự cao và lấn người, đầy đủ nghị lực lớn lao, đầy đủ tiến thủ lớn lao, có thể làm nổi và làm được, kiên cường, không bao giờ trút bỏ cái ách kéo các thiện pháp. Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của tiến độ. (Thứ năm), các vị Bồ tát có tịnh lự biết thế tục đế, có tịnh lự biết thắng nghĩa đế (153) , có tịnh lự biết cả hai đế, có tịnh lự chuyển động, có tịnh lự không dựa, có tịnh lự khéo tu (154) , có tịnh lự y như Bồ tát tạng mà lắng nghe, vin theo và tu tập vô lượng chánh định. Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của định độ. (Thứ bảy), các vị Bồ tát tách rời hai cực đoan thêm và bớt mà đi theo trung đạo thì đó là tuệ; do tuệ này mà biết đúng về ba giải thoát môn là không vô nguyện vô tướng; biết đúng về ba tự tánh là biến kế chấp y tha khởi viên thành thật; biết đúng về ba vô tánh là tướng vô tánh sinh vô tánh nghĩa vô tánh; biết đúng về thế tục đế là năm minh xứ (155) ; biết đúng về thắng nghĩa đế là bảy chân như; lại vì ở nhiều nơi lý thể thuần nhất không phân biệt và không hý luận, vì lấy pháp tổng quát vô lượng làm đối tượng, và vì là quán, nên hoàn thành được sự tùy pháp hành (156) . Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của tuệ độ. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ chín, nói sự thanh tịnh của các độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, năm sự nói trên, mỗi sự có tác dụng gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nên biết mỗi sự có một tác dụng: các vị Bồ tát vì không nhuốm bẩn nên trong hiện tại luôn luôn thiết tha, nỗ lực tu tập các độ chứ không phóng túng; vì không lưu luyến nên tạo thành cái nhân không phóng túng trong vị lai; vì không tội lỗi nên chính xác tu tập các độ một cách rất khéo hoàn hảo, trong sáng và tươi trắng; vì không phân biệt nên mau chóng viên mãn các độ bằng phương tiện khéo léo; vì chánh hồi hướng nên sinh ra ở đâu, các độ, và những thành quả cùng dị thục quả khả ái của các độ, đều có đặc tính vô tận, đến tận vô thượng bồ đề. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười, nói tác dụng của 5 sự. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các độ được nói như vậy, cái gì rất rộng lớn? cái gì không nhiễm ô? cái gì rất sáng rực? cái gì không thể động? cái gì rất thanh tịnh? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, đặc tính không nhuốm bẩn, đặc tính không lưu luyến và đặc tính chánh hồi hướng là rất rộng lớn; đặc tính không tội lỗi và đặc tính không phân biệt là không nhiễm ô; tư duy quyết trạch mà làm là rất sáng rực; nhập vào vị trí không còn thoái chuyển là không thể động; gồm trong địa thứ mười và Như lai địa là rất thanh tịnh. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười một, nói 5 sắc thái của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà những thành quả và dị thục quả khả ái của các độ luôn luôn vô tận, và chính các độ cũng vô tận? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì triển chuyển dựa nhau mà sinh mãi, và tu tập không hề gián đoạn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười hai, nói sự vô tận của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào mà các vị Bồ tát ưa thích sâu xa đối với các độ chứ không đối với dị thục quả (157) khả ái của các độ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì năm lý do: một, vì các độ là nhân tố của sự vui mừng tối thượng, hai, vì các độ là nhân tố của sự lợi ích rốt ráo cho mình người, ba, vì các độ là nhân tố của dị thục quả khả ái trong thì gian vị lai, bốn, vì các độ không phải là chỗ dựa của mọi sự tạp nhiễm, năm, vì các độ không phải là những cái cuối cùng rồi cũng suy tàn và hỏng mất. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười ba, nói sự ưa thích các độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, tất cả các độ, mỗi độ có mấy thứ uy đức tối thắng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, tất cả các độ, mỗi độ đều có bốn thứ uy đức tối thắng: một là tu tập chính xác các độ thì trừ bỏ keo lẫn, phạm giới, căm phẫn, lười nhác, loạn động, kiến hoặc; hai là tu tập chính xác các độ thì làm tư lương chân thật cho vô thượng bồ đề; ba là tu tập chính xác các độ thì tự thuần hóa và lợi ích người; bốn là tu tập chính xác các độ thì vị lai được những dị thục quả khả ái vừa quảng đại vừa vô tận (158) . Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười bốn, nói uy đức của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, tất cả các độ như vậy nhân tố là gì? thành quả là gì? thật lợi là gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, tất cả các độ như vậy lấy tâm đại bi làm nhân tố, lấy sự ích lợi chúng sinh của dị thục quả khả ái làm thành quả, lấy vô thượng bồ đề làm thật lợi. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười lăm, nói nhân quả thật lợi của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, nếu các vị Bồ tát đầy đủ tiền của vô tận và thành tựu từ bi rộng lớn thì vì sao thế giới này hiện có những người nghèo khổ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, ấy là lỗi vì cái nghiệp của họ. Nếu chúng sinh không có ác nghiệp của mình cản trở lấy mình thì thế giới này làm gì có người nghèo khổ khi Bồ tát thường có lòng làm lợi ích cho người, lại thường có tiền của vô tận. Tựa như quỉ đói bị nóng khát dữ dội hành hạ cơ thể, vậy mà thấy nước biển khô cả. Như thế đâu phải lỗi ở biển, lỗi vì nghiệp của quỉ đói mà thôi. Tương tự như vậy, Bồ tát bố thí tiền của thì như biển cả, nên không vì gì Bồ tát, mà chỉ vì ác nghiệp của chúng sinh, như vì ác nghiệp của quỉ đói làm cho quỉ đói có cái ác báo không có nước uống. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười sáu, nói nghiệp chúng sinh cản trở chúng sinh hưởng được ích lợi của 6 độ. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, bồ tát dùng độ nào lĩnh hội cái tánh không tự tánh của các pháp? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, dùng tuệ độ thì lĩnh hội được cái tánh không tự tánh của các pháp. Bạch đức Thế tôn, nếu tuệ độ lĩnh hội cái tánh không tự tánh thì sao không lĩnh hội cái tánh có tự tánh (159) ? Thiện nam tử, Như lai không bao giờ nói đem cái tánh không tự tánh lĩnh hội cái tánh không tự tánh (như ý ông hỏi), bởi vì cái tánh không tự tánh thì siêu việt văn tự mà chứng ngộ bên trong. Nhưng không thể bỏ ngôn ngữ văn tự mà nói được, nên Như lai nói tuệ độ lĩnh hội cái tánh không tự tánh của các pháp (160) . Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười bảy, nói tuệ độ chứng thắng nghĩa. Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói độ, độ gần và độ lớn, vậy độ là thế nào? độ gần là thế nào? độ lớn là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nếu các vị Bồ tát trải qua vô số thì gian, tu tập thí cho đến tuệ, thiện pháp thành tựu mà phiền não vẫn còn hiện hành như cũ, chưa chế ngự được chúng mà lại bị chúng chế ngự, thì đó là thắng giải bậc kém và bậc vừa trong Giải hành địa, và gọi là độ. Trải qua vô số thì gian nữa, tu tập thí cho đến tuệ, thiện pháp thành tựu được tăng thượng dần lên mà phiền não vẫn còn hiện hành như cũ, nhưng chế ngự được chúng chứ không bị chúng chế ngự, thì đó là từ địa thứ nhất sắp lên, và gọi là độ gần. Trải qua vô số thì gian nữa, tu tập thí cho đến tuệ, thiện pháp thành tựu càng tăng thượng hơn nữa, mọi phiền não không còn hiện hành, thì đó là từ địa thứ tám sắp lên, và gọi là độ lớn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ thứ mười tám, và là cuối cùng của đoạn Đ2, nói về 3 cấp của 6 độ. Nói Về Chướng Ngại Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong các Bồ tát địa ấy, tùy miên của phiền não có thể có mấy loại? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, khái lược có ba loại. Một là loại tùy miên hỗ trợ (161) , ở trong năm Bồ tát địa trước, tại sao, vì chính hiện hành của phiền não không phải câu sinh là những thứ hỗ trợ cho hiện hành của phiền não câu sinh, và lúc bấy giờ vĩnh viễn không còn nữa, nên gọi là tùy miên hỗ trợ. Hai là loại tùy miên liệt nhược, là hiện hành nhỏ nhiệm trong địa thứ sáu và địa thứ bảy, nếu (162) tu đạo chế ngự thì chúng không hiện hành nữa. Ba là tùy miên nhỏ nhiệm, là sở tri chướng trong địa thứ tám sắp lên, ở đó mọi phiền não không còn hiện hành nữa (163) . Đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, những loại tùy miên này do mấy loại thô trọng (164) bị diệt trừ mà làm rõ ra (165) ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, chỉ do hai loại: (một), do loại thô trọng da ngoài bị diệt trừ mà làm rõ ra loại tùy miên thứ nhất và loại tùy miên thứ hai; (hai), do loại thô trọng da trong bị diệt trừ mà làm rõ ra loại tùy miên thứ ba; còn (ba), loại thô trọng xương cốt bị diệt trừ thì Như lai nói vĩnh viễn diệt trừ toàn thể tùy miên, và vị trí là ở Như lai địa. Đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, phải trải qua mấy vô số kiếp mới diệt trừ được những loại thô trọng như vậy? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, phải trải qua ba vô số kiếp lớn, hoặc vô lượng kiếp mà sát na, nháy mắt, chốc lát, nửa buổi, một buổi (166) , ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, không thể (lấy những thì gian này làm đơn vị mà) tính kể. Đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong các Bồ tát địa, Bồ tát phát ra phiền não thì phiền não ấy là sắc thái gì? có nhược điểm gì? có ưu điểm gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, phiền não ấy là sắc thái không ô nhiễm, vì sao, vì các vị Bồ tát này, ngay trong địa thứ nhất, quyết định đã khéo thông đạt pháp tánh các pháp, do đó, các vị phải biết rõ (có cần thiết) mới để cho phiền não phát ra, không phải không biết, thế nên Như lai nói là sắc thái không ô nhiễm. Trong bản thân các vị Bồ tát này, phiền não ấy không thể gây ra khổ não, nên không có nhược điểm gì. Phiền não được các vị Bồ tát này để cho phát ra như vậy có năng lực cắt đứt cái nhân đau khổ trong chúng sinh giới, nên nó có vô số ưu điểm. Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Thật là kỳ lạ, bạch đức Thế tôn ! Vô thượng bồ đề có công đức lớn lao đến như vậy, ấy là làm cho phiền não của Bồ tát phát ra mà còn hơn cả thiện căn của chúng sinh, của Thanh văn và Độc giác, huống chi vô lượng công đức khác. Lược Giải.- Đoạn Đ3 này có 4 đoạn nhỏ: thứ nhất nói chủng loại của tùy miên, thứ hai nói thô trọng bị diệt trừ, thứ ba nói thì gian diệt trừ thô trọng, thứ tư nói phiền não của Bồ tát. Nói Về Nhất Thừa Chính Văn.- Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn dạy Thanh văn thừa hay Đại thừa chỉ là nhất thừa, lời này có mật ý gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, như trong Thanh văn thừa Như lai nói những tiết mục của các pháp là năm uẩn, sáu xứ ở trong, sáu xứ ở ngoài, và các tiết mục đồng đẳng như vậy, thì trong Đại thừa Như lai nói chính các pháp ấy là đồng nhất pháp tánh, đồng nhất lý thú (167) . Thế nên Như lai không nói các thừa có tính sai biệt. -- Chỉ có những kẻ y theo ngôn từ mà vọng phân ý nghĩa, mới thành một số thêm lên, một số bớt đi (168) , lại cho những điểm sai biệt của các thừa là mâu thuẫn nhau, rồi cứ thế mà triển chuyển tranh luận. Mật ý ở đây là như vậy. Lược Giải.- Trong phẩm bốn đã nói nhất thừa. Ở đây lại nói nữa. Mỗi chỗ có một lý do. Nên coi kyՠlại. Nhất là phải coi kyլ thật kyլ về nhất thừa của Pháp hoa. Để xác quyết chỗ qui túc của toàn bộ Phật pháp là ở đâu. Kết Thúc Pháp Thoại Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Mười Bồ tát địa bao gồm những gì danh nghĩa thế nào đối trị cái gì đặc thù có gì phát sinh những gì đại nguyện ra sao và bao tiết mục; đó là đại thừa Như lai đã nói. Qua các địa ấy, khéo léo tu tập thì sẽ thành tựu vô thượng đại giác. Như lai tuyên thuyết tiết mục các pháp, lại nói các pháp đồng nhất lý thú; nghĩa là đối với thừa thấp thừa cao, Như lai nói rằng không tính dị biệt. Chỉ có những kẻ y theo ngôn từ vọng phân ý nghĩa mới có thêm bớt, cho rằng hai thừa mâu thuẫn với nhau, nhận thức ngu ngơ thành ra tranh cãi. Lúc ấy đại bồ tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là gì? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, pháp thoại này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về các địa độ. Ông hãy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về các địa độ thì trong đại hội có bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được chánh định Ánh sáng đại thừa của Bồ tát. Nói Tâm Ấy Là Quả Sở Đắc D1. Nói Về Thân Phật D2. Nói Về Tiếng Phật Đ1. Nói Về Kinh Và Luật Đ2. Nói Về Luận Đ3. Nói Về Tổng Trì D3. Mấy Điều Quyết Trạch D4. Kết Thúc Pháp Thoại Nói Về Thân Phật Chính Văn.- Phẩm tám: Phật Sự (169) [^] Bấy giờ đại bồ tát Mạn thù (170) thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói pháp thân Như lai, vậy pháp thân Như lai có những sắc thái gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, khéo tu rốt ráo (171) các độ của các địa mà hoàn thành chuyển y (172) , thì (chuyển y) đó là sắc thái của pháp thân Như lai. Sắc thái này vì hai lý do nên bất khả tư nghị, đó là siêu việt hý luận và siêu việt thi vi -- mà chúng sinh thì hý luận và thi vi (173) . Bạch đức Thế tôn, chuyển y của Thanh văn và Độc giác được gọi là pháp thân không? Thiện nam tử, không. Bạch đức Thế tôn, vậy nên gọi là gì? Thiện nam tử, nên gọi là giải thoát thân. Do giải thoát thân nên nói Thanh văn Độc giác cùng với Như lai rất bình đẳng (174) , nhưng do pháp thân nên có khác biệt. Pháp thân Như lai khác biệt là vì có vô lượng công đức (175) vừa tối thắng vừa khác biệt, toán số ví dụ không thể diễn tả. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, chúng con nên hiểu như thế nào về trạng huống sinh khởi của đức Thế tôn? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, hóa thân Như lai mà động tác thì cũng như thế giới sinh khởi mọi thứ; (hóa thân ấy) được mọi công đức của Như lai trang sức và duy trì. Ông nên biết hóa thân thì có sinh khởi, pháp thân thì phi sinh khởi. Bạch đức Thế tôn, chúng con nên hiểu như thế nào về phương tiện khéo léo của hóa thân Thế tôn đã thị hiện? Thiện nam tử, khắp cả cõi Phật của Như lai là đại thiên thế giới này, ở trong vương gia tăng thượng mà ai cũng công nhận hay trong gia đình đại phước mà ai cũng công nhận, Như lai cùng lúc (176) vào thai, đản sinh, lớn lên, hưởng dục, xuất gia, thị hiện khổ hạnh, rồi bỏ khổ hạnh mà thành đẳng chánh giác, thị hiện với thứ tự như vậy thì gọi đó là phương tiện khéo léo của hóa thân Như lai thị hiện (177) . Lược Giải.- Đoạn D1 này có 2 đoạn nhỏ: một nói về pháp thân, một nói về hóa thân. Nói Về Kinh Và Luật Chính Văn.- Đại bồ tát Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, có mấy loại tiếng nói của hóa thân Thế tôn chủ trì, tiếng nói mà nhờ đó những người được hóa độ chưa thành thục thì thành thục, đã thành thục thì cũng vin vào đó mà mau được giải thoát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, tiếng nói Như lai khái lược có ba loại: một là khế kinh, hai là điều phục, ba là bản mẫu. Bạch đức Thế tôn, khế kinh là gì? điều phục là gì? bản mẫu là gì? Thiện nam tử, chỗ nào Như lai căn cứ những sự bao quát mà thuyết pháp thì đó là khế kinh. Những sự ấy có bốn, có chín và có hai mươi chín. Bốn sự là những gì, một là lắng nghe, hai là hướng đến, ba là tu học, bốn là chứng ngộ (178) . Chín sự là gì, một là thiết lập chúng sinh, hai là thiết lập sự thọ dụng của chúng sinh, ba là thiết lập sự sinh khởi của chúng sinh, bốn là thiết lập sự tồn tại của chúng sinh, năm là thiết lập sự nhiễm tịnh của chúng sinh, sáu là thiết lập sự sai biệt của chúng sinh, bảy là người nói, tám là pháp được nói, chín là chúng hội nghe nói (179) . Hai mươi chín sự là gì, loại tạp nhiễm có 1 là các hành, 2 là các hành lưu chuyển, 3 là nơi đó chấp ngã nên vị lai lưu chuyển, 4 là nơi đó chấp pháp nên vị lai lưu chuyển; loại thanh tịnh có 5 là chánh niệm pháp được nghe, 6 là tinh tiến về pháp ấy, 7 là tâm an định, 8 là sống trong pháp lạc; 9 là phương pháp giải thoát khổ não; 10 là biến tri khổ não -- sự này có ba: biến tri chỗ của những thứ điên đảo, biến tri chỗ của những thứ tà hành, biến tri chỗ của những thứ nội ly thượng mạn -- 11 là diệt nhân, 12 là tác chứng, 13 là tu tập; 14 là cứng chắc, 15 là hành tướng của sự cứng chắc, 16 là sở duyên của sự cứng chắc, 17 là sự khéo quan sát cái đã đoạn và cái chưa đoạn của sự cứng chắc; 18 là sự tán loạn của sự cứng chắc, 19 là sự không tán loạn của sự cứng chắc, 20 là chỗ dựa của sự không tán loạn, 21 là tu tập một cách cần cù nỗ lực; 22 là thắng ích của sự tu tập, 23 là sự bền chắc của sự tu tập, 24 là thu hoạch tuệ giác của thánh giả, 25 là thu hoạch sự hỗ trợ của tuệ giác ấy, 26 là thông suốt chân như, 27 là chứng đắc niết bàn; 28 là sự siêu việt trên đỉnh chánh kiến ngoại đạo của sự chánh kiến về pháp Như lai thiện thuyết ẫ dầu sự chánh kiến ấy đang còn hữu lậu, 29 là sự thoái lui của sự chánh kiến ấy -- nhưng không tu tập pháp thiện thuyết nên nói là thoái lui, chứ không phải sự chánh kiến ấy có gì sai lầm mà gọi là thoái lui (180) . Lược Giải.- Trên đây nói về kinh tạng, dưới đây nói về luật tạng. Chính Văn.- Thiện nam tử, chỗ nào Như lai do các vị Thanh văn và các vị Bồ tát mà nói về pháp biệt giải thoát và pháp tương ứng với biệt giải thoát thì đó là điều phục. Bạch đức Thế tôn, biệt giải thoát của Bồ tát bao gồm vào mấy tiết mục? Thiện nam tử, nên biết có bảy tiết mục, một là nói về qui tắc thọ giới, hai là nói về các giới pháp nặng (181) , ba là nói về sự phạm giới, bốn là nói về tánh tình còn phạm giới, năm là nói về tánh tình không phạm giới (182) , sáu là nói về cách sám hối sự phạm giới, bảy là nói về sự xả giới. Nói Về Luận Chính Văn.- Thiện nam tử, chỗ nào Như lai đem mười một tiết mục mà thuyết pháp thì đó là bản mẫu (183) . Mười một tiết mục ấy là những gì, tiết mục 1 là thế tục đế, tiết mục 2 là thắng nghĩa đế, tiết mục 3 là sở duyên của các pháp bồ đề phần, tiết mục 4 là hành tướng, tiết mục 5 là tự tánh, tiết mục 6 là quả của tự tánh, tiết mục 7 là sự tiếp nhận khai thị của tự tánh, tiết mục 8 là chướng ngại của tự tánh, tiết mục 9 là tùy thuận của tự tánh, tiết mục 10 là lỗi lầm của tự tánh, tiết mục 11 là thắng ích của tự tánh. Tiết mục 1, thế tục đế có 3 mục: mục 1 nói về ngã chấp, mục 2 nói về biến kế chấp, mục 3 nói về tác dụng của các pháp (184) . Tiết mục 2, thắng nghĩa đế là nói về 7 chân như. Tiết mục 3, sở duyên của các pháp bồ đề phần là nói về tất cả chủng loại sở tri. Lược Giải.- Đ2 có mấy đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ kê tên 11 tiết mục của luận tạng và lược giải các tiết mục 1, 2 và 3. Chính Văn.- Tiết mục 4, hành tướng là nói về 8 hành quán: mục 1 là đế thật, mục 2 là an lập, mục 3 là quá thất, mục 4 là công đức, mục 5 là lý thú, mục 6 là lưu chuyển, mục 7 là đạo lý, mục 8 là tổng biệt. Mục 1, đế thật là nói về chân như của các pháp. Mục 2, an lập là lập ra ngã chấp, là lập ra biến kế chấp, là lập ra quyết định, phân tách, hỏi lại và lặng bỏ, là lập ra ẩn mật và minh bạch hay ký biệt và sai biệt (185) . Mục 3, quá thất là nói pháp tạp nhiễm có nhiều mặt tội lỗi. Mục 4, công đức là nói pháp thanh tịnh có nhiều mặt thắng ích. Mục 5, lý thú có 6 thứ: lý thú chân lý, lý thú chứng đắc, lý thú giáo hóa, lý thú siêu việt nhị biên, lý thú bất khả tư nghị, lý thú mật ý. Mục 6, lưu chuyển là 3 thì gian, 3 hữu vi tướng và 4 duyên tố. Mục 7, đạo lý là 4 đạo lý: thứ 1 là đạo lý quán đãi, thứ 2 là đạo lý tác dụng, thứ 3 là đạo lý chứng thành, thứ 4 là đạo lý pháp nhĩ (186) . Thứ 1, đạo lý quán đãi là do nhân tố và duyên tố mà phát sinh các hành và phát sinh ngôn từ liên quan các hành. Thứ 2, đạo lý tác dụng là do nhân tố và duyên tố mà các pháp sinh, các pháp thành, các pháp sinh thành rồi tác dụng. Thứ 3, đạo lý chứng thành là do nhân tố và duyên tố mà làm cho ý nghĩa nói ra được xác lập và làm cho người nghe hiểu biết chính xác (187) . Thứ 4, đạo lý pháp nhĩ là Như lai xuất thế hay không xuất thế, pháp tánh các pháp vẫn an lập, pháp giới các pháp vẫn an trú (188) . Mục 8, tổng biệt là trước nói tổng quát bằng một câu về pháp, sau đó nói những câu phân tách khác nhau làm cho rõ ràng trọn vẹn. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ nói về hành tướng, tiết mục 4. Chính Văn.- Thêm nữa, đạo lý chứng thành có 2 loại, là loại trong sáng và loại vẩn đục. Do 5 sắc thái mà trong sáng và do 7 sắc thái mà vẩn đục. (Thứ nhất), do 5 sắc thái mà trong sáng là hiện thấy, suy luận, luận cứ, toàn hảo và chánh giáo. Hiện thấy là các hành vô thường, các hành khổ não, các pháp vô ngã, đại loại như vậy, đó là những điều mà hiện lượng thấy được. Suy luận là dựa vào sự hiện thấy, tức xét thấy các hành là tính sát na, là tính có đời sau, là tính nghiệp lành nghiệp dữ không mất; tính sát na là do sự vô thường thô thiển mà biết, tính có đời sau là do chúng sinh có nhiều loại vì có nhiều loại nghiệp mà biết, tính nghiệp lành nghiệp dữ không mất là do chúng sinh có vui có khổ mà biết, đại loại như vậy, đó là những điều không hiện thấy mà có thể suy luận. Luận cứ là dẫn chứng từ những thí dụ cùng tính chất, tức đối với các hành nơi bản thân hay nơi ngoại giới đều có thể dẫn sự sống chết mà ai cũng biết để ví dụ, dẫn mọi sự khổ não của sự sống chết mà ai cũng biết để ví dụ, dẫn sự bất tự do mà ai cũng biết để ví dụ, dẫn sự thịnh suy mà ai cũng biết để ví dụ, đại loại như vậy. Toàn hảo là do hiện thấy, do suy luận và do luận cứ mà làm cho chủ thuyết lập ra được quyết định. Chánh giáo là những giáo huấn tốt đẹp trong sáng, tức những tuyên thuyết của bậc toàn giác, như tuyên thuyết niết bàn là vắng lặng trọn vẹn, đại loại như vậy. Do 5 sắc thái như vậy mà gọi là khéo quan sát về đạo lý trong sáng, và do sự trong sáng ấy mà đạo lý như vậy đáng được học tập. Bạch đức Thế tôn, bậc toàn giác thì có mấy sắc thái? Thiện nam tử, đại khái có 5 sắc thái: một là xuất hiện thế giới thì cái tiếng toàn giác ai cũng nghe cả; hai là toàn hảo 32 tướng quí của bậc đại trượng phu; ba là đầy đủ 10 trí lực loại được mọi nghi hoặc cho chúng sinh; bốn là đầy đủ 4 vô úy tuyên thuyết chánh pháp, không bị sự biện luận của ai khuất phục mà lại khuất phục được những sự tà luận; năm là trong chánh pháp được tuyên thuyết thì 8 thánh đạo và 4 thánh quả toàn là những cái có thể thực hiện ngay trong hiện tại. Sự xuất hiện thế giới (với cái tiếng toàn giác và đủ các tướng quí), sự giải quyết nghi hoặc, sự không bị khuất phục mà khuất phục được người khác, sự hiện tại có thể thực hiện thánh đạo và thánh quả, 5 sự như vậy là sắc thái của bậc toàn giác mà ông nên biết. Và, như thế, đạo lý chứng thành do hiện lượng, do tỷ lượng (cùng những luận cứ và sự toàn hảo của tỷ lượng ấy), và do chánh giáo lượng, do 5 sắc thái như vậy mà gọi là trong sáng. (Thứ hai), do 7 sắc thái mà vẩn đục là 1, một phần cùng tính chất, 2, một phần khác tính chất, 3, toàn phần cùng tính chất, 4, toàn phần khác tính chất, 5, ví dụ khác tính chất, 6, không phải toàn hảo, 7, không phải chánh giáo. Nếu đưa ra lý do vì ý thức nhận biết thì đó là toàn phần cùng tính chất. Nếu đưa ra lý do vì sắc thái, vì đặc tính, vì tác dụng, vì nhân quả, mỗi lý do riêng biệt của mỗi pháp, quyết định khác nhau, thì đó là toàn phần khác tính chất. Nếu đưa ra lý do mà một phần cùng tính chất và ví dụ lại toàn phần khác tính chất thì vì vậy mà chủ thuyết lập ra không được quyết định, nên đó là không phải toàn hảo. Nếu đưa ra lý do mà một phần khác tính chất và ví dụ lại toàn phần cùng tính chất thì vì vậy mà chủ thuyết lập ra không được quyết định, nên đó là không phải là toàn hảo. Không phải toàn hảo, không phải khéo quan sát đạo lý trong sáng, thì do sự vẩn đục ấy mà không đáng học tập. Ví dụ khác tính chất, và không phải chánh giáo, thì ông nên biết bản chất toàn là vẩn đục (189) . Lược Giải.- Đoạn nhỏ này, như đã nói ở ghi chú 187, là nói thêm về đạo lý 3, đạo lý chứng thành. Chính Văn.- Tiết mục 5, tự tánh là sự tu hành và sự vin theo mà Như lai nói cho để thủ đắc các pháp bồ đề phần là niệm trú và các mục cùng loại. Tiết mục 6, quả của tự tánh là những sự diệt trừ phiền não và những thành quả công đức thuộc cả phạm vi thế gian và phạm vi xuất thế. Tiết mục 7, sự tiếp nhận khai thị của tự tánh là đối với cái quả nói trên, đem cái trí giải thoát mà lãnh nhận và khai thị phong phú cho người. Tiết mục 8, chướng ngại của tự tánh là chính các pháp ô nhiễm gây chướng ngại cho sự tu hành các pháp bồ đề phần. Tiết mục 9, tùy thuận của tự tánh là những gì làm cho sự tu hành ấy nhiều hơn lên. Tiết mục 10, tội lỗi của tự tánh là những tội lỗi của các pháp chướng ngại nói trên. Tiết mục 11, thắng ích của tự tánh là những công đức của các pháp tùy thuận nói trên. Lược Giải.- Đây là đoạn nhỏ chót hết của Đ2, lược giải các tiết mục còn lại là 5 đến 11. Nói Về Tổng Trì Chính Văn.- Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, xin đức Thế tôn nói tóm tắt cho các vị Bồ tát biết sự tổng trì kinh luật luận, một sự tổng trì không cọng hữu với ngoại đạo; do sự tổng trì không cọng hữu này mà làm cho các vị Bồ tát ngộ nhập được mật ý sâu xa của các pháp đức Thế tôn tuyên thuyết. Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, ông hãy nghe kyծ Như lai nay sẽ nói tóm tắt cho các ông về sự tổng trì không cọng hữu, để làm cho các vị Bồ tát khéo ngộ nhập những ngôn từ mật ý mà Như lai tuyên thuyết. Thiện nam tử, dầu pháp tạp nhiễm, dầu pháp thanh tịnh, Như lai nói tất cả toàn không tác dụng, toàn không bản ngã, bởi vì hết thảy chủng loại đều là phi thi vi. Không phải pháp tạp nhiễm trước bẩn sau sạch, không phải pháp thanh tịnh sau sạch trước bẩn. Nơi cái thân nặng nề, những kẻ phàm phu chấp pháp chấp ngã với bao đặc tính và chi tiết. Chính vọng kiến tùy miên này làm duyên tố nên chấp ta và của ta. Chính vọng kiến tùy miên này bảo ta thấy, ta nghe, ta ngửi, ta nếm, ta chạm, ta biết, ta ăn, ta làm, ta bẩn, ta sạch, đại loại như vậy chuyển thành tà hành. Nếu ai biết đúng như thế này thì vĩnh viễn loại bỏ cái thân nặng nề, đạt được sự không còn phiền não, cùng cực thanh tịnh, siêu việt hý luận, không làm chỗ nương tựa, không có sự thi vi. Đó là tóm tắt về tổng trì không cọng hữu. Lúc ấy đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây. Tất cả các pháp nhiễm cũng như tịnh, toàn vô tác dụng toàn phi bản ngã: phi thi vi này mà Như lai nói, thì bẩn với sạch không phải trước sau. Vọng kiến tùy miên làm duyên tố chính, thấy thân nặng nề là ta của ta, và vọng nói rằng ta thấy ta biết, ta ăn ta làm ta bẩn ta sạch. Đúng như sự thật mà biết như vậy, vĩnh viễn diệt được cái thân nặng nề, được phi nhiễm tịnh và siêu hý luận, không là chỗ dựa không là thi vi. Lược Giải.- Tổng trì không cọng hữu được dạy như trên đây thì đúng là Bát nhã và Không của Bát nhã. Mấy Điều Quyết Trạch Chính Văn.- Lúc ấy đại bồ tát Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, chúng con nên nhân thức như thế nào về trạng thái sinh khởi của tâm đức Thế tôn? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, Như lai thì không phải được biểu thị bằng sự sinh khởi của tâm ý thức. Thế nhưng Như lai có sự sinh khởi của cái tâm không cần da hành và sự sinh khởi ấy nên biết tựa như sự biến hóa. Bạch đức Thế tôn, pháp thân Thế tôn tách rời mọi sự da hành, da hành không có thì làm sao có sự sinh khởi của tâm? Thiện nam tử, do sức mạnh da hành mà trước đó đã tu tập về tuệ độ nên tâm sinh khởi. Tựa như kẻ đang ngủ một cách không có tâm thức gì trong giấc ngủ thì không có da hành gì để thức cả, nhưng do sức mạnh da hành trước đó nên vẫn thức dậy. Lại như vị đang nhập định Diệt tận thì không có da hành gì để xuất định, xuất định là do da hành trước đó. Như ngủ và định Diệt tận mà tâm sinh khởi trở lại, Như lai cũng do sức mạnh da hành mà trước đó đã tu tập về tuệ độ, nên vẫn có sự sinh khởi của tâm. Bạch đức Thế tôn, hóa thân của đức Thế tôn có tâm thức hay không tâm thức? Thiện nam tử, không phải có tâm thức, cũng không phải không tâm thức, vì không có cái tâm do nơi mình nhưng có cái tâm bởi nơi người (190) Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trú xứ với đối tượng, hai thứ ấy của đức Thế tôn có gì khác nhau? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, trú xứ của Như lai là hết thảy chủng loại về cõi Phật tinh khiết mà chư Như lai cùng có, và được trang hoàng bởi vô lượng công đức bất khả tư nghị. Đối tượng của Như lai là tất cả chủng loại về năm giới: giới chúng sinh, giới thế giới, giới các pháp, giới người được thuần hóa và giới phương pháp thuần hóa. Như thế đó gọi là hai thứ khác nhau. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đức Thế tôn thành đẳng chánh giác, chuyển chánh pháp luân, nhập đại niết bàn, ba sự như vậy con nên hiểu là sắc thái gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, nên biết ba sự như vậy toàn là sắc thái bất nhị: phi thành đẳng chánh giác, phi không thành đẳng chánh giác; phi chuyển chánh pháp luận, phi không chuyển chánh pháp luân; phi nhập đại niết bàn, phi không nhập đại niết bàn. Tại sao, bởi vì pháp thân Như lai thì cứu cánh thanh tịnh mà hóa thân Như lai thì thường xuyên thị hiện. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các loại chúng sinh chỉ thấy nghe và phụng sự hóa thân Thế tôn mà sinh công đức, vậy đức Thế tôn là duyên tố gì của họ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, Như lai là nhân duyên cho tăng thượng duyên của họ, bởi vì hóa thân Như lai là do cái lực của pháp thân Như lai gìn giữ. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật : Bạch đức Thế tôn, cùng là không có da hành mà tại sao pháp thân Thế tôn vì chúng sinh mà phóng ánh sáng lớn của trí giác vĩ đại, lại xuất ra vô lượng ảnh tượng hóa thân, còn giải thoát thân của Thanh văn và Độc giác lại không có những sự ấy? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, tựa như cùng là không có da hành, nhưng tinh thể của nhật nguyệt thì phóng ánh sáng lớn chứ không phải những tinh thể khác, ấy là vì chúng sinh đại oai đức giữ gìn, vì nghiệp lực tăng thượng của chúng sinh; thêm nữa, như từ viên ngọc ma ni được chạm khắc bởi tay thợ lành nghề mới xuất hiện đường nét, chứ không phải từ những viên ngọc không được chạm khắc. Tương tự như vậy, do cái tuệ độ vin hết vô lượng pháp giới cùng cực khéo léo tu tập mài dủa mới thành pháp thân Như lai, từ pháp thân này mới phóng được ánh sáng trí giác vĩ đại và xuất ra vô lượng ảnh tượng hóa thân, chứ không phải chỉ từ giải thoát thân mà có những sự ấy. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn nói, do oai đức giữ gìn của đức Thế tôn và của chư Bồ tát mà làm cho chúng sinh ở trong cõi Dục thì sinh vào nhà đại phú quí của đẳng cấp Sát đế lợi hay đẳng cấp Bà la môn, cái thân con người cùng với tài sản bảo vật không thứ nào không toàn hảo; sinh trong chư thiên cõi Dục, sinh trong cõi Sắc và cõi Không, thì cũng toàn hảo thân thể và tài bảo ở những cõi ấy. Bạch đức Thế tôn, lời này có mật ý gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, Như lai với Bồ tát đem oai đức mà giữ gìn chánh pháp (191) ; bất cứ chỗ nào có thể làm cho chúng sinh được thân thể và tài bảo toàn hảo, thì Như lai tùy nghi mà nói chánh pháp ấy cho họ. Rồi ai có năng lực chính xác tu hành chánh pháp ấy, thì sinh ra chỗ nào, thân thể và tài bảo nhận được cũng đều toàn hảo; ai chống đối khinh phá chánh pháp ấy, lại quấy phá tức giận Như lai, thì mạng chung rồi sinh ra ở đâu, thân thể và tài bảo nhận được cũng toàn thấp kém. Do vậy, oai đức giừ gìn của Như lai và Bồ tát không những làm cho chúng sinh thân thể và tài bảo đều toàn hảo, mà oai đức giữ gìn của Như lai và Bồ tát cũng làm cho chúng sinh thân thể và tài bảo đều thấp kém. Đại bồ tát Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong những thế giới dơ bẩn thì việc gì dễ có và việc gì khó có? trong những thế giới tinh khiết thì việc gì dễ có và việc gì khó có? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, trong những thế giới dơ bẩn thì có tám sự dễ có và hai sự khó có. Tám sự dễ có là dễ có ngoại đạo, dễ có kẻ khổ, dễ có đẳng cấp gia tộc lắm sự thịnh suy, dễ có sự làm ác, dễ có sự phạm giới, dễ có các đường dữ, dễ có giáo lý thấp, dễ có Bồ tát ý lạc và da hành đều thấp kém; hai sự khó có là khó có sự đến đó của các vị Bồ tát mà ý lạc và da hành đều tăng thượng, khó có sự xuất hiện của Như lai. Trong những thế giới tinh khiết thì trái ngược với trên đây, có tám sự rất khó có và có 2 sự dễ có. Lược Giải.- Đoạn D3 này có 7 đoạn nhỏ tất cả, quyết trạch khá nhiều vấn đề về Phật. Kết Thúc Pháp Thoại Chính Văn.- Lúc ấy đại bồ tát Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh là gì? Chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, pháp thoại này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về Phật sự. Ông hãy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy. Khi đức Thế tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về Phật sự thì trong đại hội có bảy mươi lăm ngàn đại bồ tát đều được chứng ngộ pháp thân viên mãn. Lời Nói Cuối Sau khi dịch giải xong, tôi tìm được 1 bản chú giải Giải thâm mật mà có phần chắc là bản mà tôi đã được học. Bản ấy nằm trong Vạn 76/304 - 324, xin ghi để ai muốn thì tìm tham khảo. 23.10.2532.
Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần? Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Đạo giáo dựa trên đức tin, triết học dựa trên lí trí. Các đạo giáo tin con người gồm 2 phần: tinh thần (linh hồn) và thể xác. Triết học từ khi mới khởi đầu, cách đây 2500-3000 năm ở Ấn Độ và ở Hi Lạp, cũng đã chia làm 2 phái: Duy tâm, suy luận là tinh thần có sự sống độc lập với thể xác, tiếp tục tồn tại sau khi thể xác chết. Duy vật, suy luận ngược lại là tinh thần chỉ là vật chất, được cấu tạo như mọi vật chất bởi những nguyên tử kết hợp với nhau. Khi chết các nguyên tử rời rã nhau, tinh thần cũng sẽ tiêu tan. Từ cuối thế kỷ thứ XIX, khoa học không còn phụ thuộc triết học về phương pháp suy luận nữa và đạt được nhiều tiến bộ nhờ phương pháp thực nghiệm chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì có thể quan sát, thử nghiệm và chứng minh được. Là một ngành của khoa học, Y khoa không có ý kiến gì về sự sống chết của cái phần của con người gọi là linh hồn, vì không thể quan sát và thử nghiệm nó được. Cho tới cuối thế kỷ thứ XX, Y khoa lấy tiêu chuẩn để định nghĩa sự chết là sự chết của thể xác khi không còn hơi thở và tim ngưng đập. Tình trạng này gọi là chết lâm sàng (mort clinique). Nếu sau một thời gian vẫn không hồi phục được những chức năng hô hấp và tuần hoàn thì người bệnh bị coi là đã chết hẳn. Những năm gần đây, kỹ thuật hô hấp nhân tạo (respiration artificielle) và hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) có những tiến bộ phi thường, khiến có thể hồi phục được gần như vô hạn định hoạt động của tim, phổi mặc dầu người bệnh vẫn ở trong tình trạng hôn mê. Y khoa thấy cần phải đưa ra một tiêu chuẩn (critère) khác về sự chết, không phải khi tim phổi ngưng hoạt động mà là khi bộ óc không còn biểu lộ một hoạt động nào nữa, gọi là chết não hay hôn mê quá giai đoạn. Người bệnh bị coi là ở tình trạng Chết não khi điện não ký (électroencéphalographie) không còn ghi nhận được một biến đổi điện thế nào ở vỏ não (cortex), cho một điện não đồ phẳng lặng (Electroencéphalogramme plat). Chết não được coi là chết hẳn nếu 30 phút sau điện não đồ thứ hai vẫn phẳng lặng. Nhiều nhà khoa học cho đó là một bằng chứng không thể chối cãi được là cái gọi là tinh thần chỉ là sản phẩm của bộ não vì khi bộ não bị coi là chết, không còn một biểu hiện nào của ý thức nữa. Thời gian gần đây, khoa hồi sức (Réanimation) và khoa giải phẫu lập ra những kỳ công không thể tưởng tượng nổi, có thể coi là những phép lạ: nhiều bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng hay chết não được hồi sinh. Và kỳ lạ hơn nữa là nhiều người được “cải tử hoàn sinh” nhớ và kể lại những nhận thức và những cảm nhận của mình trong thời gian bị coi là chết, như trở về từ một thế giới khác. Khoa học gọi những hiện tượng này là: NDE (near death experiences), tiếng Anh, hay EMI (experiences de mort imminente), tiếng Pháp. Dịch ra tiếng Việt là Kinh nghiệm cận tử. Những kinh nghiệm cận tử này chứng tỏ Ý thức, biểu hiện của Tinh thần có đời sống độc lập với bộ óc tất nhiên là không phải từ bộ óc mà ra. Nhiều trung tâm khoa học trên thế giới được thành lập để nghiên cứu và tìm hiểu những kinh nghiệm cận tử này như American for the Advancement of Science (AAAS), Đại học Virginia Mỹ và Đại học Northampton Anh v.v… Đó cũng là đề tài của cuộc hội thảo năm 2006, ở tỉnh Martigues (Pháp) với hơn 2000 nhà khảo cứu đến từ nhiều nước. Hiện tượng DNE đầu tiên được giới khoa học nghiên cứu là trường hợp cô ca sĩ Pam Reynolds 35 tuồi bị Túi phình mạch não (anévrisme artérielle) phải giải phẫu với rất ít hi vọng sống được vì năm đó là năm 1991, kỹ thuật mổ “túi phình mạch não” còn mới mẻ và đầy bất chắc. Cô Pam bị đặt vào tình trạng chết lâm sàng (mort clinique): nhiệt độ xuống còn 15,5°C. Khi bác sĩ giải phẫu bắt đầu cắt da đầu thì cô Pam thấy mình ra khỏi thân xác. Người ngược trở lại 180°, từ trên cao cô thấy tóc mình bị cạo sạch và cái cưa bác sĩ dùng có nhãn hiệu là Midas Rex. Cô nghe các bác sĩ giải phẫu trả lời nhau và sai người phụ mổ. Cũng vẫn ở tình trạng trầm bổng (lévitation), cô thấy mình xuyên qua một hầm tối trước khi đến một nơi đầy ánh sáng và rất ấm cúng. Cô có cảm tưởng gặp lại bà con bạn bè đã chết và cô nhận diện được một ông cậu chết trước đây và ông cậu đem cô lại chỗ xác chết giá lạnh của ông. Cô Pam kể khi tỉnh lại làm cả ê kíp bác sĩ đều ngạc nhiên vì trong tình trạng chết lâm sàng, máu ngưng luân chuyển, máy điện tử (monitoring) ghi nhận óc ngưng hoạt động, làm sao cô có thể kể lại một cách mạch lạc những sự kiện đã xảy ra. Cuốn sách đầu tiên nói về kinh nghiệm cận tử là cuốn best-seller của bác sĩ Raymond Moody, Cuộc sống sau cuộc sống (La vie après la vie) xuất bản năm 1976. Những cuốn sách nổi tiếng mới đây là cuốn của bác sĩ J.J Charbonnier, Những bằng chứng khoa học của cuộc sống sau đời sống (Les preuves scientifiques d’une vie après la vie) và cuốn sách mới xuất bản được mấy tuần đã được The New York Times đưa vào danh sách best-seller là của bác sĩ Jeffrey Long, chuyên khoa Quang tuyến ung thư người Mỹ Evidence of the After-life (Bằng chứng sau cuộc sống), đều kể lại những chuyện tương tự của những người đã ở tình trạng chết lâm sàng hay hôn mê quá giai đoạn (coma dépassé). Những cuốn sách này dành cho đại chúng, còn giới khoa học có thể theo dõi những công trình về kinh nghiệm cận tử qua các tạp chí y khoa. Giáo sư Pim Van Lommel chuyên khoa tim mạch người Hoà Lan trình bày trong tạp chí y học nổi tiếng nhất thế giới Lancet năm 2001, một công trình sưu tập những lời chứng của 344 bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng vì tai biến tim mạch: 18% những người này khẳng định có kinh nghiệm “chết đi sống lại”. Gần đây nhất, trong số in ngày 25-02-10, tạp chí y học Mỹ Mediscape Medical News nói về những kinh nghiệm cận tử mà bác sĩ Jeffrey Long, tác giả một cuốn sách nói trên, đã sưu tập. Trong vòng 10 năm bác sĩ Long đã nghiên cứu cả thảy hơn 1300 trường hợp trong viện DNE Research Foundation (Tổ chức Nghiên cứu Cận tử), một viện nghiên cứu cận tử được coi là lớn nhất thế giới do ông thành lập. So với những trường hợp cận tử được các trung tâm nghiên cứu khác trên thế giới thâu thập thì những kinh nghiệm cận tử này đều có những điểm giống nhau: 1. Cảm tưởng biết mình đã chết nhưng thấy ý thức mình trở lên trong sáng (crystal clear consciouness). 2. Cảm giác thoát khỏi thân xác (décorporation), bay bồng bềnh (lévitation), nhìn thấy thân thể mình từ cao xuống. Một người kể lại “Tôi thấy tôi từ đằng sau lưng… Tôi thấy gáy cô y tá đang tìm cách hồi sinh tôi bằng phương pháp miệng-miệng (bouche à bouche). 3. Cảm tưởng như mình ở trong một thân thể phi vật chất, di chuyển qua một đường hầm hướng dẫn bởi một luồng ánh sáng (tunnel). 4. Cảm tưởng tới một nơi đầy ánh sáng. Một thứ ánh sáng chan hoà đầy an lành, đầy khoan khoái không bao giờ thấy khi còn sống. Gặp lại những người thân đã chết, có người trước khi mình ra đời, có người mình đã quên hay khi còn quá trẻ để có thể nhớ lại. Thấy những “hình dạng” chan hoà ánh sáng” biểu lộ một Tình thương vô biên. 5. Chỉ trong khoảng khắc hồi tưởng lại cả cuộc đời khiến có cảm tưởng thời gian-không gian bị xóa nhoà. 6. Hối tiếc khi phải trở lại cuộc sống. Những kinh nghiệm này đều giống nhau dù những người kể lại ở những vùng khác nhau trên thế giới có văn hoá khác nhau. Ngay cả những con nít còn nhỏ tuổi chưa có quan niệm gì về sự chết, về đạo giáo hay chưa bao giờ được nghe kể về NDE, cũng kể lại y hệt. Có những nhà khoa học cho là những trạng thái ý thức (états de conscience) kể trên đủ để chứng tỏ tinh thần có một cuộc sống độc lập với thể xác (bộ óc) và cho biết có một cõi khác (l’au-delà) hoàn toàn khác lạ với thế giới của cuộc sống hiện tại. Nhưng có những nhà khoa học hoài nghi đưa ra những giải thích khác: - Những hiện tượng NDE đó chỉ là những biểu hiện thuần sinh lý do thác loạn tế bào thần kinh (désordre neuronal) tạo ra. - Có thể là do tác động của những thuốc gây mê như kétamine hay ibogaïne. - Có nhiều trường hợp endorphines được tiết ra khi óc bị thiếu oxygène, tạo ra những cảm giác khoan khoái khi tỉnh người bệnh hồi tưởng lại. - Thiếu oxygène cũng có thể kích thích những vùng (zones) tạo hình và ký ức của bộ não, khiến làm nhớ lại những kỷ niệm xưa. - Ngay khi ở tình trạng chết lâm sàng, những mẩu ý thức (fragments de conscience) có thể vẫn còn sót lại. - Vả lại khi óc không còn oxygène, không phải mọi vùng trong óc đều ngưng hoạt động cùng một lúc: Có thể có những vùng trong óc chưa bị tê liệt khi bị kích thích đã tạo ra những cảm giác NDE và người bệnh khi tỉnh lại đã tự nối kết những cảm giác đó với nhau thành có đầu có đuôi. - Những thử nghiệm kích thích thùy não thái dương (lobe temporal) làm trên những người bị động kinh (épileptique) ở Đại học Bách khoa Lausanne và Viện Karoslinka ở Stockholm cho thấy là có thể tạo ra cảm giác thoát xác. - Giáo sư Kevin Nelson khoa Thần kinh Đại học Kentucky Mỹ giảng giải là cảm tưởng bay trong một đường hầm đầy ánh sáng là do thiếu máu võng mạc (mắt). Mario Beauregard, nghiên cứu sinh về Não học ở Đại học Montréal, tác giả cuốn Từ óc tới Trời (Du cerveau à dieu) phản biện lại và cho những giải thích đó không đủ thoả mãn: - Khi tim ngưng đập, điện não đồ không còn ghi nhận được một dấu hiệu nào chứng tỏ bộ óc còn hoạt động mà những quá trình tâm thần (processus mentaux) như tri giác, ý thức, ký ức, vẫn diễn tiến để khi người bệnh sống lại có thể kể một cách rất rành mạch có đầu có đuôi những kinh nghiệm trong thời gian óc bị coi là chết, chứ không phải chỉ nhắc lại những ấn tượng rời rạc chớp nhoáng (instatanées) như trong các thử nghiệm kích thích óc kể trên, thì phải đưa ra giả thử là có một cái gọi là tinh thần hoàn toàn độc lập với bộ óc. - Sự thiếu oxygène cũng không đủ để giải thích những hiện tượng EMI, vì nếu như vậy đa số những bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng thiếu oxygène đều phải trải qua hiện tượng EMI. Hiện giờ Mario Beauregard đang cùng những nhà khoa học khác đưa ra chương trình thực nghiệm Aware: Một số bệnh viện Anh, Mỹ, Canada, Pháp… đồng ý thực hiện chương trình này. Trong phòng mổ sẽ giấu những đồ vật hay những biểu tượng ở một chỗ mà từ bàn mổ không thể trông thấy được. Nếu bệnh nhân hoàn sinh sau khi chết lâm sàng hay chết não mà nhận ra được nó, thì đó là chứng cớ tinh thần người bệnh đã thoát khỏi thân thể mình. Nếu những thực nghiệm này đem lại kết quả, sẽ có nhiều người coi đó là chứng cớ hiển nhiên nhất, là có một sự sống khác độc lập với thể xác. Nhưng cũng có người cho là không đủ và cho đó chỉ là những tình cờ hú hoạ. Chỉ có những người đã tự mình trải qua cuộc “chết đi sống lại” như ông Philippe Labro, một nhà văn nhà báo Pháp được nhiều người biết tiếng, kể lại trường hợp của ông khi bị hôn mê quá giai đoạn trong cuốn La Traversée: “Tôi thấy mình ra khỏi thân thể, tôi có cảm tưởng nhìn thấy tôi trên giường bệnh và quanh tôi là cả một ê kíp bác sĩ…”, mới nhìn sự chết với con mắt khác, không còn sợ hãi nữa.
KINH NHẬP LĂNG GIÀ PHẨM THỨ MƯỜI SÁU: NGĂN ĂN THỊT Lúc bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Ðại Bồ tát bạch đức Phật rằng: - Thưa đức Thế Tôn! Con quan sát thế gian, sinh tử lưu chuyển, oán kết liền nhau, rơi vào các đường ác, đều do ăn thịt, giết hại lẫn nhau, tăng trưởng tham sân, chẳng được ra khỏi, rất là quá khổ. Thưa đức Thế Tôn! Người ăn thịt cắt đứt giống Ðại Từ. Người tu đạo Thánh thì chẳng nên được ăn thịt! Thưa đức Thế Tôn! Các ngoại đạo.v.v... nói pháp tà kiến Lô Ca Gia Ðà, rơi vào luận của thế tục, rơi vào trong hai kiến đoạn - thường, hữu vô, đều ngăn ăn thịt, tự mình chẳng ăn, chẳng cho phép người khác ăn. Tại sao trong pháp thanh tịnh của Như Lai, người tu phạm hạnh thì tự ăn, cho phép người khác ăn, tất cả chẳng cấm chế! Ðức Như Lai Thế Tôn đối với các chúng sinh từ bi đệ nhất thì tại sao mà cho phép dùng thịt làm thức ăn! Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Ngài thương xót thế gian, nguyện xin vì con nói về lỗi của sự ăn thịt và công đức của sự chẳng ăn thịt! Con và những Bồ tát nghe rồi, được y vào đó tu hành như thật và tuyên nói, lưu bố rộng rãi, khiến cho chúng sinh hiện tại và vị lai, tất cả đều thức tri! Ðức Phật bảo Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát rằng: - Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Ðại Tuệ! Ông đại từ bi thương xót chúng sinh nên có thể hỏi ý nghĩa này! Ông nay hãy lắng nghe! Ta sẽ vì ông giải nói! Bồ tát Ðại Tuệ bạch đức Phật rằng: - Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Con xin thọ giáo! Ðức Phật dạy rằng: - Này Ðại Tuệ! Luận về ăn thịt thì có lỗi không lường! Các Ðại Bồ tát tu đại từ bi thì chẳng được ăn thịt! Tội lỗi và công đức của ăn thịt cùng chẳng ăn thịt, ta sẽ nói lên một phần ít. Ông nay hãy lắng nghe! Này Ðại Tuệ! Ta quan sát chúng sinh từ vô thỉ đến nay đã quen ăn thịt, tham trước vị thịt, lại giết hại nhau, xa lìa hiền thánh, chịu khổ sinh tử. Người xả bỏ vị thịt, nghe vị chánh pháp, ở Bồ tát địa như thật tu hành thì mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại khiến cho chúng sinh vào đến chỗ chỉ tức của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Chỉ tức rồi thì khiến cho vào Như Lai địa. Này Ðại Tuệ! Những lời như vậy lấy từ tâm làm gốc. Người ăn thịt cắt đứt giống đại từ thì làm sao sẽ được lợi lớn như vậy! Vậy nên, này Ðại Tuệ! Ta quan sát chúng sinh luân hồi sáu đường, đồng ở tại sinh tử, chung nhau nuôi sống, đắp đổi làm cha mẹ, anh em, chị em, hoặc nam, hoặc nữ trúng vào số người lục thân quyến thuộc nội ngoại, hoặc sinh vào đường khác, đường thiện, đường ác, thường làm quyến thuộc. Do nhân duyên đó, ta quan sát chúng sinh ăn thịt lẫn nhau thì không ai là chẳng phải người thân! Do tham vị thịt, họ đắp đổi ăn lẫn nhau, thường sinh tâm ác hại, tăng trưởng nghiệp khổ, lưu chuyển trong sinh tử, chẳng được ra khỏi. Khi đức Phật nói lời này thì các ác La sát nghe lời nói của đức Phật đều xả ác tâm, dừng lại chẳng ăn thịt, đắp đổi khuyên nhau phát tâm từ bi, hộ trì mạng của chúng sinh quá hơn tự hộ thân mình, lìa bỏ tất cả những thứ thịt, chẳng ăn nữa, buồn khóc rơi nước mắt mà bạch đức Phật rằng: - Thưa đức Thế Tôn! Con nghe lời nói đức Phật, quan sát kỹ sáu đường, thịt mà con ăn đều chính là người thân của con, mới biết ăn thịt chúng sinh là đại oán, cắt đứt giống Ðại từ, lớn thêm nghiệp bất thiện, chính là gốc của đại khổ. Thưa đức Thế Tôn! Từ ngày hôm nay, con chấm dứt, chẳng ăn thịt và quyến thuộc của con cũng chẳng được phép ăn. Ðệ tử của đức Như Lai có người chẳng ăn thịt thì con sẽ ngày đêm gần gũi ủng hộ. Nếu có người ăn thịt thì con sẽ làm cho họ chẳng được nhiều lợi ích! Ðức Phật nói rằng: - Này Ðại Tuệ! Quỷ ác La sát là loài thường ăn thịt mà nghe lời nói của ta còn phát từ tâm, bỏ thịt chẳng ăn, huống là đệ tử của ta tu hành thiện pháp mà được phép ăn thịt ư! Nếu có người ăn thịt thì phải biết kẻ đó tức là đại oán của chúng sinh, cắt đứt Thánh chủng của ta. Này Ðại Tuệ! Nếu đệ tử của ta nghe lời nói của ta, chẳng quan sát kỹ càng mà ăn thịt thì phải biết người đó chính là dòng giống Chiên đà la, chẳng phải đệ tử của ta, ta chẳng phải là thầy của người ấy. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Nếu muốn cùng ta làm quyến thuộc thì tất cả các thứ thịt đều chẳng nên ăn! Lại nữa, này Ðại Tuệ! Bồ tát nên quan sát tất cả thịt đó đều y vào máu mũ bất tịnh đỏ trắng của cha mẹ hòa hợp mà sinh ra thân bất tịnh. Vậy nên Bồ tát quan sát thịt bất tịnh, chẳng nên ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Người ăn thịt thì chúng sinh nghe thấy hơi đều kinh sợ, chạy trốn tránh xa. Vậy nên Bồ tát tu hạnh như thật vì hóa độ chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt. Này Ðại Tuệ! Ví như Chiên đà la, thợ săn, người giết mổ, người đánh cá, kẻ bắt chim... tất cả hành xử của họ mà chúng sinh thấy từ xa đều khởi lên ý nghĩ như vầy: "Ta nay nhất định chết mà người đi đến này chính là người đại ác, chẳng nhận thức được tội phước, cắt đứt mạng của chúng sinh, cầu lợi hiện tiền, nay đi đến đây, vì tìm kiếm chúng ta. Nay thân của chúng ta đều có thịt. Vậy nên nay chúng ta nhất định sẽ chết". Này Ðại Tuệ! Do người ăn thịt có thể khiến cho chúng sinh nhìn thấy đều sinh ra kinh sợ như vậy. Này Ðại Tuệ! Tất cả chúng sinh trong hư không, trên đất thấy người ăn thịt đều sinh ra kinh sợ mà khởi lên ý niệm nghi ngờ: "Ðến hôm nay thì ta sống hay chết đây! Như vậy người ác chẳng tu từ tâm cũng như loài sài lang du hành ở thế gian thường tìm kiếm thịt ăn như trâu ăn cỏ, bọ hung ăn phân... chẳng biết no đủ. Thân ta là thịt chính là thức ăn của chúng, chẳng nên cho chúng nhìn thấy". Chúng sinh đó liền bỏ chạy trốn, tránh xa những kẻ giết hại ấy, như người sợ sệt La sát không khác. Này Ðại Tuệ! Người ăn thịt có thể khiến cho chúng sinh thấy thì đều sinh ra kinh sợ như vậy. Ông phải biết ăn thịt chúng sinh là đại oán! Vậy nên Bồ tát tu hành từ bi, vì nhiếp lấy chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt họ, chẳng phải vị ăn của người Thánh tuệ, danh tiếng ác lưu bố, Thánh nhân quở trách. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì nhiếp lấy các chúng sinh nên chẳng nên ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì hộ lòng tin của chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt. Vì sao vậy! Này Ðại Tuệ! Vì nói rằng, Bồ tát thì chúng sinh đều biết chính là hạt giống từ tâm của Phật Như Lai, có thể cùng chúng sinh tạo tác chỗ qui y, người nghe tự nhiên chẳng sinh ra nghi ngờ, kinh sợ mà sinh ra thân hữu tưởng, thiện tri thức tưởng, bất bố úy tưởng... còn nói rằng, được chỗ qui y, được chỗ yên ổn, được thầy dẫn đường tốt. Này Ðại Tuệ! Do chẳng ăn thịt, có thể sinh ra lòng tin của chúng sinh như vậy, còn nếu ăn thịt thì chúng sinh liền mất đi tất cả lòng tin và liền nói rằng, thế gian không có người có thể tin được. Họ liền cắt đứt tín căn. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì hộ lòng tin của chúng sinh thì tất cả các thứ thịt đều chẳng nên ăn. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Các đệ tử của ta vì hộ thế gian, ngăn bài báng Tam Bảo nên chẳng nên ăn thịt. Vì sao vậy! Vì thế gian có người thấy ăn thịt nên hủy báng Tam Bảo nói lên lời như vầy: Ở trong Phật pháp, chỗ nào sẽ có Sa môn, Bà la môn tu phạm hạnh chân thật thì bỏ món nên ăn gốc của Thánh nhân mà ăn thịt chúng sinh giống như La sát ăn thịt no bụng ngủ say chẳng động, y vào phàm nhân ở đời, giàu có thế lực, tìm kiếm thịt để ăn như vua La sát làm kinh sợ chúng sinh. Vậy nên, nơi nơi xướng lên lời như vầy: Chỗ nào có Sa môn, Bà la môn tu tịnh hạnh chân thật thì chỗ đó không pháp, không Sa môn, không Tỳ ni, không người tịnh hạnh. Sinh ra vô lượng vô biên lòng ác, chẳng lành như vậy.v.v... đoạn dứt pháp luân của ta, tuyệt diệt Thánh chủng... tất cả đều do lỗi của người ăn thịt. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Ðệ tử của ta vì hộ người ác hủy báng Tam Bảo, thậm chí chẳng nên sinh ra ý niệm "nhục tưởng", huống gì là ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì cầu cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt mà nên quan sát các thứ thịt như thây chết của người, mắt chẳng muốn thấy, chẳng dùng nghe hơi, huống gì có thể ngửi mà đặt vào trong miệng. Tất cả các thứ thịt cũng lại như vậy. Này Ðại Tuệ! Như thiêu đốt thây chết mùi hơi thối bất tịnh cùng với thiêu đốt thịt khác, thối bẩn không khác thì làm sao trong đó có đồ ăn hay chẳng có đồ ăn! Vậy nên, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì cầu cõi Phật thanh tịnh giáo hóa chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Bồ tát vì cầu lìa khỏi sinh tử nên phải chuyên tâm niệm hạnh từ bi, thiểu dục tri túc, chán khổ thế gian, mau cầu giải thoát, phải bỏ rối loạn ồn ào, đến với không nhàn, trụ ở rừng thây chết, chỗ A lan nhã, vùng tha ma, ngồi một mình dưới gốc cây suy nghĩ, quan sát các thế gian, không có một thứ gì đáng vui: Vợ con quyến thuộc tưởng như cùm khóa, cung điện đài quán tưởng như lao ngục, quan sát những trân bảo tưởng như đống phân, thấy đồ ăn thức uống tưởng như mũ máu, nhận đồ ăn thức uống như bôi thuốc trị ung nhọt, mục đích được toàn mạng, buộc niệm vào Thánh đạo, chẳng vì tham vị. Rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi, nén (kiệu)... mùi hôi đều bỏ chẳng ăn. Này Ðại Tuệ! Nếu người như vậy thì chính là người tu hành chân chính, đủ sức thọ sự cúng dường của tất cả người trời. Nếu ở thế gian chẳng sinh chán lìa, tham trước nhiều vị: rượu, thịt, cay, nồng... có được liền ăn ngấu nghiến thì chẳng nên nhận của tín thí ở thế gian. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có các chúng sinh ở quá khứ từng tu vô lượng nhân duyên, có thiện căn nhỏ, được nghe pháp của ta. Kẻ tín tâm xuất gia ở tại trong pháp của ta mà đời quá khứ từng làm quyến thuộc của La sát, sinh ra trong loài cọp, sói, sư tử, mèo, chồn thì tuy ở tại pháp ta nhưng tập quán ăn thịt còn nên thấy người ăn thịt thì vui mừng, gần gũi. Họ vào trong thành ấp, tụ lạc, tháp chùa mà uống rượu, ăn thịt, lấy làm hoan lạc. Nhưng người trong thiên hạ xem họ giống như quỉ La sát dành ăn thây chết bằng nhau, không có khác mà chẳng tự biết, rồi đánh mất chúng của ta, thành quyến thuộc của La sát. Họ tuy mặc áo cà sa, cạo bỏ râu tóc nhưng kẻ có mạng nhìn thấy họ thì lòng sinh kinh sợ như sợ La sát. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Nếu kẻ thờ ta làm thầy thì tất cả các thứ thịt đều chẳng nên ăn. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Những thầy chú thuật của thế gian tà kiến mà nếu họ ăn thịt thì chú thuật chẳng thành. Vì để thành tà thuật mà còn chẳng ăn thịt, huống là đệ tử của ta vì cầu đạo Thánh Vô Thượng của Như Lai, cầu xuất thế giải thoát! Tu đại từ bi, tinh cần khổ hạnh còn sợ chẳng được thì chỗ nào sẽ có giải thoát như vậy vì người ngu si đó ăn thịt mà được! Vậy nên, này Ðại Tuệ! Những đệ tử của ta vì cầu niềm vui giải thoát xuất thế thì chẳng nên ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Ăn thịt có thể khởi sắc lực, người ăn vị nhiều tham trước nên phải quan sát kỹ càng! Tất cả thế gian kẻ có thân mạng đều tự quí trọng, sợ nỗi khổ chết, hộ tiếc thân mạng, người và súc vật không khác biệt, thà phải ưa tồn tại tấm thân ghẻ lở hoang dã, chẳng thể bỏ mạng để thọ những niềm vui của trời. Vì sao vậy! Vì sợ khổ của cái chết vậy. Này Ðại Tuệ! Do sự quan sát chết đó là khổ lớn, chính là pháp đáng sợ, tự thân sợ chết thì làm sao mà phải ăn thịt người khác được! Vậy nên, này Ðại Tuệ! Muốn ăn thịt thì trước tự nghĩ đến thân, thứ đến là quan sát chúng sinh thì chẳng nên ăn thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Phàm người ăn thịt thì chư thiên xa lìa, huống gì là Thánh nhân!! Vậy nên Bồ tát vì thấy Thánh nhân phải tu từ bi, chẳng nên ăn thịt. Này Ðại Tuệ! Người ăn thịt ngủ nghĩ cũng khổ, khi thức dậy cũng khổ. Hoặc ở trong mơ, thấy đủ thứ ác, kinh sợ dựng tóc gáy, lòng luôn bất an. Không có lòng từ nên thiếu thốn các thiện lực. Nếu người ấy, một mình ở chỗ không nhàn thì bị nhiều phi nhân, rình mò tìm cơ hội, cọp, sói, sư tử cũng đến rình mò muốn tìm cơ hội mà ăn thịt, lòng luôn kinh sợ chẳng được yên ổn. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Lòng tham của những kẻ ăn thịt khó thỏa mãn, ăn chẳng biết lường, chẳng thể tiêu hóa, tăng thêm bốn đại, hơi của miệng tanh tao, lại bên trong có nhiều ác trùng không lường, thân nhiều ghẻ lở, hắc lào, bệnh tật đủ thứ, chẳng sạch, phàm phu hiện tại chẳng ưa nghe thấy, huống gì là có thể được thân người thơm sạch không bệnh trong đời vị lai. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Ta nói, kẻ phàm phu vì cầu tịnh mạng mà ăn tịnh thực còn nên sinh ra lòng tưởng như ăn thịt con, huống gì là cho phép ăn chẳng phải đồ ăn của Thánh nhân. Thánh nhân lìa khỏi thì dùng thịt có thể sinh ra vô lượng những lỗi, mất đi tất cả công đức xuất thế thì làm sao nói rằng, ta cho phép những đệ tử của ta ăn những thứ thịt, máu vị bất tịnh.v.v... Kẻ nói rằng, ta cho phép thì tức là bài báng ta. Này Ðại Tuệ! Ta cho phép đệ tử ăn đồ ăn mà các Thánh nhân ăn, chẳng phải là Thánh nhân xa lìa đồ ăn. Thức ăn của Thánh có thể sinh ra vô lượng công đức, xa lìa các tội lỗi. Này Ðại Tuệ! Thức ăn của Thánh nhân quá khứ và hiện tại như là gạo lúa nước, đại mạch, tiểu mạch, đậu, đủ thứ dầu, mật, cây mía, nước cốt cây mía, bột kiển đà, can đề.v.v... tùy lúc được thì cho phép ăn vì sạch. Này Ðại Tuệ! Ở đời vị lai, có người ngu si nói đủ thứ Tỳ ni rằng, được ăn thịt. Nhân ở đời quá khứ người ấy huân tập ăn thịt, ái trước vị thịt, tùy theo tâm mình thấy nên nói lời như vậy, chẳng phải Phật, Thánh nói vì món ăn ngon. Này Ðại Tuệ! Chẳng ăn thịt thì nhân vào quá khứ, cúng dường chư Phật, gieo trồng căn lành, có thể tin lời của Phật, kiên trụ Tỳ ni, tin các nhân quả, đến với thân miệng có thể tự tiết chế, điều lượng, chẳng vì tham trước các vị của thế gian. Thấy người ăn thịt có thể sinh từ tâm. Này Ðại Tuệ! Ta nhớ, thuở quá khứ, có vị vua tên là Sư Tử Nô ăn đủ thứ thịt, ái trước vị của thịt, theo thứ lớp thậm chí ăn cả thịt người. Nhân vì vua ấy ăn thịt người nên cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc đều xa lìa hết. Tất cả thần dân trong đất nước, tụ lạc đều liền mưu phản, cùng chung cắt đứt mạng của vua ấy. Do người ăn thịt có những lỗi như vậy. Vậy nên chẳng nên ăn tất cả thịt. Lại nữa, này Ðại Tuệ! Vua trời Tự Tại hóa thân làm chim câu. Thích Ðề Hoàn Nhân là chúa của chư thiên, nhân tập khí ăn thịt ở đời quá khứ nên hóa thân làm chim ưng đuổi bắt chim bồ câu này. Chim bồ câu bay đến đậu vào ta. Lúc bấy giờ, ta làm Thi Tỳ Vương, thương xót chúng sinh ăn nuốt nhau nên cân thịt của thân mình cho chim ưng thay cho thịt bồ câu, cắt thân thịt chẳng đủ đặt lên trên cân, chịu khổ não lớn. Này Ðại Tuệ! Như vậy từ vô lượng đời đến nay huân tập ăn thịt, thân mình, thân người khác có lỗi như vậy, huống gì là người thường ăn thịt không hổ thẹn. Này Ðại Tuệ! Lại có vị vua khác chẳng ăn thịt thì cưỡi ngựa dạo chơi, vì ngựa nổi kinh sợ, dẫn vào núi sâu, thất lạc thị tùng, chẳng biết đường về. Vì vua ấy chẳng ăn thịt nên sư tử, cọp, sói nhìn thấy không có lòng hại, rồi cùng với sư tử cái chung làm dục sự, cho đến sinh ra con là Ban Túc Vương.v.v... Do đời quá khứ huân tập ăn thịt và làm nhân vương cũng thường ăn thịt, ở tại thôn Thất Gia, nhiều người ưa ăn thịt, ăn thịt thái quá liền ăn cả thịt người nên họ sinh ra những con trai, con gái hầu hết là La sát. Này Ðại Tuệ! Chúng sinh ăn thịt y vào quá khứ huân tập ăn thịt nên phần nhiều sinh vào trong những loài La sát, sư tử, cọp, sói, báo, mèo, chồn, cú vọ, diều hâu, chim ưng.v.v... Những loài có thân mạng đều tự hộ thân, chẳng cho chúng được tiện lợi. Chịu khổ đói khát thì thường sinh ra ác tâm, nghĩ đến việc ăn thịt kẻ khác, mạng chung lại rơi vào đường ác, thọ sinh thân người khó được, huống gì là sẽ có được đạo Niết Bàn. Này Ðại Tuệ! Ông phải biết, người ăn thịt có vô lượng những tội lỗi như vậy. Người chẳng ăn thịt thì tức là gom tụ công đức không lường. Này Ðại Tuệ! Mà các phàm phu chẳng biết tội lỗi của ăn thịt và công đức của chẳng ăn thịt như vậy. Ta nay lược nói về chẳng cho phép ăn thịt! Này Ðại Tuệ! Nếu tất cả mọi người chẳng ăn thịt thì cũng không có người giết hại chúng sinh. Do người ăn thịt nếu chẳng có ăn thì đi khắp nơi nơi tìm mua, người vì tài lợi thì giết để buôn bán. Vì người mua nên giết, vậy nên người mùa cùng người giết không khác. Vậy nên ăn thịt có thể làm chướng ngại đạo Thánh. Này Ðại Tuệ! Người ăn thịt tham đắm vị thịt, đến nỗi không có vật nuôi thì ăn cả thịt người, huống gì là hươu, nai, trĩ, thỏ, ngỗng, heo, dê, gà, chó, lạc đà, lừa, voi, ngựa, rồng, rắn, cá, ba ba... loài có sinh mạng sống dưới nước, trên đất đã bắt được mà chẳng ăn! Do ái trước vị thịt nên thiết lập các phương tiện giết hại chúng sinh, tạo tác đủ thứ lưới giăng, cạm bẫy... Lưới bao núi, lưới giăng dưới đất, ngăn sông, chận biển... khắp nơi trên đất, trong nước đều vây lưới, đặt bẫy, đào hầm hố, đặt cung, dao, tên độc... xen lẫn không còn chỗ trống. Ðủ thứ chúng sinh sống trong hư không, trên đất, dưới nước đều bị giết hại vì ăn thịt vậy. Này Ðại Tuệ! Thợ săn, kẻ giết mổ, người ăn thịt.v.v.. lòng ác bền vững có thể làm điều bất nhẫn, thấy hình thể chúng sinh béo tốt, da thịt mơn mởn thì sinh lòng "thực vị", lại chỉ thị cho nhau rằng, của này có thể ăn, lòng chẳng sinh một ý niệm bất nhẫn. Vậy nên ta nói, người ăn thịt đoạn giống Ðại Từ. Này Ðại Tuệ! Ta quan sát thế gian, không có thứ thịt nào mà chẳng phải là sinh mạng. Tự mình chẳng giết, chẳng dạy người giết, người khác chẳng bị giết, chẳng từ sinh mạng đến mà có thịt này thì không có chỗ này. Nếu có thứ thịt chẳng từ sinh mạng mà ra này lại là món ăn ngon thì ta vì lý do gì chẳng cho phép người ăn! Tìm khắp thế gian, không có thứ thịt như vậy. Vậy nên ta nói, ăn thịt là tội, đoạn dứt giống Như Lai nên chẳng cho phép ăn. Này Ðại Tuệ! Sau khi ta Niết Bàn, vào đời vị lai, lúc pháp sắp diệ, ở trong pháp của ta, có người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, tự xưng: Ta là Thích tử Sa môn, mặc áo cà sa của ta mà si dại như đứa trẻ, tự xưng là luật sư mà rơi vào nhị biên, đủ thứ hư vọng giác quán, loạn tâm, tham trước vị thịt, theo tự tâm kiến nói trong Tỳ ni nói rằng, được ăn thịt, cũng bài báng ta rằng, các đức Phật Như Lai cho phép người ăn thịt, cũng nói rằng, nhấn cấm chế mà được phép ăn thịt, cũng bài báng ta rằng, Như Lai Thế Tôn cũng tự ăn thịt. Này Ðại Tuệ! Ở trong tất cả Kinh, như Tượng Dịch, Ương Quật Ma, Niết Bàn, Ðại Vân.v.v.. của ta chẳng cho phép ăn thịt, cũng chẳng nói, cho thịt vào vị ăn. Này Ðại Tuệ! Ta nếu cho phép các đệ tử Thanh Văn lấy thịt làm thức ăn thì nhất định ta chẳng được miệng thường khen ngợi người tu từ bi làm hạnh như thật, cũng chẳng khen ngợi người tu hạnh đầu đà trong rừng Thi Ðà, cũng chẳng khen ngợi người tu hành Ðại thừa trụ ở Ðại thừa, cũng chẳng khen ngợi người chẳng ăn thịt. Ta chẳng tự ăn, chẳng cho phép người khác ăn. Vậy nên ta khuyên người tu hạnh Bồ tát, khen ngợi chẳng ăn thịt, khuyên xem chúng nên như con một thì tại sao xướng lên rằng, ta cho phép ăn thịt. Ta vì đệ tử tu hạnh ba thừa mau được quả nên ngăn chận tất cả thịt, chẳng cho phép ăn thì tại sao nói rằng trong Tỳ ni của ta cho phép người ăn thịt. Lại nữa, nói rằng trong Kinh khác của Như Lai nói, có ba thứ thịt cho phép người ăn thì phải biết người đó chẳng lý giải được Tỳ ni mà cắt đứt thứ lớp nên xướng rằng, được ăn. Vì sao vậy! Này Ðại Tuệ! Vì thịt có hai thứ, một là người khác giết, hai là tự chết. Do người đời nói rằng, có thịt được ăn, có thịt chẳng được ăn. Voi, ngựa, rồng, rắn, người, quỉ, khỉ vượn, heo, chó và trâu thì nói chẳng được ăn, còn các loài khác thì được ăn. Người giết mổ chẳng hỏi được ăn hay chẳng được ăn mà cứ giết hết tất cả, bày bán khắp nơi nơi! Chúng sinh không có lỗi mà bị giết hại ngang ngược! Vậy nên ta cấm chế thịt người khác giết hay tự tử đều chẳng được ăn. Nghe thấy nghi ngờ thì gọi là người khác giết, chẳng nghe thấy nghi ngờ thì gọi là tự tử. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Trong Tỳ ni của ta xướng lên lời như vầy: Phàm thịt sẵn có ở tất cả Thích tử Sa môn đều là thức ăn bất tịnh, làm ô uế mạng thanh tịnh, chướng ngại Thánh đạo phận, không có phương tiện mà có thể được ăn. Nếu có nói rằng, trong Tỳ ni của Phật nói có ba thứ thịt là chẳng cho phép ăn, chẳng phải là cho phép ăn. Ông phải biết là người kiên trụ ở Tỳ ni là người chẳng bài báng ta. Này Ðại Tuệ! Nay trong Kinh Lăng Già này, tất cả thời gian, tất cả các thứ thịt, cũng không phương tiện mà có thể được ăn. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Ta ngăn ăn thịt chẳng phải vì một người mà hiện tại và vị lai, tất cả chẳng được ăn. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Nếu người ngu si kia tự nói là Luật sư mà nói rằng, trong Tỳ ni cho phép người ăn thịt, cũng bài báng ta rằng, Như Lai tự ăn thì người ngu si đó thành tội chướng lớn, mãi mãi rơi vào chỗ không lợi ích, chỗ không Thánh nhân, chỗ chẳng nghe pháp, cũng chẳng được thấy đệ tử của bậc Thánh hiền hiện tại, vị lai, huống là sẽ thấy được các đức Phật Như Lai. Này Ðại Tuệ! Những người Thanh Văn thường nên ăn gạo, lúa mì, dầu, mật, đủ thứ mè, đậu có thể sinh ra tịnh mạng. Ðồ đó là phi pháp chứa nuôi, phi pháp thọ lấy thì ta nói bất tịnh, còn chẳng cho ăn, huống gì là cho phép ăn máu thịt bất tịnh. Này Ðại Tuệ! Các đệ tử Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ tát của ta ăn được pháp thực thì chẳng phải ăn uống thức ăn, huống gì là Như Lai. Này Ðại Tuệ! Pháp thực, pháp trụ của các đức Phật Như chẳng phải là thân ăn uống, chẳng phải ăn uống thức ăn, chẳng phải thân trụ ở tất cả các đồ ăn thức uống, lìa khỏi các của cải đời sống ưa có.v.v... xa lìa tất cả tội lỗi của phiền não tập khí, giỏi phân biệt tâm, trí tuệ của tâm Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến, thấy các chúng sinh thương xót bình đẳng. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Ta thấy tất cả các chúng sinh bình đẳng giống như con một thì làm sao mà cho phép dùng thịt làm thức ăn! Ta cũng chẳng tùy hỉ, huống gì là tự ăn. Này Ðại Tuệ! Như vậy, hành hẹ tỏi nén hôi thối bất tịnh có thể làm chướng ngại đạo Thánh, cũng làm chướng ngại chỗ thanh tịnh của người trời thế gian, huống gì là quả báo cõi thanh tịnh của chư Phật. Rượu cũng như vậy, có thể làm chướng ngại Thánh đạo, có thể làm tổn hại nghiệp thiện, có thể sinh ra những tội lỗi. Vậy nên, này Ðại Tuệ!. Người đến với Thánh đạo thì rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi nén.v.v.. những thứ có thể tạo vị nồng đều chẳng nên ăn! Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: Ðại Tuệ Bồ tát hỏi Rượu, thịt, tỏi, nén, hành... Phật rằng, là bất tịnh Tất cả chẳng cho ăn! Quỉ La sát ăn nuốt Chẳng phải của Thánh ăn Người ăn, Thánh quở trách Và lưu bố ác danh. Nguyện Phật phân biệt nói Tội phước ăn, chẳng ăn! Này Ðại Tuệ! Nghe kỹ! Ta nói lỗi trong ăn. Rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi Là chướng đạo Thánh nhân Ta xem trong ba cõi Chúng được đạo Thánh nhân Từ thế giới vô thỉ Ðắp đổi không phải thân Làm sao ở trong ấy Mà có ăn, chẳng ăn. Quan sát chỗ thịt đến Xuất xứ chẳng sạch trong Sinh máu mủ hòa tạp Phân, dãi, mủ... hòa chung. Người tu hành tịnh hạnh Phải quán, chẳng nên ăn Ðủ thứ thịt, hành hẹ... Uống rượu cũng chẳng nên Ðủ thứ tỏi và nén... Người tu xa lìa luôn. Dầu mè xa lìa khỏi Giường thủng lỗ chẳng nằm Các trùng nhỏ bay lên Ðoạn hại mạng người khác. Ăn thịt lớn sức thân Do lực sinh tà niệm Tà niệm sinh dục tham Nên chẳng cho ăn thịt Do ăn thịt sinh tham Lòng tham say mê hoặc Mê say lớn ái dục Chẳng giải thoát tử, sinh Vì lợi giết sinh chúng Vì thịt tìm của tiền Nghiệp ác hại người đó Ngục Khiếu Hoán vào trong. Ba thứ gọi tịnh nhục Chẳng nghi, chẳng thấy, nghe Ðời không thịt như vậy Ăn thịt rơi vào trong Hoạn xứ uế đáng chán Thường sinh trong điên cuồng Sinh vào nhà đồ tể Chiên đà la, thợ săn Hoặc sinh nữ La sát Và những chỗ ăn thịt. La sát và mèo, chồn... Ăn thịt sinh trong đó. Kinh Tượng Dịch, Ðại Vân Niết Bàn, Thắng Man nữa Và Nhập Lăng Già Kinh Ta chẳng cho ăn thịt. Phật, Bồ tát, Thanh Văn Các vị cũng quở trách Ăn thịt không thẹn thùng Ðời đời điên cuồng mãi. Trước nói, nghi, kiến, văn Ðã đoạn tất cả thịt, Vọng tưởng chẳng hiểu biết Nên thực nhục tưởng sinh. Như lỗi tham dục đó Giải thoát Thánh ngại ngăn Rượu, thịt, hành, tỏi, nén... Thánh đạo đều bị ngăn. Chúng sinh vị lai thế Với thịt, ngu nói rằng: Thịt này sạch không tội Phật cho chúng ta ăn! Ăn sạch như dược tưởng Giống như ăn thịt con Tri túc sinh lìa chán Tu hành đi xin ăn. Kẻ từ tâm an trụ Ta nói, lìa chán luôn Sư tử, sài làng, cọp Thường hay đi, dừng chung. Ăn thịt, thấy thì sợ Làm sao có thể ăn! Vậy nên người tu hành Từ tâm chẳng ăn thịt. Ăn thịt đoạn từ tâm Lìa Niết Bàn giải thoát Trái lời dạy Thánh nhân Nên chẳng cho ăn thịt Sinh Phạm chủng chẳng ăn. Và những tu hành đạo. Trí tuệ và giàu sang Ấy do chẳng ăn thịt./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét