THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016
QUY Y TAMBAO
QUY Y TAM BẢO
I. DẪN NHẬP:
Chúng-sanh từ nhiều kiếp đến nay vì si mê lầm lạc, nên bị luân chuyển quanh sáu đường, sống trong bể nước mắt khổ đau và bùn nhơ dục vọng. Trong cảnh đen tối “cuộc vui vui dở, nỗi sầu sầu thêm” ấy, ai là người có chút thức tỉnh, lại không muốn trở về nguồn trong sáng, an lành? Nhưng làm thế nào để thoát ly? Biết nơi đâu là nương tựa?
Theo đấng Ðại-giác, chúng-sanh muốn lìa bến khổ trở lại nguồn vui, chỉ có quy-y Tam-bảo. Tại sao thế? Vì trong Tam-bảo, Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, trí bi đầy đủ, phước huệ vô biên, đức hạnh đều toàn vẹn. Ngài là bậc đạo sư vĩ đại nhất, đã có những kinh nghiệm bản thân để dẫn dắt muôn loài thoát nẻo luân-hồi, đến nơi cực quả. Về pháp, thì ba tạng Kinh-điển của Phật đầy đủ phương châm, có công năng đưa chúng-sanh vượt khỏi bến mơ, bước lên bờ giác. Còn Tăng là những vị giới hạnh trong sạch, đã lìa bỏ mọi thú vui vật chất, hướng về nẻo quang minh, có thể thay thế cho Phật để dẫn dắt chúng-sanh đi trên đường đạo. Xin dẫn một vài đoạn Kinh-luận, để nói thêm về ý nghĩa Tam-quy:
- Lại nữa, Từ-Thị! Nếu chúng-sanh nào muốn quy-y Tam-bảo, nên phát tâm như thế nầy: Nay ta đã sanh làm thân người, xa lìa tám nạn, đó là việc rất khó được. Vậy ta phải dùng phương tiện khéo, mà tu tập tất cả pháp thắng diệu. Nếu ta trái với tâm nguyện giải thoát không cầu những pháp lành, chính là tự khinh bỏ mình. Ví như có người đi thuyền ra biển, tìm được chỗ có châu báu, nhưng lại trở về tay không. Cũng như thế, Phật, Pháp, Tăng bảo là chỗ nương tựa để thoát khổ, nếu kẻ nào được gặp mà chẳng quy-y, sau dù có hối hận cũng không thể kịp! Ðã biết như thế rồi, phải nên siêng năng tu tập pháp lành nguyện cho mau được thành tựu. Những tội lỗi từ quá khứ cũng cần sám hối khiến cho trừ diệt. Phải nghĩ rằng ta từ vô thỉ đến nay, do thân, miệng, ý, tạo ra tội chướng vô lượng vô biên. Những lỗi ấy đều từ tâm niệm điên đảo giả dối mà sanh, vẫn không có thật. Như thế, các tội đã gây đối với cảnh tôn trọng như Phật, Pháp, Tăng, cha mẹ sư trưởng, cho đến lỗi nhỏ như vi-trần, nay đều sám hối.... Lại đối với những nghiệp lành của tất cả thánh-hiền như Phật và đệ-tử, hàng Ðộc-Giác, Thanh-Văn, bậc hữu học vô học cùng các loài hữu-tình trong mười phương đều phải phát tâm tùy hỷ.
Nên xét nghĩ, như khi mình đau nặng, trông mong có người quen thuộc nâng đỡ, xoa nắn, tắm rửa, lo lắng cho việc ăn uống thuốc men. Dù được sự săn sóc đầy đủ như thế, nhưng nỗi bịnh khổ của tự thân trong hiện tại còn không ai thay thế cho được, huống nữa là bao nhiêu nỗi khổ lớn sanh-tử ở đời vị lai ư? Ta đã không nơi nương tựa như thế, thì loài hữu-tình nào có khác chi! Vậy cần phải quy-y ngôi Tam-bảo chân thật, vì là chỗ thường trụ. Ví như người trí khi gặp cảnh hiểm nạn, biết cầu bậc có thế lực cứu giúp chở che. Cũng như thế, chúng-sanh trong nẻo hiểm nạn luân-hồi, phải nương về ngôi Tam-bảo, mới có thể vượt qua sông sanh-tử to rộng. Nghĩ như thế rồi, phát lòng tín hướng quả quyết, quỳ gối chắp tay đem hết thân tâm thành kính đúng theo pháp quy-y Tam-bảo. Sau khi quy-y xong lại phải phát đại tâm, nguyện cứu độ tất cả chúng-sanh vượt qua biển sanh-tử khổ não, đến bờ Niết-bàn an vui.
Pháp Tam-quy dường như đơn giản, song ít người thấu hiểu tường tận. Có vị đã quy-y, nhưng chưa rõ về nghĩa Tam-bảo. Có kẻ tuy mến chánh giáo, song chỉ đối trước tôn tượng nguyện quy-y Phật, Pháp mà không quy-y Tăng, hoặc khinh chư tăng không chịu gần gũi, khiến cho việc thọ Tam-quy không thành và tự nuôi lớn lòng cao mạn, không được phần pháp ích. Lại có người nghe nói quy-y Tam-bảo không đọa Tam-đồ chẳng hiểu đó là chỉ cho lý Tam-quy, nên bên ngoài tuy vẫn thọ Tam-quy, thờ Phật, tụng kinh, đi chùa, cúng dường chư tăng, nhưng bên trong không diệt lòng tham sân si, vì danh lợi sắc tài mà gây nhiều nghiệp ác, kết cuộc phải bị sa đọa.
Các tiết trong bản chương thuyết minh khái yếu về Tam-quy qua mấy điểm: ý nghĩa Tam-quy, Tam-bảo; nghi thức quy-y; những điều tín thệ khi thọ Tam-quy, Tam-quy là nền tảng của Ngũ-giới và các giới; tại sao chư thiên là chỗ phi quy-y, Như-Lai là nơi chân quy-y?
Bốn chúng của Phật, nhất là hàng Phật-tử tại-gia, cần nên thông hiểu về Tam-quy để cho sự tu học được thêm phần lợi ích.
1.ý nghĩa và lý do chọn đề tài:
Chân lý là những gì hết sức linh động và thực tại. Từ nhận định đó, đạo Phật đã thành lập dạo lý hướng dẫn con người hành động chứ không ngây thơ đặt những giáo điều, cứng nhắc mong áp dụng hoàn mỹ cho mọi căn cơ, thời đại. Vì vậy, đạo Phật với tinh thần khế lý khế cơ đã biểu hiện dưới nhiều hình thức uyển chuyển và ứng hợp phương châm ‘Phật pháp bất ly thế gian pháp’ như các thiền sư Việt nam với vô lậu ngũ uẩn thân đã đi vào xã hội, tùy duyên làm lợi ích cho quần sanh. Thiền sư Tuệ Tĩnh Sư Tổ ngành Nam dược Việt Nam. Thiền sư Nguyễn Minh Không mở ra kỹ thuật đúc chuông đồng, mở mang nền công nghiệp đúc đồng thời Lý. Thiền sư Vạn Hạnh, nhà tâm lý xã hội và là nhà chính trị, đã thực hiện công cuộc cách mạng phế Lê lập Lý, một cuộc cách mạng từ bi đạo đức nhất trong lịch sử Việt nam và thế giới .. Các thiền sư bất động trên sàng tọa mà có hàng trăm hàng ngàn người đi hành đạo.
Ðến đây, chúng ta có thể tóm kết lại rằng trong ngũ uẩn, tuy sắc thân là cơ sở của thọ, tưởng, hành, thức nhưng mọi diễn biến trong cuộc đời từ sự hình thành đến hủy diệt thế giới đều do tâm. Ðạo Phật đã khơi mở trí huệ con người bằng mọi cách từ sự giáo dục với cái nhìn về bản chất cuộc đời đến những phương pháp hành trì cho tâm thật phát triển tới trạng thái vô lậu.
Vì thế mà con nhận thức rõ buổi đầu của người con phật trước hết là phải biết tam quy y, để làm bậc thang đến với than tâm an lạc và được thấm nhuần giáo lý đạo phật. và đề tài “ QUY Y TAM BẢO” con đã chọn cho bài tiểu luận này.
2. phạm vi đề tài:
Trong đời sống con người quan tâm nhất là ngọc ngà, châu báu, địa vị xã hội nhưng đối với Phật giáo thì Tam bảo là ba ngôi quí báu, nhưng chúng ta không thể nào tìm thấy trong đời sống vật chất. Tam bảo mang những đức tính cao quí đem đến cho con người để con người nhận chân được giá trị của đời sống, mà chúng ta gọi là chân lý như ngọn đèn sáng soi đường đi trong đêm tối, như chiếc thuyền đưa mọi người vượt qua cơn sóng dữ.
Tam bảo được hình thành từ khi Ðức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Lộc Uyển độ cho năm anh em Kiều Trần Như. Ðức Phật Thích Ca là Phật bảo, Giáo lý tứ đế là Pháp bảo, năm anh em Kiều Trần Như là Tăng Bảo. Từ đây Tam bảo là công năng giúp con người thoát khỏi khổ đau trong đời sống hiện tại cho đến tương lai. Nhận thức được như vậy tức là chúng ta thấy được giá trị cao qúi của Tam bảọ
3. phương pháp nghiêm cứu:
Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, người viết tổng hợp nhiều nguồn tài liệu liên quan và vận dụng phương pháp phân tích bình giải đối với các tiêu chí được đề cập trong tiểu luận. Thực hiện thiên tiểu luận này, người viết chỉ mong chấm phá một nét nhỏ cho nếp sống văn hóa thêm thi vị, góp phần tạo thành ngọn gió mát giữa bầu trời oi bức của mùa hè cháy bỏng mà thôi.
II. NỘI DUNG:
1. Định nghĩa tam quy y:
Duy trì Tam Bảo là làm cho đạo Phật đi vào cuộc đời dễ dàng và để xây dựng nề nếp phát triển về đạo đức trong xóm làng và xã hội.
Tam Bảo là sự hướng dẫn tinh thần toàn hảo bằng những lý tưởng cao cả và cũng là nương tựa cho những người đang đi tìm đạo để phát triễn sự học Phật của từng cá nhân, tùy theo trình độ và hoàn cảnh khác nhau trong đời sống hiện thực.
Ratna-trayāya, cụm từ này rất quen gặp trong những câu chú hay những bài kinh Phạn ngữ, từ xưa nay. Người mới bắt đầu nghe câu này có lẽ nói có vẻ mới lạ, nhưng khi hiểu rồi mới thấy, đây là nương tựa xứng đáng và quý báu cho trọn cuộc sống của chính mình.
Ratna có gốc từ tiếng Phạn रत्न, mang nghĩa là viên ngọc. Đây là một phiên mã mang hai hình thức nữ tính रत्ना và nam tính रत्न. Trayāya trong phạn ngữ thuộc dạng nam tính, xuất phát từ chữ त्रय traya [tri-ya] dạng trung tính, và ở dạng nữ tính có chữ trayī त्रि. Cụm từ này nói chung có nghĩa là, thứ ba, bộ ba, số ba, thuộc về số ba.
Qua định nghĩa của chữ Ratna và Trayāya trong phạn ngữ, thì ý Việt được hiểu như là ba viên ngọc và Hán Việt gọi là Tam Bảo. Như vậy, trên phương diện Phật học thì Tam bảo được xem là ba ngôi qúy báu, mà trong đó bao gồm : Phật Bảo, Pháp Bảo,Tăng Bảo.
Tam Bảo là sự hướng dẫn tinh thần toàn hảo bằng những lý tưởng cao cả và cũng là nương tựa cho những người đang đi tìm đạo để phát triễn sự học Phật của từng cá nhân, tùy theo trình độ và hoàn cảnh khác nhau trong đời sống hiện thực.
Như đã hiểu và thấy qua phần định nghĩa của Phạn ngữ và trong phương diện Phật học, Tam Bảo không phải là nơi để cầu xin ân huệ, trưng bày chư Phật, Bồ tát hay tấn phong các vị Hoà thượng. Mà hãy lắng nghe và sống thực hành đúng theo những lời của Đức Phật, đã dạy cho tất cả những ai đang đi và muốn đi theo bước chân của Ngài, bằng con đường Chính Đạo.
Người đang đi tìm đạo nhất định, phải nhận thức rõ ràng định luật nhân quả báo ứng, cho nên phải cẩn thận, không chờ đến lúc nhận quả báo thì hối hận đã muộn rồi.
Cuộc đời đôn đáo, tới lui, lặn hụp, triền miên tiếp diễn, không bao giờ tìm được lối thoát bền vững lâu dài. Có rồi lại mất, mất rồi lại có, thí dụ như trong cảnh nghèo mong được giàu sang, khi có sự sang trọng giàu, thì lại lo sợ phải nghèo đói.
Thế giới có thành, trụ, hoại, không, con người cũng vậy có sinh, lão, bịnh, tử, đó là đạo lý tự nhiên. Tuy nhiên, nếu dùng vọng tưởng chấp trước để phân biệt chuyện này, cho dù phân biệt đến đâu thì cũng không bao giờ phân biệt được rõ ràng hết. Nếu muốn thoát khỏi và buông bỏ cái vọng tưởng giả này thì nên tập tu hành mới nắm được cái chân thật.
Tu thân nghĩa là làm chuyện gì không hại đến thân mình và thân người khác là một điều đơn giản dễ hiểu, dễ nhớ và dễ áp dụng trong cuộc sống
Người học Phật cần phải làm cho Phật học, ngày càng thêm phát triển bằng sự bồi dưỡng phẩm cách căn bản, vững vàng của từng cá nhân. Tức là sự trau dồi tâm lượng, sinh trưởng không dừng, bao trùm cả Pháp Giới, không có gì bao phủ hay không dung nạp được nó. Từ đó, mỗi người mới có đủ công năng duy trì bảo vệ cho sự tu Phật, mà Tam bảo là cái nôi khơi nguồn cho sự rèn luyện này.
Tam Bảo là một của hồi môn vô cùng qúy báu của Đức Phật để lại cho đời. Người học Phật có biết sử dụng hay không, đó cũng là việc tùy duyên của mỗi người. Đức Phật không trừng phạt hay trao thưởng.
Nếu bản thân là người xuất gia, thì phải nhận thức rõ ràng, để quyết tâm giữ gìn cái ngôi báu của mình cho đúng ý nghĩa.
Nếu là người đang học Phật thì nên vượt qua những thử thách khó khăn không bị cảnh giới làm cho lay chuyển, không cần phải lập chí lớn, làm chuyện lớn, mà chỉ cần tập trung làm sáng tỏ việc hấp thụ được tất cả những gì hay đẹp Đức Phật đã tìm ra và phát triển phải theo chiều hướng đó. Đây là cách làm cho đạo Phật đi vào cuộc đời dễ dàng và để xây dựng nề nếp phát triển về đạo đức trong xóm làng và xã hội được Phật hóa.
Nếu như mỗi ngôi chùa đều có hướng dẫn tận tình của các Bậc,Tăng, Ni một cách nghiêm túc, bằng chân tâm rộng lớn, và những người học Phật biết hỗ trợ lẫn nhau từ vật chất đến tinh thần, trong việc trùng hưng Tam bảo, thì có phải đây là hữu ích chung cho mọi người đang đi tìm đạo không? Một cái cây có thân, để đỡ cho cành, cành đỡ cho lá, lá che chở cho hoa, hoa nở tốt tươi cho mọi người cùng chiêm ngưỡng.
Cơ hội học hỏi và phát triển đời sống đạo đức, tâm linh và làm nền tảng cho sự giác ngộ giải thoát, đau, khổ, phiền não, cũng đều nhờ vào sức mạnh của Tam bảo. Điều này đã được chứng minh qua dòng lịch sử, biết bao nhiêu biến chuyển của đất nước, mà Tăng vẫn còn, chùa vẫn còn.
Qua lối sống cao đẹp của những bậc, Tăng, Ni, xưa này. Ngày nay, nếu trong tinh thần lá lành đùm lá rách, những người con Phật ở những nơi khá giả có điều kiện hỗ trợ cho các ngôi chùa thôn quê nghèo khó, thì đây có phải là cách duy trì Tam bảo không?
Đạo Phật đã gắn liền với Văn Hóa Việt Nam, như vậy người con Phật Việt Nam đã có cơ sở để phát triển và không cần chạy theo và cũng không bắt chước ai hết. Chỉ cần người con Phật Việt Nam này giúp đỡ cho những người con Phật Việt Nam khác trở thành Phật tử qua sự duy trì và phát huy Tam bảo đúng theo ý nghĩa của lời Đức Phật dạy.
1.1. Ý Nghĩa Tam Quy:
Tam-quy nguyên lời tắt, nói cho đủ là “Quy-y Tam-bảo”. Quy là trở về; Y là nương tựa. Quy-y là trở về nương tựa nơi mà mình đã vì si mê lầm lạc, phóng đãng bỏ ra đi. Ví như đứa trẻ vì khờ dại, bỏ cha mẹ đi hoang, trải qua những kinh nghiệm khổ đau, tự biết tỉnh ngộ, quay trở về nương tựa dưới lòng từ ái, lời khuyên dạy thiết thật, bóng tuổi tác hiền hòa của song thân. “Quy-y” nguyên là phiên âm Trung-Quốc qua danh từ Nam-Mô (Namo) của Phạm-ngữ, cũng có nghĩa là cung kính hay phục tùng.
Tam-bảo là ba ngôi báu: Phật, Pháp, và Tăng. Ví như châu báu có thể giúp cho người khỏi nghèo khó, ba ngôi nầy có thể khiến cho chúng-sanh được phước nhơn thiên, cho đến khỏi sự khổ luân-hồi đến Niết-bàn an vui, nên gọi là “Bảo”. “Phật” gọi cho đủ là Phật-Ðà (Buddha), Trung-Hoa dịch là Giác-giả. Danh từ nầy chỉ cho bậc giác ngộ viên mãn trên ba phương diện: Tự-giác, giác-tha, và giác-hạnh. Tự-giác viên mãn, là tự mình giác ngộ đến chỗ cứu cánh. Giác-tha viên mãn, là biết các phương pháp dẫn dạy chúng-sanh đến chỗ cứu cánh. Giác-hạnh viên mãn, chỉ cho hạnh giác ngộ gồm phước, huệ, tự tha, đều đi đến chỗ đầy đủ, hoàn toàn. “Pháp” nguyên phiên âm của Trung-Hoa, gọi theo Phạm-ngữ là Ðạt-Ma (Dharma). Ðây là những phương pháp tu hành để đi đến Phật quả, đại ước như ba tạng: Kinh, luật, luận. “Tăng” nói đủ theo tiếng Phạm là Tăng-già (Sangha), có nghĩa: Hòa hiệp chúng hay Thanh tịnh chúng. Ðây là những vị tu hành giữ giới hạnh trong sạch, hòa thuận chia sớt cho nhau những gì đã thu nhận được, nói đại khái là sống theo phép lục hòa. Theo đúng nghĩa thì từ bốn người trở lên mới được gọi là Tăng, nhưng một người cũng có thể đại biểu cho Tăng.
- Quy-y có mấy ngôi? Có ba ngôi là Phật, Pháp, Tăng. - Do nhân duyên gì mà chỉ có ba ngôi? Do bốn duyên: 1- Như-Lai là đấng toàn thiện, phước huệ đều viên mãn. 2- Ðối với tất cả loài hữu-tình, đầy đủ phương tiện khéo để chiết phục, điều nhiếp. 3- Ðủ lòng đại bi. 4- Giả sử có kẻ đem tất cả tài bảo cúng dường Như-Lai cũng không vui mừng, chỉ dùng chánh hạnh cúng dường mới sanh hoan hỷ. Do đó, Đức Phật, giáo pháp và các đệ-tử của Ngài, đều đáng cho chúng-sanh quy-y.
- Ðủ mấy duyên mới có thể gọi là chân thật quy-y? Ðủ bốn duyên: 1- Biết công đức. 2- Biết ý nghĩa sai biệt. 3- Chính mình phát thệ nguyện. 4- Nhận rõ không có đạo sư nào hơn.
- Hạnh tu về quy-y như thế nào? Có bốn chánh hạnh: 1- Gần gũi thiện tri thức. 2- Nghe học chánh-pháp. 3- Suy nghĩ như pháp. 4- Thực hành đúng pháp. Thành tựu được bốn hạnh nầy, mới gọi là quy-y. (Luận Du-Già-Sư-Ðịa).
1.2. Danh Nghĩa Tam Bảo:
Nói về phần khái yếu, Tam-bảo có ba bậc là: Ðồng-thể-Tam-bảo, Xuất-thế-Tam-bảo, và Trụ-trì-Tam-bảo.
- Về Ðồng-thể-Tam-bảo, thì Ðồng-thể-Phật-bảo là chỉ cho chân tánh đồng đẳng sáng suốt của chư Phật và tất cả chúng-sanh. Ðồng-thể-Pháp-bảo, tức là nói tất cả chúng-sanh cùng chư Phật đồng một pháp tánh từ bi, trí huệ. Ðồng-thể-Tăng-bảo là chỉ cho thể tánh thanh tịnh, sự lý hòa hợp của chư Phật và chúng-sanh.
- Về Xuất-thế-Tam-bảo, thì Xuất-thế-Phật-bảo chỉ cho Ðức Thích-Ca-Mâu-Ni, Ðức A-Di-Ðà và chư Phật trong mười phương, đã được giác ngộ tự tại, thoát khỏi vòng ràng buộc của thế gian. Xuất-thế-Pháp-bảo, chỉ cho chánh-pháp của Phật như Tứ-đế, Thập-nhị-nhân-duyên, Lục-độ, nói chung là ba tạng kinh, có công năng làm cho chúng-sanh vượt khỏi nẻo sanh-tử luân-hồi. Xuất-thế-Tăng-bảo, là các bậc thánh-tăng như Văn-Thù, Phổ-Hiền, A-Nan, Ca-Diếp, những vị đã siêu thoát ba cõi, chứng quả Niết-bàn.
- Về Trụ-trì-Tam-bảo, thì Trụ-trì-Phật-bảo là chỉ cho những tượng Phật bằng kim khí, bằng gỗ, bằng sành, đất, xi măng, thêu trên vải hay vẽ trên giấy. Trụ-trì-Pháp-bảo là ba tạng giáo điển kinh, luật, luận viết hay in trên giấy, trên vải, trên lá buông, hoặc khắc chạm vào gỗ, đồng, đá. Trụ-trì-Tăng-bảo, chỉ cho các vị Tỷ-khưu tu hành chân chánh, giới hạnh trong sạch trang nghiêm.
Nói tóm lại, Ðồng-thể-Tam-bảo là lý tánh đồng đẳng của Phật, Pháp, Tăng. Xuất-thế-Tam-bảo chỉ cho đức siêu thoát thế gian của ba ngôi báu. Trụ trì Tam-bảo là hình tướng Tam-bảo lưu trụ ở đời để duy trì đạo pháp, làm nhân duyên độ chúng-sanh.
Pháp bảo có ba thứ: Ðệ-nhất-Pháp-bảo là Niết-bàn, cam-lộ, giải-thoát, lấy thường, lạc, ngã, tịnh làm thể tánh, hay thoát ly sanh già bịnh chết, lo thương buồn rầu. Ðây chính là pháp-thân giải thoát của Ma-Ha-Bát-Nhã. Ðệ-nhị-Pháp-bảo là các công đức mầu thuộc giới, định huệ, và ba mươi bảy phần bồ-đề như: Tứ-niệm-xứ, Tứ-chánh-cần, Tứ-thần-túc, Ngũ-căn, Ngũ-lực, Thất-giác-chi, Bát-chánh-đạo. Ba mươi bảy phần nầy làm phương tiện cho Pháp-bảo thanh tịnh trước. Nói phương tiện là vì tu pháp nầy có thể chứng được Pháp-thân thanh tịnh. Ðệ-tam-Pháp-bảo, là chánh-pháp mà vô lượng Căng-già-sa chư Phật đời quá khứ và ta đã nói ra, như tám muôn bốn ngàn diệu pháp uẩn, để điều phục chúng-sanh thuần thục, hữu duyên, khiến cho A-Nan và các đại đệ-tử một phen nghe đều ghi nhớ hết.
Tăng bảo cũng có ba là: Ðệ-nhất-nghĩa-tăng, Thánh-tăng và Phước-điền-tăng. Ðệ-nhất-nghĩa-tăng là chư Phật thánh-tăng như pháp mà trụ, không thể nhìn thấy, cầm nắm, phá hoại, hoặc thiêu đốt, làm hại, không thể nghĩ bàn! Ðây là những phước điền tốt đẹp của tất cả chúng-sanh, tuy làm phước điền mà không nhận lãnh, và các pháp công đức thường không biến đổi. Thánh-tăng là Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm hướng, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm hướng, A-na-hàm quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Bích-Chi-Phật hướng, Bích-Chi-Phật quả, Bát-đại-nhân-giác, Tam-hiền, Thập-thánh. Phước-điền-tăng là các vị Bí-sô, Bí-sô-ni giữ gìn giới hạnh, học nhiều, trí huệ, ví như cây Thiên-ý hay che mát chúng-sanh. Lại như đám mưa rào mát ngọt hay thắm nhuần giúp ích kẻ lữ hành khô khát đang đi nơi đồng hoang bãi sa mạc, như tất cả châu báu xuất sanh từ biển nước mặn. Phước-điền-tăng cũng như thế, hay cho loài hữu-tình sự an ổn vui tươi.
Ngoài ra về Tăng, lại có Phàm-phu-tăng và Thắng-nghĩa-tăng. Phàm-phu-tăng là những vị xuất-gia cạo tóc mặc pháp phục, chưa chứng đạo quả. Thắng-nghĩa-tăng là những vị đã chứng thánh-quả, đúng với nghĩa thanh tịnh giải thoát của Tăng, không luận về hình tướng. Như thuở xưa, sau khi Phật diệt độ, ở xứ Thiên-Trúc có một vị Sa-môn tu chứng quả A-na-hàm. Vừa lúc đắc đạo, vị đại-đức nầy liền dùng phép thần túc đi mau lẹ như khoảng co duỗi cánh tay, lên trên cung trời Ðâu-Suất để yết kiến đức Di-Lặc. Nhưng khi đến nơi, ông thấy Ðức Di-Lặc tuy có 32 tướng, song còn để tóc, đầu đội thiên quan, mình mặc thiên y xinh đẹp, đeo chuỗi ngọc và những đồ nghiêm sức rực rỡ của cõi trời. Thấy thế, vị Sa-môn bỗng sanh quan niệm chấp trước rằng: ta không nên đem hình thức tôn trọng của người xuất-gia, mà đảnh lễ vị mang hình tướng thế tục. Nghĩ xong, ông vội hiện thần thông trở xuống hạ giới. Về sau, việc nầy lan truyền ra, các vị tôn đức khác phê bình ông còn chấp hình thức phương tiện của Phàm-phu-tăng, mà không đạt phần chân thật của Thắng-nghĩa-tăng, nên để mất sự lợi ích nghe pháp với một vị Nhất-Sanh Bồ-Tát. Chuyện trên đây cũng đáng làm gương cho hàng Phật-tử xuất-gia, tại-gia suy gẫm.
1.3. Khái niệm tổng quát:
1.3.1. Phật Bảo:
Tiếng Phạn gọi là Buddha, Trung hoa dịch âm là Phật Ðà, dịch nghĩa là người Giác Ngộ, tỉnh thức, hay còn gọi là Bụt. Chử Phật là nhằm chỉ chung cho những bậc đã giác ngổ Một vị Phật có 10 hiệu (thập hiệu)Phật bảo có những ý nghĩa như :
1) Tự giác : Tự mình nhận chân được chân lý sự vật hiện tượng.
2) Giác tha : Sau khi hiểu được chân lý đem sự hiểu đó truyền cho người khác hiểu như mình.
3) Giác hạnh viên mãn : Thực hiện được tự độ và độ tha là hoàn thành một cách tròn đủ đức tính của Phật.
Phật có ba đức tính (tam đức)
* Ðoạn đức (Pháp thân đức) : đoạn trừ tất cả phiền não lậu hoặc.
* Trí đức (Bát Nhã đức) : sử dụng được trí tuệ, nhằm thực hiện các pháp lành thành tựu sự giải thoát.
* Ân đức (Giải thoát đức) : luôn luôn làm lợi ích cho chúng sanh giúp chúng sanh thoát khỏi được sự khổ đà.
1.3.2. Pháp Bảo:
Tiếng Phạn gọi là Dharma, Trung hoa dịch âm là Ðạt ma, dịch nghĩa là Pháp, gồm có tam tạng thánh điển: kinh, luật, luận.
Trong kinh A Hàm có đề cập đến 5 công năng của Pháp :
1) Thiết thực ngay trong hiện tại.
2) Làm cho người thấy được tự tánh chính mình.
3) Có khả năng giúp chúng sanh đạt đến Phật qủa : "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành."
4) Vuợt ra ngoài thời gian và không gian.
5) Tu tập có kết qủa tức thì.
Giáo lý của Phật lưu truyền từ đời nầy sang đời khác giúp cho con người nương nơi đó mà tu tập đễ đạt được sự an lạc giải thoát chúng ta gọi đó là Pháp. Pháp được khế hợp 3 điều dưới đây mà thành:
-Văn nghĩa Pháp : Phật là người đầu tiên giác Ngộ Pháp mà thành Phật,Tăng già là đại chúng nương nơi Pháp tu tập. Ðây là 2 ngôi báu chứng ngộ và thực nghiệm Pháp, nếu tách rời Pháp thì không thể tồn tại được. Như vậy Pháp là trọng tâm của Phật. Ðức Phật thuyết Pháp dùng lời nói, sau nầy được ghi chép bằng văn tự,tất cả đều là giải nghĩa của Pháp, nhằm truyền đạt tư tưởng tình cảm đến cho mọi loài, như ngón tay chỉ mặt trăng.Tuy không trực tiếp nhưng gián tiếp giúp cho mọi người hiểu được Pháp.
-Ý cảnh Pháp : Ðây là Pháp bao gồm phạm vi nhận biết của tâm thức.Trong ý cảnh pháp có 2 loại:
a) Biệt pháp xứ :
Ðạo Phật cho rằng lục căn tiếp xúc với lục trần dẫn tới lục thức, nên tạo thành cảnh.Cảnh nhận biết: Nhản thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức, trong đó 5 thức đầu nhận biết phân biệt là sắc,thinh,ương vị, xúc . Ở đây chỉ có ý thức là phân biệt rõ ràng chổ không giống nhau nên gọi là Biệt Pháp.
b) Nhất thiết Pháp :
Ý thức không chỉ biết được Biệt pháp mà mọi thứ các giác quan mắt, tai,muĩ, lưỡi, thân và ý mà Ý thức có thể nhận biết được. Cho nên tất cả đều là Pháp, gọi chung là nhất thiết Pháp.
c) Y quy Pháp :
Pháp phương pháp giúp cho người học Phật nương nơi đó để tu tập, không câu nệ ở văn từ vì đây chỉ là dấu vết cuả Phật Pháp, có thể chia làm 3 loại: Chân đế pháp, Trung đạo pháp và giải thoát pháp.
1.3.3. Tăng Bảo:
Tiếng Phạn là Sangha,Trung hoa dịch âm là Tăng già, có nghĩa là một đoàn thể hòa hợp, thanh tịnh, từ 4 vị Tỳ Kheo trở lên, cùng chung một lý tưởng hướng đến qủa vị giác ngộ, giải thoát.
Tăng phải thể hiện qua năm điều:
a-Tăng luân (Tăng đoàn) : Xác định lý tưởng của người xuất gia.
b-Tăng thể : Thể của Tăng là : Trí huệ, Giải thoát, Thanh tịnh và Hoà hợp.
c-Tăng hành : Là một vị Tăng phải thực hành Chánh pháp thể hiện qua thân hành (tứ oai nghi:Ði, đứng, nằm, ngồi) và tâm hành thực hành pháp có một đời sống tâm linh.
d-Tăng đức : nếp sống đạo hạnh của một người xuất gia có những đức tính cao thượng đầy Phật chất qua thân, khẩu, ý.
g-Tăng qủa : là qủa vị của một vị tăng sau khi tu tập.
1.4. Tại sao chúng ta gọi là ba ngôi báu?
"Chân bảo thế hi hữu,
Minh tịnh cập thế lực,
Năng trang nghiêm thế gian,
Tối thắng bất biến đẳng".
Tạm dịch:
Cái qúi chơn thật trong thế gian hiếm có,
Sáng suốt không có gì làm hư hoại,
Làm chế trang nghiêm thế gian,
Ðó là pháp tối thắng không thay đổi.
Chú thích:
-Thế hi hữu : trên đời này hiếm cò
-Minh tịnh : là sáng suốt trong sạch.
-Thế lực : không gì có thể làm hư hoạ
-Trang nghiêm : làm cho ba cỏi được an vu
-Tối thắng : không có gì bằng.
-Bất biến : không gì làm mờ phai lưu chuyển.
2. Sự xuất hiện của Tam Bảo:
Sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển thuyết pháp cho những người bạn đồng tu, là năm anh em Tôn Giả Kiều Trần Như. Như vậy, lần đầu tiên trên thế gian đã xuất hiện Ba Ngôi Tam Bảo. Dù người xuất gia hay tại gia bước đầu đến với Đạo Phật đều thực hiện pháp Quy Y Tam Bảo. Quy là trở về, Y là nương tựa, tức là hướng tâm linh của mình trở về với ba ngôi báu, đó là Phật, Pháp và Tăng. Tự thân Tam Bảo trong sáng tốt đẹp, là căn nhà an ổn giải thoát nhất cho mọi người và thế gian. Đạo Phật không chỉ riêng một phạm vi quốc gia nào, một chế độ nào, hay một giai cấp nào. Bất cứ ai tự nguyện phát tâm Quy Y Tam Bảo, phát Bồ Đề Tâm đều là thuộc thành tố của Tam Bảo. Không cần ai khoác lên Tam Bảo một chiếc áo sặc sỡ để che đậy quan điểm lệch lạc, cực đoan mà mệnh danh là bảo vệ sự trường tồn của chánh pháp. Xưa và nay, Đạo Phật luôn luôn là đạo xuất thế, vượt ngoài ước lệ thế gian mà vẫn luôn cứu khổ ban vui cho con người, lấy trí tuệ làm mục đích của sự giải thoát, đó là pháp truyền thống của Đức Phật. Tam Bảo hưng thịnh là phước báo cho khắp chốn trời người và pháp giới chúng sanh nói chung.
2.1. Nguyên nhân gây thương tổn Đạo Pháp:
Hoàn cảnh xã hội chi phối rất mạnh đến Đạo Pháp, trong một thời đại mà ánh sáng đạo đức bị vùi dập, với một chủ thuyết độc tài và tham vọng, con người sống trong sợ hãi và bảo thủ, sống trong nghi ngờ và thù hận. Từ đó họ che đậy tiếng nói tự do của nền đạo lý nhân bản của Đức Phật. Qua lịch sử chúng ta thấy có nhiều xứ sở trên trái đất này, người ta vì bài xích tôn giáo, bảo vệ chủ thuyết mà đập chùa, phá tượng, chà đạp chư Tăng và làm hư hoại bản thể Tăng già. Dù ở cộng đồng nào, hay quốc gia nào đạo lý không được gìn giữ thì chất liệu tình thương và trí tuệ bị xóa mờ, làm cơ hội cho ngọn lửa vô minh và thù hận cháy lan ra khắp cả lòng người. Đó sẽ là động lực mạnh mẽ đưa đến nghiệp báo chung mà con người phải gánh chịu như: chiến tranh, thù hận, tai ương bảo lụt, bệnh dịch v.v… Điều tệ hại nhất có thể xảy ra, là tự con người vô tình hay cố ý cột chặt tôn giáo với chính trị, biến thành những mâu thuẩn phức tạp trong cộng đồng xã hội, làm con người khó tiếp nhận bản chất trong sáng của Đạo Phật.
Dù là xuất gia hay tại gia, thường niệm pháp Quy Y trong đời sống, lấy Tam Bảo làm mục đích làm lợi ích cho Dân Tộc và cho cả chúng sinh. Điều đó các nhà lãnh đạo tôn giáo, hay tín đồ phải có cái nhìn tổng quát, có sự hy sinh cao thượng, giữ gìn hình ảnh trong sáng của Tam Bảo trong cuộc đời. Tổ chức Phật Giáo chân chính là không lệ thuộc vào thế lực vương quyền hay tổ chức chính trị, vì chính Đức Phật là người đầu tiên rời bỏ vương quyền và chính trị để tu đạo. Từ xưa cho đến nay chỉ có các thế hệ vua chúa, hay quan chức lãnh đạo trong quốc gia đều từ bỏ địa vị công danh mà cầu đạo. Đức Phật cũng không cho phép đệ tử xuất gia của Ngài nhận một địa vị hay chức quyền trong một tổ chức chính trị xã hội. Dù ở hoàn cảnh nào, Đức Phật và các vị Cao Tăng luôn luôn là ở vị trí một người hướng đạo thoát tục, như là một vị Quốc sư để đóng góp tư tưởng giải thoát vào lòng Dân Tộc. Các ngài không quỵ lụy trước sức mạnh của địa vị công danh mà luôn thể hiện tình thương bình đẳng, dùng giáo lý giải thoát để hóa độ.
2.2. Thái độ sống của Người học Phật:
Khi một người đã quy y Tam Bảo không nhận thức tầm quan trọng của nền đạo đức được xây dựng từ giới luật Phật Giáo, cho dù có nỗ lực muốn bảo vệ đạo Pháp cũng là một điều thiếu sót lớn. Đôi lúc do sự nhiệt huyết mà thiếu trí tuệ biến thành sự rối loạn trong tổ chức. Thực tế do bất đồng quan điểm hành đạo sinh ra mâu thuẩn trong tổ chức Tăng Đoàn, từ đó dẫn đến băng hoại niềm tin tín đồ, gây tổn thương đến Đạo Pháp.
Phật Giáo luôn lấy hạnh phúc con người làm mục đích hoằng pháp. Trước một chế độ không yêu chuộng Phật Giáo, hay một thế lực ngoại đạo cực đoan luôn hủy báng Tam Bảo, trong hoàn cảnh đó, đánh trả quyết liệt bằng võ lực ư? Nuôi lòng thù hận ư? Khoanh tay ngồi nhìn ư? Nếu đã quy y Tam Bảo rồi bạn phải làm gì?
Đánh trả quyết liệt bằng vũ lực thì không thể xảy ra, vì Đạo Phật vào đời bằng giáo pháp từ bi và trí tuệ chứ không mang theo một vũ khí nào.
Khởi lòng căm thù thì càng không đúng vì bản chất Đạo Phật là loại trừ Tham, Sân, Si.
Khoanh tay ngồi nhìn thì cũng không phải, vì lý tưởng của Đạo Phật là chia sẻ nỗi khổ đau của dân tộc và nhân loại. Cụ thể Đức Phật là người đầu tiên lên tiếng nói bình đẳng, phủ nhận sự phân biệt giai cấp tại xứ Ấn Độ.
Đạo Phật không thiết lập tổ chức tôn giáo thông qua con đường chính trị, hay dùng thủ đoạn võ lực để ép người vào tôn giáo mình. Người đã quy y Tam Bảo luôn sống bằng trí tuệ để không bị đánh lừa bởi những quan điểm sai lạc. Dù ở trong hoàn cảnh nào, người học Phật luôn hành xử cho phù hợp khế lý và khế cơ. Khế lý là tiếng nói phù hợp với chân lý, khế cơ là tiếng nói phù hợp với căn cơ của chúng sanh.
Muốn mọi người tin nhận Tam Bảo, trước hết mở rộng tầm nhận thức về giá trị của Đạo Phật. Đừng thất vọng và sân hận khi họ chưa theo mình, đặc biệt khi họ chưa biết mình là ai. Hãy nghe Đức Phật dạy: “Này các Kalamas, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo một lập trường, chớ có tin vì đánh giá hời hợt các dữ kiện, chớ có tin vì phù hợp với các định kiến, chớ có tin vì phát xuất nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị sa môn là bậc đạo sư của mình. Này Kalamas, khi nào các ngươi biết rằng những việc này là tốt, những việc này là thiện, những việc này được mọi người tán thán. Những việc này nếu thuận theo và thực hành sẽ mang lại lợi ích tốt đẹp thì các ngươi hãy chấp nhận chúng”. (HT.Thích Minh Châu, Trường Bộ kinh I, Kinh Kalamas).
2.3. Tiêu chí phụng sự Tam Bảo:
Thực hiện tôn chỉ Đạo Phật truyền thống là tu tập Giới Định Tuệ để đối trị Tham Sân Si. Căn bản là giáo dục chư Tăng và Phật tử tôn trọng giá trị với quy củ tự viện theo giới luật Phật chế. Giới luật của Phật Giáo không phải là sự ràng buộc mà là sự bảo hộ cho đời sống chúng ta không bị phiền não. Đó là kim chỉ nam để hướng chúng ta đến cuộc sống Chân Thiện Mỹ. Đó là liều thuốc quý nuôi dưỡng thân tâm và nếp sống hạnh phúc ngay trong đời này. Đó là con đường duy nhất đem đến sự lợi ích cho Tăng Ni và Tín Đồ hướng giải thoát giác ngộ. Vì con đường Giới Định Tuệ là nền tảng của các pháp môn tu tập trong Đạo Phật.
Tổ chức Tăng đoàn theo nguyên tắc giới luật để thích ứng với nhu cầu tu học thiết thực của chư Tăng. Bất cứ một tổ chức giáo hội hay một tự viện nào mà không phát triển công tác giáo dục tri thức Phật học và xây dựng tinh thần giải thoát thông qua sự tu học thì sẽ trái ngược với tôn chỉ của Đạo Phật, không đem sự nương tựa xứng đáng cho chư Tăng và Tín đồ.
Giải quyết tình trạng phụng sự Tam Bảo từ vấn đề lý tưởng và hiện thực hoàn toàn đối lập. Cụ thể là lý tưởng tốt đẹp được mọi người ưa chuộng mà hiện thực chưa đem được lợi ích lớn cho Đạo Pháp. Đây là vấn đề Tăng Ni và Phật tử phải suy xét tường tận mọi phương pháp cụ thể để đưa Đạo Phật vào trong mọi hoàn cảnh xã hội một cách thiết thực. Nguyện cầu chư Phật gia hộ cho thiền môn nghiêm tịnh, Tăng già hòa hợp, thất chúng câu hội đồng tu, đạo Pháp trường tồn, thế giới hòa bình, và chúng sanh an lạc.
2.4. Yếu Ðiểm Về Việc Thọ Tam Quy:
Sau khi đã rõ ý nghĩa Tam-bảo và sự cần thiết về quy-y, người muốn bước lên đường đạo đức, giải thoát, phải nên thực hành điều hiểu biết ấy. Quy-y có hai: Sự-quy-y và Lý-quy-y.
2.4.1.Phần Tam-quy về Sự:
thì Sự-quy-y Phật là thân hằng chiêm ngưỡng kính lễ hình tượng Ðức Thế-Tôn, miệng xưng danh hiệu Ngài, tâm luôn luôn tưởng nhớ nguyện suốt đời theo bước chân đấng Ðiều-Ngự. Sự-quy-y Pháp là việc nghe học nghiên cứu nghĩa lý nhiệm mầu trong ba tạng, hoặc thường đọc tụng kinh, luật, luận, nghi nhớ lời thánh-giáo, y theo đó mà tinh tấn tu hành. Sự-quy-y Tăng là gần gũi những vị Sa-môn có giới hạnh, thông hiểu chánh-pháp, để học hỏi những điều mình chưa biết. Người đã thọ Tam-quy, đối với những bậc Tỷ-khưu hạnh giải cố nhiên là phải cung kính, cúng dường, thân cận; nhưng với những vị Tăng không thanh tịnh tuy không gần gũi, cũng đừng nên sanh lòng khinh mạn, nặng tiếng bêu rêu, vì làm như thế có tánh cách phá hoại Tam-bảo, tự gây ác nghiệp cho mình.
2.4.2. Phần Tam-quy về Lý:
là quy-y nơi lý tánh Phật, Pháp, Tăng của mình, cũng gọi là Tam-tự-quy-y. Lý-quy-y Phật là hành giả phải dứt hết tâm mê vọng, trở về với Phật tánh sáng suốt của mình. Phật tánh ấy mọi người chúng ta đều sẵn có, chỉ vì từ vô thỉ ta hằng để nước lòng vẩn đục, nên làm mất ánh sáng thiên chân. Tánh cách quy-y nầy là tìm nơi chính mình, chớ không phải hướng theo bên ngoài. Tục ngữ có câu: “Không thờ Phật trong nhà, uổng đi tìm Thích-Ca ngoài đồng” chính là lẽ ấy. Lý-quy-y Pháp là nương về pháp tánh trong sạch của mình. Pháp tánh đó có đủ Tứ-vô-lượng-tâm, Tứ-vô-ngại-biện, Tứ-trí, Tứ-đức-niết-bàn, Lục-ba-la-mật, tóm lại là vô lượng pháp môn. Chúng ta cần phải phát huy những công đức sẵn có ấy. Lý-quy-y Tăng là nương theo vị Tăng trong tâm mình. Vị Tăng đó tức là đức tánh thanh tịnh, hòa hợp, giải thoát sẵn có của tâm, ví như Tăng-già là hiện thân của sự thanh tịnh, hòa hợp, giải thoát bên ngoài. Khi ta còn mê muội chưa biết rõ ông thầy của tự tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, ta nên nhận thức mà trở về với Tăng-đức thanh tịnh của mình.
Tóm lại, Sự-Tam-quy thiên trọng về hình nghi, Lý-Tam-quy thiên trọng về tâm tánh. Lý-Tam-quy như Pháp-Bảo-Ðàn-Kinh đã nói: “Giữ lòng giác ngộ, là quy-y Phật, giữ lòng chân chánh là quy-y Pháp, giữ lòng thanh tịnh là quy-y Tăng”. Người quy-y nếu chỉ thiên trọng về Sự-Tam-quy thì duy có bề ngoài mà không có bề trong, chấp phương tiện mà không đi đến chỗ cứu cánh. Nếu chỉ chấp Lý-Tam-quy phế bỏ phần Sự, tức là khinh mạn ngôi Tam-bảo, trái với tự tâm, rồi phần Lý-quy-y cũng không thành. Tại sao thế? Vì chân lý của tự tâm vốn giác ngộ thanh tịnh, không có tánh cách kiêu mạn thiên chấp, vì trái với phương tiện thứ đệ của Phật dạy, vì toàn Sự tức là Lý. Cho nên Bàng-Uẩn cư sĩ dù ngộ đạo cũng vẫn quy-y, Lục tổ Huệ-Năng dù thấu suốt tự tâm, được truyền y bát, cũng phải thọ giới. Ðể nhấn rõ thêm những điều trọng yếu, xin dẫn ít đoạn kinh nói đại lược về mấy điểm nghi thức tín thệ, và cơ sở giới luật của Tam-quy:
“Khi ấy, Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát hỏi: -Bạch Thế-Tôn! Phép quy-y như thế nào? Ðức Phật bảo: “Bạch đại-đức! Con là (tên họ hoặc pháp danh), từ nay cho đến khi thành đạo bồ-đề, xin quy-y Phật, quy-y Pháp, quy-y Tăng”. Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế. Lại thưa: “Con là... đã quy-y Phật rồi, quy-y Pháp rồi, quy-y Tăng rồi”. Nói như thế ba lần. Ðây là phép Tam-quy, tam-kết, yếu điểm trong nghi thức quy-y”. (Kinh Văn-Thù-Sư-Lợi-Vấn)
...Lại nên bảo rằng: “Giới Ưu-bà-tắc rất khó giữ. Nếu đã quy-y Phật, thà bỏ thân mạng, quyết không quy-y các vị thiên thần hay ngoại-đạo khác, như Tự-Tại-Thiên... Nếu đã quy-y Pháp, thà bỏ thân mạng, quyết không nương theo các kinh sách của ngoại giáo. Nếu đã quy-y Tăng, thà bỏ thân mạng, quyết không gần gũi nương tựa theo tà chúng. Ông có thể như thế mà chí tâm quy-y Tam-bảo chăng? Như người thọ Tam-quy đáp: “Có thể”, thì lại bảo tiếp: - Nầy Thiện-nam-tử! Giới Ưu-bà-tắc rất khó giữ. Nếu người nào nương về Tam-bảo, tất phải bố thí sự không sợ hãi cho chúng-sanh. Như kẻ ấy có thể bố thí vô úy, thì mới đắc Tam-quy và giới Ưu-bà-tắc, cho đến quả A-Nậu-Đa-La-Tam-Miệu-Tam-Bồ-Đề. Ông có thể như thế mà bố thí sự không sợ hãi cho chúng-sanh chăng? (Kinh Ưu-Bà-Tắc-Giới).
3. Chỗ Phi Quy Y:
Như Kinh nói, người đã quy-y Phật rồi, dù cho thiên thần còn không nên nương theo, huống chi là tà-ma ngoại-đạo. Nhưng tại sao chư thiên cũng tôn quý, lại không phải là những bậc đáng quy-y? Ta hãy xem một đoạn trong luận tạng như sau:
Do năm nhân duyên, nên biết chư thiên không phải là chỗ quy-y? Năm nhân duyên ấy là: 1- Do hình tướng. 2- Do tự tánh. 3- Do tác nghiệp. 4- Do pháp nhĩ. 5- Do nhân-quả.
3.1. Tại sao do hình tướng, nên chư thiên không phải là chỗ quy-y?
Ấy bởi chư thiên không phải là những vị mà người đời thường trông thấy, hoặc tiếp xúc nói chuyện. Có khi chư thiên thần hình dáng oai mãnh, khác lạ, đáng khiếp sợ. Hơn nữa, chư thiên thường buông lung theo sự tham ái vui chơi, bỏ việc lợi tha, không có lòng bi mẫn, đối với nghĩa chân thật không thông đạt, chẳng biết những điều đáng làm cùng không đáng làm.
Còn Đức Phật là bậc mà người đời được trông thấy, thường tiếp xúc nói chuyện, hình tướng tươi đẹp, điềm tĩnh, trang nghiêm. Như-Lai xa lìa sự tham ái, phóng dật, thương xót loài hữu-tình, hằng có tâm lợi tha, biết việc đáng làm cùng không đáng làm, thông đạt nghĩa chân thật.
Lại nữa, Như-Lai là bậc chân quy-y, do bởi năm sự kiện: 1- Vì lợi ích tất cả hữu-tình mà tu chứng bồ-đề. 2- Khéo xoay chuyển bánh xe chánh-pháp. 3- Tâm lợi tha bình đẳng, không phân biệt ân, oán, thân, sơ cùng dị loại. 4- Bỏ tất cả cung điện, quyến thuộc, sự tôn vinh, nhiếp trừ tham ái, các căn tịch tịnh. 5- Hay giải quyết tất cả mối nghi cho chúng-sanh.
3.2. Tại sao do tự tánh nên chư thiên không phải là chỗ quy-y?
Ấy bởi chư thiên còn tùy theo phiền não, còn nghiệp hoặc, tánh chưa thuần thiện, không thể điều ngự kẻ khác đúng theo đạo lý. Trái lại, Như-Lai lìa tất cả phiền não, tâm tánh thuần thiện, khéo điều ngự tất cả loài hữu-tình.
3.3. Tại sao do tác nghiệp, nên chư Thiên không phải là chỗ quy-y?
Ấy bởi chư thiên còn an trụ nơi sự thọ hưởng dục lạc, có thể gây ra ác nghiệp và làm tổn hại cho loài hữu-tình. Còn Đức Phật thì tâm quảng đại sáng suốt trong sạch, thường an trụ nơi chánh định hay làm những việc lợi ích cho chúng-sanh.
3.4. Tại sao do pháp nhĩ, nên chư thiên không phải là chỗ quy-y?
Ấy bởi tất cả kết quả tốt đẹp an vui của thế gian và xuất thế gian đều do công lực của mình. Nếu tự mình không gắng sức ra công làm lành tu tập, thì dù có hết sức thờ kính chư thiên, cũng không thể được. Trái lại, tuy không kính thờ chư thiên mà gắng sức làm lành tu tập cũng được kết quả tốt đẹp an vui.
3.5. Tại sao do nhân-quả, nên chư thiên không phải là chỗ quy-y?
Nên suy gẫm: Kết quả của thân trời là do nghiệp trời, do cúng dường chư thiên, hay do vô nhân mà được? Nếu do tạo phước trời thì nên nương theo nghiệp lành của mình, không cần quy-y chư thiên kia. Nếu do vô nhân, thì cũng không cần quy-y chư thiên. Nếu do cúng dường, thì bởi dùng tâm nguyện được sanh cõi trời, hay dùng đồ cúng mà được sanh cõi trời? Nếu chỉ dùng đồ cúng thì tùy ý cúng dường bất cứ vị nào cũng được thân trời, cần chi phải quy kỉnh chư thiên? Nếu chỉ dùng tâm nguyện thì không cúng dường cũng được sanh cõi trời, cần chi dùng đồ cúng? Nếu nói dùng cả tâm nguyện và đồ cúng, thì người làm ác chỉ cần quy kỉnh cúng dường chư thiên cũng được làm thân trời hưởng phước lạc, chẳng lẽ trái với lẽ phải, với nhân-quả hay sao? Cho nên ngoại-đạo bảo chỉ quy kính cúng dường thiên thần, sẽ được sanh lên cõi trời hưởng phước an vui là không đúng với đạo lý. (Luận Du-Già-Sư-Ðịa).
3.6. Nhận Thức của người Phật Tử đối với Tam Bảo:
3.6.1. Xác lập về hình ảnh Phật Bảo (Ðức Phật):
a/ Ðức Phật là một vị dẫn đường (đạo sư) : Người Phật tử tìm đến với đạo Phật là muốn tìm đến chân lý, ngõ hầu nhận ra được lẽ thực của cuộc đời qua hình ảnh của Ðức Phật cho chúng ta nhận thấy Ngài là một vị Ðạo Sư như Ngài đã dạy; "Như Lai chỉ là người chỉ đường,mỗi người phải tự đi đến,không ai đi thế cho ai được".Ngài khuyên các đệ tử : "Người là nơi nương tựa của chính mình,không ai khác có thể làm nơi nương tựa" và Ðức Phật kết luận : "Các người nên làm công việc của mình,vì các đức Như Lai chỉ dạy con đường mà thôi".
b/ Ðức Phật là một vị lương y (đại Y vương) : Ðức Phật thường khẳn định Ngài là một vị lương y " Như Lai là một vị lương y biết bệnh mà cho thuốc,uống hay không tùy mỗi người"
c/ Ðức Phật không phải là đấng siêu nhiên : Quan niệm của đạo Phật nhìn đức Phật chỉ là một người thầy dẫn đường, một lương y, đức Phật không bao giờ cho mình có một quyền năng ban phúc giáng họa cho ai. Ngài sanh ra là một con người ,sống bình thường như một con người và từ giả cuộc đời như một con người. Có một vị Bà La môn hỏi Ngài là ai. Ðức Phật nói: " Như Hoa sen đẹp đẻ và dễ thương,không ô nhiểm bùn nhơ nước đục, giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ,Như vậy ta là Phật"(Anguttara Nikaya).
3.6.2. Người Phật tử đối với Chánh Pháp:
Con người là chủ nhân ông có thể làm thay đổi đời sống của chính mình chứ không ai có thể là ai khác. Cho nên người con Phật là người phải nhắm vào mục đích chính của Ðạo Phật mà đức Phật thường dạy: " Nước của bốn biển chỉ có một vị duy nhất đó là vị củ muốn, cũng vậy giáo Pháp của Như La cũng chỉ có một vị đó là vị giải thoát". Ðối với giáo lý của Phật dạy người Phật tử phải xem đó như là thuốc chửa lành bệnh của mình.,như cổ đức thường dạy: "Chúng sanh đa bệnh Phật Pháp đa phương".
3.6.3. Người Phật Tử đối với Tăng già:
Trong Phật giáo thường đề cập : " tứ chúng đồng tu" (Tỳ kheo,Tỳ kheo Ni, cận sự nam và cận sự nữ) mà chúng ta gọi là tứ chúng.
Ðối với chúng xuất gia thì nghiên cứu, ứng dụng thực hành tu tập, truyền dạy giáo Pháp của Phật cho chúng tại gia, ngược lại chúng tại gia có trách nhiệm ngoại hộ đễ cùng tu cùng tiến bộ trên con đường giải thoát. Nhưng cả hai tại gia và xuấùt gia đều là đệ tử Phật, chính mối tương quan trong việc tu tập giúp cho cả hai có điều kiện đễ cùng tiến bộ về tâm linh.
4. Nghìn Năm Một Thuở:
Đối với Phật giáo, quy y tam bảo là bước đầu tiên vào đạo, là nền tảng của quá trình tu học Phật pháp. Tam quy và ngũ giới là pháp hành trì căn bản nhất đưa đến an lạc giải thoát. Nếu không hành trì pháp căn bản này thì cơ sở nào để chứng minh rằng ‘ta hiểu và tu tập tốt’ như nhiều người biện minh.
Có lẽ không ai thắc mắc khi nói rằng để trở thành một học sinh của một trường học chính quy thì phải đăng ký ghi danh, trở thành nhân viên của một công ty chính thức thì phải đăng ký hồ sơ, trở thành đảng viên của một đảng phái chính trị thì phải kết nạp và tuyên thệ trung thành, trở thành tín đồ của tôn giáo nhất thần hay đa thần thì phải trải qua các nghi thức thâu nhận tín đồ do tôn giáo đó quy định. Cũng vậy, không ai thắc mắc khi nói rằng để trở thành một Phật tử đầy đủ, tín đồ Phật giáo cũng phải trải qua nghi thức Phật giáo được gọi là lễ quy y hay lễ truyền tam quy và ngũ giới. Vấn đề tưởng chừng như không cần thắc mắc ấy lại là một nghịch lý tồn tại trong Phật giáo. Một nghịch lý là có rất nhiều tín đồ Phật giáo muốn trở thành Phật tử nhưng lại ngại thọ tam quy và ngũ giới. Phải chăng Phật tử chưa hiểu lợi ích của việc quy y hay là lo sợ không giữ trọn giới khi đã thọ trì? Đâu là nguyên nhân cản trở Phật tử hướng đến con đường thánh thiện và làm cách nào để có thể tháo gỡ nghịch lý trên. Bằng cách nào để chứng minh rằng thọ tam quy và ngũ giới là cơ hội ‘nghìn năm một thuở’ mà Phật tử đang có và không thể bỏ qua. Đó là những câu hỏi đặt ra cho hàng Phật tử chúng ta để cùng suy ngẫm lời giải đáp.
4.1. Tại sao phải quy y?
Một vấn đề được nhiều người đặt ra và tự hỏi là tại sao ta phải quy y cho bị ràng buộc, và tự phản biện rằng miễn ta hiểu và thực hành tốt là được rồi, không nhất thiết phải quy y mà không thực tập. Nghe qua câu nói ấy tưởng cũng logic và cũng có lý nhưng chính cái tưởng có lý ấy lại là tri thức sai lầm đã cản trở con đường trở thành Phật tử đầy đủ của tín đồ Phật giáo. Tại sao?
Như phần giới thiệu đã đề cập, chắc chắn rằng không ai thừa nhận ta trở thành một học sinh, một công nhân, một đảng viên v.v… nếu như ta không tuân thủ quy định bắt buộc. Cho dù ta có giỏi xuất chúng mà không nương vào khuôn phép thì cũng chỉ là người ngoài cuộc. Lý do tại sao chắc ai cũng rõ. Lại nữa, trong các tôn giáo đa thần như truyền thống của đạo Hindu (Ấn giáo), người con trai muốn trở thành người con thật sự trong dòng họ Vệ đà để có đầy đủ tư cách học kinh Vệ đà (kinh thánh của đạo Hindu) thì bắt buộc phải trải qua lễ upanayana (lễ công nhận người con trai sanh lần thứ hai tức sanh trong dòng Vệ đà, khác với lần thứ nhất do cha mẹ sanh), còn người con gái thông qua lễ cưới để được công nhận trở thành gia chủ, và có thể bước vào đời sống tâm linh. Trong truyền thống Cơ đốc giáo, các tín đồ đều phải trải qua lễ báp tít (baptism) để trở thành con chiên chính thức của giáo hội. Những dẫn dụ trên để chứng minh rằng các tổ chức xã hội hay truyền thống tôn giáo đều có những quy định về quyền lợi và bổn phận rõ ràng đối với người tham gia và đó cũng là cơ sở để xây dựng nên một tập thể kỷ cương và vững mạnh.
Đối với Phật giáo, quy y tam bảo là bước đầu tiên vào đạo, là nền tảng của quá trình tu học Phật pháp. Tam quy và ngũ giới[3] là pháp hành trì căn bản nhất đưa đến an lạc giải thoát. Nếu không hành trì pháp căn bản này thì cơ sở nào để chứng minh rằng ‘ta hiểu và tu tập tốt’ như nhiều người biện minh. Và tội gì khi ta có đủ tư cách để hành trì tam quy và ngũ giới một cách chính thức mà lại tu tập ‘không chính quy’ theo lời biện bạch. Cái chính quy chắc rằng tích cực hơn và hỗ trợ ta nhiều hơn so với cái không chính quy dù trong bất cứ lĩnh vực nào trong xã hội huống gì đời sống tâm linh vốn rất cần gần gũi những bậc thầy lành, bạn tốt. Thế thì, có lý nào ta muốn trở thành Phật tử chân chánh mà không quy y; có lý nào ta muốn xây nhà ba tầng mà không muốn xây nền móng, chỉ muốn xây tầng thứ ba như ông trưởng giả trong Kinh Bách Dụ; có lý nào ta mong muốn hạnh phúc an lạc mà pháp hành trì cơ bản nhất cũng khước từ; và có lý nào ta đủ tự tin hướng đến giải thoát sanh tử mà không cần nương tựa tam bảo?
Rất nhiều bài kinh trong kinh bộ Nikaya chép rằng, sau khi tiếp kiến, đàm luận hay cật vấn đức Phật, tất cả các vị vua chúa, đại thần, thương gia, thường dân, cho đến các vị lãnh đạo của các giáo phái khác đều thừa nhận giáo pháp của đức Phật hoàn thiện cả ba thời và họ đều mong cầu được quy y. Đức Phật, trước khi chấp nhận, luôn khuyến khích họ nên giữ truyền thống gốc khi đã quy y và thực hành giáo pháp của Ngài. Tại sao các vị ấy lại khát khao quay về đạo Phật, và tại sao đức Thế Tôn dạy pháp quy y thay vì cứ để họ tự hiểu và hành theo ý họ?! Câu trả lời là vì giáo pháp của đức Phật thật sự đem lại an lạc cho họ, và đức Phật hiểu rõ rằng chỉ có thể thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát khi nương tựa vào tam bảo.
4.2. Quy y được lợi ích gì?
Thông thường, khi làm việc gì chúng ta đều có mục đích. Mục đích có thể là kết quả hướng đến, là lợi ích mà ta mong muốn đạt được. Lợi ích có thể là vật chất, địa vị danh vọng, là an lạc hạnh phúc, v.v... Lợi ích của sự quy y tam bảo theo Kinh Nhật Tụng hằng ngày ghi là khỏi đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh. Theo lời dạy của Hòa thượng Thích Thiện Hoa trong sách Phật Học Phổ Thông thì quy y tam bảo có 2 lợi ích là ‘khỏi đi lạc đường đời vào nơi tăm tối và Phật tử hành trì Phật pháp hiệu quả hơn vì sợ thất hứa với lời phát nguyện quy y dưới sự chứng minh của chư Phật và chúng Tăng.’ Còn theo theo bài viết của Đại đức Thích Giải Hiền thì quy y có 8 lợi ích là ‘1. Trở thành đệ tử của Phật, 2. Là nền tảng của việc thọ giới, 3. Có thể tiêu trừ nghiệp chướng, 4. Có thể tích tập phước đức to lớn, 5. Không đọa ác đạo, 6. Người và phi nhơn không thể làm hại, 7. Có thể thành công trong mọi việc lớn, 8. Có thể thành Phật.’Nói một cách tổng quát thì lợi ích của sự quy y là duyên lành để nương tựa chánh pháp, nương tựa thầy lành bạn tốt, để phát triển đời sống tâm linh, để cùng đi trên con đường thánh thiện, và tất yếu là để thoát khỏi ba ác đạo, sanh vào các thiện đạo.
Như một quy luật tự nhiên, lợi ích là động lực thúc đẩy người ta đi đến một quyết định có ý thức nhất thời hay lâu dài. Lợi ích vừa nêu trên có vẻ trừu tượng và không mấy hấp dẫn đối với những người thiên về thực dụng và nhất là giới trẻ ngày nay sống trong xã hội chạy đua hưởng thụ vật chất như ở Việt nam. Cái mà nhiều người mong muốn hiện nay là có nhiều tài sản, có địa cao, có quyền lực lớn, hưởng thụ thoải mái, và sự hứa hẹn hấp dẫn ‘làm ít hưởng nhiều, không tu cũng chứng’.
Nắm được tâm lý này, các tôn giáo đã phát động chiến dịch ‘nhập tịch thiên đường’ bằng cách vận động tài chánh qua những lời hứa hẹn sẽ ‘cấp visa’ sớm nếu như số tài khoản đóng góp càng cao. Những tài khoản này sẽ được dùng vào một chiến dịch khác là ‘mở rộng thiên đường và phát triển tín đồ’ cũng với những lời hứa hẹn hấp dẫn cộng thêm những món quà tương đối giá trị đối với những vùng xa xôi nghèo khó. Nếu như chiến dịch chỉ dừng lại ở đó thì không có gì phải bàn và nếu cần bàn thì phải khâm khen và khuyến khích những hoạt động như thế. Điều không may mắn là đằng sau hoạt động tốt đẹp ấy là một ‘đại dự án’ ít ai có thể ngờ, nhất là bà con ở những nơi xa xôi thiếu thông tin.
Đây thật sự là bài học quý giá để Phật giáo suy ngẫm về sự chăm sóc tín đồ và phương cách truyền bá chánh pháp của mình. Phật giáo hầu như thờ ơ trong việc quan tâm đến Phật tử. Sau khi các chùa truyền tam quy cho tín đồ rồi thì xem như là xong nhiệm vụ. Các chùa không biết mình đã truyền tam quy cho bao nhiêu Phật tử và bây giờ họ làm gì ở đâu, sống hay chết, còn là Phật tử hay cải đạo rồi. Hơn nữa, nhiều vị xem việc truyền tam quy cho tín đồ như là ban phát một ân huệ và tự nghĩ rằng Phật tử phải biết ơn này và phải có bổn phận trách nhiệm với chùa. Lẽ dĩ nhiên, người Việt nam vốn có đức tính tôn sư trọng đạo và luôn đề cao đạo lý ấy. Tuy nhiên, sau khi quy y có nhiều Phật tử không tìm học được nhiều ở chùa đã quy y nhưng lại tìm thấy có nhiều điều cần phải học từ các chùa khác. Do đó, họ tìm đến các đạo tràng tu tập để phát triển đời sống tâm linh. Khi biết tin những người Phật tử mình truyền tam quy đi các chùa khác tu tập, nhiều vị thầy đã không hài lòng và đôi khi có những cách hành xử làm Phật tử nản lòng. Thử hỏi nếu những vị ấy bỏ đạo đi theo các tôn giáo khác hay theo tà pháp thì sao? Tại sao ta không tạo điều kiện cho Phật tử tu học, không khuyến khích họ tìm học mà còn cản trở họ đi tham học? Vậy thì, Phật tử quy y hơn gì so với những Phật tử không quy y nếu không muốn nói là có những trường hợp còn rắc rối thêm. Phải chăng đây là yếu tố góp phần cản trở tín đồ quy y?!
4.2.1. Lợi ích của quy y:
Người nào quy y Phật, lạy Phật, tán dương đức Phật thì có phước báu lớn. Có phước lớn thì có thể có địa vị cao trong xã hội ví dụ như làm chủ tịch, giám đốc. Nếu đi tu thì làm pháp chủ, làm trụ trì, làm tăng thống.
Quy y Pháp, lạy Pháp, cúng dường Pháp Bảo, ấn tống kinh sách thì có phước trí tuệ. Cho nên người nào thấy mình không sáng suốt, học ít thì ráng ấn tống kinh sách băng giảng cho nhiều để được phước trí tuệ.
Quy y Tăng thì có phước giàu sang bởi Tăng là phước điền của chúng sanh. Vì sao? Vì quy y Tăng chúng ta gần gũi học phật pháp và bố thí, mà bố thí là nguyên nhân phát sanh phước giàu sang.
Thời đức Phật còn tại thế, có ông Cấp cô Độc sau khi quy y Phật đã tìm đất cúng cho Phật làm chùa. Ông cúng chừng hai ba chục mẫu để xây dựng Kỳ Viên Tịnh Xá. Mỗi ngày ông thỉnh 500 vị sư để bố thí, cúng dường đến nỗi chư thiên ở trong nhà ông ganh tỵ vì họ có tâm bỏn xẻn. Có vị chư thiên đã khuyên ông Cấp cô Độc thôi đừng làm phước nhiều quá tài sản dễ bị cạn kiệt. Nhưng ông Cấp cô Độc lúc bấy giờ đã chứng quả Tu Đà Hườn bèn nói: “ Tôi có tâm thí mà ông không đồng tâm với tôi thì ông làm ơn đi ra khỏi nhà tôi”. Vị chư thiên bị đuổi ra khỏi nhà ông Cấp Cô Độc bèn lang thang gặp vua trời Đế Thích van xin, nói hộ ông Cấp cô Độc dùm và xin cho được ở lại trong nhà ông. Vua trời Đế Thích nói với vị chư thiên này rằng: ‘’ Tội nhà ngươi đáng chết, dám xúc phạm với vị thánh đệ tử phật, thôi thì tôi có lời khuyên: Ông hãy dùng thần thông thu gom tài sản lại cho ông Cấp cô Độc đã thất thoát nhiều năm bởi động đất, mưa bão v.v… nay đã trôi ra biển cả, sông ngòi. Thu gom về đem để vào kho của Ông Cấp Cô Độc. Làm xong việc đó, ông về xin sám hối và có thể ông hoan hỷ cho ở lại tiếp. Vị chư thiên làm đúng như lời Vua trời Đế Thích dặn nên có hiệu quả, vị chư thiên hoan hỷ quá.’’
Vậy nên bố thí hợp đạo, phước sẽ tăng trưởng. Người có quy y Tam bảo, tà ma không bao giờ dám quấy nhiễu, bùa ngãi không bao giờ làm tổn hại được. Người quy y đọc nhiều lần câu: Con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì không tà ma nào xâm hại được.
4.2.1.1. Thế nào là đứt quy y?
Có hai trường hợp đứt quy y, bỏ phật giáo theo một tôn giáo khác, hai khi thân hoại mạng chung. Trường hợp thứ nhất mong rằng Phật tử ta không nên làm, vì bỏ tôn giáo mình theo một tôn giáo khác là một điều trái đạo lý luân thường, tâm không chung thủy, biết ơn. Làm người vong ơn như thế thì nghiệp chướng nặng nề. Tuy nhiên vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải bị theo một tôn giáo khác thì nhớ rằng phật tại tâm, làm lành lánh dữ, giữ tâm ý trong sạch, đó cũng là quy y đúng nghĩa. Trường hợp thứ hai là lẽ thường tình thế gian, khi chết là đứt Tam quy. Tuy nhiên theo Phật giáo, chết là sự thay đổi kiếp sống, đổi từ hình thức này sang hình thức khác, tùy thuộc tâm thiện ác và nghiệp lực của chúng ta. Nếu người làm thiện thì sự thay đổi nhàn cảnh, người làm ác thay đổi khổ cảnh. Người có quy y, lúc chết đứt quy y, nhờ phước quy y nên sanh nhàn cảnh, ở đó họ lại tiếp tục gặp phật pháp và quy y.
4.2.1.2. Thế nào là bợn nhơ quy y?
Chúng ta đã quy y Phật, Pháp, Tăng, tin lý nhân quả nghiệp báo nhưng vì tham lam lại lễ bái những thần linh khác, cầu nguyện van xin những vị thần khác gia hộ ngoài Phật Thích Ca, ngoài Tăng đoàn như thế gọi là bợn nhơ quy y. Bợn nhơ là tâm bị cấu uế bởi đối tượng thần quyền ngoài tam bảo, mang tính cách phi nhân bản, xa lìa nhân quả, dị đoan v.v… đặc biệt là không chánh kiến. Đức phật dạy: người không chánh kiến luân hồi sẽ vô cùng vô tận.
Cho nên hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình.Tội hay phước là do tâm mình tạo, chỉ có tâm ta thiện hay bất thiện, chỉ có tâm ta vị tha hay ích kỷ.
5. Suy nghĩ về Tam quy:
Tam quy là quy y Tam bảo (quay về nương tựa ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng) còn ngũ giới (là năm nguyên tắc sống đạo đức gồm không sát hại, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu bia say và tuyệt đối không sử dụng ma túy).
Tạm diễn dịch như thế nhưng có những bạn trẻ mới biết đạo, mới tập đi chùa, thậm chí có người đã có pháp danh, làm lễ quy y rồi vẫn chưa hiểu, chưa hiểu nên băn khoăn…
5.1. Lý do tự thân:
Vì sao người trẻ lại băn khoăn, nhất là với những bạn mới tập đi chùa, học đạo khi được hỏi “đã quy y, thọ giới chưa?” hoặc “tính khi nào quy y, thọ giới đây?”. Câu trả lời là bởi các bạn chưa hiểu hoặc hiểu chưa tới ý nghĩa của hai cụm “Tam quy” và “Ngũ giới”. Bạn Nguyễn Thị Trang đang là giảng viên của một trường đại học mới tập tành đi chùa chừng hơn một năm nay bày tỏ: “Có nhất thiết phải quy y mới trở thành Phật tử? Em sợ khi quy y và thọ giới xong rồi mình phạm thì…”.
Nhiều lý do tương tự hoặc đại loại là những khúc mắc kiểu như thế đã tạm thời cản bước người trẻ khi tìm đến với những buổi lễ quy y, truyền ngũ giới nơi nhà chùa.
5.2. Đi tìm nguyên nhân:
Một phần còn do một vài chùa hoặc một ít quý thầy tổ chức thực hiện pháp truyền Tam quy, Ngũ giới cho Phật tử theo kiểu “gom” đại danh sách, làm lễ là ban pháp danh một cách… ngẫu hứng. Bạn Thái Lan kể: “Bữa em được làm lễ quy là một bữa… hết sức bất ngờ. Hôm ấy là rằm tháng Bảy, em theo bạn đi chùa và khi đến đó thì được các thầy ở chùa hỏi nếu ai chưa quy y thì đăng ký quy y. Nghe thế nên em… đăng ký đại và cũng được chấp nhận”.
Đó là chuyện thật như đùa ở các chùa và ở cách làm của một số thầy, sư cô hiện nay khi cứ “đến hẹn lại lên”, lại làm lễ quy y mà không cần biết người thọ pháp quy y có hiểu hết nghĩa lý của quy y, thọ giới hay chưa. Do vậy, có thể số lượng quy y, thọ giới thì đông nhưng người hiểu đạo, tu đạo, hành đạo thực chất lại chưa nhiều.
Đó là chưa nói tới việc, có những Phật tử mù mờ khi hỏi rằng: “Có phải quy y nhiều nơi thì sẽ được Phật gia hộ nhiều không?”. Cái sự mơ hồ của Phật tử như thế nếu không y cứ vào sự truyền pháp của quý thầy hoặc các chùa còn lỏng lẻo, trọng hình thức, chỉ chú ý tới số lượng chứ chưa nghĩ đến việc giúp cho họ hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của việc quy y, thọ giới thì còn biết trách ai bây giờ?
5.3. Đem đạo đến với trí thức trẻ:
Làm sao để giúp người trẻ đi chùa, làm sao để trí thức trẻ biết đến đạo nhiều hơn để họ cân bằng cuộc sống, giải tỏa những “bệnh” thời đại như chán, stress, bạo lực…? Đó là điều trăn trở của nhiều vị thầy trẻ, tâm huyết với công tác hoằng pháp cho giới trẻ mà tôi có dịp ngồi lắng nghe. Những câu lạc bộ sinh hoạt Phật giáo hiện có ở các chùa, các quận, huyện tuy có thu hút giới trẻ và có được những vị thầy trẻ có trình độ Phật học lẫn thế học hướng dẫn, song nhìn chung vẫn chưa thu hút đông người trẻ. Mỗi câu lạc bộ khoảng trên dưới 50 người, chủ yếu là sinh viên nhưng thường xuyên thay đổi thành viên. Vì sao họ thiếu gắn bó như vậy?
Một vị thầy trẻ giấu tên tâm sự: “Đó là do các ban ngành thuộc Ban Trị sự, Ban Đại diện chưa quan tâm đến việc đầu tư xây dựng chương trình cũng như mô hình mẫu cho công tác hoằng pháp dành cho trí thức trẻ. Các câu lạc bộ tuy năng động đó nhưng về cơ chế thì chưa được phép nên có làm cũng… manh mún, nhỏ lẻ. Nên chăng cần có một bộ phận chuyên trách về công tác hoằng pháp sinh viên, trí thức trẻ, bởi hơn ai hết, những trí thức trẻ sẽ là những Phật tử rường cột cho đạo pháp trong tương lai?”.
Nhiều vị cũng trăn trở về vấn đề đưa Phật pháp cho giới trẻ-sinh viên-học sinh, trí thức và đều có nhận định tương tự rằng: chúng ta còn thiếu những vị thầy, sư cô dấn thân, có thực lực để làm công tác này ngoài một số hoạt động nổi lên như các khóa tu ở vài chùa hoặc các khóa thiền tập, tìm hiểu Phật pháp, thực tập sống chậm của một vài câu lạc bộ Phật tử trẻ!
5.4. Cần hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo:
Chúng ta đến chùa mà “thấy tâm mình rất thanh tịnh, mọi lo âu cũng như áp lực cuộc sống đều tan biến”, rồi “phát khởi tâm quy y Tam bảo làm Phật tử tại gia và được thầy ở chùa đó đồng ý” là chúng ta có nhiều căn lành. Nếu chúng ta biết nương vào căn lành này để hướng Phật, tự hoàn thiện mình thì chắc chắn sẽ gặt hái nhiều phước đức và thành công trong cuộc sống.
Trước khi phát tâm quy y Tam bảo, làm người Phật tử tại gia, bạn xin phép bố mẹ là điều cần thiết. Tiếc rằng, chúng ta chưa hiểu rõ và đúng về pháp quy y nên chưa đồng ý. Chúng ta cần bình tâm, tìm cơ hội tâm tình để bố mẹ bạn hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo mà trợ duyên cho mình được toại nguyện.
Trước hết, quan niệm “chỉ khi nào già thì mới nên đi chùa” thực sự chưa đúng. Cần phải điều chỉnh lại là: Đi chùa càng sớm thì càng tốt! Vì sao? Đi chùa, quy y Tam bảo là nguyện nương theo Phật-Pháp-Tăng để học theo hạnh trí tuệ và từ bi, bỏ ác làm lành, thanh tịnh thân tâm, vun bồi phước đức, trở thành một Phật tử chân chính, một công dân mẫu mực, sống lợi đạo ích đời. Trong bối cảnh đạo đức của giới trẻ có nhiều biểu hiện suy đồi, tội phạm trong giới trẻ ngày càng gia tăng, việc bạn hướng đến Phật giáo để trau dồi đạo đức, để sống thiện là một tín hiệu lành cho bản thân, gia đình và cả xã hội.
Tuổi trẻ như búp măng, cần phải uốn nắn sớm thì sau tre già mới thẳng. Nếu tuổi trẻ mà không hướng thiện, không tu dưỡng đạo đức thì không lấy gì đảm bảo có tuổi già hạnh phúc, thảnh thơi để đi chùa.
Kế đến, bố mẹ sợ con “lên đại học thì không theo được, mà bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”. Sự thật thì người Phật tử học đại học (hay làm bất cứ công việc gì) vẫn làm tròn bổn phận của mình. Sau khi quy y, người Phật tử được khuyến khích giữ năm giới (không giết hại, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện), mỗi tháng phát nguyện ăn chay và đi lễ chùa sám hối, cầu an ít nhất là hai ngày 14 và 30 hay 15 và mùng 1 (âm lịch).
Ngoài ra, người Phật tử luôn nỗ lực làm việc thiện để vun bồi phước đức cho mình. Hiện nay, các bạn sinh viên Phật tử vào những ngày cuối tuần tập trung về chùa tham dự các khóa tu và làm việc thiện rất đông. Sau những ngày học tập mệt nhọc, chùa là “sân chơi” lành mạnh, bổ ích được các bạn sinh viên lựa chọn. Nên nói rằng sợ “lên đại học thì không theo được” là chưa đúng. Mặt khác, như đã nói, bổn phận tu học của người Phật tử cũng đơn giản nên không có vấn đề gì phải bỏ đạo, do vậy không cần phải lo “bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”.
Cuối cùng là “sợ quy y mà không làm đúng điều Phật dạy thì sẽ bị phạt còn nặng hơn không quy y”. Quy y, học theo Phật là nguyện tự sửa mình, giúp mình ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu không tự sửa mình, không sống theo lời Phật dạy, quen theo tập nghiệp làm những điều xấu ác thì chịu hậu quả. Làm cho mình tốt hơn hay xấu đi là do mình. Phật là Thầy chỉ đường, Ngài không trừng phạt ai cả mà luật nhân quả tự thưởng phạt.
Mặt khác, người có quy y học Phật mà không làm đúng lời Phật vẫn chịu quả báo nhưng khác với người không quy y. Vì ít ra, họ còn sợ tội lỗi, biết ăn năn sám hối và nguyện khắc phục. Còn người không quy y học Phật, không tin hiểu nhân quả, làm sai mà tự mình không biết hay làm sai mà không ai biết thì nghĩ mình hay nên ngày càng lún sâu vào tội lỗi, quả báo nặng nề hơn rất nhiều.
6. Để trở thành người Phật tử chân chánh:
Đức Phật đã dạy Chư Tăng là những người có trách nhiệm duy trì Chánh Pháp; còn người Phật tử tại gia có bổn phận hộ trì Chánh pháp, làm cho Chánh pháp được mọi người nhận thấy qua đời sống của cá nhân và gia đình thấm nhuần đạo lý Phật giáo. Đó chính là chúng ta làm tròn trách nhiệm của người Phật tử chân chánh đối với đạo, góp phần xây dựng cuộc đời trở nên Chân, thiện, mỹ theo tinh thần Phật giáo.
Khi một người biết đi Chùa, thờ Phật, lễ Phật, tụng kinh, Sám hối nghe Chư Tăng thuyết pháp có nghĩa là người đó đã xác nhận mình là Phật tử, nhưng từ một Phật tử để trở thành Phật tử chân chánh cần phải có những nhân tố tích cực hơn về hai phương diện sự và lý : Sự là thực hiện những lễ nghi đi chùa,tôn thờ, tụng kinh,lễ bái, sám hối vị giáo chủ mà mình theo, qua hình tượng, tranh ảnh, lý là thực hiện những lời dạy ứng dụng trong đời sống. làm cho lời dạy đó biến thành hiện thực có lợi ích cho cá nhân, gia đình. Đó chính là góp phần làm cho Phật giáo hưng thịnh.
Đạo Phật không đòi hỏi người Phật tử phải thực hành những điều khó khăn nhưng phải thể hiện tinh thần của Phật dạy qua đời sống, muốn thế qua thân phải lễ lạy, miệng tụng kinh, niệm Phật, xưng tán Phật hiệu, sám hối, ý phải thành tâm chánh niệm. Tam nghiệp thân, khẩu, ý lúc nào cũng thanh tịnh, làm sao cho đạo đức cá nhân của mình được thăng hoa tốt đẹp. Đó chính là một trong những phương pháp mà người Phật tử chân chánh phải tu tập và thực hành trên bước đường đến giải thoát.
Đức Phật đã dạy Chư Tăng là những người có trách nhiệm duy trì Chánh Pháp; còn người Phật tử tại gia có bổn phận hộ trì Chánh pháp, làm cho Chánh pháp được mọi người nhận thấy qua đời sống của cá nhân và gia đình thấm nhuần đạo lý Phật giáo. Đó chính là chúng ta làm tròn trách nhiệm của người Phật tử chân chánh đối với đạo, góp phần xây dựng cuộc đời trở nên Chân, thiện, mỹ theo tinh thần Phật giáo.
6.1. Phật tử đi chùa phải hiểu rõ về Phật, Pháp, Tăng:
Có người than rằng: Tại sao ở nước ngoài ít người năng lui tới chùa lễ Phật, tụng kinh? Trong số những người tới chùa, ít người thực sự tu hành, theo nghĩa tu là sửa đổi, mà vẫn thói nào tật ấy? Tới chùa để cầu xin Phật, để cúng dường Thầy, để gặp bạn bè nói chuyện vui (hoặc chuyện không vui) như vậy làm sao đạo Phật phát triển và tồn tại được?
Sự thật đau lòng là như vậy. Chỉ vì một số Phật tử chưa hiểu rõ giáo lý, cứ chấp chặt một vài hiểu lầm, thành ra đi chùa hoài mà lợi ích không được bao nhiêu. Chư Tổ đã dạy: Đó là nấu cát muốn thành cơm, muôn năm chẳng được.
xin mạn phép nêu ra sau đây một vài hiểu lầm căn bản mà thôi:
6.1.1. Hiểu lầm về Phật:
Một số Phật tử kính Phật, thờ Phật, lạy Phật, coi ngài như một thần linh có quyền ban phước, giáng họa, tới chùa lễ Phật để cầu xin đủ thứ: Tài lộc, tình duyên, con cháu đỗ đạt, hết bệnh, sống lâu... Cúng Phật chút hương hoa cho là đủ rồi. Nếu lời cầu xin được thành tựu thì cho là Phật chứng, chùa thiêng và mang thêm lễ vật tới tạ ơn. Nếu lời cầu xin không thành thì cho rằng chùa không thiêng, thôi không tới nữa. Thật là oan cho Phật, tội cho chùa.
Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn, toàn trí nhưng không toàn năng. Ngài thấu hiểu mọi việc, nhưng chính ngài không làm trái luật thiên nhiên được. Nếu ngài toàn năng thì ai xin gì ngài cũng cho hết, ngài dùng thần thông đưa tất cả chúng sinh về Niết Bàn, khỏi cần tu hành chi cho mệt.
Đức Phật từ bi thương xót, muốn cứu độ chúng sinh, nhưng ngài chỉ là một bực đạo sư, một người dẫn đường chỉ lối cho mọi chúng sinh tự cất bước mà đi. Phật tử tới chùa lễ Phật để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ, thề nguyện sẽ theo gương Phật mà tu sửa thân tâm, theo gót ngài về nẻo giác. Những lời cầu nguyện hợp với lý vô thường, luật nghiệp báo nhân quả thì sẽ thành tựu, còn những lời cầu xin ích kỷ, trái luật thì sẽ không được như ý. Nếu Phật có đủ năng lực làm toại nguyện tất cả mọi lời thỉnh cầu thì thế giới này đã biến thành cõi Cực Lạc, đâu còn gọi là Ta Bà đau khổ nữa.
6.1.2. Hiểu lầm về Pháp:
Pháp đây, nói thu hẹp là Giáo Pháp, là lời Phật dạy, là những định luật thiên nhiên mà đức Phật đã chứng ngộ như: Vô thường, vô ngã, nhân duyên, nghiệp báo v.v... Một số Phật tử chỉ hiểu Pháp là những bộ kinh in sẵn để đọc tụng, hoặc những lời thuyết Pháp; đến chùa đọc kinh, nghe pháp cho là đã đủ mà chẳng hiểu những nghĩa lý ẩn tàng trong kinh, nghe pháp rồi chẳng mang ra áp dụng.
Tụng kinh là để hiểu rõ cái lý Phật dạy trong kinh, trì chú là để nhất tâm trừ nghiệp chướng, chứ không phải chỉ để đọc như cái máy. Hiểu nghĩa rồi còn phải mang ra thực hành, nếu chỉ đọc mà không áp dụng để sửa cho đời tốt thêm thì chẳng khác nào người đếm bạc cho ngân hàng, chẳng có lợi chút gì.
Phật dạy: Sống thuận theo Pháp, nghĩa là thuận với những luật thiên nhiên, không ích kỷ, không tham, sân, si, không làm việc ác, chỉ làm việc lành, giữ tâm trong sạch chứ không phải chỉ tụng kinh là đủ.
Phật còn dạy thêm: Chớ có chấp Pháp, Chánh Pháp còn phải bỏ, huống chi là Tà Pháp. Qua sông hãy còn bè, đi vững hãy bỏ gậy. Pháp chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh, mà phương tiện thì chỉ dùng trong khoảng thời gian cần thiết thôi. Cứu cánh mới là chủ yếu.
6.1.3. Hiểu lầm về Tăng:
Chư Tăng là đệ tử xuất gia theo Phật , giữ các giới luật, tuân theo Lục Hòa, có nếp sống thanh tịnh, cao thượng, thay mặt Phật mà dạy dỗ và làm gương cho những Phật tử tại gia noi theo. Hãy bỏ ra ngoài các vị Tăng phạm giới, không xứng đáng làm Trưởng tử Như Lai, không tròn phẩm hạnh Chúng Trung Tôn. Những vị Tăng Ni tu hành chân chính, giữ trọn giới luật, vẫn chỉ là người chưa phải các vị Thánh. Các ngài cũng đang đi trên đường Phật dạy, chắc chắn là đi xa hơn các Phật tử tại gia rất nhiều, nhưng các ngài chưa chứng đắc, chưa hoàn toàn giải thoát. Các ngài cũng như chúng ta, đang dò dẫm trên con đường tự tu, tự sửa; nhưng đường đời lắm chông gai và cạm bẫy, nếu lỡ có sụp hầm, sa hố thì phải thành tâm sám hối, lấy kinh nghiệm đó mà sửa mình. Các ngài đang tu, tất nhiên còn sơ sót, lỗi lầm. Phật tử không nên quá chú trọng đến những lỗi nhỏ nhặt rồi chỉ trích, chê bai, xa lánh chùa. Luật Nhân quả đã định: Ai tu, nấy chứng; ai tội, nấy mang, không bao giờ sai trái.
Một điều hiểu lầm về Tăng nữa là một số người quá ỷ lại vào những Tăng Ni, đến chùa cúng dường nhờ Thầy chú nguyện cho là đủ rồi, tự mình chẳng chịu làm gì nữa. Đối với các bậc Tăng Ni tu hành đạo cao, đức cả, những lời chú nguyện của các ngài tất nhiên có sức mạnh nhưng chưa đủ; phải cần thêm tự lực của Phật tử đi song song với lời chú nguyện của chư Tăng, cộng với tha lực của Phật gia hộ thì mới mong đem lại kết quả tốt. Ngài Mục Kiền Liên sắm sửa phẩm vật cúng dường chư tăng để xin chú nguyện cho mẹ là bà Thanh Đề đang đọa địa ngục. Nhưng chính bà Thanh Đề cũng phải thức tỉnh, sám hối, niệm Phật; tự lực cộng với tha lực đầy đủ, mới thoát cảnh khổ.
6.1.4. Hiểu lầm về chính mình:
Chớ nghĩ rằng mình quá tội lỗi, xấu xa, nghiệp chướng nặng nề rồi chán nản không tu hành gì nữa. Cần hiểu rõ lời Phật dạy: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều là một vị Phật sẽ thành. Vậy dù ở trong tình trạng đen tối nào, chúng ta không nên thất vọng. Chỉ cần bỏ lòng ích kỷ (Chấp Ngã) rồi thành tâm sám hối, quy y Tam Bảo, giữ giới, làm lành lánh dữ, tinh tấn sửa đổi. Nếu ngã thì đứng dậy, nếu sụp hố thì leo lên. Một lòng tin tưởng vào lời Phật dạy, gần gũi những bậc tu hành chân chánh. Với thời gian, chúng ta sẽ bớt khổ, thêm vui và có ngày được giải thoát.
Điều quan trọng nhất là tránh sự ỷ lại, mong cầu, mà cần hết sức tu học. Ai uống nước biết nóng lạnh, ai uống thuốc thì khỏi bệnh, ai tu nấy chứng. Phật chỉ là đạo sư, không cứu nổi những ai không thực hành lời ngài dạy. Pháp chỉ là phương tiện dùng xong thì bỏ đi. Tăng chỉ là những bậc Thiện tri thức rất đáng quý trọng nhưng cũng chỉ dạy dỗ mà không cứu nổi chúng ta. Chính chúng ta phải tự cứu lấy mình, tự độ lấy mình. Tha lực chư Phật và đức độ chư Tăng phải cộng với Tự lực của chúng sinh mới đưa đến Niết Bàn, giải thoát.
Chúng ta đi chùa, lễ Phật, tụng kinh, cúng dường chư Tăng nhưng đừng quên tự lực phát nguyện tu hành, sửa đổi nếp sống, hồi hướng công đức, thì việc đi chùa, lễ Phật mới giữ trọn ý nghĩa cao siêu, mầu nhiệm. Chính mình có tinh tấn tu hành thì đạo Phật mới phát triển theo đúng ý Phật, với chân lý mà Phật đã tìm ra và chỉ dạy. Có như thế thì người đi chùa mới cảm thấy hứng thú, thoải mái vì càng hiểu Phật lại càng tôn kính chư Phật; càng tôn kính chư Phật lại càng hiểu Phật hơn. Có như thế thì chùa chiền Phật giáo ở hải ngoại mới hy vọng lâu bền trong khi chờ đợi ngày về xây dựng lại quê hương.
7. quán Niệm Phật, Pháp, Tăng và Giới:
7.1. quán Niệm phật:
Hiện giờ trong các chùa Niệm Phật theo tưởng giải của các nhà học giả Phật giáo Ðại Thừa dạy Tăng Ni và các cư sĩ niệm Phật rất ồn náo, niệm tất cả những danh hiệu của chư Phật mà các nhà học giả tưởng tượng ra vô số tên Phật. Thậm chí, như bốn thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh Ðông Ðộ trong bộ Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân tưởng tượng, viết theo kiểu tiểu thuyết. Đó là những nhân vật giả tưởng, không có thật, thế mà bộ kinh Hồng Danh sám hối lại ghi những nhân vật đó vào để chư Tăng, những ngày 14 và ngày 30 mỗi tháng đều niệm và lạy hồng danh chư Phật đó, để xin sám hối cho tiêu tội. Trong kinh sám hối Hồng Danh có cái tên Ðấu Chiến Thắng Phật; Ðấu Chiến Thắng Phật tức là Tôn Hành Giả, Tôn Hành Giả còn có tên là Tề Thiên Ðại Thánh. Tề Thiên Ðại Thánh là một loài khỉ đột, nhà tiểu thuyết tưởng tượng ra chứ không có thật, thế mà các Tổ Sư Ðại Thừa xem đó là có thật nên biên soạn kinh Sám Hối Hồng Danh ghi tên thầy trò Ðường Tăng vào để bắt Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ niệm Hồng danh các vị ấy và lạy mòn đầu gối. Thật là buồn cười cho quý Tăng, Ni và cư sĩ u mê, ngu si bị lừa đảo mà không hay biết bị lừa đảo.
Niệm Phật như kiểu này dù có niệm muôn ngàn kiếp thì thân tâm cũng không bao giờ thanh tịnh. Một bằng chứng hiển nhiên mà ai cũng thấy, quý thầy và quý Phật tử trong các chùa quanh năm suốt tháng không có ngày nào mà không tụng kinh niệm Phật, nhưng chúng ta xét lại xem số tu sĩ và cư sĩ hiện giờ tụng kinh niệm Phật theo cách đó, thân tâm có thanh tịnh hay không? Hay tâm còn tham, sân, si như các người khác. Như vậy, gọi là niệm Phật thân tâm được thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh chỗ nào? Ðó là tưởng giải của các nhà học giả dạy sai ý Phật, nên người đời sau tu mà không có kết quả, biến cảnh chùa, nơi tu hành thanh tịnh, thành chỗ cúng tế, niệm danh hiệu Phật theo cách đó. Khi tụng kinh niệm Phật thì chuông, trống, mõ làm inh ỏi ồn náo, tụng kinh như ca hát ý ê, ý à ... giọng cao giọng thấp, trầm bổng nghe như hát bộ. Kinh sách Ðại Thừa biến dần Tứ Bất Hoại Tịnh thành pháp môn tụng niệm, nói cách khác là biến thành ca nhạc Phật giáo, để ru hồn tín đồ vào thế giới siêu hình mê tín, gây tinh thần tiêu cực, tựa nương vào thế giới tưởng, khiến cho Phật giáo mất hết ý nghĩa tự lực giải thoát. Cho nên tín đồ hiện giờ nghe vị Thầy nào tụng niệm ê a giọng cao, giọng thấp thì rất thích, nghe như nghe âm nhạc thế gian và còn thích hơn vì thỏa mãn được tình cảm thân thương của mình đối với những người thân đã khuất.
Từ cái hiểu sai, dẫn đến sự tu sai, khiến cho Phật giáo suy thoái không còn người tu chứng đạo, chỉ còn là vọng ngữ huyền thoại, nói láo chuyền nhau.
Niệm, người ta hiểu nghĩa của nó là lặp đi lặp lại một câu kinh, một danh hiệu Phật bằng phát ra lời nói, hoặc bằng ý; họ còn hiểu sai hơn nữa là nhờ câu niệm Phật để ức chế tâm không vọng tưởng, như trong kinh Di Ðà dạy:“Thất nhựt nhất tâm bất loạn chuyên trì danh hiệu A Di Ðà Phật, dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền”, có nghĩa là niệm Phật A Di Ðà từ một ngày cho đến bảy ngày, tâm không loạn tức là không có vọng tưởng thì thấy Phật Di Ðà và Thánh Chúng hiện ra trước mặt, báo cho biết trước khi lâm chung, đức Phật và Thánh Chúng sẽ phóng hào quang rước về cõi Cực Lạc Tây Phương. Hiểu như vậy, nên Thầy Tổ nào cũng có một xâu chuỗi, lúc nào cũng lần chuỗi niệm Phật.
Khi trong ta có trạng thái lòng tin Phật khởi lên, nếu ai có thực hiện được mới biết trạng thái này, một trạng thái tuyệt vời của người có lòng tin như thật. Còn bây giờ, chúng ta chưa có trạng thái này, nói tin Phật chứ chúng ta chưa có tin như thật. Khi nhận được cảm thọ lòng tin này thì ngay đó tâm hân hoan thích thú pháp niệm Phật. Vậy hân hoan thích thú pháp niệm Phật là gì? Nghĩa là chúng ta luôn luôn thích sống như Phật, có nghĩa là tâm không còn ham muốn một vật gì hết, ngay cả chuyện ăn uống cũng không còn ham muốn ăn uống gì cả. Tâm sân cũng vậy, không còn một pháp ác nào tác động vào thân tâm, làm ta có thể nổi sân được và si cũng vậy lúc bây giờ không còn ham thích lười biếng ưa ngủ nghỉ, có nghĩa là trong trạng thái tín thọ không còn hôn trầm, thuỳ miên, vô ký nữa mà rất siêng năng sống như Phật. Cho nên, đoạn kinh dạy: “Ðược hân hoan liên hệ đến pháp”. Cụm từ này có nghĩa là vui mừng thích thú sống như Phật.
7.2. quán Niệm pháp:
Niệm Pháp như thế nào? Niệm Pháp theo kiểu các nhà học giả Ðại Thừa dạy: “Nam Mô Pháp”, tức là tụng kinh, tụng chú. Trong các chùa hiện nay, ngày bốn thời tụng niệm: Tối tụng kinh cầu an, cầu siêu; khuya công phu tụng chú Thủ Lăng Nghiêm cúng nước; trưa cúng cơm chim đại bàng; Chiều công phu thí thực gạo muối cúng cô hồn, tụng kinh Mông Sơn.
Niệm Pháp như vậy, dù cho có niệm đến một ngàn năm, một triệu năm, thân tâm của quý vị cũng không thanh tịnh. Niệm Pháp, theo kinh Nguyên Thủy dạy, có nghĩa là phải tư duy suy nghĩ những pháp mà đức Phật đã dạy như: Tứ Bất Hoại Tịnh, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, v.v… cách thức sống và tu tập như thế nào rồi theo đó sống và tu tập cho đúng các pháp đó, như vậy gọi là niệm Pháp.
Ví dụ: đức Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”, theo lời dạy này, ngày ngày tâm tâm niệm niệm luôn luôn cảnh giác giữ gìn và ngăn ngừa các pháp ác, nếu lỡ có các pháp ác nào sanh ra thì mau mau tìm cách diệt nó, không được để trong tâm kéo dài khiến cho sự khổ đau giận hờn phiền toái bất toại nguyện sanh ra, khiến cho tâm thanh thản an lạc nhẹ nhàng thoải mái yên ổn, đó chính là chúng ta niệm Pháp. Niệm Pháp như vậy mới có kết quả giải thoát ngay liền, khiến cho tâm thanh tịnh nên gọi là niệm Pháp thân, tâm bất hoại tịnh.
Pháp của Phật rất thực tế như vậy. Cho nên, ai sống được như pháp là niệm Pháp, chứ không phải niệm pháp là tụng kinh, xin các bạn lưu ý cho. Sống như pháp của Phật sẽ đưa chúng ta từ loài động vật chuyển thành con người, từ con người chuyển thành Thánh nhân “Có khả năng hướng thượng”.
Khi chúng ta cảm giác thân tâm lạc thọ đầy đủ thì tâm lúc nào cũng không phóng dật, luôn luôn bất động định tỉnh. Chúng ta nghe Phật dạy: “Với tâm định tỉnh nhu nhuyễn, dễ sử dụng”. Ðây là tâm định tỉnh mà trên con đường tu tập từng giờ, từng phút chúng ta mới thấy được: “Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh”.
7.3. quán Niệm tăng:
Niệm Tăng như thế nào? Nếu theo kinh sách của các nhà học giả Ðại Thừa dạy: “Nam Mô Tăng” và cứ như vậy mà niệm thì dù có tu trăm muôn ngàn kiếp thì thân tâm này cũng chẳng thanh tịnh. Nam Mô Tăng như vậy là một pháp ức chế tâm, khiến cho tâm bị dồn nén tham, sân, si, mạn, nghi, càng tu thì tâm này càng tham, sân, si dữ tợn khi gặp chướng ngại pháp. Nam mô Tăng theo nghĩa của kinh sách Ðại Thừa dạy là trai tăng cúng dường y áo, thực phẩm, thuốc thang, giường nằm, nhà ở, tứ sự, v.v... nhờ cúng dường như vậy, nên thọ được phước báu hữu lậu vô lượng.
Ðiều này không đúng với đường lối tu tập của Ðạo Phật, đó là lối niệm Tăng của Ðại Thừa, không đúng chánh pháp của Phật.
Theo kinh sách Nguyên Thủy, muốn tu pháp niệm Tăng cho đúng thì trước tiên phải chọn những vị Tăng nghiêm trì giới luật. Những vị Tăng nghiêm trì Giới luật là những vị sống thiểu dục tri túc, ba y một bát, sống không có chùa to Phật lớn, sống xa lìa những vật chất tiện nghi đầy đủ, sống không có ăn mặc sang đẹp, sống thường đi xin từng miếng mà ăn, sống không cất giữ tiền bạc của cải tài sản, thường lấy gốc cây làm giường nằm, sống ngày một bữa, không có ăn uống phi thời.
Chọn được những vị Tăng như vậy, chúng ta tôn kính những bậc này và xin họ làm Thầy. Từ đây, chúng ta có ngọn đuốc soi đường, hằng ngày ta quan sát, tư duy qua gương Thánh hạnh đạo đức của họ và chúng ta tập sống như họ, để biết nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, để biết đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, để biết thương yêu hòa hợp với mọi người, để biết chịu phần thiệt về mình, luôn luôn bắt chước các đức hạnh của chúng Tăng, sống theo gương Thánh đức của chúng Tăng. Chính những vị Tăng này làm thân giáo đang dạy chúng ta tu tập bằng những bài pháp không lời, họ là những người tu chứng. Ngược lại, những vị Tăng phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới thì chúng ta xem họ như những tu sĩ Bà La Môn, không đáng cho chúng ta cung kính và cúng dường.
Tư duy quán xét những đức hạnh sống của chúng Thánh Tăng để lấy đó làm gương sống tu tập ly dục ly ác pháp cho mình, đó mới chính là chúng ta niệm Tăng. Niệm Tăng như vậy có ích lợi cho mình, cho người rất lớn, sẽ không làm khổ mình, khổ người; niệm Tăng như vậy thân tâm mới thanh tịnh; niệm Tăng như vậy mới gọi là niệm Tăng Bất Hoại Tịnh.
Ðây là lời đức Phật dạy chúng ta cách thức niệm Tăng: “Lại nữa này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử Thế Tôn này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở đời”.
Ðoạn kinh này đức Phật nêu ra rất rõ các hạnh của vị Thánh Tăng để chúng ta lấy đó làm gương mà sống theo cho đúng. “Diệu hạnh, Trực hạnh, Ứng lý hạnh, Chánh hạnh”. Muốn biết rõ các hạnh này thì chúng ta nên hiểu từng hạnh một.
7.3.1. Diệu Hạnh:
Vậy diệu hạnh nghĩa là gì? Diệu hạnh là những oai nghi tế hạnh của một tu sĩ, là những hành động ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp của Tứ Chánh cần, là những hành động từ, bi, hỷ, xả của Tứ vô Lượng Tâm. Diệu hạnh là giới luật đức Thánh hạnh của Phật. Xin các bạn hãy đọc bộ sách Văn Hoá Truyền Thống từ tập 1, 2, 3, 4, 5… thì sẽ rõ.
7.3.2. Trực Hạnh:
Vậy Trực hạnh nghĩa là gì? Trực hạnh là những hành động trực tiếp làm chủ bốn sự đau khổ trên thân, thọ tâm và pháp có nghĩa làm làm chủ sinh, già, bệnh, chết chấm dứt luân hồi. Trực hạnh chính là những hành động Tứ Thánh Ðịnh, Tứ Như Ý Túc và Tam Minh.
7.3.3. Ứng Lí Hạnh:
Vậy Ứng lý hạnh nghĩa là gì? Ứng lý hạnh là hành động sống hằng ngày tương ứng đúng lý với hành động của Phật, của Pháp, của chúng Thánh Tăng và của Giới Luật, đó là những hành động sống Tứ Bất Hoại Tịnh.
7.3.4. Chánh Hạnh:
Vậy Chánh hạnh nghĩa là gì? Chánh hạnh là những hành động sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Chánh hạnh tức là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.
Khi chúng ta niệm Tăng đúng pháp như vậy thì tâm không bị tham, sân, si chi phối, do đó tâm được thanh thản, an lạc và vô sự như đức Phật đã dạy: “Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm chúng Tăng, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối, trong khi ấy tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào tùy niệm chúng Tăng”.
Chúng ta hãy lắng nghe cho kỹ những lời Phật dạy: “Và này Mahànàma, một vị Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến chúng Tăng. Người có hân hoan nên hỷ sanh. Người có hỷ nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ tâm được định tỉnh”.
Khi sống đúng như chúng Thánh Tăng thì tâm chúng ta bất động trước các ác pháp và các cảm thọ tức là tâm chúng ta ly dục ly ác pháp hoàn toàn nhập vào dòng Thánh như kinh dạy: “Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với mọi người không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với mọi người có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, đó là vị ấy tu tập niệm chúng Tăng”.
7.4. quán Niệm giới:
Niệm Giới như thế nào? Các nhà Ðại Thừa dạy niệm giới, cứ mỗi nửa tháng một kỳ tụng giới vào ngày 14 hoặc ngày 30. Họ tập trung nhau lại tụng giới. Ðó là cách thức của họ niệm giới của Ðại Thừa. Niệm giới như vậy, dù họ niệm một triệu kiếp cũng không nghiêm trì được giới luật, cũng không thanh tịnh được thân tâm, chỉ là một hình thức lừa đảo tín đồ, xem như mình có giữ giới. Họ đâu biết rằng Giới luật là hành động sống đạo đức của một vị Thánh Tăng, nếu họ tụng giới luật suông như vậy thì không có ý nghĩa và lợi ích gì cả, đó chỉ là hình thức che đậy cho sự phá giới của họ. Cho nên, hầu hết các thầy Ðại Thừa niệm Giới như vậy đều sống phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới hết không còn một giới nào là họ không vi phạm. Các nhà Ðại Thừa hiểu không đúng pháp môn Tứ Bất Hoại Tịnh nên thực hành sai, do thực hành sai mà thân tâm ô nhiễm không thanh tịnh, cuối cùng tu Tứ Bất Hoại Tịnh mà thành Tứ Hoại Tịnh, không có giải thoát chút nào. Vậy niệm Giới như thế nào cho đúng?
Muốn niệm Giới cho đúng thì phải học giới luật cho thông suốt. Khi Giới luật đã học thông suốt thì chúng ta quán xét và tư duy những đức hạnh nào của giới dạy về đạo đức làm người và những giới luật nào dạy về giới đức làm Thánh. Chúng ta đã hiểu rõ các đức hạnh của giới xong, thì từ đó hằng ngày chúng ta quyết tâm phải sống cho đúng những đạo đức làm người và làm Thánh. Nhờ có quán sát và tư duy theo từng hành động thân miệng ý của mình như vậy, nên sống đúng giới luật nghiêm túc; do sống đúng giới luật nghiêm túc nên thân tâm thanh tịnh ly dục ly ác pháp, từ đó thân tâm không hoại sự thanh tịnh.
Người tư duy quán sát và sống đúng giới luật như vậy nên gọi là niệm Giới Bất Hoại Tịnh, niệm như vậy mới gọi là niệm giới, chứ không phải niệm giới theo kiểu các nhà Ðại Thừa tụng một bài giới là xong, niệm Giới như vậy, gọi là niệm giới Ðại Thừa, chứ không phải niệm Giới Bất Hoại Tịnh.
Ví dụ: Giới không ăn phi thời thì các Tổ sau này làm thành vết chấm là ăn ngọ. Bẻ vụn: chư Thiên ăn sáng; Phật ăn giờ ngọ; chúng sanh ăn sau giờ ngọ; ngạ quỷ ăn đêm. Làm uế tạp sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn; hoặc không ăn sáng, chiều thì lại uống sữa, bột, đường, v.v... Các Nhà Ðại Thừa do Giới bị bẻ vụn, bị sứt mẻ, bị vết chấm, bị uế tạp nên tâm bị tham, sân, si chi phối, vì vậy nên thích sống trong chùa to Phật lớn, mỗi ngôi chùa cất hằng tỷ bạc, tiện nghi xe hơi, tủ lạnh, máy điều hòa không khí, tivi, điện thoại di động, v.v… không thiếu.
8. Bổn phật của phật tử tại gia:
Người Phật tử sau khi quy y Tam bảo rồi muốn xứng đáng mình là một Phật tử chân chính, cần phải nhận thức và thực hiện đúng với bổn phận của mình trên mấy phương diện sau đây:
a - Đối với Tam bảo: Phải có lòng tin Tam bảo đúng với ý nghĩa chân chính của nó và tin một cách vững chắc. Không để cho một thử thách cam go nào làm dao động. Không bao giờ làm điều gì có phương hại đến Tam bảo. Nhiệt tâm hộ trì và truyền bá chánh pháp. Nhất là ủng hộ các bậc xuất gia chân chính thực tâm tu học và hoằng dương đạo pháp.
b - Đối với xã hội: Dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng của đức Phật hết lòng phục vụ và xây dựng xã hội, làm cho cuộc sống giữa xã hội trở nên yên vui hòa hợp, không có sự tranh giành, ganh ghét hãm hại lẫn nhau.
c - Đối với gia đình: Phải hiếu thảo với cha mẹ. Hòa thuận vợ chồng, anh em họ hàng thân thích ... Làm thế nào cho tất cả mọi người trong gia đình đều trở về với Tam bảo và xây dựng gia đình trên nền tảng Phật hóa.
d - Đối với bản thân: Tinh tấn tu học đúng theo giáo pháp Phật dạy. Bỏ dần dục vọng, ích kỷ. Tập sống cuộc đời rộng rãi, giải thoát. Luôn luôn làm những điều lợi mình lợi người. Tin đúng nhân quả. Nhận rõ tất cả sự vật đều vô thường để không sanh tâm tham đắm. hướng cuộc đời đi đúng vào con đường giác ngộ.
8.1. đôi điều cần biết:
Ý nghĩa lá phái: Lá phái là vật để đánh dấu và tiêu biểu nhắc nhở trên bước đường tu tập của mình. Đem lá phái về, chúng ta nên treo ở một nơi nào dễ thấy. Hằng ngày nên nhìn đến nó và luôn luôn nhớ rằng năm ấy tháng ấy ngày ấy, chúng ta đã đến chùa ấy, cầu thầy ấy truyền cho Tam quy, Ngũ giới, pháp danh là gì.
Luôn luôn nhớ rõ pháp Tam quy Ngũ giới như trong phái đã dạy, để y theo đó mà tu trì. Có như vậy thời thiện căn mỗi ngày mỗi tăng trưởng, sẽ hưởng phước lạc an lành. Không phải việc gói cất kỹ đợi khi chết ép đem theo.
Bổn phận, tư cách đối với bổn sư và nơi mình đã đến quy y: Sau khi quy y rồi, chúng ta nên xem vị bổn sư là người thay mặt đức Phật và chúng Tăng truyền Tam quy Ngũ giới cho ta. Nơi đến quy y như là từ đường của chúng ta. Chúng ta nên thường về chùa để được gần gũi bổn sư, gần gũi các thầy mà học hỏi giáo lý. Có điều gì sai lầm nên về sám hối trước bổn sư và cầu xin chỉ dạy. Nên xem chúng ta là người con trong gia đình, người con của thầy, phải hết lòng cung kính và giúp đỡ các thầy về mọi phương diện.
Tư cách khi gặp các vị tăng già: Tăng già là tiếng chỉ chung cho các bậc xuất gia chân chính, tức là ngôi Tăng Bảo mà mình đã quy y. Cho nên, bất cứ ở một nơi nào khi gặp vị xuất gia, chúng ta phải cung kính chấp tay chào hỏi, xem như vị bổn sư của mình. Lúc đến chùa phải giữ trang nghiêm thanh tịnh. Đối với mọi người phải giữ lễ độ. Không mặc cảm tự tôn hoặc tự ty mà luôn tỏ thái độ xứng đáng mình là đệ tử của đấng Đại từ Đại bi Đại giác ngộ.
8.2. Cách thờ Phật và Quy y Tam Bảo như thế nào mới đúng?
Nên thiết lập bàn thờ Phật riêng và chỉ thờ một vị Phật mà thôi. Nên nhớ phải thiết lập bàn thờ nơi chỗ trang nghiêm thanh tịnh. Ðó là vì chúng ta biểu lộ lòng tôn kính ở nơi đức Phật. Có thế, thì chúng ta mới có thêm nhiều phước báo.
Theo lời Phật dạy, trời thần vẫn còn là chúng sinh, vẫn còn phải chịu trôi lăn trong tam giới. Do đó, nên khi Quy y Tam bảo, Phật dạy người Phật tử không được Quy y với thiên, thần, quỷ, vật. Vì thần cũng là một loại quỷ, nhưng chẳng qua loại quỷ có thế lực quyền uy cao hơn những loài quỷ khác, nên người ta gọi là thần. Nói chung là quỷ thần. Ðã thế, thử hỏi làm sao quỷ thần dám ngồi chung một bàn với Phật? Thần có ác thần và thiện thần. Những vị thiện thần thì luôn luôn phát nguyện hộ trì chánh pháp của Phật.
Chúng ta chưa có cơ hội để học hỏi nghiên cứu tìm hiểu kỹ càng về Phật pháp, nhất là về phương diện đời sống tâm linh mang tính siêu hình. Vì thế, nên chúng ta mới có sự băn khoăn thắc mắc nghi ngờ về các vấn đề. Hơn nữa, chính người nói thờ Phật chung với thần linh, thật ra bản thân của họ cũng chưa hiểu gì về Phật pháp cả. Nghĩa là họ không phân biệt sự sai khác hơn kém giữa thần linh và chư Phật, Bồ tát.
Người nói, nên thờ Phật riêng, chứng tỏ người đó có hiểu phần nào về cách tôn trí thờ phụng. Và họ biểu lộ được tấm lòng tôn kính ở nơi đức Phật. Vì họ biết giữa Phật và thần linh có sự khác biệt rất xa.
Chúng ta nên thiết lập bàn thờ Phật riêng và chỉ thờ một vị Phật mà thôi. Nên nhớ phải thiết lập bàn thờ nơi chỗ trang nghiêm thanh tịnh. Ðó là vì chúng ta biểu lộ lòng tôn kính ở nơi đức Phật. Có thế, thì chúng ta mới có thêm nhiều phước báo.
8.3. Nên thờ tượng Phật nào?
Thông thường, người Phật tử tu theo tông nào thì người ta hay thờ tượng Phật cho phù hợp với tông chỉ của mình đang tu theo tông đó. Tuy rằng, Phật nào cũng thờ được cả. Vì đã là Phật thì tất cả đều như nhau, Phật Phật đại đồng, không có gì là sai biệt. Tuy nhiên, điều nầy còn tùy theo quan niệm và Tông phái mà người đó đang tu theo. Do đó, nên việc tôn thờ Phật tượng có sai khác. Xưa nay, người tu theo Thiền tông, thì người ta chỉ tôn thờ một tượng Phật Thích Ca. Vì đức Phật Thích Ca do tu Thiền mà chứng quả. Ngược lại, người tu theo Tịnh độ tông, thường người ta hay thờ đức Phật Di Ðà hoặc là thờ tượng Tam Thánh (Di Ðà, Quan Âm và Thế Chí). Vì người ta muốn sau khi lâm chung được vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Mà thế giới Cực lạc là do Phật Di Ðà làm giáo chủ. Cho nên người ta chí thành quy hướng tôn thờ và niệm danh hiệu của Ngài để cầu vãng sinh về cõi đó.
9. Tại sao Tam bảo là ba ngôi báu quý hiếm?
Tam bảo: Phật – Pháp – Tăng là ba ngôi báu quý hiếm nhất trên đời này vì Tam bảo là cội nguồn của mọi phước báu thế gian và xuất thế gian cho tất cả chúng sinh
Đức Thế Tôn trong kinh Niệm Phật Ba La Mật thuyết: “Tam bảo là chỗ về nương tựa của muôn loài, là ngọn đèn phá tan mọi hắc ám, là con thuyền đưa chúng sinh qua thấu bờ bên kia.” Nương tựa vào Tam bảo với một niềm tin chân thật và vững chãi, chúng ta trở thành những kẻ vô úy, từ bi hỷ xả, an nhiên sống trong thế giới loạn động và thọ hưởng hương vị pháp lạc vì chúng ta biết chuyển hóa những buồn vui, vinh nhục của thế gian nhờ vào thực hành những lời Phật dạy trong đời sống tu hành và đời sống hàng ngày.
Phật pháp được chia thành ba thời kỳ là thời chính pháp, thời tượng pháp, và thời mạt pháp. Các thời kỳ pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất, nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết định thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mạt Pháp là 10.000 năm .
Đó là thời kỳ Phật Pháp bị tận diệt và Tam bảo không còn tồn tại ngay cả danh từ Tam bảo cũng trở nên xa lạ. Phật nói, “từ đó về sau không biết chuyện gì xảy ra cho đến ức triệu năm sau Đức Di Lặc Hạ sanh thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác”.
9.1. Sự quý hiếm của Tam bảo về mặt không gian:
So với dân số thế giới, số lượng người theo đạo Phật quả thật khiêm tốn và chỉ tập trung ở một số nước Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Nam Hàn, Trung Quốc, Việt Nam, Sri-lanka, Lào, Cam-pu-chia, Đài Loan, Miến Điện, Ấn Độ…
Theo số liệu năm 2010 của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) trong tập World Fact-book về lĩnh vực tôn giáo thế giới, số lượng người theo đạo Phật là 380 triệu chiếm 5.4% số thế giới [4].
So với những tôn giáo lớn khác trên thế giới, đạo Phật chiếm tỷ lệ thấp nhất như đồ thị minh họa (Hình 2) trong tập World Fact-book cho thấy tỷ lệ người theo đạo Phật thấp hơn 1/2 lần đạo Hindu (13.26%), thấp hơn nhiều so với đạo Hồi (21.01%) trong khi đó tín đồ Cơ Đốc giáo (Christian: 33.32%) cao hơn gần sáu lần tín đồ Phật giáo.
9.2 Trân quý ngôi Tam bảo:
Chư phật tử quý mến! Chúng ta quả thực may mắn có được thân người trong thời gian giáo pháp của đức Thế Tôn đang tồn tại và phát triển. Có thể nhận ra sự may mắn này qua tỷ lệ chênh lệch quá lớn: 1 năm có Tam bảo và 10.000 năm không có Tam bảo. Càng may mắn hơn nữa là chúng ta được sinh ra và lớn lên ở những nơi Tam bảo Phát triển mạnh như Việt Nam.
Cuối cùng, chúng ta đầy phước báu và thiện căn trở thành những phật tử được bảo vệ, che chở và trưởng dưỡng trí tuệ giải thoát – Niết Bàn bởi Ngôi Tam bảo quý hiếm này.
Vì thế, chúng ta phải trân quý ba Ngôi Báu này và quý thân người khó có đặng của mình bằng cách dành thời gian tu tập hạnh nhân thiên, giải thoát – Niết bàn.
9.3. Hộ trì chính pháp:
Bằng cách tu tập và làm theo những giáo huấn của đức Phật trong các Kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa. Hãy cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm tu tập với các bạn đồng tu. Phật tử của những tông phái Phật giáo phải đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau và coi nhau như thành viên của một đại gia đình Phật giáo và hơn thế nữa đối xử với những ngoại đạo như những phật tử đương lai.
Để chính pháp được trường tồn và phát triển trong thế giới hiện đại, hãy siêng bố thí cúng dường, xây chùa, dựng tháp, ấn tống kinh sách và đem giáo pháp của Như Lai (dù chỉ một bài kệ) tùy duyên mà gieo duyên với nhiều người khác nhằm mang ánh sáng trí tuệ và từ bi của đạo Phật đến với càng nhiều người càng tốt.
Giáo hội cần chủ động xây dựng chương trình phát triển Phật giáo ở những nơi chưa có Tam bảo.
9.4. Siêng tu hạnh lành và tiêu trừ tật xấu:
Đừng bỏ qua bất kỳ cơ hội thực hiện một hạnh lành nào dù chỉ nhỏ như việc tình nguyện nhường ghế ngồi cho người lớn tuổi trên xe buýt vì “để thành tựu một hạnh lành cũng phải trải qua nhiều kiếp”.
Sống trong thế giới Ngũ trược ác thế này trong thời có Tam bảo ngắn ngủi và ở những nơi có Tam bảo phát triển như Việt Nam, Trung Quốc, Lào vv...là một ruộng phước lớn cho những ai tu pháp lành như Bồ tát Hạnh.
Ví dụ như tăng cường làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo khó, phóng sinh và nuôi dưỡng sự sống. Kiên tâm tiêu diệt vô lượng tật xấu. “Để tiêu diệt một tật xấu nhỏ thôi cũng đòi hỏi nhiều kiếp”. Vì thế hãy luôn giữ chánh niệm và kiên tâm với pháp môn mình đã chọn với niềm tin chân thật và vững chãi thì sẽ tiêu trừ được vô lượng nghiệp xấu và trí huệ hiển phát.
10. Giải pháp và khuyến khích:
Như đã trình bày, sau khi quy y xong Phật tử sẽ được truyền ngũ giới. Nếu ý chí Phật tử chưa vững mạnh thì khi truyền giới, giới nào trong năm giới mình cảm thấy không giữ được thì có quyền không thọ và như thế là giải quyết được tâm lý sợ phạm giới. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tức thời dành cho người sơ cơ mới vào đạo.
Đối với những Phật tử đã thọ đủ năm giới mà phạm giới vì nghề nghiệp thì phải thực hành pháp sám hối như đã trình bày ở trên. Nhờ tâm hướng thiện và phước báo do tu tập sẽ trợ duyên đưa đến quả an lành.
Để khuyến khích tín đồ quy y, nhà chùa nên có kế hoạch và chương trình chăn sóc tín đồ. Sau khi quy y, phải cấp thêm thẻ tín đồ (như là thẻ ngân hàng), cấp một quyển kinh với nội dụng căn bản dành cho Phật tử, một quyển sách giáo lý căn bản nhất. Dựa vào thể tín đồ, các chùa nên tổ chức các cộng đồng Phật tử để có thể khuyến khích con em Phật tử có cơ hội học hành, cơ hội việc làm, và tu tập. Khi đã hình thành các cộng đồng Phật tử có thể trợ giúp con em mình về công việc và giải trí thì lo gì mà không có giới trẻ tìm đến sinh hoạt.
Hiện nay, Việt nam có hình thức gia đình Phật tử rất đặc trưng và rất sáng tạo nhưng cũng chỉ hoạt động ở phạm vi nhỏ và thiếu những chương trình xã hội thực tế. Gần đây có thêm câu lạc bộ thanh niên Phật tử nhưng cũng chỉ sinh hoạt định kỳ, tự phát. Nên chăng chúng ta mạnh dạn thành lập các công ty sản xuất, kinh doanh của Phật tử, nhà hàng Phật tử, hội luật sư Phật tử, hội kiến trúc Phật tử, hội sinh viên, học sinh Phật tử, v.v…tạo thành cộng đồng Phật tử tham gia đủ mọi ngành nghề trong xã hội, vừa làm vừa tu dưới sự cố vấn của chư tôn đức và sự điều hành trực tiếp của những Phật tử cư sĩ. Những hội đoàn Phật tử như thế càng phát triển thì xã hội càng an tâm, và mong muốn.
Phật dạy: ‘nhơn thân nan đắc, Phật pháp nan văn’ tức thân người khó được Phật pháp khó nghe, và Kinh Pháp Hoa ví được làm thân người khó giống như ‘con rùa mù ở đại dương, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần để tìm gặp khúc gỗ trôi’. Chúng ta may mắn đủ duyên làm người là điều khó thứ nhất đã được, nay gặp Phật pháp là điều khó thứ hai đã được, có nhân duyên nghe chánh pháp là điều khó thứ ba đã được. Vậy thì việc quy y tam bảo – nhân duyên ‘nghìn năm một thuở’ đã sẵn thì lẽ nào lại bỏ mất cơ hội. Thiết nghĩ, nước cờ đã đến không có lý do gì lại không tận dụng. Mong thay!
KẾT LUẬN:
Trong tổ chức của Phật giáo bao gồm tứ chúng (bốn chúng): 2 chúng xuất gia(Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni) và 2 chúng tại gia ( Thiện nam và Tín nữ hay còn gọi là Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di). Chúng xuất gia có bổn phận thực hành giáo pháp truyền dạy hướng dẫn cho chúng tại gia. Chúng tại gia gần gủi chúng xuất gia học tập giáo pháp ủng hộ tứ sự ( y phục, ngọa cụ, thực phẩm, y dược) cho chúng xuất gia có điều kiện tu hành. Tất cả bốn chúng đều là đệ tử Phật đi theo con đường Phật dạy. Tuy nhiên do hoàn cảnh và điều kiện tu tập học hạnh giải thoát của người tại gia còn mang nặng gánh gia đình và xã hội. Nguyên tắc giáo dục của Đức Phật là tuỳ theo trình độ, căn cơ và hoàn cảnh mà pháp dạy có khác nhau mà có sự sai biệt, điều nầy có lần một vị cư sĩ Trưởng thôn Asibandhakaputta hỏi Phật :
" Bạch Đức Thế Tôn vì sao với một số người Phật thuyết pháp trọn vẹn, còn đối với một số người, Phật thuyết Pháp không hòan toàn trọn vẹn? ".
Đức Phật trả lời: " Ví như ba thửa ruộng tốt, trung bình và một thửa xấu .Với ba thửa ruộng ấy, người nông dân sẽ gieo trồng thửa ruộng tốt trước tiên, sau đó đến thửa trung và sau hết mới gieo thửa xấu. Cũng thế, Thế Tôn đối với hàng xuất gia xem như thửa ruộng tốt,đối với tại gia là thửa ruộng trung bình v à cuối cùng là với hàng ngoại đạo là thưả ruộng xấu. Tất cả ba hạng người kể trên đều được Thế tôn thứ tự giáo hóa với đầy đủ thiện Pháp,với đầy đủ giáo lý giải thoát,vì cả ba nương tựa Thế tôn như ánh sáng,như là nơi ẩn trú ,nơi che chở ".
Bằng niềm tin chân chánh vào Tam Bảo với những đức tính Giác Ngộ, giải thoát, từ bi , bình đẳng, thanh tịnh và hoà hợp, Tam bảo là năng lực giúp cho mọi chúng sanh có một định hướng không bị những thiên kiến, cố chấp mê lầm đưa vào con đường khổ đàVì thế cho nên là Phật tử chúng ta phải có một nhận thức đúng về Tam bảo mà chúng ta nương tựạ Có như vậy thực sự Phật, Pháp, Tăng mới có ích cho cuộc đời và niềm tin Chánh tín mới có dịp tỏa sáng .
Ðến với Tam Bảo là để học và đễ ứng dụng tu tập nhằm tránh mọi sự sai lầm khi chúng tasống trong điều kiện cách Phật xa tổ . Vì chỉ có con đường nhận được lẽ thực mới là con đường tạo được niềm tin chân chánh "Ðến đễ mà thấy không phải đến để mà tin".
Qua đó người Phật tử chân chánh là người biết sống đúng, sống hợp, sống có ích cho mình cho mọi người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyên Thủy Phật giáo Tư tưởng luận của Kimura Taiken-Thích Quảng Độ dịch, Khuông Việt ấn hành 1971.
2. Phật học Phổ Thông quyển nhất Thành Hội PG Tp HCM ấn hành 1997.
3. Phật học khái luận -Thích Chơn Thiện-Ban giáo dục Tăng Ni ấn hành 1993.
4. Đạo Phật với con người -Thích Tậm Châu -NXB Tâm Quang 1964.
5. Khoá Hư lục giảng giải-Thích Thanh Từ- TV Thường Chiếu ấn hành-1996.
6.Thích Hành Trụ, Luật tứ phần giới bổn, Nxb Tp.HCM, 1999.
7.Thích Minh Thông, Đại cương giới Tỳ kheo, lưu hành nội bộ.
8.Viên Trí, Ý nghĩa giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004.
9.Thích Thiện Siêu, Cương yếu giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2002.
10.Thích Phước Sơn (dịch), Luật Ma Ha Tăng Kỳ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2003.
11.Thích Phước Sơn, Một số vấn đề giới luật, Nxb Phương Đông,Tp. HCM, 2006.
12. TƯƠNG ƯNG BỘ KINH 3, Ðại Tạng Việt Nam, HT Minh Châu dịch, 1993.
13. TƯƠNG ƯNG BỘ KINH 5, Ðại Tạng Việt Nam, HT Minh Châu dịch, 1993.
14. THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN, HT Minh Châu, Tu thư ÐHVN tái bản, 1971.
15. CHÁNH PHÁP VÀ HẠNH PHÚC, HT Minh Châu, THPG TPHCM ấn hành, 1996.
16. HÃY TỰ MÌNH THẮP ÐUỐC LÊN MÀ ÐI, HT Minh Châu, VN CPHVN, 1990
17. ÐẠI CƯƠNG CÂU XÁ LUẬN, HT Thiện Siêu, Viện nghiên cứu PHVN, 1992.
18. KING TĂNG NHẤT A-HÀM, HT Thanh Từ bản ronéo PHV Từ Nghiêm
19. GIẢNG GIẢI BÁT NHÃ TÂM KINH, HT Thanh Từ, THPG TPHCM
20. PHẬT GIÁO, HT Thiện Châu, THPG TPHCM ấn hành, 1996
21. ÐẠI THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN, HT Quảng Ðộ, Tu thư ÐHVN, 1969
22. TIỂU THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN, HT Quảng Ðộ, Tu thư ÐHVN, 1969
23. TỪ ÐIỂN PHẬT HỌC HÁN VIỆT, Phân viện nghiên cứu Phật học VN, 1992.
24. KINH LỜI VÀNG, HT. Trí Nghiêm, THPG TPHCM, 1992
25. GIẢNG LUẬN DUY BIỂU HỌC, TT. Nhất Hạnh, Lá Bối, 1996
26. LƯỢC GIẢI KINH PHÁP HOA, TT Tri Quảng, THPG TPHCM ấn hành, 1991
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét